TẠI SAO?

Tại sao hiểu biết chưa đồng?
Vì rằng Ý Thức đục trong cân lường.

Tại sao nghi chấp vấn vương?

Vì rằng kém Dũng, lòng thường lợi riêng.

Tại sao sáng tối triền miên?

Vì rằng chưa rõ, chưa yên bến bờ.
Nên chi dục vọng vẩn vơ,
Mong hoàn Bản Giác làm mờ Chân Nguyên.
Đến đây phải tu Hạnh Nguyền,
Hành Thâm Pháp Giới, Tròn Duyên Tứ Thừa.

Tại sao uể oải sớm trưa?

Vì nghe Giáo lý chẳng vừa vọng tham.
Đương nhiên Nghiệp Thức đón đàng,
Cản ngăn biếng trễ, Tâm phàm đắn đo.
Tại sao Bát Nhã không đò?
Như Trí suốt suốt khỏi lo luân hồi.

Tại sao tiến thoái kéo lôi?

Vì rằng chưa nhận được lời THẦY răn.
Tại sao suy tính lăng nhăng?
Vì rằng Đạo Hạnh khó khăn chưa hành.

Tại sao Trí quẩn cùng quanh?

Vì rằng Tà Kiến, chấp thành ngẩn ngơ.
Lìa Tự Giác, Tánh mật mờ
Nghĩ suy ảo tưởng, mong chờ Thần Thông.
Đương nhiên Đức Trí viển vông,
Tự sinh chán nản như lòng nói trên.

Khuyên ai Nung Chí Vững bền,

Hạnh Nguyện Tròn Giác, dựng nên Phật Đài.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

VÔ NGÃ

VÔ NGÃ chính pháp Không Ta,
Nhất Nguyên sẵn vẹn, đơm hoa khắp tràn.
Thường Còn vốn lại Thường An,
Chẳng thêm không bớt, một đàng Phật Tôn.
Bởi vì hữu Ngã bị tồn,
Lại thêm Danh Tướng, chỉ dồn mờ mê.
Phật thời Vô Ngã đề huề,
Chúng sanh Hữu Ngã nên tê tái lòng.
Chân Tử lià Ngã là xong.
Trọn tình Chư Phật, vẹn lòng Nhất Nguyên.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

NHÂN DUYÊN

Nhân Duyên liên kết rõ ràng,
Gieo Nhân Hiền Đức, Duyên đàng hoàng vui.
Bạn bè kính mến ngụt ngùi,
Gặp Thiện Tri Thức dưỡng nuôi Tu Hành.
Tạo NHÂN độc ác gian manh,
Duyên thành đói khổ, chạy quanh ngặt nghèo.
Càng làm, càng đến chỗ eo,
Lâm chung Thọ Báo, bị treo ngục hình.
Nhân duyên Pháp rất phân minh,
Thung dung chẳng đoạn, lộ trình Phật Tôn.
Khuyên ai: Tu khéo trường tồn,
Từ PHÀM đến THÁNH, chung gồm NHÂN DUYÊN.
Trước sau Chân Tử vẹn tuyền,
Như Lai Tam Thế lời Nguyền giúp cho.
Ấy là chính tạo thuyền đò,
Cứu mình cứu cả kẻ dò Tâm Nguyên.
Phật rằng: chẳng Độ Vô Duyên,
Không độ Định Nghiệp, đoạn nguyền Thế Tôn.
Hiện Phật ngăn kẻ vong tồn,
Chỉ chờ Địa Tạng cứu hồn,gây Duyên.
PHÁP TẠNG lời thật Chỉ Truyền.
Nên ghi nhớ lấy: Nhân Duyên khải Hoàn.
Nhân Duyên khéo trọn vẻ vang,
Pháp Đàn Bảo Phật, cúng dàng Nhân duyên.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Mùa trăng tròn tháng 8 – 1984

Đá bia nước chảy phải mòn,
Nếu không có nước, đá còn trơ trơ.
Chuyện đời ngơ ngẩn ngẩn ngơ,
Nương nhờ chiều gió đá ngơ vẫn mòn.

VÔ THƯỢNG TÔN
Lúc 8g25 ngày 28-4 năm Mậu Thìn (12-06-1988)

TỨ HIỆN

Có một buổi Trời êm gió mát,
Trước sân Chùa rải rác hoa đơm,
Vài ba chú Tiểu lom khom giởn,
Sư Cụ ngồi yên diễn đạo Thiền.
Hay thay! ỨNG HIỆN khắp trùng dương,
TRỰC HIỆN là môn Pháp cúng dường,
CẢM HÓA HIỆN hành thu nhiếp hiện,
Thật hành TẬN HIỆN. Thấu muôn phương!

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

CHÍ NGUYỆN

Lá chen lều lá cảnh xinh xinh,
Ngày đến, năm đi chuyến Lộ Trình,
Hai mái duyên lành che nắng gió,
Một vùng rừng trải đội trời xanh,
TA tuyên Bảo Pháp toàn dân thỉnh,
Về với Gia Trung mỗi một mình,
Chí nguyện khai thông đời sống Đạo,
Tâm tình thắc thẻo, tấm lòng xinh.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Ngày 20-06-1984 (năm Giáp Tý)

GỞI ĐẾN TỨ CHÚNG

Quả đất vòng quanh, vẫn gặp nhau,
Tình chung cao đẹp , nghĩa sâu dày,
Thể Chân tuy sẵn, Tâm chưa chỉnh,
Trọn kiếp Thiên Thu, sống đọa đày.
Rồi đây nhìn rõ trắng đen,
Tấm tuồng Chân Giác, không đèn sáng trưng.
Nhớ nhau Tâm Ý ngập ngừng,
Ngày mai rạng rỡ tưng bừng hoa sen.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

ĐÂU SUẤT THỊ HIỆN

TU CHỨNG

• Tu Chứng là Không Chứng.
Cũng Chứng tại Thế Gian.
Cũng hoàn toàn Quốc Phật.
• Tu Chứng bị Chứng Tu.
Có Tu mới có Chứng.
Không Chứng cũng Không Tu.
Không không không đâu cả.
Khắp khắp đã sẵn sàng.
THÊM. Chi cho bận rộn.
BỚT. Chỉ Chứng mơ màng.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN