13. TỌA THIỀN

Trước tiên vào tu Tọa Thiền phải NIỆM PHẬT. Hành Giả rửa tay, rửa mặt, nếu tắm càng tốt, xong đâu đó đốt hương lên bàn thờ Phật, bái lạy ba bái, ba lạy. Vào nơi Tịnh Cốc hay phòng riêng.
- LỐI NGỒI:
Ngồi Bán Già, mặt quay về hướng Bắc. Hai bàn chân để ngữa, tay phải để dưới, tay trái đặt lên trên, hai cánh tay đồng duỗi thẳng, đặt hai bàn tay ngữa dưới rún giữa nhượng chân của Bán Già. Ngồi im tâm thanh tịnh giây lát, bắt đầu niệm Phật 10 câu, mỗi câu 10 lần. Lúc chưa thuộc thì niệm mỗi một danh hiệu: NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT độ 15 phút, niệm bằng TÂM NIỆM tốt hơn hết (Tâm niệm là niệm không ra tiếng, niệm bằng tư tưởng niệm.) Xong bái một bái.
- TRANG TRÍ CHỖ NGỒI:
Ngồi, Hành Giả phải ngồi trên một tấm nệm bề 80 phân vuông, dài hơn bàn tọa cũng được, gọi là tấm NÁP. Ngồi trên bộ ván hoặc trên giường có nệm càng tốt, chớ nên ngồi dưới đất không có Náp. Ngày xưa chư Tổ thường xây cất CỐC riêng, nếu Hành Giả cất Cốc càng tốt, còn không có Cốc thì tọa thiền trong phòng riêng. Nên nhớ : Nhà có sẵn bàn thờ Phật thì đốt hương lên bàn thờ, bằng chưa sắm bàn thờ thì vào phòng trước khi Tọa Thiền bái ba bái, sau đó mới niệm Phật.

- TỌA THIỀN:
Khi niệm Phật, mặc áo rộng hoặc đồ bà ba mỏng. Pháp Môn niệm Phật xong bái một bái như trên đã dạy. Lối ngồi Bán Già, Hành Giả thay áo, chỉ mặc quần cụt, giây lưng nơi quần nên nới rộng, vì lưng quần bị thắt chặt lúc ngồi, các pháp chẳng thông hay bị đau lưng hoặc đau ruột về sau. Pháp Môn Thiền Tọa phải cho thông thả, thoải mái. Bên Tây Tạng tu Thiền Tọa, họ chỉ cho đóng khố, bên Nhật Bản cũng thế, miễn sao khỏi trói buộc vướng mắc là được. Lúc chỉnh trang xong đâu đó, hành giả tọa Thiền Tĩnh Tâm êm lặng 5 phút.

Bắt đầu Thiền Tọa bằng lối SỔ TỨC QUÁN, sổ tức đếm bằng tâm niệm, tai vừa nhận nghe, không nên đếm lớn tiếng. Đêm đầu đếm từ 1 đến 200 hoặc 320, đếm xong DỨT KHOÁT TƯ TƯỞNG. Ngồi dứt khoát tư tưởng đó là tu Thiền. Ngồi như thế mỗi thời là 20 phút đến 40 phút. Ngồi càng lâu càng tốt, tùy theo căn cơ, tùy theo sự cố gắng Tin cẩn của Hành Giả.

Đến đêm thứ hai, vẫn Niệm Phật, Sổ Tức Quán, đếm từ 1 đến 320 hay 490. Đếm Sổ Tức phải đếm từ từ, chớ nên nôn đếm mau. Đếm Sổ Tức cốt cho Tâm Tịnh để nhập Thiền, đếm xong liền dứt khoát tư tưởng như trên. Tọa Thiền mỗi đêm công phu như vậy từ 20 phút đến 45 phút hay 60 phút. Nên nhớ, đếm Sổ Tức Quán trong 7 đêm, sau nầy vẫn Niệm Phật, khỏi đếm Sổ Tức Quán nữa, cứ như thế cố gắng Tọa Thiền.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

12. TỨ THỜI THIỀN TỌA

Các hành giả tu Thiền Tọa, xa lìa Thể tánh, chưa rõ Thiền Tánh, tự lập Định Tưởng, Thường Tưởng hay nghiên cứu dự đoán thảy đều sai lạc. Chẳng khác nào như kẻ lấy VÔI làm BÁNH, một khi BỘT là BỘT chớ không thể nào lấy BỘT làm VÔI, lấy VÔI làm BỘT đặng. Thiền Tông quyết định phải từ nơi THỂ TÁNH mà thành tựu CHÁNH GIÁC vậy. Tu Thiền có BỐN THỜI như sau:

SƠ KHAI TRIỀN MIÊN ĐỊNH
TRUNG THỜI RÕ RÕ SOI
HẠ LAI THU NHIẾP CHỈNH
HOÀN TẤT KHẢI KHẢI MINH.
Tu Thiền có bốn cấp bậc tu đạt. Từ Sơ Thiền qua Nhị Thiền. Tam Thiền đến Tứ Không Thiền, bốn cấp này Kinh Pháp của Đức Chí Tôn đã dạy nơi cơ chỉ Tọa Thiền, còn về Thiền Trí vốn có Tứ Cấp nhận thức cùng khai hoang nơi Chân Lý Thực Tiễn đến toàn diện Sở Đắc như sau:

1. SƠ THIỀN:
Những bậc Sơ Thiền cấp nương nơi Công Năng Đức Độ hóa giải hay dùng lý trí mà nhận chân nơi: Phật Pháp bất ly thế gian giác Thấy Rõ, Biết Rõ, Nghe Rõ những điều mà nhân sinh chưa nhận chân đặng thế gian, bậc sơ thiền nhìn nhận chu đáo hơn. Như: Ta bị nghiệp kéo lôi biếng trễ. Ta vướng vào hoàn cảnh trói buộc mong thoát sanh, Ta mong thoát nó ra nó mãi đeo đuổi. Ta bị vạn pháp hữu hóa trăm phương nghìn cách. Ta phải vươn mình để Khỏi bị sanh tu qua các trở lực điều Ngự Vạn Pháp mà chứng tri Phật Đạo. Ngược lại lúc công năng Đức Độ Sơ Thiền tiến hóa hơn liền nhìn nhận Chu Đáo hơn như: Chính Thân Tâm mình hữu hóa vạn pháp, tất cả các nghiệp chính mình tự tạo còn phiền trách ai. Mình trói buộc mình lại kêu nài thoát sanh. Những bậc biết nhìn nhận như thế mới, tiến qua cấp bậc Nhị Thiền Khỏi sai lạc Thiền Tôn.

2. NHỊ THIỀN:
Mục Điều Ngự là một giới Thiền quan trọng, điều ngự cho Thân Kín Nhiệm, Khẩu Kín Nhiệm cùng ý Kín Nhiệm. Thân Khẩu ý này có Kín Nhiệm thời Thiền mới có thể điều ngự vạn pháp di chuyển. Vì sao? Vì Thân đang Tọa Thiền, di chuyển biến hóa, khi thân nhỏ, lúc thân to. Mắt nhìn thấy cây cảnh núi sông tai nghe tiếng nhạc trời, ý chẳng mừng rỡ, Khẩu Không nói ra khi mình tọa Thiền diễn biến mà vướng nơi năng sở chấp.

Những bậc Nhị Thiền đều nhìn nhận: Đa số bị lầm nhau, do nơi cảnh sanh tình, bất đồng nên gây ra hoàn cảnh, mỗi con người bảo thủ nhận lấy cái phải nơi mình mà tự sanh lắm nổi bất hòa nhau, dù muốn hay không muốn chăng, nông nổi bất hòa luôn luôn xảy đến. Hàng Nhị Thiền thật tỏ rõ đó chính là Tai nạn Hữu Hóa mà ra. Nơi Hữu Hóa này tự nơi Tâm ý của mỗi người ấy. Hai Nữa: Trình Độ giai cấp Thứ Vị ấy mà hữu hóa. Có Từng Phần ảnh hưởng nghề nghiệp từng lớp con người hữu hóa. Hữu Hóa nó có hai cơ sở. Một là thuận hữu hóa mến thương, hai là Nghịch hữu hóa bất hòa thù ghét. Chỉ vì hữu hóa từng con người cho đến lớp người mới phát sanh cạnh tranh hơn thiệt nhau, thành ra mới có:
Đời muôn mặt. Đất trăm phương.
Phật Vương, Chư Phật một nguồn Giác Nguyên.
Diễn hành Hữu Hóa chân thường.
Lòng không chìm đắm, đâu Vương mạch sầu?
Bậc Nhị Thiền Tọa Đạt Thiền Tánh, do Tâm Ý mong cầu mà Thiền Pháp Ứng Hiện, Tâm Ý mong Thần, Cầu Thánh, Thiền Pháp đồng hiện Thần Thánh, có khi không mong cầu vẫn gặp nơi Ứng Hiện, không lầm lạc, vì sao? Vì Thiền là Môn Chân Lý Thực Tiễn tu đạt Thiền Trí, ngoài Thiền Trí thảy đều Danh Ngã Giả Tướng, do đó không lầm.

Từ hàng nghìn xưa cho đến nay. Đương Lai nơi thời này, Lạc Pháp chỉ vì: Nó muốn như thế nào nó tu theo nó muốn, không còn cơ bản ấn quyết hướng dẫn. Vì sao? Vì theo ấn quyết bị giáo điều, theo cái muốn lạc hướng thành thử Thiền Môn, hiếm bậc thực hiện đúng theo thời Thiền tọa để tu đạt đến hàng Tứ Không Thiền đặng. Dù có bậc tu đạt đến Tứ Không Thiền vẫn trực thuộc về Tiên Đạo Thiền, chớ chưa hoàn mỹ mức Như Lai Thiền đặng.

Hôm nay Ta minh thuyết, con đường trọng yếu về Thiền Môn là một Long Mạch Chân Lý Thực Tiễn Thiền Trí. Còn phương diện Thiền Tọa là kiến tạo Công Năng Đức Độ, bồi dưỡng Thiền Trí phát huy. Không hẳn dùng Sắc Thiền mà Giác, chẳng phải dụng âm thanh nơi các Cõi Trời mà Ngộ, duy nhất có Thiền Trí, Giác Trí về Như Trí nơi Nhất Thiết Trí, tỏ rõ từng chủng trí hoàn toàn Chánh Giác.

Sự việc nơi thời Hạ Lai đối với Thiền Tông thảy đều là con số không căn bản Liễu Ngộ, toàn diện hay đa số Hành Giả tu Thiền thảy đều công dụng Thiền Quán Sắc Thinh ứng Hiện cho đó là mục tiêu chính trở thành sai lệch với Chính Tông nên chi mới có, phát huy Thiền Thần Giao Cách Cảm. Thiền xuất hồn, Thiền chữa Bệnh, Thiền nghiên cứu tu đạt Thánh Thần. Những điều này đối với hàng Nhị Thiền thảy đều tỏ rõ, vì sao? Vì Thiền Tánh di chuyển hữu hóa, tùy thuận theo vọng tâm, ý muốn tu cầu, rất hiếm Bậc Chủ Đích về Trí Tuệ, thâm nhập trưởng thành Thiền Trí.

Bậc Nhị Thiền nhờ Điều Ngự Thân Khẩu Ý, từ nơi ý thức kiểm chứng nhỏ nhen trở thành, chốn hỷ xả viên đạt rộng rãi. Từ nơi Khẩu kín Nhiệm lúc nào cần diễn đạt mới diễn đạt. Khi nào chưa phải lúc phải hồi diễn nói liền lặng thinh sáng soi thật tế đúng lúc, đúng hồi mới diễn nói. Thân Tâm trưởng thành bình dị mà tận thấu tu đạt Thiền Tánh, được như thế,đĩnh đạt như vậy mới vẹn tuyền Pháp Giới mà thâm nhập từng Pháp Giới, được gọi là Điều Ngự Trượng Phu, tiến qua bậc cấp Tam Thiền khỏi sai lạc.

3. TAM THIỀN:
Mục đề Thiên Nhân Sư. Hàng Tam Thiền không nhiễm trước. Trí tuệ đã từng qua giai đoạn cứu cánh, nên chi không ngưỡng vọng, quá khứ không hoài vọng vị lai, duy nhất hiện tại làm mức tiến, do như thế nên chi tỏ rõ Thiền Tánh, thấy rõ tất cả chúng sanh, sanh sanh hóa hóa, từng lúc từng khi, họ chỉ sống đồng sống, từ nội tâm đến ngoại cảnh, nhìn nhau nói nhau, thân nhau rồi xa nhau. Thân hình sắc mặt thay đổi, đổi thay, trong cơn vui buồn sướng khổ, sự thay đổi này do lầm nên hữu hóa.

Bậc Tam Thiền nói: Tâm Tánh Nó Như Thế Nào Nó Hay Hóa Như Thế Ấy. Tất cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới mỗi nơi, mỗi cảnh giới từng hàng Chư Thiên đến Rồng Người, cho đến Ma Vương, Quái Tặc loài chim loài chóc Thượng Cầm hạ thú, mỗi một cho đến bá thiên vạn triệu vô số, vô biên, không thể nói không thể nào kể hết, Thảy đều có Tâm Tánh duy nhất nơi nó, Một là nó hành động đi đứng, nằm ngồi cử chỉ của một giống nòi thảy đều đến cử chỉ giống nòi nó mà hành sự nói năng hay gầm hét, hoặc giả ầm ừ dùng làm hiểu biết nhau, thân cận nhau cảm mến nhau sống với nhau thỏa thích ưa chuộng, không khác nào thế giới loài người sống chung trong đô thị, vui vẻ nhảy múa ca hát cùng nhau hưởng thụ, cùng nhau xô xát, cùng nhau tranh cãi, khi hòa cho là phải, lúc bất hòa cho là quấy. Sự nghe thấy của từng các Cõi, các cảnh giới đồng với bất đồng, đối bậc Nhị Thiền thảy đều trái ngược nhau, do nơi hàng Tam Thiền dùng Giác thấy Tướng. Còn tất cả dùng Tướng thấy Tướng nên chi khó nhận đặng Giác Tướng vậy.

Hàng Tam Thiền, thật chứng cùng kiểm chứng Thân Mạng nơi cơ sở bồi dưỡng Thiền Trí, trao đổi sáng soi Tâm Tánh lầm lạc nơi chốn Hữu Hóa mới nói: Hay thay Đức Độ Lầm Mê thật tuyệt tác thay, giờ đây Ta mới thấu, Nếu đem thân mạng Ta, đứng trước con người, đứng nơi quần chúng, Họ thảy đều tán thán Ta, gọi Ta là Vị tu. Nhưng nào tận thấu Tâm Tánh Ta, đang lúc ấy, đang khi ấy toàn thân ta đang Hóa ra Hung Thần, đang diễn tuồng Qủy Tặc Ma Vương, hay Càng Cát nào ai đặng thấy, mấy ai đã hay để mà tường tận?

Bậc Tam Thiền tiếp nói: Ta nói thật hữu hóa đã tường tận. Khi Ta làm Phật hóa Ta không mừng, giai đoạn làm qủy ma Hóa Ta nào có sợ. Ta thường hóa, hay hóa Tâm Tánh nơi Ta thuần túy, cho nơi hóa là một món ăn đầy đủ phương thức, thành thử Tâm không quái ngại ý chẳng vương mang thức đặng Tự Tại mà tận thấu tất cả, vì chính Ta đã từng Hóa tất cả.

Ta chưa bao giờ ưa thích xuất Định. Như Ta thường Hóa thành thử Xuất Định. Ta Không thừa nhận nơi chốn Nhập Định, như Ta sáng soi Thường Tịch Quang trở thành Nhập Định. Ta chưa hề cho nơi chốn nào là Chánh hay Tà, vì đã từng ra vào các Cõi, nơi này Có thì nơi nọ Không, chốn này đồng thời chốn kia thiếu, thành ra chỗ này một môn chốn kia một khóa. Do đó mà tất cả chưa hề nghĩ đến tu cầu. Ta chỉ tu sợ vấp chấp, Bậc Tam Thiền chính bậc đã gần như hoàn tất Bát Nhã Trí qua tầm số siêu đẳng Thiền Trí, nương nhờ cung kính Như Lai Thề Nguyện Sự mà trọn lành như thế, nên được gọi là Thiên Nhân Sư.

4. TỨ KHÔNG THIỀN:
Thứ Bậc Tứ Không Thiền nầy, đương thời Đức Bổn Sư còn tại thế, tất cả những vị tu Thiền Tọa hiếm bậc đã tu đạt. Chỉ trừ ra Đức Thế Tôn Tu Đạt mà thôi, do đó nên chi có một số tu sai lệch phải qua nơi phi phi tưởng, Chỉ lầm nơi Chốn Không mà tai hại. Chốn không nầy là chốn Viên Minh Thường Tịch, sạch sẽ từ Sơ Thiền đến Tứ Không Viên Minh Chánh Giác, được gọi là Tứ Không.

Người Cư Sĩ, nào cầu danh giả
Lòng nhủ lòng, đồng hóa nhân sinh
Dụng Đời để Chỉ Viên Minh
Biết chăng, chăng biết lộ trình thế thôi.
Người Cư Sĩ, khúc nôi tường tận
Đâu nào đâu vướng bận non sông?
Chung vui vui với nhịp đồng
Đạo tràng dung khắp, nói không bến bờ.

Kỷ niệm 14 - 2 âm Lịch

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

11. TẠI SAO THIỀN TÔNG TÂM TRUYỀN TÂM LIỄU NGỘ

10. MINH ĐỊNH VỀ THỂ TÁNH CỦA THIỀN

Thời trước Đức Thế Tôn còn tại thế chẳng có Tông nào cả. Sau thời Đức Thế Tôn, các Tổ mỗi vị sở đắc một Giác Môn, lúc bấy giờ mới phát nguyện duy trì Bảo Ấn. Mỗi vị thành lập mỗi khối chỉ dạy cho tín chúng, khối ấy mới gọi là TÔNG, trở thành 12 Tông, nhưng có 5 Tông thịnh hành như: Thiền Tông, Giáo Tông, (Hiển Giáo), Mật Tông, Tịnh Độ Tông, Hoa Nghiêm Tông.

Đạo Phật kể từ thời thượng pháp đến thời Hạ Lai lạc pháp, thời nào cũng có Tổ thừa kế chỉ dạy. Có thời vị chỉ dạy nhiều, có thời vị chỉ bày ít. Có thời vị Bồ Tát từ nơi Thể Ứng Hiện, có thời thì vị Phật hiện thể, thời Hiện Thể chỉ dạy đầy đủ 12 Tông, đồng với 10 Danh Hiệu. Vị Phật hoặc vị Tổ cũng phải tùy thời thuận theo nghiệp của Chúng Sanh mà Hóa Giải bất luận tín chúng tại gia hay xuất gia mới nhất định tu đặng, miễn Tin Phật, Tin Pháp Môn, Tin Tăng chỉ đạo. Không khác mấy với các hành giả đứng trong giai cấp địa vị nào miễn tín thành thiết tha có Tâm cầu đạo là tu đặng.

Minh định về THỂ TÁNH của Thiền, Thể Tánh ấy do nơi chủng nghiệp của chúng sanh tự chia ra từng giới mà có. Khi đã trót mê liền bị lầm, đã lầm thì có lẫn, thường chướng đối nhau, cạnh tranh nhau, vướng vấp nhau sinh ra thù hận. Nếu chẳng chướng đối nhau, chẳng thù hận nhau liền có sự cảm mến nhau liên kết vẫn thành nghiệp Ái Nịch. Đứng hai tư thế, từ nơi cảm mến đến hận thù thảy đều là đường dây Sanh Tử luân hồi. Lúc tận giác mới hay rằng: Thể Tánh vốn an nhiên viên tịch, do sự mê lầm mới có cớ sự trên. Từ nơi THỂ TÁNH viên tịch sáng suốt vốn sẵn có nơi nhân sinh của con người, nhưng tại nhân sinh khởi vọng, động vọng, hoài mong, chạy theo sự hoài mong khát vọng từng giới hạn nầy đến giới hạn nọ, vì lẽ ấy nên chi từ Thể Tánh trở thành CHỦNG TÁNH. Đã thành Chủng Tánh riêng biệt, trình độ cao thấp rộng hẹp nên chia ra bốn giai cấp biệt lập khác nhau gọi là: Chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát, Chủng Tánh Phật, Chủng Tánh Phật lúc còn đang ẨN mê ngộ chưa phân gọi là PHẬT TÁNH, lúc giác ngộ gọi là TÁNH PHẬT, đến Chủng Tánh Như Lai Tánh. Tại sao Như Lai lại có tánh? Như Lai bất động không chỗ chỉ. Vì Bồ Tát quán Như Lai phải dụng tánh Bất Động trùm khắp để quán sát Như Lai, khi đã quán Như Lai gọi là Như Lai Tánh hoặc Như Lai Nhãn Tạng.

Khi đã minh định về Thể Tánh thì thử hỏi Thể Tánh có thể làm những gì? Những gì Thể Tánh cũng làm được, cũng đến được, khỏi cầu ai, chỉ cần biết khai thác Thể Tánh là dùng được tất cả. Vì vậy cho nên nhân sinh tu Phật biết nương nơi Thể Tánh giải mê lầm được Giác Ngộ. Nhân Sinh tu Thiền Tọa nương nơi Thể Tánh tỏ Thiền tức là tỏ Thiền Tánh. Nhờ Thiền Tánh mà viễn thông Tam Giới, tỏ rõ Tam Thiên khỏi lầm hết mê mà Giác Ngộ. Chớ nên khởi vọng để thấy Tam Thiên, chớ nên hoài mong xuất hồn nhập cảnh mà đoạt đến Tam Giới. Dù cho hành giả có đoạt Tam Giới Tam Thiên bằng ảo tượng xa lìa Thể Tánh mà đạt đến, thì nơi chốn ĐẾN kia thảy đều nằm nơi vọng tưởng Đảo Điên thành tựu. Nó không bền chi cả.

Bậc Trí khi tu Thiền Tọa cần nhất tự kiểm điểm lấy mình, từ khả năng đến công năng, từ tinh thần cầu đạo đến Nghiệp Chướng làm trở ngại bước đường tu tập nó như thế nào? Nếu nhận thấy bên nào khuyết phải dụng công bồi dưỡng thêm, nghiệp nào tính xấu xa chi làm cho đường tu Bất Tín, bất Hạnh Nguyện, bất cảm hóa nên hóa giải, nên chỉnh trang lại, để cho Thể Tánh được dung thông đó là biết khai thác Thể Tánh mà tu.

Lúc đã biết từ nơi Thể Tánh đồng hợp với Thể Tánh Chân Nguyên vũ trụ, nhưng vì mê lầm tối tăm do sự cản trở của nghiệp thức khởi vọng phải chịu với tư thế CHỦNG TÁNH CHÚNG SANH thì nơi chủng tánh chúng sanh nó có điểm nào cần nên canh giữ hoặc tiêu giảm nó. Khi biết được nơi chủng tánh chúng sanh có bốn đặc điểm đáng lưu tâm. Thế nào là 4 đặc điểm cần lưu tâm:

Thứ nhất: TĂNG
Thứ hai: GIẢM
Thứ ba: CẤU
Thứ tư: TỊNH

Nơi bệnh Tăng thường tự cao, tự mãn. Lúc tự cao cho mình hơn tất cả, khi tự mãn cho mình là đúng, là phải. Do căn bệnh Tăng thường lầm tưởng mình thông hiểu đạo pháp, ngỡ mình Đắc Đạo Tăng Thượng, lại ít học hỏi tu hành, tìm những pháp sâu đậm để tu. Thật nguy hại, làm cho bậc TĂNG xa lìa thể tánh.

Về phần GIẢM, Giảm chính là một căn bệnh thụt lùi thể tánh của mình đi xuống, mình bất tín mình, thân mạng của mình không biết ngự chế, đem giao thân mạng mình cho TRỜI, ĐẤT, QUỈ, THẦN, nên chi mình tự thán mình Nghiệp nặng, mình máng cho mình ngu si tăm tối để nhờ ơn trên ban cho mình. Do hai căn bệnh TĂNG, GIẢM làm sai lạc lệch Thể Tánh nên Phật mới khuyên các hành giả Lìa Ngã cùng Ngã Sở, cốt tiêu giảm bệnh Tăng, dụng pháp môn Tinh Tiến để nâng đỡ bệnh Giảm của chúng sanh.

Còn về CẤU, Cấu là một chứng tật khăng khăng cấu tạo gìn giữ. Cấu nên bị tập nhiễm, thường nhiễm Thọ Ngã, Thường Ngã bởi Cấu mà có. Khi hoài mơ vọng tưởng cấu tạo nơi mơ tưởng trở thành Nghiệp, do Cấu mới có thiên hình vạn tượng, có Tam Thiên chủng tánh, vì pháp Cấu chính là một pháp Sinh Tử Luân Hồi nên Phật mới dạy TỪ, BI, HỶ, XẢ cốt gây Đạo Đức. Do nơi Cấu mà có pháp môn BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA. Bằng không Cấu thì Tâm rỗng rang viên tịch, nếu không cấu thì Thể Tánh dung thông. Chủng Tánh chúng sanh nơi cấu rất là ngăn ngại, cấu chính là bờ ngăn chúng sanh giới vậy.

Còn về phương diện TỊNH, Tịnh là một phương tiện ĐỘ lúc bị ĐỘNG, Tịnh chẳng khác nào viên thuốc ngủ dùng lúc cứu con bệnh đang đau nhức. Đối với chúng sanh tánh hay lấy Thanh Tịnh để nuôi bạc nhược hoặc dung dưỡng tuổi già hoặc giả các bậc tu hành Nhẫn Nhục hay nhẫn nhịn để chấm dứt tranh giành gây hấn nên gọi là TỊNH độ ĐỘNG.

Đứng về thể chất của Tịnh, các bậc tu Thiền Tọa buổi ban đầu chưa minh xác tỏ tường Thể Tánh của mình hoặc của Thiền Tánh, bị vọng loạn giao động điên đảo mới dùng Tịnh cốt độ Vọng Loạn Điên Đảo. Độ xong vọng loạn điên đảo, sáng soi tỏ rõ sự điên đảo loạn vọng, như thế gọi là TỊNH GIÁC. Phải tu nơi Giác Tịnh mới tỏ đặng Thiền Tánh Thể Tánh duy nhất. Bằng chẳng Giác Tịnh, dụng Tịnh tu Tịnh hay bị nơi Cấu Tịnh lần đưa hành giả vào Tịnh Biệt. Khi đã lâm vào Tịnh Biệt Thiền Môn thì hành giả tối tăm mơ màng sinh ra căn bệnh RỖNG nơi đỉnh đầu rất khó chịu, có thể khùng dại nữa.

TĂNG, GIẢM, CẤU, TỊNH là bốn BẢO CHÂU đối với bậc biết tu, biết điều hành ngự chế. Khi biết thì hành giả từ nơi lạc loài sai lạc tu trở về Chân Thể. Bằng chưa biết tu, chưa biết sử dụng điều hành thì nó đem hành giả càng tu đến đâu, càng bị ngộ ĐỘC đến đó. Vì sao biết điều hành ? Vì bậc biết điều hành, gặp lúc chủng tánh sanh tánh ê chề lười trễ đường tu, thì hành giả phải tự nâng công phu, tự tăng sống động, đó chính là biết điều hành ngự chế. Lúc quá ư sống động Thể Tánh soi biết nên GIẢM đến mức độ quân bình, đó là bậc biết chế ngự điều hành.

Về CẤU, khi cấu tạo nhiều thành nghiệp, bằng không Cấu hoặc xả sạch Cấu vẫn mang nghiệp. Nơi CẤU biết dụng Cấu gọi là huân tập Nhiếp Độ. Huân Tập nhiếp độ thực hành cấu tạo để tỏ ngộ. Khi tỏ ngộ cấu đương nhiên dung hòa, cũng như Tịnh độ Động, tỏ Động liền hoàn mỹ Tịnh Giác vậy.

Lời diễn giải trên mới hiểu đặng vạn pháp biết sử dụng hay chưa biết sử dụng. Đối từ Thế Gian đến Xuất Thế Gian, trong công việc chi nó phải linh động. Một cơ xưởng kỹ nghệ, các máy móc bên trong nó vẫn điều hành chạy hoài, về vũ trụ bao la, vũ trụ vẫn sống trong mây gió. Chân Lý luôn luôn thao diễn sống động vô cùng đối với bậc biết tu.

Bậc biết tu thời nào cũng thấy Phật. Thấy Phật không phải chiêm ngưỡng hay tưởng tượng để mà thấy. Càng nương theo vết chân của chư Phật đã qua ngày nay bậc tu hành lần bước, càng bước bao nhiêu thì lời Phật dạy càng tỏ bấy nhiêu, đó là yếu tố thật thấy vậy.

Chân Lý là một Lý Chân. Nương theo Lý Chân thật sở đắc Chân Lý, các bậc tu tìm nơi Chơn Tánh để tu, lần tỏ Thể Tánh viên thông Thiền Tánh thì con đường tu hành rất sống động, thụ hưởng rất linh hoạt. Nhờ dụng Trí hóa giải, nhờ công năng lướt qua các chướng ngại Lý Sự mới nhìn nhận Phật Đạo cứu độ thích nghi hiện tại, thích ứng rõ ràng. Đối với Chân Lý, Phật Đạo không có pháp nào là pháp Thiện Ác, Tốt Xấu, Lành hoặc Dữ cả. Chỉ có bậc tu hành chưa am tường vạn pháp sống động linh hoạt, chỉ biết xem kinh mà chưa Liễu Nghĩa kinh, tu không Hóa Giải, chính là tu xác của nghìn xưa. Tu dụng Trí Tuệ hóa giải liễu nghĩa kinh pháp thực hành để tu, đó chính là bậc biết tu hiện tại của hiện tại thông đạt.

Thể Tánh luôn luôn sống động, khi các hành giả tọa thiền khởi vọng thế nào, Đức Trí ra sao, Hạnh Kiểm như thế nào, nguyện vọng ra sao thì Thiền kia chính nó là TÁNH của hành giả, biểu lộ hiện diện ra từng giai đoạn của hành giả. Hành giả ngỡ là Thiền Ứng nên Thọ Chấp nơi Thiền mà chìm đắm. Nên Phật nói: “NÓ MUỐN THẾ NÀO, THÌ THIỀN TÁNH THẢY ĐỀU ĐỒNG NƯƠNG, ĐỒNG ỨNG THEO CÁI MUỐN CỦA NÓ MÀ THUYÊN DIỄN Y NHƯ THẬT, NÓ NGỞ LÀ XUẤT NHẬP MONG MỎI THỤ CHẤP NƠI THIỀN TÁNH.”

Khi nhận định được Phật Pháp, hành giả tu theo môn nào chẳng hạn, không ngoài phải lượng theo tu sao cho phù hợp, có phù hợp mới có Trí Tuệ hóa giải từng giai đoạn ngăn chấp. Bằng khắc biệt, tu theo Lý Trí, nơi mình khởi muốn liền đương sinh vọng đảo mơ màng, phải nên công dụng PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN GIÁC. Đối với Thế Gian là một điểm tương tựa suy ngẫm cốt Giác Phật Pháp, đó chính là một tài liệu bất hủ vậy.

Ví như: Đồng hợp các chất, chất liền hóa chất, như đồng thanh tương ứng, đồng hữu tương cầu, Phật Đạo vẫn phải đi trong Tình Lý đó, vẫn thực hành tu nơi ĐỒNG HỢP ĐỒNG HÓA gọi là HÓA ĐỘ MÊ LẦM. Tâm Phật cùng Tâm chúng sanh không khác mà khác, vì chúng sanh chưa hợp với Tâm Phật nên chưa thành Phật. Nếu Tâm mong thành Tâm phải biết nương theo tu hành sao cho đồng hợp liền đặng hóa. Vì như thế nên Bồ Tát phải thực hành tu các pháp môn mà ngày trước Phật đã từng tu, nay Bồ Tát phải tu, chủ yếu hợp với Tâm Phật thành Phật.

Ngày nay các hành giả tu tìm Chân Lý lần tiến để tu. Thời xưa các Bồ Tát vẫn phải tìm tòi y như hành giả hôm nay. Khi các Bồ Tát biết được Lý Sự đồng hợp đồng hóa thì Bồ Tát mới Đại Nguyện BI, CHÍ, DŨNG, thi hành LỤC BA LA MẬT ĐA cốt đồng hợp với tất cả nhân loại mà HÓA THỂ NHƯ LAI thành PHẬT.

Đối với vũ trụ bao la, nhân sinh cùng khắp, từ các cõi Rồng, Người được gọi là NHƯ THỂ hay NHƯ LAI THỂ. Còn đối với các hành giả từ nơi THỂ mà hiện TÁNH tư riêng nên còn là THỂ TÁNH, lúc Tọa Thiền gọi là THIỀN TÁNH, khi làm xấu gọi là TÁNH XẤU, lúc làm đặng sự an lành gọi là TÁNH TỐT, nó không ngoài Thể Tánh, Thể Tánh nó còn đặng có một cái là NHƯ NHIÊN TỰ GIÁC nơi hành giả, nhờ như thế nên chi hợp hóa với vũ trụ NHƯ THỂ. Khi các hành giả tu tập chưa dùng CÔNG tạo nên ĐẠI ĐỨC, tức là Đức bao trùm Hỷ Xả nghiệp lậu kiết sử cốt TẬN GIÁC thì lấy đâu có Công Đức cúng dường Như Lai. Đã không có công đức cúng dường thì lấy đâu đến Tỏ Ngộ? Do tu tập Đồng Hành mới Đồng Hợp đặng Đồng Hóa. Các hành giả phải nương theo vết chân của chư Bồ Tát đã đi, hôm nay hành giả phải tu học thật hành cũng như thời trước chư Phật đã từng dùng BI NGUYỆN GIÁC THÔNG trọn vẹn, thời Bồ Tát cũng phải thực hành Hạnh Nguyện cho đặng THÔNG GIÁC trọn vẹn, đó chính là con đường duy nhất.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

9. THẾ NÀO LÀ BỐN TƯỚNG GIẢI THOÁT?

Bốn Tướng Giải Thoát là: THIÊN TƯỚNG, NHÂN TƯỚNG, CHÚNG SANH TƯỚNG, THỌ GIẢ TƯỚNG.

- Thiên Tướng chính là tướng Định Tưởng trụ xứ, khởi vọng mong mỏi, thanh lọc tốt xấu, tránh né Thiện Ác, lấy bỏ, cấu tạo, huân tập, nhiếp thâu trở nên tu luyện lầm vào Tiên Đạo.

- Thứ hai nữa là Nhân Tướng, nơi nhân tướng thường trụ, thường chấp, thường bảo thủ cá nhân cho mình tu hành chân chính, thương ghét không chừng, tu theo chí hướng qui định. Đến khi lòng hành giả vẫn tin Phật mà đường hướng sai lạc bị lầm vào Tiên Đạo.

- Thứ ba là Chúng Sanh Tướng, nơi tướng Chúng Sanh tu hành không chừng, không đổi, khi thích thì tu thật nhiều, lúc buồn chê chán bỏ tu. Lại thường nâng tánh tự cao, tự đại, chấp nhận mình khôn ngoan xảo quyệt hơn ai. Lúc chính Chúng Sanh Tướng lại tự hạ mình nghiệp căn xấu số không tu được, chê chán buồn khổ, vì nơi nghiệp chúng sanh tướng mà Phật nói Kinh Bất Tăng Bất Giảm để đưa chúng sanh tướng trở về bất thối, bất tăng, vì sao? Vì Thối sa vào Địa Ngục còn Tăng bị lâm nơi Tiên Đạo.
- Tướng thứ tư là tướng Thọ Giả, tướng Thọ Giả là tướng THỌ NGÃ, cho sự làm của mình là ĐÚNG, cho suy tưởng nghĩa Lý nơi mình là PHẢI, cho đường mình phải như vậy tướng định của mình phải như thế, nên chi Phật dạy lìa Ngã, tu đến trọn vẹn CHÁNH NGÃ, lìa Tiểu Ngã Giả Tưởng tu đến trọn vẹn ĐẠI NGÃ BÁT NIẾT BÀN.

Phật Đạo kinh sách rất rõ ràng, lời chỉ dạy không thiếu sót, nhưng mấy ai đã hiểu biết đặng trọn. Lúc hiểu biết được phải qua từng giai đoạn tu hành đầy đủ Công Đức tạo nên Công Năng, mới tùy theo Công Năng Công Đức minh định được đường lối tu khỏi sai lạc.

Minh Định về Như Lai Thiền phải có một đường lối chánh đáng căn bản dặn dò minh xác, chớ chẳng phải tu thế nào cũng đặng, nói thế nào cũng đúng.

Như Lai Thiền chính là một tập Thiền lưu lại thời Hạ Lai Mạt Pháp, dù cho đương thời Mạt Pháp bậc tín tâm thật hành đúng theo tinh thần thì đương nhiên hưởng thọ đặng thời CHÁNH PHÁP.

Tập Như Lai Thiền viết ra từng lời huyết quản chứa đựng chẳng biết bao nhiêu sự sống còn của Đạo Phật. Trong lúc nhân sinh lạc loài Bảo Pháp, lòng tôi không mong mỏi chi hơn là TÍN TÂM của các hành giả phải thật hành tu nơi CHƠN TÁNH, Hạnh Nguyện Độ Sinh lướt qua các Pháp Giới cốt TỎ PHÁP, tu không trụ chấp, ĐỨC TRÍ TƯƠNG SONG, ĐẠO HẠNH và TRÍ TUỆ DUY NHẤT, đó chính là Cúng Dường ngôi Tam Bảo vậy.

Hóa Thân ĐỨC TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Chính Đức VÔ THƯỢNG DI LẠC TÔN PHẬT Bút ghi

      Như Lai nào chỉ đâu bày,
Chủ tin đốn ngộ mới hay diễn tuồng. 
             - TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

8. THẾ NÀO LÀ SÁU CỬA THIỀN MÔN?

Cửa Thiền thứ nhất là: Võ Đạo Thần Thông Thiền

Cửa Thiền thứ hai là: Ứng Khẩu Thiền

Cửa Thiền thứ ba là: Thần Thiền hay Thần Quyền Thiền

Cửa Thiền thứ tư là: Nhân Thiên Thiền

Cửa Thiền thứ năm là: Tịch Tịnh Thiền

Cửa Thiền thứ sáu là: Tiên Đạo Thiền

Sáu cửa Thiền Môn trên do sở thích ưa muốn mà thành, do Duyên Căn mà đến. Sự mê lầm bao nhiêu lớp thì căn tánh nó có bấy nhiêu tuần, bởi sự mê lầm Trụ Xứ mới có LỤC ĐẠO: Thiên, Nhân, A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỉ đến Địa Ngục tận cùng.

Khi mà các hành giả ưa thích tham chuộng THIỀN để Trụ Xứ thì đến lúc lâm chung mãn phần sinh về cõi Thiên, đến Nhân, A Tu La, Địa Ngục cũng thảy đều Chánh Báo, Thọ Báo như thế. Sáu cửa Thiền trên Bổn Lai nó cũng như vậy, nó vẫn tùy thuận theo sự ưa thích mong cầu của hành giả Trụ Xứ mà đáp ứng theo như ý nguyện.

Khi hành giả ưa thích tham chuộng Võ Đạo hay Thần Thông Thiền để trụ xứ, thời lúc bấy giờ hành giả công nhận là Chân Lý tuyệt đối cao cống nhất chưa có môn Thiền nào bằng.

Lúc có hành giả ưa thích tham chuộng Ứng Khẩu Thiền để mong cầu Trụ Xứ thời khi bấy giờ hành giả không nhận thấy bên ngoài, liền công nhận là Chân Lý tuyệt đối cao cống nhất chưa có Thiền Môn nào bằng.

Khi bấy giờ có hành giả ưa thích tham chuộng Thần Thiền hoặc Thần Quyền Thiền van vái cầu mong trụ xứ, thời lúc bấy giờ hành giả kính nhận linh thiêng quyền phép, chân chánh tuyệt đối, cao cống nhất chưa có Thiền Môn nào quí bằng.

Lúc hành giả ưa thích tham chuộng Nhân Thiên Thiền để mong cầu xuất hồn tạo nên thần thức thanh thoát trực tiếp chư Thiên, thấu soi quả địa cầu trường sanh bất tử, nhân trí thánh nhân mà trụ xứ, thời hành giả công nhận là Chân Lý tuyệt đối cao cống chưa có Thiền Môn nào ví bằng.

Khi hành giả ưa thích tham chuộng Tịch Tịnh Thiền để trụ xứ, thời lúc bấy giờ hành giả công nhận Tịch Pháp là một pháp môn xuất ly thế gian giải trừ các nghiệp cấu, dứt hẳn nghiệp lậu kiết sử được Thanh Tịnh Tâm, dù vô tình hay cố ý mà lâm vào Tịnh nơi TIÊN ĐẠO hay TỊNH BIỆT, chẳng biết lầm tưởng chư Phật Đắc Quả không ngoài TỊNH, liền công nhận cao cống Chân Lý tuyệt đối chẳng có pháp môn Thiền nào không ngoài Tịnh.

Lúc có những hành giả ưa thích tham chuộng TIÊN ĐẠO THIỀN cho là thoát khỏi vòng sanh tử, tọa thiền để huân tập Trụ Xứ, thời bấy giờ công nhận Tiên Đạo thanh thoát dễ tu, dễ chứng, cảnh giới sung sướng an nhàn là một Chân Nguyên tuyệt đối chưa có Thiền Môn nào ví bằng.

Sáu cửa Thiền Môn nó đáp ứng nhu cầu của các hành giả, vì Thể Tánh thiền tùy theo Định Tưởng, tùy theo Tà Niệm, tùy theo Khởi Vọng, tùy theo Trình Độ, tùy theo Sở Chứng, tùy theo lầm lẫn nhiều ít mà trở thành như thế, nó không phải chánh giác, nó không phải là pháp Thường Chân, vì sao ? Vì Trụ Xứ dùng Bản Ngã Giả Tưởng tạo nên nó như vậy, nên Phật nói: NÓ MUỐN THẾ NÀO, NÓ ĐẶNG THẾ ẤY. THIỀN TÁNH TÙY THUẬN THEO SỞ NGUYỆN CỦA NÓ MÀ THÀNH.

SAU ĐÂY ĐẠI CƯƠNG: TÔNG, CHỈ, THỂ, DỤNG các Môn Thiền.

VÕ ĐẠO THẦN THÔNG THIỀN
Lấy Linh Thiêng dưỡng Thần Thức lập TÔNG
Lấy Điện Pháp, Thiên Điện lập CHỈ
Lấy Võ Công Thiền Tọa nhiếp thâu lập THỂ
Lấy Thanh Tịnh dụng hoa quả trường trai lập DỤNG

Phái Thiền Võ Đạo hiện nay chia ra nhiều lối, bên Tây Tạng dùng công lực tọa thiền phát sinh ra hơi nóng trong mùa rét, vị phụ trách về Thiền lấy chăn nhúng nước phủ trên thân mình của vị tọa thiền, tùy theo công năng mức độ hơi nóng trong người tự phát sinh đến chừng chăn khô mới lấy ra. Duy nhất phái này nhận lãnh tu thiền cao thấp ở nơi lấy chăn đắp nước trong mùa đông giá lạnh. Vị tu cao nhất phủ đặng 7 chiếc khăn chồng vào thân mình. Còn các nơi luyện Gồng, luyện Ngãi, xăm nơi mình, ở Thái Lan dụng Võ Thiền tu võ đạo, ở Việt Nam tu tại núi Thất Sơn nhiếp dụng Tinh Khí Thần.

ỨNG KHẨU THIỀN
Lấy Trai Đàn Lễ Bái Tín tâm lập TÔNG
Lấy Bút Cơ nhập xác ứng thi thơ lập CHỈ
Lấy Thanh Tịnh Thiền Tọa Linh Thánh lập THỂ
Lấy Trống Phách, Tế Lễ, Y Áo lập DỤNG

Phái nầy hiện nay có quá nhiều chia ra đủ hình thức, do trình độ mê tín như cầu Phật Mẫu, Đại Thánh, Thiên Tiên hay lên Đồng, cầu Bóng, nhập xác, dụng am miếu, không ngoài ứng khẩu cơ bút.

THẦN QUYỀN THIỀN
Lấy Linh Thần Hiển Hách Thiêng Liêng lập TÔNG
Lấy Chiêm Ngưỡng Thành Tâm lập CHỈ
Lấy Công Phu Thiền Tọa Tĩnh Tâm lập THỂ
Lấy Tinh Khiết Thần Miếu Trống Phách lập DỤNG.

Môn nầy thuộc về Thiền Thần Thánh phái, chủ về linh thiêng quyền phép, cho nên tín chủ phải thành tâm cầu khẩn, mong thần thánh phò hộ nhỏ phước cho, lại thường hay tế lễ trâu bò xây cất Chùa Thánh to lớn, tùy theo xứ sở địa phương, trình độ cúng tế.

Phái nầy có từ thời Thượng Cổ, thời ấy dân giả hiểu biết ít oi, mê tín lại quá nhiều nên chưa biết gió, mưa, lửa, núi do đâu mà có. Dân giả lầm tưởng TRỜI sai Thần Mưa, Thần Gió, Thần Sấm, Thần Sét, Thánh thời ban phước cứu độ non sông. Hiện nay danh từ này hãy còn. Sau khoa học tìm ra đặng sự thật ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA lúc đó mới tiêu giảm mê tín quyền thần của các vị ấy.

Đến thời Đức Thế Tôn hiện thể, chính là thời thịnh hành nhất của Thần Quyền. Có hàng trăm ngàn con cừu bị nhà vua, dân giả tế lễ trong một năm, có hàng vạn vạn con vật suốt cả năm đem đi tế lễ chư Thần. Đôi địa phương thời đó vẫn đem Đồng Nam, Đồng Nữ dâng cúng chư Thần làm vật tế lễ. Phái Thần Quyền là một phái kể không thể nào hết được sự mê tín tế lễ. Từ khi Đức Phật ra đời giải trừ mê tín, nghiêm luật cấm sát sanh tế lễ, dụng tinh thần thể tánh Tự Giác, Giác Tha cứu giúp chẳng biết bao nhiêu sinh vật cùng với nhân vật, cải Ác tùng Thiện rất nhiều, nhờ thế mà đỡ bớt.

NHÂN THIÊN THIỀN
Lấy Hướng Thượng cõi Trời lập TÔNG
Lấy suy tưởng luyện Tinh Khí Thần lập CHỈ
Lấy Thanh Tịnh nghiên cứu Tọa Thiền lập THỂ
Lấy Thanh Thoát Ngôn Từ Cao Đẹp lập DỤNG

Phái Thiền nầy hiện nay các nước ưa chuộng đang nghiên cứu. Đa số các bậc Trí Thức hướng thượng suy tầm trong hai lối : Lối thứ nhất Dưỡng Thần, nuôi thân chữa bệnh, dụng Thiền Tọa tiếp Thiên Điện, xuất hồn huân tập tinh hoa thần thức tạo thành căn bản đoạt quả THÁNH THÔNG gọi là Tinh Khí Thần làm cho Thần Thức giao cảm với cõi Trời sáng soi VŨ TRỤ.

Còn một lối thời dụng Thiền Tọa nghiên cứu Đạo Phật cốt TRI KIẾN SIÊU HÌNH. Hiện nay, Nhật Bản dùng Thiền ZEN và YOGA, còn ở miền Nam Việt Nam có phái THÔNG THIÊN HỌC.

TỊCH TỊNH THIỀN
Lấy Nghiêm Luật Giới Luật lập TÔNG
Lấy tu Tịnh lìa Ái Xuất Ly lập CHỈ
Lấy Thiền Tọa Khất Thực lập THỂ
Lấy Công Đức Công Quả lập DỤNG

Phái nầy thành lập y theo Tông Thiền của chư Tổ, y theo Tôn Chỉ của Đức Bổn Sư nên chi trên hình thức Đạo Tràng thành lập các TỊNH XÁ, các hành giả được xứng danh bằng SƯ SẢI, Y Áo vẫn đắp Y như đương thời Phật còn tại thế, tay bưng Bình Bát, đi đứng trang nghiêm chủ yếu xuất thế. Nhưng vì lạc hướng không đúng thời nên chi các Sư không thể nào gìn giữ đúng nghiêm luật cùng giới luật cho đặng, do đó mà Tông chẳng thành tựu.

Khi TÔNG không thành tựu thì CHỈ, THỂ, DỤNG bị sai trở thành tu TỊNH. Từ nơi Tịch Tịnh Thiền cốt TỊNH GIÁC, Tịnh Giác phải lìa Sở Ngã cùng Ngã Sở mới thành tựu GIÁC TỊNH. Bằng chưa lìa để tỏ ngộ mang thêm vào SẮC PHÁP TƯỚNG PHẦN thì bước đường tu trở nên Ảo Tượng TƯỚNG PHẬT. Từ nơi Tướng Phật Cấu Tịnh chủ yếu xuất Lấy Tịnh Biệt đen tối, Chân Lý mơ màng nên chẳng kết quả được bao nhiêu. Thêm vào đó có một phái vẫn y Tông Chỉ trên nhưng lại có phần thư thái hơn, tìm phương thức giải Mê Chấp, nghiêm luật tùy theo trình độ, tùy theo tinh thần ít gò ép, phái nầy gọi là NGUYÊN THỦY.

TIÊN ĐẠO THIỀN
Lấy Sơn Lâm Xuất Thế lập TÔNG
Lấy Thanh Kiết Thanh Tịnh Tâm lập CHỈ
Lấy Tọa Thiền Ly Dục Ly Ái Lập THỂ
Lấy Ép xác Trường Trai Ẩm Thực lập DỤNG

Tiên Đạo tùy theo căn tánh, đức tánh, trình độ, suy tưởng, định tưởng không ngoài THANH, THÔ, TẾ, NHỊ để tu tập thiền tọa. Cho nên tu Tiên đắc quả có thứ bậc. Pháp Môn Tiên Đạo Thiền duy nhất định tưởng, huân tập các pháp thanh cao, đẹp đẽ, lấy bỏ, lựa chọn, thanh lọc rồi mới nhiếp thu tu luyện. Các bậc tu Tiên Đạo Thiền phần nhiều ưa thích lên non hoặc nơi lâm sơn cùng cốc, vẫn có bậc chán đời xa lánh trần tục lên non tìm Tôn Sư để tu luyện. Bậc tu Tiên kể ra thời nầy cũng hiếm. Chỉ có bậc tu Phật lầm hướng tu hoặc chưa chu đáo lối tu nên chi càng tín thành tin Phật bao nhiêu mà sai đường hướng vẫn bị tu cầu hữu lậu Phước Báo Nhân Thiên sa vào Tiên Đạo. Sự lầm tưởng chẳng phải bây giờ mới có, thời xưa vẫn thường bị sai đường hướng cho nên kinh Kim Cang mới nói BỐN TƯỚNG GIẢI THOÁT cốt để lại đời sau tránh khỏi tu sai lạc. TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

7. TẠI SAO PHẬT THUYẾT PHÁP ĐƯỢC GỌI LÀ BẢO PHÁP?

Phật thuyết pháp có mục đích giải Nghi Chấp, phá đố tật lầm lẫn đem lại sự lợi ích hiện hữu. Khi Bồ Tát nghe được, nhận được thi hành theo lời chỉ dạy kết quả quí báu, nên được gọi là BẢO PHÁP. Cho nên những bậc xem Tam Tạng kinh điển nhận được lời kinh chỉ dạy thực hành Tu Chứng kết quả mới thấy Bảo Pháp sống động linh hoạt. Bằng xem kinh chỉ biết kinh, chưa nhận được thì làm thế nào thật hành tu tập đặng. Đối với tập Như Lai Thiền nầy dạy rõ Thể Tánh, tu Thiền cốt tỏ nơi Thiền Tánh, Thể Tánh nơi Thiền không khác với Pháp Tánh. Thể Tánh Thiền nương chìu theo từng TÀ NIỆM, từng KHỞI VỌNG của các hành giả mà nó từ Nhất Tôn Thiền Tọa đến Sáu Môn Ngoại Giáo, gọi là SÁU CỬA THIỀN MÔN. Trên đã nói 6 cửa Thiền Tông do vọng khởi mà có, nay các hành giả Tọa Thiền KHÔNG TRỤ XỨ, nhiếp độ trùm khắp để đoạt đến Như Lai Thiền. Bằng trụ xứ hay chìm đắm nơi Thiền chưa trọn Sáu Tông thì sai lạc nơi Tiên Đạo hoặc Thần Đạo chưa rốt ráo Giải Thoát.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

6. THẾ NÀO LÀ LẬP THỂ GIÁC?

Lập Thể Giác, Thể chỉ ngay Bản Năng của các Hành Giả, nếu Hành Giả tọa thiền mà bản năng thể tánh nơi hành giả chưa GIÁC, hay không chủ vi GIÁC thì tọa thiền vô ích hoặc tạo thêm cái mê lầm hoài ảo mộng tưởng lại thua kẻ chưa tu. Tu cốt soi biết VÔ MINH, giải trừ VÔ MINH, bằng chẳng giải trừ thì chưa lấy được một ngày tu.

Nên chi Tọa Thiền Như Lai lập CHỈ không trụ hành giả lần qua các pháp bản năng Tự Giác, Thể Tánh giải mê chấp. TÔNG, CHỈ, THỂ, DỤNG thảy đều tương song trợ giúp cho nhau. Khi hành giả nguyện độ chúng sanh thật hành dụng Ý Tứ, dụng TRÍ TUỆ, dụng NGÔN NGỮ, dụng ĐẠO HẠNH, dụng TỨ NHIẾP PHÁP, LỤC BA LA MẬT ĐA thảy đều là PHẨM TRỢ ĐẠO đưa hành giả đến Giác Ngộ.

TÔNG, CHỈ, THỂ, DỤNG của Như Lai Thiền chính là một pháp độ hoàn mỹ. Các hành giả từ nơi Công Phu đến Thực Hành phải có một đường hướng làm kim chỉ nam nương nhờ nơi đó mà Tri Kiến Giải Thoát, vì vậy cho nên thiếu sót khó thành tựu.

- BẢNG ĐỐI CHIẾU:
NHƯ LAI THIỀN - TỔ TRUYỀN THIỀN

Lấy Hành Dụng Như Lai lập Tông - Không Tà Niệm lập Tông

Lấy Không Trụ lập Chỉ - Chẳng Khởi Vọng lập Chỉ

Lấy Giác lập Thể - Thanh Tịnh Tâm lập Thể

Lấy Hành Nguyện lập Dụng - Lấy Trí Tuệ lập Dụng

Các hành giả xem bảng đối chiếu Như Lai Thiền và Tổ Truyền Thiền, nơi Tông, Chỉ, Thể, Dụng thảy đều có một mục đích chính làm phẩm TRỢ ĐẠO đưa hành giả tọa thiền kết quả như ý nguyện.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

5. THẾ NÀO LẬP CHỈ KHÔNG TRỤ?

Lập Chỉ tức lập một con đường đi trùm khắp trong Nhất Thể không trụ chấp. Chánh pháp không trụ là pháp THƯỜNG CHÂN, thành thử tu không trụ chấp cốt Hành Thâm Pháp Giới tỏ ngộ Như Lai Hành Dụng của Như Lai Thiền.

Các bậc tín tâm tu hành vị nào cũng ước ao tu cho đúng với tinh thần Phật Đạo, từ Hiển Giáo đến Thiền Tông vẫn có một tâm niệm duy nhất tu pháp THƯỜNG CHÂN, có tu pháp Thường Chân mới đến CHÂN THƯỜNG BẤT BIẾN.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

4. THẾ NÀO LÀ HÀNH DỤNG NHƯ LAI?

Nói đến Hành Dụng Như Lai, chỉ có Bồ Tát nương Công Đức của Như Lai mà lập Hạnh Nguyện Hành Thâm Pháp Giới Nhiếp Độ Vạn Pháp, thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa mới có thể biết đặng sự Hành Dụng Như Lai. Còn đem ra đặng diễn giải có thể nói: Vạn Pháp khi đã thành tựu hiện tướng gọi là TƯỚNG PHÁP. Tướng Pháp thì như: Quốc Độ, Tịnh Độ, Sơn Hà, Đại Địa đến các cõi, các cảnh giới trở thành Thế Giới Tam Thiên, tướng pháp đứng về Tướng Phần PHÁP THÂN PHẬT. Còn Hành Dụng Như Lai là lúc vạn pháp đang di chuyển trong khi chưa Hiện hãy còn Ẩn rồi sẽ Hiện, chưa Thành rồi sẽ thành, chưa đến kết hợp rồi sẽ đến kết hợp, chưa Giác có tu rồi sẽ Giác, chưa Đắc rồi sẽ Đắc. Tuy Như Lai Hành Dụng không có hình tượng, nhưng bậc đã tỏ thấu thật tỏ tường Như Lai diễn hành không thiếu sót, nên gọi là Như Lai Thể. Trùm khắp trong vũ trụ có không khí, có hư không, có thế giới, có xuất thế giới đến cõi Trời, cõi Phật, cõi Tiên thảy đều nằm trong NHẤT THỂ NHƯ LAI. Vì vậy nên nói đến Như Lai thời nói chung trùm khắp, chớ không thể nào nói mỗi một nhóm nhỏ mà chỉ NHƯ LAI được. Kinh Kim Cang có câu : “NHƯ LAI KHÔNG TỪ ĐÂU ĐẾN, CŨNG KHÔNG ĐI ĐÂU, GỌI LÀ NHƯ LAI.” (Như Lai Giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.) Khi các Hành Giả đã tu Như Lai Thiền thì nên thực hành KHÔNG TRỤ XỨ làm con đường bước đi cho rốt ráo.

Nếu từ đời này đến đời sau miệng đọc tụng: Tôi tu Như Lai Thiền mà hành giả trụ xứ bằng phương thức định tưởng hoặc cầu mong Niết Bàn trong viễn ly điên đảo mộng tưởng, thì chưa trọn Như Lai Thiền mà phải trụ trong Sáu cửa Thiền Môn, chọn lấy một cửa Trụ Xứ, vì sao? Vì Như Lai Thiền gồm 6 môn vào một bộ Như Lai Thiền nên gọi là Nhất Tôn. Nhất Tôn Như Lai Thiền, nên chi lập TÔNG hành dụng Như Lai tu hành Phật Thừa tỏ thông Nhất Thể mà trọn Giác.