10. XUẤT ĐỊNH NHẬP CẢNH TÙY THUẬN THEO TIỂU NGÃ

Các ông cũng nên biết, Xuất Định hay nhập vào cảnh giới nào bất luận phải tùy thuận đồng hợp mà nhập vào cảnh giới của Tiểu Ngã.

Bậc Thiền Sư luôn luôn đứng tư thế nơi Tiểu Ngã để quan sát các Giả Tưởng, xem Tiểu Ngã nào có hiệp với cử chỉ chi, nó ăn nói như thế nào, nó công dụng hạnh kiểm ra sao, nó ưa thích những gì ưa thích với nó. Ví như: Tiểu Ngã Thiên thời bậc Thiền Sư Tâm rộng rãi, ăn nói từ tốn, giúp người ít khi kể lể ơn nghĩa, đi đứng chớ nên bừa bãi gọi là pháp môn Thiên đến chừng vào định, lúc xuất định, mặt đương nhiên nóng báo hiệu lên cõi Trời, khi đến cõi Trời ngang qua biên giới giữa cõi Trời với Thế Gian thì Tiểu Ngã của Thế Nhân về Thế Nhân, nhận lãnh Tiểu Ngã Thiên Giới dạo chơi khắp cõi lúc trở về Tiểu Ngã Thiên về lại Thiên, Tiểu Ngã Nhân tiếp nhận lại Nhân.

Phần nhiều mỗi một cảnh giới hoặc mỗi cõi các vị Thiền Sư rất hiếm bậc đã từng vào ra Cảnh Giới hoặc các Cõi tự tại, vì chưa rõ thông Tiểu Ngã của mỗi một Cảnh Giới hoặc mỗi Cõi. Do tại sao mới hóa sanh Cảnh Giới như thế, do những gì kết nạp thành ra Cõi? Đa số chỉ dùng ĐỊNH TỌA lúc nó đến đâu tùy nơi Thiền diễn tiến mà thụ chấp.

Các ông cũng nên biết: Rất hiếm bậc vừa tu Thiền Tọa vừa tu Hiển Giáo gọi là VIÊN GIÁO. Bậc Viên Giáo rất có tin tưởng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, bậc nầy tu với đích chính thoát ngoài Vũ Trụ, về với Linh Hồn Chánh Giác, khi đã Chánh Giác xong mới biết được LINH HỒN TỐI THƯỢNG. Biết đặng TIỂU NGÃ tận rõ GIẢ TƯỞNG mà diễn giải, chớ bậc đang tu, đang nằm nơi TIỂU NGÃ ngỡ mình Chánh Giác thành Phật không thể nào triệt thấu đặng mà nói.

Bậc tu Xuất Định buổi ban đầu hơi khó, nhưng khi đã xuất định đặng đương nhiên bị bặt đi, không xuất đặng là vì bậc nầy mơ ước mừng rỡ hoài mong tự nhiên sa vào nơi Giả Tưởng. Nên xả vọng tưởng cố công phu liền đặng nối tiếp.

Tu Thiền chớ nên gò ép quá trớn, ép quá trớn hay bị long đầu làm cho con người lảo đảo, nhiều lúc bất bình tĩnh, nên tập thể dục hay tìm thú vui để giải hóa, giữ sao cho thân tâm quân bình, tu Thiền tựa như người cầm lái xe hơi, chính mình phải tự chủ lái Thiền Pháp. Tọa Thiền chớ nên quan niệm lầm tưởng gò ép để xuất hồn, tư tưởng như thế thật sai, vì sao? Vì Tiểu Ngã là linh hồn đã có sẵn khắp nơi, khi Xuất Định đến nơi nó liền giao tiếp, chớ cho xuất hồn như trên, đó chính là một quan niệm Ngoại Giáo giả tưởng lầm sai không thực thể. Khi bậc tu Thiền đến căn bản tùy công năng, tùy trí tuệ đến mức tận cùng đương nhiên xuất định, miễn làm thế nào, lần theo giả tưởng thật tỏ thì mức Thiền càng cao, lần biết thì mức Thiền tiến bộ. Chính tu Thiền là một môn Quán Xuyến NHÃN TẠNG, nhờ Nhãn Tạng minh xác những điều mê lầm nơi Giả Tưởng, tự nơi mình đặng Chánh Giác, mới hay rằng nơi mình có đủ Phẩm Chất, có sẵn linh cảm, có sẵn nhận định quân vương, lại có sẵn tánh thấy không bị sanh diệt, nên nhìn thấy vạn dặm, do mình chưa biết sử dụng, nếu biết sử dụng thì nơi thấy kia là một bộ máy linh động tinh nhuệ nhất, tốc độ thâu nhận nơi mình nhanh nhẹ gấp ngàn lần máy tinh xảo nhất thế giới của nhân tạo đã làm sẵn nơi các nước siêu cường. Nếu có bậc chỉ dạy hoặc Khai Thị để mình biết nhận, chính mình chưa chịu nhận, cứ mãi theo Giả Tưởng, nghĩ cũng lạ thật.

Có vị Thiền Sư tự khởi: Sau tìm đặng giải đáp câu thoại đầu của Thiền Sư khởi như sau:

Lúc bấy giờ Thiền Sư hái một chiếc lá, cầm chiếc lá tự hỏi? Màu xanh của nhà người từ dưới rễ dẫn lên hay từ bên ngoài đáp xuống? Thiền Sư dùng Nhãn Tạng xem xét, chốc lát đặng biết : Tất cả cây cảnh và Quả Đất thảy điều động có sức hút vào nhả ra. Trên hư không hòa lẫn khí hậu có đủ màu sắc, có đủ gió lửa không thiếu sót, tùy thuận màu nào hóa hợp liền đáp ứng bồi dưỡng thành hình, như lá xanh, hoa vàng hoặc đỏ, cùng tím thảy đều đáp ứng tô điểm để nuôi chiếc lá đến Bông Hoa đặng hoàn mỹ. Đến chừng Cọng thiếu sức tiếp liệu hút màu thì hoa kia hoặc lá nọ trả về màu cũ gọi là lá vàng hoặc hoa héo. Dưới mắt con người nhìn chiếc lá xanh, nhìn hoa vàng hay tím cùng đỏ cho rằng cây trổ hoa lá có màu sắc, chớ nào thật biết cây trổ hoa, cành có lá, phải hút vào tiếp liệu màu sắc nhả ra rút chất nước dưới rễ nuôi thân cây.

Vị Thiền Sư nầy còn biết, nơi không khí có chất NGUYÊN TINH, chất nguyên tinh nầy nó thung dung linh động vô kể, nó có thể xuyên qua bất cứ một nơi nào trong Vũ Trụ. Chất nầy nó làm cho tất cả đều hóa sanh, nó tiếp nuôi con người sống lâu, nếu con người biết sử dụng, nó hòa đồng với hư không, bằng chẳng có nó thì hư không cùng khí hậu không hòa đặng nhau nó hiệp hai khối hóa sanh ra đồng hợp, nó biến chế ra không khí nuôi dưỡng con người, con người quan niệm khí hậu tốt nuôi con người khỏe mạnh, nếu khí hậu tốt mà không có chất NGUYÊN TINH là một Chất Sống kia khí hậu cũng vô dụng. Chất Nguyên Tinh nó tinh vi linh động mạnh mẽ vô cùng, nó viên thông xuyên qua thân thể con người, làm cho các bộ phận con người có chất sống, chất nầy qua đến đâu vào bộ phận nào cũng làm cho bộ phận di chuyển sống động, nhờ chất Nguyên Tinh các tế bào mạch máu mới có chất sống để mà sống, Chất Sống Nguyên Tinh chẳng phải riêng cho con người, nó chung cả Vũ Trụ, có nó mới sống, gọi là một chất đặc biệt CHẤT SỐNG VŨ TRỤ VÀ NHÂN LOẠI.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

9. TIỂU NGÃ CỦA CÁC ÔNG TRẢI KHẮP VŨ TRỤ

Tiểu Ngã nó có Tự Thể, gọi là THỂ TIỂU NGÃ. Con người có hiện diện trên quả Địa Cầu trên một ngàn năm trăm triệu, mỗi người vốn sẵn bá thiên vạn ức Tiểu Ngã đang ứng trực trong Vũ Trụ, chia ra từng Cõi, Cảnh Giới như một chiếc ghế chờ sẵn các nơi. Chừng nào con người ở nơi quả Địa Cầu nầy, mãn phần thoát sanh tùy theo bản năng trình độ về nơi chiếc ghế ấy mà an trụ. Chiếc ghế nơi an trụ nó phải tương song với năng lượng, tương đồng với Bản Năng mà Chánh Báo hay Chịu Báo cũng tùy thuộc nơi con người đang hành sự tại thế giới Địa Cầu nầy.

Đối với con người, nhìn con người mới nhận thấy mỗi người có một lý tưởng, có một định hướng, có mỗi đức tính khác nhau, ít khi giống nhau, dù sao nó cũng không ngoài TIỂU NGÃ của mỗi người. Có người đứng về Tiểu Ngã Tiên, có bậc Tiểu Ngã Thần, có người về Tiểu Ngã Thánh, có kẻ Tiểu Ngã Nhân, đến Tiểu Ngã Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, mỗi nơi chốn đều là Tiểu Ngã Đại Diện cho Vũ Trụ cùng khắp Vũ Trụ có bao nhiêu Tiểu Ngã Thế Giới thì ở Thế Gian có bao nhiêu đại diện. Con người Đại Trí mong đoạt đến Vũ Trụ hoặc giao cảm với Vũ Trụ hay Xuất Định về các Cảnh Giới Tiên, Thần thì trước tiên phải làm thế nào chinh phục những con người làm cho tất cả đều Kính Ái, có ái kính mới có hàng phục Cảnh Giới, có thiện cảm mới có nhập Cảnh Giới cùng các Cõi. Lời nầy là lời chính xác, lời Tâm Ấn thực thể nên lưu ý. Bằng tu Tọa Thiền, dùng đủ phương thức để Xuất Định nhập cảnh chăng nữa thì những phương thức ấy đều nằm nơi Định Tưởng Giả Định, khi giả định giả tưởng cái thấy cảnh giới, hoặc vào cảnh giới thảy đều thấy nơi Phim Ảnh Vũ Trụ chớ chưa phải vào thật cảnh giới Tiểu Ngã, đó chính lời minh xác rất đúng.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

8. THỂ CHẤT CÙNG TIỂU NGÃ GIẢ TƯỞNG ĐỒNG NHẤT

"Vũ Trụ với con người, tuy hai văn tự, hai thế hệ lớn nhỏ khác nhau, nhưng chính nó là Một, vì sao? Vì con người Thể Hiện Ứng Thân tiếp nối với Vũ Trụ, thừa hành tất cả những gì vũ trụ đã có sẵn chưa mang ra đặng thì con người tìm được mang ra, con người lại lầm tưởng nơi mình sáng tạo.

Đối với con người đã có sẵn đường dây tiếp nối với Vũ Trụ, đường dây ấy là TIỂU NGÃ, bá thiên vạn ức Tiểu Ngã trùm khắp Vũ Trụ, mỗi Cõi, mỗi Cảnh Giới đều đã có sẵn Tiểu Ngã. Nên chi con người tu Phật có Tiểu Ngã Phật, tu Thánh có Tiểu Ngã Thánh, tu Tiên có Tiểu Ngã Tiên, đến tận cùng Địa Ngục vẫn có sẵn Tiểu Ngã của mình ở Địa Ngục. Nếu con người không có sẵn thì không bao giờ tu thành Vị Thứ hay Quả Vị, không bao giờ có Địa Ngục để mà sa vào.

Nói đến sự hiện diện con người ở Thế Nhân có Tiểu Ngã Nhân Thế. Nếu có một con người nào có lập trường về với Tiểu Ngã chính mình tại Thế Gian, liền tường tận được tất cả trên đời họ sống nhau bằng GIẢ TƯỞNG chính mình trở lại với Tiểu Ngã, thì các ông cũng nên biết: Bậc như thế gọi là SIÊU NHÂN hay THÁNH NHÂN, Tiểu Ngã nghe giảng, nghe nói ngỡ rằng dễ biết, dễ hiểu nhưng thật ra khó biết đặng Tiểu Ngã chính mình? Vì tư tưởng mãi suy nghĩ, mãi tìm tòi theo Giả Tưởng sống nơi Giả Tưởng nhiều hơn mình biết mình đặng. Cho nên con người biết việc thiên hạ, biết những người chung quanh lầm lỗi nhiều hơn chính mình tự soi để biết lấy mình. Khi bậc Siêu Nhân tự soi mình đặng biết người, tự lấy Giả Tưởng của mọi người chừa bỏ Giả Tưởng nơi mình vương mang. Đạo Phật thật biết con người xa lìa TIỂU NGÃ chạy theo GIẢ TƯỞNG cầu lấy hư vị, cầu lấy hư danh, ưa thích khen tặng, đeo đuổi Tham Muốn, nên mới dạy TÌM CHƠN TÁNH ĐỂ TU, hay dụng Thể Tánh tự soi vọng đảo, gọi là con đường Tự Tánh Tỏ Tánh, đến lúc Minh Tâm Kiến Tánh, khi bấy giờ nhìn thấy Tâm mình vọng đảo, tánh mình an nhiên, được gọi là THỂ TÁNH cũng là TIỂU NGÃ vậy.

Sự tham vọng Giả Tưởng nơi con người nói nó không cùng, nó có tham vọng như thế nó mới phát triển tất cả các Đồ Dùng, nó có hoài vọng mới tìm ra CƠ GIỚI, nhờ nơi tham vọng không ngừng nên chi ở thế gian con người chạy theo cạnh tranh phát triển đua theo hơn thua được mất mà vươn mình sáng tạo đủ thứ hiện vật, đủ tất cả khả năng con người phơi bày trên trái đất nầy, ngoài ra còn chẳng biết bao nhiêu Cảnh Giới, chẳng biết bao nhiêu Cõi thảy đều nằm nơi Giả Tưởng phát triển. Như trên đã từng nói vạn loài hóa chất phát triển, vạn chất Vũ Trụ hóa sanh để cung cấp cho con người cùng các Cõi, nó nhịp nhàng chẳng khác nào CON THOI dệt cửi, do đó mới gọi Thể Chất cùng Tiểu Ngã Giả Tưởng đồng nhất.

Còn đứng về phương diện mà nói: THỂ cùng TIỂU NGÃ nó có liên hệ mật thiết với nhau vô cùng, nó chính là sự tiếp nhận thành tựu nơi con người với Vũ Trụ từng lớp, cũng được gọi là: CHẾT SẼ VỀ ĐÂU, hay Chánh Báo cùng Chịu Báo trong Vũ Trụ cũng là con đường Luân Hồi Sanh Tử, thay hình đổi kiếp vậy, các ông hãy nghe cùng nhận định kỹ càng, trên bước đường Vũ Trụ với con người.”

Lúc bấy giờ chúng tôi yên lặng chăm chỉ nghe, bất chợt Thiền Sư hỏi: “Các ông nhận thức như thế nào?" Chúng tôi đồng đáp:

Theo nơi nhận định của chúng tôi, thì mỗi con người có đến bá thiên vạn ức Tiểu Ngã, bá thiên vạn ức Tiểu Ngã ấy trải khắp Vũ Trụ, tùy thuận các Cõi, các Cảnh Giới Tiểu Ngã an trú không thiếu sót Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

Thiền Sư gật đầu khen phải, liền hỏi tiếp:

“Mỗi Tiểu Ngã có bao nhiêu Giả Tưởng?”

Chúng tôi đồng đáp:

“Mỗi Tiểu Ngã có bá thiên vạn ức Giả Tưởng.”

Thiền Sư nói:

“Về vấn đề TIỂU NGÃ nói ra thật khó nghe, khó hiểu cùng khó biết đặng, vì sao? Vì các ông đa số đang nằm nơi Giả Tưởng, nên nói đến Tiểu Ngã duy chỉ có bậc Thánh mới nhận được mà thôi, còn ngoài ra khó phân định đặng nó. Nhưng Tôi vì đời sau trong kiếp nầy nói lên lời chân thật may ra có bậc nhận được chính là một phương pháp môn cứu thế.”

Thiền Sư giải tiếp:

“Đối với các ông vốn sẵn NGHE, THẤY, BIẾT đó chính là Tự Thể nơi Tiểu Ngã, khi các ông dùng Nghe, Thấy, Biết quân minh, không có CÁ TÁNH thích hợp mới Nghe. Không vì NHÂN TÁNH (cá nhân) riêng tư mà Thấy, thời nơi Biết kia mới thật là Tự Thể Tiểu Ngã. Các ông cũng nên biết, TIỂU NGÃ nó có Tự Thể của nó nên nó mới sáng soi, còn về GIẢ TƯỞNG không có Tự Thể nên chi nó mãi chạy chẳng khác nào con Thỏ vậy.

Các bậc TU THIỀN TỌA căn bản là nhìn đặng các Giả Tưởng, bậc càng tu cao bao nhiêu thì mau nhìn thấy Giả Tưởng bấy nhiêu, có nhìn thấy như thế mới khỏi lầm lẫn mà Tỏ Tánh, có tỏ tánh mới biết được Tự Thể của TIỂU NGÃ, Tự Thể Tiểu Ngã chính là THỂ CHÂN hay CHÂN NHƯ cũng thế.”

Thiền Sư muốn gom lại nghĩa trên nên Thiền Sư nói:

"Các ông nên hiểu biết tường tận, lãnh hội đầy đủ ý chí sau nầy khỏi sai lạc như thế gọi là Tu Chủ Quán. Đối với LINH HỒN Tối Thượng hay NHƯ LAI hoặc CHÁNH GIÁC, kể cả Vũ Trụ đến Thế Nhân thảy đều có một khuôn khổ y nhau nó không sai khác, nhờ thế nên chi con người quá biết Thế Gian Giả Tưởng mà đặng trở thành SIÊU NHÂN hay bậc THÁNH NHÂN, đó chính lời nói chân thật."

Linh Hồn Chánh Giác, THỂ cùng CHẤT nơi Vũ Trụ, đối với con người VÔ THƯỢNG ĐẲNG ĐẲNG, đến bộ phận TIỂU NGÃ qua diễn hành nơi GIẢ TƯỞNG. Không khác nào: Một Lãnh Tụ trong một nước hay một chánh đảng trong một vùng hoặc một nhà Vua bĩnh trị trong một nước. Trên thời Lãnh Tụ tối cao được gọi là Linh Hồn Tối Thượng. Dưới thời các hàng Tỉnh, các hàng Quận, các hàng Xã, được gọi là TIỂU NGÃ, đến hàng dân giả bá thiên vạn ức gọi là GIẢ TƯỞNG. Từ nơi Giả Tưởng dân giả cung cấp xây đắp TIỂU NGÃ, do lẽ ấy nên chi từ nơi Tiểu Ngã là mức hiểu biết của dân giả có thể dùng lời nói hay văn tự diễn giải đặng, đồng thời dân giả nghe đặng bằng dùng lời nói Tối Thượng làm sao diễn giải đặng, làm gì nghe đặng, lời nói Tối Thượng duy chỉ có TIỂU NGÃ lãnh hội được phần nào, nhưng đem ra phổ truyền công bố thì Tiểu Ngã nói chưa ra lẽ, nơi ba từng lớp Tôi nói ra đây chính là một CHÌA KHÓA mở màn Vũ Trụ giao cảm với con người, các ông hãy nghe đồng thời nhận lãnh.

Giờ đây nói rõ đồng thời chỉ điểm để cho con người ít nhất phải biết được giá trị nơi mình có thể thi hành thực nghiệm được chính mình khám phá Vũ Trụ bằng Bản Năng Khả Năng của mình đoạt lấy Giải Thoát, theo đường hướng Đạo Phật đã vạch sẵn, Đạo Phật đã tự Bản Năng Khả Năng làm dụng cụ kết quả mục đích rất hữu hiệu, nên Đạo Phật chỉ thẳng cho con người biết, con người có đủ đồng chất thành Phật, Ngài nói: “TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH.” Câu nói trên quyết định trong sự hướng dẫn của Đạo Phật, các ông sẽ thành Phật, các ông phải theo sự hướng đạo của lời chỉ dẫn nơi Đạo Phật.

Nếu các ông chưa tin con đường nơi Đạo Phật, hoặc các ông quan niệm Đạo Phật là một Tôn Giáo nhỏ bé dưới lệ thuộc chưa thực hành đúng với tinh thần thì biết bao giờ các ông thành Phật? Bằng các ông tin Phật trên hình thức nào đó, hay chưa biết giá trị nơi các ông, chưa biết Thể Chất có Bản Chất đồng ứng đồng hợp với Vũ Trụ thì làm sao thành Phật?”

Thiền Sư vừa nói đến đây lặng thinh chốc lát nói tiếp:...

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

7. VŨ TRỤ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI

Vũ Trụ đối với con người cùng vạn vật, từ hình sắc, đến chưa hiện hình sắc thảy đều nhiếp thu sắp xếp nơi Hàm Chứa Kho Tạng. Vũ Trụ lại là Đại Khoa Học Siêu Đẳng, Đại Triết Lý Thượng Đẳng, tất cả những gì trong vũ trụ Tam Thiên Thế Giới Vũ Trụ thảy đều Thượng Đẳng tất cả.

Vũ Trụ trợ giúp cho con người cùng các sinh vật có cái Nghe, Thấy, Biết tinh nhuệ thần thoại Siêu Nhân, Siêu Thiên, Siêu Tiên - Thần mà chính con người cùng các nhân loại không hiểu chi cả ngỡ nơi ấy là của mình.

Thân mạng con người khi kết hiệp đầy đủ liền có cái NGHE, THẤY, BIẾT, nhờ Nghe, Thấy, Biết làm đường dây liên lạc giữa con người với vũ trụ, sự tương quan mật thiết, nơi khẽ động giao cảm trong con đường giây ấy không sai chạy, có những gì Vũ Trụ diễn tiến vũ trụ phát sinh, vũ trụ hóa giải thảy đều tương ứng nơi con người với Vũ Trụ.

Nhưng đối với con người hiếm bậc đã biết. Họ tự đem tư tưởng cái Nghe, Thấy, Biết nhịp nhàng với vũ trụ sai chạy khắc biệt, trở thành quan niệm Tư Hữu, đương nhiên nó phải bị riêng rẽ hai khối VŨ TRỤ với CON NGƯỜI.

Từ chỗ sai nầy đến chỗ lầm kia làm sao hiểu biết Chân Đế Vũ Trụ Con Người đồng nhất. Nên chi con người cứ theo tư tưởng sai biệt mà cho là tư tưởng nơi suy tưởng đúng, do đó mới nhìn Vũ Trụ làm đấng Thượng Đế ban lành hoặc ông Trời nhỏ phúc, trở nên quá nhiều màu sắc, quá lắm quan niệm theo ý thức mình đối với Vũ Trụ Nhân Sinh, đối với lý trí giữa con người với con người tranh đấu.

Đạo Phật cũng phải chịu chung nơi quan niệm của con người trong thế hệ nầy. Chớ con người nào có hiểu Đạo Phật đứng ngoài tất cả, lại nhìn chung tất cả mà đặng cái NGHE THẤY BIẾT chung cùng với Vũ Trụ CON NGƯỜI ĐỒNG NHẤT. Đạo Phật đã nói rất nhiều, nói rất rõ ràng cốt cho con người hiểu biết Vũ Trụ với Con Người. Nhưng càng nói nhiều bao nhiêu lại càng rắc rối bấy nhiêu, vì bị trong vòng Lý Đoán của con người sanh ra rối loạn. Chỉ vì con người chưa nhận định căn bản để mà nhận định, nếu con người có tỏ rõ nơi nhận định căn bản, liền biết nhận định đến Cơ Bản mà Tri Kiến Giải Thoát, đây là lời nói rất thiết thực chân thật đọc giả nên lưu ý.

Đạo Phật tìm phương thức để cho con người chính mắt họ đã trông thấy Vũ Trụ là một Kho Tạng hàm chứa từ HÌNH SẮC đến chưa có hình sắc thảy đều sắp xếp trong Kho Tạng, cốt con người hiểu biết tường tận đoạt đến NHƯ LAI TẠNG, nhờ trí tuệ thoát siêu mà hoàn toàn giải quyết vũ trụ.

Nên chi mới trao cho con người cố tạo cho đặng CẶP MẮT THIỀN SƯ, gọi là NHƯ LAI NHÃN TẠNG mới có thể nhìn nhận lời trên nói chân thật.

Khi con người Khởi Sinh tư tưởng, tư tưởng khởi sinh, tư tưởng bị diệt đó cũng gọi là chiếc máy nổ chưa có hướng định, tư tưởng tư duy gọi là tư tưởng cầu an. Nơi tư tưởng nó có muôn ngàn lối nơi nó, nó tùy theo Bản Năng Khả Năng một khi tư tưởng có định hướng thì nó mới hành sự, gọi là: TƯ TƯỞNG LÀ MẸ ĐẺ HÀNH ĐỘNG.

Con người muốn đặng Cặp Mắt Thiền Sư, ít nhất phải theo Pháp Môn THIỀN đưa tư tưởng có hướng định, đem con người vào một lối Nghe, Thấy, Biết có tiêu chuẩn, làm con người kia thành một chiếc máy Ra Đa thu nhận, vì con người trót đã lạc hướng Vũ Trụ cùng con người. Thiền Sư vừa nói đến đây, lại vừa hỏi cùng với giải đáp như sau:

“LÀM THẾ NÀO ĐƯA TƯ TƯỞNG CÓ HƯỚNG ĐỊNH?”

Muốn đưa tư tưởng có hướng định, trước tiên hãy ngồi xóa hết tư tưởng, cho thân tâm rỗng rang đương nhiên không khởi tư tưởng, nhưng trước mặt vẫn nhìn thấy. Nơi thấy ấy bất luận thấy chi cũng được, gọi là: Không tưởng mà tưởng, không thấy mà thấy, miễn sao cái thấy không khởi, miễn sao cái tưởng không khởi, vì có khởi tức nhiên cái khởi thuộc về VỌNG, không khởi đương nhiên có tư tưởng, đương nhiên có nhìn thấy thì mới bước vào nơi thật thể thừa hành vũ trụ để mà thấy, để mà tự biết, đặng mà đặng nghe.

Các ông cũng nên nhận định rằng: Nơi trực thấy, nơi tự biết, nơi đặng mà đặng nghe không có nơi ràng buộc vọng khởi, vì sao? Vì tư tưởng khởi sanh liền đó tiếp diễn khởi diệt, hai nơi sanh diệt thảy đều có nguồn vọng khởi, thảy đều sai lầm tư tưởng. Nếu trường hợp các ông gặp phải diễn cảnh nào hoặc giả đứng trước một người nào chẳng hạn mà các ông dùng khởi sanh để quán xuyến thời các ông bị sai thấy, vì nơi thấy trong lý đoán khởi sanh vọng tưởng, trở thành bị sanh liền có Đối Tượng, bị sanh nghi ngờ, bị sanh đố kỵ, bị sanh vướng vào Cá Tánh Cá Nhơn. Do lẽ ấy nên chi những bậc Quang Minh Chính Đại nhìn bằng đôi mắt quân minh vô tư quán sát, cốt tránh khởi sanh đối tượng nghi ngờ.

Khi các ông thực hành hoặc Tu Thiền Tọa xóa tư tưởng đến nơi, không tưởng mà tưởng, đoạt đến mức đương nhiên không ràng buộc THƯỜNG TƯỞNG đến ĐỊNH TƯỞNG, định tưởng nầy gọi là BỒ TÁT ĐỊNH. Còn hàng Tiên, Thần đến các bậc tu tiên dùng ĐỊNH TƯỞNG KHỞI ĐỊNH, huân tập Định mà thành. Hai lối Định đồng một văn tự, nó khác với hành sự tu hành.

Đối với con người đa số đã sẵn có lối Bất Chợt Thấy, đương nhiên Biết, chớ chẳng riêng gì bậc tu Thiền mới có, bậc tu thiền cùng với con người chưa tu có khác hơn là nhẹ thấy, nhẹ biết, cùng với nặng thấy chậm biết đó thôi. Khi con người lối Thấy bất chợt, trực biết tự nhiên cho đó là LINH TÁNH hay TÁNH LINH cũng thế. Chớ nào ngờ: PHIM ẢNH vũ trụ đã thu nhiếp sắp xếp hàng trăm năm hoặc hơn thế nữa, nay mình chợt thấy. Ngày nay Khoa Học đã tìm ra được loại Phim Ảnh nầy, nhờ như vậy nên mới sáng tạo vệ tinh chụp hình lúc cần đến đỡ tốn hơn là thu ảnh vũ trụ đã chụp.

Nói đến sự lần tiến nơi con người, sự khôn khéo kỹ thuật thẩm mỹ con người phát sanh, có lắm bậc lưu ý từ một khởi điểm có triển vọng phát sanh, liền khai thác khởi điểm nương theo thực hành đoạt đến đích phát triển một món vật dụng. Kể từ cái Thấy trước cảnh đẹp họ sáng tạo đặng chiếc máy ảnh, sau phát triển đến Phim Ảnh làm cho cảnh vật linh động,đến sau thu tiếng nói nhịp nhàng nơi phim ảnh, đến những cuộn băng thu thanh tiếng hát lời ca Sự phát triển kỹ thuật khéo léo thẩm mỹ nơi con người không kể hết đặng.

Nếu bậc có ý trí nhìn vào món hàng Nhân Tạo nó có cái cao đẹp khác nhau, nó có trình độ tiến hóa mỗi nước, mỗi người sáng tạo hoặc phát triển. Khi nhìn đến Thiên Nhiên sáng tạo, thiên nhiên cấu kết từng hạt cát đến viên sõi qua các dãy núi đều có thẩm mỹ, đều có kỹ thuật, đều có linh động mỗi nơi khéo léo không thể nào nói đặng.

Con người sáng tạo phát triển, Vũ Trụ cung cấp nguyên liệu, vũ trụ hỗ trợ cho con người, con người đặng khôn ngoan lần tiến nhờ vũ trụ khai thông nguyên liệu, nhờ khởi điểm phát sanh, nó cứ thế tiến mãi đến chừng con người tiến về sản xuất, về năng lượng phát triển tận cùng của con người liền bị diệt vong xóa mờ tất cả. Do tại sao bị diệt vong? Do năng lượng có chừng, số lượng kết hợp hóa sanh phát triển có mức, con người vì cạnh tranh cứ mãi tiến, cứ mãi đi đi đến mức cùng bị vong diệt.

Đứng chung trong Vũ Trụ có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, các cõi Tiên, Thần, Rồng, Người từng lớp lớp. Đứng chung Hoàn Cầu có các nước Anh, Pháp, Nga, Mỹ, Trung Quốc, Việt Nam cùng các nước khác. Đứng vào một nước có từng giai cấp, từng trình độ, từng lớp khôn dại, giàu nghèo, đó là một sự thường của Vũ Trụ.

Nhược bằng trong Vũ Trụ có Phật Quốc không chưa phải là vũ trụ mà là Phật Quốc. Nếu đứng trong Hoàn Cầu có một nước nào đó không, ngoài ra không có các nước thời gọi là Nước Đó chớ chưa phải hoàn cầu. Bằng một nước kia có một lớp người, một giai cấp không từng lớp khác thì nó như thế, nó cũng gọi là lớp con người chớ chưa phải một nước, đó là sự thường kết nạp nó như vậy.

Nói đến Vũ Trụ với con người, con người chưa bao giờ biết đặng vũ trụ có hàng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Mỗi Thế Giới Tiên, Thần mức sống tầm sống vật dụng tinh xão tốt đẹp gấp ngàn lần thế giới con người. Sự linh động thông thái mỗi lớp cao kiến, mỗi tuần trời, mỗi Cõi, mỗi Cảnh Giới đều có Chế Độ sự nghiệp khác nhau, vì hiểu biết bất đồng nên nó có như thế. Thế Giới con người cùng các Thế Giới chư Thiên, chư Tiên khó biết nhau, khó hiểu nhau, khó gặp nhau, không khác nào mỗi Thế Giới là một giống vi trùng trong Thân Thể, trong thân thể có bao nhiêu giống vi trùng không bao giờ nó biết nhau, không bao giờ nó chung nhau một cái sống, đối với Thế Giới con người cùng các Thế Giới cũng thế.

