NHỚ LỜI CHÂN TÔN

Ngày xưa Hoàng Nhẫn mở đề thi,
Suốt thấu Tâm minh có những gì?
Lục Tổ Viên thông không vướng mắc,
Huệ Năng Chánh giác lãnh Chân Y.
Hôm nay Pháp Tạng Hạ Lai truyền,
Khắp chốn vẹn vừa Duyên với Duyên,
Tận Giác Có Không, thông Nhất Trí,
Minh Tâm Như Tánh đẹp Chân Truyền.
Quý thay lời dặn Thế Tôn,
Nguyền xưa năm ấy vẫn còn nhớ đây.
Thời Hạ Pháp khó đắp xây,
Chứng Tu,Tu Chứng dẫy đầy khó phân.
Nghiệp Ma thọ ngã nhiều phần,
Chân Tông Mật Nguyện làm cân đo lường.
Bấy giờ tận tận tỏ tường,
Chứng tu rè rụt vấn vương thế tình.
Tu chứng Đức Trí Quân Minh,
Lòng trinh Vô Ngại không mình vì ai.
Trọn nguyền rạng rỡ Nguyên Đài,
Lìa danh, chẳng lợi, đâu nài Thế Nhân.
Miễn sao Chân thiện hoàn Chân,
Đưa nguồn Bảo Pháp chung ngân cúng dường.
Tôi biết đương thời khó đắp xây,
Hạ Lai Thượng Kiếp lạc Đông Tây,
Vạn ngàn Hoa Pháp hoa vương vấn,
Tạng rõ lầm mê, giải đọa đày.
Tôi biết rằng Tôi chịu sớm chiều,
Nhớ tình năm cũ trọn tiêu diêu,
Chân Ngôn còn nhớ môi Kim Ngọc,
Ngài nói những gì, nói quý yêu.
Tôi biết Tình Tôi khó tỏ tình,
Bởi thời Hạ Pháp diễn liêu linh,
Nhân Sinh nào hẳn Hoàn Hoa Giác,
Chỉ trải lòng Tôi một Lộ Trình.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
ngày 19 tháng Giêng, Qúi Sửu (21.02.1973)

Cung Nghinh Vía ĐỨC THÍCH CA Thành Đạo

Chân Nguyên nay sắp vãn hồi,
Cung nghinh mồng tám thêm trồi mười ba.
Tân Hợi Tạng trổ Phật Đà,
Thiên Nhân đồng hóa diệu hòa muôn phương.
Dưới chân Phật Đảnh chân thường,
Pháp Tạng Hội Thượng đương trương mình Rồng.
Để trao tuyệt đối Chân Không,
Kính dâng Sư Bổn lòng Trong suốt lòng.
Xin Ngài Chứng Thị Diệu Đồng,
Hợp Minh Tây Cảnh Lạc Tôn Chung Thường.
Cũng ngày mồng tám phương phương,
Là ngày mồng tám vỡ nguồn trầm mơ.
Tạng Chân Bảo Pháp đón chờ,
Cung nghinh Tam Thế, vần thơ dâng Ngài.

TĂNG CHỦ NHẤT TÔN PHÁP TẠNG
Lúc 18g 05 tại Trung Ương-Nha Trang
Kỷ niệm ngày 08-12 Tân Hợi (nhuận) 1971

MÙA XUÂN GIAO HẸN ( Ra Đời )

Xuân giao hẹn, mùa Xuân giao hẹn,
Lời hứa cùng non nước bao phen,
Rượu Thiên Tiên uống hãy còn thèm,
Mà nơi Nhân Thế, Xuân đem mấy lần.
Xuân Ta hẹn, Lan vừa chớm nở,
Cúc Huỳnh Hoa, hé mở Trần Gian,
Khi Ta đi xuân đúng khải hoàn,
Lúc về nhẹ bước Thu sang lỡ làng.
Trời Sắc Giới trang hoàng mong đợi,
Cõi Dục Thiên hoa rải khắp nơi,
Lọng vàng Cửu Báu rạng ngời,
Chiếc xe Thất Bảo đến nơi đợi chờ.
Xuân giao hẹn, hãy cùng Ta đến đó,
Ta mang về THẾ THỌ nhân gian,
Từ đây thêm đẹp Đạo Tràng,
Khắp trong Tam Giới, hưởng tròn năm Xuân.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Kỷ niệm xuân Tân Hợi (1971)

Ấn Chỉ III: DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH BẤT ĐỒNG

Thất Sơn bảy ngọn núi dài
Chừng nào vang nổ, vương đài khai hoa!

TIÊN-THẦN dùng TƯỞNG tương sanh,
NHÂN-SANH có TƯỚNG trưởng thành Thông-Minh.
Bồ-Tát HẠNH NGUYỆN trung-trinh,
Thâm-nhập PHÁP-GIỚI Tự mình viên THÔNG.
PHẬT thời DIỆU-DỤNG song đồng,
Tùy CĂN-CƠ HOÁ nói không bến bờ.

THIỆN CHÂN TỬ là nguồn an ủi,
PHÁP TẠNG nầy chung buổi ấm êm.
Miễn sao dưới mái gương thiềm,
Chung vui toàn GIÁC, nỗi niềm TÔI mong.
Có một hôm Ngài ngồi thư thả,
Chúng dâng trà, Ngài tả thi thơ,
Anh em Đạo Chúng chực chờ,
Ngài cười vui vẻ, lặng lờ trao thi.
Chúng Tôi muốn nói những gì ...
Ngài liền giải đáp bài thi vang rền.
Sáu ông Đạo, Sáu con tên,
Có thêm bà vợ, vang rền Thất Sơn.
Khi bấy giờ Tứ Chúng đứng lên,
Đọc tuyên sáu Đạo, sáu tên Thi rằng:
KHÁNH tận Nhân Sinh chẳng nói năng.
TƯỜNG chưa Minh đạt, nổi lôi phong.
ÂN thường Vân Lệ rơi tơi tả,
OANH luyện trùng dương, khắp Tứ Phương.
XOA dịu cảnh tình, chiều nắng dịu.
THU MINH Vương Đế trổ an bang,
HIẾN thân Tam Thế, Tiên Thần chứng.
Dâng quả KIM LÊ, Pháp BẢO ĐÀN.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Mậu Ngọ (1978)