3. NÊN KIỂM ĐIỂM MỚI GIẢI ĐẶNG BỆNH MÊ LẦM

Phật Đạo đối với các bậc tu hành rất cần các bậc tu phải tự kiểm điểm ĐỨC TÁNH của mình, kiểm điểm từ NGÔN HẠNH đến TRÍ TUỆ nơi mình, kiểm điểm tất cả những TÁC ĐỘNG TINH THẦN đến HẠNH NGUYỆN mới mong giải đặng bệnh lầm mê. Chính bậc Đại Trí chẳng vì THIỆN mà chủ thủ khoe khoang ỷ lại, không vì BẤT THIỆN của kẻ khác vấp phải mà mình lại khinh khi xa lánh. Bậc ít kiểm điểm lấy Tự Tánh nơi mình thì vẫn thường vấp phải nơi TỰ NGÃ CHẤP PHÁP không thế nào giải đặng bệnh lầm mê, đó chính là mục tiêu cần ghi nhớ.

Dù cho có bậc có TRÍ TUỆ THIỀN ĐỊNH chăng, nhưng chưa có Lý Sự tự kiểm để nhận đường tu hành của mình có Tự Ngã Cố Thủ không? Thì thật ra chưa phải là bậc đã tu vào con đường Chân Pháp. Bậc biết kiểm điểm chính có lợi. Vì sao? Vì ít xa lìa THỂ TÁNH để tu, bậc nầy không tu về một chiều Tham Vọng nên mới biết kiểm điểm Nghiệp Căn, Nghiệp Chướng cùng Chướng Nghiệp. Khi bậc chưa kiểm điểm, chẳng chỉnh trang Đạo Hạnh thì thường buông lung Tự Ngã phải lâm vào TÀ KIẾN hoặc lộn vòng nơi CHÚNG SANH GIỚI, chìm đắm nơi PHÁP GIỚI SANH DIỆT.

Rất cần đến TRÍ TUỆ, ĐẠO HẠNH tương song mới đoạt đến ĐỨC TRÍ vẹn toàn. Nếu có Đạo Hạnh chưa có Trí Tuệ mà cho đó là mục tiêu chính, thì bậc nầy thường tự tạo lấy VÔ MINH. Bằng có Trí Tuệ mãi tu theo con đường phá chấp, chưa có Đạo Hạnh, cho đó là mục tiêu chính, thì bậc nầy thường tự tạo lấy TÀ KIẾN. Một trong hai Pháp Hạnh trên phần nhiều các bậc tu chênh lệch, do lẽ ấy mà rất hiếm bậc tu đến TOÀN GIÁC.

Nói đến bệnh mê lầm thì không thể nào kể cho hết những nông nổi hành động của cái Mê, bậc tu nhìn biết được những lối Mê, nơi Chấp của kẻ khác, chớ ít khi nhìn lại cái Mê lối Chấp của mình. Bậc mà biết kiểm điểm mình và biết kiểm điểm của kẻ khác để tu mới gọi là bậc Sáng Soi TỰ TÁNH TỎ TÁNH.

Nói về những chỗ sai lạc trên con đường tu thì không thể nào nói được, vì sao? Vì còn lầm thì còn sai, chỉ nơi tự kiểm điểm biết được sai mới trở thành đúng. Lúc bậc tu biết tất cả kẻ khác lầm lẫn chính nơi mình đã bị lầm lẫn, thì Tâm chẳng còn trách ai cả mà đặng đến nơi CHÂN THỂ tu đúng với đường tu.

THẾ NÀO LÀ CHÂN PHÁP?

CHÂN PHÁP CHÍNH LÀ PHÁP KHÔNG CHẤP TRỤ.

Bậc kiểm điểm lần tiến không chấp trụ, đó chính là bậc tu không mất Chân Pháp, không lìa Chân Thể. Khi bậc tu Phạm Giới, phạm Lỗi Lầm nghi chấp liền phá nghi chấp, giải lỗi lầm, nói lên để giúp cho tất cả giải Nghi phá Chấp lầm lỗi, cốt để cho kẻ khác khỏi phạm giới, khỏi lỗi lầm nghi chấp, đó chính là bậc ĐỘ GIỚI Giải Mê không xa lìa Chân Thể, tu theo Chân Pháp.

Bậc đã biết tu nơi Chân Pháp là Pháp Không Trụ Chấp, bậc đã biết kiểm điểm ngược xuôi cốt Tỏ Tánh, phá mê lầm thì bậc nầy chẳng xa lìa Thể Tánh để nhiếp độ mà tu. Nhờ như thế nên chi lúc xem Kinh Pháp được biết tỏ rõ rằng: Không thể nào nhận định nơi suy tưởng của mình trong lúc hãy còn lầm mê mà suy đoán chấp nhận cho là mình đã lãnh hội đầy đủ Thời Pháp nơi Kinh Pháp được. Vì sao? Vì Kinh Pháp tùy theo trình độ Mê Lầm diễn giải, nên kinh pháp có rất nhiều chiều hướng khác nhau, không ngoài nói lên để bậc tu kiểm điểm phá Mê mà TRỰC GIÁC.

Đương thời đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài tùy theo bệnh Năng Sở Kiến Tri (thường chấp những nơi Thấy Biết của mình) mà chỉ dạy, tùy theo đố tật cố định mà giảng nói, tùy tất cả các bệnh từng lớp chỉ bày tu tập. Như trên đã nói mỗi một Pháp Môn là một dụng cụ cứu chữa mê lầm.

Đôi khi gặp đặng quyển Kinh nói: “TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH” hoặc giả câu: “NIỆM PHẬT LIỀN THÀNH PHẬT.” Lời Phật nói ấn chỉ quyết định. Đứng nơi Chân Tánh để tu, thì cần phải tu mới thành Phật. Đứng về Chân Thể mà thi hành thì phải tu sao từ nơi VỌNG LOẠN đến NHẤT TÂM NIỆM PHẬT, lúc bấy giờ mới thành Phật. Đó chính là bậc biết kiểm điểm giải đặng mê lầm vậy.

Các bậc tu chưa kiểm điểm trở thành TIN chưa đúng chỗ của lời VÀNG chư Phật đã nói, nên gia công Niệm Phật, niệm đến nỗi từ bước đi, đến khi đứng, qua lúc nằm, đang khi ngồi thảy đều Niệm Phật, mà thật ra Tâm đang còn vọng loạn đảo điên niệm, đó chính là một lối lầm mê vô kể.

Còn nhiều bậc tu chủ yếu phá Mê Chấp, gọi là hết mê thì Giác Ngộ, càng phá chấp mê bao nhiêu lại trở thành mê chấp bấy nhiêu. Càng lìa Bản Ngã bao nhiêu lại càng nâng Bản Ngã Tự Thủ bấy nhiêu. Những bậc tu như thế thiếu kiểm điểm, thiếu Tự Lợi trao đổi để Lợi Tha đến Tha Lợi.

Nếu các bậc tu nhận định kiểm điểm đặng lời Vàng chư Phật chính là lời ẤN CHỈ quyết định để chỉ đường cho các bậc tu phải đi đến đó, phải bước đi từng giai đoạn, biết từng chi tiết cho đúng với tinh thần mục đích, thì không phải là Phật cũng thành Phật. Khi đã vẹn vừa không thiếu sót từng Đức Trí đến hoàn mỹ thì không còn là sẽ THÀNH nữa.

Bậc đã biết tu thế nào là CHÂN PHÁP, biết HẠNH NGUYỆN để tu thế nào là CHÂN TÁNH, hiểu biết thế nào là THỂ TÁNH, nhiếp độ thế nào đặng RỐT RÁO, thì đã hiểu biết được MỤC ĐÍCH, TÔN CHỈ PHẬT ĐẠO để tu được thành Phật trong Hiện Tại, bằng chưa biết như thế thật khó thành.

Nói đến Tôn Chỉ, Mục Đích Đạo Phật như thế nào? Tôn Chỉ Đạo Phật các bậc tu hành phải thi hành TỪ BI BÁC ÁI. Nơi Từ Bi Bác Ái chư Phật đã nói lên đồng thời công nhận TỨ LOÀI bình đẳng, đối với Chúng Sanh thảy đều có PHẬT TÁNH. Từ Bi Bác Ái đến nỗi nói chúng sanh nó bị mê lầm chịu trong vòng Sanh Tử, nơi Tử Sanh Luân Hồi phải mang thân làm các loài súc vật trở thành: Noãn Sanh, Hóa Sanh, Thấp Sanh cùng Thai Sanh. Chính nó là Phật sẽ thành.

Tôn Chỉ Đạo Phật chính là một Tôn Chỉ Tối Thượng cao quý vô cùng. Nơi Từ Bi Bác Ái đã công nhận như trên, còn lòng Hỷ Xả Vị Tha hãy còn nói lên lời Diệu Dụng Hành Dụng như: Nó không bao giờ có những Nghịch Hành xấu xa. Nó không bao giờ có những trạng thái đê hèn bủn sẻn. Chính nó là Phật, chẳng chịu làm Phật, ưa làm Chúng Sanh nên nó phải như thế. Thật là lời nói đầy Hỷ Xả Vị Tha không sai chạy. Đối với bậc đã Giác Ngộ mới công nhận lời nói trên không HAI TƯỚNG mà tán thán đảnh lễ chư Phật đã đem tình Duy Nhất Vị Tha cứu độ chúng sanh mà thành lập Tôn Chỉ để cho các Chân Phật Tử nương theo tu hành dưới sự Chỉ Đạo Đức Chí Tôn vậy.

Mục đích Đạo Phật là mục đích GIẢI THOÁT. Các bậc tu hành hãy nương theo cho đúng Tôn Chỉ trên để mà tu, khi bậc tu thật hành đúng với Tôn Chỉ thì cần phải kiểm điểm lấy Tánh Tình Nghiệp Chủng của mình trước tiên, chớ vội phiền trách chê bai kẻ khác ở chung quanh mình, phải thi hành Lục Hòa, gặp phải sự lầm lẫn ngang chướng của kẻ khác chớ nên gây thù hận. Lúc bậc tu mang phải thù hận oán trách, chính là bậc tu mang phải bệnh Mê Lầm. Khi bậc tu cho kẻ nầy, người nọ ngu xuẩn, chính là bậc tu phải mang lấy ngu xuẩn của bệnh Mê Lầm. Tuy nói ra rất dễ, nhưng các bậc tu thi hành rồi biết đặng lời Chỉ Đạo của chư Phật, chính quá ư tối diệu.

Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn! Thiện Nam Thiện Nữ tu cầu đúng với tinh thần nơi TÔN CHỈ Đạo Phật đoạt đến Mục Đích GIẢI THOÁT, cần phải THÀNH THẬT và THIẾT THA TÂM cốt giải bệnh Mê Lầm, liền vào CHÁNH TÍN đến CHÁNH GIÁC. Vì sao phải vào Chánh Tín mới đến Chánh Giác? Vì bệnh lầm mê, chính là bị vương Cuồng Tín. Khi đang cuồng tín nghe Pháp vẫn cuồng tín. Đạo Phật dạy cho chúng sanh từ nơi Giải Mê, bớt cuồng tín lần vào Chánh Tín mới nhận rõ được lời Chánh Giác chân thật của chư Phật mà Giác Ngộ.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

2. MỖI MỘT PHÁP MÔN LÀ MỘT DỤNG CỤ CỨU CHỮA BỆNH MÊ LẦM

NÓI ĐẾN TINH THẦN CAO QUÝ CỦA ĐẠO PHẬT thì khó diễn tả, khó tán thán, chỉ trừ ra có công năng tu tập, tùy khả năng theo trình độ hiểu biết đến giai đoạn nào thời giai đoạn ấy tán thán thôi.

Còn nói đến các pháp môn thật tối diệu khó nghĩ bàn. Vì sao? Vì mỗi pháp môn thật hành tu tập, chính là mỗi một dụng cụ linh động cứu giải cho một pháp giới. Cứ kể mỗi Nhân Sinh lầm chịu một pháp giới (hoàn cảnh) nhất định, ngoài ra còn phải chịu rất nhiều pháp giới (hoàn cảnh) phụ thuộc. Đem so tính tất cả nhân sinh đang sống trên vũ trụ nầy thì thật ra vô số, gọi là hằng hà sa số nhân sinh. Lại đem mỗi một nhân sinh làm bài toán nhơn một lấy trăm thời kể ra vô tỷ triệu pháp giới. Thế mà liền có hằng hà sa số vô tỷ triệu triệu pháp môn cứu chữa.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài thật biết tỏ rõ tất cả chúng sanh trót lầm mê tạo thành Pháp Giới, phải chịu lấy một pháp giới nhất định, còn ngoài ra rất nhiều pháp giới phụ định trong cam khổ, nên phải làm Chúng Sanh Giới.

Từ Vũ Trụ đến Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, chỉ vì Duyên Khởi thọ sanh nơi Tướng Phần mong cầu nơi Chánh Báo Pháp Giới, Chịu Báo Pháp Giới. Sự lầm mê nguy hại nơi Sanh Tử Luân Hồi như thế nào, Ngài thật biết tỏ rõ, vì lòng Đại Bi mà diễn giải nơi Tam Tạng kinh điển chung gồm cứu độ cho tất cả Pháp Giới không thiếu sót, miễn chúng sanh thật hành tu tập liền đặng giải thoát Thật Chứng. So trên thì làm thế nào nói lên cho đúng với tinh thần Tối Thượng cứu giải vô biên Pháp Giới của Phật Đạo.

Những tinh thần cao quý, yếu điểm tối thượng đã nói trên, nên chi Pháp Phật rộng rãi bao dung vô biên khó kể. Cứ mỗi một lời Vàng nơi Kinh Pháp Chí Tôn giải cứu độ mê lầm đến 84.000 vị tu hành trong một năm vương chấp. Riêng mỗi vị như thế có đến 100 lần nghi chấp, phá đặng chấp rồi lại nghi trong một năm, thật là tinh thần cứu cánh Tối Thượng vô kể. Kinh Pháp là CẨM NANG thường nhắc nhở lần đưa các bậc tu từ khởi đầu đến tận cùng Chánh Giác. Kinh Pháp chính con đường Chỉ Đạo Bất Diệt. Khi bậc có Thiện Chí tu hành thì kết quả hiện tại, vì vậy chư Bồ Tát nguyện thực hành tu tập rốt ráo thành Phật. Kinh Pháp đầy đủ LUẬT LUẬN tương song, TƯỚNG TÁNH đồng nhất để chỉ bày. Bậc tu đứng trước thời nào tu vẫn Sở Đắc, thời nào bậc tu hành có thiện chí quyết tâm thì thời ấy là Chánh Pháp chứng tri thật sự. Đương thời Chánh Pháp nhưng bậc tu chưa quyết tâm thiện chí thì vẫn phải chịu Mạt Pháp đối với Kinh Pháp.

Đối với Bảo Phẩm Kinh Pháp, Đại Bồ Tát thời quá khứ đồng nguyện hộ trì, nên chi có một linh động tối diệu đáng kể. Linh động tối diệu ấy, thường ứng trực trước giờ phút để giúp đỡ các bậc tu Thiện Chí nhất tâm tu cầu được như ý nguyện, Kinh Pháp lại những nỗi khó khăn nan giải đối với bậc tu. Khi Sở Đắc Chân Không liền diễn giải Chủ Quán Tam Muội Pháp Môn đến Hành Thâm đoạt Bát Nhã, nếu chưa rốt ráo có mỗi một khởi điểm nào vội Thọ Ngã thành Phật liền vương vào PHẬT GIỚI QUỐC ĐỘ.

Phần trên diễn giải Lý Sự Tương Song, tinh thần cùng mỗi Pháp Môn là một dụng cụ cứu độ mê lầm cùng tu chứng hiện tại đối với bậc Thiện Chí Quyết Tâm, tinh thần hướng thượng nương theo con đường Bồ Tát Nguyện để tu. Đến phần giữa nói rõ Thọ Chấp, Trụ Chấp nơi nào thì bậc tu phải chịu đang nằm nơi Pháp Môn ấy mà Tu Chứng an trụ với Chứng Tu chưa rốt ráo. Đồng thời chỉ rõ Kinh Pháp chính là CẨM NANG BẢO PHÁP.

Sau đây nêu lên tinh thần một vài quyển Kinh để các bậc tu nhận hiểu yếu điểm phẩm lượng của sự chỉ dạy Kinh Pháp thật là Bảo Phẩm vô lượng Đại Bi chư Phật giải Mê, phá Nghi Chấp Tối Thượng:

Kinh Duy Ma là quyển Kinh hóa giải. Khi bậc tu lầm nhận an trụ hoặc giả mơ màng vấp phải quan niệm Định Tưởng nơi mình chênh lệch, nặng nhẹ mỗi một bên trở thành chưa đúng với đường tu, chưa hợp với tinh thần Pháp Môn Giải Thoát. Ví như: Say Đạo dãi đải đời hay chìm đắm nơi Đời chưa có tinh thần Đạo hoặc nặng Thánh chê Phàm, hay tu Thiền thụ Thiền, tu Tịnh thụ chấp nơi Tịnh, làm cho đường tu trở thành Chủ Thủ mà chẳng đến nơi rốt ráo Giải Thoát.

Đối với Đạo Phật, bậc tu Phật căn bản là phải tu Pháp Môn Giải Thoát. Tu Pháp Môn Giải Thoát tư thế gìn giữ quân bình như: Trí Tuệ Hạnh Nguyện Viên Dung, Giáo Lý Đạo Đức chẳng thiếu, Thiền Tọa Trí Tuệ không hai, đó là Pháp Môn Giải Thoát. Bằng chưa có quân bình như trên hãy còn đang nặng nhẹ không sửa sang, thì việc tu cầu kia gọi là tu Phước Báo Nhân Thiên. Do như thế nên Kinh DUY MA đứng lên chỉ lời hoá giải khỏi bị chấp mê đặng đến nơi tường tận. Trong Kinh Duy Ma còn có một Phẩm chỉ rõ các bậc tu đã thành tựu đến mức Bồ Tát mong an trụ, thời Kinh ấy mới chỉ vào Phẩm “Bồ Tát lãnh lấy cõi Phật,” cốt để Bồ Tát thực hành Hạnh Nguyện Lý Sự đồng song, tu đúng với Pháp Môn Giải Thoát. Các bậc tu xem như sau nhận định:

Ông XÁ LỢI PHẤT tu Thiền THỤ THIỀN, gặp Ông DUY MA bèn bảo: “Ông chớ ngồi yên như thế mà được yên. Vì sao? Vì chừng nào chúng sanh (Chúng Sanh Tánh) đặng yên thì chừng ấy Ông mới yên...” Làm cho Ông Xá Lợi Phất thức tỉnh Giác Thiền. Từ nơi Thiền Tịch Tịnh Sở Đắc Như Lai Thiền soi sáng Thân Tâm thanh tịnh mới hay rằng chẳng phải thụ thiền suy tưởng mà Tỏ Ngộ.

PHẨM A NAN LẤY SỮA:

Ông A NAN chưa nhận được nơi Chánh Báo Giác Tâm, chỉ dùng nơi Thân Sắc Tướng Phần, mới có quan niệm đức Thế Tôn Như Lai bệnh, nên chi gặp Duy Ma giải nghi bằng cách vặn hỏi, làm cho A Nan lý bí. Sau một hồi mới nhận rõ Chánh Báo Vô Thượng Chí Tôn không còn nghi ngờ nữa.

PHẨM ĐẠI CA DIẾP:

Đại Ca Diếp đi khất thực chưa chu đáo quân bình, lấy Tướng Phần phân biệt. Gặp Duy Ma nói lên Pháp Công Đức Bình Đẳng Bất Nhị, Ông Ca Diếp tỏ thông Đức Tánh liền Sở Đắc Bình Đẳng Tánh Trí. Kinh Duy Ma là mỗi một tiếng trống thức tỉnh giữa các bậc tu đương cơn dừng trụ, chớ chẳng phải xem Kinh Duy Ma, Pháp Duy Ma mà Hoàn Giác. Kinh Duy Ma hóa giải tuyệt mỹ khó nghĩ bàn.

VỀ KINH THỦ LĂNG NGHIÊM:

Về Kinh THỦ LĂNG NGHIÊM, đức Thế Tôn, Ngài giảng nói tất cả về Vọng Tâm suy tưởng nơi Tướng Phần, Lý Đoán năng biệt Bị Biết. Ngài dụng Triết Học, Khoa Học, Hình Học Siêu Thoát Tối Thượng để giải Nghi, phá Ngăn Chấp tuyệt mỹ hoạt bát để cho phơi bày Tâm Thức bậc tu hành nhận rõ nơi Chủ Thủ của mình, đặng nhận biết nương theo Tâm Giác tu đến GIÁC TÂM mà Sở Đắc BẢN THỂ CHƠN TÂM.

Phần Ông A Nan thưa gởi toàn những điểm nghi ngờ nơi năng sở kiến tri vọng thức, cốt làm gương cho các bậc tu hành để tránh khỏi năng phân bị biệt của mình mà biết nhận định Tâm Giác, thật là một bộ Kinh đáng kể, lối giải thích của Tâm Thức tuyệt pháp.

Sau đây nói lên một công trình vĩ đại của những Bổn Nguyện Diệu Dụng Chư Phật, Hành Dụng chư Bồ Tát Nguyện cốt yếu nghiêng mình tán thán để các bậc Tu Hành nhận định rất có lợi cho con đường tu tập.

Khi các bậc tu lấy tinh thần Hướng Thượng, nhờ tinh thần ấy mới nhận định được Bổn Nguyện cùng với Hạnh Nguyện của chư Phật, chư Bồ Tát đang đồng xây lâu đài Bảo Pháp. Lúc bấy giờ các bậc tu không thể nào ngồi yên, phải giúp đỡ cho những kẻ thiếu Đạo Đức, thiếu Trí Tuệ, thiếu Khả Năng tu tập, đó gọi là Hạnh Nguyện, đồng nguyện chư Phật và chư Bồ Tát chỉ vì lòng Vị Tha Đại Nguyện không ngừng cốt đưa Chúng Sanh thoát khỏi nơi Sanh Tử, nên chi mới đồng nguyện như sau:

* ĐỨC ĐÔNG ĐỘ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI nguyện cứu độ chúng sanh đương khi lầm lẫn, nguyện đưa về TỰ GIÁC.

* ĐỨC TÂY ĐỘ A DI ĐÀ PHẬT nguyện cứu độ các chúng sanh đương thời lầm lẫn, liền được Vãng Sanh chốn lầm lẫn ấy mà đến nơi thoát nghiệp lầm lẫn. Sau khi chưa thành tựu hãy còn mảy may nào nguyện đến thời LÂM CHUNG đưa về TÂY ĐỘ CỰC LẠC gọi là TỊNH ĐỘ.

* ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT nguyện chỉ đạo Tối Thượng, nêu cao BA ĐỜI PHẬT, cứu độ chúng sanh thoát khỏi SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ, TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

* ĐỨC QUÁN THẾ ÂM nguyện thị hiện vạn vạn thân cứu khổ cứu nạn, từ Tịnh, Bất Tịnh, Tà Ma, Ngoại Giáo Sở Cầu liền được Như Ý Nguyện.

* ĐỨC ĐẠI THẾ CHÍ nguyện cứu độ chúng sanh suy kém Đức Trí, làm cho chúng sanh được Đại Trí Tổng Trì tu đến Bất Thối.

* ĐỨC PHỔ HIỀN HẠNH nguyện cứu độ chúng sanh tu không ngừng nghỉ, bảo trì Kinh Pháp. Nếu Chúng Sanh sanh phải thời kỳ Trung Pháp, Hạ Pháp thảy đều cứu độ Đại Hạnh không ngừng, được Tri Kiến Giải Thoát Nguyện.

* ĐỨC VĂN THÙ SƯ LỢI PHÁP VƯƠNG TỬ nguyện đem Trí Tuệ Tổng Trì Đà La Ni cứu giúp Chúng Sanh không bao giờ ngừng nghỉ. Chúng Sanh giữa thời nào cũng đặng sự Phổ Chiếu giúp đỡ đến Giải Thoát hoàn toàn.

* ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT nguyện gánh vác tất cả các Pháp để Chúng Sanh được thảnh thơi tu hành, nguyện đem tất cả BẢO PHÁP đương thời Hạ Lai cứu độ Chúng Sanh, đưa tất cả Chúng Sanh tu tập Pháp Môn SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP mà không Nhiễm, đặng Tự Tại Vô Ngại đến Tổng Trì Đà La Ni Tạng, TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

* ĐỨC THANH TỊNH DIỆU PHÁP THÂN TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT nguyện Diệu Hóa Hành Dụng, Ứng Thân từng lớp lớp cứu độ Chúng Sanh đủ phương pháp nguyện. Làm cho Chúng Sanh khởi Đại Tâm, đưa cho Chúng Sanh Thọ Ký từng lớp, Bảo Trì DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH, Phụng Hành Bá Thiên Vạn Ức Phật, hằng hà sa số Phật, Bảo Pháp Đại Thanh Tịnh Bất Diệt. Lúc bấy giờ ĐỨC ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT nguyện: Đức Thanh Tịnh Diệu Pháp Thân Hành Dụng Ứng Thân. ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT MẬT PHÁP DIỆU HÓA BẤT DIỆT, cung đốn tất cả Bá Thiên Vạn Ức PHẬT, giúp đỡ Chúng Sanh thành Phật, hằng hà sa số PHẬT, ẨN HIỆN ĐỒNG ỨNG HIỆN.

Trên đây mới nêu sự Diệu Dụng cùng Đại Nguyện Hành Dụng chư Phật, chư Bồ Tát mới có một phần nào, còn rất nhiều phẩm nguyện, cốt để các bậc tu nhận định chư Phật, chư Bồ Tát, đối với lòng vị tha cứu độ, đối với Đại Bi giúp đỡ chúng sanh với Mục Đích Giải Thoát.

Khi các bậc tu hành nhận định biết được tất cả chư Phật đã Diệu Dụng, chư Bồ Tát Hành Dụng chỉ với mục đích cứu vãn Chúng Sanh, thì các bậc tu phải Hạnh Nguyện, phải thật tu, thật hành để báo ân chư Phật, để vãng sanh lấy Nghiệp Quả Mê Lầm mà tròn Chánh Quả với Chân Phật Tử. Nói đến Diệu Dụng Hành Dụng nơi lâu đài Bảo Pháp chư Phật, chư Bồ Tát đồng xây, thì thời nào vẫn có sẵn THỂ HIỆN ĐỘ SANH để đón nhận, kiếp nào cũng có bậc Giác Ngộ đón chờ. Với chân tình duy nhất Vĩ Đại, với một mục đích chu toàn cho Chúng Sanh Tri Kiến Giải Thoát.

Lúc các bậc tu hành quyết tâm thiện chí thật tu, chịu gánh vác giúp tất cả những kẻ chung quanh mình được Thiện Căn, Lễ Bái, Giải Khổ, Trừ Mê không nhàm chán, khi bấy giờ mới thật biết: MỖI PHÁP MÔN CHÍNH LÀ MỘT DỤNG CỤ CỨU CHỮA BỆNH MÊ LẦM, đó chính là Cúng Dường Báo Ân vậy.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

1. KINH PHÁP CHÍNH LÀ BẢO PHẨM ĐỐI VỚI BẬC BIẾT LÃNH HỘI ĐỂ TU

ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT không bao giờ bảo phải Xuất Thế, nhưng mục tiêu chỉ dạy tinh thần hoàn toàn Xuất Thế Tối Thượng Giải Thoát, như vậy có phải là Xuất Thế chăng?

Sau khi Ngài CƯU MA LA THẬP dịch kinh KIM CANG quyết chỉ pháp Như Lai cùng Bát Nhã Tâm Kinh hoàn mỹ thảy đều nói Thế Giới Tướng Phần, Thị Danh Thế Giới Giả Tướng đặng các bậc tu đến Chân Tướng rốt ráo tỏ rõ Bát Nhã Trí khỏi thủ chấp Giả Tướng. Nếu có bậc tu chưa vẹn, chưa rốt ráo vội chấp nhận sẽ bị Giả Tưởng Tướng Phần đắm tướng Bồ Tát tức phi Bồ Tát, đó có phải là môn tinh thần siêu thoát của Xuất Thế chăng?

Sự chỉ dạy, lối đón đưa các bậc đang mơ màng viễn ly điên đảo mộng tưởng liền được cứu cánh Niết Bàn, chủ đích lìa 62 kiến chấp nơi Tâm Kinh Bát Nhã tuyệt mỹ. Còn về Lý Chân năng sở kiến tri thủ ngã của các bậc tu lầm lẫn để lìa Tướng Ngã của Kim Cang quá ư tuyệt đích, rất có lợi cho bậc tu đến ngã ba HỮU VÔ để quán sát nầy, đoạt mục tiêu chính sở đắc Chân Không Thực Chứng, làm áo giáp Như Lai thi hành Hạnh Nguyện, nhiếp độ Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa cùng Hành Thâm Pháp Giới không xa lìa Bi Chí Dũng, Giới Định Tuệ mà thực thi Bát Nhã Ba La Mật Đa hoàn tất Chánh Giác.

Phật Đạo mục đích chính TRI KIẾN GIẢI THOÁT, bậc tu đầu tiên chưa biết thì chẳng nói làm chi, đến lúc đã nhận định được giá trị biết tu rất cần thực hành qua từng Pháp Môn, sau lần mới hiểu mỗi Pháp Môn là mỗi cái dụng cụ cứu chữa từng căn bệnh mê lầm đến hoàn giác xuất thế mà chẳng xuất thế, rốt ráo là xuất thế.

Thời HẠ LAI nầy, có lắm bậc tìm đặng Chơn Tánh để tu, nhưng hiếm hoi bậc tâm Hướng Thượng dụng Trí Đà La Ni để nhìn theo vết chân Bồ Tát đã nguyện, hôm nay bậc tu phải thi hành thực hành nguyện ấy, từ nơi Chơn Tánh chung với Hạnh Nguyện là môn Xuất Thế. Bằng hiểu biết dụng Chơn Tánh suy tưởng phá mê, nhưng chưa thực thi Hạnh Nguyện, hãy còn dung dưỡng tâm trí điêu thoa theo nơi tâm thức dục vọng, chưa hẳn là bậc tu xuất thế, mà là kẻ đang học khôn giữa thế nhân nầy vậy.

Khi các bậc tu nghe đến văn tự hai chữ “XUẤT THẾ” thì tâm trí ngại ngùng ngơ ngẩn phê chỉ, vì sao? Vì quan niệm Hữu Vi Tướng Phần văn tự, hơn là dụng Tâm Giác rõ thông. Đối với Ông LA HẦU LA ngày trước con của Phật, gần Phật mà hãy còn nằm nơi quan niệm như các bậc tu thay, huống chi ai không quyền chỉ trích, đến lúc gặp ông DUY MA nói nơi Phẩm Xuất Gia cũng thế.

Phần nhiều trên sự tu hành đa số nhận định về tướng phần bị biết, rất hiếm bậc công dụng Đà La Ni Trí (Trí Thiền Định) nhận định Giác Tâm Thể Tánh, nên chi thường vọng loạn sai lạc hướng tu. Đối với Đạo Phật lấy Tâm Giác dùng Thể Tánh làm mục đích nhận định, lấy tướng phần làm Phương Tiện chỉ nơi Thể Tánh cốt Giác Nguyên. Chẳng khác vẽ con Chim Én để cho xem, đến khi ra giữa Trời gặp đặng con Chim Én nhận được, đó gọi là Tướng Phần làm PHƯƠNG TIỆN đến THỂ TÁNH GIÁC NGUYÊN.

Vì nơi nhận định sai biệt kia nên chi phải tu lìa Bản Ngã, Kiến Ngã cùng Sở Ngã cốt đem cho bậc tu đến nơi nhận định đúng với tinh thần mục tiêu liền Giác Ngộ, bằng chưa đúng hoặc sai biệt nhiều ít thảy đều gọi nó là Nghiệp Thức Vọng Đảo Điên Loạn cũng thế.

Đứng trước tình trạng khó nhận nầy, nó trở thành Vô Minh làm cho bậc tu hành có gặp đức Phật hay bậc đã từng đoạt Bát Nhã Ba La Mật Đa chăng cũng khó mà nhận định, chỉ trừ ra đầy đủ Công Năng như vị đã gặp mới nhận được mà thôi. Do lẽ ấy, dù cho có sao chăng nữa, đối với đức Phật hay vị đã Giác Ngộ vẫn phải tùy thuận nương theo nhận tưởng của các bậc tu hành, để cứu độ chữa trị, giải mê lầm, làm cho bớt vọng đảo, đưa cho nhận thức đặng TÂM GIÁC lãnh hội được kinh pháp. Đến chừng biết nhận, biết tu thuần thục, lúc bấy giờ mới có thể Phát Danh Chứng Thị.

Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp sự tu hành thực chứng thật hiếm, vì sao? Vì thời Thượng Pháp có Giáo Lý, có thi hành để tu, nên có THỰC CHỨNG. Đến thời Trung Pháp có Giáo Lý, có thực hành tương song liền có THỰC CHỨNG. Qua thời Hạ Lai Mạt Pháp có Giáo Lý nhưng kém thi hành, thành thử hiếm hoi Thực Chứng. Kinh Pháp Bất Diệt chỉ nương nhờ Mật Pháp. Nơi Kinh Pháp có thực hành liền có Sở Đắc, chưa thực hành thì Kinh Pháp kia trở thành Lý Thuyết. Tu có chứng tri chăng cũng là chứng tri trên Giả Thuyết Biện Tài, chớ chưa hẳn là THỰC CHỨNG.

Nên chi thời nầy, đối với bậc quyết tâm có thiện chí tu Phật cũng đã khó tìm, còn khó hơn nữa là bậc tu biết nhận, biết lãnh hội Kinh Pháp, khi nhận biết mới nhận thấy lời VÀNG trên những Thời Pháp, có nhiều chữ NGỌC trong mỗi quyển Kinh. Thời Pháp hoặc quyển Kinh thảy đều có một chủ điểm để chỉ dạy căn bản phá mê lầm hay hóa giải từng cơn Thọ Chấp.

Lúc ban đầu bậc tu hành chưa hiểu thì chẳng khác nào đứa trẻ thơ đang lạc lõng bơ vơ chưa hiểu qua Kinh Pháp tí nào, đến chừng giải trừ các Đố Tật xấu xa, giảm bớt Nghiệp qua các Chướng Ngại ngăn cách tự Tâm tỏ lần, bớt căn vọng loạn. Trong thời gian nhờ Công Năng mới biết dụng Tâm Giác nhận được NGHE-THẤY-BIẾT, chừng ấy công nhận Kinh Pháp chính là Bảo Phẩm đối với bậc biết lãnh hội để TU./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Lời Dẫn Nhập

Bảo Phẩm Xuất Thế Chơn Kinh. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật không bao giờ bảo phải Xuất Thế, nhưng mục tiêu chỉ dạy hoàn toàn Xuất Thế Tối Thượng Giải Thoát, như vậy có phải là Xuất Thế chăng. Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp, sự tu hành thực chứng thật hiếm, vì sao? Vì thời Thượng Pháp có giáo lý, có thi hành để tu nên có thực chứng. Đến thời Trung Pháp có giáo lý, có thực hành tương song liền có thực chứng. Qua thời Hạ Lai Mạt Pháp hiện nay có giáo lý nhưng kém thi hành, thành thử hiếm hoi thực chứng. Kinh pháp bất diệt chỉ nương nhờ Mật Pháp. Nơi kinh pháp có thực hành liền có sở đắc, chưa thực hành thì kinh pháp kia trở thành lý thuyết. Tu có chứng tri chăng cũng là chứng tri trên giả thuyết biện tài, chớ chưa hẳn là Thực Chứng.

Đức Di Lạc Tôn Phật viết xong Kinh Bảo Phẩm này tại
TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG NHA TRANG
ngày 10 tháng 09 năm 1974
tức ngày 26 tháng 08 năm Giáp Dần

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.