BÊN LỀ TÂM PHÁP: NGỒI XÍCH LẠI ĐÂY

Tôi chỉ vùng mây che mảnh Trăng,
Chỉ Sao nho nhỏ nháy tênh tăng,
Chỉ đồi rong phủ bên rừng thẳm,
Chỉ sóng lô nhô mặt nước nhăn.
Tôi nói những gì ai biết chăng?
Nói bờ sông lặng có cô Hằng,
Trăm hoa chen lá nương mùi gió,
Duy chỉ mình Tôi đã viếng thăm.
Tôi nghĩ những gì ai hiểu không?
Nghĩ nơi vạn nghĩ, nghĩ nơi lòng,
Nghĩ đường Thiên Trúc xa bao dặm?
Mà Tổ Bồ Đề gánh chữ Không.
Hãy xích lại đây Tôi chỉ cho,
Chỉ Tâm lầm lộn chịu thăm dò,
Nên hình Tam Thế là Tâm Pháp,
Nếu rõ toàn tâm khỏi đắn đo.
Pháp Tâm diễn khắp khắp phương phương,
Lầm bỏ lấy không lạc Vô Thường,
Bằng thấu trăm nơi Tâm vốn Pháp,
Chung gồm duy nhất, đắc Chân Thường.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Kỷ niệm 28-04-1971, Nha Trang
Vía Đức Đông Độ

XUÂN ĐẸP

Xác pháo mừng Xuân, trắng lẫn hồng,
Sân Chùa cành lá, cảnh chen bông,
Khói hương thơm tỏa, hồn Xuân thắm,
Bởi NGUYỆN khắp trùm núi với sông.
Một tấm lòng này đưa vạn cảnh,
Hai nương Tam Thế giải giao phong,
HẠNH dùng Bi Trí kiên giang hộ,
Trọn đến Hoàn ca giới vẹn đồng.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

TỰ THÁN TÌNH THI: TRẢI QUA. SOI GƯƠNG

Soi gương lặng lẽ nhìn gương,
Thân hình thay đổi, vốn thường thế nhân.
Tuy vẫn biết đôi phần ái ngại,
Tuyết phong sương, nào phải do Ta,
Sớm mai rồi đến chiều tà,
Dù cho Phật Thánh...trải qua nẻo này!
Nhìn non nước, vơi đầy sương đọng,
Gợi tâm tư thêm bận đồng sanh,
Bao nhiêu năm tháng long lanh,
Thời bao khúc giải nơi lòng Phật Vương.
Hôm nay nhìn đến tấm gương,
Chớm tình quê cũ, in tuồng tái tê...
Nhớ lại thời xưa, đã quá xưa,
Tấm thân nào phải mảnh trăng thừa,
Hình hài Bạch Ngọc, da Hồng Cẩm,
Đứng trước triệu dân cung thỉnh thưa.
Ta chẳng phải vì vua trong một nước,
Cũng không làm Bá Tước, Hầu Vương,
Quyền Uy siêu đẳng bất nhường,
Trang Nghiêm Quốc Độ, Phật thường tới lui.
Thời Hạ Thế, ngụt ngùi đôi nẻo,
Kiếp Đương Lai, thắc thẻo hai nơi,
Đưa tay nâng đở Đạo Đời,
Chung Tôn đồng Giác, chính lời Chúc ngôn.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
ngày 29.06.1982
nhằm ngày 09-05 Nhâm Tuất

THỜI HIỀN KIẾP

Bao nhiêu năm tháng bấy nhiêu ngày,
Thế sự nhân tình quá đổi thay,
Muôn mặt triệu lời xuôi ngược chống,
Trăm đường vạn nẻo biết sao đây?
Làm người khó gỡ Cao thiên hạ,
Thánh xuất nan Khai chính nghĩa hay,
Nếu biết chuyện đời chưa giải nổi,
Tu Thân hiện Kiếp thoát châu mày.
Thời Hiện Kiếp, đương thời Thánh xuất,
Càng lầm than các bậc khôn ngoan,
Nhân Trí nhân biết sống huy hoàng,
Chung cùng thế hệ vẹn toàn đâu vương?
Thời Hiện Kiếp, bước đường thực tại,
Hưởng vị Đời, thấu rõ Dại Khôn,
Cứ mặc nhiên suy tưởng bảo tồn,
Nơi trừu tượng chưa khôn như thiên hạ.
Chỗ Đắng Cay, nhận chân nhiều mới lạ,
Nơi Ngọt Bùi, cặn bã của triền miên,
Kẻ vô nhân ngỡ đủ vẹn tuyền,
Khúc tan rã chưa điên vẫn dại.
Thân Trí nhân duyệt qua từng thời đại,
Mình chính mình lẽ phải an nhiên,
Thân Tâm không trách oán phiền,
Vào đời vui cảnh thoát miền Thế nhân.

TỪ THẾ NHÂN Thọ Ký
Ngày 27-09-1980
tức ngày 19 tháng 08 năm Canh Thân

NHỚ LỜI CHÂN TÔN

Ngày xưa Hoàng Nhẫn mở đề thi,
Suốt thấu Tâm minh có những gì?
Lục Tổ Viên thông không vướng mắc,
Huệ Năng Chánh giác lãnh Chân Y.
Hôm nay Pháp Tạng Hạ Lai truyền,
Khắp chốn vẹn vừa Duyên với Duyên,
Tận Giác Có Không, thông Nhất Trí,
Minh Tâm Như Tánh đẹp Chân Truyền.
Quý thay lời dặn Thế Tôn,
Nguyền xưa năm ấy vẫn còn nhớ đây.
Thời Hạ Pháp khó đắp xây,
Chứng Tu,Tu Chứng dẫy đầy khó phân.
Nghiệp Ma thọ ngã nhiều phần,
Chân Tông Mật Nguyện làm cân đo lường.
Bấy giờ tận tận tỏ tường,
Chứng tu rè rụt vấn vương thế tình.
Tu chứng Đức Trí Quân Minh,
Lòng trinh Vô Ngại không mình vì ai.
Trọn nguyền rạng rỡ Nguyên Đài,
Lìa danh, chẳng lợi, đâu nài Thế Nhân.
Miễn sao Chân thiện hoàn Chân,
Đưa nguồn Bảo Pháp chung ngân cúng dường.
Tôi biết đương thời khó đắp xây,
Hạ Lai Thượng Kiếp lạc Đông Tây,
Vạn ngàn Hoa Pháp hoa vương vấn,
Tạng rõ lầm mê, giải đọa đày.
Tôi biết rằng Tôi chịu sớm chiều,
Nhớ tình năm cũ trọn tiêu diêu,
Chân Ngôn còn nhớ môi Kim Ngọc,
Ngài nói những gì, nói quý yêu.
Tôi biết Tình Tôi khó tỏ tình,
Bởi thời Hạ Pháp diễn liêu linh,
Nhân Sinh nào hẳn Hoàn Hoa Giác,
Chỉ trải lòng Tôi một Lộ Trình.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
ngày 19 tháng Giêng, Qúi Sửu (21.02.1973)

Cung Nghinh Vía ĐỨC THÍCH CA Thành Đạo

Chân Nguyên nay sắp vãn hồi,
Cung nghinh mồng tám thêm trồi mười ba.
Tân Hợi Tạng trổ Phật Đà,
Thiên Nhân đồng hóa diệu hòa muôn phương.
Dưới chân Phật Đảnh chân thường,
Pháp Tạng Hội Thượng đương trương mình Rồng.
Để trao tuyệt đối Chân Không,
Kính dâng Sư Bổn lòng Trong suốt lòng.
Xin Ngài Chứng Thị Diệu Đồng,
Hợp Minh Tây Cảnh Lạc Tôn Chung Thường.
Cũng ngày mồng tám phương phương,
Là ngày mồng tám vỡ nguồn trầm mơ.
Tạng Chân Bảo Pháp đón chờ,
Cung nghinh Tam Thế, vần thơ dâng Ngài.

TĂNG CHỦ NHẤT TÔN PHÁP TẠNG
Lúc 18g 05 tại Trung Ương-Nha Trang
Kỷ niệm ngày 08-12 Tân Hợi (nhuận) 1971

MÙA XUÂN GIAO HẸN ( Ra Đời )

Xuân giao hẹn, mùa Xuân giao hẹn,
Lời hứa cùng non nước bao phen,
Rượu Thiên Tiên uống hãy còn thèm,
Mà nơi Nhân Thế, Xuân đem mấy lần.
Xuân Ta hẹn, Lan vừa chớm nở,
Cúc Huỳnh Hoa, hé mở Trần Gian,
Khi Ta đi xuân đúng khải hoàn,
Lúc về nhẹ bước Thu sang lỡ làng.
Trời Sắc Giới trang hoàng mong đợi,
Cõi Dục Thiên hoa rải khắp nơi,
Lọng vàng Cửu Báu rạng ngời,
Chiếc xe Thất Bảo đến nơi đợi chờ.
Xuân giao hẹn, hãy cùng Ta đến đó,
Ta mang về THẾ THỌ nhân gian,
Từ đây thêm đẹp Đạo Tràng,
Khắp trong Tam Giới, hưởng tròn năm Xuân.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Kỷ niệm xuân Tân Hợi (1971)

Ấn Chỉ III: DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH BẤT ĐỒNG

Thất Sơn bảy ngọn núi dài
Chừng nào vang nổ, vương đài khai hoa!

TIÊN-THẦN dùng TƯỞNG tương sanh,
NHÂN-SANH có TƯỚNG trưởng thành Thông-Minh.
Bồ-Tát HẠNH NGUYỆN trung-trinh,
Thâm-nhập PHÁP-GIỚI Tự mình viên THÔNG.
PHẬT thời DIỆU-DỤNG song đồng,
Tùy CĂN-CƠ HOÁ nói không bến bờ.

THIỆN CHÂN TỬ là nguồn an ủi,
PHÁP TẠNG nầy chung buổi ấm êm.
Miễn sao dưới mái gương thiềm,
Chung vui toàn GIÁC, nỗi niềm TÔI mong.
Có một hôm Ngài ngồi thư thả,
Chúng dâng trà, Ngài tả thi thơ,
Anh em Đạo Chúng chực chờ,
Ngài cười vui vẻ, lặng lờ trao thi.
Chúng Tôi muốn nói những gì ...
Ngài liền giải đáp bài thi vang rền.
Sáu ông Đạo, Sáu con tên,
Có thêm bà vợ, vang rền Thất Sơn.
Khi bấy giờ Tứ Chúng đứng lên,
Đọc tuyên sáu Đạo, sáu tên Thi rằng:
KHÁNH tận Nhân Sinh chẳng nói năng.
TƯỜNG chưa Minh đạt, nổi lôi phong.
ÂN thường Vân Lệ rơi tơi tả,
OANH luyện trùng dương, khắp Tứ Phương.
XOA dịu cảnh tình, chiều nắng dịu.
THU MINH Vương Đế trổ an bang,
HIẾN thân Tam Thế, Tiên Thần chứng.
Dâng quả KIM LÊ, Pháp BẢO ĐÀN.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Mậu Ngọ (1978)

TỰ THÁN CẢM THI ngày Trung Thu Đinh Tỵ

Chí Tôn. Ngài thấu chăng Ngài,
Thượng Sanh. Hạ Kiếp diễn hai thứ tuồng.
Ngài Thái Tử triệu đời vang tiếng,
Tôi Cư Nhân bốn biển nào hay,
Bên vai Bao Đãy ăn mày,
Chung thời một hướng, phơi bày hai phương.
Nói ra thiên hạ xem thường,
Nào ai đã thấu con đường hóa sinh.
Thời hạ kiếp sống mông mênh,
Thượng Sanh tuy thế dân tình ấm êm.
Hạ Kiếp điên đảo sanh phiền,
Phần tôi gánh chịu lời nguyền hạ lai.
Sức kiệt sức. Gối vùn vai,
Chí còn vận chuyển Phật Đài còn xây.
Làm xong dân chúng sum vầy,
Bóng này đã khuất. Đông Tây khó tìm.
Nhắn lời. Tôi chẳng nói thêm,
ẤN CHỈ tư. Bảo Phẩm chân truyền Nhất Tôn.
Khuyên Phật Tử khéo bảo tồn,
Non còn bảo vật, nước còn trơ trơ.
Còn tình Chân Tử đón chờ,
Thời còn Thể Hiện giải mơ phá lầm.
Trăm năm Ta nhớ trăm năm,
Lời thơ Cảm Thán. Trăng rằm trung thu.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
11-07-1977

HOÀI CẢM. Huyền Châu Tử