Đứng về Vũ Trụ sanh mà nói, cũng được gọi là Thiên Nhiên Sanh, thì chỉ có hóa sanh kết tạo mà thành. Sự kết tạo thiên nhiên chung gồm đủ chất trong Vũ Trụ hóa sanh một giống. Cho nên một giống cây kia, cây ấy đã có Cái Biết, nếu nó không biết làm sao nó lại hút màu mỡ để nuôi cây thành trái? Khi cây đó héo khô đến mục nát tự sanh con Mọt, chính con Mọt là cái biết thoát ra khỏi cây. Thật ra tất cả hiện vật trong vũ trụ thảy đều nơi vũ trụ hóa sanh, nên chi chất nào con người kết hợp đều có sẵn Chất Hóa chớ con người làm sao sáng tạo chất hóa? Con người chỉ lấy hiện vật có sẵn kết nạp với nhau gọi là Biến Chất. Dù cho con người có tiến bộ đến đâu, khám phá vũ trụ, dạo khắp hành tinh, không ngoài thu nhặt hiện vật nơi hành tinh đem về thực nghiệm, nào biết được PHI VẬT là chất chưa hóa sanh ra hiện vật. Chỉ trừ ra, con người dùng Trí Tuệ khám phá thân mạng, lúc khám phá xong chừng ấy mới tỏ rõ Vũ Trụ.

Khi con người đã có Thân, thì thân ấy bị vũ trụ hóa sanh, bị toàn chất trong vũ trụ kết hợp thành thân, liền phải bị sống trong thế hệ của con người cho nên con người tài giỏi, tiến bộ đến đâu chăng cũng có quyền Biến Chất hay Hóa Chất chớ không thể sáng tạo Hóa Sanh.

Cũng như con người đã bị sắp xếp vào giai cấp thì con người đó có thể vượt qua đủ trở ngại tiến lần lên từng giai cấp gọi là BIẾN CHẤT hoặc Hóa Chất chớ không thể HÓA SANH thân khác được. Dù cho con người đó vươn mình hiểu biết Siêu Đẳng thành Phật chăng thân thể vẫn y nguyên chờ Viên Mãn nhập Bát Đại Niết Bàn mới Hóa Sanh Bát Đại.

Bản Thân thuộc về bản chất con người có thể biến chất không thể Hóa Sanh. Duy có Trí Tuệ mới có quyền HÓA SANH. Thiền Sư nói đến đây ngưng giây lát nói tiếp:

“Các ông cũng nên biết, tại sao Trí Tuệ có đủ quyền hóa sanh còn Thân Mạng không thể hóa sanh?

Trí Tuệ thuộc về NHƯ LAI TÁNH, còn thân mạng thuộc về Phật Tướng. Phật Tướng có quyền nâng các ông từ phàm phu đến Phật Tướng gọi là Biến Thể chớ chẳng phải là Hóa Sanh. Còn Như Lai Tánh nâng các ông rốt ráo viên tịch hóa sanh Niết Bàn.

Nếu các ông dùng Trí, trong giờ phút nào đó, các ông chủ quán mình là Lãnh Tụ Hoàn Cầu, bá vạn binh sĩ, hai hàng quan quân, không ai đến bắt các ông cả. Nhược bằng dùng lời nói đến thân thể các ông liền bị điên rồ, cuồng vọng lại còn hại đến mạng thân.

Các ông nên lưu ý, Trí Tuệ sáng soi tư tưởng kiểm điểm hành sự đã qua cùng sắp đến, tư tưởng sanh diệt chung khắp mọi người và chính mình vẫn đang chạy theo tư tưởng sanh diệt ấy. Tại sao mình vẫn theo tư tưởng khởi sanh diệt mà mình nhìn thấy con người một bên mình có tư tưởng, mình biết đặng tư tưởng nơi họ? Tại vì chính mình đang theo một GIẢ TƯỞNG khác với Giả Tưởng bên kia thành ra nhìn thấy. Nếu đồng một Giả Tưởng thì không thấy. Nếu như chính mình đang ưa thích thân cận với một người nào đó, mình nhìn thấy họ với mình đồng phải, đôi lúc mình nhìn họ có chỗ trái với mình, thì các ông cũng nên soi lại! Họ vốn nhìn nơi mình cũng đồng như mình nhìn họ. Đó gọi là đồng một TIỂU NGÃ sai lệch khi Giả Tưởng khác nhau nên mới thấy như thế.

Trên đã nói mỗi một con người có BÁ THIÊN VẠN ỨC TIỂU NGÃ GIẢ TƯỞNG, con người thường bị tư tưởng Giả Tưởng sanh diệt, từ nơi TIỂU NGÃ nầy đến Giả Tưởng nọ không ngừng, nên dụng Trí Tuệ soi từng TIỂU NGÃ của một kẻ cố thủ cho quan điểm nơi mình là đúng, đến kẻ kia lại có một TIỂU NGÃ khác hơn vẫn cho mình là phải. Kẻ kia nhìn kẻ nọ phê chỉ khen chê. Các ông thử nghĩ mỗi người đều mang vào mình bá thiên vạn ức Tiểu Ngã, hết tiểu nầy đến tiểu khác mà gay cấn nhau mãi, khi hiệp lúc tan từ tư tưởng đến cử chỉ nó cứ mãi phân trách, nó cứ mãi dị biệt quanh quần tìm chẳng ra lối thoát.

Khi con người có Trí Tuệ lần qua các Tiểu Ngã, lần rõ biết đặng Giả Tưởng là bề vỏ của Tiểu Ngã. Từ nơi hiểu biết nhỏ hẹp, đến lúc tỏ rõ lớn lao không còn dùng trí tuệ nữa mà chỉ duy nhất nhiếp thu cho rõ ràng bá thiên vạn ức Tiểu Ngã với Giả Tưởng, liền được gọi là ĐẠI TRÍ, cũng đặng gọi là Bồ Tát Trí vậy.

BỒ TÁT TRÍ phải thi hành cốt tỏ rõ những Giả Tưởng của mọi người, tứng lớp lớp người sống theo Giả Tưởng nó như thế nào, tự nó mơ ước ảo huyền đòi hỏi ra sao? Nếu nó hành sự thì tác tệ như thế nào? Bằng nó phát ngôn ý trí Giả Tưởng nơi nó, nhiều người hưởng ứng nó vui mừng ra sao? Bằng họ không hưởng ứng nó tự sanh hờn giận ghét vơ hoặc bắt bớ đánh đập như thế nào? Gây ra Nghiệp Quả, Căn Quả ra sao? Tất cả Giả Tưởng Bồ Tát lìa BẢN NGÃ, TIỂU NGÃ mà quán sát, mọi người cùng với chính thân mạng mình, đặng thâm nhập thật biết sau khỏi lầm nơi Giả Tưởng Sở Đắc Pháp Giới Hành Thâm.

Khi Bồ Tát sở đắc Pháp Giới tỉ mỉ, mới thật biết Giả Tưởng chính là khởi sanh, khởi diệt tư tưởng, tư tưởng sanh diệt thảy đều là Giả Tưởng, Giả Tưởng cố thủ đưa về TIỂU NGÃ GIẢ TƯỞNG. Sau đó Bồ Tát mới Hành Thâm BÁT NHÃ, cốt rốt ráo TIỂU NGÃ thật biết tỏ rõ Tiểu Ngã mà Sở Đắc BÁT ĐẠI, đến tròn Bổn Nguyện viên mãn mà tường tận NIẾT BÀN, được gọi chung là BÁT ĐẠI NIẾT BÀN.

Các ông cũng nên biết rằng: Trong vũ trụ nầy một vị Chánh Giác rốt ráo bá thiên vạn ức Tiểu Ngã mà thọ chứng Bát Đại Niết Bàn rất hiếm. Duy chỉ có một vị chớ chưa bao giờ có đến hai vị, đừng nói rằng đến năm, mười vị hoặc giả có hàng trăm vị, vì sao?

Vì ĐẠI NGÃ là một Linh Hồn Tối Thượng Chánh Giác, ngoài Đại Ngã có bá thiên vạn ức TIỂU NGÃ. Mỗi một Tiểu Ngã như thế thành tựu lấy một CÕI hay một THẾ GIỚI hoặc một CẢNH GIỚI. Cũng như: Ma Quỷ, Quái Tặc, Tinh Yêu, Rồng Người, Thiên Nhân, A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục, cho đến Tiên Thần, Thánh Phật, mỗi mỗi Tiểu Ngã đều Cảnh Giới, đều là thế giới kể không thể nào hết đặng, vì bá thiên vạn ức tiểu ngã có bá thiên vạn ức cõi và cảnh giới. Nhược bằng các ông mỗi ông cố thủ lấy một Tiểu Ngã thì nơi Tiểu Ngã của ông nó có bá thiên vạn ức Giả Tưởng, Giả Tưởng đó nó chu tất cho Tiểu Ngã, nó gìn giữ cho Tiểu Ngã khỏi thoát ra ngoài lập thành một nếp sống về lý tưởng của nó mà thành đạt riêng của nó. Nếu có người hướng về Tiên Đạo, tánh tình họ đã có sẵn nhiều ít về Tiên, đến ưa thích tu Tiên, sau khi Tư Tưởng Giả Tưởng đưa họ đến Tiểu Ngã, họ chấp Tiên Đạo là cao cống, là thiết thực hơn cả khó làm cho họ nhận định được Phật Đạo.

Bằng có kẻ tôn trọng kính cẩn về THẦN LINH Tư Tưởng huân tập thành tựu Giả Tưởng, Giả Tưởng nung đúc Thần Đạo huân tập, họ nhìn nhận Thần Đạo Linh Thiêng cứu độ hiện hữu là cao cống đứng nhất chưa có đạo nào hơn đặng mà thủ chấp.

Nếu có người khởi lòng Thần Quyền Thánh Mẫu tôn thờ Mẫu, cầu vái giáng bút cơ hoặc trai đàn ứng khẩu, sau khi huân tập giả tưởng, phát sanh tư tưởng quá tin, thời nhìn thấy không nơi nào hơn Thánh Mẫu mà thọ chấp.

Bằng có kẻ tin Cô, Bà, Thần Cấm, Thần Két hoặc Ma Quỷ, tùy thuận đồng hợp Tiểu Ngã ưa thích liền có tư tưởng tôn sùng, Giả Tưởng tùng theo một nếp sống lý tưởng nơi họ, đồng chấp nhận hơn tất cả, ngoài ra chưa có gì hơn mà thọ ngã.

Nếu có người chưa vào Đạo nào, chưa tin ai cả vẫn sống lập dị Tiểu Ngã, ngỡ rằng như thế là hơn cả Tư Tưởng Giả Tưởng thảy đều làm như thật để cho người kia yên trí chính mình cao hơn ai cả mà thọ chấp.

Bằng có kẻ không tin Trời Đất, quỷ thần, không tin ma quái, có làm mới có ăn, chưa làm thì phải đói, liền có Tiểu Ngã in tuồng như thật, tư tưởng Giả Tưởng vẫn phục vụ cao cống, vẫn phục vụ như thật mà cố thủ.

Nếu có người cho ta đã thành Phật, thành Thánh hay ta đạo đức chưa ai bằng, mỗi một nhận định in tuồng như thật, từ cử chỉ đến trạng thái in như Phật, Thánh, đạo đức, thuyết giải toàn đạo đức hành sự như Thánh, Phật gieo rắc toàn Thần Thánh Hóa đem đến cho con người toàn diện mơ màng Phật Thánh, chớ hiếm bậc hóa giải rành mạch đem đến sự ích lợi Kiến Tri.

Những bậc nầy đa số mơ màng, miệng nói mà tâm chưa biết, thuyết giả nhưng chưa biết soi giả để hoàn chân, thuyết giả nương theo giả ngỡ thật đâm ra cạnh tranh phỉ báng, họ lại lìa Tiểu Ngã mà Thọ Chấp Giả Tưởng, họ theo Giả Tưởng nên ngỡ mình thành Phật, thành Thánh, thành Chân Tu Đạo Đức. Những bậc nầy dù cho họ có thành Phật, thành Thánh chăng cũng vẫn Phật, Thánh Bản Ngã Giả Tưởng thế thôi.

Lúc bấy giờ số người đứng lên thưa hỏi: “Kính thưa Thiền Sư, như thế thì Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Rồng Người, Càng Cát, Đà La Ni, Lục Đạo, Tam Giới hết thảy, cùng hết thảy đều lầm nơi GIẢ TƯỞNG, lầm nơi TIỂU NGÃ mà trở thành hết sao?”

Thiền Sư đáp: “Đúng như vậy, đúng như vậy. Vì lầm nơi Giả Tưởng thành tựu nên mới sanh diệt, diệt sanh trong Vũ Trụ, nên chi Đạo Phật, đức Phật thường căn dặn: “CÒN MỘT HOA ĐỐM LÀ CÒN MÊ LẦM, CÒN MỘT KIẾN CHẤP CÒN SANH TỬ.”

Thiền Sư nói đến đây, nhìn ra biển khơi sóng biển nhịp nhàng từng cơn sóng. Chúng tôi hồi tưởng lại lời nói Thiền Sư. Núi trời xinh đẹp, sóng nước thảnh thơi, chúng tôi mới nhìn lại cuộc đời đang sống trong cơn ảo tượng. Bỗng nhiên Thiền Sư nói: “Nầy các ông, nếu các ông biết so sánh Vũ Trụ với con người nó không riêng, không khác, vì sao? Vì Vũ Trụ có THỂ CHẤT nơi Vũ Trụ, còn các ông nó lại có TIỂU NGÃ, GIẢ TƯỞNG. Từ nơi một Thể, chung gồm có bá thiên vạn ức chất hợp thành hóa sanh một đơn vị, đơn vị ấy chẳng khác nào như Gió chẳng hạn, như Nước, như Đất, như Lửa đủ các Thể Chất hóa sanh Sơn Hà Đại Địa, Hóa Sanh các nơi trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cùng cõi Rồng Người đến sinh vật Tứ Loài chẳng thiếu sót. THỂ CHẤT rất linh động tinh vi tế nhị thanh thô đầy đủ, khó diễn giải cho hết đặng, nên ĐẠO PHẬT gọi Thể Chất đó là: NHƯ LAI TẠNG.”

Thiền Sư nói đến đây, nhìn chúng tôi thấy vẻ mặt của chúng tôi vui vẻ đón nhận Ngài bèn nói tiếp:....

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

6. VŨ TRỤ LÀ MỘT KHO TẠNG HÀM CHỨA

Vũ Trụ chính là một kho tạng hàm chứa vô giá, không bao giờ Dư Thiếu, mất mát nơi đâu cả. Vũ Trụ còn tinh nhuệ gìn giữ cất giấu hình ảnh từ ngàn ngàn xưa nay vẫn y nguyên như cũ. Vũ Trụ còn sắp xếp hằng vô vô tỷ Cái Biết khắp nơi trong vũ trụ về với Trọn Biết của Vũ Trụ, Vũ Trụ còn sắp xếp tỷ tỷ chất phẩm, mỗi chất phẩm như thế có hàng tỷ tỷ thứ bậc, không bao giờ lầm lẫn sai biệt tí nào. Từ một giai cấp của con người nơi giai cấp đó có vạn vạn trình độ ý muốn tư tưởng khác nhau, đối với Vũ Trụ đã sắp sẵn, không lẫn lộn rất linh động tế nhị vô cùng.

Tất cả những vật dụng, từ cõi Trời đến cõi người chung khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, khi nó bị hư hao tiêu mất, dưới mắt con người, dưới mắt các cõi cho đó là mất. Chớ đối với Thiền Sư nó vẫn còn, vì sao? Vì nó vào Kho Tạng của Vũ Trụ, đứng yên hay để yên, đến lúc có khởi sanh nó liền ứng chất thành ra hình sắc vật dụng như cũ. Cũng như có kẻ hút thuốc lá, điếu thuốc cháy, liền có chất thuốc trong khói thuốc, khói thuốc bốc lên hư không, nó tìm cây thuốc nhập vào gọi là Lá Thuốc, các phẩm vật như Trầm Hương các chất đốt thảy đều như thế, từ có Hình Tướng bị hoại tan rã vẫn trở về hư không Vũ Trụ không thiếu sót dưới mắt con người không thấy được cho đó là VÔ TƯỚNG, thật ra nó chưa phải HỮU hay VÔ chi cả. Nói chung lại từ vật dụng của con người cho đến Ngôn Hạnh cử chỉ và tư cách trình độ qua giai cấp, trong quả địa cầu nầy, đối với con người đã từng sống, đã từng thấy, đã từng nghe, cũng đã từng biết. Khi con người nhìn thấy nó tan rã, đương nhiên tự nó, nó trở về hư không Vũ Trụ vào nơi sắp xếp sẵn của nó, gọi là Hàm Chứa, chớ không mất đâu cả. Ví như: Khi con người nói ra, lúc dứt lời nói, con người ngỡ rằng lời nói kia mất, chớ thật ra lời nói còn mãi mãi, nó chạy vòng trong vũ trụ từng đoàn, quay cuồng trong hư không, bất diệt, chẳng khác nào như cuộn BĂNG thu thanh, khi cuộn băng thu xong, con người không thể nào nhìn thấy cuộn băng biết được nói những gì, phải cần lấy chiếc máy Phát Thanh thì chừng ấy mới nhận nghe đặng. Đối với con người, khi làm lúc nói, khi dùng lúc an nghỉ mỗi mỗi đều sắp xếp hư không Vũ Trụ, đến lúc hợp tình, hợp cảnh nó liền ứng hiện không sai tí nào cả.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

5. DƯỚI MẮT THIỀN SƯ ĐỐI VỚI VŨ TRỤ

Khi Thái Tử Tất Đạt Đa, Ngài đứng ngoài tất cả các Tôn Giáo, Triều Đại và con người, Ngài nhìn tất cả quán sát quân minh trực giác Vũ Trụ với con người Sở Đắc THIỀN TRÍ. Ngài mới nói: Lạ thật! Lạ thật! Chưa phải ta vứt bỏ vật chất nhịn đói tạo lấy tinh thần mà đặng. Cũng chẳng phải xa lìa tinh thần sung mãn vật chất mà đủ. Vật Chất với Tinh Thần phải quân minh, nơi nhìn không nặng nhẹ thời chốn thấy mới Lai Hoàn. Cái nhìn nó như vậy, cái thấy thực thể hoàn lai. Chính đó là: NHƯ LAI NHÃN TẠNG. Ngài đoạt đặng Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, Ngài rời cây Bồ Đề, thành lập pháp môn NHƯ LAI NHÃN TẠNG, gọi là Như Lai Thiền trong Đạo Tràng Phật Đạo.

Môn Thiền là một môn Đạo Phật dùng để hóa giải tư tưởng, hóa giải ý thức hệ đến Tạng Thức làm cho con người đặng hiểu biết nhìn nhận Vũ Trụ với con người rất tương quan vô kể, nhìn đặng tất cả những gì vũ trụ linh động di chuyển con người là dụng cụ, là bộ máy cho vũ trụ điều khiển.

Lấy chứng từ nào để hiểu biết đặng sự hóa giải tư tưởng, hóa giải Ý Thức đến Tạng Thức.

Khi con người biết đặng chữ A, chữ A đứng yên nó là chữ A. Nếu biết chữ B, nó đứng yên vẫn chữ B. Bằng lìa đứng yên nơi nó, đem chữ A ráp cùng chữ B liền hóa thể thành chữ BA, tư tưởng cùng ý thức đứng yên không tiến bộ lại làm cho con người sống theo ý thức tư tưởng cố định quan niệm nơi mình, nên chi THIỀN MÔN Đạo Phật là dụng cụ phương pháp hóa giải ý thức, hóa giải tư tưởng nếu con người biết nhận định rộng rãi, có kiến thức nghiên cứu liền dùng môn Thiền để từ nơi tư tưởng ý thức đến TẠNG THỨC tỏ rõ VŨ TRỤ QUAN, được gọi là Như Lai Tạng cũng thế.

Do nơi quan niệm khắc biệt của con người, bởi con người sống trong ý thức hệ mà phân chia ra từng danh từ theo danh từ quan điểm nên chướng đối với nhau từ vật chất đến tinh thần bàn cãi trở thành Duy Vật và Duy Tâm, từ khối ĐÔNG PHƯƠNG, TÂY PHƯƠNG có hai đích sưu tầm khác biệt, nhà Triết Học Tây Phương với Triết Học Đông Phương chưa đặng thấu nhau giao cảm nhau, vì sao? Vì Đông Phương tự sưu tầm riêng mỗi vị đoạt đến ẤN CHỨNG SỞ ĐẮC tuyên bố truyền trao, nên phải dụng nơi Tin về tinh thần tu chứng. Còn Tây Phương lấy chứng từ thực nghiệm chung nhau một khối, lớp nầy sưu tầm thực nghiệm đặng, nếu chưa hoàn tất thời lớp sau tiếp tục thực nghiệm, nên Tây Phương nhìn có sự kết quả con người nhìn thấy, nhưng về sau thường bị hủy diệt. Còn Đông Phương thời tồn tại nhưng khó phát sanh, vì sao? Vì con người rất hiếm bậc sống động hướng thượng để thi hành, trong đời chẳng biết bao nhiêu tài liệu ghi chép hữu ích cho con người, chẳng biết bao nhiêu sự bày tỏ chỉ dạy cho con người vào hàng Siêu Nhân, Thánh Triết. Nhưng con người nào có nghe, họ chỉ nghe những lời không hữu ích, họ tôn thờ những cái vu vơ, những điều vô căn cứ, họ xem những lối ấy là bảo vật, vì vậy nên chi bậc Thánh nói cho con người nghe được thật là công năng quá kể.

Đạo Phật đứng trong Hoàn Cầu con người đa số đã biết, nhưng rất hiếm bậc biết đặng Đạo Phật đứng ra ngoài tất cả để kết quả tất cả, Đạo Phật đã từng thực hành trước mọi hoàn cảnh của con người, mức sống bằng tư tưởng tinh thần hay lao động tận lực vật chất lối sống khắc khe làm nên sự nghiệp hay lối sống giúp mọi người mà giàu có. Đạo Phật hướng dẫn cho con người vào từng lớp để tỏ biết gọi là HÀNH THÂM PHÁP GIỚI. Lời nói trên duy chỉ có: Dưới mắt Thiền Sư mới nhận định đồng thời nhìn thấy đặng chân thật mà thôi ngoài ra còn Cá Tánh khó mà thấy đặng.

Đạo Phật thật biết rõ, con người nơi bản thân mình như: CHÍNH MÌNH TIN ĐẶNG MÌNH THẬT KHÓ, nên đạo Phật dạy con người có một chữ TIN. Còn tất cả bắt buộc con người phải Tin hoặc ảo thuật cho con người Tin đó là những điểm dưới mắt Thiền Sư biết.

Theo câu nói trên: Chính mình tin đặng mình thật khó, vì sao? Vì con người phát sinh cuồng tưởng đảo điên, cuồng tưởng nơi con người ai ai cũng đều có, từ người nầy phát sinh đến kẻ kia phát sinh, do đó mà đứng trên hoàn cầu xã hội con người đối với con người, sự xáo động nhiều hơn yên tỉnh, cuộc loạn lạc nhiều hơn thanh bình. Nếu dùng Thần Thánh Hóa, thì con người nó sợ hơn là nó thi hành đến đích. Thần Thánh Hóa đối với đạo Phật chưa phải là mục đích của đạo Phật đích nơi đạo Phật hóa giải mê tín đem con người đến chánh tín. Nên chi Đạo Phật dạy con người có một chữ TIN liền đến đích thành Phật.

Tất cả con người thời nầy gọi là MẠT PHÁP, nhưng đối với đạo Phật khai sáng tự bản thân con người mà ra, khai sáng từ nơi lầm lẫn đến chỗ tỏ giác thì làm gì có câu chuyện Mạt Pháp. Duy chỉ con người đứng theo tư tưởng quan niệm mình để thực hành đường lối đạo Phật bị sai lạc nên mới có tình trạng ngày nay lạc hướng tu sai, tu theo quan niệm mình, lấy lý trí nơi mình định đạt chiều hướng đạo Phật, cho đạo Phật là DUY TÂM, nếu đạo Phật là duy tâm sao Phật bảo lìa tâm mới giác, bằng đạo Phật đảm phá duy vật tại sao đạo Phật không cho Tín Chúng ngồi yên, bảo tín chúng nên thi hành HẠNH NGUYỆN, Phật nói: “LÝ SỰ TƯƠNG SONG, CHÂN NGUYÊN TRỰC GIÁC” như thế có phải đạo Phật chung gồm tất cả cốt tận giác tất cả chăng?

Nói đến tư tưởng quan niệm sai của con người đối với đạo Phật thì vô kể, nói đến bản năng ưa chuộng ngồi yên của con người thì đa số, có như thế nên mới có những bậc tự cải tạo mình, tự nung đúc bản năng khả năng nơi mình trở thành Công Năng vượt qua tất cả mọi trở lực trên hết con người mà trưởng thành SIÊU NHÂN, có bậc vượt trên hết con người giúp đỡ cho con người mới đặng THÁNH HIỀN, nếu con người ai ai cũng đều biết giá trị nơi vươn mình vượt lên tất cả trở thành cao quí giá trị Thánh Nhân thì tất cả đều thành Thánh còn đâu con người để mà nói.

Dưới mắt Thiền Sư đã thật Thấy Biết đối với con người thảy đều không Chủ Định, nếu bậc đã có chủ định thời bậc nầy đã có nhã ý quán sát Vũ Trụ với con người. Dưới mắt Thiền Sư đã thấy biết, nếu kẻ hay bảo thủ bản thân, bảo thủ phe phái không làm ích lợi cho con người thì con người kia tự mình hủy diệt lấy nó, còn bị Vũ Trụ sai khiến lắm điều mà ngỡ mình làm chủ.

Dưới mắt Thiền Sư đã thấy THÂN CON NGƯỜI là một BỘ MÁY RỖNG không, chỉ có nhìn trên ngó dưới NGHE THẤY BIẾT tiếp nhận mà phát thanh ra để mọi người nghe, ngỡ là của mình. Nên Thiền Sư nói:

“Nó VÔ NGÃ nó nào nó chịu nó Vô Ngã (không Ta) vì nếu nó vô ngã thì lấy đâu nó sống? Nó có ngờ đâu nó là dụng cụ của Vũ Trụ, nó tin lời nói của Thiền Sư, nó gạt lối bảo thủ, lối hiểu biết riêng nơi nó từ bấy lâu nay, đặng lần tiến thâu nhận những gì nó chưa biết đặng biết, những gì khó nghe nó cố gắng nghe, để sự hiểu biết ấy thông đạt, nó liền đoạt đến Vũ Trụ làm cái biết nơi nó. Chừng đó nó mới nhận định được cái hiểu biết kia chính là hiểu biết vũ trụ lần đưa đến con người hiểu biết chớ không phải hiểu biết nơi con người hiểu biết. Nếu con người tự xưng chính mình hiểu biết thời chưa biết chi cả.

Dưới mắt Thiền Sư đã biết đặng, cái TA chính nó chung cùng trùm khắp Vũ Trụ. Thân con người bị giả hợp tạo thành, làm nên Ứng Thân cho Vũ Trụ. Con người lầm ngỡ thân con người là cái ta chính gốc, nên mới có giữa đôi bên chẳng hòa hợp mức sống Diệt Sanh. Thiền Sư biết như thế khó chỉ thẳng cho con người nên nói: NẾU TA CHO VŨ TRỤ LÀ KHÁCH QUAN, THÌ VŨ TRỤ CHO TA LÀ QUAN KHÁCH. Bằng Ta biết Vũ Trụ, Vũ Trụ đồng cái biết với Ta. Đạo Phật nói: TÂM PHÁP BẤT NHỊ, gọi là cái biết nơi ta, trong ngoài đồng nhất, con người giao cảm với thiên nhiên vũ trụ thông thường tại con người chưa biết. Khi có bậc chỉ hiểu biết nơi tư tưởng ưa thích thoát sanh khỏi trái đất, đặng lên Cảnh Giới Tiên Thần hay Cõi Trời. Sau có sự kết quả theo chí nguyện, mới để tài liệu các Tôn Giáo, Đạo Giáo đã nói trên đó chính sự thật hiển nhiên chớ chẳng phải thần thoại chi cả vì đối với Đông Phương sự Tu Chứng riêng nơi mỗi vị, làm kết quả tùy công năng mỗi người thành thử có những điều con người khó tìm thấy đặng.

Cái THẤY BIẾT, dưới mắt Thiền Sư không khác nào con người đang mang kính Hiển Vi, thấy những loài sâu bọ nhỏ nhất, thân thể sâu bọ ghê tởm nhất mà con người không thể nào nhìn thấy đặng, Cái Thấy nơi Thiền Sư nó rất tế nhị mà sát thật, thấy trong không khí có thực chất Đất, Nước, Lửa, đồng thời có đủ Phẩm Chất các màu sắc như: Xanh, Đỏ, Tím, Vàng cùng hàng ngàn màu sắc thực chất, phẩm chất đang quay cuồng với nhau, kết nạp lẫn nhau tùy nơi đồng hợp của nó, liền đồng hóa đủ với các loài cây cỏ, hoa trái chúng liền đến kết nạp chung với cây trái, hoa lá mà trở thành màu sắc con người đã nhìn thấy trong cảnh vật này vậy. Khi con người muốn lấy các màu sắc ấy không lấy đâu mà có chỉ lấy lại trong cây mà ra, đến nay khoa học đã thực hiện đặng.

Nơi THẤY BIẾT, dưới mắt Thiền Sư, thấy biết đặng TƯ TƯỞNG, có hàng một tư tưởng cho đến năm, mười tư tưởng trong ngày, tư tưởng phát sinh dài ngắn tùy theo tưởng, tùy theo mức độ của con người, tùy theo sở thích hoặc chưa sở thích nó phát sinh. Nhưng mỗi tư tưởng đều có một mục tiêu hướng dẫn tư tưởng đó, còn phần phụ thuộc tánh chất của tư tưởng có hàng vạn chất phối hợp trong tư tưởng. Khi con người kết nạp tư tưởng để phối hợp tư tưởng gọi là: ĐỊNH TƯỞNG, nơi định tưởng nó tùy theo sự mong mỏi, tùy theo sự khám phá những gì mà con người chưa hiểu biết đang vướng mắc nơi thân tâm, cốt đem lại nơi giải đáp thoải mái con người. Con người thường dùng tư tưởng nung đúc tinh thần phát sanh ra Cảnh Giới sau lúc mạng chung đặng về trong Cảnh Giới đó. Đó chính là một tư tưởng khẳng định, tư tưởng khẳng định tu Tiên Thần vốn thi hành theo chiều hướng nầy mà đến kết quả. Bậc Thiền Sư thấy biết tư tưởng nương theo tư tưởng sát thật chân đế tư tưởng, biết tỏ rõ vốn nó thường tưởng lại hay trú mà trở thành Chúng Sanh Giới. Thiền Sư biết tỏ rõ, thấy vững vàng không cố định, chỉ quán xuyến để giúp con người đồng thời cứu ngay bản thân Tự Ngã chính mình, gọi là CHÁNH ĐỊNH TAM MUỘI.

Khi Thiền Sư nơi Nghe, Thấy, Biết chân thật không Hai Tướng mới tỏ rõ như Tướng, thời dưới mắt Thiền Sư đã từng thấy. LINH HỒN trùm khắp hư không Vũ Trụ Giác Linh cảm ứng nơi Linh Hồn, con người chưa nhận định đặng nơi tư tưởng khởi sanh, phải lần theo khởi sanh, khởi diệt tỏ thấu tư tưởng Bất Diệt mới có Cảm Ứng Linh Hồn cũng thế.

Trong câu chuyện Linh Hồn chính là một phương thức khó giải, vì sao? Vì Linh Hồn kết nạp tạo thành đầy đủ mới hiện sinh, nên khó giải, nó không khác mấy với Nguyên Lực Điện Tử, nên chi có vị Thiền Sư nào chăng nữa giảng nói đến Linh Hồn Chân Đế, thì sự kia cốt cho con người có CẢM GIÁC, chớ chưa thể nào nhận đặng, vì sự nhận chưa đồng, trình độ chân giác chưa có thành thử chưa chung một lối Thấy, chỉ dùng cái nghe thêm nơi đó, có cái TIN lời nói, để tạo thành đôi mắt Thiền Sư, chừng ấy mới tin Thiền Sư đã chỉ về Linh Hồn Bất Diệt. Khi con người đến thật biết tỏ rõ linh hồn bất diệt thì con người đã đoạt Chánh Giác thoát khỏi Vũ Trụ đối với con người.

Đạo Phật đã chỉ Linh Hồn không hai tướng, Linh Hồn Tối Thượng sáng suốt bất biến, quang minh bất tận, con người thường chiêm ngưỡng là Thượng Đế, Phật Đạo cho đó là: ĐẠI NGÃ cái Ta duy nhất. Còn về phần cái Ta trong thân mạng con người hoặc tất cả sanh vật thảy đều là cái Ta tạm bợ gọi là: TIỂU NGÃ GIẢ TƯỞNG. Nơi Tiểu Ngã Giả Tưởng chẳng khác nào yến sáng của viên Bảo Châu, còn Đại Ngã nó như viên bảo châu vậy.

Dưới mắt Thiền Sư thường gọi Linh Hồn là NHƯ LAI, tại sao được gọi là Như Lai? Vì Linh Hồn nó như vậy. Nơi lên xuống của con người Thể Tánh nơi Linh Hồn vẫn Lai Hoàn, nên chi Linh Hồn trùm khắp bất tận không chỉ đặng gọi là Như Lai.

Nơi Thân Mạng của con người đến thân mạng các loài, khi kết nạp thành hình đầy đủ như nhiên có NGHE, THẤY, BIẾT. Sự Nghe-Thấy-Biết chính là từ nơi Đại Ngã, Linh Hồn thể hiện để đồng ứng thân mạng, tùy theo thân mạng đáp ứng. Không khác nào tạo thành chiếc máy điện, chiếc máy ấy tùy theo khả năng điện lực mà xuất phát. Do sự đáp ứng, phát xuất từ NHƯ LAI. ĐẠI NGÃ thể hiện đến con người cùng các loài như thế nên được gọi là ỨNG THÂN. Theo sự Ứng Thân đó Đạo Phật mới nói: “TẤT CẢ CHÚNG SANH, GIAI HỮU PHẬT TÁNH.” Do con người cùng các sanh vật đồng nhất với vũ trụ nên con người mới có thể nhận định đồng tiến đến thông đạt Vũ Trụ làm chủ Vũ Trụ là vậy.

Thiền Sư thật biết. Tại sao gọi là con người với Vũ Trụ đồng nhất? Vũ Trụ có đầy đủ vạn triệu chất kết nạp chung hợp với nhau, liền trở thành Cái BIẾT. Còn con người cũng vạn triệu chất kết nạp chung hợp với nhau tạo nên Thân mạng liền có cái BIẾT. Vũ Trụ là BIỂN CẢ, con người là giọt nước, nơi giọt nước kia tuy nó nhỏ bé nhưng đồng thể chất với Biển Cả, nên gọi là Đồng Nhất.

Thiền Sư tự biết nơi Bản Năng, Khả Năng của mình, tự hiểu từ tư tưởng nầy sang tư tưởng nọ nơi mình từ chỗ chưa hiểu lần nương đặng hiểu về mình, càng hiểu càng biết đặng Vũ Trụ với con người nhịp nhàng để hiểu nhau. Do đó nên chi con người đứng trước nhiều cảnh, nhiều tình gay cấn càng hiểu biết càng nhiều, sự cảm hóa nơi con người nhờ diễn cảnh vũ trụ con người mới đặng hiểu biết. Đôi lúc Thiền Sư tự hỏi: “Có phải Vũ Trụ là Minh Sư ta chăng?” Phải Vũ Trụ là Minh Sư khi ta đã chấp nhận, ta đặng vũ trụ làm mục đề hướng dẫn đưa ta từng hiểu biết, cảm thông. Nếu ta tự hào TA KHÁM PHÁ VŨ TRỤ thì ta chưa bao giờ Khám Phá con người nơi ta đặng, có đâu đi đến khám phá Vũ Trụ. Khi đã khám phá đặng Ta, thì chừng đó Vũ Trụ đương nhiên Ta tỏ thông được biết, đó chính là lời Thiền Sư quyết định.

Dưới mắt Thiền Sư nhìn nhận Đạo Phật đầu tiên nhất, con người phải tự soi lấy mình trước tiên, con người phải khám phá những gì nơi mình trước hết, vì con người là TIỂU VŨ TRỤ, vì con người là Giọt Nước Biển đồng chất với Biển Cả, vì con người là Chủng Tánh có sẵn không khác mấy với NHƯ LAI. Con người có đôi lúc biết nói, nhưng chưa biết nhận lời mình nói. Tại sao biết nói, nhưng chưa nhận đặng lời mình nói? Tại mình hay nói, chớ chưa Thực Hành theo lời mình đã nói, khi con người thực hành lời mình đã nói, chừng đó mới thật mình Biết nói.

Con người cứ mãi tìm xem Linh Hồn mình nó ra sao? Nó như thế nào? Hình dáng nơi nó Tròn, Vuông, Dài, Ngắn, Sáng hoặc Tối đủ phương thức nghĩ ngợi suy tính, nhưng nào có thấy được đến nó. Có bậc nhẹ tính hay nhìn quần chúng để rõ tánh tình quần chúng gọi nó là GIÁC LINH. Có bậc kiểm điểm tư tưởng chia phân tư tưởng từng khối nọ đến khối kia, lập ra trận đồ tư tưởng gọi Linh Hồn là TÌM THỨC THỨ SÁU hay A LẠI GIA THỨC kết thành bộ Duy Thức để biện minh về Linh Hồn, thật ra Linh Hồn trùm khắp không có chỗ chỉ. Chính là NHƯ LAI, nên dùng cái thấy trùm khắp để quán xuyến linh hồn Bất Diệt thì dùng đôi mắt NHƯ LAI NHÃN TẠNG Thiền Môn mới minh xác đặng, bằng lý đoán khó triệt thấu.

Khi con người nhìn thẳng thân tâm mình nhận định tỏ rõ tư tưởng Tánh Tình nơi mình di chuyển từng lúc, từng hồi nhịp nhàng trước vạn lối. Có khi Nóng Giận, Vui Buồn, có lúc tinh thần đẹp tươi vô kể, có khi trực giác thông hiểu hoàn cảnh của con người đối với mình, có lúc lại làm cho con người thế nầy, thế nọ đủ trăm phương vạn cách giữa con người với chính mình.

Liền được hiểu biết nơi Thân có linh hồn sáng suốt bất động quán xuyến tất cả. Nhưng bị thay đổi sống động vì tư tưởng con người chưa tỏ giác, nên chưa nắm vững tư tưởng phải chạy theo tư tưởng, thành thử lanh quanh hiểu biết. Nơi Bản Thân nó khởi sanh vạn Tưởng chung vào đó nó lại có Tánh với Tình diễn hóa mãi không ngừng trở nên Sanh Diệt, Diệt Sanh nhịp nhàng chẳng dứt. Bậc Trí tạm hiểu nó sanh diệt, bậc Thiền Sư tỏ tánh nhờ nhìn nhận thấy biết đặng nó có rất nhiều chất kết nạp nhau trở thành bản chất vận chuyển trong thân mới đặng NGHE, THẤY, BIẾT, cái Nghe Thấy Biết chưa phải là Linh Hồn Tối Thượng, chính nó là một mục tiêu cho con người đoạt đến LINH HỒN TỐI THƯỢNG.

Thiền Sư thường nương theo TÁNH THẤY, đoạt đến CHÂN TÁNH THẤY không hai tướng, bèn dùng Tưởng Quán Như Lai soi thấy các cõi VÔ HÌNH, đối với con người chưa thấy được, Thiền Sư đã thấy.

Làm thế nào nương theo Tánh Thấy, đoạt đến cái Thấy Chân Như, Thấy không hai tướng để nhận được các cõi Vô Hình trước con người chưa thấy, mà Thiền Sư lại thấy?

Khi Thiền Sư thấy, Thiền Sư chưa vội chấp nhận cảnh thấy nơi mình là thật. Từ nơi tư tưởng phát sanh cho đến tư tưởng diệt, từ nơi bản tánh phất khởi cho đến bản tánh thối lui, Thiền Sư thảy đều soi sáng từng lúc, từng hồi để nhìn thấy tư tưởng, nhìn thấy bản tánh nơi mình. Khi Thân Tâm rõ thấu tận cùng tư tưởng, tận cùng bản tánh của mình cùng với nơi con người trùm khắp, Thiền Sư đặng biết tỏ rõ, nhưng đối với con người làm sao biết đặng. Lúc con người thay đổi nơi thấy là do tư tưởng hiệp tánh thấy trở thành cái thấy nơi con người, cho nên đối với con người nhìn thấy nơi chung quanh mình toàn là hoàn cảnh tái diễn bao vây. Còn đứng hàng Bồ Tát thời nhìn thấy vạn pháp xoay chiều Thuận Nghịch phản chiếu, nên Bồ Tát nhiếp thu vạn pháp. Đứng nơi Phật Trí nhìn thấy Diệu Dụng Như Lai, Hạnh Nguyện Bồ Tát nó như thế, đó chính là Thiền Sư đã thật rõ quyết định.

Đứng trước hoàn cảnh con người, con người thường chấp nhận là có Ma, nên đến nhờ ThiềnSư cứu giúp. Thiền Sư vẫn gật đầu chấp nhận cứu giúp, như thế thì hồn Ma đã có nên Thiền Sư mới chấp nhận, nếu không có Ma thì Thiền Sư chối từ nào có gật đầu hứa chịu.

Khi bấy giờ Thiền Sư đến nơi để giúp, giúp rất kết quả hoàn mỹ. Tại sao lại có Ma quả nhiên đúng như thế? Vì Thiền Sư đã điều ngự bản năng, điều ngự MA TÁNH nơi chu thân Thiền Sư, Ma Tánh ấy dưới sự điều khiển của Thiền Sư, nên chi Thiền Sư vừa đến nơi ngoại cảnh và Thân Tâm Thiền Sư giao cảm phối hợp nhau liền có một Loài Ma, từ nơi thân Thiền Sư phát ra, đứng trước mặt Thiền Sư thưa gởi:

“Kính thưa Thiền Sư, loài Ma nơi nhà nầy, nơi chốn nầy, trước kia đang còn tại thế bản tánh hay gạt gẫm kẻ khác để thỏa mãn ăn uống nhu cầu mình cho sung sướng. Sau bị nhiều kẻ mắng nhiếc la rầy, chẳng biết hối cải, chỉ một lòng thù hận liền xãy đến việc chém giết, nên trở thành loài Ma phá rối. Chính bản năng nơi con ngày trước cũng như thế, may nhờ Ngài hóa giải nên con mới đặng như ngày nay. Vậy Ngài cho con được phép cứu giải cho hắn.”

Thiền Sư gật đầu, niệm chú chấp nhận. Loài Ma nơi Thiền Sư, cùng với loài Ma bên ngoài nói năng chốc lát, hàng phục liền hóa sanh, loài ma phá phách được siêu độ. Đó chính là một việc Thiền Sư cứu độ vậy.

Có một hôm Thiền Sư đến trãng núi, đến khu rừng đang ngồi an dưỡng. Bỗng nhiên trời mây u ám, hơi lạnh bốc ra, âm khí nỗi dậy làm cho cây lá chuyển mình, tai nghe tiếng rên rỉ thảm thê in tuồng van lạy, mắt thấy khói đen pha lẫn trắng xanh đang quay quần bên Thiền Sư. Thiền Sư thật biết vong hồn u ẩn đang cầu cứu những gì, nên chi Thiền Sư tay bắt ấn, niệm khẩu chú, sau lúc đó có một Quái Tặc nơi thân Thiền Sư hiện ra vòng tay thưa thỉnh:

Kính thưa Thiền Sư, khu rừng và dãy núi nầy, bảy trăm năm về trước, có một bọn Quái Tặc cướp bóc, giết người chẳng gớm tay, chúng chưa tin hậu quả là gì, miễm sao chúng cướp cho nhiều của cải chúng hoành hành tàn nhẫn. Đến sau có trận cuồng phong cây rừng doanh trại của chúng bị tàn phá, lương thực chúng đều hư hại, không còn đủ cho chúng tiêu dùng, phần thì quan quân lúc bấy giờ đang chăm vào chúng, dân giả khiếp sợ chúng chẳng dám vãng lai, làm cho chúng nhịn đói chết lần. Khi ấy chúng hối hận, chúng nói “Tiền bạc, vàng ngọc không thể nuôi ta đặng sống, chỉ có gạo thóc với tình thương mới bảo toàn thân mạng chúng ta mà thôi.”

Hôm nay chúng gặp phải Thiền Sư, Thiền Sư có nhiều đức tánh giao cảm đồng ứng nên chúng biết mà đến mong Thiền Sư cho lệnh Siêu Thoát chúng. Tôi xin thừa hành lệnh chung cùng nói năng chúng, cũng chuộc lại tội lỗi nơi tôi ngày trước có chủng tánh Quái Tặc như chúng.

Thưa xong Quái Tặc đứng lại một bên chờ lệnh. Thiền Sư gật đầu, miệng phát ra tiếng Thổ Âm, tất cả khu rừng chuyển động, tự nhiên trời thanh gió mát, không khí trở lại bình thường. Bọn Quái Tặc được siêu độ vào Thiền Âm Tự tu hành, ngày sau siêu thoát.

Theo như thường lệ, Thiền Sư đi bát xong trở về Tịnh Thất. Đến đầu làng chỉ có một con đường duy nhất vào làng. Bỗng nghe tiếng hét la của Thiếu Nữ, vẻ mặt thiếu nữ sợ hãi, miệng đang gào. Sau lưng có một số người đuổi theo thiếu nữ, thiếu nữ vừa chạy giáp mặt Thiền Sư, thiếu nữ dừng lại nhìn Thiền Sư in tuồng cầu cứu. Thiền Sư bảo:

“Con hãy quỳ xuống.” Thiếu nữ ngoan ngoãn qùy trước mặt Thiền Sư ,lúc bấy giờ vẻ mặt Thiền Sư trang nghiêm khó tả, Thiền Sư đưa tay ấn chứng, miệng lâm râm ấn chứng, xong bảo thiếu nữ về yên nghĩ, thiếu nữ hồi tỉnh trở về.

Đến mấy hôm sau, thiếu nữ cùng đi với bà Cụ, đến Tịnh Thất lễ bái. Thiếu nữ quỳ thưa:

“Kính bạch Thiền Sư, hôm trước con đi ngang qua Miếu Võ, đương nhiên con thấy một khối lửa từ trong miếu bay ra, con phát sợ, thân mình rung chuyển, con nhìn khối lửa không còn thấy rõ ràng vị Thần hung tợn vươn hai tay định bắt con. Con đâm đầu chạy hét la cầu cứu, con chạy trên tất cả gai, chạy qua gò mả như chạy ở đất liền, vị thần chưa chịu buông tha, con càng chạy nhanh bao nhiêu thì vị thần chạy mau bấy nhiêu sát gần đến con. May thay gặp Thiền Sư giải cứu. Đến giờ phút nầy con quỳ trước mặt Thiền Sư, vì con tin lời mẹ con bảo, chớ tâm còn đang nghi ngờ, vì sao? Vì hôm trước con gặp vị Thiền Sư chưa phải là vị Thiền Sư ngày nay con gặp. Lạ thay! Lạ thay! Vị Thiền Sư con gặp, vị ấy có rất nhiều tay, đầu Ngài đội Kim Khôi, mình Ngài mặc Huỳnh Giáp, hào quang sáng tỏa một vùng, tiếng nói khác thường trong thiên hạ, làm cho vị Hung Thần sợ hãi đảnh lễ Ngài, buông tha con, hiện tình bây giờ con đang phân vân chưa biết giải. Tại sao cái thấy lúc đó đến nơi thấy bây giờ khác biệt. Kính mong Thiền Sư cứu mạng con bằng tư tưởng ổn định cho con yên tâm.”

Thưa thỉnh xong ngồi lại một bên. Thiền Sư suy nghĩ. Ta có nên nói thật không? Nếu Ta nói chủng tánh Giả Tưởng làm sao thiếu nữ nghe đặng, nếu như Ta nói thiếu nữ có tính nóng đồng thời gặp đặng hai tánh hiệp nhất hóa sinh ra nơi thấy đồng đẳng làm sao thiếu nữ hiểu đặng.

Nếu Ta nói Ta dụng Thần Thánh hóa thân Chuẩn Đề thu phục Hung Thần thì làm sao thiếu nữ tin nghe đặng, nếu Ta nói hiện giờ Ta ngồi đây, nhưng lát nữa Ta hóa thân ra khi có người đến dự kiến hoặc nói mỗi ngày như thể Ta tự hóa ra trăm thân trở về với một thân thì thiếu nữ kia nào có hiểu được tí nào. Nói như thế chưa có lợi, nói như vậy chưa có ích lại thêm vào thiếu nữ vọng tưởng đảo điên. Thiền Sư suy nghĩ liền giải đáp:

Nầy Thiện nữ, tính nơi thiếu nữ tốt có tạo phước nhiều, nên chi gặp phải Hung Thần xảy ra điều không hay, liền gặp Đức Chuẩn Đề ứng hiện bên Ta mà cứu mạng. Vậy kể từ nay cho đến sau, Thiện Nữ nên Niệm Phật, nên tu tâm, sửa tánh, giải tỏa những tánh nóng cầu lấy chư Phật gia hộ. Nghe xong thiếu nữ mừng rỡ trở về tu tâm, sửa tánh thành con người hiền đức.

Tại sao lại có Hồn Ma cùng Hồn Quái Tặc đến hồn của Hung Thần từ nơi thân Thiền Sư xuất hiện để cứu độ trên đã nói? Chính Thiền Sư thật biết toàn thân nơi con người, có một Linh Hồn duy nhất bất diệt, ngoài linh hồn bất diệt còn có Bá Thiên vạn triệu Bản Ngã Giả Tưởng, gọi nó là TIỂU NGÃ. Con người lầm tưởng Tiểu Ngã Giả Tưởng kia là linh hồn mình, nên nương tựa theo Giả Tưởng để sống nơi lý tưởng thường tưởng định tưởng, chớ nào biết sống Linh Hồn ĐẠI NGÃ Anh Linh bất diệt, vì vậy nên tìm không tỏ rõ, không thể nào ra Linh Hồn Bất Diệt. Những Giả Tưởng đó chính là Chủng Tánh nó chia ra nhiều lớp, nhiều giai cấp, nhiều thứ tự, nhiều cử chỉ trạng thái khác nhau diễn giải không hết đặng, nó có từ PHẬT CHỦNG đến Thánh Chủng qua Tiên, Thiên Chủng, Thần Thánh Chủng cùng Yêu Tinh, Ma Quái Chủng, vì nơi Lầm ấy mà con người tạo thành Tam Thiên Tam Giới, Lục Đạo các Cõi các Cảnh Giới, gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, trong Tam Thiên còn có rất nhiều Cảnh Giới, nhiều Cõi, nhiều Loài sinh sống khác biệt nhau như: Thế Giới có loài đi ngang, loài đi ngữa, loài đi đứng, loài đi nằm, loài đi ngược, loài đi bò, loài đi lết, loài đi trường, loài đi nhảy, loài đi khum, loài vô trí, loài vô thức, loài vô nhân, loài vô tác, loài đinh, còn hằng hà sa số các cõi, các cảnh giới không thể nào nói hết.

Con người đang bị sống theo TIỂU NGÃ GIẢ TƯỞNG đương nhiên phải dùng tưởng để mà sống, ngoài ra không còn cách chi khác nữa. Con người trong bá thiên vạn Tiểu Ngã lầm chọn lấy một NGÃ làm linh hồn mình thì đương nhiên phải tùy thuộc nơi Ngã ấy, cho nên đứng trong phương diện mà nói thì chọn lấy NGÃ nào phải tùy thuộc nếp sống từ cử chỉ đến ngôn hạnh nơi Ngã đó mà hành sự. Nếu có ai chỉ trích rằng: “Ông thế nọ hoặc ông thế kia, làm như thế là sai.” thì người ấy liền cãi không CHẤP NHẬN nơi sai của mình, trái lại phản đối sự chỉ trích trên. Từ các bậc Thánh với Con Người, từ bậc Hiền Triết, Siêu Nhân với Con Người nó khác nhau như thế nào? Nó có khác hơn con Người ở nơi lìa Ngã Tưởng nhiều ít mà thành chớ chẳng khác hơn con người chi cả. Còn bậc ĐẠI NGÃ TỐI THƯỢNG khác hơn con người ở nơi thu nhiếp hàng phục tất cả GIẢ TƯỞNG về với chính mình điều hành Giả Tưởng không mắc míu lấy một Giả Tưởng. Chẳng khác nào một Lãnh Tụ chung khắp toàn dân, lãnh tụ có quyền điều khiển chớ chưa phải Lãnh Tụ là người dân.

Cứ nhìn theo lời nói trên để tự chấp nhận được biết, trong thân thể CHẤP NHẬN có rất nhiều Giả Tưởng Bản Ngã, mỗi Giả Tưởng là một chất nơi nó con người dung dưỡng tánh chất ấy, sau khi nó thành hình nó đã trưởng thành, thân mạng con người suy yếu đến Mãn Phần, gọi là CHẾT thời con người ấy nó về nơi nó đã từng vun trồng nuôi dưỡng. Lời nầy đã từng nói nhiều nhưng con người chưa lãnh hội đặng, mà Đạo Phật đã giải xong trên bước đường SANH TỬ LUÂN HỒI.

Đạo Phật từng biết con người lầm lẫn, con người vốn sẵn đồng thể với Vũ Trụ, đồng chủng với Vũ Trụ, đồng hành với Vũ Trụ, đồng có Linh Hồn Tối Thượng y như Vũ Trụ, đồng di chuyển linh động, từ hơi thở đến hơi nóng, tánh lạnh, cứng cỏi và mềm dẻo như Vũ Trụ không khác.

Vũ Trụ đã biết sử dụng, còn con người chưa biết sử dụng nên mới bị sanh chớ chưa được sanh như Vũ Trụ sanh ra con người.

Tại sao Vũ Trụ biết sử dụng?

Vũ Trụ biết sử dụng nên trong vũ trụ có hằng hà sa số thế giới, các thế giới từng lớp lang thảy đều sống theo lớp lang của mình chẳng bao giờ lộn xộn. Vũ Trụ biết sử dụng thể hiện ra từng loài, mỗi loài thảy đều có tác động nơi nó chớ chẳng bao giờ tác động khác nhau. Từng nơi hiểu biết từng loài cho đến sự hiểu biết từng cõi, từng cảnh giới, từng địa phương, từng trình độ, từng hoàn cảnh mỗi mỗi thảy đều có thế hệ, đều có trí tuệ, đều có linh tánh, đều có trực biết, đều có giác nguyên, đều có rốt ráo hoặc giả chưa rốt ráo, do Vũ Trụ biết sử dụng ban hành như thế nào, tất cả thảy đều y như thế không sai chạy. Có người lầm tưởng cho lời nói nầy là thuyết Định Mệnh chẳng phải thế đâu, đây chỉ biết nói thẳng, đồng chỉ thẳng VŨ TRỤ BIẾT SỬ DỤNG. Con người chưa biết sử dụng, nếu biết sử dụng thì đoạt đến Vũ Trụ thoát sanh khỏi Vũ Trụ.

Vũ Trụ còn biết kết nạp, biết hóa chất, biết biến chất, biết phân định, biết dung dưỡng, biết tất cả lý sự dưỡng sinh từng nơi chốn. Có nơi thời ban thanh khí, có chỗ ban thấp khí, có chốn ban không khí, cứ mỗi nơi, mỗi chỗ, mỗi chốn trong thế giới cùng các Cõi, các Cảnh Giới thảy đều tùy thuộc khí hậu mà dung dưỡng đủ loài. Lại biết phân định, biết biến chất, Vũ Trụ phân định loài cây cỏ nào biến chất hợp hóa chi làm cho các loài cây trái mỗi thứ thảy đều có bản chất nơi nó trên Vũ Trụ nầy. Từ nơi hóa chất kết nạp giữa hư không đầy đủ bá thiên vạn ức chất di chuyển kết nạp liền hóa chất cung đốn dung dưỡng cho tất cả Sơn Hà Đại Địa cùng nhiều cảnh giới vô kể đặng.

Một khi Thiền Sư biết đặng Vũ Trụ biết sử dụng, biết kết nạp hóa chất biến chất, biết phân định dung dưỡng, Thiền Sư liền đem ra áp dụng. Cứ mỗi một TIỂU NGÃ phân định nó như thế nào. Mỗi một tánh chất nầy, cùng tánh chất kia hợp giải nó ra thế nào. Từ nơi Hữu Tướng dụng Định Tưởng trở thành Hữu Phi đồng đẳng, kết nạp nhau nó hóa chất, biến chất, thành ra Cõi chi, nhờ như thế mà Thiền Sư mới thấy tất cả thế giới HỮU VÔ như thấy bản đồ thật sự.

Lúc Nghe, Thấy, Biết nơi Thiền Sư tinh nhuệ thì nhìn đâu biết đó, nơi biết không thể diễn nói đặng, biết rất tỉ mỉ chân thật vượt tầm. Khi Thiền Sư nói ra hoặc giả viết vào văn tự cũng chưa đầy đủ ý nghĩa để nói lên cái biết chính mình. Dù cho có bậc nghe đặng một phần nào thì phần ấy nó cũng thuộc về Giả Tưởng đặng nghe thôi.

Có một hôm Thiền Sư cùng một số đi du ngoạn đến gành đá bên bờ biển. Thiền Sư tĩnh tọa còn số người kia kẻ ngồi ngắm cảnh, người ngó biển khơi, trời mát mẻ, sóng biển vỗ đều đặn, mặt nước xanh xanh, Thiền Sư vớt con Ốc Quắn dài độ hơn một tấc, màu vàng nhạt, đặt con ốc trên lòng bàn tay. Con ốc ló đầu ra nhìn Thiền Sư, Thiền Sư lẩm bẩm nói:

“Tại sao ông không chịu ra, tại sao ông xây bảo tháp cứ ngồi mãi trong đó. Phải chịu như thế nầy, nên ra, nên ra nhận Vũ Trụ Sơn Hà cùng khắp là Bảo Tháp, rộng rãi hơn, thoải mái hơn, hãy ra đi, nên ra đi.”

Thiền Sư vừa dứt lời, con ốc bò ra khỏi vỏ, bò chuyền trên tay Thiền Sư, nhẹ nhàng Thiền Sư đặt con ốc xuống nước.

Lạ thay! Lạ thay! Con Ốc trước khi từ giã gật đầu in tuồng thiện cảm, Thiền Sư mĩm cười chú nguyện. Một chốc sau đương nhiên có ngọn sóng dâng cao hơn tất cả các con sóng thường lệ, có lưu tâm mới thấy đặng, số người thưa hỏi Thiền Sư:

“Kính thưa Thiền Sư, duyên gì con ốc được Thiền Sư chú nguyện, con ốc bò ra khỏi vỏ? Xin Thiền Sư cho chúng tôi được nghe.”

Lúc bấy giờ Thiền Sư trầm lặng chậm rãi đáp:

Các ông hãy nghe đây: Thời xưa có vị Trưởng Giả họ Chu tên Kỳ, lúc bấy giờ Ta là Hàn Sĩ Tu Trì, nhân một buổi Ta đi qua nhà gặp Trưởng Giả mời vào, lại đãi Ta một bữa cơm, cơm nước xong Trưởng Giả nói:

Kính thưa Hàn Sĩ, tôi tự nghĩ, đối với tôi có sẵn bạc tiền, có sẵn tất cả tiện nghi không thiếu sót, cứ để nó như thế nầy không ích lợi chi, nên tôi muốn xây tòa Bảo Tháp, trên thờ Phật, dưới tu trì, may ra thân tâm thoải mái.” Ta vừa nghe như thế hưởng ứng tán thành.

Sau ba năm Ta trở lại, tỏa Bảo Tháp đã xây xong, Trưởng Giả gặp Ta mừng rỡ, đưa Ta dạo khắp tòa Bảo Tháp, Ta đi từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên, tòa Bảo Tháp tựa in hình con ốc ngày nay. Khi bấy giờ Ta có thịnh tình đối với Trưởng Giả nên Ta hứa, sau nầy Ta đoạt Vô Thượng Ta sẽ giúp đỡ cho Trưởng Giả đồng thời Trưởng Giả phải nghe Ta, đến nay lời hứa thật sự mà Trưởng Giả đã nghe Ta, nên mới có chuyện ở nơi trước mắt các ông.”

Tất cả số người đứng lên thưa thỉnh: “Vì sao Trưởng Giả lại chịu báo thân hình con ốc”

Thiền Sư đáp: Nơi Phước Báo hay chỗ Chịu Báo chưa phải con người đang ở chỗ giàu sang nhà cao cửa lớn mà sau nầy được đầu thai vào chỗ sang cả. Các ông nhìn như thế chưa Đúng với chỗ con người sau khi chết sẽ về đâu. Các ông nên nhớ bản năng tâm thức nơi con người phải vượt qua tất cả tập quán nhỏ nhen, tâm chí thù hận, tánh nết gạt gẫm, cử chỉ điêu thoa, mong sao cho mình có lợi, ngoài ra mặc nhiên không biết đến, lề lối như thế dù cho nơi kiếp hiện tại làm quan quyền hay giàu có cho mấy chăng vẫn bị sa đọa. Khi ông Trưởng Giả Chu Kỳ đặng phước báo có cơ hội xây Bảo Tháp thì chính nơi thân mạng ông ấy phải Tâm Thức sửa đổi tánh tình, chớ nên ỷ lại tiền bạc, vượt qua tất cả ích kỷ khinh người để tu thì Bảo Tháp mới có giá trị. Chớ cứ ôm lòng Tự Ngã, nuôi mộng vọng tham không phát sanh phước điền, chưa làm gì cho thân tâm ích lợi, đó gọi là tu Bảo Tháp chớ chưa tu thân mạng. Nên chi trong một thời nơi Công Đức trước nay đã tiêu dùng hết phước làm gì không chịu báo vào con ốc.”

“Kính thưa Thiền Sư, vì duyên gì, vì phước chi Trưởng Giả đặng một kiếp sung sướng như thế?”

Thiền Sư nói: “Các ông nên biết, đứng làm con người luôn luôn mỗi một kiếp nó có một cơ hội, cơ hội ấy nó gặp dịp may phát triển hay gặp nhân duyên phát sanh, khi có nhân duyên phát sanh chẳng chịu phát sanh thời nó vẫn diệt, lúc gặp dịp phát triển chưa chịu phát triển vẫn bị đói nghèo.

Có một kiếp Trưởng Giả gặp đức Nhiên Đăng Phật ra đời, Chu Kỳ Trưởng Giả tuổi đã quá cao, nghe tin Phật, bèn tùng theo với một số người đến lễ bái, lễ bái xong ngồi lại một bên, đương nhiên Chu Kỳ nhìn thấy ĐÔI DÉP đức Phật, dưới ghế tòa Sư Tử bị lệch, Trưởng Giả quỳ sát gần sửa đôi dép lại cho ngay ngắn, đức Nhiên Đăng nhìn thấy, chứng minh Công Đức một kiếp có Nhân Duyên, một đời sung sướng. Sự Chứng Minh nơi đức Phật cho Trưởng Giả nên mới gặp Ta, đồng thời khởi sanh Tâm xây Bảo Tháp. Khi Ta đến lần thứ hai thăm viếng, sau khi Ta đi thời Trưởng Giả dùng nơi Bảo Tháp sống cho yên thân, tu trong hình thức an lành chớ chưa biết chính mình phải sửa đổi, như ta thường nói, Trưởng Giả cứ theo quan niệm tuổi thọ kéo dài khá lâu, đến ngày lâm chung mến tiếc nên chịu báo trong hình thức con ốc vậy.”

Lúc bấy giờ Thiền Sư giảng giải xong, chúng tôi vẫn ngồi yên, trời mát mẻ, tiếng sóng vỗ êm đềm. Thiền Sư nói tiếp:....

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

4. ĐẠO PHẬT VỚI CON NGƯỜI

Đạo Phật với con người, Đạo Phật sát thật với con người hơn tất cả, Đạo Phật trong con người phát sanh Đạo Phật, Đạo Phật bảo con người nên có tinh thần vật chất Tự Giác trước mọi sự việc, Đạo Phật chưa cho con người xa lìa con người để tỏ rõ Đạo Phật, cho nên Đạo Phật mới bảo: “PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN GIÁC.” Nếu con người mong tìm Đức Phật hay các bậc Thánh thì con người phải tìm trong con người mới nhận thấy. Bằng tìm một phương xa nào hoặc giả tìm nơi tưởng tượng thời chưa thấy đặng.

Đạo Phật thật biết BẢN NĂNG nơi con người nói chung, sự ưa thích nơi con người nói riêng, mỗi con người ưa thích như thế nào thì nó thi hành như thế ấy, nó tự tạo rồi nó tự than lấy nó, chớ chẳng ai bắt buộc lấy nó đặng. Kể từ khắp thế giới mỗi người đều có bản năng ưa chuộng lý tưởng đó nên mới có nhiều phe phái, sự ưa chuộng đó chính nó là như nhiên nơi bản năng xuất phát. Nhưng cứ để cho con người như nhiên hành sự thì thế giới nầy không ai ở với ai nổi, nên mới có kỷ luật ƯA CHUỘNG CÓ TRẬT TỰ. Con người phải sống trong vòng ưa chuộng có trật tự đó, đối với con người cho là cuộc sống như thế giả tạo, vì sao? Vì bản năng của con người chưa đúng với Nguyện Vọng sở thích nơi mình thực thể nó thành giả tạo, có giả tạo như thế mới thanh bình đời sống.

Đạo Phật đối với con người rất sống động, cũng đã biết bản năng con người trổ thành vạn thứ hoa theo vạn lối sống, bản năng con người như nhiên nếp sống con người. Đạo Phật muốn đánh đổi chí hướng con người, Đạo Phật không bắt buộc chiều hướng phải nghe theo Đạo Phật đem những điều lợi ích chỉ dạy, đồng thời khai thác Bản Năng cùng Khả Năng trưởng thành Công Năng, khi con người có Công Năng thì Cái Thấy, Nghe đồng với sự Biết liền đổi thay cùng nhau một hướng định.

Cũng như: Vạn thứ Hoa kia, tuy nó màu sắc khác nhau, hương vị vốn khác nhưng mỗi thứ nó có giá trị cao quí nơi nó, chớ chưa phải thứ nầy quí, thứ hoa kia không quí đâu. Nhà Khảo Học Thiên Tài mới làm cho các loài hoa đồng nhìn, đồng thấy biết chung khắp các hoa thảy đều có giá trị như nhau, nên chi mới cho một thứ hoa đứng ra ngoài nhìn vào vạn thứ hoa để biết rõ vạn thứ hoa, mỗi thứ đều có Thể Chất Hương Vị cao quí, sắc thái như nhiên nơi nó. Nhà Khảo Học cứ thực thi như thế lần lượt hoa nào cũng đặng nhìn xem sự nhận định Bình Đẳng, nơi Thấy, Biết như nhau đồng một định hướng, đạo Phật hướng dẫn con người có một Trí Bình Đẳng hướng định đồng nhất cũng như thế.

Đạo Phật tường tận Bản Năng Khả Năng con người Trí Óc con người phải trao giồi hướng thượng mới có một công năng siêu việt đoạt đến Vũ Trụ Tri Kiến Giải Thoát nếu cứ mặc nhiên thời trình độ cao cống chí khí ương hèn thấp kém kia không làm thế nào đến đích cho đặng, nên mới có GIỚI, ĐỊNH, TUỆ. Giới Định Tuệ có ý nghĩa: Nơi Trí Tuệ lần tiến phải có Giới Hạn lần tiến chớ nên chấp nhận bừa bãi phát sinh buông lung tự mãn, khi trí tuệ căn bản tư tưởng giải mê phá nghi chấp đến vô giới hạn, nơi trí tuệ có định hướng Hướng Thượng nương theo các bậc Thánh, Tăng đến đích khẳng định.

Đạo Phật đã rõ Bản Năng Khả Năng nơi con người có thể nung chí kiên dũng phụng sự mục đích sẽ đến tuyệt đích, nhưng vì nhận định thấp cao chênh lệch trở thành trình độ rộng hẹp lớn nhỏ bị phân nhiều thứ lớp, đạo Phật biết như thế nên nói: LỜI DẠY THỜI PHẬT THỪA, lúc con người lãnh hội tự nó chia ra thành TAM THỪA, chưa phải tự nó muốn như thế, vì tại tạo Công Năng sút kém nên sự lãnh hội sút kém mà thôi.

Khi con người đứng trước sự đời, lúc con người bước vào Đạo Tràng tìm đến mức độ tỏ giác thì họ hay nhìn nhau dị biệt, nghe nhau trái với tư tưởng ngôn hạnh trở thành sắc thái cử chỉ bất hòa nhau nên khó tìm hiểu nhau bằng chân thật Đức Tánh nhau, đạo Phật mới nói: “Các ông nên CỖI GIẢI TÂM làm cho Tâm Thông vì đặng ích lợi tăng trưởng hiểu biết. Các ông nên phá nghi chấp, vì đặng sự ích lợi Viên Dung liền tỏ tánh nhau Giác Ngộ.”

Đạo Phật lại còn áp dụng những giáo khoa chỉ dạy cho con người LÝ SỰ TƯƠNG SONG, CHÂN NGUYÊN TRỰC GIÁC như sau:

Đứng trước sự làm thực tế nơi con người, một là hứa cứu giúp cho kẻ khác về Nhân Lực Tiền Bạc, Áo Quần, cơm gạo hay gánh vác hoàn cảnh với nhau phải làm cho tròn bổn phận gọi là BI, chính con người đứng ra cứu giúp phải có CHÍ DŨNG bất thối nên đặng nó: BI CHÍ DŨNG tương song liền lạc với nhau mới nên sự giúp.

Bằng đứng nơi tinh thần chướng đối, tinh thần thù hận, tinh thần ganh ghét, tinh thần vướng đọng từng giai đoạn do bối cảnh trước lời nói sơ ý mà xảy ra thì đạo Phật mới nói TỪ, BI, HỶ, XẢ. Khi con người biết sử dụng Từ Bi Hỷ Xả thời nó rất có lợi về tinh thần đủ mọi mặt như: ĐẠO ĐỨC thân tâm liền tỏ rạng đặng TỰ TẠI. VÔ NGẠI nơi hiểu biết đặng hiểu biết cùng khắp, Tạng Thức viên thông đặng gọi là: TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG, cho nên tài liệu kinh có nói câu: Vô Ngại Tự Tại Đại Bi, Tổng Trì Đà La Ni Tạng.

Sự thực hành trong Đạo Phật để giải tỏa con người sống trong Vũ Trụ chưa đặng hoàn mỹ do tại nhận định lạc lối Tu Chứng thành thử ít kết quả hữu hiệu. Nếu biết nhận định giá trị hướng dẫn đạo Phật từng lời nói, đến phương pháp hướng dẫn con người khai thác Tự Tánh có đầy đủ Tinh Thần LÝ đồng SỰ tương song, bước lần nơi Thực Hành cùng Quán Sát tỏ rõ, thời mới nhận định được Đạo Phật đưa con người từ nơi thực tại khởi điểm đến thực tại Tu Chứng rất tế nhị tuyệt mỹ, nên con người gọi là: BẢO PHÁP LỜI VÀNG. Vì vậy nên:

“SỢ CHƯA BIẾT TU, CHỚ ĐỪNG SỢ KHÔNG GIẢI THOÁT.”

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

3. BẢN NĂNG KHẢ NĂNG CON NGƯỜI

Bản Năng Khả Năng của con người có thể tu Tiên thành Tiên, tu Thánh thành Thánh, tu Thần thành Thần, tu Phật thành Phật, dung thông khoát đạt đứng trung gian nhìn xem tất cả các bậc đang thành, các bậc sắp thành, cùng các Vị đã thành. Về Khả Năng nơi con người có thể làm được những gì thế giới hoàn cầu sở thích ưa chuộng lần lượt làm đặng tất cả. Từ cơ giới đến điện tử, từ nguyên tử đến phi nguyên tử, đồng thời còn sản xuất nhiều môn, nhiều món chưa kể hết đặng.

Bản Năng nói riêng từng người ưa thích, nói chung từng khối yêu chuộng kết hợp với nhau, trở thành trăm màu sắc mong cầu xúc tiến trên thế giới nầy.

Họ đồng dùng Khả Năng tạo thành rất nhiều cơ sở, lâu đài có những kỳ quan trên thế giới do công lực khả năng con người xây đắp hoặc do một số người ưa muốn hiếu kỳ bắt buộc con người xây dựng, cũng như Vạn Lý Trường Thành chẳng hạn.

Bản Năng Khả Năng phục vụ cho con người khi con người cần đến. Tinh Thần Vật Chất đối với con người là một điều kiện kết chung, chớ chẳng phải tinh thần vật chất chia ra hai khối. Cũng như KHÔN DẠI chưa phải là hai, vì Biết cùng chưa được Biết chính ra nó là một. Có nhiều bậc cho mức sống tinh thần là trừu tượng, nếu đem tinh thần hiểu biết thi hành áp dụng khắc phục đúng bản năng khả năng thành tựu thực thể thời mới biết lời nầy nói đúng là tinh thần chưa phải lối sống trừu tượng, duy chỉ thiếu khả năng kém hào hứng chưa đúng với nguyện vọng bản năng nơi con người nên mới bị sống nơi trừu tượng.

Thông thường khối Khoa Học khám phá Vũ Trụ lấy phẩm chất thực nghiệm hợp hóa. Còn về Triết Học giải đáp đảm phá tư tưởng thường trú đem đến con người được thông hiểu. Như vậy thời sự hiểu biết nơi con người, lúc con người NGỦ hay con người CHẾT nó sẽ về đâu? Khoa Học và Triết Học đồng chịu, chưa giải đáp đặng.

Còn đứng về Thần Bí, Thần Thánh Hóa để giải đáp thì Khoa Học, Triết Học không chấp nhận, vì chưa có cụ thể chứng minh trên lời nói, dù cho có cụ thể chứng minh lời giải đáp đặng, nhưng đối với bậc chưa đến trình độ khó mà lãnh hội được để chấp nhận.

Do đó mới có một số người đứng ra ngoài Tôn Giáo, Khoa Học, Triết Học nói chung họ đứng ra ngoài hết thảy để nhìn hết thảy mà tạo nên Chánh Giác. Khi đã có đầy đủ Chân Lý Chánh Giác mới dụng phương thức kết nạp hết thảy để chỉ dạy, gọi là Đạo Tràng Phật Giáo ngày nay. Đối với Phật, Ngài đã biết nó như thế, biết con người mong đến sự hiểu biết toàn diện không thiếu sót mới đúng đắn, bằng tin vào một Tông liền bị chìm đắm nơi Tông, tin vào một phái phải chịu lầm lẫn một phái, nên chi thành lập xong Ngài công bố: “ĐẠO TRÀNG LÀ PHƯƠNG TIỆN GIẢI THOÁT,” do lẽ ấy nên mới nói: “Đứng ra ngoài hết thảy, để tận giác hết thảy mới sát thật.” Ngày nay tôi viết tập “Dưới Sự Nhận Định Vũ Trụ với Con Người” giảng giải ngoài tất cả đưa đến mục đích chính của Đạo Phật đã từng giúp cho con người thông suốt Vũ Trụ. Tài liệu nầy giúp cho các bậc đã từng nghiên cứu Đạo Phật hay chưa tu Phật biết rõ phần nào về ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CON NGƯỜI./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

2. TÓM LƯỢC

Trong tập “Dưới Sự Nhận Định Vũ Trụ Với Con Người” như trên đã nói: Con người sống tạm nơi cái sống, rất cần đến vật chất lẫn tinh thần. Phần Chánh Trị an bang giúp đỡ vật chất. Phần THÁNH ĐẠO cứu giúp tinh thần. Kể từ ĐẠO LÃO đến ĐẠO KHỔNG, BÀ LA MÔN, PHẬT GIÁO, THIÊN CHÚA GIÁO, kế tiếp có ĐẠO HỒI GIÁO, TIN LÀNH GIÁO đến THÔNG THIÊN HỌC, BÀ HAI GIÁO, tóm lược chung các Tôn Giáo để các đọc giả nhận định, trong các Tôn Giáo thảy đều với đích nuôi dưỡng tinh thần. Lúc con người chết về CÕI TRỜI hay THƯỢNG ĐẾ là duy nhất.

Chỉ có PHẬT GIÁO có đích đưa con người thoát sanh ngoài vòng Vũ Trụ, vì sao? Vì Phật Đạo đã tìm đặng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới ngoài cõi trời. Khi Đạo Phật ra đời, nhận định Thái Tử Tất Đạt Đa Cách Mạng Bản Thân xóa mờ hỗn loạn tư tưởng, dẹp tan chế độ áp bức giai cấp, đem con người khỏi ách nô lệ nếp sống trật tự mới. Ngài được con người tin Ngài trên công sự làm, Ngài đặng con người kính Ngài, vì Ngài quảng đại bao dung, Ngài được con người kính nể Ngài vì Ngài Đoan Chánh, chớ chưa tin mục đích tối thượng nơi Ngài đưa con người Tri Kiến Giải Thoát. Đến thời sau sự giải thoát mới công bố, nhiều chư vị Bồ Tát mới đồng ghi chép tài liệu trở thành Tam Tạng Kinh.

Đạo Phật nhờ KHOA HOC, TRIẾT HỌC, TÂM LÝ HỌC làm sáng tỏ. Tuy nhiên Khoa Học là Khoa Học hay Triết Học cùng Tâm Lý Học, mỗi khoa riêng rẽ không phải Khoa Học, Triết Học hay Tâm Lý Học là Đạo Phật hay đã tin Phật thi hành. Nhưng lời nói nơi Phật là lời nói vô tư tổng quát tất cả thực hành đến kết quả đúng như lời Phật nói.

Khoa Học dụng Lý Tưởng phát sinh, lấy Thí Vật thực nghiệm. Từ nghìn xưa Phật nói chưa rõ đặng, đến ngày nay khoa học đã tìm thấy kết quả đặng. Như thế có phải: Lý Tưởng thuộc về tinh thần, thí vật thuộc về vật chất, khoa học từ tinh thần phơi bày thể hiện ra vật chất chăng?

Về phần Triết Học tận dụng tư tưởng phát sanh đảm phá tư tưởng đứng yên chưa chấp nhận, lần đến tư tưởng tận cùng mà triệt thấu qua từng bước tiến, đặng rõ ràng tư tưởng từng lớp con người đã suy nghĩ, kết quả đứng vào hàng Thông Thái Học, chớ chẳng đến tuyệt đích Giác Nguyên, nên chi Triết Học chưa giải được những gì không có chỗ chỉ mà Đạo Phật Sở Đắc.

Tâm Lý Học đã từng nghiên cứu, tác động con người từ tư tưởng phát hiện trên hành động, từ nơi ý nghĩ thấp cao của con người thì hành động nhịp nhàng theo giai cấp. Tâm Lý Học biết tất cả tâm lý nơi con người để điều động giúp đỡ theo nhu cầu của họ. Nhưng Tâm Lý Học chưa biết đặng tinh thần với vật chất dung thông trong tạng thức bản thân của con người mà trưởng thành tất cả sự việc. Theo sự nhận định trên thì:

* Khoa Học Thí Vật thực nghiệm những gì Phật đã nói hàng nghìn xưa, nay mới bày biện.

* Triết Học Hóa Giải những gì Phật đã dạy.

* Tâm Lý Học thâu nhận các linh động cốt đến hiểu biết từng lớp con người, những gì mà Phật đã giảng. Những thành quả trên với đích đức Phật chủ yếu đưa con người Giác Ngộ thoát khỏi Vũ Trụ với con người đã biết nhận định.

Đứng trong tư thế con người, bước vào Tôn Giáo cầu lấy Cách Mạng bản thân thường bị vấp vào nơi phản Tôn Giáo, phản Cách Mạng bản thân. Đến chừng thông đạt Vũ Trụ với con người biết điều hành ngự chế khi bây giờ không còn gọi là phản Tôn Giáo hay phản Cách Mạng bản thân nữa, vì sao? Vì chưa biết sử dụng tư tưởng nên tư tưởng lệch lạc bản thân bị phản đối, do đó nên mới có PHẢN TÔN GIÁO, PHẢN CÁCH MẠNG BẢN THÂN. Nếu con người biết vận dụng tư tưởng thì nên lúc tư tưởng phát sinh, những tư tưởng nào không thực chất chớ phơi bày tư tưởng đó ra, chính mình phải tự hóa giải nó đến thực chất. Bằng phơi bày ra mang đến cho con người không có lợi lại thêm vào nó mê tín cuồng si bị chỉ trích, tự mình phản lấy mình còn phản tinh thần tôn giáo nữa. Thế nào gọi là tư tưởng không thực chất? Tư tưởng không thực chất là: Tư tưởng ngoài chơn tánh, xa chân thể khó thành tựu đặng. Cũng như: Không Hỷ Xả tạo Đức Độ, cỗi giải tâm, lại đòi tu luyện TÀNG HÌNH, thì thử hỏi làm thế nào đặng. Duy chỉ Đức Độ Từ Bi tâm rộng rãi giúp đỡ nhân loài an vui, thì dù cho có đứng trước Quần Chúng đặng con người Lễ Bái, cần chi phải tu luyện Tàn Hình?

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

1. GIỚI THIỆU

Là một Tài Liệu chung gồm tất cả các Môn học hỏi của con người như: KHOA HỌC, TRIẾT HỌC, TÂM LÝ HỌC cho đến SIÊU HÌNH HỌC trở thành Chân Lý Nhà Phật, căn bản giúp cho con người đã có sẵn TÍN TÂM, mong cầu TRI KIẾN, tìm con đường GIẢI THOÁT.

Tập nầy nói lên mục đích chính của ĐẠO PHẬT, là một Giáo Môn lần đưa con người Khám Phá Vũ Trụ làm chủ Vũ Trụ Bất Diệt.

Hiện tại Thế Giới khám phá Vũ Trụ trên hiện vật, nhưng chưa chắc đã hoàn mỹ bất diệt, vì sao? Vì hiện vật có hoàn mỹ chăng mà Thân Mạng con người chưa hoàn mỹ vẫn gị diệt sanh, chưa đoạt đến đích chính của Thân Mạng.

DI BÚT KÝ trong tập nầy giúp cho con người đặng hoàn mỹ SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Ấn Ký

DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH VŨ TRỤ VỚI CON NGƯỜI

Sự nhận định con người với Vũ Trụ, vấn đề này được nêu ra từ lâu. Khi con người biết nhận thức đến Tinh Thần đồng Vật Chất thảy đều có giá trị, đời sống, lẽ sống không tồn tại, chưa bao giờ thoải mái bền lâu, dù cho có cũng trong chốc lát bay theo ngọn gió cuốn mây bay, đương nhiên con người phải truy tầm những gì trong phút ấy, kéo dài ra cốt đáp ứng lâu bền sự sống, nguyện vọng của con người đón nhận có bấy nhiêu.

Bậc trí có lý tưởng sâu xa, tự vấn đáp biết đặng: TƯ TƯỞNG LỆ THUỘC BẢN THÂN, TINH THẦN NUÔI VẬT CHẤT, nên họ dùng tư tưởng lần biết tỏ thông tiến bộ, dụng tinh thần bồi dưỡng Bản Thân, đó chính bậc trí đã thực hành. Nhưng chưa bao giờ quyết định rõ ràng: VŨ TRỤ VỚI CON NGƯỜI đã sanh ra bao đời kiếp?

Từng lớp sống nơi con người có thể biết, đã có bao nghiêu thành phần người sống, qua bao thế kỷ đổi thay. Đã từng có nhiều hoàn cảnh đem đến cho con người ngang trái, nếp sống, đời sống nơi con người trải qua rất nhiều bị trị, chỉ vì con người vấp phải cái sống tạm trên Trái Đất chuyển xoay, nên hoàn cảnh xoay chuyển, dù sao chăng cũng không ngoài Vũ Trụ.

Nhà Hiền Triết có trí thức nhãn quang, nhìn quả đất vòng quây, xem Vũ Trụ linh động. Còn con người đón đợi trái đất dừng lăn, Vũ Trụ chớ di chuyển, hoàn cảnh chớ xãy ra, việc đời đừng thay đổi, thì thử hỏi con người mong đợi có hợp tình, hợp lý với Vũ Trụ và Trái Đất chăng ? Nếu việc đời dừng trụ đứng yên, hoàn cảnh chẳng thuyên diễn thì chẳng khác nào đêm khuya yên giấc, con người và vũ trụ chết khô, tìm đâu cho ra cái sống, có phải sự hoài mong nơi con người ĐỐI TƯỢNG với Vũ Trụ chăng? Chính nhà Hiền Triết chưa suy nghĩ kịp như thế.

Nói đến kiếp con người đã có từng bao nhiêu thế kỷ, con người với con người. Họ cũng đã sắp xếp thực hiện nhiều tài liệu, chương trình cốt phục vụ nhau, họ đặt thành hy vọng ngày mai đem đến lẽ sống hoàn toàn thoải mái. Do đó mới phát sanh TÔN GIÁO và TRIỀU ĐẠI, ĐẢNG PHÁI đều một mục đích bảo toàn nếp sống cho nhân loài thanh bình thịnh vượng.

Theo triển vọng chủ đích con người: SỐNG HIỆN TẠI, XÂY DỰNG HIỆN TẠI, nên mới vạch con đường chánh cứu giúp con người, chỉ vì quá nhiều tư tưởng mỗi thời có mỗi lập dị riêng, sự đồng tưởng bất đồng tưởng tương tranh thay đổi nên mới có chế độ nầy sang chế độ khác, mãi tiếp diễn làm cho con người cứ trải qua 20 năm có trận thay đổi lớn nhỏ tùy thời, sướng khổ tùy thế, lịch sử chép ghi biết mấy pho đầy đủ.

Con Người đã có sẵn tập quán thói quen, nên chi từ sự ăn uống, nề nếp lối sống, tục quán thảy đều quen thuộc. Nếu đem đặt con người vào hoàn cảnh chi hay khuông khổ chế độ nào sống lâu ngày thời gian tính vẫn quen nền tảng ấy. Nên chi các nhà Tôn Giáo, các Chính Trị Gia, Triều Đại, Đảng Phái mới dùng, mỗi Tôn Giáo có mỗi sắc thái văn tự riêng. Mỗi Triều Đại có mỗi Sắc Phẩm riêng, mỗi Đảng Phái có mỗi hành động cử chỉ riêng để cho con người tập quán quen thuộc dễ trung tín.

Con người thường có tánh kiên sợ lúc ban đầu, nễ khi đã chinh phục đặng. Lúc qua cơn sợ hãi tâm ý hồi tỉnh, nhìn lại đối phương giảm lần sự chinh phục, vấp phải nơi bất chơn thì con người kia phát sanh liều lĩnh, càng đem sự đè ép bao nhiêu lại càng nung nấu cho con người liều bấy nhiêu. Bằng vỗ về quí mến thì con người quay về nơi chinh phục.

Nên chi con người gặp thời thế thay đổi hay cảnh nhà tai biến, trước nhất con người lo sợ, đến hết nơi sợ lại đâm liều duy chỉ con người lo âu sợ sệt có hai lý trí: Một là thay đổi gia cảnh sướng hay khổ, hai là thay đổi chế độ mình Bị Trị hoặc Giải Cứu, gặp Minh Vương hay Quan Tham Ô Nhiễm. Con người lúc nào, thời nào cũng thế, đứng trước Giao Thừa thường hay lo nghĩ, cho nên đối với con người SỐNG LO ÂU, CHẾT SỢ SỆT, đứng trong Vũ Trụ với Con Người chẳng biết về đâu là vậy.

Trên đã nói: TÔN GIÁO giúp TINH THẦN. Nhân Sanh Chánh Trị xây dựng Vật Chất, lời nói ấy con người đa số nhận định được. Nhưng tại sao chưa được hưởng? Tại con người chưa biết giá trị phải làm mới đến, có tìm mới thấy đó chính lời thực tế đối với tinh thần vật chất hai nơi. Khi con người truy tầm về tinh thần toại hưởng thì ít nhất phải có tự tánh giải mê, tự cường nâng tư tưởng, còn về vật chất chính mình phải tăng năng xuất, đứng về hai mặt phải phát triển lấy mới toại hưởng, bằng nương nơi tinh thần cầu vái, dựa theo vật chất chờ mong dịp may mang đến, khó mà kết quả trong kiếp con người.

Hai nữa: Con Người muốn dựng nên hương vị thỏa mãn thân tâm, trước tiên chính mình phải khắc phục mình, bằng cách dẹp Cá Tánh, sử dụng tư tưởng làm kẻ đưa đường, dùng lý trí sáng soi làm ngọn đuốc tâm chí quyết định không lùi trước mọi khó khăn đặng CHÍ DŨNG. Lúc Con Người có đầy đủ Công Năng Chí Dũng thì chắc chắn đoạt đến thành công.

Tinh Thần thoải mái làm thế nào mà có? Muốn có tinh thần thoải mái, tâm ý phải thi hành HỶ XẢ vì Hỷ Xả sáng tạo ĐẠO ĐỨC, đức lớn Quỉ Thần kiên tinh thần vui vẻ thoải mái. Bằng Tâm Ý thắt chặt, lưu tâm mọi sự việc đối với đời, đối với mọi người lúc thớ lỡ va chạm, đối với hoàn cảnh trái ngang, chính mình trói buộc ghét vơ thù hận, liền tự mình mang lấy phiền trách, phiền não, mang lấy tê liệt tinh thần đâm ra buồn đời trách bạn vô ích, nên có câu:

Kẻ chán đời, có nhiều tham vọng.
Sống yêu đời, thắt thẻo non sông.
Người xa đời, lối sống viễn vông.
Đồng chung BIẾT SỐNG viên thông mọi bề.

Đối với Con Người Chí Cả, đoạt đến đích sống thanh cao khoát đạt, có thể mang đích sống ấy cho Quần Chúng ích lợi. Trước tiên phải chinh phục đa số con người được sự tán trợ xây dựng, liền được con người suy tôn vào hàng THÁNH, khi bấy giờ mới có giá trị.

Bậc Thánh nào cũng thế, bậc Vĩ Đại Siêu Nhân nào cũng vậy, đều có tinh thần phục vụ nâng đỡ đời sống của con người có sẵn mục đích tiêu chuẩn rõ ràng, hường dẫn con người thực hành kết quả. Có kết quả nên con người tỏ lòng ÁI KÍNH bậc Thánh, khâm phục Siêu Nhân lẽ dĩ nhiên phải như thế.

Khi đứng vào hàng Thánh, hàng Vĩ Đại không bao giờ lấy mục đích Suy Tôn Cá Nhân, Cá Tánh làm hãnh diện, chỉ nhìn nơi quần chúng mức tiến bộ, mức kết quả đích Lãnh Đạo làm an vui, do đó nên thường sát nơi con người để nâng đỡ từng lớp hợp tình, hợp lý toàn dân Ái Kính Khâm Mạng.

Từ nghìn xưa, đến thế kỷ thứ 20 ngày nay, bậc THÁNH TRIẾT thán phục các hàng THÁNH, các hàng VĨ ĐẠI SIÊU NHÂN, mỗi thời mỗi vị ra đời đều phục vụ tích cực đáng kể, xem việc nước hơn việc nhà, xem Tín Chúng hơn con đẻ, vì Đạo chớ không vì mình, vì Quốc Gia hơn vì riêng tư sung sướng, cho nên chép ghi nhiều tài liệu tỉ mỉ cốt để lại đời sau. Đến bậc thừa kế hướng dẫn y theo GIÁO ĐIỀU, y theo Tôn Chỉ Mục Đích không sai chạy. Nhưng lạ lùng tại sao Tín Chúng, Toàn Dân chán nản? Vì y theo Giáo Điều chớ chưa y nơi tích cực tinh thần hiểu biết linh động khéo léo lần đưa, do đó mà suy thoái.

Nhà Thông Thái nói: “Toàn thể con người khôn trước Triều Đại. Nếu Triều Đại biết con người khôn phải lần theo con người hướng dẫn. Bằng Triều Đại rõ biết trách nhiệm Quốc Gia, có bổn phận gìn giữ an lành cho dân chúng, hơn là trị an dân chúng thì con người mau phát triển đặng Quốc Thái Dân An.”

Trong con người thường hay có tư tưởng học làm người. Nhà Thánh Triết nói:

Học làm người không bao giờ làm người đặng.
Hãy học làm Thánh liền biết làm người.

Bậc Thánh ra đời tùy theo Thời Đại. Vĩ Nhân lộ diện tùy cuộc Thế đổi thay, hai lối tượng trưng cho con người tiến bộ vật chất lẫn tinh thần. Đời con người nơi cái sống rất cần có tinh thần vật chất tương song, không thể sống mỗi một bên gọi là hoàn mỹ.

Nên Lão Tử ra đời chuyên chú về tinh thần, Ngài nung đúc con người hướng thượng, thành lập THIÊN ĐẠO, dụng thuyết VÔ VI giải tỏa kiếp người, đưa về THIÊN GIỚI, gạt lòng tham, giết chí nhỏ nên Ngài nói: “Nếu ta không muốn những gì của ai, thì cần chi phải sang đoạt? Bằng ta không sang đoạt, có ai đến đòi ta.”

Sau đức Khổng Tử ra đời chủ đích dung thông vật chất với tinh thần, chăm đạo làm người, nâng đỡ con người hướng thượng, nên Ngài mới gọi con người có tư tưởng khoát đạt là QUÂN TỬ. Nhà vua được gọi là THIÊN TỬ, con vua là THÁI TỬ, con quan là CÔNG TỬ, Ngài dạy con người biết xét mình, biết trọng người, biết TIÊN TRỊ KỲ GIA, HẬU TRỊ KỲ QUỐC, thời Ngài được nhà vua Sùng Ái, toàn dân Kính Nể, dùng tài liệu nơi Ngài làm nền Văn Hóa trị vì. Ngài sắp đặt Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín bằng sự đối đãi ăn ở với nhau. Văn thi của Ngài đặng ưu tiên nhất bên Đông Phương ứng dụng. Sau nầy cách mạng cải tiến mới cải hóa nhiều để con người theo trào lưu tiến bộ, chừng ấy mới tạm ngưng.

Có thời tại Ấn Độ, thành lập đạo BÀ LA MÔN do ông Krichna sáng tạo, với đích tôn thờ Trời Phạm Thiên (Brahma) cốt gây tạo mê tín thần quyền làm cho dân Ấn Độ thời ấy cuồng tín vô cùng.

Phái nầy chia ra Bốn giai cấp, cung đốn cho một giai cấp cao quí nhất gọi là giai cấp Đại Diện cho Trời Phạm Thiên tối cao, còn giai cấp thứ hai là giai cấp Chiến Sĩ Nhà Quan, đến giai cấp Tỷ Xá (Nhà Buôn) qua giai cấp Hạ Tiện gọi là Ty Tiện hèn yếu làm nô lệ cho tất cả ba giai cấp trên, giai cấp nầy đứng vào hàng dân giả. Các hàng dân giả nô lệ ít đặng gần nhau, họ sợ gần nhau ăn nói thô bỉ mang tội Trời phạt, nên chi họ có quan niệm: “GẶP VỊ THẦN THÁNH HÓA DỄ HƠN GẶP CON NGƯỜI NÔ LỆ.”

Sau nhờ Thái Tử TẤT ĐẠT ĐA (Phật Thích Ca) ra đời tại Ấn Độ, Ngài mục đích Cách Mạng Bản Thân trao giồi tư tưởng, xóa mờ tư tưởng bất công trên xã hội con người với con người, Ngài an bang tư tưởng bị trị hỗn loạn thống khổ, Ngài tranh đấu tất cả những gì xãy ra uy hiếp phản động với tư cách con người, cốt đưa xã hội vào trật tự mới, nếp sống thoải mái an lành. Chính Ngài đã khởi xướng con người đánh đổ tư tưởng thống trị áp bức, đảm phá hóa giải những bàn tay bóp con người vào vòng nô lệ, không hao giọt máu nơi con người, đoạt đến sự nghiệp viên thành, sáng lập ĐẠO PHẬT.

THIÊN CHÚA GIÁO, do đức Chúa Jésus thành lập, Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, trăm điều nơi Ngài là LÀNH, ngàn sự nơi Ngài đều TỐT. Ngài chính bậc cứu thế, đấng cha lành con người nương tựa. Con người thảy đều CON CƯNG của Chúa, nên chi có câu: “LẠY CHA. CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI,” thể hiện giá trị con người đang đứng trước mặt Chúa. Ngài là đấng Toàn Năng, Ngài có đầy đủ Đức Lực cứu giúp con người, miễn con người TIN MÌNH CHÚA, tin Ba Ngôi Chúa, với phép lạ cứu thế vô cùng huyền diệu.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN