3. BẢN NĂNG KHẢ NĂNG CON NGƯỜI

Bản Năng Khả Năng của con người có thể tu Tiên thành Tiên, tu Thánh thành Thánh, tu Thần thành Thần, tu Phật thành Phật, dung thông khoát đạt đứng trung gian nhìn xem tất cả các bậc đang thành, các bậc sắp thành, cùng các Vị đã thành. Về Khả Năng nơi con người có thể làm được những gì thế giới hoàn cầu sở thích ưa chuộng lần lượt làm đặng tất cả. Từ cơ giới đến điện tử, từ nguyên tử đến phi nguyên tử, đồng thời còn sản xuất nhiều môn, nhiều món chưa kể hết đặng.

Bản Năng nói riêng từng người ưa thích, nói chung từng khối yêu chuộng kết hợp với nhau, trở thành trăm màu sắc mong cầu xúc tiến trên thế giới nầy.

Họ đồng dùng Khả Năng tạo thành rất nhiều cơ sở, lâu đài có những kỳ quan trên thế giới do công lực khả năng con người xây đắp hoặc do một số người ưa muốn hiếu kỳ bắt buộc con người xây dựng, cũng như Vạn Lý Trường Thành chẳng hạn.

Bản Năng Khả Năng phục vụ cho con người khi con người cần đến. Tinh Thần Vật Chất đối với con người là một điều kiện kết chung, chớ chẳng phải tinh thần vật chất chia ra hai khối. Cũng như KHÔN DẠI chưa phải là hai, vì Biết cùng chưa được Biết chính ra nó là một. Có nhiều bậc cho mức sống tinh thần là trừu tượng, nếu đem tinh thần hiểu biết thi hành áp dụng khắc phục đúng bản năng khả năng thành tựu thực thể thời mới biết lời nầy nói đúng là tinh thần chưa phải lối sống trừu tượng, duy chỉ thiếu khả năng kém hào hứng chưa đúng với nguyện vọng bản năng nơi con người nên mới bị sống nơi trừu tượng.

Thông thường khối Khoa Học khám phá Vũ Trụ lấy phẩm chất thực nghiệm hợp hóa. Còn về Triết Học giải đáp đảm phá tư tưởng thường trú đem đến con người được thông hiểu. Như vậy thời sự hiểu biết nơi con người, lúc con người NGỦ hay con người CHẾT nó sẽ về đâu? Khoa Học và Triết Học đồng chịu, chưa giải đáp đặng.

Còn đứng về Thần Bí, Thần Thánh Hóa để giải đáp thì Khoa Học, Triết Học không chấp nhận, vì chưa có cụ thể chứng minh trên lời nói, dù cho có cụ thể chứng minh lời giải đáp đặng, nhưng đối với bậc chưa đến trình độ khó mà lãnh hội được để chấp nhận.

Do đó mới có một số người đứng ra ngoài Tôn Giáo, Khoa Học, Triết Học nói chung họ đứng ra ngoài hết thảy để nhìn hết thảy mà tạo nên Chánh Giác. Khi đã có đầy đủ Chân Lý Chánh Giác mới dụng phương thức kết nạp hết thảy để chỉ dạy, gọi là Đạo Tràng Phật Giáo ngày nay. Đối với Phật, Ngài đã biết nó như thế, biết con người mong đến sự hiểu biết toàn diện không thiếu sót mới đúng đắn, bằng tin vào một Tông liền bị chìm đắm nơi Tông, tin vào một phái phải chịu lầm lẫn một phái, nên chi thành lập xong Ngài công bố: “ĐẠO TRÀNG LÀ PHƯƠNG TIỆN GIẢI THOÁT,” do lẽ ấy nên mới nói: “Đứng ra ngoài hết thảy, để tận giác hết thảy mới sát thật.” Ngày nay tôi viết tập “Dưới Sự Nhận Định Vũ Trụ với Con Người” giảng giải ngoài tất cả đưa đến mục đích chính của Đạo Phật đã từng giúp cho con người thông suốt Vũ Trụ. Tài liệu nầy giúp cho các bậc đã từng nghiên cứu Đạo Phật hay chưa tu Phật biết rõ phần nào về ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CON NGƯỜI./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

2. TÓM LƯỢC

Trong tập “Dưới Sự Nhận Định Vũ Trụ Với Con Người” như trên đã nói: Con người sống tạm nơi cái sống, rất cần đến vật chất lẫn tinh thần. Phần Chánh Trị an bang giúp đỡ vật chất. Phần THÁNH ĐẠO cứu giúp tinh thần. Kể từ ĐẠO LÃO đến ĐẠO KHỔNG, BÀ LA MÔN, PHẬT GIÁO, THIÊN CHÚA GIÁO, kế tiếp có ĐẠO HỒI GIÁO, TIN LÀNH GIÁO đến THÔNG THIÊN HỌC, BÀ HAI GIÁO, tóm lược chung các Tôn Giáo để các đọc giả nhận định, trong các Tôn Giáo thảy đều với đích nuôi dưỡng tinh thần. Lúc con người chết về CÕI TRỜI hay THƯỢNG ĐẾ là duy nhất.

Chỉ có PHẬT GIÁO có đích đưa con người thoát sanh ngoài vòng Vũ Trụ, vì sao? Vì Phật Đạo đã tìm đặng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới ngoài cõi trời. Khi Đạo Phật ra đời, nhận định Thái Tử Tất Đạt Đa Cách Mạng Bản Thân xóa mờ hỗn loạn tư tưởng, dẹp tan chế độ áp bức giai cấp, đem con người khỏi ách nô lệ nếp sống trật tự mới. Ngài được con người tin Ngài trên công sự làm, Ngài đặng con người kính Ngài, vì Ngài quảng đại bao dung, Ngài được con người kính nể Ngài vì Ngài Đoan Chánh, chớ chưa tin mục đích tối thượng nơi Ngài đưa con người Tri Kiến Giải Thoát. Đến thời sau sự giải thoát mới công bố, nhiều chư vị Bồ Tát mới đồng ghi chép tài liệu trở thành Tam Tạng Kinh.

Đạo Phật nhờ KHOA HOC, TRIẾT HỌC, TÂM LÝ HỌC làm sáng tỏ. Tuy nhiên Khoa Học là Khoa Học hay Triết Học cùng Tâm Lý Học, mỗi khoa riêng rẽ không phải Khoa Học, Triết Học hay Tâm Lý Học là Đạo Phật hay đã tin Phật thi hành. Nhưng lời nói nơi Phật là lời nói vô tư tổng quát tất cả thực hành đến kết quả đúng như lời Phật nói.

Khoa Học dụng Lý Tưởng phát sinh, lấy Thí Vật thực nghiệm. Từ nghìn xưa Phật nói chưa rõ đặng, đến ngày nay khoa học đã tìm thấy kết quả đặng. Như thế có phải: Lý Tưởng thuộc về tinh thần, thí vật thuộc về vật chất, khoa học từ tinh thần phơi bày thể hiện ra vật chất chăng?

Về phần Triết Học tận dụng tư tưởng phát sanh đảm phá tư tưởng đứng yên chưa chấp nhận, lần đến tư tưởng tận cùng mà triệt thấu qua từng bước tiến, đặng rõ ràng tư tưởng từng lớp con người đã suy nghĩ, kết quả đứng vào hàng Thông Thái Học, chớ chẳng đến tuyệt đích Giác Nguyên, nên chi Triết Học chưa giải được những gì không có chỗ chỉ mà Đạo Phật Sở Đắc.

