8. KỶ NIỆM NGÀY KHAI NGUYÊN PHÁP TẠNG, 12-1 BÍNH DẦN, 1986

Thiền Sư đang ngồi trên chiếc chỏng tre, đôi mắt nhìn ra khu rừng đầy cây cối. Buổi sáng hôm nay Ngài tỉnh táo mặt tươi nhuận, in tuồng nghĩ ngợi hân hoan những gì nơi Ngài mà Ngài sắp nói, chỉ lẩm bẩm nơi miệng còn tám hôm đến ngày Sinh Nhật, gần mười bốn ngày Tết Nguyên Đán đầu xuân,Ta thực dụng đã sáu mươi bảy năm nhanh chóng thật.

Thiền Sư mang đôi hài, bước khỏi chõng tre, ngồi vào chiếc ghế, bẻ cành củi khô, viết dưới mặt đất! Phật. Phật nói Phật nghe, chúng sanh chỉ nghe, chúng sanh lại tự ý nói. Thiền Sư viết xong cười xòa, Ngài tiếp. Chưa bao giờ chúng sanh lãnh hội đặng lời Phật nói, vì chúng sanh quan điểm,

Phật nói đều là lời Phật Giới. Chúng sanh đang nghe chỗ nghe kia đều là nơi nghe giới sanh, làm thế nào nhận lãnh để nghe lời Phật nói?

Lạ thay! đối với Phật Ngài luôn luôn giải Giới bởi chúng sanh giới lầm mê, do đó mới hóa giải mọi bề, trái lại chúng sanh thêm mê mọi cách, cho nên thường nhiễm dơ sạch, sạch dơ, tốt sanh xấu diệt, do đó Phật tận thấu từng cơn, cho đến chừng nào trơn liền mới cảm thông lời Phật nói.

Khó khăn thay cho sự lầm mê vòng đai Pháp Giới, di chuyển linh động làm sinh chúng nhiều kiếp thọ sanh, đối với thân mạng Ta phải lên xuống thăng trầm mới tận tường Pháp Giới tỉ mỉ Diện mục Bổn lai từng lớp lớp. Nhiều khi Ta nghĩ lại, nhiều lúc phải phân vân, chúng sanh nó tuy gần, nhưng tuyệt tình xa vời vợi. Ta không còn nói năng hay chờ đợi. Tận dụng thể chân phát hành Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng, chính tình lời chỉ thẳng trực chỉ tận Giáo Ngôn mong mang đến chốn trường tồn để tri ân Tam Thế Phật. Thiền sư nói đến đây, Ngài nhìn vùng mây trải nhìn lại lá vàng rơi nhìn đời sau Tận Thế, Ngài bèn vỗ vế đứng dậy xoa tay, châu mày nghĩ ngợi, Ngài đến chiếc chõng nằm dài chưa dám nói.

Bỗng bên ngoài con bướm bay thẳng vào nhà, bướm chưa biết lối ra, còn đang bay qua bay lại. Thiền Sư nhìn nói, nở nụ cười tươi, Ngài nói: Nầy bướm, chính mày là Pháp Giới, mày có giới hai cánh bay, có giới đôi lông mày, sáu chân mày đều là Giới. Bổn Lai Diện Mục bay lên đáp xuống, thực dụng những mật hoa. Vì kiếp mi đậm đà xinh xắn, do hoa nở sinh, Ngài đứng lên cầm chiếc quạt giấy, đưa bướm bay bổng ra ngoài.

Đối với Thiền Sư Ngài thường nghĩ về vấn đề Pháp Giới. Ngài bước đi trên thảm cỏ xanh, nhìn lại bàn chân của Ngài đã có sẵn từng Giới cùng với Thị Danh nào là Thị Danh ngón cái, ngón giữa, cùng ngón út, bàn chân, gót chân, mỗi mỗi đều là Giới cùng thị danh cả. Ngài nhớ lại Kim Cang Kinh, lời dạy của Như Lai. Nó chẳng phải là: Thế Giới nhưng thị danh Thế Giới, Ngài so lại. Nó chẳng phải là: Ngón tay ngón chân đầu cổ tai họng, nhưng thị danh nơi nó là ngón tay ngón chân đầu cổ tai họng. Bướm kia nó cũng đầy đủ giới cũng vẫn có thị danh.

Thật hay thay cho thị danh danh giả để cho nhân sinh tứ loài nương nơi đó mà giao cảm nhau trong một nước con người với con người đồng hiểu biết từ ngữ ngôn ngữ nhau. Đứng nơi thị danh Pháp Giới thời từ hoàn cầu thế giới nó có quyết định như nhau, tuy vốn thị danh nhưng thị danh chung kết đều giới. Đến giai đoạn tỏ Giới thời nhận chân là: Nó chẳng phải Pháp Giới, Thị danh là Pháp Giới, chính thật Pháp Giới. Cũng như nó chẳng phải là thế giới, nhưng thị danh thế giới, thật là thế giới.

Thiền Sư đã qua từng khúc eo Pháp Giới. Từ nơi Tâm Chí Quán Chúng của Ngài. Tạng Thức sáng soi ý thức, trưởng thành Pháp Giới, do ý thức cố thủ nên gọi nó là Nghiệp Thức, bằng ý thức không thủ thời như nhiên vạn pháp diễn hành từ pháp nầy đến pháp kia, chẳng có chi gọi là Pháp Giới. Trường hợp nầy, Thiền Sư đã từng trải qua, chỉ vì nương nhờ Tâm Chí mà soi tỏ đặng bằng chưa đến mức độ công dụng tâm trí thì chưa bao giờ tỏ rõ Pháp Giới cùng Nghiệp do đâu mà phát sanh. Vì sao? Vì đa số, cho đến những bậc tu đại tín thành, chưa có chí dũng thời toàn nương nơi Tâm Thức để tu.

Thiền Sư nói: Tâm Thức và Tâm Chí nó chỉ một thể mà hai lối dụng khác nhau. Tâm thức nó thao thức chuyển hình thành được gọi là Tâm Pháp chung một, thành thử tỏ Pháp liền tỏ Tâm, Tâm không ngoài Pháp. Nhưng Tâm kia bậc tu hành chưa có Chí Dũng trải qua các Pháp thì làm sao tỏ Pháp cùng Tâm? Bậc được dùng Tạng Thức để soi Nghiệp Thức chính là những bậc sẵn có Chí Dũng, Chí Dũng nương nhờ Công Đức mà có, chưa có Công Đức chưa phát sanh Chí Dũng.

Thiền Sư nghĩ lại. Vạn Pháp như huyễn, lướt qua khỏi nhìn lại mới nhận chân nơi huyễn của nó. Bằng đứng yên làm sao kiến tri cho đến chỗ huyễn thành Chân? Thiền Sư rất cần Bổ sung những điểm chi thiếu khuyết trên bước đường tu hơn là tu cầu tiến thân trong quả vị. Vì sao? Vì Chưa Bi Chí Dũng, chưa Tín Hạnh Nguyện thời làm thế nào, kết quả đặng chỗ Chánh Tín Chân Tôn hay Đạo Hạnh cao dày chỉnh trang Tịnh độ? Nếu chưa Nguyện thời làm như thế nào thu đoạt toàn năng trọng thành Ba Thân Viên Mãn?

Thiền Sư rất biết thật biết. Trí Bát Nhã viên dung, trên con đường tu hành nghiêm túc là một điều tối quan hệ cho tất cả những vị Đại Chí Đại Bi nương nơi Đại Nguyện mới thâu đạt phá vỡ Vòng Đai Pháp Giới. Bằng tu yên chờ đợi, tu lợi riêng mình, lặng thinh Tịnh Nghiệp ra vào chưa biết, cầu miết chẳng thông, chưa đồng bao giờ kết quả.

Vì sao nó như thế? Vì Pháp Giới duy nhất có một từ ngữ chung gồm bao phủ lầm mê. Nhưng nó lại có Ba lối phát hiện Pháp Giới. Tu đạt chung khắp gọi là Ba Thân Viên Mãn, bằng sai lệch thì khó khăn trở về Chánh Giác.

Bậc tu rất cần nhiếp thâu Ba lối là như thế?

THẾ NÀO LÀ BA LỐI NHIẾP THÂU?
– Một là: Tưởng Tưởng phát hiện Pháp Giới.
– Hai là: Hành Động Thuận Nghịch Pháp Giới
– Ba là: Nguyên Tướng Bất Diệt Pháp Giới.

Nguyên tướng Pháp Giới là hiện tướng Sơn Hà, Đại Địa, Tứ Loài cho đến cảnh giới các Cõi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Hoàn Cầu, nói chung hữu sắc hữu giới, hữu ngôn hữu giới, hữu tưởng hữu giới. Gọi là nguyên tướng Pháp Thân Bất Diệt.

Về tưởng tưởng phát hiện Pháp Giới, khởi điểm là tư tưởng nhận định thấy tư tưởng, khi hiện tưởng liền thấy biết hiện tưởng, lúc quán chúng cùng khắp liền tỏ thấy quán chúng, nó có nhiều viễn tượng lành mạnh tối sáng nên nó là Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội chưa khẳng định minh sát, chỗ có và nơi không phải tu hành nơi Pháp Môn Tam Muội.

Tư tưởng thể tánh nơi nó khởi sanh, khởi diệt. Khi chẳng còn sanh diệt, diệt sanh qua từng giai đoạn thì nó là Thường Tưởng. Lúc chuyên chú để soi nó lại được gọi là Định Tưởng. Bằng tìm tòi chân lý, tìm hiểu lý chân, tìm gần đủ cách, cho nó thị danh Tiềm Thức, phân biệt từng môn, từng lớp lang lớn nhỏ gọi đó là Ý Thức năng phân. Bao quản tỏ thấu từng phần chẳng câu nặng nhẹ gọi nó là Tạng Thức, hợp tánh Như Lai để phơi bày Pháp Giới gọi đó là Như Lai Nhãn Tạng.

Tư Tưởng Pháp Giới, từ thế gian đến xuất thế gian. Từ Chư Phật Chánh Giác cho đến chúng sanh lầm mê tu cầu Chánh Giác gọi là Vòng đai Tam Thế, đường lối Phật với Chúng Sanh thành Phật.

Lại có Tam Giới Chư Thiên trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cho đến rồng người. Mười Tám cõi Trời quản lý thế gian. Mỗi giới, mỗi cõi nói chung đều là Tư Tưởng, về Chánh Báo Thọ Báo bất đồng nên cao thấp khác nhau về lý tưởng mà thụ sanh lớp lớp không ngoài trong Như Lai Tạng Giới.

Thiền Sư, Ngài nghĩ đến đây lặng thinh, hai tay nâng lấy chiếc đầu, tóc Ngài đã trở thành trắng nhiều, đen ít lâm râm giữa Tam Thế. Chúng sanh và Phật lần tiến, Ngài thở một hơi dài như tiếp nối hư không vô tận. Thiền Sư nhìn lên nói: Bậc tu đạt Ba Thân viên mãn Chánh Giác, nhìn lại quãng đường dài đã trải qua rất tường tận chu đáo, tuy nhiên như thế mà vốn nó có mạch lạc thụ sanh cùng thoát sinh ra từng thứ bậc. Chánh Báo cùng Thọ Báo chẳng sai chạy tí nào chẳng mảy may nào dư thiếu. Còn bậc đang tu thời chưa biết mình tu những gì để mà tu, thật khó khăn thay nơi mê chỗ giác.

Lúc bấy giờ Thiền Sư. Đắn đo chưa muốn nói, dù Ngài nói ra nó chẳng dư, không thiếu của lời Đức Chí Tôn đã từng diễn giải nghìn xưa. Nay Ngài tuyên đọc lại với một chân lý chung gồm mà lời biện minh hơi khác của thời cơ Ngài đương nói, để khai hoang mở lối Tam Thân Tứ Trí hợp hòa Chánh Giác.

Thiền Sư an nhiên nói: Thật khéo thay. Khó khăn thay cho con đường giải thoát viên mãn ba thân, nó phải kết hợp đầy đủ các giáo môn, mỗi pháp môn đều có trợ giúp vào con đường viên mãn, chớ chưa hẳn mỗi một pháp môn tu Thiền mà liễu thông tận giác. Bằng không tu Thiền thời chưa Đắc Đạo. Tọa thiền chứng tri đắc đạo, tận tường pháp Giới thâm nhập viên thông, môn Thiền chủ động bấy nhiêu thôi. Nực cười thay, cho kẻ tu Thiền đòi phải thấy, cái thấy nơi thấy của kẻ tầm thường như thấy Trời Phật Tiên Thánh, thấy những gì mà điên đảo đảo điên vọng khởi để mà thấy, chớ nào có chủ tâm cho mình thấy nghiệp, cho tỏ đặng tâm, cho khỏi sai lầm mắc vào pháp giới, mới thật cái chánh kiến tri mà đặng tri kiến.

Đối với Thiền Sư đã từng trải qua, những gì Chư Bồ Tát đã làm, Thiền Sư vẫn tu để làm, những gì Chư Phật đã đi qua, nay Thiền Sư nương nơi đó để đặng đi. Ngài nói đến đây trầm ngâm lặng lẽ, sau liền nói tiếp, Thiền Sư nhắc lại: Phần trên Ngài đã phân tách một thể mà hai dụng, hai lối tu hành khác nhau như: Tâm Thức và Tâm Chí cùng một thể, nhưng những bậc tu hành dùng Tâm Thức, thường tiêu cực tu cầu hơn là dụng Tâm Chí tu đạt giải thoát. Vì sao? Vì Tâm Thức thuộc về Sắc Pháp chiêm ngưỡng. Sắc Tướng tác dụng Chánh Báo Nhân Thiên, ngoài ra nhìn thấy toàn diện hoàn cảnh an nhiên thanh tịnh qua hoàn cảnh, chưa nhận chân là Pháp Giới, hóa giải pháp giới từng cơn liễu ngộ, đến cuối cùng, bậc tín tâm tu tập phải qua Pháp Giới Cõi Trời Sắc Cứu Cánh, liền sắc tướng về nơi Như Tướng mà giải thoát, hai nữa sau khi tuổi thọ lâm chung phải Tưởng Niệm, hoặc không Tưởng Niệm mà vào Chánh Báo Hữu Dư Niết Bàn hay Vô Dư Niết Bàn chưa vẹn Tam Thân Duyên Mãn Tu Phật trong lúc đang tu, rất quan hệ khởi điểm như thế nào, đến kết chung toại nguyện như thế ấy, đó là thường.

Còn về Tâm Chí để tu cầu, thì Tâm kia phải có Chí đương nhiên Huệ nọ phải có Định. Định Tuệ tức là Chí Tâm cho nên Đức Chí Tôn Ngài nói: Chí Tâm Qui Mạng Lễ, phải chăng có Chí cùng Nhất Tâm Đảnh Lễ.

Cao đẹp thay những vị biết sử dụng Chí Tâm để tu cầu giải thoát. Vì sao? Vì Tâm Chí nó trực thuộc về Tạng Thức tu gần Như Lai Tạng, mới thám sát đặng Pháp Giới đảm phá Vô Minh. Còn Tâm Thức là lòng tu theo ưa thích Pháp Giới hơn là Tự Tánh Giải Giới.

Thiền Sư Ngài nói đến đây lắc đầu suy tính. Đạo Phật chủ yếu các bậc tu hành phải tự phát tâm Chí Dũng mới thọ trì bảo pháp tỏ rõ lối tu mà lướt qua từng pháp giới thâm nhập khỏi chốn lầm mê, chớ tu nơi ngưỡng vọng làm sao tỏ pháp? Mấy ai đã từng biết, chính Thiền Sư vẫn chưa ngờ, Chí Dũng Tâm mới thông. Tu nơi Tạng Thức tâm đặng bao dung, chí nương nơi hướng thượng nhờ như thế nên Chánh Báo thọ hưởng trong Tam Thiên, Đại Thiên Thế Giới tùy theo thứ bậc mà thọ lãnh cảnh giới, hơn là ý thức thọ báo eo hẹp nhỏ nhen chịu nơi Pháp Giới thọ sanh trong vòng Sanh Tử.

Phần hai về: Hành động thuận nghịch pháp giới vẫn có tầm quan trọng, không kém phần tưởng tưởng pháp giới Tạng Thức sáng soi, các ông nên chú ý.
Hành động là một biểu tượng quá khứ tiền kiếp gần nhất, hiện kiếp này lai sanh. Nó cũng ảnh hưởng do tập nhiễm của tánh tình nhiễm trước chung quanh bè bạn dòng họ mà ra. Bậc tu hành chuyên chính quán sát thật biết trên con đường tiến bộ tu cầu của mình có hai điều đáng kể nhất cần phải thực hiện. Thế nào là hai điều đáng kể? Một là hóa giải pháp giới cốt tường tận pháp giới là điều đáng kể. Hai nữa là hành động làm cho những người chung quanh mình cảm mến, tán thán cốt thực hiện thuận hành để nhiếp thu Pháp Giới đó chính là điều đáng kể. Từ nơi khởi điểm thật biết hai điều đáng kể nên chi bậc tu hành chuyên chính mới chứng tri Vô Sanh Pháp Nhẫn mà thực hiện Nhiếp Thu Pháp Giới tận tường Pháp Giới nơi Pháp Môn Vô Sanh Pháp Giới, Vô Diệt Pháp Giới đặng tường tận Pháp Giới. Nếu tường tận Pháp Giới mới thấu đạt đặng Bổn Lai Diện Mục pháp giới mà tận giác Tam Thân tận thành viên mãn.

Sự trọng yếu của phần hai, lối hai này đáng kể nơi trọng trách thành đạt, nên Phật dạy phải thực hành Tứ Nhiếp Pháp, phải đồng hành và đồng sự nhiếp giữa các bậc cùng chúng sanh, cốt hoàn toàn không thiếu sót mà viên mãn. Có Đồng Hành Nhiếp, có Đồng Sự Nhiếp, có thực hành nguyện cùng Hạnh Nguyện mới chu đáo Hiện Nhất Thiết Sắc Thân trên bước đường hành động.

Thiền Sư Ngài suy tính đến đây Ngài thở dài, miệng lẩm bẩm: Lạ thay, tác tệ thay cho quan niệm lầm sai của chúng sanh. Ta nói đến Tứ Nhiếp Pháp Lục Ba La Mật Đa thì họ chẳng nghe đặng tí nào. Vì danh từ này họ đã từng đọc, từng biết họ đều quan điểm tầm thường quen thuộc. Đứng nơi lý trí của họ, nếu bậc tu đào sâu thực hiện Tứ Nhiếp Pháp, khi thật tỏ mới cho Ta nói ra đây chính là một điều thiết thực. Hành động nhiếp thâu hợp hóa giữa mình cùng tất cả mà sở đắc Hiện Nhất Thiết sắc thân, đồng hành đồng sự là một pháp môn Đạo Hạnh tối thượng, liên hiệp với Như Lai, đặng Như Lai thọ ký thành Phật. Hành động thuận và nghịch đều là Pháp Giới, chỉ có đồng hành đồng sự nhiếp thâu tường tận mới thâm nhập Pháp Giới trưởng thành ba thân viên mãn mà thôi.

Còn lại phần ba là: Nguyên Tướng Bất Diệt Pháp Giới, phần nguyên tướng bất diệt này vô cùng siêu đẳng có hằng hà sa số lớp chúng sanh nhìn nhận khác nhau như chung cùng thảy đều sống trong nguyên tướng pháp giới, bằng thoát khỏi vòng đai pháp giới thì mới hay chính mình lầm mê, sự nhận thức của mình sai biệt nơi chốn nguyên tướng bất diệt để tìm tòi cảnh giới Niết Bàn siêu hình vạn tướng do sự lầm mê mà phát sanh hoài vọng đảo điên nơi mộng ảo.

Khi bấy giờ có một vị đến thưa gởi Đức Thế Tôn: Bạch Thế Tôn. Ở nơi đây nó là Đời Ngũ Trược ác thế hay Bồ Đề Bất Diệt? Ở đây là thế gian hay Tịnh Độ Niết Bàn con Kính nhờ Đức Thế Tôn chỉ giáo.

Ngài nói: Ở đây cũng là Đời Ngũ Trược ác thế. Nó cũng là Bồ Đề bất diệt nào sanh? Nó vẫn thế gian, Tịnh Độ Niết Bàn, Ngài dạy xong lặng thinh không nói.

Vị kia thưa hỏi? Con kính nhờ Đức Thế Tôn Ngài quyết định một từ ngôn. Niết Bàn hay Tịnh Độ. Thế gian hay Bồ Đề con nhận lãnh làm ấn quyết. Đức Thế Tôn Ngài đáp: Nầy trưởng giả, Ta không thể ấn quyết nơi nầy, chốn nầy chỗ nầy, địa giới nầy là nơi chốn chỗ Niết Bàn hay Tịnh Độ. Vì sao? Vì ấn quyết Tịnh Độ Niết Bàn, ông không tu, chưa chứng đang còn sanh tử, tử sanh trong vòng đai pháp giới, lâm nơi Ngũ Trược ác thế tử sanh, thì lời ấn quyết kia Ta hoàn toàn chịu trách nhiệm hư dối sao? Bằng Ta ấn quyết nó là thế gian, nó đầy ngũ trược, ác trược thế gian. Ông tu hành tinh tấn giải giới lầm mê chứng tri Niết Bàn, tỏ rõ Bồ Đề an lạc thì trái lại lời ấn quyết nơi Ta là không thật sao?

Thiền Sư đang suy nghĩ câu chuyện trên của vị thưa hỏi Đức Thế Tôn, Ngài vô cùng tán thán Đức Chí Tôn thấu nguyên tướng, thị hiện đầy đủ cho từng lớp chứng tri giác tướng sắc tướng cùng với tận tướng Niết Bàn của Ba đơn vị Chánh Báo, Thọ Báo nơi phàm phu sắc tướng chốn Bồ Tát Giác Tướng cùng Chư Phật tận tướng. Lành thay khéo thay cho nguyên tướng Bất diệt.

Hay thay, tuyệt tác thay, cho Thượng Cầm Hạ Thú vẫn thường còn hàng hàng triệu triệu năm chưa bao giờ mất tướng. Đến con người tướng của người đời đời không mất tướng, triệu triệu vẫn còn nguyên, lại như Tiên Thần Thánh Hóa, Chư Phật, Thánh Tăng thảy thảy bất diệt. Tại sao nói nó bị diệt, do lầm mê phát sanh cớ sự.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

7. KHI BẤY GIỜ THIỀN SƯ NHẬP XONG CHÁNH ĐỊNH

Khi bấy giờ Thiền Sư nhập xong Chánh Định, Chánh Định là nơi ra vào quán xuyến trùm khắp, quán xuyến từng thân mạng đến các hình tướng, hằng hà sa số các thân mạng tứ loài sống chết từng lớp, tồn sanh sanh diệt nơi tất cả chúng sanh, họ chỉ nương nơi Túc Mạng mà ấn định sự ấn định nó không ngoài Thần Túc tư tưởng và trình độ trực thuộc và gìn giữ, nên mới có từng cảnh giới, từng mỗi cõi, rộng hẹp khác biệt nhau của mỗi cõi, mỗi một cõi đồng Chủng Tộc, trùm khắp đồng thể tánh. Thiền Sư Ngài đã tận tường từ chốn, nên sự giao cảm đối với Ngài thời trùm khắp Vũ Trụ Tam Thiên, không ngoài từng Pháp Giới vận chuyển Pháp Thân.

Thiền Sư đã từng nhiếp độ thâm nhập Chu đáo tận tường của mỗi giới sanh, ảnh hưởng thâm nhiễm nên mới có một chủng tộc, toàn diện pháp giới như thế có hằng hà sa số vô lượng vô biên chủng tộc, tuy nhiên sai khác nhau nhưng đồng đẳng, an lành nơi Pháp Thân, gọi là Pháp Thân Phật. Đối với Thiền Sư là Bậc Chánh Giác.

Đứng nơi Phật Pháp bất ly thế gian giác để diễn giải Pháp Thân thì nó không khác mấy với Hoàn cầu thế giới trên quả địa cầu gọi là Pháp Thân. Mỗi một nước có một đường hướng chế độ, hoặc mỗi một gia đình có một nếp sống trong gia đình gọi là Pháp Giới. Mỗi một con người có mỗi định hướng theo trình độ giai cấp mình, do bản tánh chủ định gọi là chúng sanh giới. Từ trong chúng sanh giới đến Pháp Giới kết nạp nhau trở thành Pháp Thân Phật. Bậc Chánh Giác tận tường chu đáo từ nơi chúng sanh giới toàn diện Pháp Giới không thiếu sót gọi là Chánh Giác. Đối với Thiền Sư cũng như thế.

Khi bấy giờ Thiền Sư quá tường tận sự xuất nhập nơi Như Lai Tạng, phân chia định hướng cùng bất định hướng dung thông cùng bất dung thông Như Lai. Nên chi Thiền Sư hợp hóa Như Lai, ứng hiện nơi Pháp Thân thị hiện, toàn thân Như Lai Chánh Giác. Từ mỗi một lổ chân lông của Thiền Sư đến bá thiên vạn triệu hằng hà sa số không còn bờ ngăn nên đồng ứng hiện bá thiên cảnh giới, sa số các cõi thị hiện vẫn từ mỗi lổ chân lông bước ra được gọi là Ứng Thân Pháp Thân của Bậc Chánh Giác.

Lúc bấy giờ toàn thân nơi Thiền Sư thảy đều mỗi lỗ chân lông có một Vị thị hiện, chung quanh Thiền Sư có hằng hà sa số ứng trực thị hiện lễ bái, ứng trực thọ trì tán thán Công Đức Vô Lượng Thiền Sư, tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo. Thiền Sư minh thuyết, giải bày, nói năng xong từng lớp lớp thọ trì, lớp lớp ái kính. Tất cả thảy đều thưa gởi. Mỗi chủng tộc của mỗi giới sanh mình. Thiền Sư cười vỗ tay, tất cả đều vỗ tay xưng tán. Thiền Sư nói: Lạ thay! Trên con đường giải thoát, Ngài liền thọ ký cho tất cả Chúng Sanh Tánh sẽ thành Phật.

Thiền Sư đứng lên, bước ra ngoài sân lều lá, miệng lẩm bẩm. Tuyệt tác thay đấng Chí Tôn Vô Thượng, Ngài đã thành Phật, Ngài thọ ký chúng sanh sẽ thành Phật. Nay Ta lại thọ ký chúng sanh tánh sẽ thành Phật, tuy nhiên hai lối trong ngoài, chung lại chỉ có một điều duy nhất, phải chăng tiêu biểu hoàn tất Ba Thân?
Tại sao như thế? Giác thời có Giác mà vốn chỗ tận thành vẫn chưa. Tướng Tánh vốn tương song khi đang Diệu Dụng Hành Dụng, mà thân tâm tự chia hai lối thành thử thực hành và trí tuệ nó vẫn chưa đồng, làm cho các bậc tu hành dù cho tín thành cực điểm, đầy đủ trên con đường giải thoát chăng, vẫn suy nghĩ hai chiều làm sao tận thành cho đặng. Ta thật rõ tận tường có nên phơi bày để đời nầy cùng đời sau thực hiện tận giác chăng?

Khó khăn thay một khúc eo vĩnh cửu chỗ Giác với tận thành, nói đến các Bậc Giác thời thật nhiều mà tận thành quá hiếm, đừng nên hoài tưởng Giác chính là Thành các Bậc dùng Trí tu hành vẫn từ nơi Giác Trí đặng Như Trí. Bằng dùng Hạnh để Tu Đạo Hạnh thời nó lại đứng vào hàng Nhất Tướng về với Như Tướng, Tướng mà Như Như là trang nghiêm tướng nơi Thập Bát La Hán chớ nào Tận Giác. Đến hàng Bồ Tát từ nơi Sơ Trụ Bồ Tát cho đến Đại Bồ Tát Ma Ha Tát vẫn tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo, chớ Pháp Thân chưa tận dụng vẫn chưa tận thành thì sao? Duy nhất chỉ có Đức Chí Tôn Bổn Sư Vô Thượng mà thôi.

Ta phải nói sao đây, phải bày biện như thế nào, thật khó khăn thay cho từng lớp căn cơ tu chứng, phân đối với chung hòa. Lời Ta diễn giải toàn lời Công Năng tu đạt toàn diện không hai. Khi Ta diễn giải với Tâm Chí Nhất Tâm của Ta thì nó nghe ưu tú đặng 70 phần trăm. Bằng Ta viết ra từng lời nói diễn giải nó không ngoài văn tự minh thuyết. Các Bậc từ đời này cho đến đời sau đọc tụng chưa hẳn đã lãnh hội vẹn toàn, dù bậc tín tâm thông hiểu chăng vẫn thông hiểu với hàng thinh văn gặp đặng duyên mà Giác, chớ chưa tận sâu lời ta đã nói, đây là lời Ta nói với hàng đã từng biết xem Kinh, đã từng Tu với Tự Tánh. Nếu Bậc tu Y Kinh chưa Liễu nghĩa thì làm sao thấu đặng lời Ta? Thiền Sư tự thán xong cũng vừa đúng ngọ thọ trai.

Cơm nước do các nhà hảo tâm mang đến cúng dường tuy không đầy đủ lắm, nhưng Thiền Sư thực dụng tạm qua ngày đơn giản. Theo như thường lệ, mỗi lần thọ trai xong, Thiền Sư thả chiếc võng treo xuống, hai tay nhún hai đầu võng thật kỹ càng mới đặt lưng nằm xuống, có một lúc, có một cụ già ở cuối xóm, mang chiếc võng lên cúng dường, Cụ già thưa với Thiền Sư: Bạch Thiền Sư, con từ thuở còn trai, làm nghề đan võng, đến nay tuổi già không còn làm nghề đan võng nữa. Con niệm tình ái kính đối với Thiền Sư, mua một ít dây gai, tự tay đan chiếc võng để cúng dường, xin Thiền Sư thương con thâu nhận, Thiền Sư gật đầu, cụ bái tạ ra về.

Thiền Sư lẩm nhẩm tư tưởng phát sinh, đang giải nói hồn mơ: Thật hay thay! Như Lai Dụng, lời này của kinh pháp mà Đức Thế Tôn ấn chỉ có hai lối hành dụng và thực dụng của Như Lai, chung gồm chỉ có chữ Dụng.

Từ Hành Dụng của Như Lai là vận chuyển vạn pháp trùm khắp Tam Thiên, thế gian, xuất thế gian, rồng người, tất cả các sự việc hoàn cảnh hằng ngày cho đến đi, đứng, nằm, ngồi, mỗi mỗi lớn nhỏ thảy đều hành dụng của Như Lai, chung gồm không trong ngoài của Như Lai Hành Dụng.

Còn về Thực Dụng, nơi Tứ Loài Chúng Sanh ăn uống Thực Dụng hằng ngày sinh sống thảy thảy được gọi là Thực Dụng.

Các Bậc tu hành đến các vị Thiền Sư đa số giác ngộ nương nhờ nơi va chạm nghịch cảnh bối cảnh Hành Dụng mà Trực Ngộ, hiếm bậc khi đang Thực Dụng mà Trực Giác, nơi các món ăn Như Lai Thực Dụng. Vì sao? Vì Thực Dụng là Bổn Lai. Lạ thay nơi hiểu biết hoặc giả nghiên cứu nơi văn tự nó trực thuộc về bộ óc tạm biết mà các hàng Thinh Văn Duyên Giác đã từng tu.

Nếu đem sự hiểu biết áp dụng thực hành nơi hiểu biết thực hiện thì tự biết kia đặng nương vào Công Đức Hành Dụng Như Lai mà Trực Ngộ thì thâm sâu biết chừng nào, vấn đề này đã có nhiều bậc tu hành theo pháp môn Như Lai Trực Giác không ít, còn tu tận thành rất hiếm, Vì sao? Vì Trực Giác nương Công Đức Như Lai mà Giác, còn tận thành bậc tu đã tỏ ngộ tường tận Thông Đạt vạn pháp diễn hành mới có đầy đủ Công Năng, chính mình xây dựng tận thành Chánh Giác, lúc đến đây Thiền Sư nở nụ cười tươi, ngọn gió thoảng qua, nơi hư không đủ màu, đủ sắc quay quần Vũ Trụ tạo thành luồng gió nhẹ nhàng, thoải mái với Thiền Sư.

Thiền Sư bừng tỉnh, bóng cây đã ngã dài, Ngài đứng lên treo lại chiếc võng về chỗ cũ, Thiền Sư vẻ mặt trầm ngâm suy nghĩ, Ngài bước lại hạ thấp mái hiên đóng khuôn cửa sổ, cùng hai cánh cửa lớn của lều lá, Ngài đưa tay lấy chiếc gậy cùng chiếc Nón đội lên đầu nhẹ bước ra đi về hướng Tây Bắc.

Ngài xem con đường vào rừng sâu tảng đá, lên thác xuống gành không khác với con đường đạo ngày trước đã từng đi qua, tuy chân vẫn đi, nơi tay phải có sẵn lợi khí, lợi khí nầy là Trí Tuệ tan dẹp đóng ngăn, lợi khí chiếc gậy là vạch đường trổ ngỏ sau cho người khác họ đi. Lợi khí trí tuệ giải quyết từng giai đoạn thoát khỏi quan niệm chính mình vấp phải đứng yên, cho đó là: Trí tuệ cứu cánh giải thoát, chớ chẳng chi giải thoát.

Mỗi lần Thiền Sư suy nghĩ như thế, bản thân Ngài thấy nó hay hay, Ngài cho đó là Niệm Niệm. Chư Phật nghìn xưa niệm niệm gọi là niệm niệm Phật.

Thiền Sư đang đi nửa đoạn đường, gặp hai chàng trai gánh than đi tới, nhìn thấy Ngài, vội để gánh bên đường chờ Thiền Sư đi qua kính bái. Có đôi lúc Ngài nghĩ lại, khi Ngài mới đến an trú tại địa phương nầy có người cho Thiền Sư là ông Thợ Mộc, kẻ cho là Thầy Thuốc Nam, đủ thứ, đủ người nghĩ đến Thiền Sư. Đến sau nầy dựng nên lều lá, khi dân địa phương dừng bước ghé chân đỡ cơn mệt nhọc mới rõ là Bậc Thầy Tu, may thay có người ưa thích đạo, ưa tìm hiểu lý chân, chuộng pháp môn Tu Thiền, kính nhờ Thiền Sư chỉ giáo, nên chi có một số người mang thức ăn cúng dường, mới đặng ở yên sống tạm trong địa phương nhỏ bé.

Thiền Sư vừa đến chân rừng thì trời chiều mát dịu, có những con chim nhỏ quấy rầy ríu rít trên cành cây, Ngài mãi đi đến đồi đất cao nhất an tọa đỡ nơi. Lặng nhìn xa xa có những xóm nhà lẻ tẻ chen lẫn cây xanh. Thiền sư lẩm bẩm, Ta hãy đi đến với Mười Tám Vị La Hán, họ đang hội thảo xem xét có những gì, nghĩ xong Ngài trầm ngâm lặng lẽ, nét mặt thay đổi không ngừng, Thiền Sư lắc đầu nói: Vi diệu thay cho Pháp Thân Ứng Thân, làm thế nào tất cả những bậc tu hành thâm sâu tận thấu, cho đến Chư Bồ Tát khẩn cầu hết mình tu cầu Chánh Quả, hết toàn năng kiến tạo Bát Đại Niết Bàn cũng chẳng thấm vào đâu, thời làm sao Nhân Sinh Tứ Loài phàm phu hiểu đặng.

Hôm nay chính Ta tận thấu, nó khác hẳn với lúc đang tu, rất tận tường trọng lượng bản chất linh động thể chất hợp hóa vi diệu dung thông vô cùng không tận, ứng hiện, trực hiện, cảm hóa hiện đến tận thành thực hiện nơi Pháp Thân chu toàn cho tất cả từng lớp lớp chúng sanh cầu vái đến Chư Thiên Tiên ứng hiện Chư Thiên liền ứng hiện do nơi ứng hiện của trình độ quy chế chúng sanh giới mà Pháp Thân tùy nơi ứng hiện, thành thử các bậc tu hành chuyên ròng tế lễ cầu lấy linh thiêng ứng hiện hơn là Trực hiện. Ứng hiện là quy chế của Thế Gian cho đến hàng Thinh Văn Duyên Giác cùng A La Hán, ứng hiện là chỗ tu hành cầu vái van xin. Còn Trực Hiện là nơi Trực Giác Tam Muội Pháp môn. Nên Quán Thế Âm mới tự nguyện tùy nơi sở nguyện của Chúng Sanh mà Ứng Hiện. Đến hàng tu tự tín bản năng, tự tín công năng công đức kết tạo thời thọ hưởng nơi qui chế Trực Hiện, trực hiện là nơi Bồ Tát Sơ Trụ đến Đại Bồ Tát thường dùng Trực Hiện cùng Cảm Hóa Hiện, cảm hóa hiện chính bậc thường thông cảm Tam Thế Tam Thiên. Xuất định dạo khắp các cảnh giới, gọi là Cảm Hóa Hiện, cho đến Bậc Tận Thành, lúc bấy giờ mới Thật Hiện. Bốn Tướng hiện trên vẫn còn nơi Pháp Thân Phật chu toàn thị hiện đồng đẳng từng lớp tu chứng, từng lớp chưa tu chứng đảo điên vẫn đặng thừa hưởng hiện, nơi hiện cảnh ứng hiện chia ra làm hai nơi, gọi là Chánh Báo cùng thọ báo hiện. Chớ chưa hẳn Tâm Hiện hay Tâm Pháp. Pháp Tâm Hiện, vốn như nhiên Pháp Thân tùy thuận hiện. Vì sao? Vì Như Nhiên hợp hóa Bản Năng thể tánh đồng hiện thôi, Thiền Sư giải xong thi vịnh.

Ta soi nơi Tấm gương dày.
Đưa tay, nhảy múa, phơi bày mặt gương.
Pháp Thân vi diệu khôn tường.
Tùy công năng Đức. Tùy phương hiện hình.

Ngài thi vịnh xong bốn câu, Ngài đứng lên sửa bộ áo, lấy chiếc gậy cầm tay, thong thả đi vào rừng sâu là nơi Thiền Sư an dưỡng tọa Thiền, dọc đường Ngài gỡ những cành gai, Ngài nhặt một ít củi khô để lại phòng đêm lạnh đốt lên, xong đâu đó, hớp một hơi nước, Ngài ngồi tĩnh tọa trên tảng đá, như nhiên tịch tịnh, thả theo gió thoảng lần lần trong khi xuất Định. Phong cảnh ở khu rừng trảng, có những mỏm đá lô nhô, bắt đầu in tuồng theo cơn định của Thiền Sư.

Thiền Sư đến ngôi chùa Cổ, mái chùa cong cong hai cánh, vừa rộng vừa thấp, tựa như Chim Phụng Hoàng trải cánh che chở khách thập phương. Ngài bước vào bên trong chùa có 18 vị chia ra ba nhóm đang Hội thảo về Chân lý đường tu. Ngài dùng Nhĩ Viễn Thông, nhãn Tạng Tam Muội Định, thấy rõ, tai nghe không thiếu sót, Thập Bát La Hán không hề hay biết, trong hội thảo có Vị Đại Đại La Hán dự.

Các Vị La Hán, về phương diện y phục thì đủ màu sắc, tùy theo Địa phương giới. Phần sở thích mặc do cử chỉ hành, mỗi vị đều có nét vẽ trang nghiêm ngôn hạnh tất cả ai nhìn thấy phải kính nhường.

Trong ba nhóm, mỗi nhóm có sáu vị, sáu vị ngồi hình tròn, nhóm ngồi về phía Tả, nhóm ngồi về phía Hữu, còn một nhóm ngồi ngay trước Chánh Điện Trung Ương. Dưới nền chùa trải bằng ngọc thạch màu xanh, những cây cột làm toàn mã não đính kim cương trở thành đỏ trắng lấm tấm sáng, mùi thơm hương thoảng, có những tiếng nhạc do các cây cảnh giao động tự trở thành thật thanh tịnh tao nhả thay cho Như Lai thị hiện cảnh đoan trang khả ái của Bậc La Hán tận thành Như Tướng.

Nhóm thứ nhất về phía Tả Hội Thảo: Thân Tứ Đại giả tướng, chốn trần lao ô trược nhiễm trược khó tu, Chúng ta hãy tìm phương thức xuất thế ly thân trừ vọng. Ta truy tầm bản chất bất diệt hư không kiến tạo Tinh Khí Thần, Ta sống nơi Tinh Khí Thần viễn thông bất biến thời làm sao thân mạng hủy tiêu?

Nhóm thứ hai về phía hữu hội thảo. Nhóm này sở đắc thần thông, toàn diện sáu vị phát quang từng tia sáng, thâu nhận đặng nhóm tả đã hội thảo trên, đồng vỗ tay cười xòa nói: Tinh Khí Thần ở đâu mà có? nếu có chăng thời có cả từng lớp thân mạng của Tứ Loài chúng sanh trùm khắp, chớ nào phải hư không có, còn các chốn lại không? Tinh Khí Thần là một thể chất Túc Thần, cùng túc mạng được gọi là Thần Túc Thông cùng Túc Mạng Thông. Nay chúng ta phải huân tập nơi Thân Mạng, huân tập Thiện căn mới nhiếp thâu trí tuệ tu đạt Túc Thần làm căn bản, lấy đạo hạnh trang nghiêm làm bước đi tư tưởng định tưởng làm quả vị, tu như thế, làm như vậy mới mong tu đạt huyền cơ. Ta chớ nên vì ô trược, mạng trược, xa lánh ngồi yên trở thành chồi khô, mộng lép. Trước kia chúng ta truy tầm Chân đế, vẫn suy tính như trên, có lúc lăn mình tìm thuốc trường sanh bất lão, nay chúng ta thảy đều rõ biết, trường sanh ở nơi đầu não chúng ta sẵn có tinh thần, khí phách, khi Ta sa sút tinh thần chưa bồi dưỡng sung mãn liền đâm ra nản chí, lúc tinh khí thần sung mãn thì phát sanh trí tuệ viên thông. Lúc Đức Trí Viên thông đương nhiên tu đạt.

Nhóm thứ ba, là nhóm Trung ương, ngồi chính giữa, nhóm này ngồi yên lặng thu nhận rất an nhiên, thu nhận từ ngọn gió thoảng đưa hay di chuyển, chung gồm đầy đủ sáu pháp thần thông. Nên chi đồng nghe tiếng nhạc trời trổi khắp mười phương, họ lại đồng thấy thanh quang, huỳnh quang, bạch quang, hồng quang cùng mỗi mỗi hào quang di chuyển, báo hiệu điềm lành hoặc hung bạo, họ vẫn nghe, vẫn nhìn nhận cuộc hội thảo của hai nhóm kia không thiếu sót. Nhiều khi nhóm nầy thường nghĩ. Lạ thay, Lạ thay! xuất ly rồi nhập cảnh, đến thanh thoát, đặng bình an, do đó nhóm trung ương công dụng an lành duy nhất.

Bỗng nhiên có một vị trong nhóm. Vị nầy đứng vào hàng đầu Bậc La Hán. Khuôn mặt thay đổi từng lúc từng hồi, từ chỗ ngạc nhiên nầy sang ngạc nhiên khác nói lên.

Lành thay! Lành thay! huyền cơ vận chuyển ánh quang chúng ta bị mờ thay vào dòng quang rạng rỡ vận chuyển cho đến nỗi mặt đất rung rinh, thân hình nhẹ nhỏm. Các ông nào hay biết, thì làm thế nào vọng tưởng tu đạt huyền cơ Vũ Trụ, làm thế nào đòi ngự trị vạn pháp trọn vẹn bất sanh an lành bất tử? Vị nầy nói vừa dứt Huỳnh Quang tỏa khắp phơi bày, làm cho tất cả hào quang của các bậc La Hán chưa còn nhìn thấy. Tiếng nhạc cùng với hương đàm lần đưa thơm ngát, có từng cánh hoa từ hư không rải xuống khắp sân chùa, tựa như trải tấm nhung hoa. Ngôi chùa Phụng Hoàng tự biến dần trở thành Tòa Lâu Đài Long Bửu Tự, tất cả toàn diện đính ngọc Bảo Châu, nền thêu dệt bằng kim cương ngọc bích hoa vàng lấm tấm mã não trân châu. Các vị A La Hán đứng lên, trở về đơn vị gần cổng chùa Long Bửu, thật cao quí thay cho bảy dòng quang đưa lượn theo chiều sóng nhạc đẩy đưa, in tuồng đón mừng bậc Chánh Giác.

Khi bấy giờ Mười Phương Chư Phật, đồng nói lên câu chúc tụng Phật Vương, xong đâu đó nói với Chư Vị Bồ Tát. Nầy các ông hãy đi đến Khánh Trang tỉnh, Long Phụng Sơn. Long Bửu Pháp, có Vị Phật Pháp Hiện Phật Vương, thị hiện thời Hạ Lai. Vị nầy có nhiệm vụ chỉnh trang Phật Pháp, chứng thị Hạ Lai, tuyên thời Tứ Hạnh làm cho tất cả đang sống vật vờ, đang tu lầm lạc trở Chánh Pháp Tịnh Vương, Nhất Tôn Tứ Hạnh, cốt mang đến điều lành đưa về Chánh giác, các Ông nên đến Kính bái chiêm ngưỡng thọ trì Tứ Hạnh Ngài đã bổ ban Chư Bồ Tát đồng Đảnh lễ, phóng quang, nương nơi Huỳnh Quang, đồng đến bái lễ.

Tất cả các hàng Chư Tiên, Tiên Rồng Thánh Hóa nhìn về Đông Nam, hương đàm trùm tỏa, nghe tiếng trên hư không phổ truyền, tất cả đều mang các phẩm cúng dường đồng đến bái lễ.

Khi bấy giờ tòa Long Bửu, các cánh hoa tự động kết thành tràng hoa to bằng Quả Hồng Đào, tựa như quả mâm xôi. Phật Vương thị hiện, mặc y áo Bạch Nhung đầu đội mão Bảo Trì màu trắng hồng nhạt, trên mão có chín búp hoa, mỗi búp hoa tỏa ra mỗi hào quang tia sáng gồm có Huỳnh Quang, Huỳnh Huỳnh Quang, Thanh Quang có sắc Thanh Thanh Quang. Hồng Quang có sắc Hồng Hồng Quang, Hắc Quang, có sắc Hắc Hắc Quang. Còn riêng Nhất Bạch Quang không có sắc Bạch Quang. Ngài thị hiện đầy đủ 32 tướng tốt bước lên hoa, hào quang tia màu vàng. Chư Bồ Tát, Chư Thiên Tiên cùng Chư Long Thần cho đến hàng A La Hán cùng Thinh Văn Duyên Giác, nhìn không nháy mắt đồng thanh xưng tán, Chưa bao giờ nhìn thấy nay nhìn thấy. Bỗng trên hư không xưng tán, do Công Đức Vô Lượng Phật mà thị hiện Vô Thượng Tôn, Vô Thượng Sắc, Vô Lượng Hương đầy đủ không thiếu sót. Ngài lên tòa Sư Tử an toạ. Tất cả các hàng chiêm ngưỡng lễ bái, xong đâu đấy theo thứ lớp, theo thứ vị đồng nhau tĩnh tọa.

Khi bấy giờ Đức Phật Vương nhẫn mười hai triệu phút. Mặt Ngài an nhiên bình dị hòa đồng với tất cả, làm cho các hàng thứ lớp thảy đều hoan hỷ, phấn khởi ái kính không còn mảy may hư vọng hoài vọng tạp khởi, Ngài liền nói: Ta khá khen cho thời Hạ Lai lạc pháp nầy mà Thập Bát La Hán Hội Thảo. Chư Vị Bồ Tát đang hiện hành, hàng hàng lớp lớp tu trì không nhàm chán, gìn giữ bảo pháp trường tồn. Đối với Các Vị, căn cơ chưa đầy đủ, trí tuệ chẳng viên thông nên chi Trí hóa sanh ra vạn pháp an lành, đặng Chánh Báo nhân thiên, đặng tu chứng từng phẩm hạnh. Bằng Trí Tuệ tối tăm trí hóa tự sanh các nghiệp. Sống trong cơn thăng trầm đủ lối. Tu nơi vạn ý uyên thâm vòng quanh khó thoát sanh tu đoạt Chánh Giác.

Lý sự tín tâm Nhất Tâm Đảnh lễ Chư Phật thì có, nhưng đường lối chưa tận thâm làm sao đắc quả? Ta vì các ông Thị Hiện đầy đủ. Cư Nhân Tướng, đầy đủ hoàn cảnh thâm, vào sắc thinh hương vị mà bảo các ông đừng xúc pháp. Từ hàng Thiện Nam Tử đến hàng Thiện Nữ Nhơn, tu cầu Ứng Hiện, tu lấy thọ lãnh Nhân Thiên rất hiếm bậc đang tu nơi trực hiện.

Ngài nói đến đây có vị Bồ Tát bước ra đi vòng bảy lễ Chiêm ngưỡng lễ bái thưa gởi? Bạch Thế Tôn, con đã tu sạch tất cả chúng sanh truy tầm lấy mỗi một chúng sanh đều không có. Con kính nhờ Chí Tôn thương con khai thị cho con, làm như thế nào, tu bằng cách nào cho đặng tận giác quả Bồ Đề Nguyện.

Hay thay, khéo thay nầy Bồ Tát Bửu Tịnh. Ông tu sạch lý chúng sanh, chớ chưa tu đạt Bổn Lai của mỗi chúng sanh giới. Mỗi chúng sanh giới bá thiên vạn chúng sanh hợp hóa trở thành Pháp Giới. Mỗi một pháp giới có hằng hà sa số chúng sanh. Ông tận Giác chúng sanh bổn lai diện mục. Ông tận thấu pháp giới diễn hành khi bấy giờ ông Thị Chứng mới tận thành Chánh Giác.

Bồ Tát Bửu Tịnh toàn thân thảy đều nở ra hoa Bửu Pháp, nhẹ nhàng tươi tỉnh vui mừng xưng tán. Chưa bao giờ đặng nghe hôm nay mới đặng, Chí Tôn Vô Thượng Thị. Xong đâu đấy Đảnh lễ ngồi lại một bên chiêm ngưỡng.

Các hàng La Hán, các hàng Thinh Văn, các hàng Duyên Giác cùng với Hộ Pháp, cho đến Hộ Pháp Bồ Tát đồng Đảnh lễ thưa thỉnh. Trong khi thưa thỉnh có cả Chư Thiên cùng hàng Chư Tiên lễ ứng cầu thỉnh.

Bạch Thế Tôn thương xót chúng con khai thị cho chúng con có điểm lành, có nơi nương tựa trên con đường Chánh Pháp, có một lối sống, từ đời nầy cho đến đời sau nương nơi lời vàng của Đức Thế Tôn ban hành tường tận, khỏi lạc, khỏi sai, khỏi ngờ, tránh chấp, một khi chúng con trưởng thành Phật Đạo, tỏ rõ lối đi dù chúng con hiện tại say mê, ngày mai trực giác. Thưa gởi xong, bỗng nhiên toàn thân Phật Huỳnh Quang rạng rỡ ngay nơi ngực Ngài phát hiện Thanh Quang, Bạch quang tỏa khắp bảo tòa. Ngài nói: Hay thay lời các ông thưa thỉnh có lợi ích cho Chánh Pháp, có một lối sống tu đến tận thành, Ta vì tất cả thị hiện xây dựng cho tất cả. Các ông hãy nghe đây:

Đối với trên con đường Phật Đạo trưởng thành thật là Vô Lượng Công Đức, Vô Lượng Công Năng, nó lại có vô lượng chốn sai chỗ đúng, Vô biên sai lạc, lạc sai, nghi chấp và chấp nghi. Nơi nghi chấp chính là nơi thiếu tinh tấn. Hai lẽ trên trở thành nghi chấp cùng chấp nghi bằng Công Năng Công Đức đầy đủ, Tinh Tấn không ngừng thì làm sao không thành đạt. Công Năng Công Đức Tinh Tấn là chìa khóa giải mê lầm. Nó ví như: Kẻ nọ có đi thời có đến. Bằng chưa đi làm sao đến đặng mà mong. Tinh Tấn nó cũng như thế. Tinh Tấn quá ư hệ trọng, Công Năng Công Đức không vừa. Nên chi Đức Phổ Hiền nguyện độ phẩm tinh tấn, đưa chúng sanh Bất Thối Bồ Đề, giúp Chư Bồ Tát Bất Thối Bồ Tát vào Biển Cả thành Phật. Khi gần thành Phật, đến lúc thành Phật mới chu đáo Phổ Hiền Hạnh là chính yếu đường tu không hai, con đường giải thoát. Vì sao? Vì tinh tấn mới nhiếp thu Tứ Hạnh, hoàn mỹ vẹn vừa Pháp Thân tỏ rõ Thật Hiện mà Chánh Giác.

THẾ NÀO LÀ TỨ HẠNH ?
– Thứ Nhất: La Hán Hạnh.
– Thứ Hai: Thinh Văn Hạnh.
– Thứ Ba: Duyên Giác Hạnh.
– Thứ Tư: Bồ Tát Hạnh.

Chung gồm Bốn Hạnh được gọi là Tứ Hạnh. Vìsao? Vì Phẩm Hạnh của những Bậc A La Hán, gọi là Hạnh Tướng Phật. Nếu an trụ tướng ấy thành đạt Tướng Phật thời gọi là Bích Chi Phật, bằng tu hành Hạnh La Hán nó lại tùy nơi tu chứng cấp bậc an trụ thì Chánh Báo từ hàng Thiên Tiên, Địa Tiên, trở nên Ứng Hiện Trực Hiện Tam Thiên, Đại Thiên Thế Giới gọi là Tam Giới.

Bậc tu La Hán Hạnh, nương nơi Tứ Hạnh Tu cầu Chánh Giác thời, tận dụng Kinh Điển làm ngón tay chỉ, xem Kinh cốt Liễu nghĩa không chấp tự kinh thâu nhận Trực Giác, gọi đó là thực hiện Thinh Văn Hạnh.

Bằng tùy Duyên cảnh thuận nghịch mà Trực Giác. Không vì Thuận, chẳng vì Nghịch, tâm phân đối chướng ngại nơi Tịnh, Bất Tịnh mà thối chuyển chấp nghi, duy nhất trực giác mà đặng, gọi là thực hiện Duyên Giác Hạnh.

Khi Ba Phẩm Hạnh trên đầy đủ, đương nhiên phát tâm dũng mãnh vào con đường tu hành Bồ Tát Hạnh. Vì sao? Vì Hạnh Bồ Tát tùy căn mà trực hiện Bổn Lai diện mục nơi Bồ Tát. Khi Bồ Tát trực hiện Ứng Thân nơi Bồ Tát, Bồ Tát giả mê, như nhiên có Phẩm Hạnh đầy đủ có uy nghi có những lời chánh đáng nằm sẵn Tự Tánh của Bồ Tát xuất ra, không lệ thuộc giáo điều, nhưng không làm hại Kinh Pháp của Đức Thế Tôn hướng dẫn. Vì sao? Vì những lời trực giác kia toàn lời thị hiện Chư Phật nay Bồ Tát thừa hành nên phát lời nói ấy. Các ông chớ nên phê phán lời trực giác, tự giác nói ra, hoặc giả chấp nghi mà dừng trụ thời không bao giờ đến quả Bồ Đề, nay Ta vì thương các ông nên nhắc nhở để các ông khỏi tổn thương con đường tu đạt. Ngài vừa nói đến đây thời trong hàng Thinh Văn Duyên Giác cùng La Hán, Chư Thiên đều đứng lên thưa gởi:

Bạch Đức Phật Vương chúng con đang đi trên đường nầy, chúng con đang đứng trong đàng nầy, chúng con đang tu trên con đường nầy. Nếu chờ cho mãn kiếp, nếu chờ cho đúng thời, nếu đợi cho đến lúc, chưa gặp đặng Phật, chưa gặp đặng Đại Tăng thì mới làm sao tu cầu Chánh Giác? Xin nhờ Đức Phật Vương cứu giúp chúng con khai thị.

Ngài liền phóng quang nơi Pháp Đảnh, tỉa ra chín dòng quang, nét mặt tươi đẹp vô cùng tận, nở nụ cười tựa như triệu nghìn hoa đàm xòe cánh Ngài nói: May thay! May thay! Các ông là những Bậc gặp lúc, những Bậc đặng gieo căn duyên lành vô triệu kiếp bị lung lạc trong các lối đi, gặp Bậc Thiện Tri Thức chỉ đường hướng dẫn thì làm sao lạc lối mà sợ sệt van xin?

Ngài vừa nói đến đây tất cả vui mừng vô kể, đồng Đảnh lễ, đồng chiêm ngưỡng, đồng ái kính chẳng khác cha lành cứu bày con đói khổ. Các tuần Trời reo tiếng nhạc, các Cõi Tiên trải hoa đầy đủ màu sắc, toàn là các giàn hoa qúy nhất thảy đều trải đến cúng dường. Ngài lặng yên thọ ký Công Đức cho tất cả, Ngài nói:

Các ông hãy nghe, các ông hãy thọ trì đọc tụng, Tứ Hạnh đồng đẳng như nhau, không lớn chẳng nhỏ, không cao chẳng thấp, bằng thiếu khuyết một trong Tứ Hạnh khó mà thành. Phải chăng các ông đã đặng sự đồng đẳng tu hành thực hiện Tứ Hạnh mà Giác Ngộ Chánh Giác chăng? Tất cả đảnh lễ thọ trì, phụng hành kính bái.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1985,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

5. DƯỚI MẮT THIỀN SƯ ĐÃ TỪNG SÁT THẬT

Duới mắt Thiền Sư: Đã từng sát thật. Ta đã từng thấy, bộ óc đã từng xem xét, dù nói ra họ đang bị sanh vạn kiếp, mãi theo đuổi thụ sanh, làm sao cho lời Ta nói thật.

Họ ngỡ thế gian là khổ, họ chỉ mong thoát khổ nơi tâm khảm hoài mong làm như thế nào thoát khỏi trần lao, họ tu trong một kiếp tu, chưa bao giờ nghĩ đến hiện tại, nơi hiện tại lướt qua hóa giải đặng thoát sinh. Họ mong tu giải thoát cầu lấy giải thoát, nhưng chưa bao giờ giải thoát, khắc phục để thực hiện, mỗi một khi bị va chạm đến chỗ của họ đã từng thụ sanh.

Dù cho họ tin tưởng ngoài thế giới loài người có chẳng biết bao nhiêu thế giới sung sướng thanh nhàn đẹp đẽ gấp trăm nghìn lần nơi nhân thế. Họ mơ ước đến nơi đặng sanh trong cõi đó bằng ước mơ tưởng niệm, chớ chưa hóa giải cốt tu đạt đến chỗ Giác Niệm.

THẾ NÀO LÀ GIÁC NIỆM.

Giác Niệm là những bậc đã từng huân tập, biết tỏ rõ, làm Thiện được sanh Thiên an hưởng, làm ác phải sa đọa làm thân trâu ngựa, sống trong hoàn cảnh cực hình, do đó nên chi làm Thiện bằng cách nào vẫn thụ sanh trong chốn Thiện mà thụ hưởng, còn Ác phải sa đọa vô cùng. Chính Ta đã từng sát thật hai nơi nên tư tưởng dung thông thanh thoát thiện căn, đào tạo Thiện Chí, truy tầm giác niệm về với chính Ta mà đặng thoát sinh bất diệt.

Ta không vì Thiện mà an trụ, không vì ác mà thù hận ghét vơ, cũng không vì tốt tham cầu, nơi xấu vứt bỏ, từ nơi thực hành quen thuộc, ban đầu Ta cố gắng để dung thông đến giai đoạn, mới nhận thấy quen lần sống nơi Bản Chất, nó làm cho Ta bất ngờ nghĩ lại, thời chính Ta đã hóa giải vạn triệu lần lướt qua từng giai đoạn thụ sanh, nếu Ta đứng lại nó không chấp, vẫn bị thụ sanh trong chấp không vậy.

Ta nhịp nhàng kiểm soát từng duyên Khởi Sanh Diệt, Diệt Sanh, mới nhận chân nơi nó, cuộc sống hàng ngày chẳng biết bao sanh diệt, khi mơ màng chưa phân định thời tìm công việc hằng ngày để làm cho giải cơn tịnh biệt, vì tịnh biệt là nơi an trú trụ sanh của lười trễ nằm yên, phải làm chủ động thụ sanh tịnh biệt.

Nương nhờ nơi chủ động vạn pháp nên không Trụ Chấp hai bên có không Thiện Ác mà huân tập đặng Giác Chân, lần nơi Pháp Giới Hành Thâm, cốt làm sao đặng thâu nhận Giác Tánh. Ban đầu tu như thế, thực hiện như vậy, huân tập nhiều Giác trở thành Đại Giác. Nào ngờ đâu đã từng, từ đầu đến cuối chỉ có Thụ Sanh và Thoát Sinh qua từng Sanh Diệt không trụ chấp mà hoan hỷ Giác Niệm, mới hay Niệm Giác nó diễn hóa thay đổi từ thân tâm hồi sanh Giác niệm.

Khi toàn thân đều hóa, lý trí viễn thông, theo thứ lớp tỏ rạng, mới hay nơi chốn thụ sanh, trở thành bá thiên vạn ức nơi chốn, nơi nào chốn ấy, từng lớp lang thể chất của nó đã sẵn, vì Bổn Lai Diện Mục của nó như thế. Tại bản thân mình nuốt nó vào thì nó hóa như thế, biết làm sao mà nói nó đặng. Chỉ trường hợp nuốt nó vào rồi kinh nghiệm, lại nhả nó ra, giác Chân Tướng nó, được gọi là Giác Niệm, đến khi đầy đủ toàn khắp, gọi là toàn thân hợp hóa tận thành./-

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1983,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

4. THIỀN SƯ HẠ SANH NĂM 1918…

Thiền Sư hạ sanh năm 1918 đến năm 1983, gần bốn mươi năm mới nói lên sự thật. Tuyệt tác thay! Tài liệu Phật Đạo, mục đích đưa Nhân Sinh với Vũ Trụ giao thông hợp hóa, con người mới thành Phật. Bằng chưa hợp, chưa bao giờ thành Ngài nói thẳng.

– Vũ Trụ đối với con người, con người đối với Vũ Trụ.

– Phật Đạo với con người, con người với Phật Đạo.

Đề tài nầy con người và khoa học từng nêu ra, khoa bút những nhân tài đã từng viết thành tập. Nhưng chưa đúng với mục tiêu, chỉ nghiên cứu nơi học giả, bề vỏ bên ngoài sanh diệt. Vẫn có lắm bậc thực dụng tài liệu trên con đường tu Phật chưa nhận chân cụ thể làm thế nào tận Giác?

Khi con người Giác mới công nhận tuyệt tác tài liệu Phật Đạo là một ngón tay thực tế chỉ cho con người với Vũ Trụ đồng đẳng Giác Chân.

Thiền Sư nhìn nơi cây cảnh, nhìn đến con người cùng thế giới, Thiền Sư nói: Đời đang làm, tích cực để làm. Vũ Trụ vận chuyển không ngừng nghỉ, Ta đồng làm tất cả làm xong rồi để đó. Ta xuôi dòng làm, tùy thuận làm cốt tỏ thông tận Giác Vũ Trụ và Ta.

Ta nói những gì khi Ta đang nói, con người chưa rõ lời Ta, vì thế giới chưa đạt đến cơ cấu trình độ biện minh, đều cho Ta nói bậy. Khi đã có biện minh chứng từ của Thế Giới với con người. Nếu Ta nói, họ đồng cho Ta là kẻ nói Hùa. Dù Ta đang sống thế hệ với con người, lời Ta nói là lời rỗng không vô tận. Ta nói, chỉ Ta biết, Ta nghe, Ta cùng Vũ Trụ cảm thông, Vũ Trụ nhờ Ta nói hộ, chưa phải là Ta chưa biết nói, chỉ nơi con người chưa tin lời nói của Ta, nên chi chưa nghe đặng lời Ta đang nói, hay đã từng nói để rồi nghe.

Lúc Ta sắp nói, nhìn từ Nam đến Nữ, già trẻ bé lớn, thấy họ chỉ ngó ngang, ngó dọc, tốt lắm họ ngó trên đầu van vái, họ lại ngó xuống từng lớp người, họ thích nghe giọng nói để họ cười, họ kiêng họ sợ bị chê, họ ưa nghe lời nói mê nên chi lạy lục, lễ bái cầu vái linh thiêng, xin đủ lợi quyền, chưa nghe đặng lời Ta nói. Đối với họ thường gây rối. Lạ thay! Chẳng cho Ta nói dối hay thật, chăm chỉ chật vật cứ tu.

Ta ngồi suy nghĩ kỹ, vạch thật tỉ mỉ, Vũ Trụ đối với con người, nói đủ chứng từ, may ra họ ừ hử. Nhân Sanh khai thác thử, cốt thoát sanh đường sanh tử. Nơi hiện tượng mượn Giác Chân Như. Nơi danh từ, ừ trực giác.

Thiền Sư nói: Thế Nào Vũ Trụ Đối Với Con Người.

Vũ Trụ với con người thảy đều một thứ, một thể tư cách, hành động thảy đều như nhau, không sai biệt, nó nhịp nhàng từ nơi trên của Vũ Trụ, đến bậc dưới nơi thế giới con người, chẳng sai biệt mỗi một li nào cả. Do nơi con người bé nhỏ chưa nhận định đặng bản chất thể tánh hiệp hóa, trong thân mạng của con người cùng vũ trụ, phải đặt thành bộ để khám phá vũ trụ. Từ vệ tinh nhân tạo kiểm sát đến bộ máy đo lường điện tử đủ các thứ vật chỉ học theo máy móc, nơi con người sáng tạo ra nó, rồi phải học nó. Thật buồn cười thay! Lắm chuyện tiếu lâm con người đối với vũ trụ.

Phải chi con người tự thân tâm hóa cải chế biến bộ máy vệ tinh ngay bản thân mình kiểm soát kiềm chế, ngự chế, liền thông đạt vũ trụ với con người, đồng linh cảm nhẹ viễn thông, chừng ấy muốn đi nơi nào chẳng đặng, muốn đo lường tầm mức thấp cao, biết sự vận chuyển giao tế rành mạch lại nhìn đặng hình ảnh đã có từ trăm nghìn năm nay thấy đủ. Lúc Tứ Đại thân mạng phân chia làm xong một kiếp, thoát sanh nơi chốn chính mình quyết định, liền như ý nguyện, làm như thế có hơn không?

Hãy nghe Ta nói: Vũ Trụ linh động siêng năng tinh vi, nhờ thế mới thành hình hoàn mỹ từ lâu. Còn thế giới con người, mãi xây dựng củng cố vẫn chưa toàn thiện mỹ. Vũ Trụ lại có Thiện chí áp dụng thanh thô tế nhị bồi đắp hoàn thành nên cơ cấu, tự động chia ra nhiều phẩm. Hành tinh là cơ cấu, hành tinh có đủ cở lớn nhỏ hẹp rộng, tròn méo, nhờ có đủ phẩm hiệp hóa trở thành Siêu Phẩm.

Nhìn nơi hư không Mặt trời, Mặt trăng cùng các hành tinh, lấm tấm như thế, nó rời rạc xa nhau, nhưng rất khéo léo, đã so lường tỉ mỉ trọng lượng tinh vi mà các hành tinh vận chuyển giao tế cung cấp tương trợ cực kỳ tinh xảo, phải dùng bộ máy, những bộ máy thật là tối tân mới biết đặng. Nói đến siêu phẩm đã hình thành, do các hành tinh buông Tỏa hỗn hợp, đôi mắt nhân sinh không thể thấy, nó hòa với hư không trên thượng tuần đến trung tuần đã có Chất với Phẩm. Lúc trở thành Chất Phẩm thì nó đã thuộc về vi rồi, nơi máy siêu điện tử dùng tín hiệu đều là Vi Chất Phẩm.

Từ nơi Phẩm, đều nương nơi các Hành Tinh, mỗi Hành Tinh có một Phẩm Đặc Biệt Thể Phẩm của nó, phối hợp mà trở thành Phẩm hoàn toàn đủ Phẩm, cũng có thể gọi là Chung Hoàn Phẩm, để cho dễ nhận định mà thôi.

Nhờ chỗ biến phẩm, hóa chất nó mới tùy nơi trọng lượng cung cấp cho mặt trời, mặt trăng và quả đất còn nhiều nơi cung ứng nữa. Sự cung ứng rất tinh xảo toàn diện hoàn toàn phù hợp để cho các Cõi như Cõi Trời, Cõi Nhân, các Cảnh Giới Thiên Tiên, Tiên Thần Thánh Hóa cho đến Tịnh Độ không thể nào kể nổi, sự linh động tùy thuận cung cấp nơi thể chất của Phẩm Đặng.

Đứng nơi con người để nói, thời vũ trụ có trọng trách nuôi dưỡng, kiến tạo hợp hóa thanh khí, còn quả đất tỏa hơi hòa hiệp thành không khí để hiệp theo hơi thở không sai với sự sống con người.

Nói như trên để làm chi? Để chỉ thẳng trong thân thể tứ chi đầu não con người. Nếu con người kiểm soát ngự chế đặng sự hoài vọng phức tạp, liền nhẹ cảm, linh cảm nhìn nhận chính nơi trí hóa của mình đã nhìn thấy nơi siêu phẩm cùng lý sự linh động di chuyển hòa hợp khéo léo. Có sẵn như thế con người mới sáng tạo, phân định ráp từng bộ phận các bộ máy trở thành những bậc Máy Điện Toán, thu thanh, phát thanh, thu hình phát hình trưởng thành văn minh kiến tạo. Cho nên ta nói: Con người và thế giới chỉ biết làm, làm xong để đó, chớ nào biết đặng chính bản thân sáng tạo ra nó, thời ta có thể biết đặng nơi tinh vi khéo léo tuyệt tác, nơi Vũ Trụ cùng với ta đồng đẳng, ta có thể làm đặng những gì mà Vũ Trụ đã sẵn có làm, chính thân mạng nơi Ta đã biết, nơi biết để mà làm, cùng với làm sẽ đặng biết.

Vũ Trụ rất giàu mạnh đầy đủ phẩm, đặng Cơ Chế nhiều chất phẩm. Còn nói về Tiềm năng mạnh thì thật Vô Kể. Nhà khoa học hiện đại đã từng tìm được sức mạnh tỏa chiếu ánh sáng nơi mặt Trời, có tầm số thật khủng khiếp, thật tinh vi. Nhờ nơi sức mạnh của các Hành Tinh Mặt Trời và Mặt Trăng với quả đất, nên mới giao tế tiếp nhận nhau, hóa hợp để tự động biến phẩm chất cơ chế, sống động Vũ Trụ với con người.

Khi Ta nói quá tầm mức, con người chưa lãnh hội đặng, cứ Tin nơi Ta thực hiện sẽ biết nhiều và rộng thêm. Thật ra nói chung gồm là Vũ Trụ, chớ Vũ Trụ nó rộng lớn bao la, tầm rộng lớn nơi nó không thể nói hết. Nên Ta chỉ kể hiện tình và hiện cảnh con người đang sống, đặng sống trong vùng Thái Dương Hệ, còn ngoài vùng hay bá Thiên vùng khác sẽ hiểu sau, không lo chi không hiểu, cứ thực hiện liền hiểu biết tận tường lời Ta nói thật.

1. VÙNG THÁI DƯƠNG HỆ.

Các hành tinh chiếm đóng, có hệ thống sắp xếp tinh vi khéo léo. Mỗi một vị trí của một hành tinh, đều xa nhau bao nhiêu không phận, tùy nơi Tiềm Năng xuất phát của nóng lạnh mức độ, tránh phẩm từ trong hành tinh phát ra, không bị va chạm nhau, tận dụng nơi hòa hợp làm cơ bản tượng hình để chiếm đóng. Tựa như mặt Trời , mặt Trăng phải đóng xa quả đất, nhưng có đặc điểm tinh vi là mỗi một hành tinh quan hệ gọi là Trung Ương thì có bao nhiêu hành tinh khác đóng chung quanh để đồng nhau xoay vòng tiếp nhận, phối hợp tỏa ra giao tế thu phẩm và tỏa phát phẩm. Nhưng khi thu vào hành tinh thì nơi phẩm khác với lúc tỏa ra. Nói chung lại tất cả thảy đều cơ chế các phẩm hợp ứng dung thông chung khắp nuôi dưỡng chung với vùng Thái Dương Hệ, còn ngoài vùng Thái dương hệ không giao tiếp nhau đặng.

Mặt ngoài vùng Thái dương hệ có vòng đai bao bọc, gọi là Quản Chấn, vòng quản chấn nầy nó không khác mấy với đường xích đạo cùng vòng đai khí quyển bao bọc quả đất. Nhưng nó tùy thuận nơi đường thẳng kính của lớn, nhỏ, rộng, hẹp mà phát hiện theo tỉ lệ tinh vi của nơi ngự chế hình thành bao bọc. Nhưng có thể nói: từ vùng nầy không thể xuyên qua vùng kia được, vùng kia không xuyên qua đặng vùng nọ, vì chưa đồng phẩm nên không thể tiếp nhận để xuyên qua.

Nhưng nó vẫn nương tựa nhau hình thành chia ra nhiều vùng trải khắp Vũ Trụ sống động tự dung dưỡng, tự quản lý củng cố, phát hiện củng cố, trở thành có lớn có nhỏ, rộng hẹp khác nhau nơi vùng.

Không khác con người đang sống chung với con người trong xã hội. Mỗi một con người đều củng cố tự ngã, tự ý phát triển về trình độ tư cách, khó mà giao tế cảm thông đồng định hướng nhau. Trừ trường hợp có người ưa ngó ngang, ngó dọc, liền hợp tác những kẻ ngó ngang ngó dọc giao cảm để giao tế nhau. Có bậc thích ngó trên đầu hay ngó xuống từng lớp con người, để cười, kiên sợ bị chê, họ ưa nghe những cái mê liền thông qua cùng nhau giao cảm với nhau, mới giao tế nhau hành sự động tác với nhau. Trở thành xã hội lớp nầy đồng nhau, lớp nọ bất đồng nên chưa mấy ai hiểu biết chung nhau xây dựng thực tế để mà vui sống cả. Chỉ có Thiền Sư đã từng giao cảm giao tế với tất cả lớp con người. Thiền Sư biết từng tâm tánh để giúp đỡ, hành sự giúp đỡ, cốt rõ biết đến thật biết, do nơi đó Thiền Sư nói, chưa chắc họ cho Thiền Sư nói dối hay thật mà họ vẫn tin lời Thiền Sư nói để tất cả chật vật cố tu. Nhờ như thế nên chi Thiền Sư mới Thông Đạt Tận Thành, rõ tỏ tất cả mỗi một Cõi, hoặc cảnh giới nào, nó phẩm chi, chất gì, Thiền Sư hiện hóa nơi đồng phẩm mà xuất định vào thăm chơi cõi ấy, cảnh giới nọ, rất tự tại vô ngại. Còn đa số nói xuất định xuất hồn đi chỗ này nơi kia, chưa chắc đã làm như thế nổi. Vì sao? Vì do nơi tự ngã củng cố nên chưa thực hành đặng.

Từ một vùng Thái Dương Hệ đem so sánh với quả địa cầu chẳng khác nào mỗi một con người đem ra so với mỗi một nước, thời quả địa cầu chưa thấm vào đâu trong vùng Thái Dương Hệ. Dù cho con người ấy mất hoặc giả quả địa cầu tan rã thời chưa chắc trong vùng đã biết được ta mất một địa cầu.

Ta nên căn cứ vào một chỗ nhỏ để hiểu biết nơi rộng rãi bao la. Những kẻ ưa thích bao la lung lạc hiếu kỳ là kẻ điên.

Từ một nước ta đang ở cho đến hàng triệu con người. Trong nước con người hợp tác tạo thành cơ xưởng sản xuất mặt hàng, liền có nhiều mặt hàng đã sản xuất, do nhiều cơ xưởng nên đặng nhiều mặt hàng. Từ từ mỗi một hành tinh động tác như một mặt hàng, nhiều hành tinh trở thành nhiều phẩm hợp chất, có phải như nhau chăng?

Mỗi một nước vẫn tùy nơi năng lượng tài nguyên phẩm chất phong phú hay chưa đặng dồi dào phong phú mà phát triển cơ xưởng sản xuất mặt hàng nặng nhẹ, bằng dư ra thời bán, nếu thiếu lại mua thêm, chẳng khác các hành tinh thu nhận cùng buông tỏa sản phẩm. Từ mỗi một nước nhỏ lớn cho đến hàng trăm nước trên quả địa cầu trở thành hoàn cầu thế giới, đối với Thái Dương Hệ bao gồm vẫn như nhau.

Nói đến con người, mỗi một người đều có một đặc tánh, ở trong một nước có hàng năm chục triệu hay một trăm triệu người, liền có hàng triệu triệu đặc tánh khác nhau, ngoài ra các khía cạnh đột xuất chưa kể, nên mới xảy ra thuận nghịch, hòa cùng chướng đối, nên chi khi hợp tác phải có kỷ luật bắt buộc mới thành hình, bằng chưa bắt buộc không hình thành đặng. Đối với hành tinh có khác hơn con người về hợp tác sản xuất ở nơi không bắt buộc, tự động nơi đồng hợp đồng hóa không bao giờ bắt buộc, bằng không hợp với phẩm trong thời gian bị phế, gọi là phế phẩm, phải nằm nơi cơ cấu phế phẩm. Do đó nên chi Vũ Trụ toàn vùng hoàn mỹ cơ cấu từ lâu, còn thế giới con người thay qua đổi lại có hàng Thế hệ trong cõi người ta.

Thiền Sư nói: Nếu có ai hiếu kỳ hỏi ta những điều mơ mộng chưa thực thể thì ta lắc đầu cười không giải đáp. Ta vẫn là một con người, con người biết được Cơ hóa phẩm chất đồng đẳng Vũ Trụ. Cơ chế y như Vũ Trụ đã từng cơ chế lớp lang thứ lớp các cảnh giới và các cõi, từ nơi thượng đẳng đến hạ sanh trong huyền cơ Vũ trụ.

Từ nơi một con người cho đến trăm con người đứng với Ta, mỗi một khi con người ấy muốn cho ta cơ chế trở thành Tiên Thần Thánh Hóa, tùy lý trí sở nguyện Ta liền chỉ cho để thực hành, một khi biết nhận định nơi thực hành thì cứ việc làm mà tỏ rõ, do nơi trực giác nhiều ít mới hóa thân hình thành. Bằng những con người lười trễ chưa thực hành làm, chẳng vươn mình thoát sanh ra khỏi nơi lười trễ, đó chính là thân mạng nó đã tê liệt chết mất từ lâu, chính nơi nó chưa bao giờ biết nó đặng.

Đời Ta, chính nơi ta vẫn phải thường làm, làm cốt đoạt đến chỗ, chưa hiểu biết nghi ngờ thực hành giải đáp nơi nghi ngờ đó mà thành đạt. Nơi Ta có mỗi một chí khí hướng thượng mà nên tất cả sự việc, nhờ nơi hướng thượng mới hỷ xả thân tâm, tha thứ các lỗi lầm kẻ khác đã từng gay rắc rối va chạm đến Ta. Có như vậy, biết nó như thế nên chi Ta tận biết đặng thể chất hóa chất nơi con người cùng tất cả bồi dưỡng hay chính tự nơi thân tâm mình phá hoại. Ta thương hại hơn là ghét vơ. Ta xây dựng hơn là vứt bỏ, nên thường nói: Các ông tự xây dựng thân mạng của các ông, không vị nào có quyền bắt các ông vào Địa Ngục, hoặc đưa các ông lên Thiên Đàng hay nâng đỡ các ông trở thành Vị Phật, chỉ nơi Tâm Tánh các ông tự nâng lấy các ông mà thôi.

Từ cảnh giới Tam Thiên đến nơi Tam Giới, những cảnh giới này đều dung dưỡng cho các bậc là con người cao cống quảng đại bao dung tha thứ cho kẻ lỗi lầm không hờn oán, có bộ óc nhẹ nhàng cùng thanh thoát, phải chăng có hợp cảnh, hợp tình mới Thượng Sanh vào Cảnh Giới, đó chính là một lẽ dĩ nhiên không chối cãi, vì nó đồng Phẩm Chất mới hợp hóa nên hình Thiên hay Tiên Thần Thánh, đến các Cõi Tịnh Độ, nơi kinh điển đã từng nêu ra. Bằng chưa kiến tạo chưa thuần thục sửa thay thì cầu vái van xin có đặng hóa để vào các cõi chăng?

Thật khéo thay! Vũ Trụ điều khiển cơ chế, con người cùng Tứ loài chạy theo hoài vọng nên bị sanh, Vũ Trụ cân đối năng lượng phẩm chất nặng nhẹ mà bổ sung luân chuyển Tam Thiên Thế Giới để lục đạo cuồng sanh. Con người chưa bao giờ đặng biết chính nơi mình bưng ly độc dược tự uống rồi than thở số mạng nơi mình, ngờ đâu chỉ hơn nhau, thua nhau mỗi một tý đỉnh phải chịu hạ sanh thượng kiếp mà làm thân trâu ngựa. Bởi nhân sanh chưa biết, Chư Tiên hoặc Thiên đâu ngờ, từ phân lượng chất phẩm, hơn thua nơi căn nghiệp để phải bị Vũ Trụ bổ sung thành hình trong các cõi.

Đối với Bản Thân Ta, Ta chưa hơn gì nhân thế, Ta chưa bao giờ mong mỏi trở thành Phật Thánh Tiên, Ta chỉ cầu nơi Ta hiểu biết đặng tỏ tường, lấy nơi ấy làm chỗ thường sống, đặng sống nơi Ta. Đời Ta rất kiên sợ thân hình hóa ra ông Phật, hóa đặng ông Tiên, nên Ta thường gìn giữ nhân nghĩa, nhờ vậy mới hòa đồng bình dị, bãi bỏ Tánh kiêu kỳ, cho nên bạn bè thân cận thân hữu không bao giờ hay biết, làm sao nhân thế hay Ta thị hiện.

Ta thường căn dặn những bậc Tin Ta tu hành, các ông tu hành phải thực hành, Thân Kín Nhiệm, Tâm Kín Nhiệm, Ý Kín Nhiệm, chớ khoe khoang, làm như thế Thánh nào hay Phàm đâu biết đặng Chân Giác hiện tiền, chớ nên xưng Thánh rườm rà, Phật nhắm mắt, thật vô ích. Nhưng quái đản, thật quái đản, có kẻ chẳng nghe đặng, họ ưa nhìn tượng Phật để suy tôn chiêm ngưỡng, nhưng Tướng Phật hình dung nào đâu có, chỉ ở nơi Giác Tướng, làm thế nào nhìn trông? Họ liền sanh tâm đồ chúng đảm phá giáo môn, phần Ta thì Ta chỉ cười không nói đặng. Còn có bậc Tín Tâm Nghiêm Túc, nhưng nơi Tín Tâm nghiêm túc nọ chưa có lý trí thoát sanh, chưa đặng hòa đồng Trực Giác, họ tu từng món, họ rõ từng tông, họ không khoát đạt, họ lại vào toàn Pháp Giới, họ chưa thật biết nơi ra hòa đều tận giác.

Đứng nơi tư thế của nhân sanh tứ chúng cho đến toàn thể tứ loài, khó phân định cho đặng thế nào là Tri Kiến. Vì sao? Vì vốn Tứ loài tất cả đều Thấy Biết, còn Thấy Biết nào mới đặng Tri Kiến? Từ nơi một câu tự hỏi cho đến triệu câu tự lòng mình tự hỏi. Có lắm bậc hình thành mường tượng các Giác là Tri Kiến, thì cái Giác nó như thế nào? Tất cả sự việc lý trí tài năng, khả năng đối với Tứ Loài đều có, nên mới phát triển nhịp nhàng đồng đẳng thực hành chung với Vũ Trụ, vẫn từ nơi chưa biết đến hoàn mỹ đặng biết, hiện hành phát triển như thế có phải là Cái Giác chăng?

Những câu tự hỏi cùng những bậc đã từng tu học, đã từng nghiên cứu thoát sanh vươn mình nhưng họ nào có hay biết đặng họ đang bị trị quyền hành bổ sung điều khiển của Vũ Trụ sai khiến trong vòng đai pháp giới mà sanh tử. Họ vẫn khôn, họ vẫn Giác, họ đủ lý trí tài năng cùng khả năng, nhưng tài năng khả năng ấy họ còn đang nằm trong hố sâu Pháp Giới, thì làm sao thoát khỏi quyền bị trị để tự chủ. Vì như thế nên chi nơi thấy biết thảy đều Thấy Biết bị Thấy chớ nào Tỏ Thấy đâu?

Còn như Ta tỏ thấy, nên Ta thấy quân minh đồng đẳng Thâm Tâm đồng đẳng đặng cái biết đồng đẳng, như thế nên mới tận giác Đồng Đẳng gọi là Vô Thượng. Vì nơi đồng đẳng nên mới Vô Thượng, không có nơi nào gọi là cái Thấy cao hơn Ta đã thấy mà chánh giác.

2. THẾ NÀO LÀ CÁI THẤY QUÂN MINH ĐỒNG ĐẲNG?

Thấy Quân Minh Đồng Đẳng mới Tận thấy Tận giác. Tất cả vạn chất đều quân minh, các pháp đều bình đẳng. Không lấy chẳng bỏ, Thị Chứng tận Giác.

- Tánh nó mới thấy tánh, Ta chưa bao giờ thấy, Thị Chứng mới thấy.
- Nghiệp nó giải nghiệp, nó thấy nghiệp, Ta chưa bao giờ thấy, Thị Chứng mới thấy.
- Thiện nó huân tập thiện nó thấy thiện, Ta chưa bao giờ thấy, Thị Chứng mới thấy.
- Ác tương đối Thiện, liền phản chiếu, nó thấy nó, Ta chưa bao giờ thấy nó, Thị Chứng mới thấy.

Lại Nữa: Nơi Tánh nó huân tập kết nạp vạn chất, vạn chất thảy đều vạn pháp bao vây diễn hóa trở thành pháp giới của Tánh, nó biết nó đồng thời thấy nó, Chớ Ta Nào Phải Nó. Thị Chứng mới thấy.

Nghiệp nó cố chấp dừng trụ, trở thành nghiệp. Nó lại ngại ngùng giải nghiệp, nó thấy nó, chớ Ta nào phải nó, Thị Chứng mới thấy.

Thiện nó cầu lấy Thiện, nó làm phước thiện, nó huân tập Thiện đặng an toàn thanh thoát, nó thấy nó, chớ Ta nào phải nó, Thị Chứng mới thấy.

Ác tương đối phản ảnh của vạn chất Thiện, lòng nó kiên sợ, nó đặng thấy nó. Bằng chưa kiên sợ nó vẫn kết nạp vạn Chất ác làm căn, dung dưỡng cá tánh, xuôi theo tự mãn, thời nó vẫn chưa thấy nó, lúc nó đặng thấy nó, chính khi nó phản chiếu nó, nó thấy nó, chớ Ta nào có phải nó. Thị Chứng mới thấy.

Tất cả trong vạn chất vạn pháp, từ nơi Thiện Ác, tốt xấu, lấy bỏ, được mất, có không đều là cơ cấu vòng đai pháp giới. Sự Thấy Biết lầm ở trong Pháp Giới, cao thấp thăng trầm đều nằm nơi hố sâu Pháp Giới. Nếu nhân sanh tứ loài cùng các bậc tu hành bị lầm trong Pháp Giới, ở nơi hố sâu thì làm sao tận thấy Minh Quân để bình đẳng quân minh thoát khỏi Pháp Giới.

Sự lầm này chung khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới rồng người đều phải lầm, dù trí tuệ siêu đẳng cao cống đến đâu vẫn phải lầm. Chỉ trừ công năng mới lần thấu, công đức đầy đủ mà thị chứng. Bằng chính nơi con người hoặc giả bậc Thiên Tiên cho đến hàng Bồ Tát, khi chưa đầy đủ ngỡ chính mình đã Giải Giới thoát sanh, vẫn còn trong vòng sanh tử. Vì sao? Vì Chim Phượng Hoàng kia sanh đẻ ra trứng Phượng Hoàng khi trứng Phượng Hoàng chưa ấp ủ, hoặc giả ấp ủ chưa đúng với chỗ hóa hình hay đã hóa hình chưa đúng thời nở, thời làm sao chim con Phượng Hoàng thoát sanh ra đặng? Đối với nơi thoát sanh vẫn như thế.

Khi bấy giờ Phật Đạo có trọng trách đưa con người nhân sanh tứ loài nên mới khai hóa con người và Tứ loài đặng rõ biết, sự ràng buộc sanh tử, lần hồi tu hành, cốt thoát sanh khỏi Vũ Trụ, làm chủ vạn pháp nên mới nói “Tâm Kinh Bát Nhã” cứu giúp các bậc tu hành thị chứng như sau:

BÁT NHÃ TÂM KINH ẤN CHỈ.

Thấy Tự Tại Bồ Tát, Thời Pháp Giới Tự Tại Bồ Tát chớ chưa phải Bồ Tát. Bằng cho mình Bồ Tát, phải hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa trong một thời. Sáng thấy Ngũ Uẩn giai không, chỉ thị chứng vạn pháp giới khổ ách, liền độ tất cả khổ ách.

Xá Lợi tử! nơi sắc chớ nên bác bỏ dị không, nơi không chớ bác bỏ lại sắc. Vì sắc thị chứng nên mới không. Thị Chứng quân minh đều là sắc. Từ thọ tưởng hành thức thảy đều nằm nơi Thị Chứng.

Xá lợi tử! Thị Chứng pháp liền không tướng mà Giác Tướng. Nơi Giác Tướng nó Bất Sanh, Bất Diệt, Bất Cấu, Bất Tịnh, Bất Tăng, Bất Giảm. Thị cố tựa như không trung, vào nơi Sắc, nơi Thọ Tưởng Hành Thức, cho đến vào Nhãn Nhĩ Tỹ Thiệt Thân Ý, vào Sắc Thinh Hương Vị Xúc Pháp: Vào Nhãn là Giới, nãi chí vào ý thức đều giới, cứ vào Vô Minh vô minh Diệt, vào Vô Minh cốt tận vô minh, có chí vào Lão hoặc Tử, chưa diệt Lão hay Tử vẫn tận, vào Khổ Tập Diệt Đạo vào Trí Diệt Trí. Vào Đắc giải Đắc, tất cả không nên cố trụ. Bồ Đề Tát Đỏa Y Bát Nhã Ba La Mật Đa Cố, Tâm Vô Quái Ngại, vô hữu khủng bố (Tâm đừng quái ngại, nếu quái ngại liền củng cố, bị vạn pháp khủng bố). Hãy dẹp mộng tưởng Niết Bàn, điên đảo cứu cánh Niết Bàn đến quân minh Thị Chứng, Pháp Giới chính Niết Bàn. Tam thế Chư Phật Y Bát Nhã Ba La Mật Đa, Sở đắc Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Những bậc cố tri thực hiện Bát Nhã Ba La Mật Đa, Thị Chứng Đại Thần Chú đến Đại Minh Chú vào Thượng Chú liền Thị Chứng Đồng Đẳng, Chú trừ tất cả khổ, lời chân thiết không dối.

Lành thay! lành thay! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là Cố Tri duyên lành, cẩm nang chỉ đạo quân minh cho các bậc tu hành thọ trì tận giác.

Đến nay Ta chỉ thẳng cái thấy quân minh Đồng Đẳng được gọi là Vô Thượng Đẳng. Tất cả các bậc tu hành phải nương nơi Bát Nhã Ba La Mật Đa mới hoàn mỹ.

Khi các bậc tu thâm tâm chưa thoải mái, còn nghi, còn chấp, chính còn tu. Chớ nên không còn chỗ mà chấp không, chớ đừng không chấp mãi đi nơi Kiến Dục Tăng Thượng.

Dưới mắt Ta, Lý Sự thường hợp hay hóa là Như Nhiên vận chuyển vạn pháp Vũ Trụ với con người, hoặc giả Bổn Lai Diện Mục Như Lai Phật hành dụng. Các bậc lầm lạc thường trú, hay trụ Pháp Giới, bị trụ là nghiệp giới sa đọa luân hồi pháp giới. Bằng nương nơi pháp giới tường tận, không vướng mắc, đó là con đường duy nhất tu Tri Kiến Giải Thoát./-

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1983,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

3. CHÂN LÝ LÀ MÓN ĂN THẬT THỂ

Có vị Thiên Nhân đến thưa gởi với Thiền Sư: Kính thưa Thiền Sư, theo tôi nhận xét, tôi cùng các Chư Thiên thảy đều do nơi tham mà trôi dạt trong sanh tử. Vì nghĩ đặng như thế nên mới quyết tâm lìa Tham tu cho thành Phật. Khi chúng tôi giải bỏ cái tham trên cõi Thiên, lại mang vào cái tham rộng lớn ở Cõi Phật, thì đương nhiên chúng tôi bỏ nhỏ cầu lớn. Đó chính là lời chân thành nhờ Thiền Sư chỉ giáo về cái Tham của chúng tôi đang khó nghĩ. Vị Thiên Nhân thưa gởi xong ngồi lại một bên.

Lúc bấy giờ Thiền Sư mỉm cười hỏi: Nầy Thiên Nhân, Chân Thiện Mỹ của Thiên Nhân lạc mất, nay thật hành cốt để hoàn lai, như vậy Thiên Nhân có tham hay không? Đối với Chư Phật cũng như thế.

Vị Thiên Nhân mừng rỡ, liền nói lên: Té ra Quyền Hạn Giới Hạn nơi mình, mình biết dùng đúng với Quyền Hạn Giới Hạn để đòi lại Quyền Lợi thì chẳng có chi gọi là Tham. Tôi chưa bao giờ được nghe nay được nghe. Thật là Định Tuệ chính môn cứu cánh lầm lẫn, nếu tôi chưa gặp đặng Thiền Sư, chưa thọ lãnh lời chỉ giáo thì dù có vô tỉ kiếp cũng không bao giờ rõ sạch nghiệp Tham. Thật chưa bao giờ được biết nay được biết. Thiên Nhân tán thán xong đảnh lễ cáo từ lui gót. A Nan nên biết: Nếu kẻ tu Thiền Định, nhưng chẳng dừng Tâm Dâm, cũng như kẻ nấu đá sạn mà muốn trở thành cơm, dù cho ngàn kiếp cũng chỉ là sạn nóng, chẳng bao giờ gọi là cơm.

Thiền Định Hạnh: Tức là Hạnh Thiên Thừa. Bậc Tu Thiền Định làm cho trí tuệ mở mang. Từ nơi làm Hạnh có một căn bản rõ đặng từng bậc mà làm cho họ ưa thích Đạo Tràng, ưa thích cái biết rỗng rang cùng khắp. Lại trong lúc gần tất cả bạn bè quyến thuộc cùng tất cả mọi người chẳng có ý khoe khoang. Thân Tâm kín nhiệm để tỏ thấu trong lục Ba La Mật Đa đặng vào biển cả chẳng còn bờ ngăn gọi là Giới Hạn hay chúng sanh giới hạn. Đó gọi là Thiền Định Hạnh.

Đức Thế Tôn Ngài đã vạch sẵn một chương trình tu tập Lý Sự Đồng Song rất tỉ mỉ công phu, không một lời thiếu sót, không một sự nào chẳng tận từ chơn chánh liên hệ với nhau. Từ nơi Phẩm Công Đức đến tu tập thi hành Lục Ba La Mật Đa và Tướng thu nhiếp, gọi là Tứ Nhiếp Pháp. Ngài thường nói: Tướng hay Nhiễm Tâm. Nếu Tướng Sát Đạo Dâm các ông chẳng lìa để tu, thời dù cho trí tuệ Thiền Định chăng, Tâm vẫn tập nhiễm sanh tử. Vì sao? Vì Tướng chính Tâm, lầm lẫn lấy trong bỏ ngoài mà nhận Tâm ra Tướng.

Tướng Thiền Định cũng là một Tướng giúp cho trí tuệ cứu cánh. Tin Phật Pháp, tin chân lý và Tin mình chẳng còn sự nghi. Nó lại giúp cho rõ biết cùng khắp Pháp Giới, đi vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, thâm nhập Bát Nhã Đặng Chánh Giác Chân Nguyên tận từ Nhất Tướng đồng nhất thể trùm khắp Như Tướng vậy.
Nơi Tướng Pháp Lục Ba La chung gồm để thật biết, nó là một pháp môn rất cần cho bậc tu đặng trọn biết chu đáo tỉ mỉ. Vì sự phân biệt để nhận lãnh: Tướng chính Tâm.

DƯỚI MẮT THIỀN SƯ: MỤC ĐÍCH CỦA THIỀN

Trước hết tôi nói về Thiền, mục đích chính của Thiền là để cho Tâm được Tịch Tịnh, rỗng rang Tâm Tịch Tịnh trí tuệ mới phát huy và để thân tâm được hòa đồng với Vũ Trụ. Buổi Thiền ấy mình làm chủ, không để sự cầu xin nào xen lẫn trong buổi Thiền của mình làm giảm giá trị buổi Thiền.

Ví dụ: Lúc các ông ngồi Thiền mà cầu xin Phật gia hộ, giúp đỡ cho buổi Thiền được Định, hoặc giả cầu xin việc này việc nọ, thì chính ra buổi Thiền ấy của tu cầu chứ chẳng phải của chính mình. Mình chỉ biết trong buổi Thiền đó chỉ có một mình mình trong vũ trụ nầy mà thôi. Khi Thiền gặp niềm vui chẳng mừng, gặp việc Dữ chẳng Sợ, thì buổi Thiền được kết quả. Từ buổi Thiền nầy qua buổi Thiền khác, ngày tháng cứ thế tiếp nối đi qua, nếu giữ được quân bình như thế thì Thiền mới cao được. Còn Thiền lơ là, thì Tâm Thần uể oải vì chính nó đòi nợ mình. Nếu các ông tu hành lấy Sửa Tánh làm cứu cánh, Thiền Định làm phương tiện thì chớ nên bữa Thiền bữa bỏ, làm cho thân thể dễ bị mệt mỏi, tâm không sảng khoái thì thân thể bị bạc nhược, các ông bà nên lưu ý.

Từ nơi Bố Thí không kể lể đến Trì Giới Tinh Tấn, Nhẫn Nhục thảy đều Nhất Tâm cố giúp càng giúp mọi người chu đáo bao nhiêu vẹn toàn không cầu Tri Ân Trả Nghĩa, gọi là Trí Tuệ Thiền Định. Nếu bậc nầy có Tu Thiền lại càng qúy, bằng chưa Tu Thiền vẫn có Trí Tuệ sáng soi./-

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1983,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

2. NHÀ THIỀN SƯ KHI TÌM ĐẶNG…

Nhà Thiền Sư khi tìm đặng Thiền Trí duy chỉ có mỗi một khởi đầu. Lúc bấy giờ nhìn nơi thân Tứ Đại nhận thấy trong Thân vô số vi trùng, chia ra nhiều giống vi trùng, mỗi một giống chung hợp nhau mà sống không bao giờ giống này lạc nơi kia mà sống được. Như vi trùng máu sống theo máu. Vi trùng mủ sống nơi mủ, vi trùng nước bọt hoặc đàm đều sống trong thể chất phù hợp đó.Về bản tánh vi trùng mỗi giống thảy đều có phận sự linh động di chuyển của chúng nó, giống nào đều phải theo linh động di chuyển trong thể chất của nó. Chúng nó được có mỗi một cái là đồng nhau linh động, đồng nhau di chuyển chạy đều trong thân không ngừng trệ, thành thử nuôi dưỡng được thân. Thân Tứ Đại nhờ nó mà sống. Nó nhờ thân Tứ Đại được chất dung thông sinh trưởng.

Khi nhà Thiền Sư đã nhận chân nơi thân Tứ Đại bèn đem mỗi một thân của mình so với triệu triệu nhân sanh, mới nhận thấy chính mình là một con vi trùng đang sống trong vũ trụ đồng với Nhân Sinh. Sau khi tự nghĩ nếu mình Tự Ngã cho mình khôn ngoan, tìm đặng Chân lấy mình, chẳng biết nhân sinh đã có một lý lẽ chân chính hơn mình, thì chính mình chưa thấm vào đâu cả.

Từ đó mới dùng Thiền Trí để nhiếp độ những điều chưa tỏ đặng tỏ, những chi chưa biết đặng biết, những chi chưa thi hành nay phải thực hành nhiếp độ Ngộ Nhập ngay nơi mình làm của mình nhập. Những gì chưa chu đáo nay hoàn mỹ chu đáo, không còn tu trên ảo vọng xa xuôi để cầu Giác, mà ngay nơi thật hành Chánh Giác.

Nhờ nơi Diệu Quang Sát Trí mà thật biết chúng sanh nó chẳng phải là Nhân Sinh, mà chính chúng sanh đang ở trong thân Tứ Đại gọi là chúng sanh tính. Chúng sanh Tính ấy chẳng đâu xa lạ, chính nó là các giống vi trùng trong thân mạng. Khi chúng diễn âm trong thân thì đương nhiên nhà Thiền Sư phát sinh tư tưởng. Tư tưởng có bao nhiêu thì chủng tánh Vi Trùng đều có bấy nhiêu. Thiền Sư thực hành thông thái bao nhiêu thời những giống Vi Trùng khôn ngoan bấy nhiêu. Đến lúc nhà Thiền Sư thành Phật thì các vi trùng Trưởng thành Bồ Tát Quốc Độ.

Nhờ Thiền Trí sáng soi thân tâm để phá mê thường chấp mà trực giác Sở Đắc Tam Muội Pháp Môn, Nhiếp Độ Nhân để thật tỏ rõ tư tưởng hiện nó đang lầm nhận chính là chẳng phải của nó.

Bậc đã đến mức Thiền Định nhiếp độ Thiên, thì Bậc nầy đã là Minh Sư các Cõi cùng cảnh giới Chư Thiên Tiên Thần Thánh Đạo, du hành cùng khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới mới nhiếp độ, bằng chưa tỏ rõ, tâm đang còn cầu vái van xin thì chưa phải là nhiếp độ, mà đang tu Thiền vậy.

Bậc nhiếp độ Chư Thiên trong Ba Cõi phải Sở Đắc Chân Thiền, tỏ rõ bổn lai thể tánh đồng viên thông Pháp Tánh. Nhờ tận giác như thế, nên rõ ràng Chánh Báo của Chư Thiên, Tiên, Thần, Thánh mỗi nơi Nhiễm hóa thế nào mà trở thành các Cõi, Cảnh Giới. Từ chốn Thọ Ngã thi hành huân tập Tự Ngã để lãnh lấy Thần Thông Tài Phép ra sao thảy đều tỏ rõ, tỉ mỉ tường tận không sai chạy mà nhập Chánh Định Tam Muội Nhiếp Độ Thiên.

Bậc tu Thiền và bậc chưa tu Thiền, Cái Biết vẫn đồng đẳng nhưng Tánh Biết khác xa vời vợi. Bậc Tu Thiền nhờ nơi Tánh Biết mới có thể biết được Vũ Trụ Nhân Sinh. Về tín ngưỡng các hành tinh đến Vũ Trụ Nhân Sinh hay Thiên Sinh, Tiên Sinh nơi hành tinh nào vẫn có mỗi một Tâm Tín Ngưỡng in nhau nhưng xướng danh tôn sùng mỗi hành tinh khác nhau. Nếu chưa lập Đạo Hạnh như thế thì dù cho có Tu Thiền một ngàn năm cũng chưa xê dịch. Bậc Tu Thiền đã từ di chuyển Thần Thức đến Cảnh Giới nào thì thân liền đồng ứng hiện, hợp chung in như người trong Cảnh Giới đó không sai tí nào cả. Từ ngôn ngữ đến Hạnh Kiểm như nhau, nhờ thường ra vào xuất nhập hàng trăm ngàn Cảnh Giới cùng các Cõi như vậy nên Sở Đắc Hiện Nhứt Thiết Ngôn Ngữ Tam Muội và cũng nương nhờ Tự Lợi Tha Lợi nên nhận giác được Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội.

Bậc Tu Thiền thật biết từng tư tưởng của Thiên Quan, Tiên Quan, Thần Quan, Thánh Quan đồng với Nhân Sinh Quan đều theo quan niệm từng trình độ mỗi một Cõi hay Cảnh Giới theo nơi Thức Tịnh cực đối tạo thành không thể nào vượt khỏi tầm hiểu biết hơn. Duy nhất chỉ có Thiền Trí mới rõ biết chung gồm giữa mình cùng khắp các Cảnh Giới mà thôi.

Tu Thiền còn được nghe được hơi thở của thảo mộc cùng quả địa cầu, nhịp nhàng di chuyển cho đến các loài chim chung hòa với tiếng gió reo trở thành muôn ngàn câu Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng không ngớt. Đồng với tiếng nhạc Trời của Chư Thiên trổi lên từng lúc thanh bình. Nhờ nghe thấy mà tận biết tất cả đang lầm tưởng sinh mơ ước hoài ảo mà thiếu kém thực thể phát tâm để Tri Kiến.

Bậc Tu Thiền nhờ nhận Tánh để thấy biết, có nhận tánh thấy biết như thế mới tự tánh tỏ tánh nên minh tâm kiến tánh thấy biết dung thông khỏi lầm. Còn bậc chưa tu Thiền cũng dùng cái thấy để thấy, thấy đặng mới biết, chưa thấy thời chưa biết, nên thường bị biết, khi bị biết thì bị lầm.

Bậc Tu Thiền dù có ngồi trong cốc chăng vẫn nhận biết được Nhân Sinh có nơi quan niệm Đúng, có chỗ chưa rõ quan niệm Sai, lầm nơi quan niệm sai chạy theo chỗ sai mà sanh tử, chớ bậc Tu Thiền đã thật biết nơi Bổn Tánh nên quyết định không sai chạy.

Ta có Linh Hồn, đó chính là thật đúng không sai, lúc Nhân Sinh đang cơn mê lầm, chạy theo từng Cá Tánh từng quan niệm đảo điên, giờ phút trước qua giờ phút sau, hai Đức Tánh khác nhau thì hai Cái Ta và hai Linh Hồn. Từ nơi hai Linh Hồn của ta mãi mãi dung dưỡng thay đổi cho đến ngày hôm nay thì mỗi một Nhân Sinh có đến hằng hà sa số vô lượng vô biên cái Ta và cái Linh Hồn, đâu có phải mỗi một cái như từ trước mà nay lầm nhận? Đó là chỗ quan niệm sai.

Bậc Tu Thiền thật biết Thể Tánh của Thiền nếu chưa biết được thể tánh, theo quan niệm mình mà dự đoán để tu Thiền thì sai lạc trở thành Tiên Đạo gọi là bậc khá nhất, ngoài ra còn điên khùng mất trí phổ truyền bừa bãi sa Địa Ngục.

Thể Tánh Thiền thì thuyên diễn đủ mọi hình thức gọi là: Nó Muốn Thế Nào Thì Nó Về Thế Ấy Tùy Thuận Theo Cái Muốn Nơi Nó Nó Đến. Do Thể Tánh Thiền nó như thế nên chi Ngoại Giáo mới có quan niệm sai lạc về vấn đề Xuất Hồn nhập cảnh. Còn về Chân Truyền Giải Thoát thì dụng Thiền để có Thiền Trí sáng soi lìa Bản Ngã, nương theo Vô Ngã nhiếp độ tất cả Bản Ngã Giả Tưởng đoạt đến Chân Ngã Chánh Giác.

Đại Ngã mê lầm liền diễn hóa ra hằng hà sa số vô lượng vô biên Tiểu Ngã Giả Tưởng, lầm mê Thọ Ngã Giả Tưởng gọi là Bản Ngã. Bậc Tu Thiền đúng với tinh thần Chánh Giác thời nương theo Vô Ngã, với mục đích nhiếp độ Bản Ngã. Các Bản Ngã ấy chính là Tiểu Ngã. Khi nhiếp độ hoàn tất hằng hà sa số vô lượng vô biên Tiểu Ngã, thời trọn vẹn Đại Ngã. Có chu toàn Đại Ngã mới có Bát Đại Niết Bàn.

Bằng trong thời đang tu trì thọ chấp nơi Tiểu Ngã nào thì chỉ Chánh Báo hoặc Thọ Báo nơi Tiểu Ngã đó thôi. Khi Tiểu Ngã Giả Tưởng đó còn thì cảnh giới thân mạng còn. Lúc Tiểu Ngã Giả Tưởng tan vỡ thì bị tan vỡ. Bậc Tu Thiền chưa đúng với tinh thần nói trên gọi là Ngoại Giáo. Vì sao? Vì xuất hồn đương nhiên chưa có Tâm Thọ Ngã, nhưng lầm nhận mỗi một Tiểu Ngã huân tập Tiểu Ngã ấy cho đúng với Thiên Đạo hoặc Tiên Đạo. Khi đã thành hình Tiểu Ngã đúng với Tiên thì liền nhập vào Tiên cảnh, còn đúng với Thiên Giới thì đến nơi Thiên Giới. Nên nhớ Tiểu Ngã nó tùy nơi hiệp mà đến thụ thai nơi nó hiệp./-

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1983,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

1. ĐỐI VỚI VŨ TRỤ

Khi Thái tử Tất Đạt Đa, Ngài đứng ngoài tất cả các Tôn Giáo Triều Đại và con người, Ngài nhìn tất cả quán sát quân minh trực giác Vũ Trụ với con người Sở Đắc Thiền Trí. Ngài mới nói: Lạ thật, lạ thật, chưa phải ta vứt bỏ vật chất, nhịn đói tạo lấy tinh thần mà đặng. Cũng chẳng phải xa lìa tinh thần sung mãn vật chất mà đủ. Vật chất với tinh thần phải quân minh, nơi nhìn không nặng nhẹ thời chốn thấy mới Hoàn Lai. Cái nhìn nó như vậy, cái thấy thực thể hoàn lai. Chính đó là: Như Lai Nhãn Tạng. Ngài đoạt đặng Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, Ngài rời Cây Bồ Đề, thành lập pháp môn Như Lai Nhãn Tạng, gọi là Như Lai Thiền trong đạo tràng Phật Đạo.

Môn Thiền là một môn, Đạo Phật dùng để hóa giải tư tưởng, hóa giải ý thức hệ đến Tạng Thức làm cho con người đặng hiểu biết nhìn nhận Vũ Trụ với con người rất tương quan Vô Kể, nhìn đặng tất cả những gì Vũ Trụ linh động di chuyển. Con người là dụng cụ là bộ máy cho Vũ Trụ điều khiển.

Lấy chứng từ nào để hiểu biết đặng sự hóa giải tư tưởng, hóa giải ý thức đến Tạng Thức.

Khi con người biết đặng chữ A, chữ A đứng yên nó là chữ A. Nếu biết chữ B, nó đứng yên vẫn chữ B. Bằng lìa đứng yên nơi nó, đem chữ A ráp cùng chữ B liền hóa thể thành chữ Ba, tư tưởng cùng ý thức đứng yên không tiến bộ lại làm cho con người sống theo ý thức tư tưởng cố định quan niệm nơi mình, nên chi Thiền Môn Đạo Phật là dụng cụ phương pháp hóa giải ý thức, hóa giải tư tưởng nếu con người biết nhận định rộng rải, có Kiến Thức nghiên cứu liền dùng môn Thiền để từ nơi tư tưởng Ý Thức đến Tạng Thức tỏ rõ Vũ Trụ Quan, được gọi là Như Lai Tạng cũng thế.

Do nơi quan niệm khác biệt của con người, bởi con người sống trong ý thức hệ mà phân chia ra từng danh từ theo danh từ quan điểm nên chướng đối với nhau. Từ vật chất đến tinh thần bàn cải trở thành Duy Vật và Duy Tâm, từ Khối Đông Phương, Tây Phương có hai đích suy tầm khác biệt. Nhà Triết Học Tây Phương với triết học Đông Phương chưa đặng thấu nhau giao cảm nhau, vì sao? Vì Đông Phương tự sưu tầm riêng mỗi vị đoạt đến Ấn Chứng Sở Đắc tuyên bố truyền trao, nên phải dụng nơi Tin về tinh thần tu chứng. Còn Tây Phương lấy chứng từ thực nghiệm chung nhau một khối, lớp này sưu tầm thực nghiệm đặng, nếu chưa hoàn tất thời lớp sau tiếp tục thực nghiệm, nên Tây Phương nhìn có sự kết quả con người nhìn thấy, nhưng về sau thường bị hủy diệt. Còn Đông Phương thời tồn tại nhưng khó phát sanh. Vì sao? Vì con người rất hiếm bậc sống động hướng thượng để thi hành, trong đời chẳng biết bao nhiêu tài liệu ghi chép hữu ích cho con người, chẳng biết bao nhiêu sự bày tỏ chỉ dạy cho con người vào hàng Siêu Nhân Thánh Triết. Nhưng con người nào có nghe, họ chỉ nghe những lời không hữu ích, họ tôn thờ những cái vu vơ. Những điều vô căn cứ, họ xem những lối ấy là bảo vật, vì vậy nên chi Bậc Thánh nói cho con người nghe được thật là công năng quá kể.

Đạo Phật đứng trong Hoàn Cầu con người đa số đã biết, nhưng rất hiếm bậc biết đặng Đạo Phật đứng ra ngoài tất cả để kết quả, tất cả Đạo Phật đã từng thực hành trước mọi hoàn cảnh của con người, mức sống bằng tư tưởng tinh thần hay lao động tận lực vật chất, lối sống khắc khe làm nên sự nghiệp hay lối sống giúp mọi người mà giàu có. Đạo Phật hướng dẫn cho con người vào từng lớp để tỏ biết gọi là Hành Thâm Pháp Giới. Lời nói trên duy chỉ có: Dưới mắt Thiền Sư mới nhận định đồng thời nhìn thấy đặng chân thật mà thôi, ngoài ra còn cá tánh khó mà thấy đặng.

Đạo Phật thật biết rõ con người nơi bản thân mình như: Chính Mình Tin Đặng Mình thật khó, nên Đạo Phật dạy con người có một Chữ Tin. Còn tất cả bắt buộc con người phải Tin, hoặc ảo thuật cho người Tin đó là những điểm dưới mắt Thiền Sư biết.

Theo câu nói trên: Chính mình Tin đặng mình thật khó. Vì sao? Vì con người phát sinh cuồng tưởng đảo điên, cuồng tưởng nơi con người ai ai cũng đều có, từ người này phát sinh đến kẻ kia phát sinh, do đó mà đứng trên hoàn cầu xã-hội con người đối với con người, sự xáo động nhiều hơn yên tĩnh, cuộc loạn lạc nhiều hơn thanh bình. Nếu dùng Thần Thánh Hóa, thì con người nó sợ hơn là nó thi hành đến đích. Thần Thánh hóa đối với Đạo Phật chưa phải là mục đích của Đạo Phật hóa giải mê tín đem con người đến Chánh Tín. Nên chi Đạo Phật dạy con người có một chữ Tin liền đến đích thành Phật.

Tất cả con người thời này gọi là Mạt Pháp, nhưng đối với Đạo Phật khai sáng tự bản thân con người mà ra, khai sáng từ nơi lầm lẩn đến chỗ tỏ giác thì làm gì có câu chuyện Mạt Pháp. Duy chỉ con người đứng theo tư tưởng quan niệm mình để thực hành đường lối Đạo Phật bị sai lạc nên mới có tình trạng ngày nay lạc hướng tu sai, tu theo quan niệm mình, lấy lý trí nơi mình định đoạt chiều hướng Đạo Phật, cho Đạo Phật là Duy Tâm, nếu Đạo Phật là Duy Tâm sao Phật bảo lìa Tâm mới giác, bằng Đạo Phật đảm phá Duy Vật tại sao Đạo Phật không cho Tín Chúng ngồi yên, bảo tín chúng nên thi hành Hạnh Nguyện, Phật nói: Lý Sự Tương Song Chân Nguyên Trực Giác như thế có phải Đạo Phật chung gồm tất cả cốt tận giác tất cả chăng?

Nói đến tư tưởng quan niệm sai của con người đối với Đạo Phật thì vô kể, nói đến bản năng ưa chuộng ngồi yên của con người thì đa số có như thế nên mới có những bậc tự cải tạo mình, tự nung đúc bản năng khả năng nơi mình trở thành Công năng vượt qua tất cả mọi trở lực trên hết con người mà trở thành Siêu Nhân, có bậc vượt trên hết con người giúp đở cho con người mới đặng Thánh Hiền, nếu con người ai ai cũng đều biết gía trị nơi vươn mình vượt lên tất cả trở thành cao qúi giá trị Thánh Nhân thì tất cả đều thành Thánh còn đâu con người để mà nói.

Dưới mắt Thiền Sư đã nhận Thấy Biết đối với con người thảy đều không chủ định, nếu bậc đã có Chủ định thời bậc này đã có nhã ý quán sát Vũ Trụ với con người. Dưới mắt Thiền Sư đã thấy biết, nếu kẻ hay bảo thủ bản thân, bảo thủ phe phái không làm ích lợi cho con người thì con người kia tự mình hủy diệt lấy nó, còn bị Vũ Trụ sai khiến lắm điều mà ngỡ mình làm chủ.

Dưới mắt Thiền Sư đã thấy thân con người là một Bộ Máy rỗng không, chỉ có nhìn trên ngó dưới Nghe Thấy Biết tiếp nhận mà Phát Thanh ra để mọi người nghe, ngỡ là của mình. Nên Thiền Sư nói: Nó Vô Ngã nó nào chịu nó Vô Ngã (Không Ta) vì nếu nó Vô Ngã thì lấy đâu nó sống? Nó có ngờ đâu nó là dụng cụ của Vũ Trụ, nó tin lời nói của Thiền Sư, nó gạt lối bảo thủ, lối hiểu biết riêng nơi nó từ bấy lâu nay, đặng lần tiến thâu nhận những gì nó chưa biết, đặng biết những gì khó nghe nó cố gắng nghe, để sự hiểu biết ấy thông đạt, nó liền đoạt đến Vũ Trụ làm cái biết nơi nó. Chừng đó nó mới nhận định được cái hiểu biết kia chính là hiểu biết Vũ Trụ lần đưa đến con người hiểu biết chớ không phải hiểu biết nơi con người hiểu biết. Nếu con người tự xưng chính mình hiểu biết thời chưa biết chi cả.

Dưới mắt Thiền Sư đã biết đặng, cái ta chính nó chung cùng trùm khắp Vũ Trụ. Thân con người bị giả hợp tạo thành làm nên Ứng Thân cho Vũ Trụ. Con người lầm ngỡ thân con người là cái ta chính gốc, nên mới có giữa đôi bên chẳng hòa hợp mức sống Diệt Sanh. Thiền Sư biết như thế khó chỉ thẳng cho con người nên nói:

Nếu Ta cho Vũ Trụ là Khách Quan thì Vũ Trụ cho ta là Quan Khách. Bằng Ta biết Vũ Trụ, Vũ Trụ đồng cái biết với Ta. Đạo Phật nói: Tâm Pháp Bất Nhị, gọi là cái biết nơi ta. Trong ngoài đồng nhất, con người giao cảm với thiên nhiên Vũ Trụ thông thường tại con người chưa biết. Khi có bậc chỉ hiểu biết nơi tư tưởng ưa thích thoát sanh khỏi trái đất, đặng lên Cảnh Giới Tiên Thần hay Cõi Trời. Sau có sự kết quả theo chí nguyện, mới để tài liệu các Tôn Giáo Đạo Giáo đã nói trên nó chính sự thật hiển nhiên chớ chẳng phải thần thoại chi cả vì đối với Đông Phương sự Tu Chứng riêng nơi mỗi vị, làm kết quả tùy công năng mỗi người thành thử có những điều con người khó tìm thấy đặng.

Cái Thấy Biết, dưới mắt Thiền Sư không khác nào con người đang mang Kính Hiển Vi, thấy những loài sâu bọ nhỏ nhất, thân thể sâu bọ ghê tởm nhất mà con người không thể nào nhìn thấy đặng. Cái Thấy nơi Thiền Sư nó rất tế nhị mà rất thật, thấy trong không khí có thực chất Đất, Nước, Lửa, đồng thời có đủ phẩm chất các màu sắc như: xanh - đỏ - tím - vàng cùng hàng ngàn màu sắc thực chất phẩm chất đang quay cuồng với nhau, kết nạp lẫn nhau tùy nơi đồng hợp của nó, liền đồng hóa đủ với các loài cây, cỏ hoa trái. Chúng liền đến kết nạp chung với cây trái, hoa lá mà trở thành màu sắc con người đã nhìn thấy trong cảnh vật này vậy. Khi con người muốn lấy các màu sắc ấy không lấy đâu mà có chỉ lấy lại trong cây mà ra, đến nay khoa học đã thực hiện đặng.

Nơi Thấy Biết, dưới mắt Thiền sư, thấy biết đặng tư tưởng, có hàng một tư tưởng cho đến năm mười tư tưởng trong ngày, tư tưởng phát sinh dài ngắn tùy theo tưởng, tùy theo mức độ của con người, tùy theo sở thích hoặc chưa sở thích nó phát sinh, nhưng mỗi tư tưởng đều có một mục tiêu hướng dẫn tư tưởng đó, còn phần phụ thuộc tánh chất của tư tưởng có hàng vạn chất phối hợp trong tư tưởng. Khi con người kết nạp tư tưởng để phối hợp tư tưởng gọi là: Định Tưởng nơi định tưởng nó tùy theo sự mong mỏi, tùy theo sự khám phá những gì mà con người chưa hiểu biết đang vướng mắc nơi thâm tâm, cốt đem lại nơi giải đáp thoải mái con người. Con người thường dùng tư tưởng nung đúc tinh thần phát sanh ra cảnh giới sau lúc mạng chung đặng về trong Cảnh giới đó. Đó chính là một tư tưởng khẳng định, tư tưởng khẳng định tu Tiên Thần vốn thi hành theo chiều hướng này mà đến kết quả. Bậc Thiền Sư thấy biết tư tưởng nương theo tư tưởng sát thật chân đế tư tưởng, biết tỏ rỏ vốn nó thường tưởng lại hay trú mà trở thành chúng sanh giới. Thiền Sư biết tỏ rỏ, thấy vững vàng không cố định, chỉ quán xuyến để giúp con người đồng thời cứu ngay bản thân Tự Ngã chính mình, gọi là Chánh Định Tam Muội.

Khi Thiền Sư nơi Nghe - Thấy - Biết chân thật không Hai Tướng mới tỏ rỏ Như Tướng, thời dưới mắt Thiền Sư đã từng thấy. Linh Hồn trùm khắp Hư Không Vũ Trụ Giác Linh cảm ứng nơi Linh Hồn, con người chưa nhận định đặng nơi tư tưởng khởi sanh, phải lần theo khởi sanh khởi diệt tỏ thấu tư tưởng Bất Diệt mới có Cảm Ứng Linh Hồn cũng thế.

Trong câu chuyện Linh Hồn, chính là một phương thức khó giải, Vì sao? Vì linh hồn kết nạp, tạo thành đầy đủ mới hiện sinh, nên khó giải, nó không khác mấy với Nguyên Lực Điện Tử, nên chi có vị Thiền Sư nào chăng nữa giải nói đến Linh Hồn Chân Đế, thì sự kia cốt cho con người có cảm giác, chớ chưa thể nào nhận đặng, vì sự nhận chưa đồng, trình độ chân giác chưa có thành thử chưa chung một lối thấy, chỉ dùng cái nghe thêm nơi đó, có cái Tin lời nói, để tạo thành đôi mắt Thiền Sư, chừng ấy mới tin Thiền Sư đã chỉ về Linh Hồn Bất Diệt. Khi con người đến thật biết tỏ rỏ linh hồn bất diệt thì con người đã đoạt Chánh Giác thoát khỏi Vũ Trụ đối với con người.

Đạo Phật đã chỉ Linh Hồn không hai tướng, Linh Hồn Tối Thượng sáng suốt bất biến, quang minh bất tận, con người thường chiêm ngưỡng là Thượng Đế. Phật Đạo cho đó là: Đại Ngã cái Ta duy nhất. Còn về phần cái Ta trong thân mạng con người hoặc tất cả sanh vật thảy đều là cái Ta tạm bợ gọi là: Tiểu Ngã Giả Tưởng. Nơi Tiểu Ngã Giả Tưởng chẳng khác nào yến sáng của Viên Bảo Châu, Còn Đại Ngã nó như Viên Bảo Châu vậy.

Dưới mắt Thiền Sư thường gọi Linh Hồn là Như Lai, tại sao được gọi là Như Lai? Vì Linh Hồn nó như vậy. Nơi lên xuống của con người Thể Tánh nơi Linh Hồn vẫn Lai Hoàn, nên chi linh hồn trùm khắp Bất Tận không chỉ đặng gọi là Như Lai.

Nơi Thân Mạng của con người đến thân mạng các loài, khi kết nạp thành hình đầy đủ như nhiên có Nghe - Thấy - Biết. Sự Nghe Thấy Biết chính là từ nơi Đại Ngã Linh Hồn thể hiện để đồng ứng thân mạng, tùy theo thân mạng đáp ứng. Không khác nào tạo thành chiếc Máy Điện, chiếc máy ấy tùy theo khả năng Điện lực mà xuất phát. Do sự đáp ứng, phát xuất từ Như Lai - Đại Ngã thể hiện đến con người cùng các loài như thế nên được gọi là Ứng Thân. Theo sự Ứng Thân đó Đạo Phật mới nói: Tất Cả Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh. Do con người cùng các sanh vật đồng nhất với Vũ Trụ nên con người mới có thể nhận định đồng tiến đến thông đạt Vũ Trụ làm Chủ Vũ Trụ vậy.

Thiền Sư thật biết. Tại sao gọi là con người với Vũ Trụ đồng nhất? Vũ Trụ có đầy đủ vạn triệu chất kết nạp chung hợp với nhau, liền trở thành cái Biết. Còn con người cũng vạn triệu chất kết nạp chung hợp với nhau tạo nên Thân Mạng liền có cái Biết. Vũ Trụ là Biển Cả. Con người là giọt nước, nơi giọt nước kia tuy nó nhỏ bé nhưng đồng thể chất với Biển cả, nên gọi là đồng Nhất.

Thiền Sư tự biết nơi Bản Năng khả năng của mình, tự hiểu từ tư tưởng này sang tư tưởng nọ nơi mình, từ chỗ chưa hiểu lần nương đặng hiểu về mình, càng hiểu càng biết đặng Vũ Trụ với con người nhịp nhàng để hiểu nhau. Do đó nên chi con người đứng trước nhiều cảnh, nhiều tình gay cấn càng hiểu biết càng nhiều, sự cảm tưởng để phối hợp tư tưởng gọi là: Định Tưởng nơi định tưởng nó tùy theo sự mong mỏi, tùy theo sự khám phá những gì mà con người chưa hiểu biết đang vướng mắc nơi thân tâm, cốt đem lại nơi giải đáp thoải mái con người. Con người thường dùng tư tưởng nung đúc tinh thần phát sanh ra cảnh giới, sau lúc mạng chung đặng về trong cảnh giới đó. Đó chính là một tư tưởng khẳng định, tư tưởng khẳng định tu Tinh Thần vốn thi hành theo chiều hướng này mà đến kết quả Bậc Thiền Sư thấy biết tư tưởng nương theo tư tưởng sát thật chân đế tư tưởng, biết tỏ rõ vốn nó thường tưởng lại hay trú mà trở thành chúng sanh giới. Thiền Sư biết tỏ rõ, thấy vững vàng không cố định, chỉ quán xuyến để giúp con người đồng thời cứu ngay bản thân tự Ngã chính mình, gọi là Chánh Định Tam muội.

Đôi lúc Thiền Sư tự hỏi: Có phải vũ trụ là Minh Sư ta chăng? Phải vũ trụ là Minh Sư khi ta đã chấp nhận, ta đặng vũ trụ làm mục đề hướng dẫn đưa ta từng hiểu biết Cảm Thông. Nếu ta tự hào Ta Khám Phá vũ trụ thì Ta chưa bao giờ khám Phá con người nơi Ta đặng, có đâu đi đến khám phá vũ trụ. Khi đã khám phá đặng ta, thì chừng đó vũ trụ đương nhiên Ta tỏ thông được biết, đó chính là lời Thiền Sư quyết định.

Dưới mắt Thiền Sư nhìn nhận Đạo Phật đầu tiên nhất, Con người phải tự soi lấy mình trước tiên, con người phải khám phá những gì nơi mình trước hết, vì con người là Tiểu Vũ Trụ, vì con người là giọt nước biển đồng chất với biển cả, vì con người là Chủng Tánh có sẵn không khác mấy với Như Lai. Con người có đôi lúc Biết Nói, nhưng chưa biết nhận lời nói. Tại sao biết nói, nhưng chưa nhận đặng lời mình nói? Tại mình hay nói, chớ chưa Thực Hành theo lời mình đã nói, khi con người thực hành lời mình đã nói, chừng đó mới thật mình Biết nói.

Con người cứ mãi tìm xem Linh Hồn mình nó ra sao? Nó như thế nào? Hình dáng nơi nó tròn vuông dài hay ngắn, sáng hoặc tối đủ phương thức nghĩ ngợi suy tính nhưng nào có thấy được đến nó. Có bậc nhẹ tính hay nhìn quần chúng để rõ tánh tình quần chúng gọi nó là Giác Linh. Có bậc kiểm điểm tư tưởng chia phân tư tưởng từng khối nọ đến khối kia, lập ra trận đồ tư tưởng gọi linh hồn là Tiềm Thức Thứ Sáu hay A Lại Gia Thức kết thành bộ Duy Thức để biện minh Linh Hồn, thật ra Linh Hồn trùm khắp không có chỗ chỉ chính là Như Lai, nên dùng cái thấy trùm khắp để quán xuyến linh hồn Bất Diệt thì dùng đôi mắt Như Lai Nhãn Tạng Thiền Môn mới minh xác đặng, bằng lý đoán khó triệt thấu.

Khi con người nhìn thẳng thân tâm mình nhận định tỏ rõ tư tưởng tánh tình nơi mình di chuyển từng lúc từng hồi nhịp nhàng trước vạn lối. Có khi Nóng Giận Vui Buồn, có lúc tinh thần đẹp tươi vô kể, có khi trực giác thông hiểu hoàn cảnh của con người đối với mình, có lúc lại cho con người thế nầy thế nọ đủ trăm phương vạn cách giữa con người với chính mình.

Liền được hiểu biết nơi thân có linh hồn sáng suốt bất động quán xuyến tất cả. Nhưng bị thay đổi sống động vì tư tưởng con người chưa tỏ giác, nên chưa nắm vững tư tưởng, phải chạy theo tư tưởng, thành thử loanh quanh hiểu biết. Nơi bản thân nó khởi sanh vạn tưởng, chung vào đó nó lại có tánh với tình diễn hóa mãi không ngừng trở nên sanh diệt, diệt sanh nhịp nhàng chẳng dứt. Bậc trí tạm hiểu nó sanh diệt, bậc Thiền Sư tỏ tánh nhờ nhìn nhận thấy biết đặng nó có rất nhiều chất kết nạp nhau trở thành bản chất vận chuyển trong thân mới đặng Nghe Thấy Biết, cái Nghe Thấy Biết chưa phải là Linh Hồn Tối Thượng, chính nó là một mục tiêu cho con người đoạt đến Linh Hồn Tối Thượng.

Thiền Sư thường nương theo Tánh Thấy, đoạt đến Chân Tánh Thấy không hai tướng, bèn dùng Tưởng Quán Như Lai soi thấy các Cõi Vô Hình, đối với con người chưa thấy được, Thiền Sư đã thấy.

Làm thế nào nương theo Tánh Thấy, đoạt đến cái thấy Chân Như Thấy Không hai tướng để nhận được các Cõi Vô Hình trước con người chưa thấy, mà Thiền Sư lại Thấy?

Khi Thiền Sư Thấy, Thiền Sư chưa vội chấp nhận cảnh thấy nơi mình là thật. Từ nơi tư tưởng phát sanh cho đến tư tưởng diệt, từ nơi bản Tánh phát khởi cho đến bản Tánh thối lui, Thiền Sư thảy đều soi sáng từng lúc từng hồi để nhìn thấy tư tưởng, nhìn thấy bản tánh nơi mình. Khi Thân Tâm rõ thấu tận cùng tư tưởng, tận cùng bản tánh của mình cùng với nơi con người trùm khắp, Thiền Sư đặng biết tỏ rõ, nhưng đối với con người làm sao biết đặng. Lúc con người thay đổi nơi Thấy là do tư tưởng hiệp tánh Thấy trở thành cái Thấy nơi con người, cho nên đối với con người nhìn thấy nơi chung quanh mình toàn là Hoàn Cảnh tái diễn bao vây. Còn đứng hàng Bồ Tát thời nhìn thấy Vạn Pháp xoay chiều Thuận Nghịch phản chiếu, nên Bồ Tát nhiếp thu vạn pháp. Đứng nơi Phật Trí nhìn thấy Diệu Dụng Như Lai, Hạnh Nguyện Bồ Tát nó như thế, đó chính là Thiền Sư đã thật rõ quyết định.

Đứng trước hoàn cảnh con người, con người thường chấp nhận là có Ma, nên đến nhờ Thiền Sư cứu giúp. Thiền Sư vẫn gật đầu chấp nhận cứu giúp. Như thế thì Hồn Ma đã có nên Thiền Sư mới chấp nhận, nếu không có Ma thì Thiền Sư chối từ nào có gật đầu hứa chịu.

Khi bấy giờ Thiền Sư đến nơi để giúp, giúp rất kết quả hoàn mỹ. Tại sao lại có Ma, quả nhiên đúng như thế? Vì Thiền Sư đã điều ngự Bản năng, điều ngự Ma Tánh nơi chu thân Thiền Sư, Ma Tánh ấy dưới sự điều khiển của Thiền Sư, nên chi Thiền Sư vừa đến nơi ngoại cảnh và thân tâm Thiền Sư giao cảm phối hợp nhau liền có một Loài Ma, từ nơi thân Thiền Sư phát ra, đứng trước mặt Thiền Sư thưa gởi: Kính thưa Thiền Sư Loài Ma nơi nhà nầy, nơi chốn nầy: Trước kia đang còn tại thế bản tánh hay gạt gẩm kẻ khác để thỏa mản ăn uống nhu cầu mình cho sung sướng. Sau bị nhiều kẻ mắng nhiếc la rầy, chẳng biết hối cải, chỉ một lòng thù hận liền xẩy đến việc chém giết, nên trở thành Loài Ma phá rối. Chính bản năng nơi con ngày trước cũng như thế, nay nhờ Ngài hóa giải nên con mới đặng như ngày nay. Vậy Ngài cho con được phép cứu giải cho hắn. Thiền Sư gật đầu, niệm chú chấp chận. Loài Ma nơi Thiền Sư, cùng với Loài Ma bên ngoài nói năng chốc lát, hàng phục liền hóa sanh, loài Ma phá phách được siêu độ. Đó chính là một việc Thiền Sư cứu độ vậy.

Có một hôm Thiền Sư đến trảng núi, đến khu rừng đang ngồi an dưởng. Bỗng nhiên trời mây u ám hơi lạnh bốc ra, âm khí nổi dậy làm cho cây lá chuyển mình, tai nghe tiếng rên rỉ thảm thê in tuồng van lạy, mắt thấy khói đen pha lẫn trắng xanh đang quay quần bên Thiền Sư. Thiền Sư thật biết vong hồn u ẩn đang cầu cứu những gì, nên chi Thiền Sư tay bắt ấn, niệm khẩu chú, sau lúc đó có một Quái Tặc nơi thân Thiền Sư hiện ra vòng tay thưa thỉnh : Kính thưa Thiền Sư, khu rừng và dãy núi nầy, bảy trăm năm về trước. Có một bọn Quái Tặc cướp bóc, giết người chẳng gớm tay, chúng chưa tin hậu quả là gì, miễn sao chúng cướp cho nhiều của cải, chúng hoành hành tàn nhẫn. Đến sau đó trận cuồng phong, cây rừng doanh trại của chúng bị tàn phá, lương thực của chúng đều hư hại, không còn đủ cho chúng tiêu dùng, phần thì Quan Quân lúc bấy giờ đang chăm vào chúng, dân dã khiếp sợ chúng chẳng dám vãng lai, làm cho chúng nhịn đói chết lần. Khi ấy chúng hối hận, chúng nói: Tiền bạc Ngọc Vàng không thể nuôi ta đặng sống, chỉ có gạo thóc với tình thương mới bảo toàn thân mạng chúng ta mà thôi. Hôm nay chúng gặp phải Thiền Sư, Thiền Sư có nhiều đức tánh giao cảm đồng ứng nên chúng biết mà đến mong nơi Thiền Sư cho lệnh mà Siêu Thoát chúng. Tôi xin thừa hành lệnh chung cùng nói năng chúng, cũng chuộc lại tội lỗi nơi tôi ngày trước có chủng tánh Quái Tặc như chúng, thưa xong Quái Tặc đứng lại một bên chờ lệnh. Thiền Sư gật đầu, miệng phát ra tiếng Thổ Âm, tất cả khu rừng chuyển động. Tự nhiên trời thanh gió mát, không khí trở lại bình thường. Bọn Quái Tặc được siêu độ vào Thiền Âm Tự tu hành, ngày sau siêu thoát.

Theo như thường lệ, Thiền Sư đi Bát xong trở về Tịnh Thất. Đến đầu làng chỉ có một con đường duy nhất vào làng. Bỗng nghe tiếng hét la của thiếu nữ, vẻ mặt thiếu nữ sợ hãi, miệng đang gào. Sau lưng có một số người đuổi theo thiếu nữ, thiếu nữ vừa chạy giáp mặt Thiền Sư, thiếu nữ dừng lại nhìn Thiền Sư in tuồng cầu cứu. Thiền Sư bảo: Con hãy quỳ xuống, thiếu nữ ngoan ngoản quỳ trước mặt Thiền Sư. Lúc bấy giờ vẻ mặt Thiền sư trang nghiêm khó tả, Thiền Sư đưa tay ấn chứng, miệng lâm râm ấn chứng, xong bảo đưa thiếu nữ về yên nghỉ, thiếu nữ hồi tỉnh trở về.

Đến mấy hôm sau, thiếu nữ cùng đi với bà cụ đến Tịnh Thất lễ bái. Thiếu nữ quỳ thưa: Kính Bạch Thiền Sư. Hôm trước con đi ngang qua Miếu Võ, đương nhiên con thấy một khối lửa từ trong miếu bay ra, con phát sợ, thân mình rung chuyển, con nhìn thấy khối lửa không còn thấy rõ ràng Vị Thần hung tợn vươn hai tay định bắt con. Con đâm đầu chạy hét la cầu cứu, con chạy trên tất cả gai, chạy qua gò mả như chạy ở đất liền, Vị Thần chưa chịu buông tha, con càng chạy nhanh bao nhiêu thì Vị Thần chạy mau bấy nhiêu sát gần đến con. May thay gặp Thiền Sư giải cứu. Đến giờ phút này con quỳ trước mặt Thiền Sư vì con tin lời mẹ con bảo chớ tâm con đang nghi ngờ. Vì sao? Vì hôm trước con gặp Vị Thiền Sư chưa phải là Vị Thiền Sư ngày nay con gặp. Lạ thay! Lạ thay. Vị Thiền Sư con gặp, vị ấy có rất nhiều tay, đầu Ngài đội Kim Khôi, mình Ngài mặc Huỳnh Giáp, hào quang sáng tỏa một vùng, tiếng nói khác thường trong thiên hạ, làm cho vị Hung Thần sợ hãi đảnh lể Ngài, buông tha con, hiện tình bây giờ con đang phân vân chưa biết giải. Tại sao cái Thấy lúc đó đến nơi Thấy bây giờ khác biệt. Kính mong Thiền Sư cứu mạng con bằng tư tưởng ổn định cho con yên tâm, thưa thỉnh xong ngồi lại một bên.

Thiền Sư suy nghĩ. Ta có nên nói thật không? Nếu ta nói chủng tánh giả tưởng làm sao Thiếu Nữ nghe đặng. Nếu như ta nói Thiếu Nữ có tính nóng đồng thời gặp đặng hai tánh hiệp nhất hóa sinh ra nơi thấy đồng đẳng làm sao Thiếu Nữ hiểu đặng.

Nếu Ta nói ta dùng Thần Thánh hóa thân Chuẩn Đề thu phục Hung Thần thì làm sao Thiếu Nữ tin nghe đặng, nếu Ta nói hiện giờ Ta ngồi đây, nhưng lát nữa Ta hóa thân ra khi có người đến dự kiến, hoặc nói mỗi ngày như thể Ta tự hóa ra trăm thân trở về với một thân thì Thiếu Nữ kia nào có hiểu được tí nào. Nói như thế chưa có lợi, nói như vậy chưa có ích lại thêm vào Thiếu Nữ Vọng Tưởng đảo điên.

Thiền Sư suy nghĩ liền giải đáp: Nầy Thiện Nữ, tính nơi Thiện Nữ tốt có tạo phước nhiều, nên chi gặp phải Hung Thần xẩy ra điều không hay, liền gặp Đức Chuẩn Đề ứng hiện bên Ta mà cứu mạng. Vậy kể từ nay cho đến sau, Thiện Nữ nên Niệm Phật, nên tu tâm sửa tánh giải tỏa những tánh nóng cầu lấy chư Phật gia hộ, nghe xong Thiếu Nữ mừng rỡ trở về tu tâm sửa tánh thành con người hiền đức.

Tại sao lại có Hồn Ma cùng Hồn Quái Tặc đến hồn của Hung Thần từ nơi thân Thiền Sư xuất hiện để cứu độ như trên đã nói? Chính Thiền Sư thật biết toàn thân nơi con người, có một Linh Hồn duy nhất bất diệt, ngoài linh hồn Bất Diệt còn có bá thiên vạn triệu Bản Ngã Giả Tưởng, gọi nó là Tiểu Ngã.

Con người lầm tưởng Tiểu Ngã Giả Tưởng kia là Linh hồn mình, nên nương tựa theo giả tưởng để sống nơi lý tưởng, thường tưởng, định tưởng, chớ nào biết sống Linh Hồn Đại Ngã Anh Linh bất diệt. Vì vậy nên tìm không tỏ rõ, không thể nào ra Linh Hồn bất diệt. Nhưng giả tưởng đó chính là chủng tánh nó chia ra nhiều lớp, nhiều giai cấp, nhiều thứ tự, nhiều cử chỉ trạng thái khác nhau diễn giải không hết đặng, nó có từ Phật Chủng đến Thánh Chủng qua Tiên Thiên Chủng, Thần Thánh Chủng cùng yêu tinh Ma Quái chủng, Vì nơi lầm ấy mà con người tạo thành Tam Thiên Tam Giới, Lục đạo các cõi các Cảnh Giới, gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, trong Tam Thiên còn có rất nhiều Cảnh Giới, nhiều cõi, nhiều loài sinh sống khác biệt nhau như: Thế giới có loài đi ngang, có loài đi ngửa, loài đi đứng, loài đi nằm, loài đi ngược, loài đi bò, loài đi lết, loài đi trườn, loài đi nhảy, loài đi khum, loài vô trí, loài vô thức, loài vô nhân, loài vô tác, loài vô định, còn hằng hà sa số các Cõi các Cảnh Giới không thể nào nói hết.

Con người đang bị sống theo Tiểu Ngã Giả Tưởng đương nhiên phải dùng tưởng để mà sống, ngoài ra không còn cách chi khác nữa. Con người trong Bá Thiên Vạn Tiểu Ngã lầm chọn lấy một Ngã là linh hồn mình thì đương nhiên phải tùy thuộc nơi Ngã ấy cho nên đứng trong phương diện mà nói: Thì chọn lấy Ngã nào phải tùy thuộc nếp sống từ cử chỉ đến ngôn hạnh nơi Ngã đó mà hành sự. Nếu có ai chỉ trích rằng: Ông thế nọ hoặc Ông thế kia, làm như thế là sai, thì người ấy liền cãi không chấp nhận nơi sai của mình, trái lại phản đối sự chỉ trích trên. Từ các bậc Thánh với con người, từ bậc Hiền Triết Siêu Nhân với con người nó khác nhau như thế nào? Nó có khác hơn con người ở nơi lìa Ngã Tưởng nhiều ít mà thành chớ chẳng khác hơn con người chi cả. Còn bậc Đại Ngã Tối Thượng khác hơn con người ở nơi thu nhiếp hàng phục tất cả Giả Tưởng về với chính mình điều hành Giả Tưởng không mắc miếu lấy một giả tưởng. Chẳng khác nào một lãnh tụ chung khắp toàn dân, lãnh tụ có quyền điều khiển chớ chưa phải lãnh tụ là người dân.

Cứ nhìn theo lời nói trên để tự con người được biết. Trong thân thể con người có rất nhiều Giả Tưởng Bản Ngã, mỗi Giả Tưởng là một chất nơi nó, con người dung dưỡng tánh chất ấy, sau khi nó thành hình nó đã trưởng thành, thân mạng con người suy yếu đến mãn phần, gọi là Chết thời con người ấy nó về nơi nó đã từng vun trồng nuôi dưỡng. Lời nầy đã từng nói nhiều nhưng con người chưa lãnh hội đặng, mà Đạo Phật đã giải xong trên bước đường Sanh Tử Luân Hồi.

Đạo Phật từng biết con người lầm lẫn, con người vốn sẵn đồng thể với vũ trụ, đồng chung với vũ trụ, đồng hành với vũ trụ, đồng có Linh Hồn Tối Thượng y như vũ trụ, đồng di chuyển linh động, từ hơi thở, đến hơi nóng, tánh sạch, cứng cõi và mềm dẻo như vũ trụ không khác.

Vũ trụ đã biết sử dụng. Còn con người chưa biết sử dụng nên mới bị sanh chớ chưa được sanh như vũ trụ sanh ra con người.

Tại sao vũ trụ biết sử dụng?

Vũ trụ biết sử dụng nên trong vũ trụ có hằng hà sa số thế giới, các thế giới từng lớp lang thảy đều sống theo lớp lang của mình chẳng bao giờ lộn xộn. Vũ trụ biết sử dụng thể hiện ra từng loài, mỗi loài thảy đều có tác động nơi nó chẳng bao giờ tác động khác nhau. Từng nơi hiểu biết từng loài cho đến sự hiểu biết từng cõi, từng cảnh giới, từng địa phương, từng trình độ, từng hoàn cảnh mỗi mỗi thảy đều có thế hệ đều có trí tuệ, đều có linh tánh, đều có trực biết, đều có giác nguyên, đều có rốt ráo hoặc giả chưa rốt ráo do vũ trụ biết sử dụng ban hành như thế nào tất cả thảy đều y như thế không sai chạy. Có người lầm tưởng cho lời nói này là thuyết Định Mệnh. Chẳng phải thế đâu, đây chỉ biết nói thẳng, đồng chỉ thẳng Vũ Trụ Biết Sử Dụng. Con người chưa biết sử dụng. Nếu biết sử dụng thì đoạt đến Vũ Trụ Thoát Sanh khỏi vũ trụ.

Vũ trụ còn biết kết nạp, biết hóa chất, biết biến chất, biết phân định, biết dung dưỡng, biết tất cả lý sự dưỡng sinh từng nơi chốn. Có nơi thời ban thanh khí, có chỗ ban thấp khí, có chốn ban không khí. Cứ mỗi nơi, mỗi chỗ, mỗi chốn trong thế giới cùng các cõi, các Cảnh Giới thảy đều tùy thuận khí hậu mà dung dưỡng đủ loài. Lại biết phân định, biết biến chất. Vũ trụ phân định loài cây cỏ nào biến chất hợp hóa chi làm cho các loài cây trái mỗi thứ thảy đều có bản chất nơi nó trên vũ trụ này. Từ nơi hóa chất kết nạp giữa hư không đầy đủ bá thiên vạn ức chất di chuyển kết nạp liền hóa chất cung đốn dung dưỡng cho tất cả Sơn Hà Đại Địa cùng nhiều cảnh giới vô kể đặng.

Một khi Thiền Sư biết đặng vũ trụ biết sử dụng, biết kết nạp hóa chất biến chất, biết phân định dung dưỡng. Thiền Sư liền đem ra áp dụng. Cứ mỗi một Tiểu Ngã phân định nó như thế nào. Mỗi một tánh chất nầy, cùng tánh chất kia hợp giải nó ra thế nào. Từ nơi Hữu Tướng dụng Định Tưởng trở thành Hữu Phi đồng đẳng, kết nạp nhau nó hóa chất, biến chất, thành ra cõi chi. Nhờ như thế mà Thiền Sư mới thấy tất cả thế giới Hữu Vô như thấy bản đồ thật sự.

Lúc Nghe Thấy Biết nơi Thiền Sư tinh nhuệ thì nhìn đâu biết đó, nơi biết không thể diễn nói đặng biết rất tỉ mỉ chân thật vượt tầm. Khi Thiền Sư nói ra hoặc giả viết vào văn tự cũng chưa đầy đủ ý nghĩa để nói lên cái biết chính mình. Dù cho có bậc nghe đặng một phần nào thì phần ấy nó cũng thuộc về giả tưởng đặng nghe thôi.

Có một hôm Thiền Sư cùng một số chân tử đi du ngoạn đến gành đá bên bờ biển. Thiền Sư tĩnh tọa còn số người kia kẻ ngồi ngắm cảnh, người ngó biển khơi, trời mát mẻ, sóng biển vỗ đều đặn, mặt nước xanh xanh, Thiền Sư vớt con ốc Quắn dài độ hơn một tấc, màu vàng nhạt, đặt con Ốc trên lòng bàn tay. Con Ốc ló đầu ra nhìn Thiền Sư, Thiền Sư lẩm bẩm nói: Tại sao ông không chịu ra, tại sao ông xây Bảo Tháp cứ ngồi mãi trong đó. Phải chịu như thế nầy, nên ra, nên ra nhận vũ trụ sơn hà cùng khắp là Bảo Tháp, rộng rãi hơn, thoải mái hơn, hãy ra đi, nên ra đi. Thiền Sư vừa dứt lời con Ốc bò ra khỏi vỏ, bò chuyền trên tay Thiền Sư. Nhẹ nhàng Thiền Sư đặt con Ốc xuống nước.

Lạ thay! Lạ thay! Con Ốc trước khi từ giả gật đầu in tuồng thiện cảm, Thiền Sư mỉm cười chú Nguyện. Một chốc sau đương nhiên có ngọn sóng dâng cao hơn tất cả con sóng thường lệ, có lưu tâm mới thấy đặng, số người thưa hỏi Thiền Sư.

Kính thưa Thiền Sư duyên gì con Ốc được Thiền Sư chú nguyện, con Ốc bò ra khỏi vỏ xin Thiền Sư cho chúng tôi được nghe. Lúc bấy giờ Thiền Sư trầm lặng chậm rãi đáp: Các Ông hãy nghe đây:

Thời xưa có vị Trưởng Giả họ Chu tên Kỳ, lúc bấy giờ ta là Hàn Sĩ tu trì. Nhân một buổi ta đi qua nhà gặp Trưởng Giả mời vào, lại đãi ta một buổi cơm, cơm nước xong Trưởng Giả nói: Kính thưa Hàn Sĩ, tôi tự nghĩ, đối với tôi có sẵn bạc tiền, có sẵn tất cả tiện nghi không thiếu sót, cứ để nó như thế nầy không ích lợi chi, tôi muốn xây tòa Bảo Tháp, trên thờ Phật, dưới tu trì, may ra thân tâm thoải mái. Ta vừa nghe như thế hưởng ứng tâm thành.

Sau ba năm ta trở lại, tòa Bảo Tháp đã xây xong, Trưởng Giả gặp Ta mừng rỡ, đưa Ta dạo khắp tòa Bảo Tháp, Ta đi từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên. Tòa Bảo Tháp tựa in hình con Ốc ngày nay. Khi bấy giờ Ta có thịnh tình đối với Trưởng Giả nên Ta hứa: Sau này Ta đoạt Vô Thượng, Ta sẽ giúp đỡ cho Trưởng Giả đồng thời Trưởng Giả phải nghe Ta, đến nay lời hứa thật sự mà Trưởng Giả đã nghe đặng Ta, nên mới có chuyện ở nơi trước mắt các Ông.

Tất cả số người đứng lên thưa thỉnh, vì sao Trưởng Giả lại chịu báo thân hình con Ốc. Thiền Sư đáp: Nơi Phước Báo hay chỗ Chịu Báo chưa phải con người đang ở chỗ giàu sang nhà cao cửa lớn mà sau này được đầu thai vào chỗ sang cả. Các ông nhìn như thế chưa đúng với chỗ con người sau khi chết sẽ về đâu. Các Ông nên nhớ bản năng Tâm Thức nơi con người phải vượt qua tất cả tập quán nhỏ nhen, tâm trí thù hận, tánh nết gạt gẫm, cử chỉ điêu thoa, mong sao cho mình có lợi, ngoài ra mặc nhiên không biết đến, lề lối như thế dù cho nơi kiếp hiện tại làm quan quyền hay giàu có cho mấy chăng vẫn bị sa đọa. Khi ông Trưởng giả Chu Kỳ đặng phước báo có cơ hội xây Bảo Tháp thì chính nơi thân mạng ông ấy phải Tâm Thức sửa đổi tánh tình, chớ nên ỷ lại tiền bạc vượt qua tất cả ích kỷ khinh người để tu thì Bảo Tháp mới có giá trị. Chớ cứ ôm lòng Tự Ngã, nuôi mộng Vọng Tham không phát sanh Phước Điền, chưa làm gì cho thân tâm ích lợi, đó gọi là tu Bảo Tháp chớ chưa tu thân mạng. Nên chi trong một thời nơi Công Đức trước nay tiêu dùng hết phước làm gì không chịu báo vào con Ốc.

Kính thưa Thiền Sư vì duyên gì? Vì phước chi Trưởng giả đặng một Kiếp sung sướng như thế? Thiền Sư nói: Các ông nên biết, đứng làm con người luôn luôn mỗi một kiếp nó có một cơ hội, cơ hội ấy nó gặp dịp may phát triển, hay gặp nhân duyên phát sanh, khi có nhân duyên phát sanh chẳng chịu phát sanh thời nó vẫn diệt. Lúc gặp dịp phát triển chưa chịu phát triển vẫn bị đói nghèo.

Có một kiếp Trưởng Giả gặp Đức Nhiên Đăng Phật ra đời, Chu Kỳ Trưởng Giả tuổi đã quá cao, nghe tin Phật, bèn tùng theo với một số người đến lễ bái, lễ bái xong ngồi lại một bên, đương nhiên Chu Kỳ nhìn thấy đôi dép Đức Phật, dưới ghế tòa sư tử bị lệch. Trưởng giả quỳ sát gần sửa đôi dép lại cho ngay ngắn, Đức Nhiên Đăng nhìn thấy, Chứng minh Công Đức một kiếp có nhân duyên, một đời sung sướng. Sự Chứng minh nơi Đức Phật cho Trưởng giả nên mới gặp Ta, đồng thời khởi sanh tâm xây Bảo Tháp. Khi Ta đến lần thứ hai thăm viếng, sau khi Ta đi thời Trưởng giả dùng nơi Bảo Tháp sống cho yên thân, tu trong hình thức an lành chớ chưa biết chính mình phải sửa đổi, như Ta thường nói, Trưởng Giả cứ theo quan niệm tuổi thọ kéo dài khá lâu, đến ngày lâm chung mến tiếc nên chịu báo trong hình thức con Ốc vậy.

Lúc bấy giờ Thiền Sư giảng giải xong, chúng tôi vẫn ngồi yên, trời mát mẻ, tiếng sóng vỗ êm lìm. Thiền Sư nói tiếp....

1. VŨ TRỤ LÀ MỘT KHO TẠNG HÀM CHỨA.

Vũ trụ chính là Kho Tạng Hàm Chứa vô giá, không bao giờ dư thiếu mất mát nơi đâu cả. Vũ Trụ còn tinh nhuệ gìn giữ cất giấu hình ảnh từ ngàn ngàn xưa nay vẫn y nguyên như cũ. Vũ Trụ còn sắp xếp hằng vô vô tỷ Cái Biết khắp nơi trong Vũ Trụ về với trọn Biết của Vũ Trụ, Vũ Trụ còn sắp xếp tỷ tỷ chất phẩm, mỗi chất phẩm như thế có hàng tỷ tỷ thứ bậc, không bao giờ lầm lẫn sai biệt tí nào. Từ một giai cấp của con người nơi giai cấp đó có vạn vạn trình độ ý muốn tư tưởng khác nhau, đối với Vũ Trụ đã sắp sẵn, không lẫn lộn rất linh động tế nhị vô cùng.

Tất cả những vật dụng. Từ cõi Trời đến Cõi người chung khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Khi nó bị hư hao tiêu mất, dưới mắt con người, dưới mắt các cõi cho đó là mất. Chớ đối với Thiền Sư nó vẫn còn, Vì sao? Vì nó vào Kho Tạng của Vũ Trụ, đứng yên hay để yên, đến lúc nó khởi sanh nó liền ứng chất thành ra hình sắc vật dụng như cũ. Cũng như có kẻ hút thuốc lá, điếu thuốc cháy, liền có chất thuốc trong khói thuốc, khói thuốc bốc lên hư không, nó tìm cây thuốc nhập vào gọi là lá thuốc. Các phẩm vật như Trầm hương, các chất đốt thảy đều như thế, từ có Hình Tướng bị hoại tan rã vẫn trở về hư không Vũ Trụ không thiếu sót. Dưới mắt con người không thấy được cho đó là Vô Tướng. Thật ra nó chưa phải Hữu hay Vô chi cả, nói chung lại từ vật dụng của con người cho đến ngôn hạnh cử chỉ và tư cách trình độ qua giai cấp, trong quả địa cầu nầy, đối với con người đã từng sống, đã từng thấy, đã từng nghe, cũng đã từng biết. Khi con người nhìn thấy nó tan rã, đương nhiên tự nó, nó trở về Hư Không Vũ Trụ vào nơi sắp xếp sẵn của nó, gọi là Hàm Chứa, chớ không mất đâu cả. Ví như khi con người nói ra, lúc dứt lời nói, con người ngỡ rằng lời nói kia mất, chớ thật ra nó còn mãi mãi, nó chạy vòng trong Vũ Trụ từng đoàn, quay cuồng trong hư không bất diệt. Chẳng khác nào như cuộn băng thu thanh, khi cuộn băng thu xong, con người không thể nào nhìn cuộn băng biết được nói những gì, phải cần lấy chiếc máy phát thanh thì chừng ấy mới nhận nghe đặng. Đối với con người khi làm, lúc nói, khi dùng, lúc an nghỉ mỗi mỗi đều sắp xếp hư không vũ trụ, đến lúc hợp tình, hợp cảnh nó liền ứng hiện không sai tí nào cả.

2. VŨ TRỤ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI.

Vũ Trụ đối với con người cùng vạn vật, từ hình sắc, đến chưa hiện hình sắc thảy đều nhiếp thu sắp xếp nơi Hàm Chứa Kho Tạng. Vũ Trụ lại là Đại Khoa Học Siêu Đẳng, Đại Triết Lý Thượng Đẳng, tất cả những gì trong Vũ Trụ Tam Thiên Thế Giới Vũ Trụ thảy đều Thượng Đẳng tất cả.

Vũ Trụ trợ giúp cho con người cùng các sinh vật có cái Nghe Thấy Biết tinh nhuệ thần thoại Siêu Nhân, Siêu Thiên, Siêu Tiên Thần mà chính con người cùng các nhân loại không hiểu chi cả ngỡ nơi ấy là của mình.

Thân mạng con người khi kết hiệp đầy đủ liền có cái Nghe - Thấy - Biết, nhờ Nghe - Thấy - Biết làm đường dây liên lạc giữa con người với Vũ Trụ, sự tương quan mật thiết, nơi khẽ động giao cảm trong con đường dây ấy không sai chạy, có những gì Vũ Trụ diễn tiến, Vũ Trụ phát sinh, Vũ Trụ hóa giải thảy đều tương ứng nơi con người với Vũ Trụ.

Nhưng đối với con người hiếm bậc đã biết, họ tự đem tư tưởng cái Nghe - Thấy - Biết nhịp nhàng với Vũ Trụ sai chạy khác biệt, trở thành quan niệm Tư Hữu, đương nhiên nó phải bị riêng rẽ hai khối Vũ Trụ Với Con Người.

Từ chỗ sai này đến chỗ lầm kia làm sao hiểu biết Chân Đế Vũ Trụ con người đồng nhất. Nên chi con người cứ theo tư tưởng sai biệt mà cho là tư tưởng nơi suy tưởng đúng, do đó mới nhìn Vũ Trụ làm Đấng Thượng Đế ban hành, hoặc ông Trời nhỏ phúc, trở nên quá nhiều màu sắc, quá lắm quan niệm theo ý thức mình đối với Vũ Trụ Nhân Sinh, đối với Lý Trí giữa con người với con người tranh đấu.

Đạo Phật cũng phải chịu chung nơi quan niệm của con người trong thế hệ nầy. Chớ con người nào có hiểu Đạo Phật đứng ngoài tất cả lại nhìn chung tất cả mà đặng cái Nghe - Thấy - Biết chung cùng với Vũ Trụ Con Người Đồng Nhất. Đạo Phật đã nói rất nhiều, nói rất rõ ràng cốt cho con người hiểu biết Vũ Trụ với Con Người. Nhưng càng nói nhiều bao nhiêu lại càng rắc rối bấy nhiêu, vì bị trong Vòng Lý đoán của con người sanh ra rối loạn. Chỉ vì con người chưa nhận định căn bản để mà nhận định. Nếu con người có tỏ rõ nơi nhận định căn bản, liền biết nhận định đến cơ bản mà Tri Kiến Giải Thoát, đây là lời nói rất thiết thực Chân Thật đọc giả nên lưu ý.

Đạo Phật tìm phương thức để cho con người chính mắt họ đã trông thấy Vũ Trụ là một Kho Tạng hàm chứa từ Hình Sắc đến chưa có hình sắc thảy đều sắp xếp trong Kho Tạng, cốt con người hiểu biết tường tận đoạt đến Như Lai Tạng, nhờ Trí Tuệ thoát siêu mà hoàn toàn giải quyết Vũ Trụ.

Nên chi mới trao cho con người cố tạo cho đặng Cặp Mắt Thiền Sư, gọi là Như Lai Nhãn Tạng mới có thể nhìn nhận lời trên nói chân thật.

Khi con người khởi sinh Tư Tưởng, tư tưởng khởi sinh, tư tưởng bị diệt đó cũng gọi là chiếc máy nổ chưa có định hướng, tư tưởng tư duy gọi tư tưởng cầu an. Nơi tư tưởng nó có muôn ngàn lối nơi nó, nó tùy theo Bản Năng Khả Năng một khi tư tưởng có định hướng thì nó mới hành sự, gọi là: Tư Tưởng là Mẹ Đẻ Hành Động.

Con người muốn đặng Cặp Mắt Thiền Sư, ít nhất phải theo Pháp Môn Thiền đưa Tư Tưởng có hướng định, đem con người vào một lối Nghe Thấy Biết có tiêu chuẩn, làm con người kia thành một chiếc máy Ra Đa thu nhận, vì con người trót đã lạc hướng Vũ Trụ cùng con người.

Thiền Sư vừa nói đến đây, lại vừa hỏi cùng với giải đáp như sau: Làm thế nào đưa tư tưởng có hướng định? Muốn đưa tư tưởng có hướng định. Trước tiên hãy ngồi xóa hết tư tưởng, cho thân tâm rỗng rang đương nhiên không khởi tư tưởng, nhưng trước mặt vẫn nhìn thấy. Nơi thấy ấy bất luận thấy chi cũng được, gọi là: Không tưởng mà tưởng, không thấy mà thấy, miễn sao cái thấy không khởi, miễn sao cái tưởng không khởi, vì có khởi tức nhiên cái khởi thuộc về Vọng, không khởi đương nhiên có tư tưởng, đương nhiên có nhìn thấy thì mới bước vào nơi thật thể thừa hành Vũ Trụ để mà thấy để mà tự biết, đặng mà đặng nghe. Các ông cũng nên nhận định rằng: Nơi trực thấy, nơi tự biết, nơi đặng mà đặng nghe không có nơi ràng buộc vọng khởi, Vì sao? Vì tư tưởng khởi sanh, liền đó tiếp diễn khởi diệt, hai nơi sanh diệt thảy đều có nguồn vọng khởi thảy đều sai lầm tư tưởng. Nếu trường hợp các ông gặp phải diễn cảnh nào, hoặc giả đứng trước một người nào chẳng hạn mà các Ông dùng khởi sanh để quán xuyến thời các Ông bị sai thấy, vì nơi thấy trong lý đoán khởi sanh Vọng Tưởng, trở thành bị sanh liền có Đối Tượng, bị sanh nghi ngờ, bị sanh đố kỵ, bị sanh vướng vào cá tánh cá nhân. Do lẽ ấy nên chi những bậc Quang Minh Chính Đại nhìn bằng đôi mắt quân minh vô tư quán sát, cốt tránh khởi sanh đối tượng nghi ngờ.

Khi các ông thực hành hoặc tu Thiền Tọa xóa tư tưởng đến nơi, không tưởng mà tưởng, đoạt đến mức đương nhiên không ràng buộc Thường Tưởng đến Định Tưởng, định tưởng nầy gọi là Bồ Tát Định. Còn hàng Tiên Thần đến các bậc tu Tiên dùng Định Tưởng Khởi Định, huân tập định mà thành. Hai lối Định đồng một văn tự, nó khác với hành sự tu hành.

Đối với con người đa số đã sẵn có lối bất chợt thấy, đương nhiên biết, chớ chẳng riêng gì Bậc Tu Thiền mới có, bậc tu thiền cùng với con người chưa tu có khác hơn là nghe thấy, nhẹ biết, cùng với nặng thấy, chậm biết đó thôi. Khi con người lối thấy bất chợt, trực biết tự nhiên cho đó là Linh Tánh hay Tánh Linh cũng thế. Chớ nào ngờ: Phim ảnh đã thu nhiếp sắp xếp hàng trăm năm hoặc hơn thế nữa, nay mình chợt thấy.

Ngày nay khoa học đã tìm ra được loại phim ảnh nầy, nhờ như vậy nên mới sáng tạo Vệ Tinh chụp hình lúc cần đến đỡ tốn hơn là thu ảnh Vũ Trụ đã chụp.
Nói đến sự lần tiến nơi con người, sự khôn khéo kỹ thuật thẩm mỹ con người phát sanh, có lắm bậc lưu ý từ một khởi điểm có triển vọng phát sanh, liền khai thác khởi điểm nương theo thực hành đoạt đến đích phát triển một món vật dụng. Kể từ cái thấy trước cảnh đẹp họ sáng tạo đặng chiếc máy ảnh, sau phát triển đến phim ảnh làm cho cảnh vật linh động, đến sau thu nhiếp nói nhịp nhàng nơi phim ảnh, đến những cuộn băng thu thanh tiếng hát lời ca. Sự phát triển kỹ thuật khéo léo thẩm mỹ nơi con người kể không hết đặng.

Nếu bậc có ý trí nhìn vào món hàng Nhân Tạo nó có cái cao đẹp khác nhau, nó có trình độ tiến hóa mỗi nước mỗi người sáng tạo hoặc phát triển. Khi nhìn đến Thiên Nhiên sáng tạo, thiên nhiên cấu kết từ hạt cát đến viên sỏi qua các dãy núi đều có thẩm mỹ đều có kỹ thuật đều có linh động mỗi nơi khéo léo linh động không thể nào nói đặng.

Con người sáng tạo phát triển. Vũ Trụ cung cấp nguyên liệu, Vũ Trụ hỗ trợ cho con người, con người đặng khôn ngoan lần tiến nhờ Vũ Trụ khai thông nguyên liệu, nhờ khởi điểm phát sanh, nó cứ thế tiến mãi đến chừng con người tiến về sản xuất, về năng lượng phát triển tận cùng của con người liền bị diệt vong xóa mờ tất cả. Do tại sao bị diệt vong? Do năng lượng có chừng. Số lượng kết hợp hóa sanh phát triển có mức, con người vì cạnh tranh cứ mãi tiến, cứ mãi đi, đi đến mức cùng bị vong diệt.

Đứng chung trong Vũ Trụ có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới các cõi Tiên Thần Rồng người từng lớp lớp. Đứng chung Hoàn cầu có các nước Anh, Pháp, Nga, Mỹ, Trung Quốc, Việt Nam cùng các nước khác. Đứng vào một nước có từng giai cấp từng trình độ, từng lớp khôn dại giàu nghèo, đó là một sự thường của vũ trụ.

Nhược bằng trong Vũ Trụ có Phật Quốc không phải là Vũ Trụ mà là Phật Quốc. Nếu đứng trong Hoàn Cầu có một nước nào đó không, ngoài ra không có các Nước thời gọi là Nước Đó chớ chưa phải Hoàn Cầu. Bằng một Nước kia có một lớp người, một giai cấp không từng lớp khác thì nó như thế, nó cũng gọi là lớp con người chứ chưa phải một Nước, đó là sự thường kết nạp nó như vậy.

Nói đến Vũ Trụ với con người. Con người chưa bao giờ biết đặng Vũ Trụ có hàng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Mỗi Thế Giới Tiên Thần mức sống tầm sống vật dụng tinh xảo tốt đẹp gấp ngàn lần thế giới con người. Sự linh động thông thái mỗi lớp cao kiến mỗi tuần trời, mỗi cõi, mỗi cảnh giới đều có chế độ sự nghiệp khác nhau, vì hiểu biết bất đồng nên nó có như thế. Thế Giới con người cùng các Thế Giới Chư Thiên Chư Tiên khó biết nhau, khó hiểu nhau, khó gặp nhau không khác nào mỗi Thế Giới là một giống vi trùng trong thân thể, trong thân thể có bao nhiêu giống Vi Trùng không bao giờ nó biết nhau, không bao giờ nó chung nhau một cái sống, đối với thế giới con người cùng các thế giới cũng thế.

Đứng về Vũ Trụ sanh mà nói, cũng được gọi là Thiên Nhiên Sanh, thì chỉ có Hóa Sanh kết tạo mà thành. Sự kết tạo thiên nhiên chung gồm đủ chất trong Vũ Trụ hóa sanh một giống. Cho nên một giống cây kia cây ấy đã có cái Biết, nếu nó không biết làm sao nó lại hút màu mỡ để nuôi cây thành trái? Khi cây đó héo khô đến mục nát tự sanh con mọt, chính con mọt là cái biết thoát ra khỏi cây.

Thật ra tất cả hiện vật trong Vũ Trụ thảy đều nơi Vũ Trụ hóa sanh, nên chi chất nào con người kết hợp đều có sẵn chất Hóa chớ con người làm sao sáng tạo chất Hóa? Con người chỉ lấy hiện vật có sẵn kết nạp với nhau gọi là Biến Chất, dù cho con người tiến bộ đến đâu, khám phá Vũ Trụ dạo khắp hành tinh, không ngoài thu nhặt hiện vật nơi hành tinh đem về thực nghiệm, nào biết được Phi Vật là chất chứa hóa sanh ra hiện vật. Chỉ trừ ra con người dùng trí tuệ khám phá thân mạng, lúc khám phá xong chừng ấy mới tỏ rõ Vũ Trụ.

Khi con người đã có thân, thì thân ấy bị Vũ Trụ hóa sanh, bị toàn chất trong Vũ Trụ kết hợp thành thân, liền phải bị sống trong thế hệ của con người, cho nên con người tài giỏi tiến bộ đến đâu chăng cũng có quyền Biến Chất hay Hóa Chất chớ không thể sáng tạo Hóa Sanh.

Cũng như con người đã bị sắp xếp vào giai cấp thì con người đó có thể vượt qua đủ trở ngại tiến lần lên từng giai cấp gọi là Biến Chất hoặc Hóa Chất chớ không thể Hóa Sanh thân khác được. Dù cho con người đó vươn mình hiểu biết Siêu Đẳng thành Phật chăng thân thể vẫn y nguyên chờ Viên Mãn nhập Bát Đại Niết Bàn mới Hóa Sanh Bát Đại.

Bản thân thuộc về bản chất con người có thể biến chất không thể Hóa Sanh, Thiền Sư nói đến đây ngưng giây lát nói tiếp: Các Ông cũng nên biết. Tại sao trí tuệ có đủ quyền hóa sanh còn thân mạng không thể Hóa Sanh? Trí Tuệ thuộc về Như Lai Tánh, còn thân mạng thuộc về Phật Tướng, Phật Tướng có quyền nâng các ông từ phàm phu đến Phật Tướng gọi là Biến Thể chớ chẳng phải là Hóa Sanh. Còn Như Lai Tánh nâng các ông rốt ráo viên tịch hóa sanh Niết Bàn.

Nếu các ông dùng trí, trong giờ phút nào đó, các ông chủ quán mình là lãnh tụ Hoàn Cầu, bá vạn binh sĩ, hai hàng quan quân, không ai đến bắt các ông cả. Nhược bằng dùng lời nói đến thân thể của các ông liền bị điên rồ, cuồng vọng lại còn hại đến mạng thân.

Các ông nên lưu ý. Trí tuệ sáng soi tư tưởng kiểm điểm hành sự đã qua cùng sắp đến, tư tưởng sanh diệt chung khắp mọi người và chính mình vẫn đang chạy theo tư tưởng sanh diệt ấy. Tại sao mình vẫn theo tư tưởng khởi sanh diệt mà mình nhìn thấy con người một bên mình có tư tưởng, mình biết được tư tưởng nơi họ? Tại vì chính mình đang theo một Giả Tưởng khác với Giả Tưởng bên kia thành ra nhìn thấy. Nếu đồng một Giả Tưởng thì không thấy. Nếu như chính mình đang ưa thích thân cận với một người nào đó, mình nhìn thấy họ với mình đồng phải, đôi lúc mình nhìn họ có chỗ trái với mình, thì các ông cũng nên soi lại! Họ vốn nhìn nơi mình cũng đồng như mình nhìn họ. Đó gọi là đồng một Tiểu Ngã sai lệch khi Giả Tưởng khác nhau nên mới thấy như thế.

Trên đã nói mỗi một con người có: Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã Giả Tưởng, con người thường bị tư tưởng Giả Tưởng Sanh Diệt từ nơi Tiểu Ngã nầy đến Giả Tưởng nọ không ngừng, nên dụng Trí Tuệ soi từng Tiểu Ngã của một kẻ cố thủ họ quan điểm nơi mình là đúng, đến kẻ kia lại có một Tiểu Ngã khác hơn vẫn cho mình là phải. Kẻ kia nhìn kẻ nọ phê chỉ khen chê. Các ông thử nghĩ mỗi người đều mang vào mình Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã, hết Tiểu nầy đến Tiểu khác mà gay cấn nhau mãi, khi hiệp lúc tan từ tư tưởng đến cử chỉ nó cứ mãi phân trách, nó cứ mãi dị biệt quanh quần tìm chẳng ra lối thoát.

Khi con người có trí tuệ lần qua các Tiểu Ngã lần rõ biết đặng Giả Tưởng là bề vỏ của Tiểu Ngã. Từ nơi hiểu biết nhỏ hẹp, đến lúc tỏ rõ lớn lao không còn dùng trí tuệ nữa mà chỉ duy nhất nhiếp thu cho rõ ràng Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã với Giả Tưởng, liền được gọi là Đại Trí, cũng đặng gọi là Bồ Tát Trí vậy.

Bồ Tát trí phải thi hành cốt tỏ rõ những Giả Tưởng của mọi người, từng lớp lớp người sống theo Giả Tưởng nó như thế nào, tự nó mơ ước ảo huyền đòi hỏi ra sao? Nếu nó hành sự thì tác tệ như thế nào? Bằng nó phát ngôn ý trí Giả Tưởng nơi nó, nhiều người hưởng ứng nó vui mừng ra sao? Bằng họ không hưởng ứng nó tự sanh hờn giận ghét vơ hoặc bắt bớ đánh đập như thế nào? Gây ra Nghiệp Quả Căn Quả ra sao? Tất cả Giả Tưởng Bồ Tát lìa Bản Ngã Tiểu Ngã mà quan sát, mọi người cùng với chính thân mạng mình, đặng thâm nhập thật biết sau khỏi lầm nơi Giả Tưởng Sở Đắc Pháp Giới Hành Thâm.

Khi Bồ Tát Sở Đắc Pháp Giới tỉ mỉ, mới thật biết Giả Tưởng chính là khởi sanh, khởi diệt tư tưởng, tư tưởng sanh diệt thảy đều là Giả Tưởng, Giả Tưởng cố thủ đưa về Tiểu Ngã Giả Tưởng. Sau khi Bồ Tát mới Hành Thâm Bát Nhã, cốt rốt ráo Tiểu Ngã thật biết tỏ rõ Tiểu Ngã mà Sở Đắc Bát Đại, đến tròn Bổn Nguyện viên mãn mà tường tận Niết Bàn, được gọi chung là: Bát Đại Niết Bàn.

Các ông cũng nên biết rằng: trong vũ trụ nầy một vị Chánh Giác rốt ráo Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã mà thọ chứng Bát Đại Niết Bàn rất hiếm. Duy chỉ có một vị chớ chưa bao giờ có đến hai vị, đừng nói rằng đến năm mười vị hoặc giả có hàng trăm vị vì sao? Vì Đại Ngã là một linh hồn Tối Thượng Chánh Giác. Ngoài Đại Ngã có Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã. Mỗi một Tiểu Khác như thế thành tựu lấy một cõi hay một Thế Giới hoặc một Cảnh Giới. Cũng như: Ma Quỷ, Quái Tặc, Tinh Yêu, Rồng Người, Thiên Nhân, A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục, cho đến Tiên Thần, Thánh Phật, mỗi mỗi Tiểu Ngã đều Cảnh Giới, đều là Thế Giới. Kể không thể nào hết đặng, vì Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã có Bá Thiên Vạn ức Cõi và Cảnh Giới. Nhược bằng các ông mỗi ông cố thủ lấy một Tiểu Ngã thì nơi Tiểu Ngã của ông nó có Bá Thiên Vạn Ức Giả Tưởng. Giả tưởng đó nó chu tất cho Tiểu Ngã, nó gìn giữ cho Tiểu Ngã khỏi thoát ra ngoài lập thành một nếp sống về Lý Tưởng của nó mà thành đạt riêng của nó. Nếu có người hướng về Tiên Đạo, tánh tình họ đã có sẵn nhiều ít về Tiên, đến ưa thích tu Tiên, sau khi tư tưởng Giả Tưởng đưa họ đến Tiểu Ngã, họ chấp Tiên Đạo là cao cống là thiết thực hơn cả, khó làm cho họ nhận định được Phật Đạo.

Bằng có kẻ tôn trọng kính cẩn về Thần Linh tư tưởng huân tập thành tựu Giả Tưởng, Giả Tưởng nung đúc Thần Đạo huân tập, họ nhìn nhận Thần Đạo linh thiêng cứu độ hiện hữu là cao cống đứng nhất chưa có đạo nào hơn đặng mà thủ chấp.

Nếu có người khởi lòng Thần Quyền Thánh Mẫu tôn thờ Mẫu, cầu vái giáng bút cơ hoặc trai đàn ứng khẩu, sau khi huân tập Giả Tưởng, phát sanh tư tưởng quá tin, thời nhìn thấy không nơi nào hơn Thánh - Mẫu mà thọ chấp. Bằng có kẻ tin Cô Bà, Thần Cấm, Thần Két hoặc Ma Quỷ, tùy thuận đồng hợp Tiểu Ngã ưa thích liền có tư tưởng tôn sùng, Giả Tưởng tùy theo một nếp sống lý tưởng nơi họ, đồng chấp nhận hơn tất cả, ngoài ra chưa có gì hơn mà thọ ngã.

Nếu có người chưa vào Đạo nào, chưa tin ai cả vẫn sống lập dị Tiểu Ngã, ngỡ rằng như thế là hơn cả tư tưởng Giả Tưởng thảy đều làm như thật để cho người kia yên trí chính mình cao hơn ai cả mà thọ chấp.

Bằng có kẻ không tin Trời Đất, Quỷ Thần, không tin Ma Quái, có làm mới có ăn, chưa làm thì phải đói, liền có Tiểu Ngã in tuồng như thật, tư tưởng giả tưởng vẫn phục vụ cao cống, vẫn phục vụ như thật mà cố thủ.

Nếu có người cho ta đã thành Phật, thành Thánh hay ta Đạo Đức chưa ai bằng, mỗi mỗi nhận định in tuồng như thật, từ cử chỉ đến trạng thái in như Phật Thánh Đạo Đức, thuyết giải toàn Đạo Đức hành sự như Thánh Phật gieo rắc toàn Thần Thánh hóa đem đến cho con người toàn diện mơ màng Phật Thánh chớ hiếm bậc hóa giải rành mạch đem đến sự lợi ích kiến tri.

Những bậc này đa số mơ màng, miệng nói mà tâm chưa biết, thuyết giả như chưa biết soi giả để hoàn chân, thuyết giả nương theo giả ngỡ thật đâm ra cạnh tranh phỉ báng, họ lại lìa Tiểu Ngã mà thọ chấp giả tưởng, họ theo Giả Tưởng nên ngỡ mình thành Phật thành Thánh thành chân tu Đạo Đức. Những bậc này dù cho họ có thành Phật thành Thánh chăng cũng vẫn Phật Thánh Bản Ngã Giả Tưởng thế thôi.

Lúc bấy giờ số người đứng lên thưa hỏi: Kính thưa Thiền Sư. Như thế thì Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Rồng Người, Càng Cát, Đà La Ni, Lục Đạo, Tam Thế hết thảy, cùng hết thảy đều lầm nơi Tiểu Ngã mà trở thành hết sao?

Thiền Sư đáp: Đúng như vậy, đúng như vậy. Vì lầm nơi giả tưởng thành tựu nên mới sanh diệt, diệt sanh trong vũ trụ, nên chi Đạo Phật Đức Phật thường căn dặn: Còn Một Hoa Đốm Là Còn Mê Lầm. Còn một kiến chấp còn sanh tử.

Thiền Sư nói đến đây, nhìn ra biển khơi sóng biển nhịp nhàng từng cơn sóng. Chúng tôi hồi tưởng lại lời nói Thiền Sư. Núi trời xinh đẹp, sóng nước thảnh thơi, chúng tôi mới nhìn lại cuộc đời đang sống trong cơn ảo tượng. Bỗng nhiên Thiền Sư nói: Này các ông, nếu các ông biết so sánh Vũ Trụ với con người nó không riêng, không khác, vì sao? Vì Vũ Trụ có Thể Chất nơi Vũ Trụ, còn các ông nó lại có Tiểu Ngã Giả Tưởng. Từ nơi một thể, chung gồm có Bá Thiên Vạn Ức Chất hợp thành hóa sanh một đơn vị, đơn vị ấy chẳng khác nào như Gió chẳng hạn. Như Nước như Đất, như Lửa đủ các thể. Chất hóa sanh Sơn Hà Đại Địa, Hóa Sanh các nơi trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cùng Cõi Rồng Người đến Sinh Vật Tứ Loài chẳng thiếu sót. Thể chất rất linh động tinh vi tế nhị thanh thô đầy đủ, khó diễn giải cho hết đặng, nên Đạo Phật gọi Thể Chất đó là: Như Lai Tạng.

Thiền Sư nói đến đây, nhìn chúng tôi thấy vẻ mặt của chúng tôi vui vẻ đón nhận Ngài bèn nói tiếp:

3. THỂ CHẤT CÙNG TIỂU NGÃ GIẢ TƯỞNG ĐỒNG NHẤT.

Vũ Trụ với Con Người, tuy hai văn tự, hai thế hệ lớn nhỏ khác nhau, nhưng chính nó là một, vì sao? Vì con người thể hiện Ứng Thân tiếp nối với Vũ Trụ, thừa hành tất cả những gì Vũ Trụ đã có sẵn chưa mang ra đặng thì con người tìm được mang ra. Con người lại lầm tưởng nơi nhìn sáng tạo.

Đối với con người đã sẵn có đường dây tiếp nối với Vũ Trụ, đường dây ấy là Tiểu Ngã Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã Trùm Khắp Vũ Trụ, mỗi Cõi, mỗi Cảnh Giới đều đã có sẵn Tiểu Ngã. Nên chi Con Người Tu Phật có Tiểu Ngã Phật. Tu Thánh có Tiểu Ngã Thánh, Tu Tiên có Tiểu Ngã Tiên, đến tận cùng Địa Ngục vẫn có sẵn Tiểu Ngã của mình ở Địa Ngục. Nếu con người không có sẵn thì không bao giờ tu thành Vị Thứ hay Quả Vị, không bao giờ có Địa Ngục để mà sa vào.

Nói đến sự hiện diện con người ở Thế Nhân có Tiểu Ngã Nhân Thế. Nếu có một con người nào có lập trường về với Tiểu Ngã chính mình tại Thế Gian, liền tường tận được tất cả trên đời họ sống như nhau bằng Giả Tưởng chính mình trở lại với Tiểu Ngã, thì các Ông cũng nên biết: Bậc như thế gọi là Siêu Nhân, hay Thánh Nhân, Tiểu Ngã nghe giảng, nghe nói ngỡ rằng để biết để hiểu như thật ra khó biết đặng Tiểu Ngã chính mình, vì sao? Vì tư tưởng mãi suy nghĩ, mãi tìm tòi theo Giả Tưởng sống nơi Giả Tưởng nhiều hơn mình biết đặng mình. Cho nên con người biết việc thiên hạ biết những người chung quanh lầm lỗi nhiều hơn chính mình tự soi để biết lấy mình. Khi Bậc Siêu Nhân tự soi mình đặng biết người, tự lấy Giả Tưởng của mọi người chừa bỏ Giả Tưởng nơi mình vương mang. Đạo Phật thật biết con người sa lìa Tiểu Ngã chạy theo Giả Tưởng cầu lấy hư vị, cầu lấy hư danh ưa thích khen tặng đeo đuổi tham muốn, nên mới dạy Tìm Lấy Chơn Tánh Để Tu, hay dụng Thể Tánh tự soi vọng đảo, gọi là con đường Tự Tánh Tỏ Tánh, đến lúc Minh Tâm Kiến Tánh. Khi bấy giờ nhìn thấy Tâm mình vọng đảo, Tánh mình an nhiên, được gọi là Thể Tánh cũng là Tiểu Ngã vậy.

Sự tham vọng Giả Tưởng nơi con người nói nó không cùng, nó có tham vọng như thế nó mới phát triển tất cả các Đồ dùng, nó có hoài vọng mới tìm ra Cơ Giới, nhờ Có tham vọng không ngừng nên chi ở thế gian Con Người chạy theo cạnh tranh phát triển đua theo hơn thua được mất mà vươn mình sáng tạo đủ thứ hiện vật, đủ tất cả khả năng con người phơi bày trên trái đất này, ngoài ra còn chẳng biết bao nhiêu cõi thảy đều nằm nơi Giả Tưởng phát triển. Như trên đã từng nói vạn loài hóa chất phát triển, vạn chất vũ trụ hóa sanh để cung cấp cho con người cùng các Cõi. Nó nhịp nhàng chẳng khác nào Con Thoi dệt cửi, do đó mới gọi Thể Chất cùng Tiểu Ngã Giả Tưởng đồng nhất. Còn đứng về phương diện mà nói: Thể cùng Tiểu Ngã nó có liên hệ mật thiết với nhau vô cùng, nó chính là sự tiếp nhận thành tựu nơi Con Người với Vũ Trụ từ lớp, cũng được gọi là: Chết Sẽ Về Đâu, hay Chánh Báo cùng Chịu Báo trong Vũ Trụ cũng là con đường Luân Hồi Sanh Tử, thay hình đổi kiếp vậy, các Ông hãy nghe cùng nhận định kỹ càng, trên bước đường Vũ Trụ với Con Người.

Lúc bấy giờ chúng tôi yên lặng chăm chỉ nghe. Bất chợt Thiền Sư hỏi: Các Ông nhận thức như thế nào? Chúng tôi đồng đáp: theo nơi nhận định của chúng tôi, thì mỗi con người có đến Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã, bá thiên vạn ức tiểu ngã ấy trải khắp Vũ Trụ, tùy thuận các Cõi, các Cảnh Giới Tiểu Ngã an trú không thiếu sót Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Thiền Sư gật đầu khen phải, liền hỏi tiếp. Mỗi Tiểu Ngã có bao nhiêu Giả Tưởng? Mỗi Tiểu Ngã có bá thiên vạn ức Giả Tưởng.

Thiền Sư nói về vấn đề Tiểu Ngã nói ra thật khó nghe, khó hiểu cùng khó biết đặng, vì sao? Vì các ông đa số đang nằm nơi Giả Tưởng, nên nói đến Tiểu Ngã duy chỉ có Bậc Thánh mới nhận được mà thôi: Còn ngoài ra khó phân định đặng nó. Nhưng Tôi vì đời sau trong kiếp nầy nói lên lời chân thật may ra có bậc nhận được chính là một pháp môn Cứu thế.

Thiền Sư giải tiếp: Đối với các Ông vốn sẵn Nghe Thấy Biết đó chính là Tự Thể nơi Tiểu Ngã, khi các ông dùng Nghe Thấy Biết quân minh, không có Cá Tánh thích hợp mới nghe. Không vì Nhân Tánh (cá nhân) riêng tư mà thấy, thời nơi Biết kia mới thật là Tự Thể Tiểu Ngã. Các ông cũng nên biết Tiểu Ngã nó có Tự Thể của nó nên nó mới sáng soi, còn về Giả Tưởng không có Tự Thể nên chi nó mãi chạy chẳng khác nào Con Thỏ vậy.

Các Bậc Tu Thiền tọa căn bản là nhìn đặng các Giả Tưởng, bậc càng tu cao bao nhiêu thì mau nhìn thấy Giả Tưởng bấy nhiêu, có nhìn thấy như thế mới khỏi lầm lẫn mà Tỏ Tánh, có tỏ tánh mới biết được Tự Thể của Tiểu Ngã, Tự Thể Tiểu Ngã chính là Thể Chân hay Chân Như cũng thế.

Thiền Sư muốn gom lại nghĩa trên nên Thiền sư nói: các ông nên hiểu biết tường tận, lãnh hội đầy đủ Ý Chí sau này khỏi sai lạc như thế gọi là: tu Chủ Quán. Đối với Linh Hồn Tối Thượng hay Như Lai hoặc Chánh Giác, kể cả Vũ trụ đến Thế Nhân thảy đều có một khuôn khổ y nhau nó không sai khác, nhờ thế nên chi con người quá biết thế gian Giả Tưởng mà đặng trở thành Siêu Nhân hay Bậc Thánh Nhân, đó chính lời nói chân thật.

Linh Hồn Chánh Giác. Thể cùng Chất nơi Vũ Trụ. Đối với con người Vô Thượng Đẳng Đẳng. Đến bộ phận Tiểu Ngã qua diễn hành nơi Giả Tưởng. Không khác nào: Một Lãnh Tụ trong một nước hay một Chánh Đảng trong một Vùng, hoặc một nhà Vua bỉnh trị trong một nước. Trên thời Lãnh Tụ Tối Cao được gọi là Linh Hồn Tối Thượng. Dưới thời các hàng Tỉnh, các hàng Quận, các hàng Xã, được gọi là Tiểu Ngã, đến hàng Dân Giả Bá Thiên Vạn Ức gọi là: Giả Tưởng từ nơi Giả Tưởng Dân Giả cung cấp xây đắp Tiểu Ngã, do lẽ ấy nên chi từ nơi Tiểu Ngã là mức hiểu biết của Dân Giả có thể dùng lời nói hay văn tự diễn giải đặng, đồng thời Dân Giả nghe đặng, bằng dùng lời nói Tối Thượng làm sao diễn giải đặng, làm gì nghe đặng, lời nói Tối Thượng duy chỉ có Tiểu Ngã lãnh hội được phần nào, nhưng đem ra phổ truyền công bố thì Tiểu Ngã nói chưa ra lẽ, nơi ba từng lớp. Tôi nói ra đây chính là một Chìa Khóa mở màn Vũ Trụ giao cảm với Con Người các ông hãy nghe đồng thời nhận lãnh. Giờ đây nói rõ đồng thời chỉ điểm để cho con người ít nhất phải biết được giá trị nơi mình có thể thi hành thực nghiệm được chính mình khám phá Vũ Trụ bằng Bản Năng Khả năng của mình đoạt lấy giải thoát, theo đường hướng Đạo phật đã vạch sẵn. Đạo Phật đã tự bản năng khả năng làm dụng cụ kết quả mục đích rất hữu hiệu, nên Đạo Phật chỉ thẳng cho con người biết, con người có đủ đồng chất thành Phật, Ngài nói: Ta Là Phật Đã Thành. Các ông Là Phật Sẽ Thành. Câu nói trên quyết định trong sự hướng dẫn của Đạo Phật, các ông sẽ thành Phật, các Ông phải theo sự hướng Đạo của lời chỉ dẫn nơi Đạo Phật.

Nếu các ông chưa tin con đường nơi Đạo Phật hoặc các ông quan niệm Đạo Phật là một Tôn Giáo nhỏ bé dưới lệ thuộc chưa thực hành đúng với tinh thần thì biết bao giờ các ông thành Phật? Bằng các ông Tin Phật trên hình thức nào đó, hay chưa biết giá trị nơi các ông, chưa biết Thể Chất có Bản Chất Đồng Ứng Đồng Hợp với Vũ Trụ thì làm sao thành Phật? Thiền Sư vừa nói đến đây lặng thinh chốc lát nói tiếp:

4. TIỂU NGÃ CỦA CÁC ÔNG TRẢI KHẮP VŨ TRỤ.

Tiểu Ngã nó có Tự Thể, gọi là Thể Tiểu Ngã con người có hiện diện trên Quả Địa Cầu trên một Ngàn Năm Trăm Triệu Năm, mỗi người vốn sẵn Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã đang Ứng Trực trong Vũ Trụ, chia ra từng Cõi Cảnh Giới như một chiếc ghế chờ sẵn các nơi. Chừng nào con người ở nơi Quả Địa Cầu nầy, mãn phần thoát sanh tùy theo Bản Năng trình độ về nơi chiếc ghế ấy mà an trụ. Chiếc ghế nơi an trụ nó phải tương song với năng lượng, tương đồng với Bản Năng mà Chánh Báo hay Chịu Báo cũng tùy thuộc nơi con người đang hành sự tại Thế Giới Địa Cầu nầy.

Đối với con người, nhìn con người mới nhận thấy mỗi người có một lý tưởng, có một định hướng có mỗi đức tính khác nhau ít khi giống nhau, dù sao nó cũng không ngoài Tiểu Ngã của mỗi người. Có người đứng về Tiểu Ngã Tiên, có bậc Tiểu Ngã Thần, có người về Tiểu Ngã Thánh, có kẻ Tiểu Ngã Nhân, đến Tiểu Ngã Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, mỗi nơi chốn đều là Tiểu Ngã Đại Diện cho Vũ Trụ, cùng khắp Vũ Trụ có bao nhiêu Tiểu Ngã Thế Giới thì ở Thế Gian có bao nhiêu Đại Diện, con người Đại Trí mong đoạt đến Vũ Trụ hoặc giao cảm với Vũ Trụ hay Xuất Định về các Cảnh Giới Tiên Thần, thì trước tiên phải làm thế nào chinh phục những con người làm cho tất cả đều Kính Ái, có ái kính mới có hàng phục Cảnh Giới, có thiện cảm mới có nhập Cảnh Giới cùng các Cõi. Lời nầy là lời chính xác, lời Tâm Ấn thực thể nên lưu ý. Bằng Tu Tọa Thiền, dùng đủ phương thức để xuất định nhập cảnh chăng nữa thì những phương thức ấy đều nằm nơi Định Tưởng Giả Định, khi giả định giả tưởng cái Thấy Cảnh Giới, hoặc vào Cảnh Giới thảy đều Thấy nơi phim ảnh Vũ Trụ chớ chưa phải vào thật Cảnh Giới Tiểu Ngã, đó chính lời minh xác rất đúng.

5. XUẤT ĐỊNH NHẬP CẢNH TÙY THUẬN THEO TIỂU NGÃ.

Các ông cũng nên biết, Xuất Định hay nhập vào Cảnh Giới nào bất luận, phải Tùy Thuận Đồng Hợp mà nhập Cảnh Giới của Tiểu Ngã.

Bậc Thiền Sư luôn luôn đứng tư thế nơi Tiểu Ngã để quan sát các Giả Tưởng, xem Tiểu Ngã nào nó hiệp với Cử Chỉ Chi, nó ăn nói như thế nào, nó công dụng hạnh kiểm ra sao, nó ưa thích những gì ưa thích với nó. Ví như: Tiểu Ngã Thiên thời bậc Thiền Sư Tâm rộng rãi, ăn nói từ tốn, giúp người ít khi kể lể ơn nghĩa, đi đứng chớ nên bừa bãi gọi là pháp môn Thiên đến chừng vào định, lúc xuất định, mặt đương nhiên nóng báo hiệu lên Cõi Trời, khi đến Cõi Trời ngang qua biên giới giữa Cõi Trời với Thế Gian thì Tiểu Ngã của Thế Nhân về Thế Nhân, nhận lãnh Tiểu Ngã Thiên Giới dạo chơi khắp Cõi, lúc trở về Tiểu Ngã Thiên về lại Thiên. Tiểu Ngã Nhân tiếp nhận lại Nhân.

Phần nhiều mỗi một Cảnh Giới hoặc mỗi Cõi các vị Thiền Sư rất hiếm bậc đã từng vào ra Cảnh Giới hoặc các Cõi Tự Tại, vì chưa rõ thông Tiểu Ngã của mỗi một Cảnh Giới hoặc mỗi Cõi. Do tại sao mới hóa sanh cảnh giới như thế, do những gì kết nạp thành ra Cõi? Đa số chỉ dùng Định Tọa lúc nó đến đâu tùy nơi Thiền diễn tiến mà Thụ Chấp.

Các ông cũng nên biết: Rất hiếm bậc vừa tu Thiền Tọa vừa tu Hiển Giáo gọi là Viên Giáo. Bậc Viên Giáo rất có tin tưởng Tam thiên Đại Thiên Thế Giới bậc này tu với đích chính thoát ngoài Vũ Trụ, về với Linh Hồn Chánh Giác, khi đã Chánh Giác xong mới biết được Linh Hồn Tối Thượng. Biết đặng Tiểu Ngã tận rõ Giả tưởng mà diễn giải, chớ bậc đang tu, đang nằm nơi Tiểu Ngã ngỡ mình Chánh Giác Thành Phật không thể nào triệt thấu đặng mà nói.

Bậc tu xuất định buổi ban đầu hơi khó, nhưng khi đã xuất định đặng đương nhiên bị bặt đi, không xuất đặng là vì bậc này mơ ước mừng rỡ hoài mong tự nhiên ra vào nơi Giả Tưởng. Nên xả vọng tưởng cố công phu liền đặng nối tiếp.

Tu Thiền chớ nên gò ép quá trớn, ép quá trớn hay bị long đầu làm cho con người lảo đảo, nhiều lúc bất bình tĩnh, nên tập thể dục hay tìm thú vui để giải hóa, giữ sao cho thân tâm quân bình. Tu Thiền tựa như người cầm lái Xe Hơi, chính mình phải Tự Chủ lái Thiền Pháp. Tọa Thiền chớ nên quan niệm lầm tưởng gò ép để xuất hồn, tư tưởng như thế thật sai, Vì sao? Vì Tiểu Ngã là linh hồn đã có sẵn khắp nơi. Khi Xuất Định đến nơi nó liền giao tiếp, chớ cho xuất hồn như trên, đó chính là một quan niệm Ngoại Giáo Giả Tưởng lầm sai không thực thể. Khi bậc tu Thiền đến căn bản tùy công năng tùy Trí Tuệ đến mức tận cùng đương nhiên xuất định, miễn làm thế nào, lần theo Giả Tưởng thật tỏ thì mức Thiền càng cao, lần biết thì mức Thiền tiến bộ chính tu Thiền là một môn Quán Xuyến Nhãn Tạng, nhờ Nhãn Tạng minh xác những điều mê lầm nơi Giả tưởng, tự nơi mình đặng Chánh Giác, mới hay rằng nơi mình có đủ phẩm chất, có sẵn linh cảm, có sẵn nhận định quân vương, lại có sẵn Tánh Thấy không bị sanh diệt, nên nhìn thấy vạn dặm, do mình chưa biết sử dụng, nếu biết sử dụng thì nơi Thấy kia là một bộ máy linh động tinh nhuệ nhất, tốc độ thâu nhận nơi mình nhanh nhẹ gấp ngàn lần máy tinh xảo nhất Thế Giới của nhân tạo đã làm sẵn nơi các Nước Siêu Cường. Nếu có bậc chỉ dạy hoặc Khai Thị để mình biết nhận, chính mình chưa chịu nhận, cứ mãi theo Giả Tưởng, nghĩ cũng lạ thật.

Có vị Thiền Sư tự khởi: Sau tìm đặng giải đáp câu thoại đầu của Thiền Sư khởi như sau:

Lúc bấy giờ Thiền Sư hái một chiếc lá, cầm chiếc lá tự hỏi? Màu xanh của nhà ngươi từ dưới rễ dẫn lên, hay từ bên ngoài đáp xuống? Thiền Sư dùng Nhãn Tạng xem xét, chốc lát đặng biết: Tất cả cây cảnh và quả đất thảy điều động có sức hút vào nhả ra. Trên hư không hòa lẫn khí hậu có đủ màu sắc, có đủ gió lửa không thiếu sót, tùy thuận màu nào hóa hợp liền đáp ứng bồi dưỡng thành hình, như lá xanh, hoa vàng, hoặc đỏ cùng tím thảy đều đáp ứng tô điểm để nuôi chiếc lá đến Bông Hoa đặng hoàn mỹ. Đến chừng thiếu sức tiếp liệu hút màu thì hoa kia hoặc lá nọ trả về màu cũ gọi là lá vàng hoặc hoa héo. Dưới mắt con người nhìn chiếc lá xanh nhìn hoa vàng hay tím cùng đỏ cho rằng, cây trổ hoa lá có màu sắc, chớ nào thật biết cây trổ hoa, cành có lá, phải hút vào tiếp liệu màu sắc nhả ra rút chất nước dưới rễ nuôi thân cây.

Vị Thiền Sư nầy còn biết, nơi không khí có chất Nguyên Tinh, chất Nguyên Tinh nầy nó thung dung linh động vô kể, nó có thể xuyên qua bất cứ một nơi nào trong vũ trụ, Chất nầy nó làm cho tất cả đều hóa sanh, nó tiếp nuôi con người sống lâu, nếu con người biết sử dụng, nó hòa đồng với hư không, bằng chẳng có nó thì Hư Không cùng khí hậu không hòa đặng nhau nó hiệp hai khối hóa sanh ra đồng hợp, nó biến chế ra không khí nuôi dưỡng con người, con người quan niệm khí hậu tốt nuôi con người mạnh khỏe, nếu khí hậu tốt mà không có chất Nguyên Tinh là một chất sống kia khí hậu cũng vô dụng. Chất Nguyên Tinh nó tinh vi linh động mạnh mẽ vô cùng, nó viên thông xuyên qua thân thể con người, làm cho các bộ phận con người có chất sống, chất nầy qua đến đâu vào bộ phận nào cũng làm cho bộ phận di chuyển sống động, nhờ chất Nguyên Tinh các tế bào mạch máu mới có chất sống để mà sống. Chất sống Nguyên Tinh chẳng phải riêng cho con người, nó chung cả Vũ Trụ có nó mới sống, gọi là một chất đặc biệt Chất Sống Vũ Trụ và Nhân Loại.

Thể Chất Nguyên Tinh là Nguyên Chất của Vũ Trụ, nơi Nguyên Chất nó rất tinh vi linh động, nó cũng là Chất sống Nguyên Thủy triệu triệu xưa, nên gọi là Nguyên Tinh.

Tánh nơi Nguyên Tinh tất cả Vũ Trụ đến Sơn Hà Đại Địa Cây Cảnh Núi Sông đến muôn loài vạn vật thảy có nó đáp ứng đem cái sống linh động tăng trưởng cho tất cả, nếu vật chi thuộc về thiên nhiên hóa sanh đều có chất Nguyên Tinh dung dưỡng, bằng nhân tạo thì chẳng có chất Nguyên Tinh bồi dưỡng, vì vậy nên chi thiên nhiên hóa sanh sống lâu bền bỉ, còn nhân tạo mau hư, mau hủy diệt.

Tánh chất Nguyên Tinh không làm cách gì ngăn chận nó nổi, nó có thể xuyên qua bộ xương để cung cấp bộ xương đặng sống, nó xuyên qua mạch máu, gan phèo phổi cùng bao tử cho đến các tế bào để đem chất sống cho con người, con người từ bấy lâu nay chỉ biết mình đầy đủ thân thể ruột gan không thiếu sót là sống, khi ốm đau hoặc thiếu ăn thân thể uể oải bệnh rồi chết, chớ nào ngờ nơi ăn uống bồi dưỡng cả vật chất lẫn tinh thần không có Nguyên Tinh thì con người thiếu linh động, thiếu chất sống con người phải chết.

Chất Nguyên Tinh là một chất động cơ thúc đẩy trong thân thể con người dù cho đầy đủ bộ phận đi nữa chăng, không có chất nguyên tinh cũng không thể nào thúc đẩy các bộ phận làm việc, khi các bộ phận không làm việc thì con người không thể sống. Từ Vũ Trụ đến vạn vật đều phải như thế.

Chất nguyên tinh nó xuyên qua cũng như lằn điện tử, các lằn sóng điện phát thanh hay vô tuyến truyền hình, dù cho con người đậy kín thế nào nó xuyên qua cũng đặng. Nếu con người biết dùng chất Nguyên Tinh thời con người sống lâu tùy nơi mình gìn giữ nó.

Các bậc Tu Tiên đến lúc gần thành Tiên vẫn dùng chất nầy để bồi dưỡng thân thể tráng kiện, họ gọi là Sanh Khí. Có phái dùng chất Nguyên Tinh tập trung nơi tinh thần xuất định lên các Cõi Tiên Thần được gọi là Tinh Khí Thần, chất nầy sẵn có trong Vũ Trụ trùm khắp. Con người mau già hay chậm già vì lo nghĩ ưu phiền thì chất nguyên tinh ít thu nhận được trở nên hư hao gầy ốm, nếu giải buồn phiền ưu tư lòng thoải mái tươi đẹp thì chất nầy nuôi dưỡng mãi lâu già.
Chất Nguyên tinh nó giúp cho bộ óc hữu hiệu nhất, theo khoa học họ đem bộ óc con người ra thực nghiệm nào là: Bộ óc đường máu hở hoặc giả bộ óc xanh xanh tím tím là thông minh, hoặc lớn hay nhỏ tùy theo nơi thực nghiệm khoa học mà minh xác. Đối với nhà Thần Thoại học họ chỉ thân tâm thoải mái, mỗi sự việc chi đưa đến họ tìm cách hóa giải. Khi tư tưởng khởi sanh, mặc nhiên để tư tưởng phát sanh họ liền hóa giải tư tưởng liền mở mang lần tiến. Không khác nào người khai mương nước đọng đến đâu khai thông đến đó, đối với bậc mở mang bộ óc cũng như thế, chưa phải con người họ đã ngu, chỉ vì chưa biết sử dụng khai hoa bộ óc, biết khai hoa đến đâu thời chất nguyên tinh động cơ thúc đẩy đến đó, miễn con người đừng cố thủ lấy mình đương nhiên thông thái. Phần nhiều những nhà Thông Thái học họ ít muốn mang những câu chuyện bé nhỏ vào thân tâm, nên chi họ tiếp nhận nơi bộ óc nhiều sáng kiến, họ chỉ lấy sáng kiến hay hóa giải theo Triết Học nên được bộ óc tiến hóa.

Đối với các cõi như cõi Tiên họ dùng Thanh làm vi bản, chất Thanh nhiếp thu đặng nhiều Nguyên Tinh chất đồng hòa hợp với Hư Không trở thành thanh thoát mà đặng chất Nguyên Tinh cung cấp nhiều nên chi tuổi thọ họ sống lâu. Còn con người từ chất hư không, chất khí hậu đồng hòa chất Nguyên Tinh nó có pha lẫn chất thô nên tuổi thọ chưa đặng bao nhiêu, do đó nên công dụng về tinh thần nhiếp thu chất Nguyên Tinh để nuôi thân.

Bậc Tiên Đạo thường dùng cặp mắt có một chiều ưa xuất trần lao lọc bỏ chất thô tạo thành thanh chất thành ra riêng có mỗi một phần lấy mình huân tập thành hình. Còn đối với dưới mắt Thiền Sư soi nhìn trùm khắp nên thật biết đặng chất Nguyên Tinh quí vô giá, nơi nào chỗ nào cũng sẵn có chất Nguyên Tinh, miễn con người dụng tâm vui vẻ, dùng trí sáng soi, dùng thân ăn ngủ điều độ tất cả những chuyện vặc mắc bỏ qua nuôi lấy tinh thần thư thả liền nhiếp thu Nguyên Tinh vào để nuôi thân mạng. Chất nầy tinh vi nguyên thể tùy theo tư tưởng trình độ cung cấp tăng trưởng không ngưng, duy chỉ ưu phiền, tự mang lấy buồn bực thì nó tiếp thu rất ít, chỉ xuyên qua nuôi thân thể phần nào, biết cách sử dụng lấy nó có ích lợi vô kể. Nguyên Tinh nó không có thẩm quyền đem đến Cái Biết viên thông cho con người, nhưng nó có tánh chất viễn thông chạy mãi không ngừng, nhờ tất cả các chất phối hợp nhau trở thành Cái Biết viễn thông tự tại, nếu như không có nó thì tất cả nằm yên đình trệ tất cả không có lấy tia sống, chính nó là một nguồn sống nơi hy vọng của con người, lúc con người có tia sống, có hy vọng để mà sống, chớ nên đặt hy vọng ấy thái quá đến ngày kia đến nơi tuyệt vọng thì chất Nguyên Tinh bị đình trệ nguy hại vô cùng.

Bậc Thiền Tọa đến mức khá cao thực hành một thời gian sở đẳc Chánh Định Tam Muội thì hoàn toàn điều khiển, hoàn toàn sử dụng nguyên tinh, nhờ nơi thúc đẩy không ngừng phát sanh rốt ráo nên mới đoạt đến vũ trụ tương quan nhịp nhàng chung Chánh Định.

Sự lầm tưởng nơi con người, tự mình tu luyện tu thân, tu tinh thần, tu hiểu biết phá mê chấp, tu trong vạn hạnh cốt được tỏ thông, hoặc giả thực hành cốt chứng ngộ. Đứng tư thế tự mình cấu tạo, tự mình hóa giải, tự mình tự giác thảy đều là một phương tiện đi đến hoàn toàn thực chất Nguyên Tinh sống động vũ trụ với con người Đồng Thể, cho nên Đạo Phật bảo thảy nương nơi Vô Ngã lần tiến đến Đại Ngã Viên Giác liền Tự Thể hóa sanh, khi tự thể hóa sanh mới thật biết mình Đại Diện Vũ Trụ, Đại Diện Vạn Pháp Ứng Thân Nhất Thể.

Nơi lầm tưởng của con người chẳng có vị nào tránh khỏi, thời xưa Đức Bổn Sư, lúc đang còn là Vị Thái Tử Tất Đạt Đa vẫn theo quan niệm giải quyết Sanh Tử Bệnh Lão Khổ. Ngài theo phái Trần Kiều Như tu khổ hạnh chưa tìm đặng nguyên lý tinh thần thiếu thốn. Sau đến cội Bồ Đề tinh dưỡng tinh thần bồi dưỡng hiện vật như thường, thân tâm dung hòa mới đoạt Vô Thượng Chánh Giác.

Đối với con người biết rõ trong tay mình có Đạo Đức thời đứng trước mọi sự việc gớm ghê họ thảy đều an nhiên, trong mọi việc xảy đến nơi, nhưng mọi việc đó không bao giờ xảy đến.

Những bậc đã từng biết rõ về vấn đề Sanh Tử, nên không bao giờ sợ chết còn mong cái chết đưa đến cho bậc đã từng tỏ rõ về sanh tử.

Thiền Sư vừa nói đến đây, số người đồng thưa gởi: Kính thưa Thiền Sư con đường tử, khi bậc đã biết nơi hiện tại đang lúc còn sống, tạo Đức Độ đến vị lai đặng thoát sanh vào nơi cao quý, vào chốn an nhàn Chánh Báo. Chúng tôi mong Thiền Sư giải cho chúng tôi được nghe nơi thoát sanh của con người từ phàm phu đến Thánh Tăng có khác nhau như thế nào? Bọn Ác nghiệt Bị Sanh nó ra sao? Thưa gởi xong yên lặng chờ nghe.

Thiền Sư nói: Nói đến sự ác nghiệt bị sanh chịu cực hình thời nó vô kể. Nhưng các ông cũng nên biết nơi thường dân tục tử, dù ác nghiệt đến đâu chăng cũng là một tội bé nhỏ riêng mình, chỉ trừ trường hợp làm cho những bậc tu hành tạo phước điền đoạn duyên mới đáng kể. Đứng vào hàng Vua Chúa Quan quyền, một khi đã Ác Nghiệt Phê Chỉ làm cho hàng triệu con người phải lầm than đói khổ, làm cho vạn vạn than phiền mới nên tội A Tỳ Địa Ngục, ví như Tần Thủy Hoàng xây vạn lý. Vua Thành Thang cất Bá Lạc Đài. Bọn Hắc Nô bắt con người mò Trai Lấy Ngọc. Vì lẽ ấy mà Bậc Minh Vương Bậc Vĩ Đại Cứu Tinh mỗi lần Phê Chỉ Ban hành thảy đều xem xét kỹ càng ích nước lợi dân mới dám chuẩn ký.

Khi một vị Vua Chúa ban hành điều ác nghiệt, sau lúc lâm chung đang nằm trong cung vàng điện ngọc các quan hầu cận đầy đủ chăng, Tiềm Thức (hồn) vẫn nghe la ó hét hò, không khác nào toàn dân hãm thành đổ bộ. Khiến cho tiềm thức nhà vua sợ hãi, vội vàng ngồi dậy, bị toàn dân tay cầm gươm đao đến đâm chém, khi bấy giờ nhà vua đâm đầu chạy, bọn người đuổi theo hạch tội, xiềng xích nhà vua, mang về bỏ vào ngục tối, trường hợp ta nói trên thường nó như thế, nó còn hơn thế nữa, kể không bao giờ hết những tội mà nhà vua hoặc quan tham hà lạm, hoặc quan lừa dối dân để cướp của.

Còn đối với con người Hiền Lành hay Phước Đức hoặc Tánh Tình tốt thường giúp đỡ mọi người Quảng Đại Quang Minh, nhưng họ chưa có mục đích nào để đến nơi thoát sanh, họ đứng ra ngoài Tôn Giáo hết thảy. Khi lâm chung, nói đến trạng thái con người lúc lâm chung duy chỉ dưới mắt Thiền Sư mới nhìn thấy, ngoài ra con người thường chưa thấy được Lâm chung nó tùy theo giai cấp Phước Đức, giai đoạn Duyên lành mà nó xuất hồn thoát sanh.

Con người trước ngày lâm chung, đương nhiên họ nhận thấy buồn hoặc nhận thấy lờ mờ vô căn cứ, đôi lúc con người tự thán với bà con giòng họ. Đến ngày lâm bệnh. Nếu họ may mắn gặp Vị Thiền Sư đã từng xuất định cầu cứu, thời vị Thiền Sư nầy không phải chữa bệnh cho họ trên giường bệnh mà vị nầy xuất định đi các cõi xem Tiềm Thức (hồn) nó đã có phần nào nằm ở cõi nào hợp với bệnh nhân, liền tháo gỡ trả về dương thế tự nhiên lành bệnh qua cái chết. Nói đến con người chết nó không có số mạng chi cả, nó chỉ biết cách chữa trị, biết lối bồi dưỡng hay chưa biết nên nó phải chết mà thôi. Con người sắp gặp phải bệnh nặng nó vẫn có triệu chứng nầy.

Khi con người hấp hối, thì tiềm thức đã có một phần nào xuống hoặc lên ở một cõi nào rồi, còn phần xác đang nằm trên giường bệnh hấp hối. Tiềm Thức nó lần lượt xuất, lúc trong thân con người xuất, nó không khác nào hơi khói trong thân bốc lên cứ tuần tự bốc mãi đến khi hết cả đầy đủ tiềm thức thì Vía Dại gọi là cặn bã nghiệp thức nó nhập xuống dưới chân giường, con người liền tắt hơi, cặn bã nghiệp thức họ thường gọi là Hồn Thư. Đối với con người lúc sanh tiền đang còn sống, nó có Khôn và Dại nên mới có hồn Khôn, vía Dại. Cái vía dại này nó rất ảnh hưởng đối với con người, thoát sanh mau chậm hay còn ái nịch luyến tiếc bà con giòng họ của cải nhiều ít đều do nó lôi cuốn cả. Khi Tiềm Thức bốc lên Hư Không, Tiềm Thức là một Chất Thanh, còn Hồn Thư gọi là vía dại là chất thô, Chất Thanh đang còn tập nhiễm nhiều ít chất thô nên chi Tiềm Thức đã bốc lên Hư Không, nhưng vì tập nhiễm thành thử chưa dứt khoát về cõi đã sẵn mà thoát sanh hoàn mỹ. Nếu gặp đặng Vị Thiền Sư, Vị nầy chỉ nhìn vào xác chết đương nhiên hai bên không còn vướng vấp nhau nữa. Bằng gặp đặng vị Đại Đức lấy công đức nơi mình chú nguyện tự nhiên cũng đặng như trên. Nên nhớ khi trong nhà Tang Chủ có người chết không còn có âm khí buồn lạnh, đó là cuộc thoát sanh hoàn mỹ, nếu còn Âm khí ưu buồn thì vẫn còn vong linh tiềm thức lai vãng, phải chú nguyện đặng thoát sanh.

Các ông cũng nên biết Tiềm Thức thanh chất nó có đặc tánh di chuyển đến nơi Chánh Báo hoặc Chịu Báo để kết nạp với Tiểu Ngã nơi Cõi hoặc Cảnh Giới đó, còn Hồn Thư Vía Dại nó nằm yên với Tiểu Ngã đã để lại kết nạp an trụ đứng yên. Cũng như con người đang ở cõi Nhân đặng lên cõi Trời thì Tiềm Thức lần lượt di chuyển lên Cõi Trời được sanh lên Cõi trời. Còn Hồn Thư Vía Dại, nó ở lại cõi Nhân kết nạp với Tiểu Ngã Nhân pháp mà an trú. Chờ chừng nào Bậc kia đoạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, gọi là Đại Ngã Bát Đại thì chung gồm Bá Thiên Vạn Ức Tiểu Ngã thảy đặng trở về kết chung với Bát Đại, gọi là hoàn mỹ, hoặc chân thiện mỹ hoàn lai cũng thế.

Đối với con người Tốt, Hiền Lành, Đạo Đức đồng với Quảng Đại Quang Minh của mỗi người, dù cho di chuyển bằng cách nào đi nữa, đến 49 ngày vẫn được thoát sanh trừ trường hợp ái nịch quá trớn vong linh lai vãng quá nhiều thì bị sanh lộn kiếp ở trong gia đình, như Bà Nội thương cháu nhiều không nỡ thoát sanh, lưu trú vãng lai thời nó lại đầu thai làm em của cháu nội hay làm con của con mình, trường hợp nầy rất nhiều, do ái nịch bị sanh lộn kiếp.

Bằng con người cúng tế sát hại trâu bò gà vịt, Dê Cừu cầu lấy Phước Báo khó đặng kết quả thoát sanh, lại thêm vào một đường dây Nghiệt Quả, đây là lời nói thật, vì sao?

Vì ta đã từng nhập vào Chánh Định, đã từng gặp các Chư Thần ở Cõi Trời hay cứu giúp Nhân Gian, từ Thần Hoàng đến Thần Miếu qua Thần Thánh lại Thánh Quân cùng Thánh Mẫu thảy đều phàn nàn phiền trách với ta rằng: Kính thưa Thiền Sư, chúng tôi toàn Chánh Trực Quang Minh Thần. Chúng tôi không thiếu chi món ẩm thực hương vị ngọt ngào cao qúy, thanh thoát thơm tho. Chúng tôi thấy dương gian gây tạo ác nghiệp, nên có ác căn tai nạn xẩy đến cho họ liên miên. Họ lại có lòng thờ phụng cung kính van cầu chúng tôi, chúng tôi động lòng ra tay cứu độ cho họ thoát khỏi tai ách.

Mỗi lần chúng tôi giáng trần, đến nơi Đình Miếu thì hỡi ơi! Trước mặt chúng tôi họ đặt rất nhiều xác chết, thiêu đốt luộc quay. Chúng tôi làm sao nói đặng? Đứng nơi lòng thành hòa lẫn ác nghiệp, buộc tình chúng tôi cứu nạn với lòng thành. Con người họ vì tục lệ, họ vì ưa thích nên họ tưởng chúng tôi ưa thích Gà Vịt, Heo Quay, Bò Tái, Rượu Nếp, Canh Xôi thật ra chẳng biết nói sao hơn, việc đó chưa phải tín chủ mà bọn tế lễ tham ăn dục lợi thu gấp, khiến con người phải làm như thế. Chúng tôi mong Thiền Sư đương thời Hạ Lai nầy, nói lên lời nói giúp chúng tôi khỏi phải mang tiếng tế Thần bằng lối sát sanh như vậy, thưa gởi xong liền chầu trời. (Đêm 30 tháng 9 âm lịch 1965)

Các ông cũng nên biết: Khi bậc đã có Phước Điền, có một đức tin làm lành thời có nơi chốn chứng minh, có Vị Thánh đỡ đầu. Lúc lâm chung, Tiềm Thức bay bổng lên Hư Không, miệng liền niệm danh hiệu Tôn Giáo Đức tin của Mình như: Kính lạy Chúa, hay kính mong Thần hoặc kính gặp Thánh tùy tùy mỗi con người tin mà phát niệm, liền khi đó có tia sáng: Hồng Quang về Cõi Thần, có tia sáng Thanh Quang về cõi Trời làm dân, có tia sáng Bạch Quang về Cõi Trời làm Quan, có tia sáng Huỳnh Quang về Tịnh Độ. Có lúc con người thật tốt nhưng chưa đặng Đức tin vững, vừa lên đến Hư Không, vui mừng đi dạo khắp vũ trụ, nhưng không bao giờ thấy đặng các Cõi, các Cảnh Giới, đến sau tâm thần bớt khoan khoái lờ đờ, khi tỉnh lúc mơ, nhớ đâu gặp đó, liền đến Thần Hoàng Miếu Võ mà ở liền trở thành Thần Núi Nhân Gian, hoặc gặp phải tia sáng đủ màu liền được về Nhân Thế mà thai sanh con nhà giàu có để tu hành. Trái lại có Bậc thật tốt nhưng quá chơi bời, Đình Trà Tửu Điếm lúc sanh tiền bạn bè thân hữu nhiều nơi, thường vui chung cùng chúng bạn. Đến giai đoạn trên dạo chơi khắp nơi, liền đến chốn ca xướng ăn chơi nhảy múa, liền nhập bọn ở nơi đó say mê lâu ngày vẫn bị tấm màn bao phủ thụ thai sanh vào Súc Sanh Giới. Nếu lối chơi thanh bai quý phái, Công Đức cao dày thanh thoát thì đặng thụ thai vào Cõi Trời Lục Dục Thiên an hưởng.

Nói đến Chánh Báo, các bậc tu hành Hạnh Nguyện từ nơi chứng tri Đắc Pháp Chân Không chưa tỏ rõ về nơi Sanh Tử, một là cứ Thọ Chấp Chân Không chạy theo Kiến Dục, Tăng Thượng tự xưng Thánh, Phật thì sau khi lâm chung bị tội Vô Gián Địa Ngục.

Bậc Sở Đắc Chân Không biết giá trị nơi Chân Không là quét dọn Giả Tưởng về với chính mình là Tiểu Ngã sáng soi ngàn phương để Giác Ngộ, đó gọi là: Bồ Tát Soi Khắp Ngàn Phương.

Kẻ Ngoại Giáo, người tham vọng khi xem những bộ Kinh của các Thiền Sư như: Kinh Liễu Ngộ Đốn Môn, học thuộc hiểu mới sơ qua vội chấp Không cho tất cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đều không, cho vạn pháp di chuyển Chánh Báo Thọ Báo thảy đều Không, cho tất cả Chư Phật cùng Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Hạnh đều Không, cho tất cả sự tu hành, diễn tiến Phật Quốc Tịnh Độ đến Bát Đại Niết Bàn đều Không, do nơi trụ Không mà theo kiến dục, Ngôn Ngữ Tà Kiến. Tự xưng Như Lai tự xưng Phật làm cho một số con người phải lầm lạc, làm cho một số con người ngạo mạn, làm cho một số con người Ngoại Giáo sa vào Vô Gián.

Bậc chuyên chính giúp đỡ cho con người không cầu báo, đi trong cái Khổ đặng an vui vì cốt thật biết cái khổ của con người, nên chi bậc nầy không thấy khổ. Bệnh nầy thường tìm nơi bệnh tật ngăn chấp, bệnh tật lười trễ bệnh tật nằm yên, bệnh tật tham vọng, bệnh tật Giả Tưởng, bệnh tật Bảo Thủ, nên chi lúc đau đớn bệnh tật, bậc nầy tìm không ra nơi bệnh tật đau đớn, trở thành thấy mình không có bệnh. Bậc nầy chuyên chú vào nơi hiểu biết tăng trưởng hàng ngày, nhìn đến sự khai thông là một nền tảng trẻ trung mới lạ nhất, nên chi không tìm đặng chỗ Lão nơi mình. Bậc nầy thật biết tỏ rõ con người đua chạy theo Khởi Sanh Bị Diệt trong Giả Tưởng lìa bỏ Tiểu Ngã Thể Tánh để tu hành nhiếp thu Giả Tưởng thật biết Giả Tưởng là Nghiệp cấu Tạo Sanh Tử. Khi bậc nầy rõ đặng khỏi lầm lẫn Chứng Vô Sanh về với Tiểu Ngã, bậc nầy tu theo Bát Nhã lấy Bát Nhã cốt nương theo Vô Ngã về với Chân Ngã gọi là Đại Ngã chứng chi rốt ráo, biết tỏ rõ sanh tử Thọ Báo Chánh Báo nó như thế nào rành mạch, gọi là: Giải Quyết Sanh Tử Bệnh Lão Khổ Chánh Giác.

Mục tiêu của Thánh Tăng trọn vẹn có bấy nhiêu đó nên chi từ bậc Sở Đắc Chân Không, Sơ Trụ Bồ Tát, dù cho có thoát sanh như thế nào chăng cũng là độ sanh.

Từ bậc Sơ Trụ Bồ Tát trở lên, từ Hạnh Nguyện Hành Dụng Nhiếp Thâu Lục Đạo sự thoát sanh ít nhất có ba Kiếp Thượng Sanh về Cõi trên như: Cõi Trời, Cõi Tiên Thần, tùy thuận mà Thượng Sanh, đến Ba Kiếp Hạ Lợi Thoát Sanh về cõi dưới như: A Tu La, Ngạ Qủy, Súc Sanh. Bồ Tát vòng quanh Lục Đạo trong sáu Kiếp, khi nhiếp thu Lục Đạo rốt ráo mới chứng tri Đại Bồ Tát, đến kiếp thứ bảy, Bồ Tát thành tựu Tịnh Độ Bồ Tát. Kiếp thứ tám và kiếp thứ chín chứng tri Bồ Tát Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. Đến Kiếp Bồ Tát Thành Phật là chính kiếp thứ mười, từ kiếp thứ chín có câu:

Thượng Sanh Đâu Xuất Tôn
Hạ Lai Vô Thượng Đẳng

Thiền Sư vừa nói đến đây nhìn chúng tôi, Thiền Sư trầm lặng chốc lát nói tiếp: Các ông đang nghe những lời tôi nói rất chân thật, các ông chớ nên nản chí. Đối với việc đời khi các ông xây cất mỗi một cái nhà nó cũng phải đầy đủ cửa lớn, cửa nhỏ nơi tắm nhà bếp đến chổ nơi Đại Tiện không thiếu sót mới thành đặng cái nhà. Còn về việc Đạo, việc khám phá Vũ Trụ với con người cũng phải tỏ rõ tỉ mỉ mới đoạt đến mục đích hoàn mỹ, chớ chẳng nhẽ mới biết qua thô sơ đơn giản mà đã gọi là làm Chủ Vũ Trụ sao? Khi bậc đã Vô Thượng Đẳng thời không còn chỗ phân biệt Vũ Trụ với con người hoàn toàn Chánh Giác, đó mới gọi là Nhất Thể.

Từ nơi Sơ Trụ Bồ Tát thoát sanh ba kiếp Thượng Sanh hay Hạ Lợi nó tùy thuộc nơi Bồ Tát tu theo Đạo Hạnh. Bồ Tát Đạo Hạnh Nhân Thiên thời thoát sanh Thượng Sanh trước. Bằng Bồ Tát Đạo Hạnh Ngạ Qủy Súc Sanh thời thoát sanh Hạ lợi trước. Từ Hạ Lợi hay Thượng Sanh Bồ Tát phải hành thâm nhiếp độ cho tỏ rõ mới bất thối chuyển, nếu chưa triệt thấu thì Bồ Tát thường bị thối chuyển hoặc chạy theo Tà Kiến thoát Sanh mơ màng không tìm đặng lối thoát.

Khi Sở đắc Chân Không phải tu hành Bồ Tát, phát đại nguyện gọi là Bồ Tát Nguyện, lập Đạo Hạnh gọi là Bồ Tát Hạnh, thi hành Hạnh Nguyện tu Bồ Tát mới đặng Tâm Không Nhiễm trước gọi là Sơ Trụ Bồ Tát.

Bậc Sơ Trụ Tâm không nhiễm vạn pháp. Nhưng chưa biết sử dụng vạn pháp thành thử thực hành trong sáu kiếp cốt nhiếp thu Lục Đạo mà Tận Giác Lục Đạo, chừng đó mới tỏ rõ tỷ mỷ sanh tử luân hồi. Sanh tử chính là một sợi dây thuyên diễn Bệnh Lão Khổ vậy.

Bồ Tát Sơ Trụ chứng tri. Trước ngày lâm chung Bồ Tát thường hay biết trước. Vì sao? Vì hàng ngày Bồ Tát quán thấy ở trên đời, làm kiếp con người quá ư cực khổ, con người lối sống giả tạo, vạn pháp thực hư nhân tình ít thích hợp với tâm cảm của Bồ Tát, Bồ Tát kiên cố nhẫn nại, kiên cố nhiếp thâu cho rồi lấy một kiếp, Bồ Tát quán các cõi, quán Niết Bàn, quán Thân Tứ Đại giả hợp, Bồ Tát lại nhớ hỷ xả nương theo Bát Nhã tu tập. Có Bồ Tát cố định trường trai cốt thanh tịnh ẩm thực. Bồ Tát an lành bằng lối giúp đỡ cho con người, chỉ dạy cho con người được hiểu biết Đạo Phật. Bồ Tát tu hạnh Đầu Đà, tu hạnh Nhẫn Nhục, tu hạnh Lễ Bái, Cung Kính Tất Cả Tam Thế Phật. Bồ Tát nhận lấy nghịch cảnh giúp cho con người được an nhàn, Bồ Tát không sợ lời xâm xỉa, mắng nhiếc miễn làm sao sự xâm xỉa mắng nhiếc kia không vào Tâm của Bồ Tát sân hận, thù hằn là Bồ Tát an vui đứng nhất. Nói đến hạnh nguyện nơi Bồ Tát thật vô kể, vì Bồ Tát tùy mỗi vị thi hành hạnh nguyện, chung lại Bồ Tát mong thành Phật phải thực hành Vạn Hạnh Nhiếp Thu mới đến bất thối Bồ Tát, đến khi Bồ Tát thành Phật phải thực hành Vạn Tướng mới thành Phật, Các ông nên nhớ: Lúc lâm chung Bồ Tát Sơ Trụ tùy theo Hạnh Nguyện Bồ Tát mà Bồ Tát thoát sanh, nếu Bồ Tát Đạo Hạnh khang trang, liền có mùi thơm ngào ngạt tất cả thảy đều vắng lặng, Bồ Tát nhìn thấy tia sáng, sau tỏa khắp phòng hoặc giả Cốc hay Tịnh Xá, Bồ Tát liền đặng thoát sanh lên cõi trên như các Cõi Trời chẳng hạn. Đến khi đặng sanh. Bồ Tát sanh vào nhà Dân Thiên hay nhà Quan Thiên hoặc nhà Quí Tộc Hoàng Gia tùy theo Công Đức Bồ Tát mà thành tựu.

Bồ Tát chưa biết đặng chính mình ở đâu lai sanh nơi nầy, tại sao mình đặng sanh hay bị sanh vào nhà dân giả. Vì sao? Vì Bồ Tát đặng thoát sanh lên đến Tiểu Ngã Thiên Ngã cung trời liền được tiếp vận, còn Nhân Ngã trả về Nhân Ngã để cho Vía Dại gìn giữ theo như trên đã nói.

Khi bấy giờ Bồ Tát, tâm thần sáng sủa nhìn đến sự sung sướng không bền vững, được trải hoa để Bồ Tát yên nghĩ, được Ẩm Thực cao lương mỹ vị, đặng y áo Gấm Tố Thiên, được tắm bằng nước Bạch Hương Thủy. Đặng Thiên Nữ chăm sóc mang hài Huỳnh Long, được Chư Thiên yêu qúi. Bồ Tát đương nhiên chưa thỏa mãn, chưa đặng lẽ sống nơi lòng, Bồ Tát thường tụ tập Chư Thiên, thường nói năng giúp Chư Thiên những điều cao qúy. Đến một thời nào đó Bồ Tát phát nguyện Niệm Phật- Niệm Pháp- Niệm Tăng tu trì chuyên ròng thuyết pháp. Nên nhớ rằng: Bồ Tát một khi nhất tâm tinh tấn được sanh vào Cõi tu trì trong 18 Từng Trời ở Cõi Thiên. Đó gọi là Bồ Tát tinh tấn, đứng thứ nhất trong hàng Sơ Trụ Bồ Tát.

Bằng có Bồ Tát được thoát sanh lên Cõi Trời sung sướng, đờn ca sáo thổi cùng với Tiên Nữ múa hát đắm say, chạy theo ngũ dục mãi chơi bời, đôi lúc thấy lòng mình chưa toại nguyện, bày thêm nhiều cuộc vui say, nó cứ thế mãi, sau mãn phần một kiếp trở lại Hạ Lợi thoát sanh vào Súc Sanh Giới mà thi hành Hạnh Nguyện, đến một hoặc hai kiếp, tùy thuận hợp hóa nơi nguyện mới tái sanh, nói đến chủ yếu của Bồ Tát, Bồ tát phải đầy đủ tỏ rõ Nhiếp Thu Lục Đạo, khi Bồ Tát thực hành nhiếp thu lục đạo, đó chính là pháp môn Lục Tự Di Đà, pháp môn Lục Tự Di Đà sở đắc hoàn mỹ, đương nhiên Bất Thối, gọi là Bất Thối Bồ Tát.

Đối với bậc Sơ Trụ đến bậc Bất Thối cùng Chư Phật, khi lai phàm vẫn giả mê để Đồng Hành, Đồng Sự, Đồng Ngôn cùng Đồng Đẳng. Đến một thời nào đó Bồ Tát phát nguyện tu hành lần tiến đến mức mình đã Sở Đắc từ ngàn xưa. Thiền Sư nói đến đây căn dặn chúng tôi hai ba lần, Ngài nói: Khi bậc Bồ Tát giả mê rất mau Đốn Ngộ của mức Bồ Tát. Qua đến giai đoạn chưa đặng ngộ của thời trước thường hay dừng trụ, giai đoạn nầy phát sanh ra nhiều Tự Ngã, nhiều ngạo mạn, nhiều lầm tưởng mà chấp trụ. Bồ Tát nên phát tâm Dũng Mãnh Nguyện trọn kiếp cúng dường Tam Thế, tinh tiến không dừng trụ, thì nó liền qua cơn Tạo Ngã, qua cơn Ngạo Mạn, qua cơn Lầm Tưởng đến mức Bất Thối.

Bậc Bất Thối lục đạo tỏ thông, Lục Đạo viên đạt, biện tài vô ngại, Đạo hạnh dung minh. Bậc nầy tỏ rõ đường đi, lối về của con người chạy theo lục đạo, làm con đường thay đổi, di chuyển gọi là Sống Chết. Mang lấy cá tánh, gìn giữ Cá Nhân cho mình hiểu biết, ưa thích dạy đời, hơn là chính mình phải học trùm khắp, phải bị sanh tử trong Lục Đạo. Do đó thân tâm Bất Thối chuyển, được gọi là Bất Thối Chuyển Bồ Tát.

Bậc Bất Thối. Khi thoát sanh lâm chung bậc nầy đang Bệnh nằm nơi giường, bậc nầy lúc chết, vẫn chưa biết mình đã chết. Tiềm Thức (Hồn) ngỡ mình đang còn sống, thân mình nhẹ nhàng khỏe khoắn hết bệnh, nhìn thấy Tứ chúng ra vào lễ bái như thường lệ. Nếu là cư nhân vẫn thấy gia đình sinh sống như lúc bình thường. Đến bảy ngày sau, đương nhiên được biết mình chết, nếu bậc bước vào bất thối tuyệt đỉnh, bậc nầy an nhiên không còn tập khí không còn ái nhiễm bước ra đi dạo khắp các cảnh giới giao du các Tịnh Độ lễ bái Đức A Di Đà, một là an trú Tịnh Độ hai là phát Đại Nguyện Lai Trần, nếu lai trần xuống đặng làm vua Minh Chánh, làm Quan Đại triều, làm lãnh tụ cứu nước cứu an dân lành, giải khổ ách nô lệ. Bậc nầy dù tái sanh nơi nào trong Lục Đạo cũng đặng làm thủ lãnh cứu nguy, chớ không bao giờ làm thường dân cả, vì sao phải làm vua hoặc làm lãnh tụ? Vì có làm vua hay làm lãnh tụ sau nầy mới có trang nghiêm thành Phật, trước tiên làm chủ giúp dân, sau làm chủ Vũ Trụ, đó chính là lẻ đương nhiên nó như thế. Bậc Bất Thối khi tái phàm nó đã có sẵn Chủ Đích Tin Vâng vào Kinh Điển, vào mục đích nơi mình đang đi, đang thực hành. Như nhất, khi vào một pháp môn nào để tu trì thì đã có sẵn lập trường cao qúy nhất là Tin nơi Pháp Môn, quý Pháp Môn đã có sẵn đức tánh Bất Thối Chuyển.

Còn nói đến Đại Bồ Tát, thật khó nghĩ bàn, khi bậc Đại Bồ Tát giả mê, bất Khả Thượng Hạ thảy đều học hỏi tu hành, không vì bạn mà không học, không vì kẻ giai cấp nghèo nàn mà không học. Tự tôn cao qúy Bậc Thầy, tự trọng thân hữu Bạn, tự mến thương giai cấp mà tự mến.

Bậc Đại Bồ Tát, tất cả công việc Chư Phật đã thi hành ngày nay Đại Bồ Tát phải làm. Đại Bồ Tát thu gọn tất cả những gì còn thiếu sót, những gì A Tăng Tỳ Kiếp chưa làm đến nay Đại Bồ Tát phải làm. Đại Bồ Tát nhìn biết những môn Bồ Tát chưa làm, bằng tánh chất thua kém, bằng ý trí chưa rộng, bằng lề lối biếng trễ, bằng đối xử với mọi người chưa chân thật đang còn chênh lệch nhau, nay Đại Bồ Tát phải thực hành không thiếu sót.

Vì Đại Bồ Tát chưa bao giờ suy nghĩ việc nơi mình giúp đỡ rộng hẹp lớn nhỏ đối với con người, hoặc tâm tánh mình vô ngại để mình đặng ngôi thứ Bồ Tát, do nơi không so tính hơn thua rộng hẹp lớn nhỏ đối với mọi người nên hóa độ được Khổ Ách.

Đại Bồ Tát nhìn tất cả những hiện vật Vũ Trụ đã hóa sanh có tất cả hình sắc. Nếu kẻ nào nhìn thấy hình sắc nơi hiện vật, mà cho là đã biết thì thật ra chưa biết chi cả, vì sao? Vì lúc nhìn những hiện vật thấy đặng thực chất hóa sanh ra nó mới thật là biết.

Có nhiều vị sống trong hình tướng thứ vị hơn là sống nơi mức tiến hóa của con người. Nên chi Đại Bồ Tát sống theo nếp sống tiến hóa Vũ Trụ, hơn là ở nơi thứ vị của Bồ Tát phải chịu nằm trong Vũ Trụ bị sanh. Do lẽ ấy nên Đại Bồ Tát không bao giờ suy nghĩ mình là Đại Bồ Tát, duy chỉ mục đích thật biết tỏ rõ tất cả động cơ và phụ thuộc cơ của Vũ Trụ hóa sanh Sơn Hà Đại Địa cùng vô số thế giới, mỗi mỗi đều có mức sống cùng lối sống khác biệt, nhưng đồng cái sống.

Đại Bồ Tát không bao giờ cầu báo Niết Bàn, cầu báo Tịnh Độ các Cõi Chư Thiên Tiên, vì Đại Bồ Tát thật biết chính mình tạo những gì, chính mình có nơi đó chớ nào phải van xin cầu khẩn mới có, do biết Như Tướng cùng Nhất Tướng mà tâm không bao giờ suy nghĩ vẩn vơ, suy nghĩ mong đợi duy nhất Hạnh Nguyện thực thể mà đặng.

Đại Bồ Tát khi lâm chung, cũng như thay nơi ở, Tâm không quái ngại, nên không có tập khí. Lúc tái phàm hoặc tái sanh nơi nào tùy Đại Bồ Tát đến nơi thai sanh mà thị hiện tái sanh.

Bậc Đại Bồ Tát Nhất Sanh Bổn Xứ Thành Phật. Khi Bồ Tát Bất Thối kiếp thứ 9 chưa tròn hạnh nguyện đến chừng kiếp thứ mười hai (12) mới thành Phật, vì phải tu trì đến mức Đại Bồ Tát mới đặng thọ ký Nhất Sanh Bổn Xứ Thành Phật.

Bậc Nhất Sanh Bổn Xứ Thành Phật. Bậc này đã tỏ rõ tỉ mỉ tất cả vạn pháp di chuyển thay đổi nó như thế nào, đặng thành tựu ra sao. Từ chủng tánh chúng sanh đến Chủng Tánh Bồ Tát, phân định giữa hai trạng thái cử chỉ, đồng thời nơi nghe thấy biết nó như thế nào, thảy đều tỏ rõ thật biết rành mạch. Cũng như biết tỏ rõ tỉ mỉ Vũ Trụ từ nơi Thể Chất, các chất nơi Vũ Trụ hợp hóa ra sao, đặng hóa sanh những gì, từ Sơn Hà Đại Địa đến Nhân Sinh, Thiên Sanh thảy đều biết rõ nơi thọ chấp thứ bậc thành hình vậy.

Bậc nầy khi lâm chung, đã biết trước rõ ràng tỉ mỉ, bậc nầy định hướng nơi an trú để sau hạ lai thành Phật. Bậc này lại sửa soạn quét dọn an bài đâu đó trước ba tháng hoặc bảy tháng mới lâm chung. Bậc này trước khi thoát sanh đã căn dặn tất cả tín chúng từ cử chỉ đến sự hệ trọng trên con đường Giải Thoát. Nhưng Bậc nầy chưa biết sau nầy chính mình hạ lai trong một nước nào, vì sao? Vì dưới mắt Bậc Nhất Sanh Bổn Xứ, nước nào cũng bình đẳng như nhau nên chưa lưu tâm đến. Đến ngày lâm chung, đến phút lâm chung, Chư Phật nghìn phương đồng đứng lên thọ ký. Nhất Sanh Bổn Xứ Thành Phật. Thiền Sư vừa nói đến đây trời cũng về chiều số người cùng Thiền Sư ra về, mối tình cao cả Thiền Sư đã nói, anh em Tâm Niệm cảm kích vô cùng khó tả./-

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1983,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

Lời mở đầu

Dưới mắt Thiền Sư, vũ trụ đối với con người cùng vạn vật, từ hình sắc đến chưa hình sắc thảy đều được nhiếp thu sắp xếp nơi hàm chứa trong kho tạng. Vũ trụ trợ giúp cho con người cùng các sinh vật có cái nghe thấy biết tinh nhuệ thần thoại siêu nhiên, siêu Tiên Thần mà chính con người cùng các nhân loại không hiểu chi cả, ngỡ nơi ấy là của mình. Thân mạng con người, khi kết hợp đầy đủ liền có cái nghe thấy biết làm đường dây liên lạc giữa con người với vũ trụ, sự tương quan mật thiết, nơi khẽ động giao cảm trong con đường dây ấy không sai chạy, có những gì vũ trụ diễn tiến, vũ trụ phát sinh, vũ trụ hóa giải thảy đều tương ứng nơi con người với vũ trụ..

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.