9. TỈ DỤ: VỀ CÂU CHUYỆN THẰNG CHĂN TRÂU

Buổi sáng tinh sương ngày mùng 7 tháng 4 năm Giáp Dần, tôi về vấn an ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trong thời Ngài đang dưỡng bệnh, trước sự hiện diện của ông Tôn Giả Pháp Khả. Ngài kêu tôi lại gần kể cho nghe câu chuyện “Thằng Chăn Trâu” để phương tiện chỉ vào con đường của bậc tu và kẻ chưa tu nó hơn nhau thế nào?

● Khi bậc tu chưa nhận định được, chưa biết được giá trị của mình.

● Lúc bậc tu đã nhận định được, thì mới biết được mình và kẻ chưa tu, cái giá trị nó hơn nhau gấp vạn lần như thế.

Lúc kể xong, Ngài bảo tôi cầm bút phụng ghi thời Giáo Ngôn Ngài đã dạy. Ngài nói:

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết những bậc tu lắm khi tự mình nghi lấy mình không tiến bộ. Có lắm lúc tự nhận lấy mình không kết quả, nó làm cho bậc tu phân vân không lãnh được Bảo Pháp. Nó mơ màng hoang mang không biết được công năng tu tập của mình. Vì sao? Vì mình đang còn nghi chấp dẫy đầy, hoang mang đủ cách, mơ màng đủ điều. Do sự nghi ngờ mơ màng ấy mà nó làm cho bậc tu không tìm được lối thoát ngay chính bản thân mình thì thử hỏi làm sao mà độ thoát Tam Thiên cho đặng.

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết có bậc tu từ 5 đến 10 năm khi ra đường dạo cảnh gặp một người bạn đồng hương nói qua một câu chuyện hay ho, làm cho bậc tu phải suy nghĩ rằng mình tu từ 5 năm hay 10 năm cũng đồng giai cấp với người bạn. Có khi bậc tu, tu hằng hai, ba chục năm cũng đều gặp hoàn cảnh tương tự như thế. Do tại sao? Do tại chưa đầy đủ Giác Nguyên trùm khắp nên mới có tình trạng trên. Nếu bậc tu biết suy nhận trong một khắc đồng hồ thôi thì mới biết rằng người bạn ấy chỉ biết có một mà ta đã biết một trăm vạn lần hơn. Đó là những yếu tố ấn định cho tất cả bậc tu được biết mình và biết người. Ngài liền kể câu chuyện “Thằng chăn Trâu” dưới đây. Tôi trầm ngâm để thọ lãnh và phụng ghi.

Ngài dạy:

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết có một bậc ở trong một làng xa xôi hẻo lánh quyết chí du hành để tìm Chân Lý. Bậc ấy sắm sửa hành trang ra đi, lúc qua khỏi cổng làng đến ngã tư gặp một Thằng chăn trâu hỏi: Ông đi đâu? Bậc ấy nói: Ta đi du hành cho biết đó đây. Thằng chăn trâu mỉm cười. Bậc du hành vẫn đi thong thả cùng khắp đó đây để học khôn dại hiểu biết. Khi đã tỏ biết rành mạch, đã đi trên vạn đường muôn lối. Lúc về làng đến chốn cũ vẫn gặp lại thằng chăn trâu, thằng chăn trâu mỉm cười như trước, thì thử hỏi bậc tu ra đi lúc trở về có khác hơn thằng chăn trâu ở những điểm gì hay không?

Tôi bèn chắp tay thưa thỉnh:

–Kính bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, đối với quãng đường trước thì nó không khác nhưng đối với bậc đã ra đi hưởng thụ biết bao nhiêu cái khác của sự hiểu biết đó đây. Lúc bấy giờ ĐỨC TĂNG CHỦ gật đầu khen đúng.

Ngài dạy: –Ông Pháp Tràng, ông nên biết có người họ nói rằng Đạo Phật không ngoài làm THIỆN chứ chưa biết làm TOÀN THIỆN. Có bậc họ nói ĐỨC chứ chưa có TỪ, BI, HỶ, XẢ trùm khắp để tạo cái ĐỨC hoàn mỹ. Lại có người họ nói có tu cũng chết mà không tu cũng chết, chỉ dùng trong cái sống để hưởng trong cái sống hiện tại. Tuy họ nói thế, nhưng chính họ cũng chưa tìm được cái sống của hiện tại và cũng chưa biết cái chết của ngày mai.

Đối với bậc tu có một lối sống thoải mái bất diệt, có một lối đi, về NHẬP-DIỆT của tương lai. Tôi nói ra đây để các ông biết có làm mới có đặng, có tu mới có đến, chứ không làm mà lấy cái Ý Chí thẩm xét thì nó sai muôn trùng vạn cách. Cũng như thằng chăn trâu kia nó chỉ biết có một ngã tư của nó đứng, chứ nó có ngờ đâu trong vạn lối để đi không lạc nẻo. Bằng đem thằng chăn trâu mà thả vào lối của kẻ đã đi thì chắc chắn thằng chăn trâu nó lạc hướng muôn điều.

Đối với sự tu hành từ phàm phu đến chư Thánh chỉ có hơn ở chổ Giác và Mê. Khi mà kẻ chưa giác đang còn mê thì nói chuyện với kẻ mê cũng đồng hóa ra mê theo kẻ mê ấy. Lúc đã thật Giác có một cơ bản hoàn mỹ thì dù có nghe cái mê của kẻ đang mê nói hay ho chăng thì nó vẫn là một ngã tư của triệu ngã tư khác. Nên chi người tu cần phải cho rốt ráo thật biết khỏi lầm với mê thì quyết định biết cái mê kia nó đang cố thủ của một chỗ đứng. Có như thế nên Phật thường dạy chư Bồ Tát “trụ mà không trụ là hạnh nguyện của Bồ Tát” để Bồ Tát năng sở chứng tri của một cái mê đặng thoát mê của một lối nói. Khi mà Bồ Tát đã đạt đến một khuôn cảnh Mê Chấp, Bồ Tát không dính mắc đặng hoàn chân.

Lại nữa, Bồ Tát đi qua ngàn vạn Pháp Giới diễn cảnh, trụ mà không trụ để thâm nhập Pháp Giới đặng biết rõ chứng tu mà hoàn chân Tu Chứng. Vì lẽ ấy, thành thử Bồ Tát nguyện mới hăng say để tạo Công Đức Chánh Giác vậy. Ngài dứt lời.

Lúc bấy giờ ông Tôn Giả Pháp Khả cùng tôi đồng thấy như được Ngài trao thêm cho những cái chìa khóa và chỉ dẫn cho những cái chốt đóng mở của tòa lâu đài Bảo Pháp. Chúng tôi đồng cung kính tán thán, nghiêng mình đảnh lễ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ.

BAN HỘ ĐẠO LONG HOA HỘI THƯỢNG
"Phụng Ghi Để Phổ Truyền"
Ngày 7 tháng 4 năm Giáp Dần

8. SỰ LẦM LẪN DO QUAN NIỆM SAI

Hồi 9 giờ ngày mùng 3 tháng 4 năm Giáp Dần, với sự hiện diện của các Chân Phật Tử: ông Pháp Quyên, ông Pháp Hậu, lúc bấy giờ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ thân hãy còn đang bệnh, từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện ngồi tịnh dưỡng trên chiếc chõng vải, chúng tôi đồng đến lễ bái, xong ngồi một bên. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ liền bảo tôi lấy giấy bút ghi lại bài Giáo Ngôn với tựa đề:

● SỰ LẦM LẪN DO QUAN NIỆM SAI

Ngài dạy rằng: –Các ông cũng nên biết, do ý chí tư tưởng quan niệm sai thành thử tu không đúng với tinh thần Đạo Phật. Vì lẽ ấy nên tu mãi không tìm được lối thoát mà còn vướng vào căn bệnh Chứng Tu. Thế nào là quan niệm sai? Ngài dạy tiếp:

–Có một Vị thường nghe viên ngọc Bích Thủy, vị ấy mới ngồi suy tư để tìm ra căn nguyên sự cấu tạo của viên ngọc, bèn suy đoán chắc có lẽ ở vũ trụ này do khối nước đồng hợp Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ âm-dương tương cấu lâu ngày kết nạp thành viên ngọc Bích Thủy, nghĩ như thế xong vị nọ mới ra khu rừng lấy một bát nước đặt trên đỉnh đồi rồi ngồi cách chỗ bát nước độ 50 thước mắt đăm đăm nhìn vào bát nước để định thần suốt cả ban ngày lẫn ban đêm, khi ban ngày thời yên trí rằng mặt trời chiếu vào khí dương làm căn, đến lúc ban đêm thời lấy mặt trăng và ngôi sao lập bổn để luyện thành viên ngọc Bích Thủy.

Bát nước lâu ngày khi vừa mới múc, ngày tháng khô dần vì bởi thời gian, vị ấy mới nghĩ rằng đó là cố tinh của thủy để thành Ngọc. Sau một thời gian, bát nước cạn lần đến một ngày nào đó trở lại không còn nước nữa, thì vị kia sanh tâm chán nản vì sự tu luyện của mình không được kết quả, chẳng đoạt đến chí nguyện.

Các ông cũng nên biết, do sự lầm lẫn suy tưởng của vị Đạo Sĩ kia chỉ dùng ảo tưởng để cố tạo thực tưởng, đương nhiên ảo tưởng là của ảo tưởng, chớ không bao giờ ảo tưởng trở thành thực tưởng. Do lẽ ấy mà không thành tựu được, đối với con đường tu Phật chính nó là thực thể Chân Thật tướng, lý sự chung hoàn mới tận hưởng được nó, bằng dùng tư tưởng sai lạc lầm tưởng thì không bao giờ đến kết quả, thế nào gọi là tư tưởng Thật Tướng? Bậc tu tạo nhân cách cho huy hoàng, dụng đạo hạnh cho đúng đắn, từ nhân cách và đạo hạnh hoàn mỹ, đương nhiên Đời và Đạo sẽ suy tôn lên bậc Thiên Nhơn Sư, đó gọi là cấu tạo Đạo Đức.

Còn về phần Trí Tuệ là phá mê chấp, mỗi ngày kiểm điểm lại nghiệp của mình, mỗi lúc lại so mình cùng chúng bạn có những điểm gì tốt xấu cần phải chỉnh trang bổ túc, lìa Tự Ngã Bảo Thủ để được Dung Thông, dẹp gay cấn ganh tị liền được thoải mái, giải sân hận liền được viên dung mà sở đắc THA TÂM THÔNG, LẬU TẬN THÔNG, THẦN TÚC THÔNG, TÚC MẠNG THÔNG làm ĐẠO HẠNH, như vậy được sự ích lợi vô kể.

Đối với các ông phải nghe theo lời Tôi để mỗi vị xây dựng một nền Chánh Pháp trong tâm khảm bất diệt. Trong thời này là thời Hạ Pháp, các ông sống vào nhân cách phàm phu, trí tuệ kém cỏi, sự lầm lẫn dẫy đầy. Tôi không giận các ông lại càng đem tình thương tràn ngập để giúp các ông trên con đường Tri Kiến, theo tôi tự nghĩ: Bậc Chư Thiên còn lầm lẫn huống chi các ông là kẻ phàm phu nhân cách, làm sao không lầm lẫn cho được. Các ông hãy nghe câu chuyện dưới đây mới biết các Chư Thiên hãy còn lầm lạc mà tu hàng 800 năm vẫn chưa thấy Chân lý nổi, huống chi các ông.

Lúc bấy giờ, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ suy tư, hớp một chung trà, hương thơm bốc lên ngào ngạt, Ngài dạy tiếp:

– Tôi còn nhớ, một thuở khi tôi Giáng Lâm tại Tỉnh Thị Hội Bình Định Qui Nhơn khoảng trung tuần tháng 8 năm 1973, Tôi đến tại Quận Hội An Nhơn an trú vào gia đình của ông Pháp Hạnh, Tứ Chúng An Nhơn cung thỉnh đủ nghi lễ, từ y áo ẩm thực không thiếu sót, đêm đến Tôi nhập vào Chánh Định có một Chư Thiên uy nghi giáp vàng hực hỡ đến nghiêng mình đảnh lễ xong đứng lại một bên Tôi, nhìn qua dung nhan hình thù trẻ đẹp trang nghiêm, đôi mắt hiền lành và đầy tin tưởng, vị Chư Thiên thưa thỉnh: Kính bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, Ngài Giáng Lâm Bình Lâm Bình Định có khỏe khoắn chăng? Ngài vui vẻ và an nhàn chăng? Tôi gật đầu và hỏi: Chư Thiên từ đâu đến?

Chư Thiên đáp: Con từ hướng Đông đến, phận sự con lo cai quản việc gió, mưa, sấm, sét, con gìn giữ sự an lành cho nhân sinh trong vũ trụ, đem thuận hòa khắp mười phương, và lấy đó làm con đường tu tập, con mãi tu kể ra trên 800 năm nhưng chưa đoạt đến cơ bản, thì làm thế nào được đi vào con đường Chân Lý để Giải Thoát?

Kính nhờ Ngài chỉ bày cho con tu tập để con được lãnh hội lấy đó làm chứng từ của Đạo Phật. Tôi mỉm cười, nhìn vị Chư Thiên và nói: –Ông chớ lầm tưởng mà sai lạc với chỗ tu của ông, hôm nay tôi nói thiệt để cho ông được biết trong 800 năm qua của ông, chưa lấy được một phút tu.

Vì sao? Vì ông đang chữa bệnh thương, ghét, tốt, xấu, được, mất, thử hỏi bậc đang chữa bệnh thì có một phút nào tu chăng? Khi mà đã bước vào tu thì liền đến cũng như lúc đã lành bệnh thì mới có thể trang trải được đường tu, còn lúc đang có bệnh thì lo âu chữa bệnh nào có phải tu đâu mà ông lầm lẫn như thế. Vừa nghe Tôi nói, vị Chư Thiên mừng rở, tán thán và thưa thỉnh: –Kính Bạch Đức Ngài thật con lầm lẫn quá kể, con tự hào mình là bậc tu, ngày hôm nay nhờ Đức Ngài khai thị con mới biết con là kẻ đang chữa bệnh, khi nào hết bệnh mới gọi là Tu, Chư Thiên đảnh lễ và lui gót.

Câu chuyện trên như thế, các ông cũng nên biết giữa thời Hạ Pháp, Tôi là Đại Lương Y chế thuốc chữa bệnh cho mọi người, họ lại không lo tròn bổn phận và trách nhiệm để khai trừ quật khởi nghiệp căn, cứ dùng tư tưởng cá tánh sự lầm lẫn của cá tánh điên loạn ganh tị, kình cãi đạp lên nhân cách lẫn nhau để cho loài Ma Ba Tuần tàn phá Chánh Pháp.

Ngài trầm ngâm hít một hơi thuốc rồi dạy:

–Thật ra có nhiều khi Tôi đắng miệng, lắm lúc Tôi nhàm chê những kẻ bước vào con đường tu Phật không lo Tự Giác, Giác Tha mà chỉ lo ham quyền tước vị, cũng có đôi kẻ đòi hỏi Tôi truy phong làm quan, lấy quyền Phật Đạo để mà vụ lợi, nhưng kẻ ấy bất tài kém đức, vọng đảo tham lam, bệnh hãy còn dẫy đầy thì dù Tôi có truy phong cho họ làm quan chăng nữa, họ chỉ nhận được cái quan đàng Địa Ngục, chỉ lãnh lấy cái ảo tưởng viễn vông không bao giờ đến Tri kiến Giải Thoát được. Tôi nói ra đây để đánh thức Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới hãy cùng các vị tu cầu trên con đường Tri Kiến Giải Thoát nên Tự Giác, Giác Tha, Tự Lợi, Lợi Tha làm sao cho tất cả mọi người có lợi để chính mình được lợi, cho nên Tôi có câu giáng từ Trung Ương đến các Tỉnh Thị Hội rằng:

KẺ XUẨN DÙNG BẢN NGÃ ĐỂ NÂNG MÌNH ĐẾN MÀ CHẲNG ĐẾN
BẬC TRÍ DÙNG ĐẠO ĐỨC ĐỂ NÂNG MÌNH CHẲNG ĐẾN MÀ ĐẾN

Sau khi nghe qua lời khai thị vàng ngọc của ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, tôi sực tỉnh nhận thấy được sự lầm mê, vọng cầu điên đảo nơi bản thân mình, cùng tất cả mọi người, tôi nhận chân giá trị vô kể của thời Giáo Ngôn trên, liền phụng ghi để phổ truyền cho nhân sinh trong đời này đồng với đời sau làm phương tiện tu tập đến Tri kiến Giải Thoát.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn Văn Dây
Pháp Danh: Tôn Giả Pháp Bang
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 3 tháng 4 năm Giáp Dần

7. SỰ TU HÀNH

Sự Tu Hành Không Đem Đến Hiểu Biết Để Phá Mê Chấp Thì
Đương Nhiên Tu Ngàn Năm Cũng Không Lấy Được Một Ngày Tu.

–T.V.

Tôi được nghe vào ngày 18 tháng 3 âm lịch năm Giáp Dần, lúc bấy giờ có sự hiện diện của đạo chúng cùng ông Tôn giả Pháp Thuần, Pháp Hậu đang quay quần bên ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ. Tôi bước vào lễ bái, xong ngồi lại một bên. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ bảo tôi lấy viết ghi chép lại thời Giáo Ngôn với tựa đề:

“SỰ TU HÀNH KHÔNG ĐEM ĐẾN HIỂU BIẾT ĐỂ PHÁ MÊ CHẤP THÌ ĐƯƠNG NHIÊN TU NGÀN NĂM CŨNG KHÔNG LẤY ĐƯỢC MỘT NGÀY TU”

Đức Ngài dạy: Thuở quá khứ, thời hiện pháp của ĐỨC THẾ TÔN, lúc bấy giờ có một Giáo Môn Thượng Sĩ đến đảnh lễ xong thưa gởi:

– Hôm nay con đến để diện kiến Đức Ngài con cũng xin thưa gởi một vài điều, kính nhờ Đức Ngài minh định cho con.

ĐỨC THẾ TÔN gật đầu. Vị Thượng Sĩ Giáo môn thưa:

– Con đã từng nghe dư âm rằng ĐỨC THẾ TÔN đã chê bai, nguyền rủa Giáo Môn của con là tạo lấy nghiệp chướng, tạo lấy vô minh nhưng con chưa tỏ rõ có phải Đức Ngài đã nói xấu, đã nguyền rủa chúng con chăng? Nay con xin diện kiến Đức Ngài để được Đức Ngài truyền rõ cho con, có phải những lời con vừa nói là một bằng chứng xác thật hay không xác thật? Đối với Đức Ngài đã thương con hay không thương con đặng lòng con khỏi vướng mắc sân hận, nghi ngờ.

Thưa gởi xong Thượng Sĩ Giáo môn ngồi lại một bên.

ĐỨC THẾ TÔN dạy rằng:

– Ông cũng nên biết, TA nhìn thấy những bậc tu hành theo Giáo Môn của ông là phơi nắng, đánh đập hành xác để cầu quả Vô Thượng, thì thử hỏi đương nhiên lại tạo cái phơi nắng, tạo cái đánh đập để lấy đó làm đề mục mà đi đến nơi Địa Ngục, nơi này cũng bị ép xác, bị nghiền xác rải rác khắp nơi. TA thấy hành động như vậy không ích lợi, TA nói như thế thì thử hỏi TA thương hay TA nguyền rủa?

Lúc bấy giờ Thượng Sĩ Giáo Môn thưa:

– Thật Đức Ngài đã thương chúng con mà nói chứ không phải nguyền rủa, phỉ báng chúng con.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài lại dạy tiếp:

– Ông cũng nên biết, có kẻ tu nhìn mặt trời, trần truồng dầm mình dưới nước, lấy đá lăn vào đầu, lăn vào thân thể để cầu đạo Vô Thượng, thì thử hỏi mặt trời kia đã thuyết diễn cho kẻ ấy được những gì? Đá đập vào đầu, vào thân thể nó đem lại sự hiểu biết chi chăng? Ta nhận thấy tu tập mà hành động như vậy, nó sẽ không đem lại sự hữu ích nào, trái lại nó còn tạo thêm sự mê lầm. Những kẻ tự hành xác như trên đương nhiên tự tạo sự lầm lẫn phải chịu báo nơi Hỏa Ngục, rồi bị thiêu đốt từ đầu đến chân hoặc những kẻ kia phải chịu báo nơi Địa Ngục luân chuyển xoay chiều của Thủy Hồng Ngục, những kẻ kia cũng lại tự tạo lấy nơi rừng rú âm u, mây dồn gió cuốn thì thử hỏi TA thương hay TA nguyền rủa Giáo Môn của các Ông?

Đối với sự tu, sự hành có đặc điểm ích lợi vô kể một khi bậc tu làm đúng với nó, bằng đối với sự tu hành theo vọng cầu ý muốn nhưng không hiểu vọng cầu đó là cái gì, ý muốn nó sẽ đưa ta về đâu khi mà ta đã bị vô minh che lấp thì ta hãy tu sửa hành giác mới có thể đem ta đến ích lợi, bằng tu sửa mà đánh đập thân mạng, lăn lóc trên ba đường khổ để đi đến chỗ hành xác diệt vong thì còn thua cả con cừu, con lợn người ta thiêu đốt mà còn có thể dùng được.

Bậc tu lại chạy theo sự mê lầm để thiêu đốt thân mạng thì không thể dùng được mà lại còn bị diệt vong nữa là khác.

Vị Thượng Sĩ Giáo Môn nghe qua mừng rỡ tán thán, đồng thưa lên ĐỨC THẾ TÔN những lời nói hết lời tôn kính “Đức Ngài chính là một bậc Quân minh soi sáng vạch rõ muôn điều để từ đời này đến đời sau chúng sanh biết rõ con đường tu mà sửa sai lầm lẫn. Hành là Hành Thâm Pháp Giới để thật Giác”.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài nói đến đây, thư thả dạy tiếp với Tứ Chúng:

Các Ông cũng nên biết, tu không phải là tạo lấy đói khát khổ sở mà thành, chẳng phải tạo lấy lâu đài, sung nhũ mà đặng, cũng không phải hành hạ đến khô xương mà đến, cũng chẳng phải dung dưỡng Thân Tâm mà được, Vạn Pháp nó không khứ, không lai, không trụ, không đến, duy chỉ có tình DUY NHẤT TỐI THẮNG DIỆU ÂM, TIN VÂNG KÍNH là trọn.

Tôi cùng Tứ Chúng cung kính đảnh lễ và Cung Tiễn ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Võ Văn Khoa
Pháp Danh: Tôn Giả Pháp Khả
“Phụng ghi để phổ truyền”

Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần

6. VỀ VẤN ĐỀ TỶ DỤ

Kẻ ăn biết ngon thì đương nhiên kẻ ấy lành mạnh không bệnh hoạn sẽ lớn lên.
Bậc nghe Pháp cần nhất sự lãnh hội đặng Bảo Pháp thì tương lai sẽ đạt đến mục đích TRI KIẾN GIẢI THOÁT theo sở nguyện của mình.

–T.V.

Lúc bấy giờ, vào khoảng 17 giờ chiều ngày 17 tháng 3 năm Giáp Dần. Tôi lên Tịnh Thất của ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, Ngài đang nằm trên chiếc chõng vải trầm ngâm suy tư. Tôi đến nơi thi lễ xong, Ngài bảo tôi ngồi một bên, Ngài dạy:

-Ông Tôn giả Pháp Tràng, ông cũng nên biết, sự tu hành rất khó khăn là biết thọ lãnh Pháp. Khi đã nhận định được thì con đường tu mỗi ngày một hào hứng thích thú vô kể. Bậc biết lãnh Pháp cũng như kẻ biết giá trị của Ngọc, thì mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút cái cuộc sống đầy cả tươi sáng vì đang lượm Ngọc. Bằng không biết giá trị thì sự tu kia in như tuồng bị bắt buộc thường sinh sự chán nản, uể oải làm cho bê trể.

Chính tôi không trách các nghiệp chướng của mọi người vì mọi người chưa nhận chân được nó. Tôi chỉ mong sao cho họ nhận chân được giá trị của Phật Đạo thì chừng đó họ tìm được lẽ sống huy hoàng. Họ đứng ở phương nào cũng thấy an vui tự tại.

Lúc họ chưa nhận được, dù họ có thân cận bên tôi thảy đều có một sự ràng buộc lấy cho họ.

Ông cũng nên biết, những lời tôi nói trên thảy đều nằm trong Nghiệp Thức Vọng Đảo, do đó mà họ mải mê tìm lấy một lối nào cho họ được thoải mái trên con đường tu Tri Kiến của họ. Càng tìm bao nhiêu lại càng mờ mịt bấy nhiêu.

Vì sao? Vì họ không nhận được Chân, cũng như kẻ ngồi trên đống vàng mà không biết vàng lại đi tìm vàng. Đối với Chân Lý nói cũng thế.

Lại nữa, nếu như bậc tu mà biết hiện tại họ ẩm thực miệng không thôi, nếm được hương vị thích thú thì người ấy sẽ khoẻ mạnh. Trái lại, khi họ bỏ các món cao lương mỹ vị vào miệng thơm tho ngọt ngào, thì họ chỉ cầu sao những vật-thực đó không chạy xuống bao tử của họ để họ nhai mãi. Con đường tu tập nghe Giáo Lý của tôi chỉ dạy cũng thế. Tôi nói một Pháp Môn, tôi phá một Mê Chấp, khi bậc tu nghe nhận thích thú mừng rỡ tán thán xong đâu đấy họ lại mãi ưng sao thời pháp cứ đứng yên để cho họ an trụ, thích thú mãi mãi. Chẳng khác nào kẻ nhai vật-thực ưng sao vật-thực ở trong miệng chớ chẳng ưng vật-thực xuống khỏi cổ họ.

Nếu bậc nghe được Thời Pháp tôi vừa nói thì ông cũng nên biết rằng bậc ấy đã khá dẹp lòng tham để mà sắp bước vào con đường NHẤT TÔN PHÁP TẠNG.

Nếu có kẻ biết hiện tại mình đang thích thú Thọ Lãnh thì kẻ ấy đến vị lai được hoàn mỹ.

Bằng hiện tại chưa biết thích thú, cứ đòi mãi những thích thú riêng tư của cá tánh thì kẻ kia ruột vẫn còn chứa đầy tham vọng, khó mà thành tựu, khó mà Tri Kiến.

Ông nên nghe và nhận lãnh kỹ càng, lời nói của tôi đây chính là lời căn dặn trước ngày tôi bước vào bệnh viện.

Tôi vừa nghe ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ dạy như cơn mơ được sực tỉnh, nhận định được cái tham vọng đòi hỏi nơi bản thân, cùng đa số những bậc lầm lẫn như tôi, làm cho tấm lòng tôi thích thú vô kể. Tôi bèn đảnh lễ, rót một chung nước trà dâng lên Ngài, Ngài chắp môi mỉm cười. Tôi lễ bái Ngài xong liền rời Tịnh Thất và phụng ghi lại Giáo Môn của ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh Pháp Tràng “Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 17 tháng 3 năm Giáp Dần (1974)

5. VỀ VẤN ĐỀ THAM SÂN SI

Thường ngày, tại Trung ương Hội Thượng có một số Tín Chúng quây quần được gần ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ để tu tập.

Hôm ấy, lúc 10 giờ ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần, trước sự hiện diện đông đảo các vị Tôn Giả: Bà Tôn giả Pháp Tùng, Tôn giả Pháp Khả, Tôn giả Pháp Tràng, Tôn giả Tạng Nguyên, Tôn giả Tạng Trình và Tín chúng Pháp Quyên đang ngồi quanh ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tại Tịnh Thất.

Tôn giả Pháp Quyên đứng lên đảnh lễ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, qùy sang một bên và kính cẩn thưa gởi:

– Kính Bạch Ngài, xin Ngài giảng nói cho con về vấn đề THAM - SÂN - SI.

Trong giây lát yên lặng, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, Ngài bắt đầu khai thị bằng một câu chuyện chúng tôi được nghe như vầy:

Có một thuở cách đây vào lối năm năm về trước, có một vị Sư đến viếng an và thưa gởi với tôi như vầy:

– Thưa ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, làm thế nào diệt hết tham? Làm thế nào diệt hết Sân? Làm thế nào diệt hết Si mới đắc quả? Con rất thắc mắc điều ấy, Kính Bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ giảng giải cho con được tường tận.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ nói:

– Vấn đề Tham Sân Si có 3 cách:

● Một là: Hàng Tiểu Thừa sợ Tham khởi vọng nên tận diệt Tham.

● Hai là: Hàng Đại Thừa phá mê chấp để sạch lý Tham.

● Ba là: Hàng Nhất Thừa nương vào Khởi Vọng, Nghi Chấp, Phá Chấp để tận giác tỏ tham.

Đó là ba đường lối của Tam Thừa để tu tập.

Sư cũng nên biết rằng:

Thật Giác mới diệt được Tham. Khi nào còn nghi ngờ, còn vọng đảo thì chính vẫn còn tham vọng chưa tận gốc Tham. Tham không phải diệt nó, nó mới hết Tham, chỉ Tận Giác thì nó không còn một cái Tham. Khi Tận Giác được thì muôn ngàn Vạn Pháp thảy đều không có một cái Tham.

Lúc bấy giờ nhà Sư ngớ ngẩn, phân vân vì chưa nhận được, tôi bèn giảng tiếp.

– Sư hãy nghe câu chuyện trên đây để chỉ ngọn ngành của Tham Sân Si.

Nhà Sư kính cẩn nghiêng mình thi lễ, tôi Chỉ Dụ:

Ông nghĩ xem: Có một Trưởng Giả kia có một cây cam, trái sum sê tươi đẹp ngay trước cổng. Một Đạo Sư nhìn thấy cây cam tươi đẹp, thích thú đến thưa với Trưởng Giả để xin cây cam ấy về trồng trước sân Chùa.

Vị Trưởng Giả trầm ngâm nói với Đạo Sư. Tôi không thể cho Đạo Sư một cây cam mà Đạo Sư cũng không thể bứng lấy cây cam này đem về trồng trước sân Chùa mà nó sống đặng, Nếu như Đạo Sư muốn có cam thì tôi tặng cho một quả để Đạo Sư gieo trồng sẽ đặng 20 cây cam.

Lúc bấy giờ Đạo Sư không hiểu sanh Tâm sân hận, đó cũng gọi là Sân, rồi oán trách Trưởng Giả nhỏ nhen không cho mình một cây cam mà cho mình một trái cam, đó cũng gọi là Si. Từ chỗ Si Mê mà có Tâm Sân Hận, bởi chỗ lầm mà vướng chịu Tham Lam.

Sư cũng nên biết rằng: Nếu Đạo Sĩ mà biết được một quả cam có thể ương trồng thành 20 cây cam thì Đạo Sĩ kia có xử dụng 20 lần tham nhưng cách Thật-Biết thì không có một cái Tham. Khi đã không có Tham thì nào có Sân Hận, lúc đã không có Sân Hận thì nào có Si Mê oán trách. Gốc THAM SÂN SI do Vọng Đảo lầm lẫn chưa biết, khi không vọng thì liền chẳng tham, mà lúc có Tham thì có sanh vọng. Cho nên Phật thường nói các ông Tham Vọng, Điên Đảo, Si Mê chướng đối trở thành vạn Pháp muôn trùng, hóa thành Vô Minh Pháp Giới. Ta thật biết tỷ mỉ mà còn biết hơn thế nữa. TA trơn liền chẳng có Tập Khí, khi không có tập khí thì nào có khởi sanh, khởi diệt. Đã không khởi sanh, khởi diệt thì Tâm Bình Đẳng dung Thông. Gốc của Tham Sân Si bởi do vọng đảo mà thành gọi là Tham vọng.

Lúc bấy giờ vị Sư mừng rỡ tán thán, nghiêng mình khen tặng Phật vi diệu khó nghĩ bàn. Đến đây ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ dứt lời.

Pháp Quyên cùng Tứ Chúng đồng đứng lên đảnh lễ vì đã được ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ khai thị về THAM SÂN SI nguồn gốc chưa trọn Giác.

LONG HOA HỘI THƯỢNG
ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần

4. ĐẠO PHẬT

Lúc bấy giờ vào lối 17 giờ chiều ngày 11 tháng 3 năm Giáp Dần, tại Trung Ương Hội Thượng, giữa sự hiện diện Tứ Chúng gồm có Thị giả Tôn giả Tạng Nguyên, Hộ Pháp Tôn giả Pháp Tràng, Tôn giả Hộ Pháp Pháp Tưởng cùng một số Tín Chúng đang ngồi đàm đạo về TÍN-HẠNH-NGUYỆN.

Vừa khi ấy ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, sau 5 ngày Ngài Giáng Lâm Tỉnh Thị Hội Quảng Nam Đà Nẳng về. Sức khỏe của Ngài đã thanh bình, dung nhan tươi tốt. Tất cả đồng đứng lên chiêm ngưỡng lễ bái, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ an tọa. Tứ Chúng ngồi lại một bên. Trong giây lát Đức Ngài dạy:

– Này Tứ Chúng. Hôm nay Tôi nói một Thời Pháp rất hệ trọng về con đường tu tập để cho Tứ Chúng giữa đời này đồng với đời sau nhận định cho đúng đắn, khỏi lầm lạc. Ngài bắt đầu dạy:

ĐẠO PHẬT

ĐẠO PHẬT chính là một Môn trọng yếu đối với bậc biết tu, biết sử dụng, được TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT hiện tại.

– Vì sao ĐẠO PHẬT chia làm BA THỪA?

– Vì sao ĐẠO PHẬT có ĐỐN, có TIỆM?

Đạo Phật chia làm Ba Thừa do tùy căn Thọ Chấp, sự nhận lãnh không đồng trở thành ba thừa:

TIỂU THỪA - ĐẠI THỪA - NHẤT THỪA

ĐẠO PHẬT CÓ TIỆM GIÁO để cho tất cả Tín Chúng tu tập tạo lấy một căn bản vững chắc khỏi sụp đổ, khỏi nặng nhẹ, Đức và Trí tương song. Vì vậy nên có Tiệm Giáo để nuôi dưỡng tinh thần vững chãi trên cơ bản Đạo Đức. Sự tu tập có Tiệm Giáo mới thu nhặt được Công Năng của bậc tu, mới có Định để phát sinh Trí Đức lưỡng toàn.

Khi bậc đã tu tập có công năng, liền được Bậc Chỉ Đạo thi hành pháp Nghịch, hoặc giả khai thông Tạng Thức để bước qua vị trí thông đạt tiến bộ.

TU ĐỐN GIÁO chính là một môn thử thách của Công Năng, khi bậc tu có Tâm Thù Thắng cầu TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT thì liền có nhiều thử thách để tiến bộ. Từ Thử Thách tiến bộ ấy, bậc tu vẫn kiên trì xây dựng Đạo Đức, chẳng tổn thương Đạo Đức.

– Tiệm Giáo chính là Cơ Bản Đạo Đức.

– Đốn Giáo tức là một môn để phát sanh Trí Tuệ.

Vì vậy nên Phật thường nói: Bậc tu gìn giữ Định mãi, tự tạo căn bản Đạo Đức cố định, cố thủ thì đương nhiên bậc ấy tạo Vô Minh chớ chẳng ích chi với con đường TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT, chỉ được Phước Báo Nhân Thiên.

Bằng Phá Mê Chấp nương theo Đốn Giáo mãi thì vô tình hay cố ý vẫn có Trí Tuệ nhưng phải sai lạc vào Tà Kiến, chịu thọ chủng ba đường ác.

Do lẽ trên, nên Bậc Tu cần lấy Trí Đức. Định Tuệ. Tướng Tánh Đồng Song mới Chánh Báo Chân Lý.

– Đối với Đạo Phật là một Pháp Môn Tối Diệu Cứu Cánh Giải Thoát hiện tại.

– Đối với Đạo Phật cũng là một con đường mà bậc đã lỡ chân trái bước lầm lẫn phải sa vào Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, đi vào Tà Kiến không ngừng.

Cũng như biết dùng thuốc thì chữa được bệnh Mê Lầm. Bằng chưa biết dùng mà dùng bừa bãi thì lại càng Tu càng Bệnh, càng làm càng đến những chỗ sa đọa vô kể.

Vì như thế, nên Chư Tổ mới kìm hãm, củng cố Đạo Tràng để cho bậc tu lần bước nhiều kiếp mà Sở Đắc Chân Lý.

Do như thế, nên các Pháp Môn Niệm Phật, Tu Tịnh Tâm, tạo Phước Điền cẩn thận để chờ bậc THIỆN TRI THỨC chỉ dẫn đúng với tinh thần, đúng với Pháp Môn, đúng với sự cầu báo Chánh Báo.Vị ấy tùy năng sở sắp theo thứ lớp cho Tứ Chúng được Chánh Báo Phước Điền, được Chánh Báo Nhân Thiên, được Chánh Báo Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, mà thành tựu Chánh Giác vậy.

Bậc như thế phải là BẬC CHỈ ĐẠO thông đạt, Tận Biết tỉ mỉ Nghiệp Chủng của Chúng Sanh Giới, thật biết năng Sở Cầu từng bệnh tật của Bậc Chứng Tu để lần lượt xếp thành sự Tu Chứng trường cữu bất diệt. Đến đây Ngài dứt lời.

Tứ Chúng đồng đảnh lễ và cung tiễn ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh Pháp Tràng “Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 11-3 năm Giáp Dần

3. ĐẮP XÂY TƯỢNG ĐÔNG ĐỘ

Tôi còn nhớ một thuở quá khứ, có một vị Đạo Sĩ ở tại làng Khe Khẻ, quận Chiêu An, Tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Vào thời ấy kể đến nay cũng trên 700 năm.

Lúc bấy giờ, Đạo Sĩ có một số Đạo Chúng không nhiều lắm, nhưng cũng trên 10 vị. Một hôm vị Đạo Sĩ kêu tất cả Đạo Chúng đến tỏ bày ý kiến đắp xây pho tượng Đông Độ. Ngài mới nói: Tượng Đông Độ này, hãy đến lấy đất tại Đông Thành Quận, thứ đất ấy rất hiếm hoi, phải là thứ đất thật mịn, thật đẹp, vậy các ông hãy đi đến Đông Thành Quận để kiếm mỗi vị một ít mang về cho Tôi nhận đúng thứ đất ấy dùng được thì sẽ lấy nhiều. Bây giờ tất cả Đạo Chúng đều một lòng tín tâm phát nguyện làm sao tìm được mẫu đất cho đúng với tinh thần và thể chất đắp tượng Đông Độ, thế rồi tất cả Tứ Chúng đồng ra đi mỗi người một ngã.

Qua một thời gian 3 tháng, mỗi vị đều mang về một kiểu đất làm mẫu. Được sự lựa chọn của Đạo Sĩ, ông Tín Toàn là người tìm được mẫu đất y như sở nguyện. Ngài Đạo Sĩ liền cho mang những mẫu đất của ông Tín Toàn về tập trung tại Pháp Bảo, lúc bấy giờ ông Tín Toàn mừng rỡ thích thú, yên chí là mình tìm được pho tượng Đông Độ, khi ấy Đạo Sĩ mới dạy rằng: Đất này chưa phải là Pho Tượng, tôi muốn lựa chọn một vị biết xay nhỏ và lọc những đất này để đắp tượng, thì các vị hãy lấy riêng ra một ít xay nhuyễn để tôi xem vị nào biết xay và biết lọc, tôi sẽ giao phó cho công việc này.

Khi ấy ông Tín Nghĩa xay và lọc đúng với với tinh thần của Đạo Sĩ, vị Đạo Sĩ bảo ông Tín Toàn hãy giao đất lại cho ông Tín Nghĩa để xay và lọc. Bấy giờ ông Tín Toàn sanh tâm buồn khổ, khóc kể gào thét, vì ông ta có công tìm đất, đến ngày hôm nay lại không còn gì ráo. Vị Đạo Sĩ biết như vậy, lại còn biết hơn thế nữa, mới kêu ông Tín Toàn dạy rằng: Công Đức của ông đã tìm đất để xây pho tượng chớ chẳng phải là Pho Tượng. Hôm nay ông giao lại cho ông Tín Nghĩa để cho ông ấy xay, lọc và đắp Tượng, thời ông nên học cách xay, lọc của ông Tín Nghĩa, nào có mất gì của ông đâu mà sợ. Ông được đất, mà còn biết được lối xay, lọc thì thử hỏi có lợi cho ông chăng?

Khi nghe lời chỉ dạy ấy ông Tín Toàn sực tỉnh, mừng rỡ, tâm phiền não, tâm uể oải, tâm oán hận thảy đều tiêu tán, trọn xét được Thù Thắng Tâm.

Sau khi Đạo Sĩ nhìn thấy nở một nụ cười, gọi ông Tín Nghĩa giao lãnh phận sự làm đất, lúc ấy tất cả anh em đều phụ lực giúp đỡ cho ông Tín Nghĩa đoạt đến căn bản tinh tấn. Thường tinh tấn nên đất đó được đẹp và nhuyễn. Xong đến đây Đạo Sĩ mới gọi tất cả Đạo Chúng Ngài hỏi:

-Vị nào là vị biết nhồi đất, biết đem giấy bổi cán nhồi cho thật nhuyễn thì Tôi sẽ trao nhiệm vụ để mà làm Công Đức?

Lúc bấy giờ có một vị khổng lồ, tên vị ấy là Tín An, bước ra xin lãnh phần Công Đức ấy, thì ông Tín Nghĩa lại sanh tâm phiền toái, kể lể công cán ngày hôm nay chẳng còn gì cả. Đạo Sĩ thật biết tâm địa ưu ái, bản ngã cố thủ của ông Tín Nghĩa. Ngài Đạo Sĩ lại giải bày tất cả, cũng như đã giải bày cho ông Tín Toàn lúc trước. Sau khi ông Tín Nghĩa lãnh hội được liền khuyến khích tất cả đồng giúp đỡ cho ông Tín An thành tựu.

Sau khi được sự giúp đỡ của tất cả anh em Đạo Hữu thì khối đất ấy trở nên mịn, nhuyễn, cấu kết đẹp đẽ.

Đến giai đoạn này, vị Đạo Sĩ gọi tất cả Tín Chúng đến phổ truyền:

-Có vị nào biết đắp Tượng, thì Ta đem mẫu Pho Tượng ra mà đắp? Nói xong, Ngài liền thò tay vào tay áo lấy ra bức tranh, đặt bức tranh trên bàn hương án trước Chánh Điện để cho Tín Chúng được xem.

- Khi ấy có một vị gọi là Tín Hảo bước ra xin lãnh Công Đức đắp Tượng, vị này ốm yếu nhưng có đôi mắt hiền từ và thông thái, tiếng nói thanh nhã, quỳ xuống thưa thỉnh để cho lãnh Công Đức trên.

Lúc bấy giờ, vị Tín An ngơ ngẩn, nhưng mà mau hiểu hơn hai vị Tín Toàn và Tín Nghĩa, do lẽ ấy anh em Tín Chúng đồng hợp chuyền nhau đưa từng mảnh đất lên trên Bảo Đài để cho vị Tín Hảo có đủ tinh thần xây tượng. Khi Pho Tượng khô ráo, tất cả Tín Chúng đều tô điểm trở thành pho tượng Đông Độ. Ngày hôm nay, mọi người trong Tín Chúng, mỗi người thảy đều biết rõ:

CÁCH TÌM ĐẤT, CÁCH XAY LỌC ĐẤT, CÁCH NHỒI ĐẤT, CÁCH ĐẮP PHO TƯỢNG, thảy đều vui mừng hớn hở chưa bao giờ có.

Đức LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài ngưng một lát trầm ngâm dạy tiếp:

-Hởi các Chân Tử “Tứ Chúng”, Tôi vẫn biết: Tứ Chúng giữa thời này còn có Tín Tâm tin Phật. Tin trên con đường Tri Kiến Giải Thoát, lại có ý chí xây dựng Chánh Pháp đương thời Hạ Pháp, Công Đức ấy vô lượng.

Nhưng Tôi rất tiếc, những sự lầm lẫn của Tứ Chúng đôi khi bị loài Ma dân giả của khối Ma Ba Tuần xâu xé tranh giành thứ vị dựng nên hai chữ: phũ phàng, làm cho con đường chỉ đạo của Tôi phải tốn chẳng biết bao công giảng giải, vì vậy nên thường bị cản trở cuộc hành trình xây dựng Chánh Pháp.

Tôi rất mong kể từ giờ phút này, Tứ Chúng hãy dùng bài Giáo Ngôn “Đắp Xây Pho Tượng Đông Độ” để làm bài tâm niệm, tránh khỏi loài Ma Phũ Phàng lừa dối Tâm Chí Công Đức của Tứ Chúng. Có như thế chính là Phẩm Bảo Trì Công Đức không nhỏ vậy. Sự mong nơi Tôi phải như thế.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn văn Dây,
Pháp Danh: Tôn Giả Pháp Bang “Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 26 tháng 2 năm Giáp Dần

2. MƯỜI DANH HIỆU PHẬT

ĐỨC TĂNG CHỦ GIÁNG LÂM KHAI THỊ TẠI PHÁP BẢO TỈNH THỊ HỘI QUI NHƠN, BÌNH ĐỊNH

Chuyến Giáng Lâm kỳ 8, ngày 26-1 Âm lịch, lúc 20 giờ 30 tại Pháp Bảo Tỉnh Thị Hội Qui Nhơn Bình Định. Lúc bấy giờ tôi được sự chấp thuận đồng tháp tùng theo cuộc giáng lâm đến Tỉnh Thị Hội Qui Nhơn. Tôi được thấy như sau: Đúng giờ ấn định, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tiến ra Chánh Điện, theo sau Ngài có hai vị Thị Giả Pháp Khiêm và Pháp Chỉnh. Tứ chúng cung nghinh đảnh lễ xong, Ngài an tọa trên Bảo Tòa, Tứ chúng ngồi ngay ngắn thứ lớp trên một trăm vị.

Trong cử chỉ trang nghiêm của Ngài, trước Chánh Điện trầm hương nghi ngút. Nhưng tiếc thay, âm thanh hỗn loạn của xe cộ bên đường, cùng những vị tham dự nơi địa phương chưa được yên tĩnh nên chi hãy còn tiếng thì thầm rào rạt. Bấy giờ Ngài dạy:

– Này các ông, Sự nghe Pháp, sự lãnh Pháp rất khó. Sự nghe được Pháp rất có giá trị, cũng như nghe được, biết được giá trị sử dụng báu vật, khi đã nghe được đương nhiên lãnh được. Thời xưa ĐỨC-THẾ-TÔN trao bảo vật cho Bồ Tát, thì Bồ Tát có cung kính yên tĩnh để thọ lãnh hay chẳng cung kính yên tĩnh được thọ lãnh?

Tứ chúng đồng thưa:

“Bạch Ngài, cung kính yên tĩnh được thọ lãnh, bằng chưa cung kính, chưa yên tĩnh thời chưa bao giờ lãnh được”.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ khen:

“Đúng như vậy!”. Vi diệu thay! Từ giờ phút đó, tiếng thì thào đến âm thanh xe cộ đều ngưng bặt trở thành yên tĩnh, trang nghiêm.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài dạy:

– Này các ông, nói đến sự làm diệu dụng của Chư Phật thì ta không nên nói. Bằng nâng cao, tán thán vô lượng vô biên Công Đức sung mãn của Ngài thì ta cần phải nhắc nhở để các ông nương theo thành tựu. Các ông tự nghĩ: Các Đức Phật có tu trì chứng quả hay không tu trì mà đặng chứng quả?

Tất cả tứ chúng đồng thưa:

“Bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, có tu trì có chứng quả”.

Lúc bấy giờ Ngài gật đầu dạy tiếp:

– Trước kia khi vị Phật chưa thành Phật, Ngài cũng phải tu mới đắc quả, Ngài có công thành tựu sung mãn 10 danh hiệu, 10 danh hiệu ấy chính là 10 phẩm Công Đức ngày nay thường xưng tán. mười danh hiệu như: ỨNG CÚNG, CHÁNH BIẾN TRI, MINH HẠNH TÚC, THIỆN THỆ, THẾ GIAN GIẢI, VÔ THƯỢNG SĨ, ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU, THIÊN NHƠN SƯ, PHẬT, THẾ TÔN, NHƯ LAI.

Ngài dạy tiếp:

“Tôi sẽ giảng một vài danh hiệu để các ông được chứng tri việc tu trì tạo thành Công Đức của Chư Phật như: ỨNG CÚNG.”

• Về phẩm ỨNG CÚNG:

Khi mà bậc phàm phu tín tâm chiêm ngưỡng làm phẩm Công Đức Cúng Dường, thời thường mua sắm lễ vật hương đăng hoa quả lễ bái dâng hương cúng dường chiêm ngưỡng cầu Phước Báo Nhân Thiên. Cứ như thế trên 100 kiếp cúng dường chiêm ngưỡng. Đến giai đoạn sau thời bậc ấy mới phát tâm cúng dường như xây chùa lập tháp cho Chư Tăng tu tập, mình cũng tu hành, lễ bái trai đàn, cung kính lập Thiện Căn, làm phước thiện, cầu Tam Thế chứng minh Công Đức cúng dường, vẫn phải trên 100 kiếp. Đến giai đoạn thứ ba: Bậc ấy vẫn dùng phẩm Công Đức cúng dường Tam Thế, vẫn tu trì phẩm Công Đức Hữu Lậu, nhưng có khá hơn trước là biết nghe Giáo lý, hay tìm chơn tánh để tu cũng phải trên 100 kiếp mới bước qua giai đoạn thù thắng. Lúc bấy giờ, lập Bồ Tát Hạnh như: Bố Thí. Trì Giới. Tinh Tấn. Nhẫn Nhục. Trí Tuệ và Thiền Định, gọi là lục Ba La. Lại dùng BI-CHÍ-DŨNG, GIỚI-ĐỊNH-TUỆ để tu TÍN-HẠNH-NGUYỆN. Những lý sự tu hành nơi Bồ Tát Hạnh thảy đều nằm nơi Phẩm Công Đức Đạo Hạnh cúng dường Ba La Mật Đa. Đến giai đoạn Bồ Tát sở đắc CHÂN KHÔNG BỒ TÁT, thì chừng đó mới có Áo Giáp bền để tu vào con đường Hành Thâm Pháp Giới, cố thâm nhập mà đoạt đến BÁT NHÃ TRÍ. Khi đến Bát Nhã Trí, đương nhiên từ Công Đức hữu lậu trở thành Công Đức cúng dường Vô Lậu, cúng dường Như Lai tròn Bổn Nguyện thành tựu sung mãn. Thời phẩm cúng dường ỨNG CÚNG trở lại cho Bồ Tát thành tựu Quốc Độ gọi là ỨNG CÚNG.

• Về Phẩm CHÁNH BIẾN TRI:

Phẩm nầy nương nhờ bậc đã tìm đặng Chơn Tánh để tu, bậc nầy thường Công Dụng PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN cốt GIÁC. Từ một khởi điểm nhỏ hiểu ra nhận định được sự to lớn rộng rãi.

Tỷ dụ: Nhìn trong một quả mãng cầu có thể biết được nhiều múi mãng cầu kết lại trở thành một quả mãng cầu. Trên vũ trụ có nhiều Hành Tinh cấu kết với trái đất mới thành vũ trụ hay nhiều nhân sinh kết lại mới thành một Quốc Gia, nhiều Quốc Gia hợp lại mới trở thành Hoàn Cầu Thế Giới, đó gọi là Chánh biến tri .

Hoặc giả, một cái Biết nhỏ chưa đủ, có hằng vạn sự Biết nhỏ mới trở thành cái khôn lớn, hàng vạn nơi khôn lớn mới trở nên cái Đại Giác. Cũng như mỗi một chữ vẫn chưa đủ bài, phải sắp đúng trăm hay ngàn hoặc vạn chữ mới thành tựu một bài, đó gọi là Chánh Biến Tri.

Cũng như tìm nơi cái Giác thì không bao giờ tìm đặng, mà khi hành sự chung kết mới nhận được trên sự làm thảy đều có Giác. Như tìm Phật Tánh hay Bồ Tát đâu có ra, khi bậc tu phá mê chấp đặng bao nhiêu thì Phật Tánh sẽ hiện diện bấy nhiêu, muốn thành tựu Bồ Tát thì phải tu theo con đường Bồ Tát, đó cũng gọi là Chánh Biến Tri.

Bậc đã có trí tuệ Chánh Biến Tri, bậc nầy có thể nhận lấy mỗi một ngày liền biết đặng 3 vạn 6ooo ngày. Sống trong một kiếp có thể nhận biết được 3 vạn 6000 kiếp. Bậc này luôn luôn nhận hiện tại tu hành Giác Ngộ, vị lai đặng trọn hưởng Giác Ngộ, chẳng bao giờ nghĩ hiện tại chưa tu để kiếp sau sẽ tu.

Vì sao được hiểu biết như vậy? Vì có một Trí Tuệ Chánh Biến Tri nên thường lấy hiện tại làm căn bản mà thành đạt.

Dù có chưa đến trọn vẹn chăng khi đến một kiếp nào liền bước hẳn vào con đường Bồ Tát Hạnh phát Đại Nguyện Tâm cương lĩnh dùng Thù Thắng Tâm.

Lúc bấy giờ có đặng Trí Tuệ soi khắp nghiệp thức, chướng nghiệp các căn tánh chủng nghiệp, tâm cổi giải, Trí hằng kiểm kê dùng Bi Chí Dũng, Giới Định Tuệ vừa giải mê cho mình, vừa phá chấp cho kẻ khác, nung Đức Hạnh, tự chế mình làm cho tất cả Tin Phật, Tin Pháp, Tin Tăng khỏi đoạn duyên Phật.

Trên căn bản, Bồ Tát Hạnh tu trì Lục Ba La Mật Đa để bảo trì quả vị, Xây Đức Trí đặng tránh khỏi thọ chấp Bản Ngã, nương theo Vô Ngã Hành Thâm Pháp giới, nhờ Phẩm Hạnh Công Đức như thế nên Trí Tụê tăng trưởng, Bồ Tát Sở Chứng Chánh Biến, thật biết tỉ mỉ Năng sở tu chứng của các bậc tu, nên hoàn toàn Tri Kiến, lại viên dung thông đạt Lý sự thích hợp, hay chẳng thích hợp, từ phàm phu đến Thánh Tiên cùng Chư Thần mà chủng tánh thọ chấp của Năng Sở biến thành từng thế giới và Cảnh Giới cùng Các Cõi trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, suốt thông tỉ mỉ tận cùng nên toàn vẹn Thật Giác sở đắc Bát Nhã Trí, nương nhờ vô lậu thân tâm đồng nhất mà nhập vào Chánh Định Tam Muội, thành tựu Chánh Giác gọi là Chánh Biến Tri .

• Về Phẩm MINH HẠNH TÚC:

Minh Hạnh Túc chính là một phẩm rất quan hệ phù hợp Cảnh Giới, phù hợp Quốc Độ Chư Phật, vì vậy Chư Bồ Tát mới lập Đạo Hạnh.

Vì sao? Vì Bồ Tát thật biết tỏ rõ các Hạnh của Bồ Tát, của Phàm Phu, của Tiên Thần bằng nhiều lối nhiều tư cách như: Đi đứng ngửa nghiêng, nói năng bừa bãi ra sao thì phải chịu với cõi nào. Được tăng thọ mạng lên hay hạ thọ mạng xuống ra sao, Bồ Tát thật biết: Từ giọng nói chua chát, đắng cay, hoặc lời nói từ tốn khoan thai tao nhã, thì phước báo hoặc chịu báo ba đường ác. Phước báo được lên các cõi cùng cảnh giới Tiên Thần, đến trọn Chánh Báo thành Phật. Vì như thế, nên Bồ Tát thật biết Phẩm Hạnh, hiện tại làm đặng thì vị lai trọn hưởng, nhược bằng hiện tại chẳng làm đặng thời chính bản thân của mình không được hưởng nhưng lại làm cho nhiều kẻ khác khinh khi, đâm ra tu hành lại bất tín duyên Phật. Đó lỗi chẳng phải kẻ bê trễ mà lỗi do bậc tu thiếu Hạnh.

Vì lẽ ấy nên Bồ Tát thường quán hạnh Bồ Tát quá khứ để tu Đạo Hạnh, cốt cho nhiều kẻ cảm mến mà thi hành Phẩm Tứ Nhiếp, cốt cho nhiều kẻ ái kính để thu nhiếp Lục Đạo, thực thi Lục Hòa, cốt cho nhiều kẻ được ích lợi đặng thọ lãnh Bảo Pháp làm như thế Bồ Tát được lợi, đồng đem sự ích lợi cho rất nhiều kẻ khác. Bồ Tát vẹn toàn Đạo Hạnh, minh mẫn Phẩm hạnh đến sung mãn trang nghiêm Quốc Độ nên gọi là Minh Hạnh Túc.

Minh Hạnh Túc chính là thật biết tỏ rõ lý sự kết quả của Hạnh. Túc tức là cụ túc Chánh Báo. Đến đây Ngài ngưng một chốc rồi dạy tiếp:

– Này các ông, trong Mười danh hiệu mà Tôi kể mới có ba thôi, các ông đã nhận thấy Công Đức Vô lượng như thế. Nhược bằng Tôi nói hết Mười Danh Hiệu thời các ông nghĩ thế nào?

Tứ Chúng đồng thưa:

– Kính Bạch Ngài, thật khó nghĩ bàn.

Đức Tăng Chủ gật đầu, Ngài dạy tiếp:

– Các ông có thể dùng Thù Thắng Tâm và Thiết Tha Tâm tạo được. Vì sao? Vì các ông đã có sẵn Phật Tánh trí tuệ hiểu biết y như Phật, nhưng vì nghiệp thờ ơ bê trễ nên chưa chịu tạo thôi, các ông hãy tin lời Tôi nói thành thật để tu tập tự tạo lấy Công Đức sung mãn mà thành tựu.

Lúc bấy giờ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trầm ngâm một chốc, Ngài vừa hỏi vừa dạy như sau:

– Này các ông, các ông hãy nhìn lên Chánh Điện, Pho Tượng Đức Đông Độ, các ông thấy Đức Phật có tốt đẹp chăng?

Chúng tôi đồng thưa:

– Kính Bạch Đức Ngài: Tốt đẹp.

Ngài dạy:

– Phải, Đức Phật tốt đẹp như thế nên mới có 32 tướng tốt. Vậy 32 tướng tốt của Phật các ông có thể tu tạo được như vậy chăng?

Lúc ấy Tứ chúng đều im lặng. Đức Tăng Chủ liền phân tách để chỉ dạy cho Tứ Chúng nên Ngài dạy:

– Các ông nên biết, đối với Chư Phật, rất mong cho các ông nương theo vết chân của Ngài để tu tập phá mê lầm thành tựu như Ngài, Đức Phật thấy các ông chẳng có chổ tự tin các ông, các ông sợ sệt đủ cách theo nghi thức của các ông, nên chi các ông có một quan niệm tu không bao giờ thành Phật, vì vậy nên Đức Phật Ngài nói: TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH, để các ông tự tin mình, cùng tin Pháp môn tu tập, các ông đã nhìn thấy Đức Phật 32 tướng tốt. Vậy các ông có thể nương theo tướng tốt ấy tu tập thực tế để thành tựu hiện tại, tại sao các ông thờ ơ?

Ngài dạy tiếp: Nói đến Đôi Mắt Phật tốt, cặp mắt các ông có thể tạo nên cặp mắt tốt như Phật vậy. Mắt Phật nhìn thấy Sanh - Tử - Bệnh - Lão - Khổ vì say chìm trong Dục vọng. Các ông cũng nương theo mắt Phật mà nhìn ngay hoàn cảnh hiện tại của các ông là nó chẳng thường, đặng các ông gia công tu tập, đó chính là các ông đã tạo nên cặp mắt đẹp. Tai các ông nghe danh lợi, nghe lẽ phải trong những điều các ông ưa muốn. Ngày nay các ông nghe Pháp, lãnh Pháp, tu hành, đó chính là đã tạo nên đôi tai tốt. Còn miệng các ông thường hơn thua từng lời nói, hay cười cợt bừa bãi, tà dâm bài bạc mưu mẹo, hôm nay các ông vẫn dùng miệng đó mà thuyết Pháp.

Cứ như thế trong một thời gian các ông tròn chí nguyện, trở thành 32 tướng tốt như Phật. Các ông thấy Tướng Tốt của Phật, các ông không chịu tu tập thành tựu, cứ ngồi ước ao ngưởng vọng chẳng bao gìơ đặng. Như thế gọi là vọng tưởng điên đảo. Thôi đến đây dứt lời.

Lúc bấy giờ Tứ Chúng đãnh lễ đồng cung tiễn Đức Long Hoa Tăng Chủ trở về Tịnh Thất. Tôi nhận thấy thời Pháp này thật quý vô kể, tôi thưa thỉnh Đức Tăng Chủ tuyên đọc, Tôi phụng ghi chép nguyên văn để cúng dường Tam Bảo.

ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN “Tuyên Đọc”

Chân Phật Tử Pháp Hoàn Phụng ghi để phổ truyền
Ngày 24 tháng 2 năm Giáp Dần

1. LÀM THẾ NÀO GIÁO MÔN KHỎI BỊ DIỆT VONG

Lúc bấy giờ, vào lối 9 giờ 30 ngày 12 tháng 02 năm Giáp Dần (1974), tại Trung Ương Hội Thượng giữa sự hiện diện Tứ Chúng gồm có: Tôn Giả Pháp Khả, Tôn Giả Pháp Tưởng, cùng quý Tín Chúng: Pháp Quyên, Pháp Hậu và một số trên mười vị đang ngồi đàm luận về tánh cách xây dựng Chánh Pháp.

Vừa khi ấy, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, nơi mà Tứ Chúng đang quây quần thân mật. Tất cả đồng đứng lên chiêm ngưỡng lễ bái, xong ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ an tọa, Tứ Chúng ngồi lại một bên. Trong giây lát, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài mới nói:

-Này Tứ Chúng, hôm nay Tôi nói một thời Pháp tuy đơn giản nhưng rất hữu ích cho đời nầy đồng với đời sau gìn giữ mối Đạo không bao giờ bị diệt vong, đặng hữu ích vô cùng. Các ông là những bậc mong cầu chí nguyện hãy nghe tôi nói.

Thế rồi ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài bắt đầu dạy:

“Tôi còn nhớ, có một thuở ĐỨC THẾ TÔN Ngài đến một Giáo Môn, Giáo môn đó có một Trưởng Giả cầm đầu trên trăm vị tu hành về môn Chủ Quán, lấy hư không Chủ Định làm Tâm. Vị Trưởng Giả bao gồm tiền bạc, châu báu để cho tất cả tu tập không mất của hoặc công tí nào.

Trưởng Giả còn lo cơm nước, y áo cho 100 vị tu trì.

ĐỨC THẾ TÔN vừa đến nơi, Trưởng Giả và trên 100 vị ra mừng đón. Lúc ĐỨC THẾ TÔN an tọa xong, thì Trưởng Giả ngồi lại một bên, 100 vị thảy đều ngồi theo thứ lớp.

Trưởng Giả đứng lên thưa thỉnh:

-Bạch ĐỨC THẾ TÔN: Làm thế nào Giáo Môn khỏi bị diệt vong? -Như thế nào thường bị diệt vong?

-Hội Tề cách nào được tồn tại? -Như thế nào không tồn tại? -Kính nhờ ĐỨC THẾ TÔN chỉ giáo.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài dạy:

-Trưởng Giả cũng nên biết, Giáo Môn tránh khỏi diệt vong, được sự tồn tại bất diệt, thời Giáo Môn ấy có pháp tu Tự Lợi mình, đem sự lợi ích đó giáo hóa cho kẻ khác nghe lãnh thi hành được lợi như mình, đó chính là Giáo Môn bất diệt, thường còn, không bị diệt vong. Bằng Giáo Môn mình chỉ có Tâm ý phát nguyện, theo lời nguyện chính mình bảo toàn tất cả nhân lực, tài lực như đem tiền của châu báu ngọc ngà giúp đỡ cho tất cả trong Môn Giáo, nhưng bậc ấy vô tình hay cố ý không bày vẽ cho Tín Chúng làm y theo Thù Thắng Tâm, Phát Nguyện Tâm, Công Đức Tâm như mình thì hậu lai mối Giáo Môn bị diệt vong. Đối với Ta, ta có BI, Ta phải dạy cho mọi người biết BI như Ta. Ta có TRÍ, Ta dạy cho mọi người biết TRÍ như Ta. Ta có DŨNG, Ta dạy cho mọi người biết DŨNG như Ta, do đó mà mối ĐẠO ta bất diệt.

-Trưởng Giả cũng nên biết, Hội Tề thế nào được Tồn Tại?

-Hội Tề biết Lục Hòa, làm cho mọi người được an vui thì chính mình được an vui, làm cho mọi người phấn khởi thì chính mình được phấn khởi, nói lời Pháp đứng đắn ích lợi cho mọi người tu tập, đó là Hội Tề tồn tại sung mãn.

Bằng Hội Tề phiếm luận, hí luận, ẩm thực luận, nghi chấp v.v... đương nhiên Hội Tề không được tồn tại, bị diệt vong.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ. Ngài dừng lại trong giây lát, Ngài nhìn chúng tôi và dạy tiếp:

-Này các ông cũng nên biết, đứng giữa thời Mạt Pháp, Tôi mong mõi cho con đường Chánh Pháp được vững vàng thì các ông được vững vàng. Các ông nên làm những gì được TỰ LỢI đồng THA LỢI. Khi các ông Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục, Trí Tuệ, Thiền Định thì các ông nên đem những môn của các ông hiểu biết đó để giúp cho kẻ khác được hiểu biết như các ông.

Các ông trọn lòng TIN-VÂNG-KÍNH Tôi, các ông được lợi bao nhiêu tùy khả năng các ông khuyến khích dạy dỗ cho những tín chúng được sự TIN-VÂNG-KÍNH để được lợi như các ông.

Các ông phá Nghi Chấp, qua các căn nghiệp, chủng nghiệp được an vui, được thú vị, được thoải mái thì các ông nên đem những Pháp đã hiểu biết của các ông để giúp cho Tín Chúng Tu Tập cũng được an vui, thú vị, thoải mái như các ông, đó chính là một con đường của các ông đã xây dựng Chánh Pháp giữa thời Hạ Pháp. Đó chính là vàng, bạc, châu ngọc của Tam Bảo các ông đem dâng cúng cho Tam Bảo vậy. Tôi chỉ mong bấy nhiêu thôi”.

Ngài dứt lời. Tứ chúng ai nấy đều vui mừng, cung kính, tán thán Công Đức, đảnh lễ và cung tiễn ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

LONG HOA HỘI THƯỢNG, ngày 12-2 Giáp Dần (1974)
Chân Phật Tử Hoàng Ngọc Sơn, Pháp danh: Pháp Tràng “Phụng ghi”

Ghi Chú: Thời kỳ Hóa Độ Đại Thừa của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật vào khoảng năm 1975, các Chân Tử ở Nha Trang có ghi pháp danh trong quyển Kinh Giáo Ngôn này đã bỏ đi quay về nhà tu Tiểu Thừa gồm có: Pháp Tràng, Pháp Hoàn, Pháp Thoàn, Tạng Tích, Pháp Sử, Tạng Nguyên.

 

Giáo Ngôn – Lời Dẫn Nhập

Giáo Ngôn: Những mẫu chuyện Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật kể, bậc tu buổi ban đầu bước vào ngưỡng cửa nhà Phật phát Bồ Đề Tâm thì trước tiên phải thi hành giải nghiệp. Nói đến Nghiệp, mỗi bậc tu đều có nghiệp, kẻ chưa tu vẫn có nghiệp. Nghiệp nó sai khác nhau tùy nơi tư tưởng Thần Thức chấp trụ, liền có Nghiệp Thức thọ chấp. Lớn nhỏ rộng hẹp của ý thức trở thành Nghiệp, Bậc muốn tu phải giải Nghiệp. Bậc mới tu Nghiệp thì thật vô số kể, nó có đủ khía cạnh mà thọ nghiệp. Do lẽ ấy nên bậc tu dùng đủ phương tiện, tiêu trừ Giải Nghiệp hay nhờ Bậc Thiện Trí Thức chỉ bày đủ phương pháp tự giải nghiệp. Bậc tu tùy theo trí tuệ lướt qua hoàn cảnh, tạo công năng giải nghiệp. Cứ giải bớt nghiệp bao nhiêu thì trí tuệ tăng trưởng thọ lãnh bảo pháp bấy nhiêu.

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.