Tâm Lý Học đã từng nghiên cứu, tác động con người từ tư tưởng phát hiện trên hành động, từ nơi ý nghĩ thấp cao của con người thì hành động nhịp nhàng theo giai cấp. Tâm Lý Học biết tất cả tâm lý nơi con người để điều động giúp đỡ theo nhu cầu của họ. Nhưng Tâm Lý Học chưa biết đặng tinh thần với vật chất dung thông trong tạng thức bản thân của con người mà trưởng thành tất cả sự việc. Theo sự nhận định trên thì:

* Khoa Học Thí Vật thực nghiệm những gì Phật đã nói hàng nghìn xưa, nay mới bày biện.

* Triết Học Hóa Giải những gì Phật đã dạy.

* Tâm Lý Học thâu nhận các linh động cốt đến hiểu biết từng lớp con người, những gì mà Phật đã giảng. Những thành quả trên với đích đức Phật chủ yếu đưa con người Giác Ngộ thoát khỏi Vũ Trụ với con người đã biết nhận định.

Đứng trong tư thế con người, bước vào Tôn Giáo cầu lấy Cách Mạng bản thân thường bị vấp vào nơi phản Tôn Giáo, phản Cách Mạng bản thân. Đến chừng thông đạt Vũ Trụ với con người biết điều hành ngự chế khi bây giờ không còn gọi là phản Tôn Giáo hay phản Cách Mạng bản thân nữa, vì sao? Vì chưa biết sử dụng tư tưởng nên tư tưởng lệch lạc bản thân bị phản đối, do đó nên mới có PHẢN TÔN GIÁO, PHẢN CÁCH MẠNG BẢN THÂN. Nếu con người biết vận dụng tư tưởng thì nên lúc tư tưởng phát sinh, những tư tưởng nào không thực chất chớ phơi bày tư tưởng đó ra, chính mình phải tự hóa giải nó đến thực chất. Bằng phơi bày ra mang đến cho con người không có lợi lại thêm vào nó mê tín cuồng si bị chỉ trích, tự mình phản lấy mình còn phản tinh thần tôn giáo nữa. Thế nào gọi là tư tưởng không thực chất? Tư tưởng không thực chất là: Tư tưởng ngoài chơn tánh, xa chân thể khó thành tựu đặng. Cũng như: Không Hỷ Xả tạo Đức Độ, cỗi giải tâm, lại đòi tu luyện TÀNG HÌNH, thì thử hỏi làm thế nào đặng. Duy chỉ Đức Độ Từ Bi tâm rộng rãi giúp đỡ nhân loài an vui, thì dù cho có đứng trước Quần Chúng đặng con người Lễ Bái, cần chi phải tu luyện Tàn Hình?

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

1. GIỚI THIỆU

Là một Tài Liệu chung gồm tất cả các Môn học hỏi của con người như: KHOA HỌC, TRIẾT HỌC, TÂM LÝ HỌC cho đến SIÊU HÌNH HỌC trở thành Chân Lý Nhà Phật, căn bản giúp cho con người đã có sẵn TÍN TÂM, mong cầu TRI KIẾN, tìm con đường GIẢI THOÁT.

Tập nầy nói lên mục đích chính của ĐẠO PHẬT, là một Giáo Môn lần đưa con người Khám Phá Vũ Trụ làm chủ Vũ Trụ Bất Diệt.

Hiện tại Thế Giới khám phá Vũ Trụ trên hiện vật, nhưng chưa chắc đã hoàn mỹ bất diệt, vì sao? Vì hiện vật có hoàn mỹ chăng mà Thân Mạng con người chưa hoàn mỹ vẫn gị diệt sanh, chưa đoạt đến đích chính của Thân Mạng.

DI BÚT KÝ trong tập nầy giúp cho con người đặng hoàn mỹ SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Ấn Ký

DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH VŨ TRỤ VỚI CON NGƯỜI

Sự nhận định con người với Vũ Trụ, vấn đề này được nêu ra từ lâu. Khi con người biết nhận thức đến Tinh Thần đồng Vật Chất thảy đều có giá trị, đời sống, lẽ sống không tồn tại, chưa bao giờ thoải mái bền lâu, dù cho có cũng trong chốc lát bay theo ngọn gió cuốn mây bay, đương nhiên con người phải truy tầm những gì trong phút ấy, kéo dài ra cốt đáp ứng lâu bền sự sống, nguyện vọng của con người đón nhận có bấy nhiêu.

Bậc trí có lý tưởng sâu xa, tự vấn đáp biết đặng: TƯ TƯỞNG LỆ THUỘC BẢN THÂN, TINH THẦN NUÔI VẬT CHẤT, nên họ dùng tư tưởng lần biết tỏ thông tiến bộ, dụng tinh thần bồi dưỡng Bản Thân, đó chính bậc trí đã thực hành. Nhưng chưa bao giờ quyết định rõ ràng: VŨ TRỤ VỚI CON NGƯỜI đã sanh ra bao đời kiếp?

Từng lớp sống nơi con người có thể biết, đã có bao nghiêu thành phần người sống, qua bao thế kỷ đổi thay. Đã từng có nhiều hoàn cảnh đem đến cho con người ngang trái, nếp sống, đời sống nơi con người trải qua rất nhiều bị trị, chỉ vì con người vấp phải cái sống tạm trên Trái Đất chuyển xoay, nên hoàn cảnh xoay chuyển, dù sao chăng cũng không ngoài Vũ Trụ.

Nhà Hiền Triết có trí thức nhãn quang, nhìn quả đất vòng quây, xem Vũ Trụ linh động. Còn con người đón đợi trái đất dừng lăn, Vũ Trụ chớ di chuyển, hoàn cảnh chớ xãy ra, việc đời đừng thay đổi, thì thử hỏi con người mong đợi có hợp tình, hợp lý với Vũ Trụ và Trái Đất chăng ? Nếu việc đời dừng trụ đứng yên, hoàn cảnh chẳng thuyên diễn thì chẳng khác nào đêm khuya yên giấc, con người và vũ trụ chết khô, tìm đâu cho ra cái sống, có phải sự hoài mong nơi con người ĐỐI TƯỢNG với Vũ Trụ chăng? Chính nhà Hiền Triết chưa suy nghĩ kịp như thế.

Nói đến kiếp con người đã có từng bao nhiêu thế kỷ, con người với con người. Họ cũng đã sắp xếp thực hiện nhiều tài liệu, chương trình cốt phục vụ nhau, họ đặt thành hy vọng ngày mai đem đến lẽ sống hoàn toàn thoải mái. Do đó mới phát sanh TÔN GIÁO và TRIỀU ĐẠI, ĐẢNG PHÁI đều một mục đích bảo toàn nếp sống cho nhân loài thanh bình thịnh vượng.

Theo triển vọng chủ đích con người: SỐNG HIỆN TẠI, XÂY DỰNG HIỆN TẠI, nên mới vạch con đường chánh cứu giúp con người, chỉ vì quá nhiều tư tưởng mỗi thời có mỗi lập dị riêng, sự đồng tưởng bất đồng tưởng tương tranh thay đổi nên mới có chế độ nầy sang chế độ khác, mãi tiếp diễn làm cho con người cứ trải qua 20 năm có trận thay đổi lớn nhỏ tùy thời, sướng khổ tùy thế, lịch sử chép ghi biết mấy pho đầy đủ.

Con Người đã có sẵn tập quán thói quen, nên chi từ sự ăn uống, nề nếp lối sống, tục quán thảy đều quen thuộc. Nếu đem đặt con người vào hoàn cảnh chi hay khuông khổ chế độ nào sống lâu ngày thời gian tính vẫn quen nền tảng ấy. Nên chi các nhà Tôn Giáo, các Chính Trị Gia, Triều Đại, Đảng Phái mới dùng, mỗi Tôn Giáo có mỗi sắc thái văn tự riêng. Mỗi Triều Đại có mỗi Sắc Phẩm riêng, mỗi Đảng Phái có mỗi hành động cử chỉ riêng để cho con người tập quán quen thuộc dễ trung tín.

Con người thường có tánh kiên sợ lúc ban đầu, nễ khi đã chinh phục đặng. Lúc qua cơn sợ hãi tâm ý hồi tỉnh, nhìn lại đối phương giảm lần sự chinh phục, vấp phải nơi bất chơn thì con người kia phát sanh liều lĩnh, càng đem sự đè ép bao nhiêu lại càng nung nấu cho con người liều bấy nhiêu. Bằng vỗ về quí mến thì con người quay về nơi chinh phục.

Nên chi con người gặp thời thế thay đổi hay cảnh nhà tai biến, trước nhất con người lo sợ, đến hết nơi sợ lại đâm liều duy chỉ con người lo âu sợ sệt có hai lý trí: Một là thay đổi gia cảnh sướng hay khổ, hai là thay đổi chế độ mình Bị Trị hoặc Giải Cứu, gặp Minh Vương hay Quan Tham Ô Nhiễm. Con người lúc nào, thời nào cũng thế, đứng trước Giao Thừa thường hay lo nghĩ, cho nên đối với con người SỐNG LO ÂU, CHẾT SỢ SỆT, đứng trong Vũ Trụ với Con Người chẳng biết về đâu là vậy.

Trên đã nói: TÔN GIÁO giúp TINH THẦN. Nhân Sanh Chánh Trị xây dựng Vật Chất, lời nói ấy con người đa số nhận định được. Nhưng tại sao chưa được hưởng? Tại con người chưa biết giá trị phải làm mới đến, có tìm mới thấy đó chính lời thực tế đối với tinh thần vật chất hai nơi. Khi con người truy tầm về tinh thần toại hưởng thì ít nhất phải có tự tánh giải mê, tự cường nâng tư tưởng, còn về vật chất chính mình phải tăng năng xuất, đứng về hai mặt phải phát triển lấy mới toại hưởng, bằng nương nơi tinh thần cầu vái, dựa theo vật chất chờ mong dịp may mang đến, khó mà kết quả trong kiếp con người.

Hai nữa: Con Người muốn dựng nên hương vị thỏa mãn thân tâm, trước tiên chính mình phải khắc phục mình, bằng cách dẹp Cá Tánh, sử dụng tư tưởng làm kẻ đưa đường, dùng lý trí sáng soi làm ngọn đuốc tâm chí quyết định không lùi trước mọi khó khăn đặng CHÍ DŨNG. Lúc Con Người có đầy đủ Công Năng Chí Dũng thì chắc chắn đoạt đến thành công.

Tinh Thần thoải mái làm thế nào mà có? Muốn có tinh thần thoải mái, tâm ý phải thi hành HỶ XẢ vì Hỷ Xả sáng tạo ĐẠO ĐỨC, đức lớn Quỉ Thần kiên tinh thần vui vẻ thoải mái. Bằng Tâm Ý thắt chặt, lưu tâm mọi sự việc đối với đời, đối với mọi người lúc thớ lỡ va chạm, đối với hoàn cảnh trái ngang, chính mình trói buộc ghét vơ thù hận, liền tự mình mang lấy phiền trách, phiền não, mang lấy tê liệt tinh thần đâm ra buồn đời trách bạn vô ích, nên có câu:

Kẻ chán đời, có nhiều tham vọng.
Sống yêu đời, thắt thẻo non sông.
Người xa đời, lối sống viễn vông.
Đồng chung BIẾT SỐNG viên thông mọi bề.

Đối với Con Người Chí Cả, đoạt đến đích sống thanh cao khoát đạt, có thể mang đích sống ấy cho Quần Chúng ích lợi. Trước tiên phải chinh phục đa số con người được sự tán trợ xây dựng, liền được con người suy tôn vào hàng THÁNH, khi bấy giờ mới có giá trị.

Bậc Thánh nào cũng thế, bậc Vĩ Đại Siêu Nhân nào cũng vậy, đều có tinh thần phục vụ nâng đỡ đời sống của con người có sẵn mục đích tiêu chuẩn rõ ràng, hường dẫn con người thực hành kết quả. Có kết quả nên con người tỏ lòng ÁI KÍNH bậc Thánh, khâm phục Siêu Nhân lẽ dĩ nhiên phải như thế.

Khi đứng vào hàng Thánh, hàng Vĩ Đại không bao giờ lấy mục đích Suy Tôn Cá Nhân, Cá Tánh làm hãnh diện, chỉ nhìn nơi quần chúng mức tiến bộ, mức kết quả đích Lãnh Đạo làm an vui, do đó nên thường sát nơi con người để nâng đỡ từng lớp hợp tình, hợp lý toàn dân Ái Kính Khâm Mạng.

Từ nghìn xưa, đến thế kỷ thứ 20 ngày nay, bậc THÁNH TRIẾT thán phục các hàng THÁNH, các hàng VĨ ĐẠI SIÊU NHÂN, mỗi thời mỗi vị ra đời đều phục vụ tích cực đáng kể, xem việc nước hơn việc nhà, xem Tín Chúng hơn con đẻ, vì Đạo chớ không vì mình, vì Quốc Gia hơn vì riêng tư sung sướng, cho nên chép ghi nhiều tài liệu tỉ mỉ cốt để lại đời sau. Đến bậc thừa kế hướng dẫn y theo GIÁO ĐIỀU, y theo Tôn Chỉ Mục Đích không sai chạy. Nhưng lạ lùng tại sao Tín Chúng, Toàn Dân chán nản? Vì y theo Giáo Điều chớ chưa y nơi tích cực tinh thần hiểu biết linh động khéo léo lần đưa, do đó mà suy thoái.

Nhà Thông Thái nói: “Toàn thể con người khôn trước Triều Đại. Nếu Triều Đại biết con người khôn phải lần theo con người hướng dẫn. Bằng Triều Đại rõ biết trách nhiệm Quốc Gia, có bổn phận gìn giữ an lành cho dân chúng, hơn là trị an dân chúng thì con người mau phát triển đặng Quốc Thái Dân An.”

Trong con người thường hay có tư tưởng học làm người. Nhà Thánh Triết nói:

Học làm người không bao giờ làm người đặng.
Hãy học làm Thánh liền biết làm người.

Bậc Thánh ra đời tùy theo Thời Đại. Vĩ Nhân lộ diện tùy cuộc Thế đổi thay, hai lối tượng trưng cho con người tiến bộ vật chất lẫn tinh thần. Đời con người nơi cái sống rất cần có tinh thần vật chất tương song, không thể sống mỗi một bên gọi là hoàn mỹ.

Nên Lão Tử ra đời chuyên chú về tinh thần, Ngài nung đúc con người hướng thượng, thành lập THIÊN ĐẠO, dụng thuyết VÔ VI giải tỏa kiếp người, đưa về THIÊN GIỚI, gạt lòng tham, giết chí nhỏ nên Ngài nói: “Nếu ta không muốn những gì của ai, thì cần chi phải sang đoạt? Bằng ta không sang đoạt, có ai đến đòi ta.”

Sau đức Khổng Tử ra đời chủ đích dung thông vật chất với tinh thần, chăm đạo làm người, nâng đỡ con người hướng thượng, nên Ngài mới gọi con người có tư tưởng khoát đạt là QUÂN TỬ. Nhà vua được gọi là THIÊN TỬ, con vua là THÁI TỬ, con quan là CÔNG TỬ, Ngài dạy con người biết xét mình, biết trọng người, biết TIÊN TRỊ KỲ GIA, HẬU TRỊ KỲ QUỐC, thời Ngài được nhà vua Sùng Ái, toàn dân Kính Nể, dùng tài liệu nơi Ngài làm nền Văn Hóa trị vì. Ngài sắp đặt Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín bằng sự đối đãi ăn ở với nhau. Văn thi của Ngài đặng ưu tiên nhất bên Đông Phương ứng dụng. Sau nầy cách mạng cải tiến mới cải hóa nhiều để con người theo trào lưu tiến bộ, chừng ấy mới tạm ngưng.

Có thời tại Ấn Độ, thành lập đạo BÀ LA MÔN do ông Krichna sáng tạo, với đích tôn thờ Trời Phạm Thiên (Brahma) cốt gây tạo mê tín thần quyền làm cho dân Ấn Độ thời ấy cuồng tín vô cùng.

Phái nầy chia ra Bốn giai cấp, cung đốn cho một giai cấp cao quí nhất gọi là giai cấp Đại Diện cho Trời Phạm Thiên tối cao, còn giai cấp thứ hai là giai cấp Chiến Sĩ Nhà Quan, đến giai cấp Tỷ Xá (Nhà Buôn) qua giai cấp Hạ Tiện gọi là Ty Tiện hèn yếu làm nô lệ cho tất cả ba giai cấp trên, giai cấp nầy đứng vào hàng dân giả. Các hàng dân giả nô lệ ít đặng gần nhau, họ sợ gần nhau ăn nói thô bỉ mang tội Trời phạt, nên chi họ có quan niệm: “GẶP VỊ THẦN THÁNH HÓA DỄ HƠN GẶP CON NGƯỜI NÔ LỆ.”

Sau nhờ Thái Tử TẤT ĐẠT ĐA (Phật Thích Ca) ra đời tại Ấn Độ, Ngài mục đích Cách Mạng Bản Thân trao giồi tư tưởng, xóa mờ tư tưởng bất công trên xã hội con người với con người, Ngài an bang tư tưởng bị trị hỗn loạn thống khổ, Ngài tranh đấu tất cả những gì xãy ra uy hiếp phản động với tư cách con người, cốt đưa xã hội vào trật tự mới, nếp sống thoải mái an lành. Chính Ngài đã khởi xướng con người đánh đổ tư tưởng thống trị áp bức, đảm phá hóa giải những bàn tay bóp con người vào vòng nô lệ, không hao giọt máu nơi con người, đoạt đến sự nghiệp viên thành, sáng lập ĐẠO PHẬT.

THIÊN CHÚA GIÁO, do đức Chúa Jésus thành lập, Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, trăm điều nơi Ngài là LÀNH, ngàn sự nơi Ngài đều TỐT. Ngài chính bậc cứu thế, đấng cha lành con người nương tựa. Con người thảy đều CON CƯNG của Chúa, nên chi có câu: “LẠY CHA. CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI,” thể hiện giá trị con người đang đứng trước mặt Chúa. Ngài là đấng Toàn Năng, Ngài có đầy đủ Đức Lực cứu giúp con người, miễn con người TIN MÌNH CHÚA, tin Ba Ngôi Chúa, với phép lạ cứu thế vô cùng huyền diệu.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Vũ Trụ với Con Người: Dẫn Nhập

Dưới Sự Nhận Định Vũ Trụ Với Con Người: Đối với con người hiếm bậc đã biết, họ tự đem tư tưởng cái nghe thấy biết nhịp nhàng với vũ trụ sai chạy khác biệt, trở thành quan niệm tư hữu, đương nhiên nó phải bị riêng rẽ hai khối vũ trụ với con người. Hiếm có bậc nào hiểu Đạo Phật đứng ngoài tất cả lại nhìn chung tất cả mà đặng cái nghe thấy biết chung cùng với vũ trụ và con người đồng nhất. Nên chi mới trao cho con người cố tạo cho đặng cặp mắt Thiền Sư, gọi là Như Lai Nhãn Tạng mới có thể nhìn nhận lời nói trên chân thật.

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.