11. PHỔ CHIẾU NHƯ LAI

PHỔ CHIẾU NHƯ LAI vốn trùm khắp bất nhị, tất cả chỉ nương nhờ Như Lai đặng đồng Thể Tánh NGHE-THẤY-BIẾT tạm gọi là Bổn Lai hay gọi là Phật Tánh của Thiện Căn. Khi chưa nhiễm thì chung với nhiên nhiên một thể cách suốt thông, đồng phổ chiếu tròn khắp mười phương, không khác mấy Chư Phật.

Khi trót mê lầm, nó lần lần ngăn ngại so tính đo lường năng phân bị biệt tự nó nhận là VÔ MINH. Lúc theo vô minh thời Phổ Chiếu kia in tuồng mập mờ tối sáng, đóng mở không chừng trở thành tương đối, chịu trong tương đối, đòi hỏi khát khao nên có MA TÁNH, từ Ma Tánh sống trong khát vọng trở thành THAM-SÂN-SI, tham-sân-si là vọng đảo, nên chi còn vọng tức còn tham gọi là THAM VỌNG.

Nơi tham vọng đòi hỏi theo ý muốn gọi là TÂM THỨC, từ tâm thức than phiền chạy vạy phân biệt trong tư tưởng chấp nhận gọi là NGHIỆP, nơi nghiệp thời có nặng có nhẹ, chỉ vì nặng nhẹ xuống lên mà có Chánh Báo cùng Chịu Báo nơi sanh tử luân hồi không ngừng nghỉ.

Khi đã bị Nghiệp liền có giới hạn của nghiệp để mà có nghiệp. Lúc có nghiệp liền có nơi ĐỒNG NGHIỆP chung chịu và BIỆT NGHIỆP riêng chịu. Vì lẽ ấy trở thành BA CÕI và SÁU ĐƯỜNG khép khuôn chịu làm CHÚNG SANH GIỚI HẠN, sống trong Ba Cõi Sáu Đường: THIÊN, NHÂN, A TU LA, SÚC SANH, NGẠ QUỈ, ĐỊA NGỤC ngăn cách nhau, không thể nhìn nhận Nghe-Thấy-Biết với nhau, mỗi cảnh giới hưởng một thể chế khác biệt nhau, nhưng đồng Nghe-Thấy- Biết với nhau không khác.

Có một điểm đặc biệt nên chú ý: Đối với PHỔ CHIẾU NHƯ LAI vẫn như nhiên bất biến không sai khác, tựa như mặt trời soi trên quả đất nên Phổ Chiếu Như Lai soi khắp trong Ba Cõi Sáu Đường, nhờ đó mà trong Ba Cõi Sáu Đường có bậc tu hành Tín Tâm mong cầu Tri Kiến Giải Thoát vẫn đặng như sở nguyện.

Chẳng phải cõi Thiên tu được mà cõi Nhân tu không được. Hoặc cõi Nhân tu được mà Ngạ Quỉ, Súc Sanh hay Địa Ngục tu không được, bậc nào ở cõi nào hoặc giai cấp nào miễn có tín tâm thảy đều tu đặng tất cả.

Nếu bậc tín tâm cầu Tri Kiến Giải Thoát ở một cõi nào bất luận, khi Giác Ngộ liền thông cảm sự Nghe-Thấy-Biết viên thông trong Tam Thế trùm khắp Ba Cõi Sáu Đường, đối với bậc ấy không còn ngăn cách, vì sao? Vì đồng hưởng PHỔ CHIẾU NHƯ LAI, chỉ tròn Bổn Nguyện liền thành tựu làm NHƯ LAI PHỔ CHIẾU.

Còn các kẻ mê lầm phải bị trong thể chế chúng sanh nơi đồng nghiệp và biệt nghiệp, sự Nghe-Thấy-Biết cảnh giới nào thì dùng nơi đồng Thấy, đồng Nghe-Biết viên dung như bậc Giác Ngộ. Bậc MÊ và GIÁC hai trạng thái nơi Nghe-Thấy-Biết khác biệt nhau. Nhưng bậc Giác biết kẻ Mê, chớ không thể nào kẻ Mê biết đặng bậc Giác. Cũng như: Bậc ở trong tối đã bước ra được nơi sáng liền biết nơi tối, chớ ở tối chưa ra được sáng thì không bao giờ biết đặng nơi sáng.

– Bậc GIÁC Nghe: Nghe không sai lạc, trùm khắp viên dung bất nhị thực thể, nên chẳng có chỗ nghi.
– Kẻ MÊ Nghe: Không ngoài THINH (tiếng) vì Ma Tánh Vô Minh làm chủ, che lấp mê mờ nên cái Nghe kia bị Nghe, vì vậy nên nghi ngờ bởi chưa tỏ rõ.

– Bậc GIÁC Thấy: Thấy Nhất Tướng tỏ rõ, Chân Tướng trùm khắp không thiếu sót, nên không còn chốn phân biệt.

– Kẻ MÊ Thấy: Không ngoài SẮC, vì Ma Tánh Vô Minh nó làm chủ che ngăn mê mờ, nên cái Thấy Bị Thấy không ngoài Sắc Pháp của diệt sanh nơi sanh diệt, Đồng nghiệp mới thấy còn Biệt nghiệp thì không thấy, do đó cái thấy vẫn còn hoài mong cho được Thấy.

– Bậc GIÁC Biết: Trùm khắp viên dung tận tường tỉ mỉ tự tại vô ngại Tổng Trì Đà La Ni Tạng, không biên giới, nhưng chẳng sai biệt, thật biết, biết hơn thế nữa, cái biết Bất Nhị, không còn lấy một nghi.

– Kẻ MÊ Biết: Không ngoài XÚC PHÁP, (cho biết) vì Ma Tánh Vô Minh làm chủ, che lấp mê mờ nên cái biết có bờ ngăn trở thành Bị Biết, do đó cái Biết trở nên CÓ CHO MỚI BIẾT, CHƯA CHO CHƯA BIẾT. Biết nơi Lý Luận để biết, biết trong học hỏi đặng biết, biết không ngoài SẮC PHÁP đụng chạm nhắc nhở mà Biết, bằng chẳng vậy thời không biết.

Nếu không MÊ gọi là GIÁC NGỘ. Trăm nghiệp vạn thức Đồng nghiệp hay Biệt nghiệp duy chỉ có MÊ và GIÁC NGỘ, hưởng đặng PHỔ CHIẾU NHƯ LAI hay chưa hưởng được Phổ Chiếu Như Lai duy chỉ có MÊ cùng GIÁC NGỘ. Chỉ vì Nghiệp mà có Tham Sân Si vì tham-sân-si mà trở thành Vô Minh vọng đảo, có vọng đảo chỉ sống trong TẠNG THỨC phân chia che mờ Phật Tánh làm lấp Phổ Chiếu Như Lai, nên có Khôn Dại, Tối Sáng mà sự NGHE-THẤY-BIẾT phải ở trong vòng Chúng Sanh Giới Hạn.

Đối với Phật biết rõ PHỔ CHIẾU NHƯ LAI vốn không có nhiễm soi khắp mười phương, tựa như mặt trời soi trái đất, nhưng tất cả ở dưới quả đất nhìn lên mặt trời ngỡ rằng mây che mặt trời lầm chấp như thế, chớ thật ra mặt trời nào bị mây che, nên đứng trong trạng thái lầm mê nghe qua Phật pháp khó hiểu, khó nhận để đặng tỏ biết, khi bậc tu cố gắng phá Vô Minh giải những điểm lầm nhận đoạn trên đã nói đến Giác Ngộ thời mới biết Nghe Thấy không lầm mà trọn giác.

Đứng nơi Bổn Lập NGHE-THẤY-BIẾT của kẻ mê, bậc Giác mà phân tách để đôi bên thông cảm hiểu biết nhau, thật là cả một vấn đề khó khăn vì bị mâu thuẫn xa khác với nhau muôn trùng vạn biệt. Do đó chư Bồ Tát muốn độ chúng sanh thời phải dùng sự TÍN TÂM để làm một đường giây dìu dắt tu hành đến TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Con đường TRI KIẾN chính là mục tiêu đem đến nơi hộp hóa Nghe-Thấy-Biết đồng song đặng thọ hưởng PHỔ CHIẾU NHƯ LAI tu hành rốt ráo, chẳng còn một sai biệt đến TỰ GIÁC hoàn toàn gọi là NHƯ LAI PHỔ CHIẾU, lúc bấy giờ chẳng còn TẠNG THỨC, đó chính là một yếu tố Giải Thoát Môn vậy.

PHỔ CHIẾU NHƯ LAI, khi công dụng Như Lai Tạng nơi Tạng ấy đã có đôi phần giảm của Phổ Chiếu Như Lai. Cũng như tôi đem tập GIÁO LÝ trên con đường Giải Thoát biện phân ra đây thời nó vẫn giảm nơi Giải Thoát vài phần. Nhưng dù sao bậc tu hành cầu Tri Kiến Giải Thoát đem trí tuệ soi biết trong Bốn Bậc đều có bốn nơi THẤY khác nhau, may ra nhờ vậy mà giúp cho bậc Tín Tâm được toại nguyện.

 • Từ Thể Tánh NHƯ LAI PHỔ CHIẾU thời THẤY của Như Lai đều Bình Đẳng Bất Nhị.

 • Từ Thể Tánh nơi Phật THẤY thì thấy của Phật toàn là Bồ Tát Hạnh Nguyện để thành Phật, chớ không có Nghiệp.

 • Từ nơi Tánh của Bồ Tát, thời THẤY thề nguyện độ trên LỤC ĐẠO, cho chúng sanh thoát LỤC ĐẠO.

 • Từ Chúng Sanh Tánh thì cái THẤY của chúng sanh toàn là hoàn cảnh vay trả, trả vay của Nghiệp Thức, nên đứng nơi vạn lối Thuận Nghịch tương tranh, tương đối thọ pháp, nó cứ mỗi một hoàn cảnh của mỗi giai cấp liền có cái thấy của hoàn cảnh giai cấp đó. Mỗi một thế hệ của mỗi nước thì nó liền thấy trong thế hệ của nước đó. Lại có mỗi trình độ mỗi mê chấp, mỗi Dị Biệt Nam Nữ đều có mỗi cái thấy, vì vậy trở nên cái thấy sai biệt mà cuồng tín vọng loạn mù quáng. Thành thử chúng sanh tánh phải chịu lấy cái Thấy ban cho mới đặng Thấy nên nó không ngoài SẮC PHÁP, đến cái Nghe đồng với cái Biết thảy đều bị ban cho nó không ngoài THINH và XÚC PHÁP, nên chi có học mới có Biết, có tiếng động mới có Nghe, gọi là Bị NGHE-THẤY-BIẾT chớ chẳng Được NGHE-THẤY-BIẾT như Chư Bồ Tát cùng Chư Phật.

Ngày nay bậc tu hành nên áp dụng thù thắng tâm để lướt qua các nghiệp cản của nơi Nghe-Thấy-Biết bị che lấp bởi Vô Minh để đem TỰ GIÁC trở lại, trên con đường tu tập cần nhất là TỰ GIÁC. Tự Giác đó chính là pháp Vô Lậu, còn Bị Giác là Hữu Lậu. Nơi vô lậu là một con đường giải tỏa VÔ SANH, đem bậc tu hành thừa hưởng PHỔ CHIẾU NHƯ LAI viên thông trùm khắp, thoát khỏi vòng đai Bị Biết, Bị Nghe, Bị Thấy. Đó chính là con đường BỒ TÁT HẠNH phải làm, nay bậc tu đang làm, cốt giải phá mê chấp. Từ cái Bị Giác, sau khi qua các Sắc Pháp có nghĩa là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc Pháp, Danh Vọng Danh Nghĩa tâm chẳng say đắm, gọi là chẳng vướng mắc trong Ngũ Dục trong Hư Vị thân tâm thư thới lấy Hạnh Nguyện an vui, đó chính là con đường Tri Kiến Giải Thoát. Bằng bậc tu hành dụng SÁT để độ, dụng DÂM để hóa độ, dùng ĐẠO TẶC để cho mình hóa độ ba đường ÁC (thì vô tình hoặc cố ý phải bị chìm đắm trong ba đường ÁC), không thể nào thoát trần lao, đó chính là đồng chủng MA TÁNH, vì vậy mà Phật nói trong kinh THỦ LĂNG NGHIÊM để nhắc chư Bồ Tát cùng những bậc tín tâm nên tránh như sau:

Phật nói: A Nan sau khi Ta nhập diệt độ rồi, Ông nên thuyết cho chúng sanh lìa bỏ nghiệp Sát, nếu trong Sáu Đường mà tâm chẳng sát thì chẳng bao giờ nghiệp Sanh Tử lôi kéo mãi đó là nguồn gốc thoát trần lao.

Ngược lại, nếu Tâm Sát Sanh không trừ đặng trần lao chẳng ra khỏi hỏa sát. Dầu cho Trí Tuệ Thiền Định hiện tiền mà không đoạn thì tất phải đọa vào Thần Đạo.

– Nầy A Nan, vì sao Nhiếp Tâm gọi là Giới? Nếu tất cả chúng sanh trong sáu đường, Tâm không Sát Đạo Dâm hay lìa tất cả Sát Đạo Dâm thì không bao giờ bị Nghiệp lôi kéo, nó cũng là thoát Trần Lao. Nếu nơi Tâm không nhiếp đặng để mặc nó đi nơi Sát Đạo Dâm chẳng tiêu trừ thì Trần Lao không ra khỏi. Dầu cho Trí Tuệ Thiền Định mà chẳng đoạn Sát Đạo Dâm tất đọa vào Thần Đạo cùng Ma Đạo.

Những loài Ma Đạo ấy nó có đồ chúng, tất cả đều cao cống, nó cũng tự xưng mình là VÔ THƯỢNG. Sau khi ta diệt độ đến thời Mạt Pháp có nhiều hạng Ma, nhưng chúng chia ra làm Ba Phẩm: Thượng Phẩm là Ma Vương, Trung Phẩm là Ma Dân, Hạ Phẩm là Ma Nữ, hiện hành nơi thế gian làm sự Sát Đạo Dâm ô nhiễm, lại tự xưng là Thiện Tri Thức, khiến cho chúng sanh lầm vào nơi tà kiến mà tu lầm lạc mất Đạo Bồ Đề.

Vậy người dạy tu Chánh Định, trước phải đoạn trừ Sát đến Đạo Tặc và Dâm Dục, đó chính lời Minh Huấn Thanh Tịnh từ xưa đến nay. Nghĩa thứ nhất của các Đức Phật Thế Tôn vậy. A Nan nên biết, nếu kẻ tu Thiền Định nhưng chẳng đoạn trừ Sát Đạo Dâm cũng như kẻ nấu sạn đá muốn trở thành cơm, dù có ngàn kiếp cũng chỉ là sạn nóng, chẳng bao giờ gọi là cơm. Tại sao vậy? Vì sạn đá không có gốc của cơm. Nếu lấy Sát Đạo Tham Dâm mà cầu Diệu Quả dầu có đặng tỏ ngộ, cũng tỏ ngộ nơi căn Sát Đạo Tham Dâm, vì sao? Vì bổn căn là Sát Đạo Tham Dâm tất trôi theo ba đường khổ lụy chớ chẳng bao giờ giải thoát cực quả Như Lai. Do đường nào mà Tu Chứng? Vậy làm thế nào cái máy Sát Đạo Tham Dâm của Thanh Dâm và máy của Thanh Tâm đều dứt mới mong hy vọng đến Tánh cũng dứt mà được Diệu Quả Bồ Đề của Phật. "Nếu đời sau thuyết pháp nói như TA vậy mới gọi là: LỜI NÓI CỦA PHẬT, bằng chẳng vậy gọi là Giả Thuyết, tức là lời nói của MA BA TUẦN.”

Trong bài nầy các bậc tu hành nên cổi giải khỏi chìm đắm làm cho Thân Tâm tiêu giảm các căn nghiệp để trí tuệ đến gần PHỔ CHIẾU NHƯ LAI. Từ phàm phu đi ngược trở lên Bồ Tát Nguyện, từ Bồ Tát cầu Diệu Quả đặng thành Phật, từ Phật làm tròn Bổn Nguyện rốt ráo đoạt đến NHƯ LAI PHỔ CHIẾU, đó chính là Pháp Môn Bất Nhị không dư thiếu vậy./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

10. PHẨM CÔNG ĐỨC

CÔNG ĐỨC là một phẩm tu hành nơi Công Năng tạo Đạo Đức bậc tu phải bảo trì mới thành tựu Công Đức. Công Đức nó đứng giữa tinh thần đồng hòa với vật chất, nếu bậc tu hành trọn với phẩm Công Đức thời chính là tu nơi Lý Sự song tu vậy.

CÔNG ĐỨC tiêu biểu cho thành tâm cầu đạo, có chí xây dựng ngôi Tam Bảo trường tồn vĩnh cửu, lại làm cho hương khói chẳng đoạn tín tâm. Từ bậc xuất gia tối cần phải làm Công Đức để lãnh của thập phương cúng dường Công Đức gọi là tu cho mình, giúp đỡ cho các tín tâm đồng tu, đó chính đồng xây Bảo Pháp thường còn. Bậc tu dù có tín tâm cho mấy chăng nữa, không có phát nguyện thành tựu Công Đức thật khó thành tựu.

PHẨM CÔNG ĐỨC rộng rãi bao la, tùy theo khởi tín thành tâm lại tùy theo khả năng phát nguyện, chẳng cầu nhiều ít giàu nghèo làm quan hệ, chỉ vẹn toàn Công Đức là chính điểm, nên tất cả từng lớp không phân biệt Xuất Gia, Tại Gia chỉ tín tâm hướng Phẩm Công Đức không nhỏ. Cũng lắm bậc suốt đời thọ pháp Công Đức chẳng cầu báo, gọi là Công Đức cúng dường Tam Thế BA LA MẬT Như Lai. Bậc ấy lãnh Phẩm Công Đức để cầu Thân Tâm chính xác, nên thường giúp đỡ cho các Tăng Ni xây cất Chùa Tháp, hương đăng phẩm vật cung kính cúng dường nhất tâm đảnh lễ, miễn làm tròn phẩm nguyện Công Đức, bậc như thế vẫn được Chánh Báo Nhân Thiên hay làm chủ một cõi Trời an hưởng.

CÔNG ĐỨC PHẨM liên hệ nhau từ Quá Khứ đến Hiện Tại thành tựu, hoặc từ Quá Khứ đến Vị Lai kết quả. Do đó mà Công Đức tùy theo sở nguyện thành tựu. Nói đến hiện tại thành tựu như thời đức Lục Tổ Huệ Năng, Ngài chỉ dụng Công Đức giả gạo và bữa củi trên 8 tháng đặng Giác Ngộ, ngài chính có một bản năng chân chất, ít nói văn hoa, nên chi lời Kinh Pháp Bảo Đàn ngài diễn nói toàn Tự Tánh rất thực thể gần nơi Diện Mục Bổn Lai, nó không xa lìa Đức Tánh Tự Giác.

Ngài lại khéo léo làm cho Tín Chúng khởi nơi tụng đọc Bị Giác đến Tự Giác. Hiện nay bậc tu hành Tự Tánh tìm đặng Chơn Tánh mà tu, thì xem kinh PHÁP BẢO ĐÀN để nhận thức đến kết quả không nhỏ.

Nói đến Vị Lai để hưởng thời có Bà Gia Thâu Đà La thời quá khứ tiền thân làm cung nữ, trong thời ấy có ĐỨC NHIÊN ĐĂNG PHẬT ra đời, bà đem hai cành hoa làm phẩm vật cúng dường Công Đức. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn chưa thành Phật hãy còn đang tu Ngài mới xuống núi đến kinh đô để tìm hoa mua sắm làm lễ Công Đức cúng dường, nhưng vì đến trễ không còn. Ngài gặp Gia Thâu Đà La cung nữ, Ngài bèn nài nỉ lại một cành để cúng dường đức Phật Nhiên Đăng, bà cung nữ không chịu nhượng, nhưng chịu với lời hứa bằng phẩm Công Đức cúng dường nầy, sau khi Đức Thế Tôn thành Phật thì bà phải được làm vợ của Phật. Đức Thế Tôn suy nghĩ một hồi, đồng ý nhưng làm vợ Phật thì bà phải tu, đôi bên ưng thuận. Đức Thế Tôn đem hai cành hoa đến Công Đức cúng dường Phật Nhiên Đăng, hai cành hoa bỗng bay trên hư không kết nhau thành một vòng tròn. Đức Nhiên Đăng Phật Thọ Ký Đức Thế Tôn thành Phật hiệu BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. Khi Đức Thế Tôn ra đời thành Phật theo Phẩm Công Đức Bà Gia Thâu Đà La làm vợ Đức Thế Tôn, đó gọi là Vị Lai Chân Báo.

CÔNG ĐỨC là pháp Duyên Sanh trong Ba Đời bất diệt, đầy đủ cả tinh thần vật chất để bậc tu tiến hành, bậc chưa tu đều nương theo Công Đức tin tưởng mà sung mãn khó nghĩ bàn, khó diễn nói hết Phẩm Công Đức, Công Đức chẳng khác nào hoa màu đem gieo giữa Hư Không, bậc gieo trồng được hưởng vô lượng kiếp, nó cũng là một mối tình đối với Chư Bồ Tát nguyện độ Chúng Sanh, chung cùng Chư Phật hóa độ Bồ Tát, do đó Phật mới nói với một Chư Thiên rằng: “KẺ CHO ĐƯỢC LỢI, BẬC NHẬN MẤT LỢI.” Bậc Thiên vui mừng cung kính đảnh lễ trở về khuyên tất cả đều dùng Ngọc Ngà Nhạc Phách Lưu Ly các báu làm Phẩm Công Đức cúng dường bất đoạn. Từ đó mới khởi sanh Công Đức cúng dường trong hàng Trưởng Giả gọi là TRƯỞNG GIẢ CHÚNG.

CÔNG ĐỨC khởi duyên cho bậc đã từng làm Công Đức có một niềm tin vững, lúc lâm chung trực biết mình đã từng làm Công Đức cúng dường liền Phước Báo Nhân Thiên hay khỏi sa ba đường Ác: Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục. Kẻ biết làm Công Đức chính là kẻ mong về Tri Kiến Giải Thoát của tương lai. Kẻ biết làm công đức kẻ ấy tin tưởng không bao giờ có tai nạn như Thủy Hỏa Đạo Tặc liền được như ý nguyện. Bậc tu hành tín tâm làm Công Đức bậc ấy được Trí Tuệ thù thắng để đoạt Tri Kiến Giải Thoát.

CÔNG ĐỨC thành tựu lẫn cả tinh thần và vật chất, nó chính một nấc thang, có trọng lượng tinh thần, có năng lực vật chất, xây dựng chịu đựng trong phần xây dựng, có một tâm trạng bao dung. Vì vậy mà từ phàm phu ích kỷ keo kiệt đến lúc làm Công Đức lại quảng đại bao dung, tu hành trở nên Thánh Tăng tâm không quái ngại. Do đó tất cả đều có một hướng tạo Công Đức cúng dường, chẳng hơn thua so tính, vì tạo công đức chừng nào thì sau nầy được hưởng chừng đấy, công đức nó không bao giờ thiệt thòi hay mất mát đâu cả.

CÔNG ĐỨC PHẨM thời bao gồm Chí Dũng, Giới Định Tuệ, Lục Ba La Mật Đa, nên chư Bồ Tát làm công đức cúng dường không nhàm chán, say trên Đạo Hạnh Công Đức, đặng Trí Tuệ Bát Nhã chính nương nhờ Công Đức, khi gặp các chướng ngại ngăn cản nương nhờ phẩm Công Đức mà đặng lướt qua một cách dễ dàng, tâm không phiền trách, thêm an vui vì Tròn Nguyện.

Phật thường khen bậc tu hành tạo nên Công Đức lại biết Bảo Trì Công Đức, bậc ấy đã cúng dường chẳng biết bao nhiêu đời Phật. Bậc tạo nên Công Đức, khi có kẻ khác phá hoại, bậc ấy tâm không phiền trách thời bậc ấy đã từng hành thâm Bát Nhã Hạnh Nguyện cúng dường chẳng biết bao Công Đức đối với Như Lai Phật. Những bậc như thế mới là bậc Báo Ân Phật cũng là Tri Ân đồng hành Bồ Tát Nguyện, đối với những bậc như vậy thời con đường Tri Kiến Giải Thoát nó chẳng xa. Còn kẻ làm công đức, phơi bày công đức của mình để đặng mọi người khen tặng, lấy đó làm hư vị thì chẳng phải là phẩm Công Đức, chỉ là kẻ cho vay tiền thóc.

PHẨM CÔNG ĐỨC có một trạng thái, một nấc thang lần đưa cho kẻ ÁC tu tạo công đức một thời gian trở nên người THIỆN liền bảo trì Thiện, chẳng bao giờ làm điều ác, đặng gia công tu tập trở thành bậc tu CHÂN CHÁNH, gìn giữ chân chánh, tâm không quái ngại nương nhờ Công Đức trở nên bậc TU ĐÀ HOÀN, bậc Tu Đà Hoàn đến TƯ ĐÀ HÀM lên Tư Đà Hàm lên đến A LA HÁN lại vì công đức mà thành tựu BỒ TÁT. Bậc Bồ Tát nương vào Công Đức Như Lai tu Hạnh Bát Nhã Hành Thâm Pháp Giới tâm không quái ngại Công Đức Ba La Mật Đa tròn nguyện thành Phật, nương theo MƯỜI DANH HIỆU tròn BỔN NGUYỆN liền nhập BÁT ĐẠI NIẾT BÀN.

Phần trên nói về bậc làm Công Đức biết bảo trì Công Đức trọn là khó. Phần dưới đây nói về bậc Thọ Lãnh Công Đức đối với Thiện Tín cúng dường lại khó hơn. Vì sao? Vì Thọ Lãnh Công Đức cúng dường của Thiện Tín phải có một hàm chứa công đức để bảo trì cho bậc cúng dường mới dám thọ lãnh.

THẾ NÀO LÀ HÀM CHỨA BẢO TRÌ CÔNG ĐỨC?

Một là phải nương theo công đức của NHƯ LAI thề nguyện SỰ mới thọ lãnh. Hai là phải TỪ, BI, HỶ, XẢ tạo nên Đạo Đức tâm hồi hướng cúng dường Như Lai mới thọ lãnh. Ba là TỰ GIÁC đến THA GIÁC làm cho tất cả được lợi Đạo Hạnh cùng Đức Hạnh phá mê lầm mới Thọ Lãnh. Bốn là thật tỏ rõ các pháp không vướng vào một pháp lãnh công đức đưa cho tất cả thiện tín vào Tri Kiến Giải Thoát mới thọ lãnh. Năm là chẳng dối mình Tướng Tánh đồng song nói pháp làm cho từng lớp công đức được lợi chưa bao giờ có, khi được Bảo Pháp tín chúng khởi tâm Giải Thoát, khởi niệm Tam Thế hồi hướng Thiện Căn xa lìa cấu nghiệp, mới là thọ lãnh Phẩm Công Đức cúng dường, bằng chẳng vậy chớ thọ lãnh công đức cúng dường. Vì sao? Vì Đại Diện Tam Thế, vì cần đưa tín chúng ra khỏi ngũ độc Sát Tham Vọng nên nhận công đức để đưa tín chúng thoát khỏi, vì vậy mà thọ lãnh Công Đức.

Bậc nhận lãnh Công Đức chẳng làm lợi cho tín chúng tâm của bậc nhận lãnh hãy còn mơ màng hai tướng ràng buộc ngổn ngang, chưa tỏ tường Tướng Tánh, mình còn hư dối mình thời hiện tại có năm điểm báo ứng không lợi.

Một là đau ruột, ợ chua tức ngực, sưng cổ. Hai là đau bao tử, bại thận kiết lỵ. Ba là nóng giận ruột gan. Bốn là lộng đầu nhức óc ù tai xây xẩm. Năm là sinh tật uống rượu, cờ bạc, đỉ điếm, chè chén, dối quanh. Sau khi mãn phần đau bán thân bất toại, vì sao lại có sự báo ứng như vậy? Vì Tín Chúng làm Công Đức cốt cúng dường Như Lai Tam Thế, bậc thừa hành nhận lãnh công đức phải làm tròn nhiệm vụ mới lãnh công đức, bằng chẳng vậy thời Báo Ứng hiện tại.

Thuở xưa có bà Hoàng Hậu Đề Vi nguyện làm Công Đức cúng dường đã nhiều kiếp, nhờ công đức vô lượng kiếp mà sau mới gặp đặng Đức Thế Tôn. Còn bốn kẻ khiêng kiệu và một kẻ quét cầu tiêu theo bà kia là thời quá khứ làm Tỳ Kheo thọ lãnh công đức cúng dường của bà ĐỀ VI không trọn sau phải khiêng kiệu quét cầu tiêu trên 18 kiếp để trả mà chưa xong, theo kinh VỊ TÀNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN PHẬT đã nói./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

9. KHỞI SANH TÂM TU TỎ TÁNH

KHỞI SANH TÂM TU TỎ TÁNH cốt thông đạt các pháp đến Tâm Thông, Điều Ngự Sanh Tâm thì Giác Ngộ, bằng bị Tâm nó sanh phải mê lầm theo Tâm Thức năng biệt bị biệt, phân chia từng lúc từng hồi vướng mắc vào nơi sanh diệt, diệt sanh vọng loạn, thì tâm kia nó trở thành vọng tâm. Khi vọng tâm điên đảo gọi là pháp. Pháp không ngoài Tâm sanh.

Tất cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, vũ trụ nhân sinh thảy đều bị Tâm Sanh, chớ mấy ai tự chủ Sanh Tâm? Do Tâm sanh nên bị sanh, thành thử mê lầm van cầu mong mỏi ở nơi Tâm chính mình sanh để tu Phước được phước, gây họa phải chịu họa, tu Tiên thành Tiên, tu Thánh thành Thánh, tu Phật thọ pháp Phật liền thành Phật, gọi là Phật Pháp, vì sao? Vì PHÀM SỞ HỮU TƯỚNG, Tướng vốn pháp, mà pháp vốn Tâm sanh.

Bậc khởi sanh Tâm tu hành rốt ráo thật quý vô kể, vì sao? Vì khi đã khởi sanh Tâm chẳng bao giờ cho Tâm Sanh trở lại. Cũng như: Đã từng bị tướng cướp nó sai, sau khi ra khỏi nhà tướng cướp không thể nào để nó sai lại nữa.

Bậc ấy có một quyết định lướt qua các Nghiệp Thức ý nghĩ cản ngăn của Tâm Sanh, các hoàn cảnh thuận nghịch làm gián đoạn lỡ làng đường tu lại luôn luôn kiểm điểm các đố tật chướng đối cùng đảm phá Ngã và Ngã Sở để Sanh Tâm hướng thượng nương theo vết chân Bồ Tát Hạnh, tâm không chán nản, chí chẳng nhỏ nhen vặc mắc, cốt điều ngự Tâm để Sanh Tâm trên bước tiến mọi mặt tu hành, nên chi phát BA TÂM NĂM NGUYỆN củng cố không cho Tâm sanh.

Vì trót lầm nơi TÂM SANH, ngày nay tu hành mong thoát khỏi Tâm Sanh, khỏi vòng sanh tử để được toàn giác nên điều ngự Tâm Sanh thật là một điều khó khăn vô kể. Nên chi Phật rất khen bậc PHÁT BỒ ĐỀ TÂM, bậc Phát Bồ Đề có thể phá trừ tâm vọng để tu tập đoạt Vô Thượng Chánh Giác.

Còn hơn bậc đang tu, đang bị Tâm sanh chấp pháp chẳng tìm ra lối thoát trần lao vậy.

TÂM SANH. Từ thế gian cư nhân đến bậc xuất gia vẫn thường vướng bị, vì sao? Vì chưa tỏ rõ căn bệnh lầm mê và THỂ CÁCH của Tâm Sanh di chuyển, một khi chưa được biết thì làm thế nào để soi biết Điều Ngự Tâm Sanh?

Chẳng khác nào kẻ vào rừng chưa thuộc đường thì làm sao không lạc, còn đối với bậc đã biết tỏ rõ đường rừng không bao giờ bị lạc, Tâm Sanh các bậc phải lầm cũng vậy, do nơi tu tập thường lầm nên Chư Bồ Tát mới nguyện HÀNH THÂM PHÁP GIỚI, chính là soi khắp nơi Tâm sanh lầm chấp, đó là một ưu điểm để tu khỏi lầm Tâm Sanh mà thọ chấp.

Thời nào cũng rất nhiều bậc tín tâm cầu đạo, có lắm bậc hết mình nơi Công Đức để cầu đạo, họ đã từng lìa Ngã bị Tâm Sanh đưa đến KHÔNG NGÃ của Pháp Không, họ đã từng tu Khổ Hạnh bị Tâm sanh đưa đến KHỔ PHÁP mơ màng, đã từng Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục, Trí Tuệ, Thiền Định, ngoài ra tu bằng trăm nghìn công năng của lời Phật dạy, nhưng vẫn bị Tâm Sanh trở nên thường chướng, thường đối, dị biệt, nghi ngờ, mâu thuẩn Đạo và Đời, Sắc Pháp, Không Sắc Pháp chưa thoải mái thân tâm khác biệt mơ màng. Đó chính là chưa biết dùng thuốc để trị bệnh mê lầm của Tâm sanh vạn pháp, phải lầm mê hơn bậc ngoài Nhân Thế thường tình.

Bậc tu hành cần biết qua VẠN PHÁP, vạn pháp chính Tâm sanh, bởi Tâm sanh nên vạn pháp không thực thể, vạn pháp nó là huyển hóa, thường đem đến cho bậc tu hành những chướng ngại ngăn cản do đó bậc tu hành mới dùng Thù Thắng Tâm để đối trị sự ngăn cản của Tâm Sanh vạn pháp, đường tu khỏi Đoạn Dị Diệt. Lúc Tâm Sanh nó đưa đến cho bậc tu hành: Nóng giận, eo hẹp, nhỏ nhen, lười biếng, thì phải dụng NHẪN NHỤC, BỐ THÍ, TINH TẤN, cốt giải Tâm Sanh bắt bậc tu phải nóng giận, nhỏ nhen, lười biếng gọi là pháp đối trị Tâm sanh. Tuy rằng mỗi pháp môn tu cốt để đối trị nơi Tâm Sanh của Đức Phật đã dạy, nhưng bậc tu hành lại chưa biết, quan niệm pháp môn là nơi Tu Chứng của mình, thành ra không kết quả bị lầm nơi Tâm Sanh, nơi chấp pháp. Nếu biết được thời công dụng pháp đối trị để dẹp hết Tâm Sanh đương nhiên Giác Ngộ, gọi là lầm Huyển lấy Huyển để tu, khi Huyển hết liền chứng thị.

TÂM SANH chẳng khác nào bọn giặc cướp, không khác mấy với kẻ uống lầm NGŨ ĐỘC. Bọn giặc cướp Tâm Sanh nó đầy đủ mưu mẹo thâm sâu hiểm ác, thường lừa kẻ đã bị rơi vào tay bọn chúng, liền bị chúng hành hạ bóc lột từ Thân đến Tâm trọn đời đến mãn trăm ngàn kiếp phải phục vụ cho chúng. Bằng không phục vụ thì bọn chúng chẳng ban cho an vui phút chốc nào cả. Khi bậc đã biết chúng, có ý định tháo ra, thời chúng lại mưu mẹo làm cho bậc mong thoát, khó mà thoát nổi với chúng. Vì vậy mà Phật nói bọn ấy là: MA TÁNH.

Về phần bậc có trí tuệ chút ít, nhận thấy Đời là khổ, Nghiệp là nguy hại, Sanh Tử thời đớn đau. Cũng như biết bọn Tâm Sanh giặc cướp hành hạ khổ sở chẳng được tự tại ràng buộc trăm chiều, bậc ấy mới phát Bồ Đề Tâm nguyện tu đến Tri Kiến Giải Thoát.

Bọn giặc cướp Tâm Sanh nó cũng đã biết ý nghĩ ấy nơi bậc mong thoát khỏi tay chúng, nhưng chúng vẫn im lặng mưu mẹo để cho bậc kia hành sự rồi chúng tùy thuận đánh lừa. Chúng bèn đến Chùa hay nơi tu, tùy theo mà hành sự. Nếu vị Lãnh Đạo Giác Ngộ thì chúng không nương theo vị Lãnh Đạo, nương theo Đồ Chúng để lập phe phái cùng với bậc đại nguyện trở nên Ma Chướng đủ điều không cho tu được, bằng có tu được theo ý muốn cùng tu với Ma Giáo, do đó bậc Lãnh Đạo phải hao hơi nhọc sức mới tiêu dẹp được bọn chúng mà đưa đến Tri Kiến Giải Thoát. Còn nếu như vị Lãnh Đạo chưa Giác Ngộ thì bọn chúng khỏi cần canh gác vì cũng đồng đạo của chúng.

TÂM SANH ĐỒ CHÚNG nó có nhiều lối làm cho bậc tu hành phải lầm nhận cho mình là Chánh Đạo còn bên ngoài là Ma Đạo để gây tụng, kình cãi phe phái ganh tị hơn thua nhau từng Tôn Giáo, từng Đạo Chúng, bủn sẻn từng lời nói, từng hành động, từng y áo màu sắc, từng Chức Đạo, lề lối sống còn nhỏ nhen khi chưa tu hành nữa lại gọi đó là xây dựng Chánh Pháp của Đồ Chúng Tâm Sanh, ngỡ mình theo lời Phật dạy.

Khi bậc tu hành TIN PHẬT thì chúng xúi cho bậc tu ấy tin hơn trở thành mê tín. Nếu kẻ nào động đến sự tu thì liền tự ái hoặc đến Phật thì sân hận thù ghét cải vã không tha cho kẻ ấy. Cũng như : Bậc tu lấy THIỆN CĂN làm quý, Từ Bi làm căn bản trên con đường tu tập thì nó lại xúi: Thiện Căn và Từ Bi quá mức, đến nỗi Từ Bi không có Trí Tuệ, Thiện Căn chẳng Bảo Trì, thành thử thấy ai khổ sở sinh tâm khổ hơn kẻ đang khổ, nghe ai than van thời chạy theo lời than của họ là làm cho tổn sức, rốt cuộc toàn bị Tâm sanh lừa dối, chỉ lãnh có hai chữ: TỘI NGHIỆP thôi.

TÂM SANH nó luôn luôn nằm nơi Tâm Thức của bậc Tín Đạo thành tâm vì Đạo, ngoài ra nó không nằm nơi bậc thờ ơ chưa nếm mùi Đạo. Nó thường nói nơi Tâm Thức của bậc tu, nó thường phân chia Tốt Xấu, Thiện Ác, Phải Quấy, nó xúi cho bậc tu hành chẳng chịu nghe ai, nó cho là phàm phu thô bỉ ăn mặn, ăn chay, có vợ có chồng hay xuất gia và không xuất gia đủ thứ để cho bậc tín tâm kia sinh ra DỊ BIỆT mà NGĂN BIỆT, trở nên thích lối nào tu theo lối ấy. Dù cho Đức Phật hay Thiện Tri Thức chỉ dạy để tu chăng nữa, nó vẫn xúi cho bậc tu tín tâm ít nghe Đức Phật, ít tu theo bậc Thiện Tri Thức mà tu theo TÂM SANH nhiều hơn cả. Vì vậy nên trong thời Đức Thế Tôn Ngài thường kêu gọi: “CÁC ÔNG HÃY NGHE LỜI TA NÓI TOÀN LÀ LỜI CHÂN THẬT.” nào ai có nhận được, vì sao? Vì Tâm sanh Ma Tánh che lấp ám mờ gọi là Nghiệp, nó chẳng cho nghe để nhận lãnh Bảo Pháp đặng tiêu trừ Đồ Chúng Tâm Sanh.

TÂM SANH nó thường gọi các bậc Đại Trí, nó dối gạt các thứ bậc tu hành phát sanh nơi tâm trí từng phút, từng hồi làm cho các bậc tu phải nghĩ suy trong ĐỊNH TƯỞNG cảnh giới Tiên Thần, tham lam tỏ ngộ, mong mỏi Chánh Giác thành tựu Phật Thừa, nó lừa từ nơi THÔ không hợp, thì nó đem THANH đến cho bậc tu, nếu Thanh Thô bậc tu đã tỏ biết đó là Tâm Sanh Đồ Chúng thì nó thay đổi TẾ NHỊ để Lầm theo. Nó thường làm cho bậc tu hành ngỡ mình đã chứng ngộ, trăm ngàn vạn phương thức dối lừa. Nếu bậc tu đã rõ biết thì ung dung chẳng vội vàng cho mình là đúng, từ nơi ung dung đó soi biết thứ lớp của bọn TÂM SANH phiên diễn thời TU CHỨNG pháp VÔ SANH PHÁP NHẪN, Vô Sanh Pháp Nhẫn nó có một trạng thái bình dị, chẳng vội sanh pháp, để thật biết pháp Tâm Sanh, rồi sẽ quyết định đường lối nơi mình mà tỏ ngộ, gọi là VÔ SANH PHÁP NHẪN.

TÂM SANH ĐỒ CHÚNG nó còn xúi cho bậc tu dùng LÝ để bị chướng khỏi tu, hoặc dùng SỰ để mà chướng đặng khỏi thi hành đến Giác Ngộ, nó tùy theo trình độ, tùy theo Đức Tánh, tùy theo ý nghĩ để lừa sao cho bậc tu hành phải thọ chấp công nhận nó mà suy tôn nó làm chủ để khỏi thoát ra vòng sanh diệt của chúng, nó có thể biến diễn ra các Tiên Thần hay Chư Bồ Tát đến để thuyết pháp cho vừa tâm ý của bậc tu hành tín tâm, bậc tín tâm mừng rỡ cung nghinh đảnh lễ mà thọ chấp nên chi có nhiều bậc tu hành tuyên bố rằng: Mình có một MINH SƯ truyền đạo, không bằng da hay bằng thịt, do đó chẳng chịu nghe ai, chỉ chịu theo lời của TÂM SANH ĐỒ CHÚNG biến hiện mỗi đêm cho bậc tu ấy. Đó mới nói có một phần sự thuyên diễn lừa dối của Tâm Sanh, còn đến vạn phần chưa nói hết được, vậy các bậc tu hành hãy nương theo lời trên đừng vội chấp nhận mà bị lừa.

Bậc tu hành nên NHẤT TÂM, nhất tâm ấy gọi là CHÂN TÂM cũng gọi là TA TỰ SANH TÂM. NÊN TA ĐIỀU NGỰ VẠN PHÁP, nơi Tâm Sanh nó đều là vọng tâm, đã vọng tâm thời có vạn pháp, mà vạn pháp tức là vạn Tâm.

Chẳng khác nào bà con có một bao vàng (NHẤT TÂM) khi bà con vô ý đổ tung ra trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chỗ nào cũng có vàng của bà con, nhưng nó rơi rớt từ ao hồ, núi non, nơi Tịnh và Bất Tịnh, nơi dơ bẩn, chốn sạch sẽ như vậy thời phải chịu vô số Vọng Tâm, nên khi bà con mong sao bao Vàng trở về cho bà con y nguyên như cũ (NHẤT TÂM), thì bà con phải cố công đi nhặt lại cho đủ với số vàng đã bị đánh rơi, khi vàng đủ trọn thời bà con mới dùng đặng nó, chớ chưa đủ thì thâm tâm bà con chưa thoải mái.

Đối với sự tu hành cũng vậy. Khi tâm không quái ngại mới là bậc đã biết giá trị của mình, lúc hiểu biết Tâm Sanh cản ngăn thì không vì cản ngăn của Tâm Sanh mà dừng trụ. Khi mà biết được các lừa dối gọi là Chướng Nghiệp thì bậc tu phải lướt qua trên con đường KHỞI SANH TÂM TU TỎ TÁNH nếu hiểu biết được thời vạn pháp kia không ngoài ĐỒ CHÚNG TÂM SANH, đồ chúng không lừa được thời đồ chúng ấy phải dưới quyền bậc SANH TÂM ĐIỀU NGỰ PHÁP. Do như thế mà Phật điều ngự Pháp. Chúng Sanh bị Pháp sai khiến nên làm CHÚNG SANH GIỚI./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

8. HẠNH NGUYỆN

Hạnh nguyện là một trường tu theo BỒ TÁT HẠNH, chính đường duy nhất Chư Phật đã làm, Bồ Tát đang làm, các bậc Đại Nguyện Khởi Tín TIN VÂNG đều phải làm, con đường Bồ Tát Hạnh là con đường chung.

Kể từ thời hiền kiếp quá khứ cho đến nay, không phân biệt bậc tu cao hoặc tu thấp, miễn có chí nguyện theo con đường Hạnh Nguyện để nương chư Bồ Tát mà tu đều đặng cả. Các Thánh Tăng trước kia cũng không khác mấy nơi tín tâm của bậc tu hành ngày nay. Thánh Tăng vẫn nương theo Hạnh Nguyện. Bậc Tín Tâm đều nương theo hạnh nguyện tùy khả năng chí nguyện tu tập không phân biệt miễn phát Bồ Đề Tâm nguyện là đặng.

Hạnh Nguyện độ sanh có một ý nghĩa: “Cứu mình từ tinh thần đến vật chất, cứu người dìu dắt người cũng từ tinh thần đến vật chất, lúc mình được Tri Kiến Giải Thoát, thì người cũng được như mình.”

Bậc tu chủ yếu phát tâm rộng rãi để cổi giải tâm eo hẹp. Từ phàm phu nhỏ nhen đến Bồ Tát tâm rộng rãi gọi là phát Bồ Đề Tâm nguyện. Bằng chẳng phát Bồ Đề Tâm, không cổi giải tâm dù cho có nguyện vạn nguyện cũng không thể nào bước vào con đường Bồ Tát Hạnh được. Cốt yếu tự lợi, lợi tha cứu độ chúng sanh là hợp với Bồ Tát, bậc tu hành đồng hợp với Bồ Tát chính đã đi chung Bồ Tát Hạnh.

Con đường Bồ Tát Hạnh rất có lợi cho bậc tu, vì sao? Vì Lý Sự đồng song, lướt qua mọi hoàn cảnh thuận nghịch tâm không quái ngại được tỏ biết giác ngộ. Lại vì lỗi lầm của kẻ khác mà thuyết pháp giải nghiệp, ác nghiệp nó rất nguy hại, sau Chịu Báo sinh nơi Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục làm cho nhiều kẻ tránh lỗi lầm sát hại mưu sĩ, Bồ Tát vì giúp đỡ phải nói năng nên Bồ Tát lìa các Sở Ngã, Chấp Ngã mà được Tự Tại Vô Ngại Đại Bi Tổng Trì Đà La Ni Tạng.

Đường lối tu Phật duy nhất chỉ có một, nhưng nhiều pháp môn để tu, pháp môn nào cũng hữu dụng cần thiết đưa cho bậc tu hành tỏ ngộ.

Đối với Hạnh Nguyện độ sanh đến rốt ráo thật biết các nghiệp lầm chấp trong vạn chấp, thi hành Hạnh Nguyện đi trong vạn chấp, tỏ biết chẳng có một chấp mà Bồ Tát TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Bậc tu mới bước vào ngưỡng cửa ban đầu chưa có chi, đến thời gian tu tập, lại tùy theo sự tín ngưỡng nhiều ít đương nhiên mến đạo chớ chưa có một quyết định gì đáng kể, gọi là THỜI MẾN ĐẠO. Thời mến đạo nầy lấy đạo tràng để an vui, đến một giai đoạn nào đó KHỞI TÍN SAY ĐẠO liền sinh tâm thích thú có quyết định Phát Bồ Đề Tâm Nguyện qua đến HIỂU ĐẠO đi vào HẠNH NGUYỆN ĐỘ SINH để đem sự hiểu nơi mình giúp cho tất cả được hiểu, nhờ đó mà bậc hiểu đạo mới tu đến nơi BIẾT ĐẠO. Bậc ấy có một chí nguyện với Bồ Tát Hạnh đã bước vào giai đoạn Bồ Tát Hạnh đến Bồ Tát Nguyện, gọi là HẠNH NGUYỆN.

HẠNH NGUYỆN là một đường rất sâu rộng bình đẳng, không cứ gì phàm phu hay Thánh Tăng, tùy theo tinh thần cao đẹp hướng thượng, tùy theo Chí Dũng, Giới Định Tuệ, Tứ Nhiếp Pháp và thi hành Lục Ba La để nương theo Hạnh Nguyện cầu Diệu Quả Bồ Đề. Hạnh Nguyện chính là một môn tu, tất cả đều phải tu chớ nên quan niệm: Mình là phàm phu không thể nương theo Hạnh Nguyện của Bồ Tát Hạnh được, quan niệm như thế thật sai biệt đối với tinh thần của Đức Phật mong cho các bậc tu hành đến giác ngộ, mà các bậc tu hành lại sợ sệt không chịu theo vết chân của Bồ Tát thì làm sao thành tựu được?

HẠNH NGUYỆN có một ý nghĩa hết mình cầu đạo, nhất tâm đặt tất cả các công việc ở đời chẳng lấy đó làm quan hệ, chỉ nhận lấy Tròn Nguyện làm đích. Bậc thi hành Hạnh Nguyện đôi khi vì mọi kẻ mà giúp đỡ, đã không được lời Tri Ân mà thường gặp kẻ si mê nói nặng nhục mạ, bậc ấy chẳng hề sinh tâm oán hận. Lại tùy theo nơi chốn, tùy theo giai đoạn cứu giúp tâm không quái ngại, miễn cho có lợi mọi người, cho tròn Hạnh Nguyện làm an vui là đủ.

Hạnh nguyện, bậc đã phát tâm Hạnh Nguyện thì phải lập những HẠNH nào cho cao đẹp thanh nhã như: Đi, Đứng, Nằm, Ngồi hay nói năng từ tốn đó gọi là PHÁP HẠNH. Còn NGUYỆN làm những gì khó làm thì bậc phát nguyện phải làm. Hoàn cảnh nào khó chịu thì bậc phát nguyện phải làm và phải chịu, tất cả cho chúng sanh, miễn đi trong mục tiêu chánh đáng thề nguyện độ, miễn thi hành Pháp Hạnh cho vẹn toàn, cốt Tứ Nhiếp Pháp Lục Ba La Mật Đa cầu tỏ ngộ làm đích duy nhất nơi Hạnh Nguyện để Tròn Nguyện.

HẠNH NGUYỆN chính là một con đường phải làm, làm cốt rõ biết các cơ cấu nghiệp chủng của Chúng Sanh và biết tận tường nơi bậc Thánh TU CHỨNG, lại biết tất cả sự Kín Nhiệm Như Lai Tạng, giải tỏa MƯỜI ĐIỀU ràng buộc và 62 Kiến Chấp, từ Chánh Báo vì duyên gì? Chịu Báo do nghiệp sao? Đến nơi khéo TRI ĐẠO, khéo THUYẾT ĐẠO mà Trọn thu nhiếp làm chủ trong MƯỜI DANH HIỆU đặng Chánh Giác.

Nói đến Hạnh Nguyện là một lối đi thẩm mỹ, tuyệt mỹ, chư Bồ Tát thảy đều vui trong Hành Nguyện, nên Bồ Tát mới phát nguyện luôn luôn làm Bồ Tát để đưa chúng sanh thành Phật chớ Bồ Tát chẳng chịu làm Phật.

Nên Hạnh Nguyện mà Bồ Tát mới thị hiện, lại vì chúng sanh thường nghi, thường chấp, dễ nghi chấp làm cho chúng sanh thọ khổ, thọ bệnh, thọ sanh tử mà Bồ Tát mới thị hiện, Bồ Tát thi hành vạn Hạnh tùy thuận chúng sanh cứu độ miễn đưa chúng sanh đến Tri Kiến Giải Thoát.

Bồ Tát vì Hạnh Nguyện nên Bồ Tát giả mê để đồng với chúng sanh thi hành Đồng Sự, Đồng Hành để Đồng Nhiếp Độ chúng sanh thoát các nghiệp. Bồ Tát lại sanh hạ trong từng lớp chúng sanh, làm con nhà Tịnh hay Phước Điền để thị hiện hoặc làm con nhà Bất Tịnh Ác Nghiệp để thị hiện, nó chẳng có nơi chốn nhất định trong thời thị hiện.

Nên Phật nói: “Các Ông cũng nên biết, Bồ Tát dù có thị hiện nơi Ác Nghiệp, hoặc có đi trong Nghiệp Ác, hoặc Bồ Tát thi hành Hạnh Nguyện Thuận Nghịch, Tịnh Bất Tịnh chăng cũng không có tội, càng ngày càng tăng Phước Điền Chánh Báo.” Vì sao? Vì Hạnh Nguyện độ sanh, vì Bồ Tát chẳng có Ngã Sở, không vì Bồ Tát mà chỉ vì Chúng Sanh nên Bồ Tát phải làm để cứu giúp cho chúng sanh Bồ Tát mới đi ba Đường ÁC, do đó Bồ Tát không có lấy một ác. Vậy đời nầy hoặc đời sau các bậc tu hành có gặp bậc Thiện Tri Thức chỉ bày tu tập miễn làm sao cho Trí Tuệ tăng trưởng phá được mê chấp, lìa BỐN TƯỚNG Tri Kiến Giải Thoát thôi. Các Ông chớ nên phê phán những sự làm của bậc Thiện Tri Thức, vì phê phán các ông bị LÝ CHƯỚNG đến sự tu cũng Chướng, khó lãnh hội lời chỉ dạy, khó phá bờ ngăn, để viễn thông đắc pháp mà thành tựu vậy.

HẠNH NGUYỆN chính là một sự giúp đỡ, giải bày thuyết diễn nơi LÝ đến SỰ, đương thời nếu bậc tu quan niệm mình là phàm phu, nhưng có ngờ đâu bậc tu ấy đã từng giúp đỡ cho người trong khi nghèo ngặt, cũng đã từng mang tiếng không hay trong lúc giúp người, chính mình không cầu lợi. Đó là mình đã có một niệm chân chánh thi hành Bồ Tát Hạnh để phát sinh khởi tín thù thắng Hạnh Nguyện.

HẠNH NGUYỆN là con đường tu hành, mình vừa Tự Giác giúp cho tất cả đến Tự Giác. Khi bậc Hạnh Nguyện nhìn thấy kẻ bủn sẻn bậc ấy Bố Thí để cho kẻ kia khởi tâm rộng rãi. Lúc bậc Hạnh Nguyện quan sát biết kẻ Độc Ác, bậc Hạnh Nguyện tỏ ra Đại Bi Hỷ Xả làm cho độc ác hồi hướng Bồ Đề. Khi biết rõ kẻ kia lời nói không chân thật, hai lưỡi, điêu ngoa vặc mắc, bậc Hạnh Nguyện thân cận nói năng chơn chất, vui giúp cho mọi người làm cho kẻ kia hổ thẹn cổi giải tâm cầu Chánh Giác.

HẠNH NGUYỆN giúp bậc tu hành không có Ngã, Sở Ngã, vào Bình Đẳng Tánh Trí, biết tận tường tỉ mỉ Diệu Quang Sát Trí thấu nguồn gốc Sanh Tử. Bởi lầm mê Pháp Chấp vương mắc nơi ích kỷ. Chẳng tự lợi tha lợi cho mình và tất cả, hạnh nguyện là một bước tiến trong con đường Giải Thoát vì vậy không lập Hạnh Nguyện chẳng bao giờ Chánh Giác, không làm Hạnh Nguyện chưa bao giờ Bình Đẳng dung thông. Bậc tu chẳng hạnh nguyện chính là bậc ÍCH KỶ, bậc CHỒI KHÔ MỘNG LÉP, bậc đã đem Phật Đạo đặt vào lỗ chân trâu cũng là một lối tiêu cực của vạn lối tiêu cực đen tối.

Bậc tu hành nương theo Hạnh Nguyện là bậc đã cùng Chư Bồ Tát từ vạn xưa quá khứ nguyện. Bậc khởi tâm phát Hạnh Nguyện là bậc đã chiêm ngưỡng lễ bái vạn Phật đồng hướng Bồ Đề Tâm nguyện. Bậc khen tặng cung kính các Tăng Ni trên đường Hạnh Nguyện đó là bậc chân thành cúng dường Tam Thế Phật. Hạnh Nguyện là con đường duy nhất chung gồm TỨ THỪA CHÁNH GIÁC./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

7. KHỞI TÍN

KHỞI TÍN. Từ duyên khởi đến khởi tín, nơi khởi tín thì ai cũng có, gặp trường hợp ngoại cảnh khởi tín hay nội tâm khởi tín. Khởi tín chính là một niềm an vui đem đến cho tất cả từng bậc, nếu bậc nào không có khởi tín thì bậc ấy coi như tuyệt tín.

KHỞI TÍN có đặc tánh tiến bộ đến thành tựu, áp dụng giữa đời và đạo, giữa đời không có niềm tin tưởng sau giai đoạn khởi tín, thì nhận thấy oán trách tất cả, mà chính mình vẫn bị cô lẻ. Bằng mình đã có khởi tín đồng thời tin tưởng mình tài đức triển vọng, mà chẳng mở đầu cho bạn bè chung quanh mình để tin tưởng nơi mình, thời bậc ấy chưa phải là Tài Đức, chưa làm theo triển vọng để đoạt đến mục tiêu.

KHỞI TÍN về phần Đạo từ khởi tín đến TIN PHẬT phải tu hành cho có một mục tiêu căn bản để bảo tồn nơi tin tưởng đạo Phật, nếu tin tưởng đạo Phật có lập trường vững, đó chính là mình đã cúng dường chư Phật. Bằng Khởi Tín đến tín nhiệm tin Phật, nhưng tu hành thờ ơ không chống nổi MA NGHIỆP, chẳng tìm pháp sâu đậm để tu, không chịu lìa bỏ các đố tật thâm tâm độc ác, mưu sĩ lợi mình, duy chỉ một mặt tin Phật mong cho Phật cứu mà chính mình không giải nổi Ác nghiệp thì làm sao kết quả? Làm sao bảo tồn niềm tin cho vững đối với sự khởi tín của mình? Đương nhiên cứ như vậy, chính mình đã tàn phá khởi tín, tàn phá đức tin, trong một thời nó phải đến giai đoạn BẤT TÍN đưa niềm tín không thực thể.

Khi biết bảo tồn khởi tín niềm Tín có một màu sắc để mình TIN, thì ít nhất chính mình phải tạo đến nơi căn bản ĐẠO ĐỨC bảo trì đạo đức mình đã làm, gạt bỏ những lề lối sống nhỏ nhen eo hẹp ràng buộc nơi thân tâm để nâng cao dũng chí. Gặp trường hợp có kẻ hoặc một bậc nào mà mình đã đặt đức TIN vào nơi bậc ấy hay kẻ ấy, nếu xảy ra nghịch pháp làm cho mình có thể Đoạn Tín thì nên sự bảo trì trong Công Quả của mình đã tạo hơn làm mất niềm tin ...phải cố gắng xây đắp lại, đó chính là một quan hệ không nhỏ đối với bậc biết bảo tồn khởi tín đến nơi Chánh Tín bất thối chuyển vậy.

Khi Đức Thế Tôn ra đời giữa thời Hiền Kiếp, chính thời ấy niềm tin của dân chúng phát động mạnh nhất. Nhưng đối với Ngài là một vị Phật ngày nay ai cũng ngưỡng mộ sùng tín. Chớ như thời trước Ngài cũng phải gợi duyên để cho dân chúng khởi tín, Ngài dạy cho tất cả các hàng đệ tử phải TÍN HẠNH NGUYỆN lấy NHÂN DUYÊN để bảo trì KHỞI TÍN, lấy ĐẠO HẠNH để đúng với đức TIN cho từng lớp đang tín. Ngài lại thường căn dặn chư đệ tử, chớ nên làm những điều phi pháp, chớ nên làm cho tất cả đoạn duyên. Chính ngay nơi THỂ HIỆN của Ngài, khi Ngài chưa đoạt Vô Thượng Chánh Giác, Ngài còn là Thái Tử Tất Đạt Đa Ngài có vợ có con. Lúc Ngài sở đắc Chân Lý Tối Thượng vì Tình Duy Nhất, vì chúng sanh đang lầm mê Ngài phải dùng các Pháp Hạnh mở đầu đưa chúng sanh đến Giác Ngộ là làm cho dân chúng Khởi Tín đến TIN VÂNG theo chỉ dạy của Ngài.

Ngài lại thật biết pháp khởi tín chính là một pháp tối cần ở giai đoạn đầu của chúng sanh tu đến Tri Kiến Giải Thoát. Ngài lại vì chúng sanh thường nghi chấp đoạn tín, nên Ngài mới không trở về với vợ con. Chớ chẳng phải Ngài về với vợ con mà mất Chánh Giác của Ngài đâu. Đó chính là một cử chỉ cao đẹp, một tình thương cao quý, mà Ngài phải vì tất cả chúng sanh để bảo sinh cho chúng trong Tâm Thức khởi tín. Ngài lại vì chúng sanh mà làm tất cả những Pháp Hạnh như: Đi, Đứng, Nằm, Ngồi mỗi mỗi thảy đều trang nghiêm thuần túy đặng đồng hợp đồng hóa độ, phá các nghi chấp chướng ngại của chúng sanh đưa về Vô Ngại Đại Bi Tri Kiến Phật.

Đức Thế Tôn Ngài lại căn dặn chư Bồ Tát hiện tại tu tập phải bảo trì TIN VÂNG, bảo trì Đạo Đức Phẩm Hạnh lướt qua các chướng đối ngăn ngại, trí tuệ phá mê chấp và căn dặn đời sau chúng sanh căn cơ thấp kém, trí tuệ ngăn ngại chướng đối tựa như NỒI ĐẤT MỎNG phải tùy thuận nương chìu họ mà thuyết pháp dạy dỗ, chớ nên làm cho họ đoạn duyên hoặc bất tín, đó chính là lời huấn từ của Ngài vậy.

Đối với Đức Thích Ca thời xưa, Ngài vì chúng sanh để làm cho chúng sanh khỏi đoạn duyên Ngài căn dặn đủ điều trong Tam Tạng Kinh Điển tu đến bậc nào đường lối nào cũng vẫn có lời dạy của Ngài không thiếu sót.

Lại nữa, Ngài dùng pháp nào là lời phương tiện tùy căn cơ thọ lãnh, tùy duyên khởi của chúng sanh để chỉ dạy. Ngài lại tùy theo chướng bệnh để áp dụng cứu chữa, chẳng khác mấy với vị ĐẠI LƯƠNG Y của ngày nay cứu trị con bệnh vậy.

Giữa thời nầy tu theo Cái Muốn chìm đắm trong Duyên Khởi để thọ chấp, dùng Trí Tuệ chẳng làm ĐẠO HẠNH, tu nơi Đạo Hạnh không dùng Trí Tuệ phá ngăn chấp. Cũng như kẻ uống nước không, chẳng ăn cơm, còn kẻ ăn cơm, không uống nước, làm cho Lý Sự chênh lệch hiểu biết mơ màng chỉ vì chưa rốt ráo ngỡ là đã rốt, chỉ vì lựa chọn pháp lớn nhỏ để tu, chớ chẳng biết pháp nào là pháp cũng phải tu để hiểu đến thật biết, tu cho vẹn toàn không thiếu sót gọi là rốt ráo.

KHỞI TÍN lại tùy theo CĂN CƠ, chớ ít tùy thuộc nơi trình độ, khởi tín không tùy theo học vấn, chỉ tùy theo sở nguyện mong cầu, vì vậy nên khởi tín nó có một đặc tánh giữa sự công phu tu hành nhiều kiếp hoặc ít kiếp từ thời quá khứ mà hiện tại gặp hàng THIỆN TRI THỨC theo nhu cầu của bậc Khởi Tín, đôi khi có bậc mới vào một tôn giáo nào, bậc ấy chỉ vào là vào chớ chưa có niềm Khởi Tín chi cả, đến một cơ hội đương nhiên phát sinh Khởi Tín từ đó có một niềm TIN để tu hành vững đến căn bản mục tiêu của bậc Lãnh Đạo Tôn Giáo đó. Khi đến mức độ trong một trình độ hiểu biết chưa thoải mái thời bậc ấy bắt đầu khởi tìm nơi đúng với tinh thần khởi tín lại tu thêm, đó chính là bậc chín chắn. Còn có bậc gặp THIỆN TRI THỨC chỉ bày vẫn chưa có trạng thái khởi tín như trên, thêm vào sự chán nản thờ ơ biếng trễ hoặc vì gia cảnh làm cho bậc ấy không thể nào công phu tu tập sanh thối chí, đó chính là nghiệp ngăn cản.

KHỞI TÍN chia ra làm BA HẠNG: Tiểu, Đại, Nhất để tiến đến con đường tu tập, nhưng nó cũng tùy theo bậc THIỆN TRI THỨC lãnh đạo khéo léo để đưa các hàng khởi tín đến căn bản từ nơi Tiểu trở thành Khởi Tín Nhất Thừa trong một thời gian khá lâu mới đến. Khi bậc tu hành đặng Khởi Tín đến TIN VÂNG không xa mấy, từ TIN VÂNG đến CHÁNH TÍN chẳng mấy hồi. Còn đối với bậc bắt đầu vào tu hành liền Khởi Tín giữ vững lập trường lướt qua mọi hoàn cảnh trái ngang để bảo trì TIN VÂNG sau đến trọn GIÁC, đó chính là bậc khó kiếm tìm, bậc ấy khởi tín BA LA MẬT ĐA, bậc ấy đã phụng thờ hằng hà sa số kiếp với Chánh Pháp cũng là Bồ Tát hiện thân vậy. Lại cũng có bậc bước vào tu hành liền Khởi Tín say mê, sau một thời gian chán ngán thờ ơ tìm lối thoát, đó chính là bậc cuồng tín tu mong cầu nơi tự lợi về mình mong cầu thần quyền tài phép, đến lúc gần các bậc tu TỰ TÁNH TỎ TÁNH khác biệt sinh ra chán vọng mà lui tìm tu theo Cái Muốn.

KHỞI TÍN chẳng phải dễ gì đến khởi tín, vì vậy nên Phật và chư Bồ Tát phải làm PHÁP HẠNH và ĐẠO HẠNH nguyện độ chúng sanh khởi tín, vì chúng sanh vào đang tu với Phật hay Bồ Tát, nhưng nó chẳng bao giờ chịu tu với Phật hay Bồ Tát, chính nó tu với nó nhiều hơn thái độ nghiệp ngăn của nó phải như vậy. Từ thời THẾ TÔN sau đến chư TỔ thừa kế vẫn phải chịu một thể chế cuồng gian mâu thuẩn như nhau trong thời lãnh đạo không hơn kém, do đó Phật mới bảo NHẤT TÂM đặng đồng họp mà Tri Kiến Giải Thoát.

Đạo Phật chính là một tôn giáo CHỈ ĐẠO, chẳng phải đạo Phật tôn giáo ĐỘC TÔN, nên chi dạy dỗ cho tất cả chúng sanh từ nơi mê tín đến Chánh Tín toàn giác, vì vậy pháp Duyên Khởi rất quan trọng cho đến nỗi Phật phải làm Pháp Hạnh, Bồ Tát phải Hạnh Nguyện trên cơ bản cho các bậc tu hành trong một thời gian phát tâm Khởi Tín. Cứ mỗi lần chúng sanh đa Bệnh cuồng tín, thì Phật phải đa Hạnh đưa về Khởi Tín, mỗi khi chúng sanh ưa thích Tiên Thần thời bậc lãnh đạo vì chúng sanh đó nói pháp Tiên Thần, mỗi lần chúng sanh ưa thích Y ÁO màu sắc thì bậc lãnh đạo phải thành lập Y ÁO màu sắc. Mỗi lúc chúng sanh ưa Danh Giả, thì bậc lãnh đạo vì chúng sanh để đặc thứ vị làm cho chúng sanh Khởi Tín để cùng đi vào Chánh Tín Tri Kiến Giải Thoát.

Nói đến những cái mong muốn quái dị của cuồng tín nơi chúng sanh tánh. Chúng sanh muốn sao cho vị Phật phải ngồi giữa nắng, hoặc đóng thành Khuôn để chúng sanh Lễ Bái. Chúng sanh muốn vị Phật không ăn uống, chỉ hít hơi giữa hư không ngồi yên chẳng cử động để chúng sanh vui mừng cung kính, do lẽ ấy nên chúng sanh ưa tu xác ngàn xưa hơn giải trừ đố tật, ưa màu sắc hơn đào sâu các nghiệp căn phá chấp cuồng tín để phát sanh trí tuệ viên thông. Đó chính là mâu thuẩn giữa chúng sanh Tánh và Chân Tánh Phật đạo.

Đạo Phật thì phá nghi chấp giải mê làm căn bản, còn chúng sanh tánh lại ưa Dị Thể sắc pháp làm chỗ vọng ước nên mâu thuẩn Phật Đạo và chúng sanh, do đó cần Khởi Tín đến Tin Vâng để giải mê mà đến Giác.

Đối với hai chữ KHỞI TÍN duy nhất của Phật Thừa thật khó mà định nghĩa cho được, từ lời nói đến văn tự không thể diễn nói, duy chỉ tu hành đến một thời nào đương nhiên Khởi Tín liền phát Bồ Đề Tâm thù thắng đại nguyện vào con đường Bồ Tát Hạnh để tu.

KHỞI TÍN không khác mấy câu: “TIN PHẬT LIỀN THÀNH PHẬT” hoặc “NIỆM PHẬT LIỀN THÀNH PHẬT.”

Khởi Tín khó như vậy nên chư Bồ Tát mới Hạnh Nguyện nâng Chúng Sanh từ Nhân Duyên đến Nhân Duyên Sanh tu tập nhận được một nền tảng duy nhất từ đó mới Khởi Tín đến TIN VÂNG để cúng dường cho tất cả Tam Thế cầu lấy diệu quả Bồ Đề nguyện.

Đến nay các bậc lãnh đạo chân chính vẫn thường nhận Từ Bi Bác Ái nguyện cứu giúp cho tất cả chúng sanh tu hành không bao giờ làm cho đoạn duyên Phật phải bơ vơ bất tín, dù cho chúng sanh đó làm những điều chi chăng thì đối với bậc tu giải nói cởi mở, chớ chẳng bao giờ dám đem lời nói bất cẩn để cho chúng sanh bất tín Phật.

Còn đối với các bậc, các từng lớp hãy còn Chúng Sanh Tánh họ có đủ quyền nghi chấp trong một thời họ phá chấp, vì vậy mà bậc Lãnh Đạo lại càng gìn giữ cốt để tạo Duyên Khởi giúp cho tất cả TRI KIẾN GIẢI THOÁT, đó chính là nhiệm vụ chung của chư TỔ cùng bậc thừa hành kế tiếp trên nền Chánh Pháp. Đó chính là lời DI NGÔN của Phật để lại trường tồn vậy./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

6. DUYÊN KHỞI

DUYÊN KHỞI là một khởi nghĩ ban đầu, khởi nghĩ thường giao hợp ngoại cảnh nội tâm nên DUYÊN KHỞI.

DUYÊN KHỞI thời bình đẳng thảy đều có nơi tất cả mọi người và các loài không phân biệt. Nhưng nó tùy trình độ, tùy theo hoàn cảnh giai cấp của kẻ nghĩ mà khởi tiến đối trị hoặc xúc tiến trên mọi hình thức.

DUYÊN KHỞI đối với những bậc tu Thiền lại thường Khởi, vì sao? Vì khởi để phát trí tuệ, đó chính là một yếu tố duyên khởi phát tuệ, biết sử dụng duyên khởi thời duyên khởi chính là bậc đưa đường để tỏ thông vạn pháp. Bằng chưa biết thời cho duyên khởi là vọng đảo, tan dẹp duyên khởi để cho TÂM TỊNH hay tận diệt duyên khởi làm cho không còn lấy một khởi, đó chính là bậc lầm mê tự diệt mình như Đất Đá vô tri sau trở thành PHI PHI TƯỞNG.

Tu hành chủ yếu đưa cho tất cả hiểu biết đến thật biết không lầm gọi là GIÁC, chớ chẳng phải cái Giác diệt tất cả thì lấy đâu để Giác?

VÌ SAO PHẬT LẠI NÓI PHÁP MÔN TU TỊNH ?

Khi bậc tu chưa biết áp dụng duyên khởi để làm thước đo các Nghiệp Thức của mình thuyên diễn, nên cho là vọng động loạn tâm, sanh hoảng sợ công nhận nghiệp nặng phiền não phân vân mờ tối, Phật mới bảo rằng: Tu Tịnh để độ duyên khởi, lúc độ duyên khởi xong, liền tu Chủ Quán soi xét duyên khởi động vọng những gì đặng tỏ giác, đó chính là pháp môn GIÁC TỊNH, lại sai lầm tưởng, lạc vào nơi TỊNH DIỆT, TỊNH BIỆT thờ ơ trễ lâu ngày nung đúc trở thành Ngạo Mạn Tự Ái xa lìa duyên khởi, xa lìa các pháp để tu luyện thành Ngoại Đạo. Đó chính bậc tu sai vì theo ý muốn, chưa biết tác dụng. Nếu biết sử dụng chút ít, khi đã tu trong Tịnh Diệt hoặc Tịnh Biệt thì tạo lấy Đạo Hạnh chẳng tự ái ngạo mạn tăng thượng, đến lúc thành tựu vẫn sở đắc TÂY PHƯƠNG TỊNH ĐỘ.

SỬ DỤNG DUYÊN KHỞI TÙY THEO MỖI BẬC

DUYÊN KHỞI là một cánh cửa mở đầu tiên cho 84.000 ĐỘNG LỐI THOÁT, cũng là ĐỘNG LỐI ĐÓNG, khi đặng viên thông mới công nhận vi diệu pháp tùy thuận hóa độ.

Sử dụng Duyên Khởi tùy theo mỗi bậc, mỗi hoàn cảnh, mỗi ý nghĩ, mỗi căn cơ, mỗi nghiệp cảm, mỗi ý chí, mỗi sở cầu, mỗi lời nguyện lúc Duyên Khởi mở đầu đồng hiệp với mỗi bậc liền gọi là đúng mà thi hành theo duyên khởi. Duyên Khởi nó có THỂ CÁCH linh động di chuyển không ngừng chạy vòng trong 84.000 của lối thoát và lối đóng. Lối thoát là lối tùy thuận theo duyên khởi để tỏ biết Giác Ngộ, còn lối đóng là lối thọ ngã chấp nhận nơi Định Tưởng của mình để lãnh lấy cõi Phật, hay chấp nhận mình Giác Ngộ Tiên Thánh Phật để làm nhiều điều phi đạo mà chưa suốt đạo, vì sao? Vì còn Nghi còn Chấp.

Sử dụng Duyên Khởi trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đến Rồng Người, phải làm con toán nhân 84.000 lần, còn nhiều hơn thế nữa mới kể hết pháp Duyên Khởi. Mỗi Duyên Khởi làm một mở đầu công việc thì thử hỏi vô số vô biên trên công việc, do đó dễ lầm, dễ nhận, dễ chấp, dễ Thọ Báo, dễ Chánh Báo, nên khi Chánh Báo được sanh làm Tiên Thần Thánh Đạo, lúc Chịu Báo phải sa trong vạn lối ác khổ, nghiệp khổ, tác tạo sanh khổ, từ nơi khổ chốn sướng vì bởi chấp nhận sử dụng duyên khởi chưa biết nên thành hình. Duyên Khởi rất tinh nhuệ giúp lợi cho bậc tu nương theo duyên khởi để Giác Ngộ, khỏi lầm duyên khởi Phật dạy pháp môn BA LA MẬT ĐA là pháp môn lìa Bản Ngã nương theo Vô Ngã để tỏ rõ duyên khởi vậy.

Nói đến Lý Sự tác động của Duyên Khởi thật khó diễn giải hết, duy chỉ dùng Trí Tuệ để quán, thì mới hiểu trong một phần nào mê lầm chạy theo Duyên Khởi chấp nhận tác tạo thành ra bá thiên vạn ức nghiệp ác trên sự tranh giành chém giết thù hận mưu sỉ sang đoạt ngôi thứ hơn thua từng lời nói, từng cử chỉ nhưng vẫn công nhận phần phải về mình để trôi theo duyên khởi sanh, duyên khởi diệt. Khi mới phát sanh gọi là duyên khởi sanh. Lúc xong công việc mục tiêu tan rã gọi là duyên khởi diệt. Do đó mà sự làm theo duyên khởi không bao giờ toại nguyện, bậc mê mờ cứ phải tạo rồi phải làm, phải tạo phải làm thét cũng chẳng bao giờ theo tròn nguyện. Phật mới nói là: “Vọng Đảo Hư Dối, nó như bóng cây dưới nước, như tia chớp chân trời chớ có cầu van nắm bắt mà phải chịu trong vòng Sanh Tử Luân Hồi.”

Đối với bậc tu để cầu PHƯỚC BÁO Nhân Thiên, cầu Gia Đạo An Hòa, cầu có nhiều điều may mắn, thời bậc ấy nên tu Hỷ Xả để tạo Đạo Đức, nên đối xử thương mình và biết thương người, làm những điều chi lợi ích cho mình và cho mọi người, cổi giải tâm không thù oán noi theo duyên khởi làm Phước Thiện để huân tập Định Tưởng cầu báo Nhân Thiên.

Về bậc tu có một đại nguyện TRI KIẾN GIẢI THOÁT vẫn tu hành như trên, lập ĐẠO HẠNH cùng TÍN HẠNH NGUYỆN để lãnh hội tỏ rõ duyên khởi, tu theo TÔN CHỈ của Phật dạy như: BI CHÍ DŨNG, GIỚI ĐỊNH TUỆ, TỨ NHIẾP PHÁP, LỤC BA LA MẬT ĐA. Cần nhất vì mê lầm bởi duyên khởi, nay thật rõ biết THỂ CÁCH duyên khởi sinh các chứng bệnh thường chấp dễ bị chấp đến GIÁC NGỘ hoàn toàn không còn lấy một chấp, có thể dùng vạn chấp đặng đưa họ khỏi chấp như mình.

Chẳng khác mấy: Bậc đứng nhìn trên mặt biển thấy chẳng biết bao nhiêu sóng cồn. Bậc ấy thật biết sóng cồn nó vẫn thường diễn nên chẳng sanh tâm sợ sóng. Đối với DUYÊN KHỞI kia nó vốn thường diễn. Bậc tu cầu TRI KIẾN cốt để tỏ rõ các duyên khởi nó thường đưa đến phiên diễn nơi Tâm Thức mọi người đến chính mình cũng đang diễn, chẳng lạ vì thể tánh của nó nên không sanh tâm sợ. Vì sao? Vì chính thật biết nó để Giác Ngộ.

Còn đối với bậc chưa biết, hoặc lầm nơi hiểu biết của mình, duyên khởi đưa đến TỊNH sinh tâm vui mừng, BẤT TỊNH lìa xa né sợ, duyên khởi trong Ba Cõi Sáu Đường lựa lấy Ba Cõi đến NHÂN THIÊN đặng khỏi còn Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục liền diệt khởi, mãi diệt chừng nào nó vẫn khởi chừng ấy, chẳng khác sóng kia vốn nó thao diễn làm sao nắm bắt lấy con sóng cao, bỏ những con sóng thấp? Vì lầm nên KHÔNG CHẤP MÀ VẪN BỊ CHẤP KHÔNG vậy. Lúc thật biết Duyên Khởi chính là gốc bệnh của mê lầm, tu chừng nào hết mê, tức là thật biết rõ ràng các chứng bệnh lầm chấp nơi Duyên Khởi mà Chánh Giác.

Những điểm, tùy Duyên Khởi để sử dụng của mỗi bậc thật là một trong những nhiều đường lối, nó làm cho bậc tu hành TIN PHẬT, nhưng tu không đúng với pháp môn của Phật, đa số chỉ tu theo Duyên Khởi của mình, cho nên tu Phật mà không bao giờ tu Phật, vì sao? Vì MÌNH tu với MÌNH trong duyên khởi thọ chấp.

Nên Phật nói:

“TA thật biết còn biết hơn thế nữa, vì tất cả đều theo nơi sự mong muốn hương vị ngọt bùi để thọ chấp trong duyên khởi mà lãnh lấy các cõi hương vị ngọt bùi, trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

...TA biết tận tường tỉ mỉ ta không chấp trước nên chẳng tập khởi, thành TA hoàn toàn giải thoát vậy.”

Bồ Tát thường nói:

“Nó khởi sanh đến khởi diệt, khởi cấu đến khởi tịnh, vì chạy vạy SANH DIỆT CẤU TỊNH mà phải trôi giạt trong sanh tử được mất, còn hết, sướng khổ để chịu làm chúng sanh giới. Nếu biết đặng Sanh Diệt Cấu Tịnh là Thể Tánh của Duyên Khởi đối với nó không quan hệ mắc miếu gì thì nó đặng TRI KIẾN, nếu nó thật rõ, còn rõ hơn thế nữa tức nó đặng hoàn toàn Giải Thoát.”

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

5. NHÂN DUYÊN SANH

NHÂN DUYÊN SANH là nhân duyên đã sẵn đến, tu cầu cho Nhân Duyên ấy sanh trưởng, gọi là NHÂN DUYÊN SANH.

Từ Nhân Pháp đến Giáo Lý Phật Pháp nhiều lúc phải phương tiện lấy lý Thế Gian để chỉ Giáo Lý Phật Pháp làm cho bậc tu hành nhận định tỏ biết được gọi là PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN GIÁC.

PHÁP NHÂN DUYÊN SANH ví như: Hạt cam nếu để nguyên hạt cam chẳng động đến, lâu ngày hạt cam cũng không ích gì lại bị hoại, hoặc giả ngồi nhìn hạt cam để định tưởng nó trở thành cây cam không thể nào nó thành được. Vì sao? Vì nó thiếu duyên kết hợp đầy đủ mới sanh. Đối với con đường tu Phật cũng thế, không tu mà cầu tỏ Ngộ thật là y như trên đã nói.

Bằng hạt cam đặt xuống đất vẫn chưa đủ, phải nhờ có: SƯƠNG, MƯA, NƯỚC và KHÍ HẬU thuận tiện đúng thời tiết hạt cam mới phát sanh cây cam cùng trái cam. Nếu bậc tu hành quyết chí tu tín tâm cầu đạo vẫn chưa đủ, ít nhất phải nương theo Kinh sửa đổi các đố tật, bắt chước theo lời Phật dạy, hiểu nhiều ít tự sửa chữa để vun trồng Đạo Đức mới mong kết quả.

Nói đến pháp NHÂN DUYÊN SANH chính là một pháp trọng yếu, từ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đến Vũ Trụ Nhân Sanh thảy đều gieo Nhân Duyên tu cầu sanh trưởng ĐỒNG HỢP ĐỒNG HÓA SINH. Từ Vô Tri đến Hữu Tri thảy đều kết nạp đầy đủ nhân duyên liền Sanh Hóa, Hóa Sanh trên thiên hình vạn tướng, khó diễn nói trong sự Hóa Sanh cho hết được.

Nói về pháp NHÂN DUYÊN SANH thật vi diệu, thật dị hóa, bất luận TỊNH hay BẤT TỊNH đều kết hợp liền hóa sanh. Nơi hóa sanh của Nhân Duyên Sanh trong thời giao thừa duy chỉ có ĐỨC ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT mới biết nỗi còn ngoài ra không thể nào tìm đặng tại sao lại hóa.

Nếu bậc tu Phật khi đầy đủ Nhân Duyên Công Đức Phật hóa độ được thành Phật gọi là Duyên Hóa Phật.

NHÂN DUYÊN SANH thường thành tựu dưới sự kết nạp của ĐỒNG HỢP ĐỒNG HÓA. Từ phàm phu có chí nguyện tu hành, khi hợp theo Đức Tánh đầy đủ y như PHẬT liền HIỆN THỂ Phật. Từ phàm phu gặp đặng Bồ Tát chỉ bày tu tập có chí nguyện sau khi thành tựu đầy đủ Đức Tánh hợp với Bồ Tát liền HOÁ THÂN BỒ TÁT. Gặp Tiên Thần Thánh tu hành đồng Đức Tánh Tiên Thần Thánh sau khi thành tựu liền trở thành TIÊN THẦN THÁNH. Gặp Quỉ Ma Ác Quái huân tập theo Đức Tánh của Quỉ Ma Ác Quái sau kết cuộc liền biến thành QUỈ MA ÁC QUÁI. Nó chẳng phải Như Nhiên hay Tự Nhiên vì Nhân Duyên Sanh nó sẵn thế. Đức Thế Tôn Ngài đã nói nơi Kinh Viên Giác: “Đời sau nếu gặp Thiện Tri Thức là Phật thời tu thành PHẬT. Bằng gặp Thiện Tri Thức Bồ Tát thì tu hành thành BỒ TÁT. Gặp Tiên Đạo, Thần Đạo, Ngoại Đạo thì thành TIÊN, THẦN, NGOẠI ĐẠO. Lỗi ấy chẳng phải bậc cầu đạo mà chính lỗi ấy do bậc lãnh đạo gánh chịu.”

NHÂN DUYÊN SANH cực kỳ quan trọng, từ một khởi Duyên để thành tựu công đức sung mãn Đại Thanh Tịnh Phật. Cũng từ một khởi động vọng duyên hợp hóa Súc Sanh, Ngạ Quỉ, Địa Ngục vòng sanh tử không ngừng. Do đó, Đức Phật cùng Chư Bồ Tát nguyện gieo NHÂN DUYÊN để chúng sanh vì Nhân Duyên mà hóa độ. Bằng không có nhân duyên hay chẳng chịu nhân duyên thời chư Bồ Tát và chư Phật cũng đành chịu. Nếu bậc đã có Nhân Duyên nhưng ngược lại chẳng nghe lời Phật dạy, hoặc Chư Bồ Tát chỉ bày để tu thì cũng khó thành tựu, vì sao? Vì không khởi Sanh, đã không Sanh thì chẳng Hợp, chẳng Hợp đâu có Hóa?

Do sự HỢP HÓA Nhân Duyên Sanh, mục đích Chư Phật đưa tất cả Chúng Sanh thoát vòng sanh tử tối cần TIN VÂNG KÍNH để chỉ dạy phá chấp mê lầm vọng đảo nơi hợp hóa thành tựu một hướng Đức Tánh Trí Tuệ đầy đủ chẳng thiếu sót đặng toại nguyện.

NHÂN DUYÊN SANH là một đường dây sanh trưởng đủ mọi mặt từ trí tuệ đến Đức Hạnh Ngôn Ngữ của bậc phàm phu được hóa thân BỒ TÁT, từ Bồ Tát thành CHÁNH GIÁC cũng vẫn nương Nhân Duyên Sanh mà đoạt đến.

NHÂN DUYÊN SANH thể hóa không phân biệt Tịnh hay Bất Tịnh, Hữu hoặc Vô Tri, duy nhất khi đồng hợp liền được hóa. Nếu có bậc nghĩ rằng Hữu Tri hóa Hữu Tri, còn Vô Tri thì hóa Vô Tri thời bậc ấy bị lầm nghĩ sai biệt với Thể Cách của Nhân Duyên Sanh.

Đã không đúng thì sự tu hành nông cạn trí tuệ ít phát sanh, con đường Tri Kiến Giải Thoát hãy còn xa triệu dặm.

Đối với bậc tu hành nên có sự nhận xét lần tiến khi trí tuệ mơ màng lẩn quẩn hoặc bị lúng túng, đó chính là bờ ngăn của phần thiếu sót sanh trưởng, một là kém công phu, hai là tự ngã thủ chấp. Đối với cái gọi là VÔ TRI nó khôn hơn HỮU TRI một phần tinh nhuệ hơn NHÂN SINH gấp bội, vì vậy lúc Bồ Tát tu hành đoạt được CÁI BIẾT CHUNG CÙNG liền nói:

“Nếu ta gán cho Vũ Trụ là khách quan, thì Vũ Trụ cũng có quyền cho ta là quan khách. Bằng ta biết Vũ Trụ thì Vũ Trụ liền biết ta. Ta cùng Vũ Trụ đồng hóa.”

Tất cả Vũ Trụ đối với Nhân Sinh, thì Vũ Trụ thường đưa Nhân Sinh Giác Ngộ, đối với Vô Tri làm cho chư Bồ Tát tỏ ngộ nhiều lần, bậc Đại Trí thường Phát Nguyện gieo Nhân Duyên với tất cả từng lớp để đồng Hóa Sanh cùng khắp mà đoạt đến Tròn Nguyện. Còn bậc Thiểu Trí thời lìa xa tất cả để đoạn các duyên phần cầu LIỄU ĐẠO, những bậc tu như thế Phật gọi là: CHỒI KHÔ MỘNG LÉP thua đất đá gió mưa, thua tất cả loài vô tri thảo mộc.

Ví như:Hạt cam kia khi đem đặt xuống đất, hạt cam nó cứ đinh ninh rằng chẳng chờ ai, thì chính nó không biết tí gì. Nếu hạt cam nó biết nó nhờ ĐẤT sanh nở nó thời đối với ĐẤT là bạn chí thân. Bằng ĐẤT nó không biết lấy ai cả, thì đất tự mua lấy sự thua kém chẳng hiểu biết chi. Nếu nó tự biết nó nương nhờ với NƯỚC thời nó cùng NƯỚC là đôi bạn thân, bằng NƯỚC nó cũng chỉ biết lấy nó, thì không khác với tự cố thủ để chịu lấy không biết tí gì. Nếu nó biết nó nhờ có NẮNG nó sẽ được bạn chí thân. NẮNG nó nương nhờ KHÍ HẬU, khí hậu nhờ THỜI TIẾT, chung lại tất cả thảy đều nương nhờ cấu kết với nhau để thành tựu, chớ đứng yên để tu cầu khó thành tựu đến rốt ráo.

Đức Thế Tôn Ngài thật biết nó như vậy, Ngài lại biết hơn thế nữa, Ngài biết tuần tự liên kết mật thiết các pháp di chuyển diễn hành Hợp Hóa liên hệ nơi PHÁP THÂN PHẬT. Vì lầm mê nên bị ĐOẠN DỊ DIỆT không thể nào nhìn nhận với nhau để đến TỰ GIÁC, do đó sanh ra TỊNH, BẤT TỊNH, THUẬN và NGHỊCH mà trở thành BẢN NGÃ BỊ BIẾT trong khuôn khổ Chúng Sanh Giới, Sanh Hóa, Hóa Sanh gọi là Sanh Tử Luân Hồi trên vạn lối.

Đức Thích Ca Ngài là bậc nhìn sâu thấy rộng, biết tận chu đáo rành mạch tỉ mỉ, Ngài mới lần vớt Chúng Sanh khỏi nơi cạnh tranh xâu xé Ngài mới đặt ra từng pháp môn để cứu độ như:

VÔ THƯỜNG Ngài đưa đến THƯỜNG CÒN. VÔ NGÃ Ngài đem đến TỰ GIÁC lìa Bản Ngã cạnh tranh xâu xé. NHÂN DUYÊN Ngài để bậc tu hành nương tựa tu đến NHÂN DUYÊN SANH lần biết tất cả giao kết liên hệ không có nơi nào là nơi BỎ, chẳng có chốn nào là chốn LẤY. Duy nhất TRI KIẾN GIẢI THOÁT khỏi vòng SANH HÓA đến HÓA SANH.

Đạo Phật chính là một mối đưa cho tất cả đến nơi TỰ QUYẾT thẳng đến CHÂN THIỆN thực tại, minh định tỏ rõ, tích cực không ngừng. Chớ chẳng phải Đạo Phật là một đạo vu vơ mơ màng trên GIÁO LÝ để chẳng có một quyết định nào đi áp dụng hàng hai như bậc tu hành hãy còn thiếu sót lầm tưởng. Đó chính là lời Tốn Từ khuyên nhủ cùng các bậc Tín Tâm cầu TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

4. NHÂN DUYÊN

NHÂN DUYÊN tức là từ gieo NHÂN nầy đến DUYÊN kia, từ chỗ NHÂN kia đến DUYÊN nầy. Nhân Duyên là một bước đi hay bước về. Bước về TRI KIẾN GIẢI THOÁT, hay bước đi MÊ MỜ. Khi đi mê mờ gọi là DUYÊN NGHIỆP. Duyên Nghiệp bị cái vòng đai của Ái Nịch và Ái Dục chìm đắm kéo lôi. Trong một thời, nhờ khởi sanh gieo NHÂN đặng liên kết DUYÊN tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát. Nơi Nhân Duyên thì chẳng có lớn nhỏ, chỉ vì Duyên Nghiệp nặng nhẹ, nhiều ít mà có lớn nhỏ. Đã lớn nhỏ thời có ĐẠI và TIỂU Nhân Duyên.

Bậc Đại Nhân Duyên khi chưa tu vẫn nằm trong Duyên Nghiệp của Ái Nịch Ái Dục. Đến lúc tu hành họ có năng lực cầu tiến bộ, họ cố gắng chịu đựng mọi hoàn cảnh thử thách, Tâm Ý siêng tu không ngừng. Họ xóa bỏ những nghiệp chi làm cho họ ngăn cách trên đường tu để đặng nhứt tâm hiểu biết mà Phá Chấp. Họ kiên dũng lướt qua các nghịch pháp làm cho nghiệp không thể nào xâm chiếm đặng đường tu hành của họ, như vậy gọi là ĐẠI NHÂN DUYÊN.

Còn Tiểu Nhân Duyên khi chưa tu vẫn nằm trong Duyên Nghiệp của Ái Nịch Ái Dục không khác Đại Nhân Duyên, đến lúc tu hành họ biếng trễ ít đặt nặng vấn đề tu Phật giải thoát. Dù có tin chăng họ vẫn cầu phước để vun nguồn Ái Nịch Ái Dục họ ít khi dùng năng lực để lướt qua mọi hoàn cảnh thử thách. Tất cả sự tu hành họ cho là phụ thuộc còn Ái Nịch bao bọc vợ con tài sản. Duyên Nghiệp là chính Phước ban cho họ vậy, khi đụng tới Ái Nịch thì họ bỏ tu.

PHẬT nói: “Họ là Nồi Đất Mỏng, chớ đụng vào mà họ bị vỡ. Đời sau các Ông hãy khéo tay nâng chìu, chớ làm cho họ Đoạn Duyên.”

PHẬT thường nói bậc Đại Nhân Duyên là bậc đã gieo trồng Nhân Duyên đầy đủ không thiếu sót, từ Hiền Kiếp cũng đã gặp Công Đức cúng dường, hôm nay sự tu hành đặng thù thắng, Tâm sẵn rỗng rang ít hay chấp nhất. Vì chẳng Năng Chấp mà đặng TỰ TẠI và VÔ NGẠI nên đặng trọn ĐẠI BI. Các Duyên Nghiệp dù có chăng cũng chẳng làm chi họ, vì vậy mà lướt qua Nghiệp Chướng nhẹ nhàng vào BIỂN CẢ ĐẠI GIÁC.

Còn Tiểu Nhân Duyên tuy chưa đặng sự đầy đủ như Đại Nhân Duyên, nên cố gắng tu tập bắt chước theo Đại Nhân Duyên mà đến. Không rụt rè cố chấp, đánh đổi những gì làm trở ngại Đạo Tràng thâm tâm ham muốn. Cứ như thế một thời gian tiêu giảm các CHƯỚNG đồng với Đại Nhân Duyên không khác mấy.

Nếu như bậc Đại và Tiểu đồng gặp đặng Thiện Tri Thức chỉ bày sự tu tập thì đặng vào con đường Bình Đẳng không còn phân biệt Đại và Tiểu. Vì sao? Vì Đồng Duyên nên được sự cứu cánh tuyệt mỹ khó mà nghĩ bàn. Nhưng cần nhứt chớ nên BIẾNG TRỄ hãy TIN VÂNG KÍNH theo sự chỉ bày của Thiện Tri Thức. Sự TIN VÂNG ấy nó làm cho LÝ không chướng thì đặng SỰ không chướng mà thành tựu, bằng chẳng TIN VÂNG thì LÝ chướng SỰ liền chướng, tức là chẳng làm thì đâu có đặng.

Pháp Nhân Duyên là một pháp mà chư Bồ Tát thảy đều nương theo đó để Độ Sinh, nó cũng là mục tiêu trong Bồ Tát Hạnh, chính là một ngõ để đón chúng sanh vào TRI KIẾN, chớ làm cho nó ĐOẠN. Nếu chẳng có Nhân Duyên thì dù cho có Phật hiện tiền cũng không thể nào ĐỘ đặng, vì sao? Vì:

PHẬT bất hóa độ VÔ DUYÊN
PHẬT bất hóa độ ĐỊNH NGHIỆP

So như vậy đủ biết Nhân Duyên rất cần cho sự TU CHỨNG kẻ tu đoạn duyên khó mà Tri Kiến Giải Thoát, dù có gặp Phật cũng không giúp nổi vậy, duy có trường hợp sa vào Địa Ngục gặp đức Địa Tạng cứu thoát mà thôi. Đoạn duyên chính là ĐỊNH NGHIỆP.

Nơi Định Nghiệp nó tùy nơi thời gian và không gian của kẻ chấp nhận, đến khi nó cũng tùy DUYÊN KHỞI tự gieo NHÂN mà kết thành DUYÊN, lần lượt trên Nhân Duyên đến trọn vẫn đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Nó do các Lý Chướng cùng Sự Chướng mà bị chấp ĐOẠN thành thử cản ngăn chướng ngại gọi là MA TÁNH hay MA CHƯỚNG để trôi theo đường SANH TỬ.

Nếu bậc tu hành lập NHÂN DUYÊN PHÁP làm một nấc thang cho nó đặng liên tục cầu tiến bộ không ngừng thì đặng TỰ TẠI VÔ NGẠI và HOÀN TOÀN GIẢI THOÁT, không còn Tập Khí Sanh Tử, đặng VIÊN GIÁC NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG.

ĐỨC THẾ TÔN nói:

– “NHƯ LAI không Đến, không Đi, không Sanh, chẳng Đoạn Dị Diệt, Vô Thủy Vô chung. CHÚNG SANH có Đến, có Đi, có Đoạn Dị Diệt và Có Thủy Có Chung, nên có Nhân Duyên để nương vào Nhân Duyên đặng CÔNG ĐỨC cúng dường Như Lai mà TRÒN DUYÊN vậy.”

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

3. VÔ NGÃ

VÔ NGÃ tức KHÔNG TA. Đó chính một điểm chúng sanh thường trụ nơi HỮU NGÃ, nên Phật nói pháp VÔ NGÃ cốt đưa chúng sanh về CHÂN NGÃ bất diệt, vì chúng sanh đang nương tựa HỮU NGÃ, diệt sanh. Nên Phật nói: "NƯỚC BIỂN KHÔNG CHỊU NHẬN. LẠI ƯA NHẬN BỌT BIỂN LÀM THÂN, NÊN THƯỜNG BỊ SANH DIỆT.”

Đối với vấn đề Hữu Ngã nó không thật thể, không khác mấy với giọt sương kia, khi mà mặt trời lên thì giọt sương tan rã, như lúc cái khôn ngoan của con người ngày nay đến ngày mai chính nó là cái dại. Nó tuần tự biến dời thay đổi trở thành rất nhiều thứ lớp cấp bậc trên con người với con người.

Trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Vũ Trụ Nhân Sinh cứ kể cứ một Thế Giới, thì biết bao nhiêu lớp về Trí Tuệ, biết bao giai cấp về Tướng Phần, cũng bởi HỮU NGÃ nung lòng Tự Ngã đến BẢN NGÃ, phải chạy vạy hơn thua tranh giành từng lời nói, đến công việc làm để phân định giai cấp. Chẳng khác mấy với những bọt biển lao nhao trên mặt sóng, do đó pháp sinh Vui Buồn, Sướng Khổ, mê lầm mãi miết trên con đường Hữu Ngã hư dối phải hứng chịu nơi Sanh Tử, Tử Sanh. Đối với Phật:

Phật Thời Vô Ngã Đề Huề,
Chúng Sanh Hữu Ngã, nên Tê Tái Lòng.

HỮU NGÃ tức CÁI TA, nó không có. Cứ quan sát Nhân Thân (thân người) gồm có: Đầu, Mình, Tay, Chân. Trong thì có Ruột, Gan, Phèo, Phổi, 36 thứ bất tịnh, chớ chẳng có cái nào gọi là CÁI TA. Khi lầm mê chấp nhận thân TỨ ĐẠI GIẢ HỢP là TA, đương nhiên phải có cái CỦA TA, cái của ta tức là Vật Dụng (đồ dùng) tư riêng từng phần. Mỗi một vật dụng như vậy thì nó lại có cái Hữu Ngã của nó như: Hột lúa, bóc vỏ nó là hột Gạo, tán ra nó là Tấm, xay nát nó là Bột. Thật ra vốn nó là HỘT LÚA. Đem phân tách từng cái dụng, nếu nói hết từng món như: NHÀ CỬA, BÀN TỦ, RUỘNG ĐẤT để giải rõ mỗi món đều có từng chi tiết dụng Ngã của nó thì chẳng biết bao giờ kể hết đặng.

Đối với Hữu Ngã phân tách trên tỉ mỉ Phật cho nó là THỊ DANH GIẢ. Vì sao? Vì nó còn biến thể tánh của nó như: BỘT có thể biến thành BÁNH, GẠO có thể biến thành CƠM, CHÁO chẳng hạn. Do đó, mà từ phàm phu tu trì biến thành Tiên Thánh. Từ Tiên Thánh lìa Bản Ngã tu hành được Chân Ngã toàn giác vẫn thành PHẬT. Chư Bồ Tát thường nương theo VÔ NGÃ, Hạnh Nguyện HÀNH THÂM PHÁP GIỚI cầu tỏ ngộ đoạt Chánh Giác, do đó gọi BỒ TÁT KHÔNG TRỤ MÀ TRỤ.

BẢN NGÃ nguồn phát sanh từ nơi HỮU NGÃ. Còn VÔ NGÃ lìa Hữu Ngã Hành Thâm Bát Nhã trong Bá Thiên Vạn Vạn Ngã để tỏ biết tỉ mỉ nơi thọ chấp sở trụ của các hàng Tu Chứng Nhị Thừa cùng Bồ Tát trụ đến trọn giác Chân Ngã. Chớ nên minh định VÔ NGÃ là không có chi, như hàng Nhị Thừa Thánh Đạo thường lầm chấp.

Đối với pháp VÔ NGÃ chính là một Pháp Tối Thượng bậc tu hành đã đoạt đến BÁT NHÃ TRÍ mới thi hành đúng đắn còn ngoài ra nương theo Vô Ngã cho thật tỏ rõ, quá tỏ rõ sở đắc Bát Nhã Trí chẳng còn năng chấp sở chấp mà thi hành Vô Ngã đặng trọn dụng Chân Ngã Chánh Giác vậy. VÔ NGÃ là một pháp khó làm khó nói. Chỉ có bậc trọn Chân Ngã thì có thể nói, có thể tuyên đọc Bản Ngã đến đâu chăng nữa đối với bậc ấy không có lấy một NGÃ, vì sao? Vì bậc ấy gồm chung Toàn Ngã chân thật Chánh Ngã. Còn ngoài ra Bồ Tát không chấp, vẫn vướng nơi chấp không, từ sơ trụ Bồ Tát đều nương theo Vô Ngã tu tập đến Bất Thối. Vô Ngã khó khăn như thế làm sao hàng Nhị Thừa năng chấp biệt phân để tu cho đến đặng.

Đức Thế Tôn BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI Ngài đã dày công biết bao nhiêu, thật khó nghĩ bàn đối với Công Đức của Ngài khi Ngài thành tựu hoàn toàn Chánh Ngã, Ngài nói: “Trên dưới đều chưa trọn Ngã, chỉ có TA mới có trùm khắp Chân Ngã thôi!”

Đức Phật Ngài thật tỏ tõ tất cả chúng sanh đến hàng Nhị Thừa cùng các hàng Tu Chứng bởi chấp Ngã, nên chia ra nhiều Bậc, khó khăn rốt ráo đến Chân Ngã Bất Nhị, do đó Ngài cứu độ bằng pháp TỊNH NGÃ, để cho hàng thường trụ, thường mê chấp tu nơi PHÁP TỊNH, sau Chánh Báo về TÂY PHƯƠNG TỊNH ĐỘ tu pháp môn ĐẠO HẠNH THANH TỊNH một thời gian thành Phật.

Ngài lại thường dặn: “Đắc, thì không đắc. Bằng ta chẳng nhận chỗ đắc nơi ta thì ngày kia sẽ đắc. Đó cũng một phương thức nương theo VÔ NGÃ.”

Đương thời hiện tại, nếu y theo lời Phật dạy để mà tu hoặc thi hành Pháp Môn VÔ NGÃ không khéo thịnh trọng thì sai biệt lời dạy cùng với Pháp Môn, vì sao? Vì đã lạc Thể Chế Chân Truyền trên năm trăm năm của thời Chánh Pháp. Bậc tu hành dù có y theo Kinh để đọc tụng, thuộc Kinh, hiểu Kinh hay biết Kinh vẫn bị trong vòng lẩn quẩn BỊ BIẾT, dù cho hiểu nghĩa Kinh cũng không biết HÀNH KINH cho đúng với lời của Đức Chí Tôn Phật. Tất cả những sự tu hành luôn luôn nó bị mâu thuẫn để gián đoạn, đó chính là một yếu tố đối với bậc tu hành biết suy nghĩ cặn kẽ để TRI KIẾN PHẬT.

Pháp VÔ NGÃ công dụng cho bậc tu để lìa BẢN NGÃ CHẤP NHẬN cho mình đã thành Phật hoặc cho mình là đúng. Hàng BỒ TÁT thường nương theo VÔ NGÃ đến Giác Ngộ sạch LÝ SỰ đồng song hết NGHI CHẤP phân vân mơ màng hai tướng.

Pháp VÔ NGÃ để giải trừ nơi ĐOẠN DỊ DIỆT do bởi HỮU NGÃ Sắc Pháp làm chướng ngại. Khi bậc tu hành đã chướng ngại thời làm sao đến nơi ĐẠI BI, đã chẳng Đại Bi thì làm thế nào học hỏi hiểu biết các pháp sâu đậm để tu? Pháp Vô Ngã thi hành lướt qua trăm trăm vạn ức Bản Ngã của từng lớp đã chấp nhận đặng bậc tu trọn biết trăm trăm vạn ức khỏi lầm mắc được suốt thông trong 62 kiến chấp rốt ráo đoạt CHÂN NGÃ thành Phật.

Đối với bậc tín tâm cầu đạo thời nào cũng có, nên sự tu hành thời nào cũng được Giác Ngộ. Đạo Phật là một MÔN PHÁP chẳng cần đến giai cấp HỮU NGÃ, chỉ cần đến trí tuệ VÔ NGẠI để thành tựu BÁT NHÃ TRÍ đặng thi hành VÔ NGÃ đến CHÁNH NGÃ.

Phật Đạo chính là một TÔN CHỈ dạy cho tất cả Tri Kiến chớ đạo Phật chẳng có ĐỘC TÔN Thần Quyền buộc tất cả phải mê tín, nên đạo Phật thường nhắc, thường nói pháp VÔ NGÃ đặng lìa BẢN NGÃ, chẳng phải LÌA NGÃ ĐỂ NUNG BẢN NGÃ, bậc tu nên nhớ: CÒN NGHI THỜI CÒN PHẢI TU, CÒN VỌNG CHÍNH CÒN THAM nên gọi là THAM VỌNG.

Bồ Tát Văn Thù nói: “NÓ VÔ NGÃ, NÓ CHẲNG CHỊU. NÓ CHỈ CHỊU NÓ HỮU NGÃ, NÊN TRÔI GIẠT SANH TỬ. NẾU NÓ KHÔNG NHẬN DANH NGÃ TƯỚNG NGÃ THÌ NÓ ĐỒNG VỚI TAM THẾ.”

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

2. VÔ THƯỜNG

VÔ THƯỜNG tức không thường, bởi nó linh động di chuyển luân hồi vần xoay từng giai đoạn chẳng ngừng, khi có lúc không, khi còn lúc mất. Pháp Vô Thường là một pháp phân biệt từng căn cơ từng hồi từng lúc, dưới ngã tánh tương sanh hợp hóa THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG trong Vô Thường pháp vậy.

VÔ THƯỜNG bao trùm tất cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Vũ Trụ Nhân Sinh, muôn loài vạn vật phải hứng chịu qui chế Vô Thường theo luật NHÂN QUẢ không sai chạy.

Nói đến pháp VÔ THƯỜNG, mới nghe vội cho nó là một pháp nhỏ bé đơn giản, nhưng đem nó ra để áp dụng tu tập đến chốn THƯỜNG CÒN đắc pháp THƯỜNG CHÂN thời nó chính là một pháp mà chư BỒ TÁT phải tu qua đến 80.000 kiếp thành PHẬT xong mới rốt ráo chân tướng của nó vậy.

THỂ TÁNH của VÔ THƯỜNG PHÁP, nó chẳng khác nào chiếc đèn TRỐNG QUÂN ta thường treo trong dịp Trung Thu, nó di chuyển cũng bởi thể tánh của đèn. Vì lầm mê bước vào công nhận SẮC PHÁP hình ảnh nơi đèn bị Sắc Pháp xoay chuyển vần xoay mà tất cả Tam Thiên Vũ Trụ phải chịu chung cảnh diễn tuồng của nó, chập chờn từng cảnh từng lúc thay đổi, đổi thay nên vướng mắc không làm sao tỏ nỗi.

Bậc Giác Ngộ nhìn các Sắc Pháp diễn hành không mắc miếu. Cũng như ta đứng nhìn chiếc đèn Trống Quân không sợ sệt. Bậc Thường Chân biết được Thể Tánh của Sắc Pháp thường xoay chiều di chuyển không quái ngại được tự tại. Như ta đứng bên ngoài thấy chiếc đèn Trống Quân đang chạy là THƯỜNG. Ta không nên ngạc nhiên hỏi tại sao chiếc đèn Trống Quân hình ảnh của nó phải chạy như thế. Cũng như bậc Giác Ngộ không nghi ngờ các Sắc Pháp diễn hành nào đâu có mắc, như ta không vướng mắc hình ảnh chiếc đèn thì ta nhìn đèn làm thú vị.

Một lý giải của pháp VÔ THƯỜNG mắc miếu khi tu hành cốt tìm đến THƯỜNG CHÂN đoạt THƯỜNG CÒN không sai khác như trên đã diễn nói.

Đối với Đức Thế Tôn Ngài nhận thấy Chúng Sanh lầm mê bởi Sắc Pháp, ưa chuộng nắm bắt tranh giành vì Tướng Pháp Danh Giả vòng quanh trở thành Nghiệp, Ngài nói: “Tất cả các pháp đều huyển hóa không thực. Chớ chạy theo diễn tuồng nơi nó tác tạo vướng mắc phải trôi dạt theo Sanh Tử Luân Hồi.”

Hiện diện tất cả lầm chịu trong Vô Thường pháp, vô thường nó có thể đưa cho tất cả trong các hoàn cảnh thích hợp hay không thích hợp. Từ lời nói đến việc làm giao cấn Vui Buồn Sướng Khổ muôn hình vạn bóng. Bậc tu hành mong mỏi thành tựu theo sở nguyện của mình, thì trước tiên nên CỔI GIẢI TÂM chủ quán tấm tuồng chiêm bao thuyên diễn, khi tâm nhẹ nhàng thoải mái thời nên sửa các ĐỐ TẬT ganh ghét hơn thua, đó chính là đường tu. Bằng chẳng như vậy dù có tu đến vạn kiếp cũng không bao giờ kết quả. Vì sao? Vì tu cốt áp dụng chữa bệnh lầm lẫn mắc miếu, nếu chẳng áp dụng chữa bệnh lầm mắc đâu phải là tu.

VÔ THƯỜNG Thể Tánh của nó dưới mắt của bậc TRÍ nhìn thấy từ Vũ Trụ đến Nhân Thân (thân người), từ câu chuyện đến sự làm tất cả không ngoài bốn pháp: THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG. Khi vũ trụ thành hình, lúc đã có hình thực (Trụ), khi bắt đầu hư nát (Hoại), lúc vỡ đổ tan (Không). Đối với Nhân Thân cũng không khác Vũ Trụ. Lúc cha mẹ mới sanh, khi khôn lớn, đến tuổi già, sau ngày chết, đó chính là một qui chế của SẮC PHÁP cuồng xoay bởi lầm mê vướng vào phải chịu. Cho nên những bậc Đại Trí quyết định thoát khỏi vòng Vô Thường nên tu tập, khi đã Giác Ngộ cũng phải nương theo Vô Thường nhưng Tâm Ý thường còn để nguyện độ cho tất cả được thoát khỏi Vô Thường bèn đem hết phương cách của mình đã tu đặng dạy cho kẻ chưa tu, chưa hiểu sau được tu, được hiểu biết như họ. Đó gọi là Tự Lợi Tha Lợi, có nghĩa là mở trói cho mình xong, mình mở trói cho người.

Chư Bồ Tát thường nói: “Không có gì là KHỔ, chỉ lầm mê bị vướng mắc trong VÔ THƯỜNG PHÁP là Khổ.” Chẳng có chi làm cho ta sung sướng khi ta biết được ĐẶC TÁNH của Vô Thường nhìn nó bằng cặp mắt lạc quan. Lúc lầm bị nó chuyển xoay khi Giác Ngộ nhờ nó mà ta thông đạt PHÁP GIỚI đến chốn THƯỜNG CÒN BẤT DIỆT.

Kẻ lầm mê cầu năm nầy, sang năm khác cho có DIỄM PHÚC LẠC AN. Bậc ĐẠI TRÍ biết năm nầy tháng nọ, ngày nay bữa mai đều phiên diễn một thứ lớp, miễn tạo Đạo Đức Trí Tuệ tăng trưởng đó chính là DIỄM PHÚC LẠC AN.

Do vậy bậc Trí không sợ, tâm tự tại thư thái. Kẻ lầm cầu ngoại cảnh SẮC PHÁP làm vui buồn sướng khổ. Bậc Trí tu cầu bên trong phá mê chấp ngăn ngại làm đích THƯỜNG-LẠC-NGÃ-TỊNH, bậc biết tu cầu bên trong đó chính là bậc TÌM ĐƯỢC CHƠN TÁNH mà tu. Bậc tìm đặng Chơn Tánh để tu ưa nghe GIÁO LÝ, thích giải mê lầm nương theo vết chân của BỒ TÁT HẠNH, tâm chí Hướng Thượng, không vì lề lối sống trên đời làm quan hệ, chỉ lấy CHÂN THIỆN MỸ hoàn lai làm đích.

VÔ THƯỜNG PHÁP là một pháp ĐỘC TÔN Qui Chế, khi đã vướng vào thì phải bị trị chớ chẳng phải để thoát sanh. Nên Bồ Tát Văn Thù Ngài nói: “Chính các ông là Phật, chẳng chịu làm Phật, ưa buộc trói trong vô thường phải làm chúng sanh nơi qui chế.”

VÔ THƯỜNG PHÁP chẳng khác mấy với kẻ đầu quân phải dưới quyền Bỉnh Trị của vị Nguyên Soái. Chẳng hơn kém với qui chế MA VƯƠNG. Trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới các Cảnh Giới Tiên Thần cùng với Ba Cõi Sáu Đường thảy đều một Qui Chế ĐỘC TÔN của Vô Thường Pháp. Nếu biết được tất cả THƯỜNG CÓ QUI CHẾ: Thì bậc tu không lạ gì sự vướng mắc của lầm mê thường chịu qui chế, đó cũng là đến ngưỡng CHÂN THƯỜNG. Vì sao? Vì biết nó thường diễn.

Cũng như: TA BIẾT TA LẦM MÊ, thời gian ta khỏi lầm mê. Như ta biết ta có tánh nóng thì ngày nọ ta khỏi tánh nóng. Sợ ta không tu, chớ chẳng sợ tu mà chẳng đến. Sợ chẳng tìm hiểu GIÁO LÝ, chớ chẳng sợ ta không nhận thức được, đó chính là lời của THÁNH TĂNG thường nói vậy.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN