67. Thiền Viện Rừng A Đề

• Năm 1972, lập Thiền Viện Rừng A Đề ở thôn Phú Hữu. Năm 1972 tôi tìm một đồi núi ở thôn Phú Hữu xã Vĩnh Ích quận Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa, sau khi trình Ngài ra xem và rất vừa ý. Tôi lập hồ sơ xin chính quyền xã Vĩnh Ích chấp thuận và mang lên Ty Điền Địa tỉnh Khánh Hòa cũng được chấp thuận đo đạc cấp giấy phép để lập Thiền Viện. Cũng năm đó Ngài cho lập một căn nhà nhỏ vách bằng cây rừng mái lợp tranh trên triền đồi núi, dân địa phương thường quen gọi rẫy Pháp Tạng, cứ sáng chủ nhật Ngài thường ra thăm, nghỉ ngơi, dạy giáo pháp và truyền Thiền ở đấy. Ngài cử hành Đại Lễ đặt tên Thiền Viện Rừng A Đề.

• Sau 1975, huỷ bỏ thiền viện bị truy thu thuế. Đến năm 1975 cuộc thế nước Việt Nam đảo lộn. Vợ Ngài và hai Chân Phật tử làm rẫy ở đấy. Đến năm 1979, chính quyền Cộng Sản đánh thuế truy thu nông nghiệp. Đất núi chỉ trồng khoai và bắp không đủ nuôi sống gia đình, ngoài ra không trồng hoa mầu khác được. Ngài không tiền đủ để đóng thuế và biết ý họ nên làm văn thơ hiến lại chính quyền, địa phương họ nói chia cho dân làm rẫy nhưng chỉ chia đồi núi Pháp Tạng cho ba ông: Bí thư xã, Chủ tịch xã, Trưởng công an xã từ đó đến nay.

• Ngài Khai Thị nên lập Thiền Viện và mở khoá Thiền. Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, Ngài khai thị cho tôi như vầy: Sau này có Bậc tín tâm ông nên lập Thiền Viện, cách tổ chức cho xuất gia 3 tháng hay 6 tháng một khóa. Tùy Bậc muốn 3 tháng hay 6 tháng cũng được. Cứ chiều thứ bảy đến chiều chủ nhật cho về sinh hoạt với gia đình. Tối chủ nhật trình diện tại Thiền Viện học giáo pháp tu Thiền ôn lại Đạo Đức. Sau mỗi khóa Chân Phật tử trở về gia đình sẽ biết lối tu thực tế Như Lai Pháp ngay trong gia đình.

Ông nhớ đừng cho xuất gia ở mãi trong Thiền Viện. Vì sao? Thời khoa học hiện đại cần cho họ giáp mặt với xã hội, với gia đình để thâm nhập vui buồn, sướng khổ, được mất, có không. Trong công tư sở, trong gia đình họ thực hiện được, thâm nhập được vạn pháp, con người sẽ trở nên trầm tĩnh, thông minh hơn, giải quyết việc nước việc nhà hợp tình hợp lý hơn. Một người ý thức sửa tánh không còn tánh xấu, nóng giận, tranh giành, cãi cọ... Nhờ Thiền mà Trực Giác, nếu không Thiền Định rất khó kềm giữ tánh xấu, tánh độc bộc phát. Người không thanh tịnh giải quyết một việc gì nơi đâu cũng không sáng suốt bằng Bậc bình tĩnh chẳng còn tánh nóng giận, tánh lo lắng, tánh sầu khổ...

• Tôn Phái Thiền: Bậc Thiện Tri Thức phải biết tùy theo Tâm Thức của mỗi hành giả mà hướng giáo, không tùy thuộc Bậc giỏi văn tự mới tu Thiền. Vì Thiền môn không tự. Bậc Thiền Sư phải là Bậc thấu đạt tâm thức di chuyển nên tùy Chân Phật tử mà lựa thế chỉ dạy tu Thiền. Thiền đi sâu bản năng, tiềm lực chủ trì Phổ Chiếu làm con đường Giác ngộ mới trực giác vạn pháp duy tâm: Vũ trụ và thân tâm vốn một Bản Thể duy nhất không hai./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


66. Thánh-Hiền Phật-Giác

“Thiền Sư tĩnh tọa xong, Ngài lẩm bẩm hai chữ Thánh Hiền! Phật Giác! Hồn nhiên đôi mắt Thiền Sư in tuồng giao cảm mười phương sáng ngời tỏ vẻ vui tươi gật đầu nói: Thánh bổn tánh hiền! Phật đại diện Toàn Chân Chánh Giác nên gọi Thánh Hiền! Phật Giác! Hai cấp Thánh và Phật. Có chí dũng công năng tự thành Phật Thánh, nào phải mong cầu xin mà đặng? Về Thánh xuất thời chẳng thiếu chi, như hoàn toàn xuất Thánh rất hiếm. Vì sao?

Vì con người chưa vẹn mười điều toàn mỹ “Nhân Vô Thập Toàn”, dù con người kết nạp bản năng toàn chân chăng năm, ba, bảy điều vẫn phục diện học làm Thánh vươn mình khai hoang làm Thánh Xuất. Thánh Xuất có nghĩa giải nghiệp Xuất Thánh, sạch nghiệp viên minh liền tự xuất, khi thành đạt không học vẫn Xuất Thánh.” –T.V.

Tôi nghe như vầy: Thánh xuất là Bậc sở đắc Chân lý, mỗi Bậc sở đắc một môn, mỗi môn khi thâm nhập ích lợi vô kể cho nhiều ngành. Cũng như một pháp sanh vạn pháp, vạn pháp hồi một pháp.

Bậc Thánh xuất tùy theo chuyên môn của mình mà triển khai cho từng lớp giải nghiệp, sau lớp này được Thánh xuất. Thánh xuất do nơi Chí Dũng, đức tánh thanh cao, bao dung thành hiền hòa. Bậc Thánh Xuất không còn tự mãn, tự cao, không còn tam độc nơi chúng sanh tánh, không còn tự mãn củng cố học hỏi tăng thượng có Hiền hậu mới Thánh Xuất.

Bậc Thánh Xuất Thánh Nhân như Khổng Tử, Thánh Thiên như Lão Tử. Bậc Thánh Xuất nhiều thường hiện nơi thế gian, Bậc hoàn toàn Xuất Thánh rất hiếm. Vì chưa vẹn toàn mười danh hiệu như Đức Bổn Sư, như Đức Di Lạc thời Hạ lai đã hiện thể.

Có Bậc thực hiện được Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri thuộc Hành Dụng Phẩm, có Bậc được Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Điều Ngự Trượng Phu một phần của Diệu Dụng Phẩm. Không vị nào đủ mười danh hiệu Xuất Thánh.

Bậc Xuất Thánh nếu ai có Đại căn gặp được đã khó, mà biết hưởng được Như Lai Phật nơi Ngài càng khó hơn. Biết được Ngài quá ư khó. Biết rồi mới y tôn, y chỉ không còn lầm lạc xuất Thánh.

Bậc Xuất Thánh siêu đẳng hạnh Thế Gian Giải, khó nghĩ bàn. Bậc này giải nghiệp, sạch nghiệp được viên minh nên được tự xuất không cần học. Có tự xuất làm gì cũng được nên Ngài mới ban hành Hịch Chứng Minh Vũ Trụ theo ý Ngài tự xuất. Ai có quyền uy cũng chỉ là “Con Nộm” Ngài điều khiển từ xa nếu cần làm an lành chúng sanh. Dù có một rừng vũ khí tối tân, vi trùng học, nguyên tử hóa học, vũ khí bấm nút từ xa cũng không qua được “Quyền uy siêu đẳng bất nhường” này. Thật lắm, trăm ngàn chân thật, còn vĩ đại gấp triệu lần, văn tự không kể hết Bậc Xuất Thánh. Bậc Thánh Xuất không biết nổi Bậc Xuất Thánh.

“Thiền Sư vừa giải đến đây, hai bàn tay Ngài đặt trên mặt bàn nhỏ, nhìn mười ngón tay, trầm lặng tiếp nói: Chánh Biến Tri là một danh hiệu Phật, bao la rộng rãi vô cùng, yếu tố sáng soi quân minh vô tận. Vì sao? Vì trí hóa tâm thức biến tri, nghề nghiệp biến trí, cải cách biến trí, biến trí tùy thuộc nghiệp, còn Chánh Biến Tri thuộc Giác Tướng về Như Tướng Kiến tri mà Tri Kiến Phật.

Thiền Sư hai bàn tay đưa thẳng ngang tai rộng rãi mỉm cười tiếp nói: Chánh Biến Tri sai lạc thì Tà Biến Tri làm thế nào phân biệt? Như nhà Thông thái, gắng tạo thành thông thái chỉ là một con người tạo thành làm thuê cho thông thái. Phải có căn bản nơi chủ thể chủ tánh cao đẹp vững vàng gọi là đức tánh bao dung đến thành công thông thái. Đó mới thật chính thật mình thông thái.” –T.V.

Bậc thông thái cần tạo cho mình có Chủ Thể Chủ Tánh để tự điều động sự thông thái. Bằng không có Đức tánh tự chủ bao dung thì sự thông thái này lại đi làm nô lệ cho một người nào cũng đem đến tai họa cho nhân sinh. Vì vậy Bậc thông thái còn tạo mối nguy hiểm bên cạnh cái lợi cho đời vẫn bị trí hóa sanh mạng lai sanh làm loài súc vật theo luật luân hồi thật tai hại lắm!

“Đứng trước tinh thần hóa giải vô minh ngăn cách, đứng trước tinh thần lướt qua các trở ngại phân chia trở nên lành lẽ, đứng trước tinh thần chống trả bản thân lười trễ thật là trí dũng vô cùng, khó nghĩ bàn những Bậc Đại Hùng từ mê lẫn đến Ngộ. Từ thế gian đến xuất thế gian tinh thần xây dựng nên sự việc tất cả, thiếu tinh thần bị tê liệt tất cả thì thử hỏi tinh thần là cái gì? Lợi hại như thế? Tinh thần chẳng là cái gì mà cái gì cũng đoạt đến.

Tinh thần Bất Khả Tư Nghì, khó nghĩ bàn đặng. Tinh thần là chủ thể năng lực Như Lai. Vì sao? Vì Phật Ấn Chỉ Như Lai vô sở tùng lai, Diệt vô sở trú, Cố danh Như Lai. Hàng Bồ Tát đại nguyện Như Lai vô biên thề nguyện sự. Bồ Tát hành dụng phụng sự cứu giúp chúng sanh, chúng sanh là hành dụng theo thể dụng vận chuyển Như Lai, nên Bồ Tát đem hết tinh thần phụng sự thành tựu Chánh Biến Tri, Kiến diện Như Lai Chủ thể Năng lực Như Lai thọ ký.” –T.V.

Bậc trí đều công nhận tu hành thành hay không thành đều do tinh thần. Tinh thần thù thắng cái gì cũng đoạt được. Chư Phật Chư Bồ Tát cũng theo con đường này, nó rất thực tiễn. Tinh thần là Chủ thể có năng lực vô biên từ nơi Như Lai, làm chúng sanh và Như Lai là một không thể nghĩ bàn. Bồ Tát nhập thể mới xác thật Như Lai không lui tới, không chỗ trú. Đâu đâu chủng tử Như lai cũng sẵn vô thủy vô chung thường còn bất biến lại sống động viên dung vô cùng tận. Tinh thần chí dũng là chính yếu cho tu cầu Tri Kiến Giải Thoát. Dù tinh thần thiết tha, thành thật chưa trí tuệ vẫn lâm nơi tinh thần cuồng tín nên rất cần Bậc Thiện Tri Thức chỉ đạo mới đi đúng đường Tri Kiến Giải Thoát được. Nếu chưa gặp nên có tinh thần thiện căn, thiện chí, cúng dường công đức, cúng dường ngôi Tam Bảo, tinh thần như thế rất an lành rất đáng qúy.

“Bậc tu đọc tụng Kinh Pháp, dùng sắc Kinh, chưa tụng ý Thánh nghĩa Kinh làm thế nào Tri Kiến. Hai là nghe thuyết pháp chưa thọ lãnh an toàn, nhận định khiếm diện, chưa đúng với tinh thần pháp, làm thế nào kiến tri Thánh Pháp?” –T.V.

Chúng sanh sống không rời Tâm Thức. Bậc có học hoặc nhà thông thái cũng không thoát khỏi tâm thức dù cho có ý thức cũng ý thức của tâm thức cá nhân mình. Bậc tu Phật xem Kinh Pháp, nghiên cứu, học hỏi Kinh điển có ý thức cũng không ngoài tâm thức hiểu biết theo Bị Biết cùng Bị Tu. Ba điểm trên đều lầm lạc. Tâm Thức giờ phút điều hành tất cả làm Bậc nào cũng sống trong quanh co do nó nuôi dưỡng hỗn loạn, hỗn độn. Tâm thức như tia chớp sấm sét, như ánh trăng dưới nước, lay động không ngừng... Thật khó khăn giải giới tận thấu cho sạch sẽ chu toàn được. Vì quy chế chúng sanh tu chúng sanh chưa thực hành trí tuệ căn bản, trí tuệ cứu cánh, trí tuệ Bát Nhã làm thế nào đến Thánh ý Chánh Giác.

Giác theo học thuyết, giả thiết cũng nhiều nhưng đó là Bị Tu Bị Chứng còn tạo Thánh ý Chánh Giác đến Xuất Thánh thật khó khăn. Chỉ một quan niệm còn là Thọ Ngã, Ngã Sở. Nó như bụi vi trần rất dễ lầm nhận. Bởi vậy Bậc tu chí dũng cần Bồ Tát, Bồ Tát nương Như Lai Phật cứu độ mới kết quả./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


65. Thể Dụng

“Bồ Tát phát tâm dũng mãnh, tu nơi tâm dũng mãnh, Tối Thắng vạn cảnh cách ngăn, chí không nhàm chán, năng lực bồi dưỡng thêm đến giai đoạn Trí Lực. Trí Lực là một trí chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Trí này chịu đựng tất cả, tùy thuận tất cả, dung hòa tất cả, nhiếp thâu tất cả trưởng thành Nhất Thiết Trí.

Lại nữa: Trí Lực Công Đức Phẩm cúng dường Như Lai Phật, Trí Lực trải qua vô tận thế giới Đại Hải Trí thành đạt Nhất Thiết Trí. Trí Lực khó giải hết đặng, dù mang tất cả Tam Tạng Kinh để tán thán Công Đức Phẩm, Bồ Tát độ sanh trải qua hằng hà sa số kiếp, mỗi kiếp có vô lượng công đức, thời công đức ấy nhiếp trí, nhiếp tuệ, sáng soi khắp Diệu Quang, Phổ Quang, hằng hà sa số Quang, thành đạt Năng Lực, Tiềm Lực, Chủ Lực, Nhẫn Nại Lực, Bất Thối Chuyển Lực, tận tận vượt tầm bên kia lực mới có Nhất Thiết Lực tận tận hoàn Chánh Giác. Thiền Sư nhìn hư không tận tận cũng thế.” –T.V.

Chúng sanh Vô Biên Thề Nguyện Độ có nghĩa vô biên Chúng Sanh Tánh, vô biên vọng tưởng phải nhận định độ cho sạch chẳng còn một chủng nào chưa độ mới có Trí Lực. Trí Lực gọi là Đại Hải Trí đã thành tựu Nhất Thiết Trí. Bồ Tát phải dũng mãnh tối thắng vạn diễn cảnh, không còn ngăn cách dừng trụ, xem diễn cảnh là món ăn của Bồ Tát nên chí bền không còn khởi nhàm chán, chịu đựng độ khổ, hóa giải tùy thuận, dung thông tất cả trí nơi chúng sanh thành tựu Nhất Thiết Trí. Nhất Thiết Trí không còn tăng hay giảm, không vứt bỏ cũng không giữ lấy. Thiếu kém công đức thì phải bổ sung, còn tăng lên phải giảm xuống mới thông con đường lui tới, tới lui nơi vạn pháp được Trực Giác quân minh thông suốt Bát Nhã Tâm Kinh.

“Trí dụng phân phối vô lượng vô biên vô số Trí, chung gồm tất cả Tam Thiên từ Nhân Sanh Trí, Thiên Sanh Trí, Tiên Thần Thánh Hóa Trí, Bồ Tát Trí cùng Phật Trí, đã nơi dụng hệ thống Trí Dụng, dù cho Thiền Trí, Giác Trí vẫn chưa thoát khỏi Dụng. Vì sao? Vì Thiền Trí vẫn Thiền Dụng, Giác Trí không ngoài Giác Dụng. Có như thế nên tu lìa Ngã, Ngã sở chính lìa Dụng, không Trụ, không chứng pháp Bất khả đắc lìa Dụng nhiếp thâu bá thiên vạn trí, trở thành Bát Nhã Trí, tỏ rõ các chủng trí không thiếu sót, sở đắc Nhất Thiết Chủng Trí, sạch Dụng Nhất Tâm Đảnh lễ thành Phật.” –T.V.

Tánh là cái Dụng của Như Lai, Trí cũng là cái Dụng của Như Lai, cho đến Pháp Thân, Pháp Giới, Pháp Tánh, Như Lai Tạng, Chân Như cũng là cái Dụng.

Trí Dụng có vô số lớp lớp như Nhân Sanh Trí, Thiên Sanh Trí, Tiên Thần Thánh Hóa Trí, Bồ Tát Trí cùng Phật Trí bao gồm tất cả Tam Thiên. Dù cho Thiền Trí, Giác Trí cũng là Dụng của Như Lai.

Bậc tu Giác Trí cũng cần lìa Ngã, Ngã Sở không trụ, không đắc mới thoát khỏi Dụng. Vì còn Dụng là còn Giới.

Cần nhiếp thâu bá thiên vạn trí dung thông trở thành Bát Nhã Trí tỏ rõ từng chủng trí chẳng còn thiếu sót chủng trí nào mà sở đắc Nhất Thiết Chủng Trí.

Bậc tỏ thông Nhất Thiết Chủng Trí phải hành đầy đủ Tịnh, Bất–Tịnh, Hữu–Tướng, Phi–Tướng thuộc hàng Đại Bồ Tát mới biết tận tường thực hiện viên dung.

Nói thì dễ, đọc hiểu nhưng tâm trạng thực hiện thoát Dụng Trí là cả vấn đề, tùy Chí Dũng giải tâm làm cho tâm thông. Bằng chấp trụ, tâm đứng yên bị sa vào Tịnh Biệt Tâm. Cần vượt chướng ngại cần nương nhờ Dụng đưa tâm thoát khỏi Dụng gọi là Giải–Thoát chớ không có chi Giải–Thoát.

“Thiện tai! Thiện tai! Sơn hà đại địa cho đến toàn thể Chân Như đều lầm nơi Trí Dụng, mơ màng Giác Dụng. Hàng Bồ Tát, trụ mà không trụ lìa Dụng, viên thông, không đắc mà vượt tầm Trí Dụng, cho đến Kim Cang Kinh. Như Lai không thuyết pháp, Tu Bồ Đề không nghe pháp, cốt sạch Dụng chứng tri. Bằng Như Lai thuyết pháp, Tu Bồ Đề nghe pháp chứng tri, thì chứng tri nơi Trí Dụng? Khéo thay Chí Tôn vi diệu!” –T.V.

Khi lầm mê Trí Hóa không sao kể hết, phải bị Dụng điều động Tâm. Bồ Tát phải giải dụng, tận thấu Dụng mà hóa cho sạch sẽ trơn liền Dụng. Bồ Tát tỏ thấu dừng trụ mà không trụ viên dung lìa Dụng. Không đắc mà đắc thoát Dụng. Tôn giả Tu Bồ Đề nghe pháp nhưng không chấp hiểu biết nơi-nghe được tự-biết cốt Trực Giác Trí Dụng. Bằng Như Lai thuyết pháp Tu Bồ Đề nghe pháp chứng tri thì chứng tri nơi pháp của Như Lai chứ chưa có tự-biết vẫn còn bị-biết nơi Trí Dụng. Không y Kinh cũng chẳng ly Kinh thoát Trí Dụng, không còn mơ màng Giác Dụng.

“Trí Dụng là tấm tuồng Vật Hóa, vạn vật thảy đều hóa sanh sanh hóa, từ cây cảnh núi sông chung cùng nơi Dụng cho đến kiếp nhân loài chịu chung cuộc của Vật Hóa Sanh qua từng kiếp kiếp sanh hóa, muôn hình vạn tướng. Từ một nhân sanh, trải qua cho đến Chánh Giác đã từng làm vật hóa sanh theo Trí Dụng, nhiều lớp Dụng như: thú vật, hình thể vật, thượng cầm hạ thú, nhà giàu, nhà sướng, nhà khổ đủ mùi vị, có nghĩ Nhãn Quang nhìn thấy bao nhiêu loài thời chính mình đã từng vướng bị vật hóa sanh ra loài ấy. Gọi là Luật Nhân Quả không cùng. Do nơi đâu mà có như thế, do nơi Dụng mà Vật Hóa Dụng Sanh.” –T.V.

Tất cả núi sông, cây cảnh, các loài súc vật cho đến Nhân sinh cũng không thoát khỏi cái Dụng của Như Lai. Do Trí Hóa mà bị Dụng sanh muôn trùng. Nếu một nhân sinh đã từng nghĩ, đã từng thấy con vật gì là đã từng bị Dụng sanh làm con vật đó nhiều lần. Đức Di Lạc Tôn Phật Ngài đã từng thấu tận tận nên ghi lại. Thế mới biết Luật Nhân Quả không chừa một ai. Chủng tánh nó thế nào đầu thai làm giống đó không sai chạy. Diễn tả không hết được.

Khi Đức Bổn Sư Chánh Đẳng Chánh Giác thành Phật, Ngài cũng đã từng bảo: Nhìn cát sông Hằng nhiều vô lượng vô biên, vô kể nhưng một hạt cát là một kiếp sanh tử của Ngài. Biết sự vật hóa sanh như vậy Chư Phật mới chí tình hướng đạo để Bậc tu sửa tánh không bị lộn vòng súc vật. Bậc tu cầu vái van xin không tu sửa tánh, còn bị Dụng sanh làm cầm thú là lẽ thường. Dụng này vừa dứt sanh Dụng khác gọi là sanh tử luân hồi. Con đường sanh diệt, diệt sanh nhiều kiếp đổi thay do tùy thói quen tập nhiễm kiến tạo thành hình. Nó muốn khởi ác, làm nhiều điều độc ác, nó phải vào nơi ác thọ nghiệp qủy, súc vật hạ cấp. Nó muốn thiện căn, thiện chí, nó về thượng sanh mà Chánh Báo Người, Tiên, Thần do nơi tánh tình cùng nơi hành sự của nó tạo thành.

Thời Hạ Lai tàn canh, Đức Di Lạc Tôn Phật đã tận thấu nơi lầm lẫn của chúng sanh nên minh thuyết cho nhân sanh tứ loài nương theo y tôn, y chỉ đã vạch tu đến kết quả thành đạt mà thôi. Nếu hiện tại nhân sanh không tu sai lầm, còn giữ y chỉ của Đức Thế Tôn thì Đức Di Lạc Tôn Phật hạ sanh làm chi! Bồ Tát phát Đại nguyện tận độ chúng sanh từ nay vẫn nối truyền cứu độ tiếp chúng sanh cốt đánh thức chúng sanh. Lại còn dụng công ra vào sanh tử không nhàm chán tử sanh, trưởng thành Ma Ha Tát. Bậc Bồ Tát Ma Ha Tát sạch sẽ, thấu đáo không còn khởi Ngã Sở, thật tỏ Ngã Sở thảy đều Ngã Dụng vào biển pháp vi diệu thật tuyệt mỹ, lại trọn hưởng Bát Nhã, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


64. Tối Thượng Công Đức Phẩm

"Tinh thần cao cả, do nơi tinh thần hồi hướng tâm nguyện giải mê, phá nghi chấp, khai hoang lần tiến những gì chưa hiểu đặng hiểu, chưa thông đặng thông làm chốn an nhàn nguồn vui bất tận. Bậc đang sống biết sống như thế chưa phải lối sống tầm thường. Vì sao? Vì chỗ sống của mỗi địa giới như: thế gian có thường tình phục diện thế gian. Cõi Trời (Thiên) củng cố địa giới thường tình của Thiên. Dưới sự nhận định nhãn quan đâu đâu cũng thảy đều thường tình chung khắp các cõi, các cảnh giới cho đến các Quốc Độ, Tịnh Độ đều thường tình mỗi nơi mỗi chốn. Vì sao? Vì còn giới vẫn thường tình, chỉ có Hồi Hướng Công Đức, bao nhiêu công năng tu hành, bao nhiêu chủ lực sung mãn thảy đều cúng dường Như Lai mới cao cống vô lượng Công Đức, vô biên vô tận Chánh Giác là Tối Thượng Phẩm." –T.V.

Dù Bậc tu lâu đến đâu mà còn Giới chưa thoát khỏi vòng đai Pháp Giới vẫn thường tình. Cho nên cõi Thiên, Tiên bỏ thế gian nơi Địa giới lên đến Thiên giới, Tiên giới cũng không thoát sanh pháp giới, vẫn bị sanh tử luân hồi, nên ông Trời, ông Thiên Tiên dù cho thần thông tài phép đến đâu mà còn Giới là còn sanh diệt, diệt sanh.

Chỉ hồi hướng công đức Như Lai, chung cùng với Như Lai nơi Tối Thượng Phẩm cao cống khó nghĩ bàn. Bậc biết khai sáng những bí ẩn của Vô Minh, biết khai hoang vô minh là không thường tình. Vì Bậc này dám đánh đổi tất cả cốt dung thông đến viên dung pháp giới dù ở địa giới thế gian này hay còn ở thiên giới nơi cõi trời cũng bản năng cúng dường công đức Như Lai là tối cần để cầu Diệu Quả Bồ Đề. Đó là vô lượng vô biên công đức là Tối Thượng Phẩm Công Đức.

"Thiền Sư đưa tay hái cành lá, Ngài ngồi lại tảng đá, nét mặt cảm mến như nhiên. Ngài nói: Tướng giải thoát từ lâu. Cây cỏ, núi sông, hoa quả vẫn làm tròn bổn phận dung dưỡng nhân loài. Nay ta nói lên tâm hồn Giải Thoát. Thế nhân mấy ai biết đặng Ta? Họ chỉ nhìn nhau bằng đôi mắt tầm thường. Ta chỉ biết ta là đủ, vì sao? Vì nó như thế. Khi Đức Thế Tôn đang còn tại thế, chưa chắc nhân sinh nhìn đặng Ngài Vô Thượng, Ngài đã từng công bố: chưa hẳn có Bậc đã tin Ngài. Lúc bấy giờ tinh thần Tối Thượng Quả Vị Đẳng Đẳng Giác. Chỉ Ngài thấu Ngài mà thôi. Ngài nhập Niết Bàn lời Ngài sáng rạng, ngôn từ trở lại Bảo Châu. Cao quí thay! Vô Lượng Công Đức Phẩm thành Xá Lợi." –T.V.

Đức Chí Tôn đã tận tình làm tròn bổn phận. Nay Đức Thế Tôn Di Lạc tiếp tục phải làm tròn miễn nhân sanh ưa chuộng với Tâm hồn Giải Thoát vẫn được toại nguyện không khác, vẫn được sống trong Chân Lý Hải miễn sao Bậc tu thời Hạ Lai biết đồng nguyện rộng rãi phát tâm Hồi Hướng Công Đức Phẩm:
“
"Ta tuyên minh cho tất cả các Bậc tu cầu Diệu Quả phải Hồi Hướng Công Đức Cúng Dường Như Lai chính lời này Tối Thượng.”" –T.V.

Đây là lời chí tình của Đức Thế Tôn Di Lạc nhắn nhủ Nhân Sinh thời Hạ Lai./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


63. Mười Danh Hiệu Chia Ba Phẩm

"Từ phẩm thứ nhất đến phẩm thứ ba. Bậc nầy quán Như Lai, chỉ cho tất cả tâm quán Như Lai, hành sự Như Lai ấn chỉ cho tất cả hành dụng nương Như Lai, cứu độ bình đẳng, từ hàng Tiểu Căn đến Đại Căn thảy đều tận độ. Đạo hạnh trí tuệ không hai. Cúng dường Như Lai Thề Nguyện Sự. Sở đắc Chánh Biến Tri, chung cùng với tất cả chúng sanh hóa độ, Nghiêm Túc Độ, thực hiện Chứng Tri Độ, Phổ Độ cứu khổ phiền não độ nên xưng tán: Như-Lai, Ứng-Cúng, Chánh-Biến-Tri. Đó là Hành Dụng Phẩm." –T.V.

Quán Như Lai có nghĩa là quán sát, soi xét tất cả nơi Nghe Thấy Biết. Vì đâu đâu tứ loài không thể rời Nghe Thấy Biết để sống. Bồ Tát quán Như Lai hành sự không Diệt, không sanh nơi Nghe Thấy Biết, điểm chính yếu để tu đến sở đắc là nương Như Lai hành dụng nơi Nghe Thấy Biết. Do đó Bồ Tát cần thâm nhập sâu Như Lai nên mới cứu độ tất cả chúng sanh tùy duyên, khéo thuyết, khéo chiều đưa chúng sanh và nâng dần đến phát tâm cầu Tri Kiến Giải Thoát như Bồ Tát.

Chúng sanh gặp Đại Bồ Tát xây đắp Tối Thượng Căn được lợi vô kể. Vì sao? Vì tu không đắc đạo cũng được Phước Báo Nhân Thiên. Bởi vậy gặp Bồ Tát chúng sanh được cho học Làm Thánh, có rớt Thánh cũng được làm người Nhân Thiên Hạnh. Còn học làm người không bao giờ làm người đặng, chính chủng tánh Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ đưa chúng sanh đi thọ báo trả nợ miệng phải bị sinh làm loài súc vật thật khổ biết bao!

Chúng sanh có được nhân duyên tu hành theo vết chân chư Bồ Tát khi sở đắc liền được Bồ Tát Ấn Chứng trực chỉ để nhập thể bình đẳng tùy tần số tu chứng gọi là được chứng minh nhập thể vũ trụ. Hàng Đại Bồ Tát biết từ nơi Chánh Biến Tri có ba lối thuyết pháp độ sanh:

 • Một là Ấn Chỉ nói gọi là quyết định nói thẳng chỉ thẳng cho trực giác sự lầm mê.

 • Hai là phương tiện nói cho bậc tu quanh co nhận định được quay về tu Tự Tánh Trực Giác.

 • Ba là tùy thuận nói vì bậc này nặng sắc tướng âm thanh, nặng tổ chức cầu đạo, để bậc tu vừa ý vì Bồ Tát thực biết không thể nói Trực Chỉ cứu độ, chủ yếu giữ Đạo Hạnh trí tuệ nơi Bồ Tát .

Nơi hành dụng là phẩm giá trị vô kể của Đại Bồ Tát sau trực giác đầy đủ Chánh Biến tri tối cần cho Hành Dụng Phẩm.

• "Phẩm thứ hai: Vì nhìn nhận tất cả chúng sanh đang lẫn lộn nơi luân hồi sanh tử, sự tường tận đường đi của cái Mê, lối về Chánh Giác, do căn tánh tập nhiễm, tập ái trưởng thành tập khí sanh tử, từ nơi sanh mạng phải thọ mạng theo pháp giới, chia ra từng phần, từng các cõi, nó không ngoài ngũ trược ác trược nơi kiếp trược, phiền não trược, kiến trược cùng mạng trược, nên thề nguyện khai thị làm cho chúng sanh Kiến Thị (Tri Kiến) lại ấn chỉ cốt Trực Thị (Thị Chứng) sở đắc Tam Miệu Tam Bồ Đề, nên mới xưng tán là Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải. Đây là phẩm thứ hai Diệu Dụng Phẩm." –T.V.

Thế nào là tập khí sanh tử? Chúng sanh mê lầm pháp giới, phải thọ sanh theo tánh tập nhiễm nơi chúng sanh tánh, bậc tu hành dụng cho đến khi đạt được con đường Giác Ngộ đến Đại Ngộ, Liễu Ngộ nhưng con đường nầy chưa rốt ráo còn sanh tử. Nhiều bậc A LA HÁN còn lầm cho là đã hết sanh tử, phải thi hành Tịnh, Bất–Tịnh, Hữu–Tướng, Phi–Tướng mới biết đã trơn liền chưa, nếu thấy biết còn loạn tưởng do nghịch hành mà khởi sanh là còn vi tế sanh tử, gọi là Tập Khí Sanh Tử.

Phần này nếu sở đắc hoàn toàn Chánh Đẳng Chánh Giác cũng phải hành thâm nhiều kiếp mới thấu đạt tỷ mỷ tập khí mới hết bệnh, hết bệnh chớ chưa phải khỏe mạnh còn phải đợi thời gian phục hồi nữa. Cho nên nhiều vị tu đến Liễu Ngộ là đã khá còn phải từ A La Hán bước qua khúc eo vĩnh cửu sang Nhất Thừa vào dòng Bồ Tát là cả một vấn đề nên mới có vô lượng kiếp. Sớm lìa Ngã, Ngã sở may ra kịp rút ngắn thời gian thọ giới tăng thượng mạng mới chu đáo gặp Đại Bồ Tát khai ngộ sâu thêm nữa.

Khi được chư Phật chứng minh cho lập chi tiết nguyện bậc này phải trải qua khắp xứ cốt thâm nhập đặng tỏ rõ sâu đậm ngũ dục, ác căn, phiền não, mắt thấy đầy đủ các tướng pháp giới làm cho thân mạng bị sa vào nơi sanh tử vi tế. Từ đó Đại Bồ Tát thề Đại Nguyện diệu dụng làm cho chúng sanh thấy biết tại chỗ sự lầm mê mà tri kiến pháp giới bị thọ khổ hiện tại sau chúng sanh sở đắc.

Đại Bồ Tát diệu dụng thông suốt đúng đắn toàn chân sáng tươi bình dị gọi là Minh Hạnh Túc. Dù khó khăn thề vượt qua Thiện Ác tận độ chúng sanh mới thấu đáo Toàn Thiện gọi là Thiện Thệ. Lại diệu dụng Tam Muội điều động Tam Muội ra vào viên thông làm rung chuyển Tam Thiên mà Tiên Thần Thánh cũng không biết cốt cứu an chúng sanh trên quả Địa Cầu này cùng Tam Thiên Thế Giới hoàn tất cứu an chúng sanh gọi là Thế Gian Giải. Đó là phẩm thứ hai Diệu Dụng Phẩm.

• "Phẩm thứ ba: Bậc này chưa bao giờ suy tưởng thời quá khứ hay mong mỏi đến vị lai. Nhất Ngôn Tri Kiến Phật nên tận dụng hiện tại thể tánh hiện tại mà hóa giải Phật Pháp bất ly thế gian giác. Tất cả nơi lầm lạc của chúng sanh thuận nghịch đều khai hóa, lại vì Đại Bi Đại Trí mà xây đắp tất cả có thiện căn thiện chí, khai hoang vô minh đặng Trực Giác. Vì sao? Vì bậc này cương vị Giác Tướng Chân Như, còn tất cả từ Thiên đến Tiên nơi tứ loài đang còn hư vọng, bị Thọ Ngã Giả Tướng, đang còn suy tưởng quá khứ, mộng tưởng vị lai nơi ba thừa Chánh Báo Phước Điền, do nơi thực tại hiện tại ấn chỉ mới gọi là Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thế Tôn, Phật." –T.V.

Bậc thật tu ban đầu chăm lo sửa tánh xấu, giải đố tật xấu là hơn hết, sau trực giác được vô minh. Từ mỗi lời nói, mỗi hành động dù nhỏ nhặt cũng không biết đúng sai dễ sanh chướng đối gọi là vô minh. Bậc không nhận định được chân pháp dễ phát sinh nghi chấp cũng gọi là vô minh. Bậc không tu chỉnh hiện tại lại hoài vọng viễn ảo xa xôi cũng gọi là vô minh. Tỏ được nguồn mê nơi vô minh từ Trực Giác bước vào Giác Tướng, đến lúc mỗi mỗi đều giác tướng chủng nghiệp đầy đủ gọi là Giác Tướng Chân Như. Chư Thiên, Chư Tiên đến chúng sanh tứ loài đều còn khởi vọng huân tập thành định tưởng bị thọ giới rất khó tu thực tiễn nên không trực giác. Do đó bị thọ ngã giả tướng, lấy suy tưởng lấy lý trí tu hành trở thành hư vọng.

Đến phần sửa tánh xấu xong phải xem xét kỹ tánh tốt: Tỷ như tốt, tốt quá thành dại dễ bị kẻ mưu sĩ hại. Đến giai đoạn trực giác xấu tốt, thiện ác, đúng sai mới bước sang Giác Tướng toàn diện Chân Như. Lúc bấy giờ mới khéo thuyết đạo đúng căn cơ tứ loài lại biết nương nơi Trực Tâm mà đặng Trực Thọ, nương nơi Giác Tướng mà tỏ Thực Tướng nên Bồ Tát Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội mỗi mỗi đều vẹn vừa không dư cũng chẳng thiếu, thực sự quân minh. Hằng ngày ra vào nơi nghe thấy biết viên dung được đầy đủ uy nghi, đầy đủ uy lực bước vào Đại Bồ Tát chờ thời cơ làm tiếp một kiếp Nhất Sanh Bổ Xứ thành Phật thấu đạt được Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thế Tôn, Phật.

Với Hịch Chứng Minh Vũ Trụ được ban hành làm ổn định chúng sanh, làm an lành chúng sanh. Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc còn lưu lại mối đạo qua việc ban hành Hịch Bồ Tát Ma Ha Tát cho một vị được thọ lãnh nắm giữ ở hiện tại và vị lai khai ngộ chư tổ kế tiếp lưu truyền mối đạo 5.000 năm theo tôn chỉ Đức Thế Tôn DI LẠC. Ngài đã thực hiện xong THẾ TÔN HẠNH vậy.

"Đối với bậc thực hiện Mười Danh Hiệu thật khó gặp khó biết. Vì sao? Vì bậc này Đồng Ứng nơi bổn nguyện Tam Thế mà thị hiện, từ ngôn ngữ hành động không khác với nhân sanh do đó nên Thánh Tăng Bồ Tát đều chưa biết làm sao thiểu căn kém trí hay đặng sự hành dụng Như Lai Tánh, nơi diệu dụng đều trưởng thành Như Lai Diệu Dụng thì sao?

Vì Năng Sở Vô Ngã, Đại Ngã phát huy đồng đẳng Tam Thế mà Hành Dụng Diệu Dụng. Chỉ trừ Bồ Tát Hạnh Nguyện Bát Nhã Trí, dùng Giác Tướng mới nhìn nhận đặng phần nào thôi, nên mới gọi là khó gặp.

Đến nỗi cận thuộc, sống chung hay thân cận không hề hay biết, làm sao nhân sanh quần chúng nhìn nhận đặng? Trừ ra những bậc tin vâng thực tiễn tu cầu. Nhờ sự tu cầu kết quả cạn sâu thâm nhập nhiều ít mà ái kính giáo ngôn, chớ nào ái kính tin vào nơi Bậc Tối Thượng để ái kính?" –T.V.

Như vợ Ngài là chân Phật tử sống chung thân cận cũng không hề hay biết sự Diệu Dụng của Ngài thật là đúng. Chỉ tới mức thi hành Hạnh nguyện Bát Nhã Trí thấu đạt Giác Tướng mới nhận đặng phần nào thôi. Do đó nhân sinh cùng Bậc tu chưa tới mức Bồ Tát Ma Ha Tát không sao hiểu Ngài được một tí gì. Ngài sống rất bình dị, cũng đi phố khi cần, cũng đi dạo không một cử chỉ cầu kỳ. Ngài sống rất bình dị nhưng đầy lòng Đại Bi Chân Phật Tử đều ái kính, khi đăng đàn khai thị rất trang nghiêm.

"Hoặc giả hàng Bồ Tát, tu hạnh Bồ Tát, Bồ Tát chứng tri có thể nhận thức Bậc chỉ giáo Thiện Tri Thức này chính là Bậc Tối Thượng Tôn. Nhưng vẫn ngờ vực chỗ Diệu Dụng, do đó nên còn phải tu, đến trình độ mức độ Chứng Thị, thời vạn sự nó đã qua, thời xây đắp của Vô Thượng Sĩ đã hoàn toàn Bát Đại, thử hỏi làm như thế nào để nhìn nhận đến Nhất Tâm Như Tướng Tận Giác Chân Tôn." –T.V.

Dù cho nơi hội trường có vị tu chứng tri Bồ Tát cũng chỉ biết Ngài Diệu Dụng rất ít. Bậc này vẫn tin Ngài là Phật Tối Thượng Đẳng nhưng sau này khi Ngài nhập Bát Đại mới Hồi Chân Tôn, lúc đó lời nói cử chỉ của Ngài hồi trước nay được thấu hiểu, nhưng khi trí đã hiểu, đã tới mức nhận được Ngài thì Ngài đã Bát Đại. Bậc này chỉ còn nương vào Như Lai dụng Tam Muội gặp Ngài cùng Chư Phật mười phương mà thôi. Thật khó khăn thay!

"Con đường tu Phật, tu cầu Tri Kiến Giải Thoát khó khăn. Chưa phải Chân Lý nhà Phật khó khăn hay Đạo Phật khó khăn, chỉ Bậc tu thiếu khuyết lầm nhận khó khăn vì bước tu sai lệch tăng giảm, đúng cũng chưa đúng với tinh thần CHƠN THỂ, trở thành biểu tượng nhiều phương diện, định hướng khác nhau, cho đến nguyện vọng tu cầu hình thể lòng tín ngưỡng khoảng cách xa nhau. Bậc xuất gia cho đến Bậc tu hành tại gia có một tự tâm Minh–Đạt. Tự tánh Di Đà nơi quan niệm sai khác nhau không thể nào diễn giải hết đặng.

Phật tử tu rất đông. Bậc tỏ Chơn Thể pháp lại hiếm. Bậc sở đắc càng hiếm hơn. Kể ra thống kê từ mười ngàn vị, chỉ có một vị Chứng Tri Chơn Thể Pháp, biết đường lối Đạo Phật tu Phật. Từ một vị đến mười ngàn vị biết tu Phật chứng tri đường lối Đạo Phật, chỉ còn một Bậc Đắc Chân Lý. Từ một Bậc đắc Chân Lý cho đến trăm triệu đắc Chân Lý, chỉ còn lại một Bậc Chánh Tín Thành Phật." –T.V.

Vì do Bậc tu vừa sở đắc vội tự mãn, tự tôn nên dừng trụ tu chứng. Vì Tín Hạnh Nguyện chưa đủ lại chấp Thánh Tăng lơ là Hạnh Nguyện, bị dừng trụ tu chứng. Vì Giới Định Tuệ chưa suốt lại vội cho đã tận thấu, bị chủng tánh tự mãn dừng trụ tu chứng. Vì Tứ Nhiếp Pháp chưa thực hành đúng mức, Lục Ba La chưa đồng sự nhiếp thu nên Mật Đa chưa rốt ráo, bị dừng trụ tu chứng. Vì chưa tận trơn liền Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thường bị Tịnh Biệt tu chứng chứ chưa đúng Giác Tịnh. Tự Tại Vô Ngại trong thích muốn gọi là Kiến Dục. Bất Tịnh, Phi Pháp, Phi Tướng theo dục vọng cũng bị dừng trụ tu chứng. Thật vô kể chứng bệnh dừng trụ tu chứng. Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật phải ghi lại để nhắc nhở dù cho có hàng trăm triệu Bậc đắc Chân Lý kết chung thời Hạ Lai này chỉ còn mỗi một Bậc Chánh Tín thành Phật!

Tốt nhất là Bậc tu chứng nên lìa Ngã, Ngã Sở theo vết chân Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nay tiếp nối Đức Di Lạc Tôn Phật để khỏi dừng trụ tu chứng.

"Đạo Phật đứng trước thời Hạ Lai, Bậc tu hành kém yếu năng lực tinh thần, con đường tu suy giảm, đa dạng thường chấp hay chấp, tự mãn lý chướng thêm lười trễ hiếm Bậc đánh đổi tu cầu giải thoát nên khó tin giải thoát, chỉ tu cầu liễu sanh qua từng cảnh giới tu cầu Phước Báo Nhân Thiên thì làm sao tin đặng Bậc hoàn toàn chánh tín giải thoát?

"Nói đến Chánh Tín Phật Đạo thì vô lượng vô biên công đức giải thoát. Vô lượng vô số vô xứ cảnh giới Giải Thoát. Vô lượng vô biên vô cùng tận Pháp Giới Giải Thoát. Vô lượng thọ vô lượng nghĩa Liễu đạt giải thoát. Vô lượng vô tận sanh diệt diệt sanh giải thoát. Vì sao? Vì Phật Pháp vô biên thề nguyện học không trụ một Pháp, thấu tận vạn pháp giải thoát. Sự sự Như Lai thề nguyện sự vẹn, diện kiến Như Lai giải thoát." –T.V. 

Bậc tu đi đúng Chánh Tín không trụ tu chứng, mỗi khi giải thoát được một pháp thì vô lượng vô biên vô cùng tận cũng được giải thoát. Theo vết chân Phật thị hiện lần phát hiện ra thì dễ, không gặp, không biết vết chân Phật thì thật là khó. Vì Phật Pháp vô biên thề nguyện học nên Bậc không đủ Chánh Tín mỗi vị một trụ chấp tu chứng mà không tận thấu vạn pháp Giải Thoát. Đa phần thoát sanh cảnh giới này lại bị vào cảnh giới khác vẫn bị Giới, bị Cảnh không ra khỏi vòng đai Pháp Giới nổi.

"Bậc tu tín ngưỡng Tâm trơn liền vẫn giải thoát. CHÍ Bất Biến giải thoát. DŨNG Bất Thối giải thoát. Nương vạn pháp tu Bát Nhã trọn Trí Bát Nhã giải thoát. Cảnh không nhiễm trước, tình không oán hận giải thoát. Không ái nịch, ái dục, không tập khí giải thoát. Diệt sanh không nhàm chán giải thoát. Sự không chê, Lý không trụ chứng giải thoát. Giải thoát từ điểm nhỏ cho đến trùm khắp vô biên cùng cùng tận giải thoát. Chớ nên lựa chọn kén lường điên đảo vọng cầu nơi việc lớn mà bỏ những việc nhỏ, nếu dừng trụ không bao giờ giải thoát." –T.V.

Đối với Bậc đang còn tu Phật Thừa, mỗi bước đi, mỗi lời nói, mỗi tư tưởng đều vào thể giải thoát rốt ráo liền lạc ngay trong cảnh sống hiện tại không còn tập khí. Bi Chí Dũng giải thoát, Bất Thối giải thoát, ý thức từng khởi điểm giải thoát, từng pháp nhỏ giải thoát trùm khắp vô tận vô biên giải thoát.

Đối với Bậc tu hành Tối Thượng Thừa đã tận thấu chúng sanh bất thường, tánh tình thường thay đổi, từ lời nói, cử chỉ thường chấp, nhập tâm chỉ một pháp nhỏ, khi xuất tâm thì lớn lao như lửa bùng phát vô cùng tận. Còn hành động cũng bất thường, khi nhập vào phát tâm rộng lớn tưởng chừng như Chúng Sanh và Như Lai - Phật là một, nhưng lúc xuất thì tánh chi ly nhỏ nhen đến mức như không có gì. Do như thế nên chi dễ nghi chấp mà dừng trụ phải giải nghi giải thoát - đến Tối Thượng Đẳng Chánh Giác.

"Nói về TƯỚNG và TÂM, thì Tướng đã giải thoát từ lâu. Tâm chưa giải thoát. Khi Đức Thế Tôn Ngài đạt Vô Thượng Chánh Giác, Ngài nói: Lạ thay! Tướng đã giải thoát từ lâu, ngày nay ta mới giải thoát." –T.V.

Tướng do hợp như thế nào liền hóa như thế ấy, tự nó dung thông không ngăn ngại. Còn Tâm không chịu hợp chê khen, tốt xấu, thiện ác... còn ở tương đối không hợp hóa được. Vì vậy Tâm bị vướng mắc Thiên Ngã, Nhân Ngã, Thọ Ngã giả tướng trở thành Chúng Sanh Giới nên có trọng lượng và giới hạn, mỗi mỗi tự tạo các nghiệp chủng, từ nghiệp chủng tạo thành các cõi, các cảnh giới không ngoài Thượng Sanh, Hạ Kiếp, Chánh Báo, Thọ Báo qua từng kiếp sống không ngừng. Tùy mức giới sanh Hợp Hóa, giải trừ tâm vướng mắc thực hiện Tứ Nhiếp, nhiếp thâu vạn hạnh trở về Nhất Hạnh. Bồ Tát tự nguyện Hành Dụng giải giới không còn là Chúng Sanh Giới, thoát sanh Pháp Giới vào Tối Thượng Thừa tức Bồ Tát Ma Ha Tát diệu dụng tận độ sanh, giới hạnh viên dung thấu đạt tận thành Chánh Giác.

"Khi được tu, biết tu là con đường xây dựng Hóa rồi mới Sanh, chưa biết tu sửa, chưa biết xây dựng thù hận tranh giành gây hấn là diệt tồi phá đều bị hóa, bị cộng nghiệp, phải lâm nơi diệt rồi mới sanh Hạ Kiếp hay các loài cầm thú. Vì sao? Vì cho chúng sanh bình đẳng tứ loài sanh hóa bằng noãn–sanh, thai–sanh, thấp–sanh cùng hóa–sanh, thành thử hạ sanh diệt sanh hạ liệt sanh nơi hạ tiện người và súc vật." –T.V.

Bậc Tối Thượng Đẳng vào Tối Thượng Thừa thật biết bình đẳng Thượng Sanh Hạ Kiếp của chúng sanh tất chi ly, nếu hành động tồi phá bị sanh nơi loài cầm thú chứ không làm người lại được. Vì nó làm như thế nào nó lãnh như thế ấy chớ chẳng ai bắt nó phải như vậy cũng không ai cho nó lên thiên đàng được.

Thật khó giảng giải cho hết được, duy nhất chúng sanh cùng bậc tu đã cống hiến đời mình cho Đạo cầu Diệu Quả hãy Chí Dũng phát tâm Đại Bi, Đại Nguyện, Thề Nguyện Đại Thành, phải Đồng Năng, Đồng Lực, Đồng Hóa với Phật mới trưởng thành Đồng Đẳng Tối Thượng Đẳng Giác.

Bậc Thiền Trí còn xa với Bậc Giác Trí, Bậc Giác Trí còn quá xa, chưa nhận được Phật Nhãn của Bậc Tối Thượng Đẳng đã Đồng Đẳng, Đẳng Giác sạch sẽ Chánh Giác. Bậc Thiên Nhãn Thiên Nhĩ chớ vội dừng trụ, còn phải thâm nhập giới tận, tận tận giới chánh tín gọi là thậm thâm Bát Nhã Giới./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


62. Tối Thượng Xây Đắp

“Bậc xây đắp căn là bậc đã từng trải qua từ Vô Lượng Kiếp, đặng Vô Lượng Thọ, tỏ Vô Lượng Nghĩa, thấu đạt Pháp Giới, thấu rõ tường tận Bản Thể Tâm, sự diễn hành nơi Pháp Tánh. Bậc nầy trọng lượng về tánh chất hơn về căn cơ. Vì sao? Vì hàng phục đặng tánh chất diễn hóa lầm mê xong thì căn cơ liền đầy đủ Chánh Giác.

Chẳng khác mấy Vị Đại Lương Y đã từng chữa các con bệnh, đã từng thật tỏ vị thuốc nào công dụng chữa trị con bệnh ra sao, không còn quái ngại nghi ngờ, rụt rè đối với con bệnh.

Bậc xây đắp tận giác chu vi pháp giới do nơi căn tánh diễn hóa thụ sanh thành hình, đã từng nương nơi pháp giới nhiếp độ tận tường thị chứng mới thực hành mười danh hiệu, chia ba phẩm, Diệu Dụng Hành Dụng đồng với Tam Thế Phật ba đời.” –T.V.

• Phái Tiểu Thừa dùng tâm thành thật, tâm thiết tha, tâm thành kính nhưng chưa biết dùng ba tâm năm nguyện tu cầu Chánh Báo.

• Phái Đại Thừa vẫn thành thật tâm, thiết tha tâm, thành kính tâm nhưng biết Nương Nơi Tánh Tỏ Tâm, tỏ rõ lý sự của tâm di chuyển mà phát hiện được sự di chuyển vạn pháp kia đều do tâm sanh ta. Sau lần theo phát minh được Hiện Sanh: Ta sanh Tâm mà sở đắc thật sâu Bản Thể Chân Tâm, Pháp Thân Chân Lý.

Đương thời Đức Di Lạc Tôn Phật tùy căn Tiểu Đại mà khai thị. Cùng nơi Đạo tràng mà giờ nầy dạy tiểu thừa, giờ khác khai Đại Thừa lần nâng và tuyển chọn bậc tu Nhất Thừa. Đắc Bản Thể Chân Tâm Tối Thượng bắt đầu hướng đạo cho xây đắp căn cơ Tối Thượng ,mới khai riêng cho bậc này tu tập Mười danh hiệu, chia ba phẩm. Có chia ba phẩm phân định căn cơ chúng sanh ở phẩm nào mới thấu đạt Tam Muội phần Tối Thượng Thừa.

Ngài khai thị tôi còn nhớ rõ: Bồ Tát tùy duyên mà thuyết pháp cứu độ chúng sanh. Vì chúng sanh như nồi đất mỏng phải nương chìu, phải lai trần độ sanh cho đến khi Nhất Sanh Bổ Xứ là kiếp chót Thành Phật mới quyết định chọn căn Xây Đắp Tối Thượng khai thị cho thành tựu Đại Bồ Tát nối tiếp Chánh Pháp mới Bát Đại Niết Bàn được.

Hai phái Tiểu Thừa và Đại Thừa chưa hiểu biết thấu đáo căn cơ, thường phân tách đúng sai mà chướng đối vạn pháp. Bậc tu theo Pháp Thân không còn lựa chọn pháp cùng tu Ứng Thân hiện sanh không chướng thì được song tu gọi là bậc Xây Đắp Căn Tối Thượng vào con đường Tôn Chỉ duy nhất Viên Giác.

• Bậc Đại Thừa phải trải qua vô số kiếp vào Nhất Thừa. Từ Nhất Thừa cũng phải trải qua Vô Lượng kiếp đặng Vô Lượng Thọ pháp giới, tỏ vô Lượng Nghĩa Pháp Giới đến Bồ Tát thấu đạt tận tường tánh chất pháp giới gọi là pháp tánh diễn hóa làm bậc tu mê lầm. Bậc xây đắp căn cơ không còn tùy duyên mà quyết định xây đắp con đường tu sao cho đến Chánh Giác thành Phật gọi là Tối Thượng Xây Đắp Căn Cơ. Bậc nầy đã vào Bất Thối Chuyển, đã đạt Bất Khả Tư Nghì Bồ Tát vào Đại Bồ Tát .

• Bậc Xây Đắp Tối Thượng là bậc tu con đường đến tận giác pháp Giới, chung quanh pháp giới đều tận thấu tỷ mỷ chẳng thiếu sót sự diễn hóa của nó thành tựu Không Tướng mà thấy đến tận Giác Tướng Đại từ đó mới minh định thực hành mười danh hiệu chia ba phẩm./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


61. Vô Thượng Chân Tôn

Lục Đạo khi đã hóa giải Nhiếp Độ tường tận Chánh Giác thì liền tỏ biết tường tận tất cả, trọng lượng hóa diễn nơi nó, lúc bấy giờ mới phơi bày để cho Tín Chúng, từ hàng Bồ Tát tu tập đến Bất Thối Chuyển, tâm không quái ngại từ Hữu Lậu đến Vô Lậu tường tận, bằng chưa phải là Hàng thật tu, thật chứng khó mà lãnh hội đặng Pháp Bảo Vô Thượng Chân Tôn nầy.

“Các hàng hãy nghe đây:

Lục Đạo đã xóa mờ, duy nhất chỉ còn có con đường SÚC SANH GIỚI, làm một con đường vào Pháp Thân Quốc Độ tận rốt ráo Bát Đại Niết Bàn.

Vì sao? Vì Súc Sanh Giới chính là một giới kết nạp huân tập hóa thành Chúng Sanh Giới. Chúng Sanh Giới nó chính là Pháp Thân Phật, tận độ Pháp Thân rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Đây chính là lời nói Vô Thượng Chân Tôn riêng dành Chư Bồ Tát Nhãn Tạng Viên Thông.

Còn đứng về trọng lượng diễn hóa của Lục Đạo nó như thế nào, tôi giúp cho các hàng hãy còn yếu kém chưa thọ lãnh được VÔ THƯỢNG CHÂN TÔN hãy nghe đây:

 • Đứng về Thiên Giới: Định Tưởng Dục Tưởng.
 • Đứng về Nhân Giới: Thường trụ thường chấp.
 • Đứng về A Tu La Giới: Thường chấp thường hoại.
 • Đứng về Súc Sanh Giới: Kết nạp hóa sinh.
 • Đứng về Ngạ Quỷ: Tham lam giành xé.
 • Đứng về Địa Ngục: Chủ thủ diệt vong.

“Khi Lục Đạo tận tường mới hay Súc Sanh kết nạp hóa sanh thành tựu Sơn Hà Đại Địa Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, giúp đỡ cho các hàng không nhiễm, không trụ nơi SẮC –THINH –HƯƠNG –VỊ thảy đều trơn liền Chánh Giác.

Bằng dục vọng dâm dục chìm đắm nơi Sắc –Thinh –Hương –Vị –Xúc –Pháp lầm lẫn theo Kiến Dục tự tạo lấy Hai Tướng thỏa mãn đều nằm nơi Bị Sanh Pháp Giới.

Các Bậc Nhị Thừa Tiên Thần trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chỉ vì Dục Vọng Kiến Tưởng mà sa ngã tu chứng Tiên Thần. Nhân loại nơi ba đường ác chỉ vì dâm dục mà sa đọa vọng đảo tham lam, kiến tạo rất nhiều điều quá đáng. Các Bậc tu chứng qua các Pháp Giới tỏ thông nhiếp độ Lục Đạo không vướng mắc, lấy nơi Sắc –Thinh –Hương –Vị –Xúc –Pháp làm phẩm trợ đạo, liền đắc Đạo như lời ta đã nói.”

Ngày mùng năm tháng Giêng, năm Đinh Tỵ
Nhằm ngày 22-07-1977 Dương lịch
Lúc 11 giờ 45 phút

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Chính là Hóa Thân Đức Di Lạc Tôn Phật
ẤN CHỨNG

Súc Sanh Giới là một giới kết nạp, kết hợp liền hóa thành. Nó chính là Pháp Thân Phật. Giống cái kết nạp huân tập hóa thành chúng sanh. Tỷ như người đàn bà có gia đình sanh ra con. Ai cũng công nhận giống cái sanh...

Vậy giống đực thì sao? Tôi nghe như vầy:

Như người đàn ông sống ở môi trường thích hợp cũng tự nơi thân sinh ra con rận, con chí. Khi thân người đàn ông sinh ra một con đực, một con cái là đã xong nhiện vụ hóa sanh, sau con đực và con cái tiếp tục sanh ra vô số... Vậy là giống đực cũng sanh.

Vô tri cũng sanh: Một cái cây hạ xuống đến một lúc tự nó sanh ra con mọt cây. Gạo để một thời gian cũng tự sanh ra con mọt gạo. Trên mặt và trong lòng đất cũng sanh vô số chủng loài biết đi đứng, sinh hoạt... Trong không khí cũng tự sanh các loài vi khuẩn...

Như vậy Súc Sanh Giới: Giống đực, giống cái, vô tri đều sanh ra hữu tri. Từ đó mới hay súc sanh kết nạp hóa sanh thành tựu sơn hà đại địa Tam Thiên Đại Thiên Thế giới.

Vậy vô tri sanh ra hữu tri, quả địa cầu, cỏ cây, sông núi, biển cả, mây nước, động vật, sinh vật, hư không thảy đều có từ mầm chủng tử hữu tri của mỗi mỗi loài. Tất cả chính là vũ trụ, là Như Lai Phật, là Thượng Đế là đấng A La tùy xứ sở đặt tên cho vũ trụ.

Do đó Như Lai hay vũ trụ cũng là hữu tri, cũng có cái biết chứ không phải vũ trụ là vô tri. Do đồng hợp đồng hóa, bất hợp bất hóa, nó là định luật như nhiên vô thủy vô chung thường còn bất biến. Cho nên cục đất đem làm thành ông Táo, ông Địa, ông Thần Tài... cúng lạy mãi là có linh do tánh thấy của VŨ TRỤ và tánh thấy của TA hợp liền hóa linh. Không tin không linh do không hợp nên không hóa. Nếu cục đất, khúc cây... làm ra ông Phật, Bậc tu thờ cúng tin tưởng cũng do hợp hóa thành linh. Tùy trình độ tánh tình rộng hẹp, thiện ác mà nó linh, tùy trường hợp cho đúng với nó.

Chính vì vũ trụ có cái biết tức là Hữu Tri nên chư Phật đã đi trước, đã thành quả Phật mới chỉ dạy cho con người biết Niệm Phật để giữ gìn Thiện Căn được hợp hóa thiện căn mà sống an lành đỡ khổ không còn tai ương. Còn Bậc tu khá, Niệm Pháp tức niệm nghe thấy biết, sửa tánh, sửa tật xấu sau sở đắc Bản Thể Tâm tỏ tâm hòa tâm mình vào tâm vũ trụ tức hòa vào Như Lai mà chung cùng với Như Lai để đặng cái biết của Như Lai Phật.

Cũng như một giọt nước biển nhỏ bé không thấm vào đâu so với biển cả bao la vô tận nhưng khi ta cho vào biển cả, giọt nước biển liền hòa tan vì nó đồng chất. Nếu đem một giọt nước biển phân chất cũng có Calci, Natri, chất sắt... nó giống y như nước biển cũng có đủ chất. Chính điểm nầy mà một giọt nước biển và biển cả bao la Tương Thông, Giao Cảm nhau như cha và con. Từ đó kết luận có cơ sở tin được một con người nhỏ bé so với vũ trụ bao la cũng hòa hợp tương thông, giao cảm được. Như Chư Phật rất thương mến, cảm mến, chí tình cùng chúng sanh. Chúng sanh biết liền được tỏ thông như Thánh, thấu đạt như Bồ Tát, tận thành như Chư Phật. Đó cũng chính là Súc Sanh giới hợp hóa. Cho nên Đức Bổn Sư đã khai thị: Tất cả Chúng Sanh đều có Phật Tánh.

Nếu chúng sanh biết lìa Ngã, Ngã sở mới cảm thấu Như Lai hay cảm thấu vũ trụ chừng đó mới biết vũ trụ sống động tuyệt mỹ, là kho tàng vô tận khó nghĩ bàn. Rõ ràng Ta và vũ trụ là hai mà một. Một mà hai như hình với bóng, thấu đạt sanh tử, tử sanh đâu còn sanh tử. Đã không còn sanh tử chính là bất tử. Khi đã bất tử được chủ quyền biết lúc nào tự ý lai sanh trở lại như thay cái áo bị mặc dơ phải giặt cho sạch thôi. Dù có lai trần Bồ Tát cũng không mất công năng công đức quá khứ, con đường xưa đã thấu vũ trụ lại cung ứng trả lại cho chẳng thiếu chút nào. Thật tuyệt mỹ thay cho súc sanh giới. Đâu đâu thời quá khứ, hiện tại cho đến vị lai cũng do súc sanh giới kết nạp hóa sinh bất tận vậy.

Tỷ như một lời nói, một hành động của quá khứ, hiện tại hay vị lai nó đều được cất giữ trong cái kho Như Lai Tạng không hề mất đến một thời nào đủ điều kiện nó tái hiện. Do đó Thiền Sư nhìn nơi pháp tánh diễn mà biết được tiền kiếp quá khứ rất thực tiễn lại biết nó chết sẽ đi về đâu không sai chạy.

Hàng Bồ Tát Diệu Quan Sát, hóa giải không nhiễm, không trụ nơi Sắc – Thinh – Hương – Vị được trơn liền thấu đạt súc sanh giới Chánh Giác. Lục đạo khi hóa giải xong, duy nhất chỉ còn có con đường súc sanh giới kết nạp thành Pháp Thân Phật Cũng Chính Là Quốc Độ tận thành rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Do đó Bồ Tát nương theo sự diễn hóa súc sanh giới đặng thâm nhập sạch sẽ Pháp Giới. Còn chúng sanh chưa sở đắc chân lý, chưa được Chư Phật chứng minh, còn bị chìm đắm sắc dục, dục vọng thì hãy tu hóa giải, đạo hạnh cho hoàn tất Thánh Hiền sau mới tiếp tục tu Phật Giác. Chúng sanh cùng bậc tu Nhị Thừa không nên tự ý đi Phi Tướng vì sẽ bị sa đọïa vọng đảo, tham lam, kiến tạo dâm dục thật tai họa nơi súc sanh phải bị sa đọa cận kề Địa Ngục.

Năm 1990, Ngài thị hiện bệnh tai biến mạch máu não. Ngài cho con cháu Đề Bà Đạt Đa đánh đập và xua đuổi các Chân Phật Tử ở quanh Ngài đang lo phục vụ cho Ngài. Càng lúc cường độ lộng hành càng gia tăng, mỗi lần nhóm Trung Ương vào chăm lo Ngài, đều bị đánh đuổi do nhóm con cháu Đề Bà Đạt Đa căm ghét gây ra. Bậc tu mới biết Hữu–Tướng, Phi–Tướng rất khó qua, phải chú tâm chịu đựng quan sát tỷ mỷ, phải dung thông pháp giới mới biết lúc nào vào nuôi bệnh, lúc nào cần tránh. Nếu thấy khó, ngại ngùng đi luôn là diệt pháp, mà vào không đúng lúc bị đánh đuổi là sanh pháp. Tự giác cao độ mới sở đắc vô sanh. Thật kín nhiệm, thật quá ư khó khăn. Sau này có Chân Phật Tử thưa hỏi Ngài gây ra chi cảnh hỗn loạn như vậy. Ngài trả lời:

Nếu không làm vậy, sao tôi minh định được ai là giòng ác căn thuộc con cháu Đề Bà Đạt Đa, ai là giòng thiện căn sau giác ngộ nối truyền làm Tổ. Liền khi đó Ngài cho hai câu thơ:

Hiện tình nay đã an bài
Đông phương suốt thấu chẳng cần nói chi.
–T.V. 

Sau khi diệu dụng bệnh mở khoa thi, Ngài liền thọ ký Bồ Tát, chư Thánh Hiền sau tiếp tục tu nối truyền Tổ. Con cháu Đề Bà Đạt Đa đã được an bài trở về nơi ác căn đồng chủng thọ hưởng phân minh. Đó là kỳ thi lần thứ ba.

Kết chung Ngài bảo Tối Thượng Thừa chỉ có một sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác được khai thị vào giòng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát sau thành Phật nối truyền Chánh Pháp. Chỉ có một duy nhất chớ không có hai và Ngài dạy: “Tôi không đủ thời giờ đào tạo ra hai Bồ Tát được.”

Các Chân Phật Tử vòng ngoài không hay biết gì và cả vòng trong cũng không mấy ai tỏ rõ Diệu Dụng Phi Tướng của Ngài để tận độ rốt ráo chúng sanh tánh, cũng không nhận được sự thọ ký kín nhiệm của Ngài. Thế mới biết Bồ Tát và A La Hán còn cách xa nhau hàng triệu triệu do tuần. Hàng Bồ Tát nói ra một lời hàng A La Hán vòng trong cũng cả kiếp suy ngẫm không ra.

Ai tu hành nhận chân được một cử chỉ, một hành động nhẹ khẽ, một lời nói đơn sơ mới hiểu được phần nào Diệu Dụng của Chư Phật, mới thấu đạt ý Phật . Thật khó khăn thay!./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


60. Thời Kỳ Biệt Tôn Vô Thượng Hoá Độ Tối Thượng Thừa

 

Đối với Bảo Phẩm Kinh Pháp. Đại Bồ Tát thời quá khứ đồng nguyện hộ trì nên chi có một linh động Tối Diệu đáng kể.
Linh động Tối Diệu ấy thường ứng trực trước giờ phút để giúp đỡ các Bậc tu thiện chí Nhất Tâm tu cầu được như ý nguyện.
Kinh pháp lại có những nỗi khó khăn nan giải đối với Bậc tu.
Khi sở đắc Tri Kiến Phật liền diễn giải chủ quán Tam Muội Pháp Môn đến hành thâm đoạt Bát Nhã mà được Phật Tri Kiến.
Nếu chưa rốt ráo còn mỗi một khởi điểm nào vội thọ Ngã thành Phật liền vương vào Phật Giới Quốc Độ.


–Bảo Phẩm Xuất Thế Chơn Kinh

Phật Đạo chỉ có Phật Thừa chứ chẳng có Tam Thừa chi cả. Do tại trình độ nhận lãnh tu chứng không đồng mới có Tam Thừa. –T.V.

Thời Hạ lai này Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật chia Phật Thừa ra hai phần là:

 • Nhất Thừa.
 • Tối Thượng Thừa.

Chủ yếu của Ngài là minh định Chư vị Tổ cấp A La Hán tu đến Phật Thừa phải sở đắc xong vô Thượng Đẳng Chánh Giác còn phải được Phật Hiện Thể chứng minh trở thành Bồ Tát.

Khi đã được chứng minh là Bồ Tát lúc đó mới đúng tinh thần tu tập, tu hành Tối Thượng Thừa.

Do vậy Chư Tổ cấp Tôn Giả, A La Hán đang tu Nhất Thừa tức Phật Thừa chưa hoàn tất tu chứng cũng phải chờ một hay nhiều kiếp được chứng minh mới nhập thể Bồ Tát được, chứ không phải tu Phật Thừa là đã tỏ thông.

Đức Di Lạc Tôn Phật nhắc nhở Chư Tổ tinh tấn tu hành tiếp chứ không dừng trụ Phật trở thành Phật Giới. Vì thời Hạ Kiếp Ngài đã chứng kiến nhiều vị xưng Phật bị an dưỡng Phật Giới thật khó gỡ, uổng phí kiếp tu cho hiện tại và mãi mãi ở vị lai./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


59. KHAI–THỊ–NGỘ–NHẬP, Bốn Tướng Giải Thoát

“Khi bấy giờ Ta nhập Chánh Định quan sát các Bậc tu chứng thọ lãnh Bảo Pháp bất đồng, cho nên nơi hiểu biết chia ra từng thứ bậc, thứ lớp cạn sâu khác nhau, thường bị thối chuyển.

Nay Ta tuyên đọc lời Khai Thị nơi Ngộ Nhập của Tứ chúng thiếu khuyết, để Tứ chúng tùy khả năng, tùy hạnh nguyện nơi mình cố vươn mình cầu nơi Tri Kiến Giải Thoát.

Thế nào lời khai thị nơi ngộ nhập bốn tướng giải thoát?

 – Từ phàm phu thọ lãnh Bảo pháp chưa thực hành Hạnh nguyện nên phàm phu Ngộ Nhập Giải Thoát nơi phàm phu, chớ chưa vào hàng Tiên Thần Giải Thoát.

 – Hàng Tiên Thần thọ lãnh Bảo pháp chưa thực hành nơi Hạnh Nguyện Hóa Giải dù cho có Ngộ Nhập Giải Thoát nơi Tiên Thần chớ chưa đứng vào hàng A La Hán Giải Thoát.

 – Từ A La Hán thọ lãnh Bảo pháp Ngộ Nhập Thực Chứng Giải Thoát nơi A La Hán chớ chưa đứng vào hàng Bồ Tát.

 – Từ Bồ Tát thọ lãnh Bảo pháp Ngộ Nhập liền tu chứng nơi Bồ Tát chớ chưa hoàn toàn Giải Thoát nên chưa thể đứng vào hàng Chư Phật.” –T.V.

Một hôm tại Long Hoa Hội Thượng, tôi nghe Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị như vầy:

"Bậc tu phàm phu, Tiên Thần đến A La Hán nghe đặng lời khai thị của Bậc Chánh Giác, dù cho có Ngộ Nhập hiện tại vẫn là sự chứng tri thanh tịnh chớ chưa vào sâu nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng của Bồ Tát. Mỗi cấp thanh tịnh mỗi cấp không hề ngang tầm mức với nhau do thâm nhập pháp cạn sâu.

Thế nào gọi là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát? Bồ Tát thọ lãnh pháp giới chúng sanh mà tỏ ngộ. Hàng Ma Ha Tát thấu đạt tất cả pháp giới chúng sanh chẳng thiếu sót, ra vào pháp giới để Hành Thâm, chung sống với từng lớp con người từ Thuận–Nghịch, Hữu–Tướng, Phi–Tướng, Tịnh, Bất–Tịnh mà sở đắc Đại Thanh Tịnh nên mới gọi là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

Ngài tiếp: Bồ Tát nghe đặng lời Khai Thị Ngộ Nhập liền trực giác giải thoát từng pháp từng thứ lớp. Bồ Tát còn phải hành thâm pháp giới, nhiếp thu hy sinh đánh đổi pháp giới để lần tỏ thông pháp giới. Đến giai đoạn Bồ Tát còn phải nương Như Lai pháp tu trì Bát Nhã chủ yếu làm mát mẻ Như Lai, cúng dường Như Lai để thành tựu Ma Ha Tát vào Đại Hải Như Lai. Bồ Tát Ma Ha Tát còn phải tu hành hóa giải, vận chuyển tỷ mỷ pháp giới độ sanh sạch sẽ trơn liền, không còn vướng động một pháp giới để Nhứt Sanh Bổ Xứ chờ hóa thân Phật."

Do lẽ ấy, Bồ Tát Ma Ha Tát thường trú nơi Tam Muội ở cấp Đại Bồ Tát chớ chưa đúng trọn thành Phật. Còn phải phát Đại Nguyện đem tất cả thân mình, đầu óc, tai lưỡi cúng dường Như Lai cầu thành tựu Như Lai Nhãn Tạng đặng sáng suốt khỏi lầm mê. Từ đó Đại Bồ Tát đem Mật Ngữ ích lợi tận độ chúng sanh, đem lòng Đại Bi ban rải khắp nơi thành tựu Phật Tướng. Đó chính là Bồ Tát thực hành đầy đủ Như Lai chờ ngày thành Phật Quả.

Nếu Bồ Tát vui mừng dừng trụ nơi Ngộ Nhập, không tiếp tục thực hiện công đức cúng dường Như Lai, chưa đánh đổi vật chất, danh vọng, tình là pháp giới bao vậy, Bồ Tát không tiến đến Ma Ha Tát được để tự sanh thoát khỏi rốt ráo sanh tử. Chưa biết đánh đổi thân mạng, đầu óc, tai lưỡi dù cho Bồ Tát có ngộ nhập hàng vạn pháp Thần Thông Tam Muội chăng nữa vẫn chưa tròn Ma Ha Tát, đã chưa tròn làm thế nào đến đích Chư Phật thọ ký được. Đây là lộ trình tu tập, tu hành chân thật nhất.

Nơi Khai Thị Ngộ Nhập nó có từng đẳng cấp, chẳng khác nào hạt giống gì trồng, vun, bón nó thành tựu hoa quả ngay giống ấy. Do như vậy khi Chư Phật Khai Thị Chư Bồ Tát, A La Hán, Tiên Thần, chúng sanh ngộ nhập tùy theo Công Năng Công Đức Mà Thọ Lãnh Bảo pháp thật bình đẳng mà Bất bình đẳng. Nó tùy theo tư tưởng thọ lãnh đúng sai của từng Bậc, ai cũng ngỡ chính mình đã Ngộ Nhập đúng lời Khai Thị của Phật nào ngờ nó tùy thuận sở chứng của từng Bậc mà Ngộ Nhận.

Đối với Chân Lý chỉ có Một, đối với lời khai thị của Phật Chánh Giác không Hai, nhưng trình độ, công năng cùng Chí Dũng tu hành thiết tha đến mức nào nó chia ra từng lớp, từng bậc. Do đó Phật Ấn chỉ:

“Duy nhất chỉ có Phật Thừa chớ chẳng có Tam Thừa, Tam Thừa do công năng sở hữu nơi chân tử nên mới có nơi bất đồng ngộ nhập.” –T.V.

Trí tuệ hóa giải nghi chấp được Ngộ Nhập thông thái nhưng hành động thấp kém lại chênh lệch với trí tuệ thì chưa đứng ngang hàng với Bồ Tát được. Bậc tu có trí tuệ sở đắc Chân Lý Pháp Thân chớ Ứng Thân chưa đạt Chân Lý. Còn Bậc tu củng cố Đạo Hạnh tu trì được Ứng Thân đắc Chân Lý chớ chưa có Pháp Thân đắc Chân Lý. Nhiều Bậc lầm nhận nơi hiểu biết Ngộ Nhập không biết chính mình kết quả hiện tại chưa thấu đáo. Đó là điều đáng quan tâm không nhỏ nơi thời Mạt Pháp nầy vậy.

Bậc tu thời Mạt Pháp này cần bước vào Bốn Tướng Khai–Thị–Ngộ–Nhập nầy cho đặng đầy đủ Ứng Thân cùng Pháp Thân đắc Chân Lý mới viên mãn hoàn tất. Thời hiền kiếp Đức Bổn Sư thể hiện ra đời, Ngài Khai Thị:

"Đạo Hạnh và Trí Tuệ song tu, bậc tu thành tựu."

Bậc sở đắc Chân Lý liền Chánh Báo hiện tiền. Thời bấy giờ Bậc tu thường nhập Chánh Định Tam Muội gặp gỡ các Tiên Thần, cùng nhau giao cảm tùy cấp tu chứng. Đến thời Hạ Kiếp Đương Lai dân tình lầm than khổ sở, Bậc tu theo lý trí phát sanh nơi mỗi Bậc tự tu hơn nghe lời Phật trong Kinh điển mà thực hành, dù cho có nhiều Bậc đem Kinh điển nghiên cứu để tu nhưng tu nơi lý trí bị nghiệp thức điều động, do lẽ ấy trở thành lạc hướng nơi Phật Tôn sai lệch nơi Chánh Báo Chân Lý, nên chi hiện tại tu thì thật là nhiều người, còn kết quả tu chứng thật chứng lại quá hiếm hoi.

Con đường tu duy nhất có một, vì vậy Chư Bồ Tát Ma Ha Tát phải nhìn vào vết chân đi trước của Chư Phật đã từng đi mà Hạnh Nguyện đồng nương theo để tròn nguyện. Chư Bồ Tát tâm nguyện những gì khó làm mà làm đặng, những chuyện khó nghe mà nghe đặng, những thời gian khắc nghiệt đóng kín khó tu mà tu đặng mới mong thành tựu.

Những câu thơ kỷ niệm thời Mạt Pháp ở thế kỷ 20 này, qua bao chông gai sắt thép, qua bao khổ hải, khổ ải, Ngài Hiện thể tại thành phố Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa với lòng Đại Bi, Đại Chí, Đại Dũng vẫn tận độ chúng sanh.

Sông sâu ta vẫn cố chèo
Núi cao rừng thẳm ngặt nghèo phải qua.
Bồ Tát cho đến Phật Đà
Cùng chung một ngõ, trải qua một đường.
Dù cho vạn nẻo muôn phương
Bản năng Trực Giác Chân Thường Giác Chân.

–T.V.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


58. Bát Nhã Tâm Kinh Ấn Chỉ

Bậc tu Phật sở đắc chân lý đến giai đoạn rốt ráo thành tựu chân lý là một vấn đề khó khăn vô kể. Phải thực hành tu Bát Nhã cốt đạt đến Bát Nhã Trí.
Bát Nhã Trí vốn là thể tánh Như Lai chung khắp trang nghiêm bất nhị mới không mang khai tướng Phật. Bằng sở đắc chân lý vội tự mãn chấp nhận chân lý là nơi trụ xứ phải lâm vào Tướng Phật mang khai.
Phật không có tướng Chánh Giác là Tướng Phật.

–Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh

Phật đạo có trọng trách cứu độ con người, nhân sanh tứ loài nên mới khai hóa con người và tứ loài đặng rõ biết, sự ràng buộc sanh tử, lần hồi tu hành, cốt thoát sanh khỏi vũ trụ, làm chủ vạn pháp nên mới nói “Tâm Kinh Bát Nhã” cứu giúp các bậc tu hành thị chứng như sau:

“Thấy tự tại Bồ Tát, thời pháp giới tự tại Bồ Tát, chớ chưa phải Bồ Tát. Bằng cho mình Bồ Tát, phải hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa trong một thời. Sáng thấy ngũ uẩn giai không, chỉ thị chứng vạn pháp, pháp giới khổ ách, liền độ tất cả khổ ách.

Xá Lợi Tử! Nơi sắc chớ nên bác bỏ dị không, nơi không chớ nên bác bỏ lại sắc. Vì sắc thị chứng nên mới không, thị chứng quân minh đều là sắc. Từ Thọ Tưởng Hành Thức thảy đều nằm nơi thị chứng.

Xá Lợi Tử! Thị chứng pháp liền không tướng mà giác tướng. Nơi giác tướng nó bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, thị cố tựa như không trung. Vào nơi Sắc, nơi Thọ Tưởng Hành Thức, cho đến vào Nhãn Nhĩ Tỷ Thiệt Thân Ý, vào Sắc Thinh Hương Vị Xúc Pháp: Vào nhãn là giới, nãi chí vào ý thức đều giới, cứ vào vô minh vô minh diệt, vào vô minh cốt tận vô minh, có chí vào Lão hoặc Tử, chưa diệt lão hay tử vẫn tận, vào khổ tập diệt đạo, vào trí diệt trí, vào đắc giải đắc, tất cả không nên cố trụ. Bồ đề tát đõa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố (tâm đừng quái ngại, nếu quái ngại liền củng cố, bị vạn pháp khủng bố). Hãy dẹp mộng tưởng Niết Bàn, điên đảo cứu cánh niết bàn đến quân minh thị chứng, Pháp giới chính niết bàn. Tam thế Chư phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa, sở đắc Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Những bậc cố tri thực hiện Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị chứng Đại Thần Chú đến Đại Minh Chú vào Thượng Chú liền thị chứng Đồng Đẳng, chú trừ tất cả khổ. Lời chân thiết không dối.

Lành thay! Lành thay Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là cố tri duyên lành cẩm nang chỉ đạo quân minh cho các bậc tu hành thọ trì tận giác.

Đến nay ta chỉ thẳng cái thấy quân minh đồng đẳng được gọi Vô Thượng Đẳng. Tất cả các bậc tu hành phải nương nơi Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa mới hoàn mỹ.” –T.V.

Thấy pháp giới, bậc tu hành có trình độ trí hóa liền nhận biết rõ Bổn Lai của pháp giới đó, phải nói năng, hành dụng không quái ngại sao cho đặng tỏ rõ, sạch sẽ gọi là thấy Tự Tại. Nhưng tự tại là pháp giới tự tại chớ chưa phải pháp giới tự tại là Bồ Tát.

Muốn trở thành Bồ Tát đúng lộ trình chư Phật, phải tự nguyện hành thâm pháp giới hàng bá thiên vạn lần cốt cúng dường Như Lai cho đến bao giờ được quân minh mới thực chứng tự tại. Lúc bấy giờ hành dụng pháp giới nào cũng đúng đặng tỏ tường pháp thân không còn trụ chấp pháp giới, không còn chướng đối pháp giới, thấu đạt tự độ cùng tha độ. Chừng đó được sáng tưởng thấy ngũ uẩn tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức vốn không.

 • SẮC UẨN: Chỉ chung mọi thứ vật chất hữu hình như thân.

 • THỌ UẨN: Chỉ tác dụng cảm nhận sự vật có cảnh liền sanh tình.

 • TƯỞNG UẨN: Chỉ tác dụng tưởng tượng sự vật của cảnh tâm liền sanh.

 • HÀNH UẨN: Tác dụng về tất cả hành động như thiện ác, tốt xấu của cảnh tâm liền sanh.

 • THỨC UẨN: Biết phân biệt sự vật của cảnh tình liền sanh.

Năm uẩn cũng chỉ là hai pháp Thân và Tâm, vốn sẵn thường còn nhưng chúng sanh vọng đảo mê lầm mà có khổ, không, vô thường. Tỷ như bong bóng nước do gió mà thành có rồi mất ngay không thực. Vui buồn, sướng khổ, được mất, có không của chúng sanh cũng như vậy, nó như trò huyễn ảo không thực thể, tất cả đều nằm trong hố sâu pháp giới: Có cảnh sanh tình. Chừng nào hành thâm pháp giới thấu đạt ngũ uẩn giai không mới thị chứng được do hợp hóa mà nó có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức trở thành vô lượng pháp làm chúng sanh thọ nhận khổ. Trực giác thấy biết thời nào nó vẫn thường diễn liền tâm hết khổ, đi đến cuối đường khổ, độ được tất cả khổ ách.

– XÁ LỢI TỬ: Nơi không do đồng hợp đồng hóa mà có sắc tướng. Nơi sắc tướng liền có tuổi thọ hợp tan lâu hay mau rồi trở về không. Vạn pháp như nhiên hợp hóa diễn mãi từ không đến có rồi từ có đến không.

Do đó, nơi Sắc chớ thọ chấp bác bỏ Không. Nơi Không chẳng nên bác bỏ Sắc. Vì từ hợp hóa mà có Sắc tức vốn Không - Không tức vốn Sắc. Cần biết hóa giải đúng, hợp tình hợp lý gọi là quân minh. Đấy chính là pháp đồng đẳng liền thị chứng Vô Thượng Đẳng nên không còn chỗ chấp KHÔNG. Pháp Vô Thượng Đẳng như nhiên vận chuyển được vũ trụ với con người vốn từ nơi không mà hợp hóa thành có. Thọ Tưởng Hành Thức cũng như vậy. Hóa giải pháp giới quân minh chính là Không Tướng mà Giác Tướng. Đã Giác Tướng các pháp liền không sanh cũng chẳng diệt, chẳng dùng con mắt giới hạn để thấy mà không tướng vẫn thấy, chẳng dơ cũng chẳng tịnh, chẳng thêm cũng chẳng bớt. Cứ vào pháp giới để tỏ biết đừng nản chí, dù cho có ý thức được vạn pháp vẫn pháp giới ý thức thôi chứ chưa giải được sanh tử.

Cứ vào vô minh tỏ vô minh sẽ hết vô minh, vào vô minh sâu thêm nữa như Phi Tướng thuộc pháp Bất Tịnh cốt yếu biết tận tường vô minh, sạch sẽ vô minh. Cần có chí bền biết sống trong tuổi già hoặc chết tuy chưa già chết vẫn tỏ tường già chết. Vậy có trí cần đào sâu vạn pháp, từ tỏ thông đến thấu đạt, đến tận tường trí, đừng có tăng thượng cho mình cao cống, cần vào sâu pháp giới nữa, có đắc pháp cũng đừng nên trụ đắc. Tất cả pháp giới không nên thọ chấp sẽ bị dừng trụ. Đừng cố ý quái ngại khi gặp pháp giới khó khăn hóa giải, phải tìm phương thức hóa giải cho được quân minh mới thông đặng vượt qua trở lực khó khăn. Nếu rụt rè quái ngại bị vương mang cái sợ mà củng cố, dừng trụ đứng yên cố thủ liền bị các pháp khủng bố càng tăng thêm khó khăn, không thoát sinh qua nổi pháp giới.

Phải thực hiện hóa giải pháp giới cho thông suốt chứ đừng dừng trụ, đừng suy nghĩ, đừng ảo tưởng trở thành điên đảo rồi cho hiểu biết của mình là pháp Cứu Cánh Niết Bàn. Biết sạch tận tường Bổn Lai Pháp Giới chính bất tử là Niết Bàn.

Tam Thế Chư Phật mười phương đều thực hiện Bát Nhã Ba La Mật Đa như vậy không sai chạy mà tận tường Chánh Biến Trí, sở đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những bậc tu thực hiện Bát Nhã như vậy thời nào cũng được Tương Thông Phật Lực là thành qủa, cố tri cùng Chư Phật.

Thật khó khăn vô kể, 100 vị sở đắc chân lý duy nhất chỉ có một vị thực hiện đạt quân minh thành tựu chân lý gọi là Diệu Quả Phật. Thường 100 vị sở đắc chân lý chưa hành thâm tận tường chân lý vội xưng danh Phật gọi là mang khai tướng Phật dễ bị lầm lẫn.

Bởi sở đắc chân lý tiếp tục thực hiện cốt tạo công năng công đức sung mãn thì mỗi tư tưởng, mỗi lời tuyên ngôn, mỗi hơi thở, mỗi nhẹ khẻ hành động đều tự phát Vi Diệu Pháp gọi là Thị Đại Thần Chú, mức tu chứng Đại thừa phá tan vô minh, đến Thị Đại Minh Chú, mức tu chứng Nhứt Thừa thông suốt Vô Minh, đến Vô Thượng Chú mức tu chứng Tối Thượng Thừa luôn nhứt thiết tận trừ khổ. Diệu âm nầy vi diệu tận độ chúng sanh không thể nghĩ bàn rất chân thật.

Tuyệt mỹ thay! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là đại duyên lành mật thiết, làm kim chỉ nam đúng đắn, tuyệt đối cho tất cả bậc tu cần thực hiện giữ gìn đừng xao lãng mà đến hoàn toàn Giác Ngộ. Bậc Chánh Giác phải nương theo vạn pháp hóa giải quân minh lớp lớp mới Tận Thành Chánh Quả.

ĐẠI ĐỨC: Tôi nghe Đức Long Hoa Tăng Chủ khai thị tại Trung Ương Hội Thượng số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng Nha Trang như vầy: Bậc Tăng có đầy đủ công năng trực giác thấy biết (Trực Thị) vạn pháp trong tứ thời. Công đức luôn hỷ xả cao dày gặp hoàn cảnh tâm chí hướng thượng hóa giải bờ ngăn, lấy tự tánh làm cơ bản tự độ tha độ. Tâm chí bao dung được xưng tán Đại Đức.

– HÒA THƯỢNG: Bậc tu từ lý cho đến trí dung hòa chẳng xa lìa thể tánh, không còn Ngã và Ngã Sở. Bậc này tự biết nương theo Chư Bồ Tát, Chư Phật đưa cho tất cả bậc tín tâm tu được Giác Ngộ. Nếu có bậc tu cầu giác ngộ rốt ráo bậc Hòa Thượng phải biết hành dụng đến diệu dụng Hữu Tướng Phi Tướng viên dung cốt tận độ cho bậc tín tâm đến toàn thiện toàn chân. Hòa thượng phải là bậc độ được Đại Đức mỗi ngày thêm công năng công đức càng cao dày.

Trình độ tu chứng Đại Thừa từ Giác Ngộ, Đại Ngộ đến Liễu Ngộ là cao nhất. Những bậc đắc chân lý này thường là vị Tổ có trình độ trực giác được nghiệp thức phiên diễn của chúng sanh, chỉ đạo cứu độ chúng sanh trong chân tình bất diệt làm cho chúng sanh tỏ thông nhận chân được chân lý mà Giác Ngộ./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng