TÂM và SỰ

Tâm và Sự nào rời Tướng Tánh,
Thử nhìn xem Tâm khởi Duyên sanh,
Bao nhiêu Tâm diễn Tướng hành,
Nương theo Tâm Sự trưởng thành Giác Nguyên.
Kể từ quá khứ Di Đà,
Diệu dùng Tạng Pháp chung hòa chúng sanh.
Phật Lực cứu cánh vô ngành,
Một câu Chánh Niệm trở thành Tây Phương.
Từ khi biến đổi Chân Thường,
Đến thời Mạt Pháp vẫn nương lời nguyền.
Bổn Lai Lai Bổn Chân Nguyên,
Dụng Tam Thế Dụng, vẹn tuyền Độ Sinh.
Pháp Tạng vẫn ánh Thanh Bình,
Khắp ngàn Tướng Tánh, lộ trình Như Lai.
Mượn đường Phật Đạo không hai,
Từ Mê trở Ngộ, không ngoài Tình chung.
Khuyên người Chân Tử buông lung,
Ngày hằng Tinh Tấn khỏi cùng Tử Sanh.
Khuyên người sát hại hận giành.
Ngày hằng Bi Trí liền thành Phật Tôn.
Khuyên người dâm dục lưu tồn,
Ngày hằng trừ giảm, tiêu mòn Nữ Ma.
Khuyên người tham vọng xa hoa,
Ngày hằng Tâm Niệm: thân ta Vô Thường.
Khuyên người luyến ái tình vương,
Ngày hằng chủ quán tấm tuồng chiêm bao.
Khuyên người học rộng tài cao,
Ngày hằng suy ngẫm đặng nào Vô Sanh?
Hiện hành một kiếp mong manh,
Khác nào trước gió chỉ mành treo chuông.
Khuyên người chớ biện luận suông,
Có Tu có Chứng, chính nguồn Pháp Tâm.
Không Tu thì phải sai lầm,
Bấy lời Pháp Tạng ân cần khuyên ai.
Phật Đài Bảo Pháp không hai,
Nụ cười Tôn Chủ diễn hoài Giới Sinh.
Âu Ca Phật vẫn thanh bình.
Thung dung tự tại, không mình, không ta.
Nghìn phương đều chốn Phật Đà,
Tâm Sự đồng nhất gọi là khuyên ai.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

PHẢI CHĂNG TU hay là LẬP PHÁP TRÍ

Phải chăng Tu Sửa thói Đời?
Hay là Hòa Hợp, Trí lời mở mang.
Phải chăng Tu chịu khổ nàn?
Hay là lập Trí cốt hoàn Thiện Minh.
Phải chăng Tu chọn Sắc Hình?
Hay là Tỏ Tánh Quân bình in nhau.
Phải chăng Tu chuộng phép màu?
Hay là phá chấp, trước sau Tỏ tường.
Phải chăng Tu lánh tình vương?
Hay nguồn Tâm Pháp,diễn tuồng Nhất Nguyên.
Phải chăng Tu phát lời nguyền?
Hay là Tâm rỗng vẹn tuyền Chân Như.
Phải chăng Tu thuộc văn từ?
Hay là xóa: Muốn Buồn, Mừng, Có, Không.
Phải chăng Tu xuất nhập đồng?
Hay là Bất Động vẹn phần Quang Minh.
Phải chăng Tu cứu độ hình?
Hay là suốt suốt lộ trình Vô Lai.
Phải chăng Đặng Mất không hai?
Khoe Tài khoe Đức nay mai Niết Bàn.
Hay là một kiến không màng?
Ly Chân sẵn Kiến, khắp tràn Phật Tôn.
Khuyên ai Tu chớ vuông tròn,
Tỏ tường Tướng Tánh, hơn lòn lạy xin.
Chẳng mong huyển hóa tròng thêm,
Hằng ngày thong thả, giải niềm bận mang.
Pháp Tương Đối, Pháp lầm than,
Vừa ngăn trí tuệ, lấp đàng Viễn Thông.
Phải. Quấy hai pháp song đồng,
Nghĩ thầm Phải Quấy cũng không bến bờ.
Lầm theo Tương Đối vọng mơ,
Thuận thương, Nghịch ghét làm mờ Chân Như.
Ngẫm suy chu đáo tận từ,
Tâm càng cổi giải đẹp tươi trăm đường.
Nếu nhận Pháp chấp liền vương,
Không cho mình phải lần tường Tỏ thông.
Càng Tu càng dốt trăm phần,
Ấy là tiến bộ dẹp lòng tự cao.
Pháp Trí đóng mở tiêu hao,
Ba hồi tối sáng khơi mào tỉnh mê.
Gắng công Tâm rổng rang về,
Thung dung sạch chướng,mọi bề mở mang.
Tu lập Pháp Trí khải hoàn,
Tu theo sắc tướng là đường quanh co.
Tướng Sắc Phương Tiện thăm dò,
Thực hành Nhất Trí chính đò Tâm Thông.
Khuyên ai Tu khéo mau gần,
Pháp Đàn Chư Phật cốt ngần ấy thôi.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

TRUNG ĐẠO

Tu thiền để giải cái Tham
Chịu khó nghe Pháp, chịu làm giải Sân.
Tham Sân tiêu giải sai lầm,
Si mê tan dẹp, tỏ ngần Chân Nguyên.
Người ơi! Chu đáo vẹn tuyền,
Con đường Phật Đạo, chủ chuyên phá mờ.
Đừng đem lười biếng ngăn mơ,
Đừng vì Ngã Chấp, làm mờ Chân Như.
Mỗi câu Phật Pháp văn từ,
Đều trong Diệu Dụng của Từ. Thế Tôn
Tinh Tiến căn bản lưu tồn,
Bố Thí, Trì Giới Thánh Tôn đều dùng.
Nhẫn Nhục, Thiền Định thung dung,
Phá mê, giải chấp, Đạo Trung thực hành.
Thời trong Tam Giới tỏ ngành,
Để đem Chân Tử đến ngành Phật Tôn.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
hồi 08 giờ ngày 03.11.Tân Hợi, Giá Lâm kỳ 2 (1971)
Chép theo lời xuất ngôn của Ngài

BA GỞI CHO CON: Từ Thị Kim Xoa (Hong Kong)

Nhiều lúc Ba ngồi định chép Thi,
Gởi Con chỉ sợ chạnh sầu bi,
Lòng thương, thương nhớ vô cùng tận.
Có nói ra đây chẳng ích gì.
Ba vẫn bình yên với tuổi già,
Cơm ngày hai bữa nhớ phương xa,
Lòng mong Con khoẻ, an vui vẻ,
Dù sống đơn sơ, vẫn đượm đà.
Lắm lúc nằm đêm với giấùc mơ,
Gặp Con đứa bé quá còn thơ,
Đang cười pha lẫn đôi mi nhớ,
Nhìn bóng lơ mơ sống lặng lờ.
Vẫn biết rằng Con đang nhớ Ba,
Nhưng vì chung sống chốn phương xa,
Bơ vơ lạ cảnh chưa bờ bến,
Đông chắc Xuân sang sắp có nhà.
Ba nguyện trời mây, vái nước non,
Công Ba tạo Đức, giúp cho Con,
Sớm vui khoẻ trí, đầy thong thả,
Cảnh Thuận tương lai, khỏi méo tròn.

TỪ THẾ THỌ

CẢM THÁN. Chân tử phương xa

Nhìn ảnh của Con gợi mạch sầu,
Mối Tình hai Cảnh bận lo âu,
Cháu đi Tây Trúc, lòng thương nhớ,
Bác ở Đông Thiên, luống bạc đầu,
Mai một gió hòa, mưa nắng thuận,
Vuông tròn tái hợp, cạnh bên nhau,
Hồn Thi mặt giấy buồn man mác....
Trọn tấm lòng trong, vẹn trước sau.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

TẠI SAO?

Tại sao hiểu biết chưa đồng?
Vì rằng Ý Thức đục trong cân lường.

Tại sao nghi chấp vấn vương?

Vì rằng kém Dũng, lòng thường lợi riêng.

Tại sao sáng tối triền miên?

Vì rằng chưa rõ, chưa yên bến bờ.
Nên chi dục vọng vẩn vơ,
Mong hoàn Bản Giác làm mờ Chân Nguyên.
Đến đây phải tu Hạnh Nguyền,
Hành Thâm Pháp Giới, Tròn Duyên Tứ Thừa.

Tại sao uể oải sớm trưa?

Vì nghe Giáo lý chẳng vừa vọng tham.
Đương nhiên Nghiệp Thức đón đàng,
Cản ngăn biếng trễ, Tâm phàm đắn đo.
Tại sao Bát Nhã không đò?
Như Trí suốt suốt khỏi lo luân hồi.

Tại sao tiến thoái kéo lôi?

Vì rằng chưa nhận được lời THẦY răn.
Tại sao suy tính lăng nhăng?
Vì rằng Đạo Hạnh khó khăn chưa hành.

Tại sao Trí quẩn cùng quanh?

Vì rằng Tà Kiến, chấp thành ngẩn ngơ.
Lìa Tự Giác, Tánh mật mờ
Nghĩ suy ảo tưởng, mong chờ Thần Thông.
Đương nhiên Đức Trí viển vông,
Tự sinh chán nản như lòng nói trên.

Khuyên ai Nung Chí Vững bền,

Hạnh Nguyện Tròn Giác, dựng nên Phật Đài.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

VÔ NGÃ

VÔ NGÃ chính pháp Không Ta,
Nhất Nguyên sẵn vẹn, đơm hoa khắp tràn.
Thường Còn vốn lại Thường An,
Chẳng thêm không bớt, một đàng Phật Tôn.
Bởi vì hữu Ngã bị tồn,
Lại thêm Danh Tướng, chỉ dồn mờ mê.
Phật thời Vô Ngã đề huề,
Chúng sanh Hữu Ngã nên tê tái lòng.
Chân Tử lià Ngã là xong.
Trọn tình Chư Phật, vẹn lòng Nhất Nguyên.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

NHÂN DUYÊN

Nhân Duyên liên kết rõ ràng,
Gieo Nhân Hiền Đức, Duyên đàng hoàng vui.
Bạn bè kính mến ngụt ngùi,
Gặp Thiện Tri Thức dưỡng nuôi Tu Hành.
Tạo NHÂN độc ác gian manh,
Duyên thành đói khổ, chạy quanh ngặt nghèo.
Càng làm, càng đến chỗ eo,
Lâm chung Thọ Báo, bị treo ngục hình.
Nhân duyên Pháp rất phân minh,
Thung dung chẳng đoạn, lộ trình Phật Tôn.
Khuyên ai: Tu khéo trường tồn,
Từ PHÀM đến THÁNH, chung gồm NHÂN DUYÊN.
Trước sau Chân Tử vẹn tuyền,
Như Lai Tam Thế lời Nguyền giúp cho.
Ấy là chính tạo thuyền đò,
Cứu mình cứu cả kẻ dò Tâm Nguyên.
Phật rằng: chẳng Độ Vô Duyên,
Không độ Định Nghiệp, đoạn nguyền Thế Tôn.
Hiện Phật ngăn kẻ vong tồn,
Chỉ chờ Địa Tạng cứu hồn,gây Duyên.
PHÁP TẠNG lời thật Chỉ Truyền.
Nên ghi nhớ lấy: Nhân Duyên khải Hoàn.
Nhân Duyên khéo trọn vẻ vang,
Pháp Đàn Bảo Phật, cúng dàng Nhân duyên.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Mùa trăng tròn tháng 8 – 1984

Đá bia nước chảy phải mòn,
Nếu không có nước, đá còn trơ trơ.
Chuyện đời ngơ ngẩn ngẩn ngơ,
Nương nhờ chiều gió đá ngơ vẫn mòn.

VÔ THƯỢNG TÔN
Lúc 8g25 ngày 28-4 năm Mậu Thìn (12-06-1988)

TỨ HIỆN

Có một buổi Trời êm gió mát,
Trước sân Chùa rải rác hoa đơm,
Vài ba chú Tiểu lom khom giởn,
Sư Cụ ngồi yên diễn đạo Thiền.
Hay thay! ỨNG HIỆN khắp trùng dương,
TRỰC HIỆN là môn Pháp cúng dường,
CẢM HÓA HIỆN hành thu nhiếp hiện,
Thật hành TẬN HIỆN. Thấu muôn phương!

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN