47. Thời Kỳ Nhất Tôn Hoá Độ Nhất Thừa

"HÀNH DỤNG NHƯ LAI TẠNG"
Lộ trình Tu đi đến Vô Thượng Đẳng Chánh Giác của Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật.

 

Bồ Tát đi nơi Hữu Ngã mà thành Vô Ngã. Phàm Phu đi trong Vô Ngã mà thành Hữu Ngã.
Bồ Tát tu trì hạnh nguyện qua từng giai đoạn từ nơi Thanh Tịnh đến nơi Bất Tịnh từng lớp lớp chúng sanh, với chủ đích phụng sự cúng dường Như Lai thề nguyện Sự thành thử không ô nhiễm, không tập nhiễm chẳng mảy may chướng ngại sự việc mình đang hành, sự việc mình sắp làm ngày nay phải làm, chốn rỗng rang của Bồ Tát, duy nhất bậc tu chứng hạnh nguyện dung khắp mới tường tận mà thôi.

–BIỆT TÔN VÔ THƯỢNG ĐẲNG KINH

Thời kỳ Hoá Độ Nhứt Thừa, Ngài khai thị cho các bậc Tôn Giả tín thành, thiết tha đã từng qua pháp không chướng, không chấp. Cả đạo tràng Pháp Tạng có khoảng bốn hoặc năm vị Tôn Giả được dự vì từ hàng Thánh Hiền chuyển lên tu trì hạnh nguyện từ A La Hán đến Bồ Tát thực tế quá khó.

Đúng tinh thần Ngài biết trong vị lai Tôn Giả nào sẽ Liễu Ngộ mới khai dạy Nhứt Thừa để tu đến Giác Ngộ Rốt Ráo.

Tuy cùng chung trong hội trường nơi Đạo Tràng Ngài khai riêng cho lớp say đạo, cấp tu chưa say đạo đến không hề hay biết. Khi Ngài đang giảng mà có bậc nào không phải lớp say đạo vào ngồi nghe, Ngài liền chuyển pháp liền lạc cho hợp với trình độ của bậc này nên cấp tu thấp không hề hay biết Diệu Dụng của Ngài. Bậc Tôn Giả được Ngài khai hạnh nguyện, hành nguyện Bồ Tát, những bậc này thật tín tâm, nhẹ cảm những gì Ngài khai thị cho thi hành.

“Tuy nhiên các Ông cùng một lứa tu hành, cùng một môn tu trì Tri Kiến, nhưng thật ra giữa các ông với các ông trình độ, tư tưởng xa cách nhau quá ư nhiều bậc, chỉ vì quan niệm không đồng, pháp giới như vậy. Đứng về phẩm Bồ Tát đối với A La Hán, Duyên Giác, Thinh Văn xa hàng triệu do tuần.” –T.V.

Lời của Đức Vô Thượng Tôn rất chí tình một khi đã được ấn trao truyền thừa Bồ Tát Ma Ha Tát thì vị này thực tiễn là Thầy của họ trong vô số kiếp nữa, nhưng có quan niệm cùng chung một Thầy nên lắm lúc họ nói càn nói ẩu xem như trình độ ngang nhau. Bậc biết phải làm thinh vì cái Mê, cái Ta lầm lẫn của họ.

Sau Ngài khai thị: “Cũng như Tôi vì Diệu Dụng tận độ chúng sanh mà phải bị Nhân Sinh bạc đãi, vậy Ông phải tự nguyện nếu họ quay lại tìm, hồi hướng tùy chí nguyện ông dạy cho họ được Giác Ngộ, được Chánh Giác. Thực hành đầy đủ Như Lai vô biên thề nguyện sự ông mới tròn duyên tròn nguyện phẩm công đức cúng dường Như Lai mà thành Chánh Quả.”

Chư Bồ Tát là bậc tu hành đúng với Chân Tôn Chánh Tín. Bậc này đã nghe thấy biết tường tận pháp mê tín nên thường ngày tự có mạch sống thực tiễn liền lạc. Những bậc tu lâu năm tính theo tuổi kiết hạ, dù có tín tâm hay thiết tha tâm mà không thấy được chính mình bị mê tín, vẫn tu hành lạc hướng. Do đó không thể kể tu hành lâu năm hay mới tu. Cũng không tự thắp đuốc mà đi nổi.

Bồ Tát thường giải được mê chấp, đó là món ăn của Bồ Tát. Bồ Tát thường tự vận chuyển thông suốt vạn pháp di chuyển nơi tánh mình để pháp Hồi Tâm. Khi gặp hoàn cảnh khó vẫn an nhiên chú tâm hóa giải an lành. Đó là y áo Bồ Tát.

Bồ Tát đối diện trước nghịch cảnh dù gai góc gay cấn đến đâu vẫn tự quán biết rõ nhưng tâm không phiền trách đó là Bồ Tát Nhãn Tịnh, Nhĩ Tịnh liền có cái nhìn Chân Giác, quân minh vượt tầm tỏ thông cái thấy của A La Hán.

“Nhờ Đạo Hạnh kiên trì nên Bồ Tát mới đặng đôi mắt Nhãn Tạng vệ tinh soi khắp thế gian cùng xuất thế gian không lầm lạc.” –T.V.

Bồ Tát thường dùng ái ngữ cùng cử chỉ cao đẹp, làm cho chúng sanh ái kính, nhờ đó gần gũi chúng sanh mà biết tỏ tường nơi thếâ gian đến các cõi ngoài thế gian như Tiên, Thần không có lầm lạc. Bồ Tát biết từng Pháp Tánh từng Bổn Lai Diện Mục của mỗi mỗi chúng sanh bị thọ nhiễm ra sao, phải hành dụng như thế nào, Bồ Tát liền giúp đỡ tháo gỡ độc nhiễm rất kết quả khiến chúng sanh giải mê hết lầm.

Bồ Tát không hề chỉ thuyết pháp suông mà nhờ mắt Nhãn Tịnh, tai Nhĩ Tịnh, nên quan sát tỷ mỉ theo dõi chỉ bày chúng sanh áp dụng lối tu hóa giải ngay trong gia đình, trong chỗ làm việc. Sau kiểm tra chỉ bày ưu điểm, khuyết điểm dần dần chúng sanh bớt cái sai được cái đúng đến lúc không còn cái sai chỉ còn cái đúng. Bậc tu tín tâm được an lành thoải mái biết việc mình làm, ý thức lời nói dẹp tan được Vô Minh.

Hàng Bồ Tát không ngồi giảng Tham, Sân mà Hành Dụng, Diệu Dụng cho bậc tín tâm vào tham, vào sân sau va chạm bị hư hỏng thấy rõ mình bị tham, bị sân độc nhiễm liền tự tháo gỡ được an lành. Bồ Tát đã từng kề cận Chư Phật, đã từng trải qua tham, sân, si. Đã từng được Phật Diệu Dụng nay ắt phải biết cứu độ chúng sanh, cứu độ A La Hán được tỏ tường mà không dính mắc Tham, Sân, Si.

Thật khó gặp bậc biết hành dụng, diệu dụng chỉ bày Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh, Bồ Tát Hạnh.

“Bồ Tát biết công dụng Pháp Đảnh nơi đỉnh đầu Nhập Định Xuất Định diễn thông tam giới, có thể đo lường trọng lượng sắc thái nơi các cõi trong tam thiên vũ trụ, di chuyển từng sát na thoải mái, không khác nào các nước văn minh dùng phi thuyền khám phá vũ trụ, do nơi công năng kiến tạo tường tận không còn mảy may nghi chấp, bậc này thường nói: Ta chẳng còn lấy một nghi chấp nào cả.” –T.V.

Bậc tu đoạt được từ Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ đến Vô Thượng Đẳng Chánh Giác biết dụng pháp đảnh cao thấp rộng hẹp tùy mức tu chứng những bậc này đều nương theo thể tánh tỏ Thiền tức tỏ Thiền Tánh. Thể Tánh Thiền không khác với Pháp Tánh. Thể Tánh thiền nương chìu theo từng vọng khởi từng tà niệm của bậc tu chạy theo sự mong muốn thành giới hạn. Bậc biết nương theo Thiền tức nương theo Thể Tánh hóa giải mê lầm được biết rõ Thể Tánh vốn Viên Tịch, vốn sáng sẵn nơi Nhân Sinh. Lại tùy bậc tu hành thâm pháp giới tỏ rõ cạn sâu mà đoạt Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ, Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Những Bậc Giác Ngộ còn phải hành thâm vào Giới ra Giới, phải tinh tấn thi hành Tịnh-Bất Tịnh dung thông 10 năm, 15 hay 20 năm sau mới vào được Định. Nếu bậc tu Đại Ngộ sẽ được Đại Định, bậc tu Liễu Ngộ từ Đại Định lìa định vào Liễu Định. Bậc tu dám tiến sâu vào vô minh đúng mức liền thị chứng Diệu Âm, vào vô minh thêm nữa sẽ thị chứng không còn pháp nào cao hơn nữa... Nếu bậc tu đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác một thời gian sung mãn công năng công đức sẽ vào Chánh Định. Từ Chánh Định phải tu sống động nữa nơi Hữu Tướng Phi Tướng để từ Chánh Định vào sâu Thần Thông Tam Muội, tỏ tường trơn liền Tam Muội.

Bậc tu dù thuộc bất cứ pháp môn nào, tôn giáo nào cũng phải duy nhất tuần tự sở đắc từng phẩm như vậy. Đây là lộ trình Chư Bồ Tát đúng nghĩa đến với Như Lai Phật, Thượng Đế, Đấng A La không có con đường thứ hai nào khác. Ngoài ra đều là Man Khai Tướng Phật.

Phật thân và tâm là một. Còn chúng sanh thân và tâm là hai. Tu chừng nào thân tâm là một mới xuất định được. Có bậc thật giỏi, trí tuệ không chướng, không chấp, không mắc miếu khi Giác Ngộ một thời gian nhập định được nhưng lại không xuất định được. Chỉ dùng Định Tưởng để xuất Định theo Tiên Thần Trí, giới này nhiều vô số, thuộc ngoại giáo. Tu theo Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc mới thấy được biển cả bao la vô tận, phải đào, phải bới chẳng thiếu sót pháp mới có nhập, xuất Chánh Định. Thật khó khăn vô kể mà cũng an lạc vô kể, nó Bất Khả Tư Nghì, chẳng thể dùng văn tự giảng giải được.

“Quốc độ là hàm chứa trang nghiêm bảo pháp do Phật Lực hiện hành, Chư Bồ Tát an trú, do như thế nên bậc thiện căn, thiện chí đến mức nào chẳng làm thế nào nhìn nhận đặng.” –T.V.

Quốc độ chư Phật quá khứ cũng như quốc độ Đức Di Lạc Tôn Phật hiện hành đầy đủ trang nghiêm. Bậc tín tâm tu tập theo Ngài khi có hoàn cảnh đều được bảo bọc nơi Phật Lực đầy huyền diệu. Chư Bồ Tát đều được nương nhờ Phật Lực này tu hành. Khi bậc tín tâm cùng Chư Bồ Tát gặp hoàn cảnh không hóa giải nổi đều được Phật Lực đầy quyền năng, đầy mầu nhiệm chở che cho qua khỏi nạn tai khổ ải.

Có hạnh nguyện tu hành trong thời Hạ Lai Mạt Pháp gặp được Đức Di Lạc Tôn Phật mới nhìn nhận Phật Lực của Ngài đầy bao dung, tận độ chúng sanh khó nghĩ bàn. Những bậc càng Tin Vâng Kính, Ngài càng mở pháp nghịch. Có lắm lúc không chịu nổi bỏ đi nhưng dù có xa lánh ở đâu cũng được Phật Lực cứu độ hồi tỉnh, không khác nào Tôn Ngộ Không được cái vòng kim cô dính trên đầu do tâm Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ.

Số Chân Tử không phải thành phần xây dựng Đạo, họ ở vòng ngoài của tổ chức Trung Ương không hề hay biết. Thế mới biết cùng đạo tràng, cùng một hội trường mà lối tu thọ lãnh Chân Pháp của Ngài khác xa nhau triệu triệu do tuần. Thế cho nên dù bậc tu thiện căn, thiện chí đến mức nào chăng nữa mà không lập pháp xây dựng Chánh Pháp vẫn không hề nhận biết đường Đạo tận độ chúng sanh.

“Sau khi thành Phật thân tâm là Như Lai trùm khắp. Đối với bậc Chánh Giác thân vốn Như Lai, đó chính như nhiên không hai tướng.” –T.V.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký Bồ Tát Di Lạc thời Hạ Lai Mạt Pháp thành Phật. Lúc bấy giờ Đức Di Lạc đã sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Ngài đã phải Hạnh Nguyện hành thâm Pháp Giới. Đến nay đã được 2539 năm Phật Lịch mới thành Chánh Quả Phật. Thật khó khăn vô kể! Thời này Ngài quán xét lại có lắm bậc sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác học thuyết, giả thuyết mà hạnh nguyện vạn pháp còn cạn cợt vội xưng Phật trở thành Phật Giới bị lầm mê.

Như đã trình bày phần trước, vị Phật trước phải dạy chu đáo rồi thọ ký cho Bồ Tát thừa kế sau sẽ thành Phật. Nếu không, dù Chư Bồ Tát nào có sở đắc cũng vòng quanh lục đạo không sao nhập thể được, Vũ Trụ tức Như Lai không công nhận.

Phật phải có thể hiện hàng Thánh Chúng và Bồ Tát Thượng Thủ. Còn tự xưng Phật mà dạy chúng sanh, sau này chúng sanh niệm chúng sanh nghe, còn xa chân lý và vô minh dầy đặc nên không nhập thể vũ trụ được, phải học chư Tổ, chư Thánh cho xong đã.

“Nơi kinh Duy Ma, ông A Nan xin sữa, ông Duy Ma quở trách: Ông A Nan, ông chớ nên nói thế, Như Lai bất diệt, Như Lai nào có bệnh, ông nói như thế bọn ngoại giáo nghe, họ tự sanh lòng sanh diệt, làm cho A Nan bở ngỡ chưa phân định được, liền bưng bình bát trở về. Sau đó trên hư không mới gọi: Ông nên lấy sữa để Đức Thế Tôn dùng. Vì tất cả chúng sanh đang bệnh nên Phật mới thị hiện bệnh, chớ nào phải Ngài bệnh.” –T.V.

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Vị Cổ Phật Duy Ma giải thích cho ông A Nan để cho đời sau khỏi lầm: Chúng sanh Tướng và Tâm là hai còn sanh diệt. Hàng Nhị Thừa cũng còn sanh diệt. Còn Phật Tướng Tâm là một. Thân Phật tức thân Như Lai. Đức Bổn Sư và Đức Di Lạc đều đoạt được Kim Thân nên thân tứ đại muốn ở hay vào Niết Bàn đều tùy ý. Chúng sanh tánh chư Phật không còn bệnh gọi là Phật Tánh. Chúng sanh tánh Tứ Chúng tu theo Ngài còn bệnh nên Đức Bổn Sư mới thị hiện thân Tứ Đại bệnh để chỉ cho Tứ Chúng biết.

Thời Đức Di lạc tôi đã từng chứng kiến, Ngài bảo quyết ban Bảo Châu cho Tứ Chúng nhưng số đông đều bị lầm Đức Vô thượng Tôn Di Lạc bị bệnh tai biến mạch máu não. Vì tất cả chúng sanh đang bị bệnh thiếu trí nên Đức Di Lạc Tôn Phật mới thị hiện bệnh tai biến mạch máu não. Ngài nhớ lại Đức Bổn Sư bảo Ngài thời Mạt Pháp phải thị hiện thân điên loạn để tận độ chúng sanh nên Ngài bắt đầu đuổi, khai trừ, làm dữ các Chân Tử vòng trong, cho số Chân tử vòng ngoài quậy, canh giữ, đuổi để bậc tín tâm không vào thăm Ngài được. Vì lúc này Ngài đang mở khoa thi lần thứ hai.

Những lần Chân Tử thuộc vòng trong thấy tình hình khó khăn không về thăm, Ngài liền nhắc, nhưng khi nghe tin đến thăm liền bị Ngài đuổi, bậc hỷ xả phải ở ngoài phòng chờ dịp nhìn qua cửa để thăm Ngài. Ngài dụng nhóm con cháu Đề Bà Đạt Đa, thừa dịp này họ lộ diện ác căn rất rõ đểõ đuổi số Hộ Pháp, Tôn Giả, Bồ Tát tín thành đang ở quanh Ngài. Vì có thị hiện bệnh tai biến mạch máu não nên Ngài mở cho đánh mới hợp với như nhiên, chính Như Pháp. Còn như Hòa Thượng Tế Điên không bị bệnh não mà thị hiện Phi Tướng nên không phải Như Pháp, thuộc La Hán Hạnh.

Bà Tạng Trình hàng Tôn Giả ở sát bên Ngài cũng lầm, cứ nói Ngài bệnh, thật ra Kim Thân tức Như Lai nào có bệnh, Tứ Chúng bệnh Ngài mới thị hiện bệnh để đưa qua ngăn chấp, nghi chấp làm cho họ thọ lãnh bảo châu tức Như Pháp. Còn những kẻ thừa dịp trổ hình chướng đối được dịp tha hồ đem lòng xấu xa, ganh tỵ cố đánh, giết hàng tín tâm tu vòng trong đã thể hiện rõ con cháu Đề Bà Đạt Đa thuộc Ma tằng quỷ quái, hải tặc sơn lâm. Ngài thị hiện bệnh não cho đánh đập dữ dội một số trên 10 vị trong danh sách vòng Trung Ương vì nó là Như Pháp nên không ai chấp chướng trái lại tìm đủ cách phục vụ cho Ngài khỏe. Vào Nhứt Thừa tu khó khăn vô kể!

“Thật cao quý thay! Có mỗi một điểm tựa nhỏ mà Chánh Báo vô tận, thân tâm bao dung, biết trọng cho tất cả mọi người, tha thứ cho tất cả mà tự đặt mình vào cương vị quá ư tuyệt mỹ. Do đó nên chi Bồ Tát phát Đại Nguyện rằng: Như Lai vô biên thề nguyện sự.”
–T.V.

Chỉ cần nhận chân được Như Pháp nơi Ngài thị hiện để tận độ chúng sanh tánh, chỉ một khởi điểm nhỏ liền vào con đường Tri Kiến Giải Thoát mà Chánh Báo vô tận vậy. Dù bị đánh đập, vẫn không giận Ngài, không oán hận con cháu Đề Bà Đạt Đa gây tác tệ, thân tâm được bao dung, được xem như phẩm trợ duyên nghịch hành, thật quá ư tuyệt mỹ.

Hàng Bồ Tát mà chưa thấu đạt được Kim Thân Phật Lực thì chưa nhẹ cảm thấy hết Như Pháp. Như Pháp chính là Vô Sư lúc bấy giờ mới tự giác thi hành Ma Ha Tát được. Tề Thiên trong Tây Du Ký là tượng trưng cho Trí của Tam Tạng Pháp Sư, dù cho Tề Thiên Đại Thánh có làm được việc siêu phàm, nhảy xa cuối chân trời vẫn được Chư Phật bảo bọc, có nghĩa lúc nào Phật Lực cũng hiện hành tận độ. Cho dù Tề Thiên Đại Thánh có tài trí đến đâu cũng phải tôn Pháp Sư Tam Tạng làm Thầy chỉ giáo cho. Ý chỉ có Trí phải có Đức. Đức Trí tương song mới Sở Đắc Chân Nguyên.

Trong Long Hoa Hội Thượng, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc thường chỉ bày rất chu đáo cho những bậc có Trí phải thi hành tạo Đạo Đức cho tương song. Có Trí sống trong đời lanh khôn hơn Nhân Sinh nhưng làm theo Trí, ăn trên thiên hạ rồi cũng đến lúc sụp đổ nát tan trông thê thảm, nên cần tạo đạo đức mà trí kém còn có lợi cho đời hơn. Những vị hộ Pháp cần tạo Đạo Đức là những vị đạo đức kém. Cần chú tâm quán xét kỹ, phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, phải bình tĩnh chọn lựa ác và thiện trước khi hạnh nguyện để khỏi rơi vào ác căn.

“Bậc tu hành lúc qua trở lực, khi tận thấu diễn hóa vạn pháp mới biết đặng không có Ma Tánh, qua từng trở ngại vi tế, do nội tâm phát hiện mới liễu thông sự ngăn cách cản trở nơi Ma Nghiệp, nơi nghiệp lực của Ma Lực nó rất đáng kể. Khi các bậc tu hành qua các trở lực, nhiếp độ trong sạch căn tánh liền Chân Giác ba cõi, sáu đường trở thành tự tánh Pháp Thân, rốt ráo Pháp Thân mà Chánh Giác Bát Đại.” –T.V.

Trên thực tế Bồ Tát tu hành theo sự chỉ đạo của Đức Di Lạc Tôn Phật thật khó khăn vô kể, cứ mỗi lần hành nguyện là mỗi lần bị pháp cản ngăn, nó liên tục làm tê liệt bậc chí nguyện Bồ Tát. Đến nỗi nhiều Tôn Giả phải bỏ cuộc, hoặc dang dở thấy khó sinh ra chán cũng bỏ. Số này rất đông mặc dù họ thông chân lý, cuối cùng thích ngồi thuyết pháp dễ hơn nên bị thọ chủng Thinh Văn Hạnh không sao lập Duyên Giác Hạnh cho tròn được.

Hiếm hoi lắm Ngài mới có được một Bồ Tát vượt qua được các trở lực, mới thấu đạt vạn pháp diễn hóa. Chừng đó mới tự giác không phải do Ma Tánh. Chỉ cần ý thức vượt qua từng trở ngại nơi thân tâm thành một, không còn Ma Nghiệp gọi là nghiệp lực cản ngăn. Vừa độ khổ vừa chí bền theo nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát mới chí nguyện gần Phổ Hiền Bồ Tát vào Nhứt Thừa được.

Tất cả bậc tu cho đến chúng sanh vì còn làm biếng mới phải làm siêng gọi là Tinh Tấn Hạnh Nguyện, chứ một khi đã không còn làm biếng thì đâu cần làm siêng tinh tấn. Nếu tinh tấn nữa vẫn là bệnh. Pháp của Nhứt Thừa, Bồ Tát việc đến biết làm nên không sanh pháp. Chúng sanh còn làm siêng làm biếng nên còn sanh diệt. Tương đối pháp là mê lầm. Tuyệt đối pháp là Giác. Đến lúc làm gì cũng đúng liền Thị Chứng Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Bậc tu hạnh nguyện không ngoài ba cõi sáu đường, sạch sẽ trơn liền tự đạt được rốt ráo Pháp Thân Bát Đại. Bát đại là tám (8) Đại đều được như nhiên Đại Thanh Tịnh: Địa Đại, Thủy Đại, Phong Đại, Hỏa Đại, Hư Không Đại, Tạng Thức Đại, Như Lai Đại, Giác Tướng Đại.

“Bằng chưa Chánh Giác, nơi tự tánh, tự ngã pháp thân thời thảy đều Pháp Giới Phật Giới. Khi đã vương nơi Phật Giới an trụ Pháp Thân, thời gian liền thị hiện Tam Giới độ sanh Tận Giác Vô Thượng Đẳng Chánh Giác Bát Đại Niết Bàn.” –T.V.

Bậc an trụ nơi Phật Giới bị bản ngã, Pháp Thân chưa hạnh nguyện đầy đủ, cần phải đi trong ba cõi, sáu đường độ sanh chẳng thiếu sót pháp giới nào nữa mới gọi là Tận Độ. Có Tận Độ mới mong được Tận Giác Vô Thượng Chánh Giác Bát Đại Niết Bàn. Tận độ thật quá khó khăn. Vì phải hành pháp lạ nên chẳng mấy ai qua nổi.

Muốn thấy vật lạ. Phải làm sự lạ.
Pháp lạ khó nghe. Cần hỷ xả.
Tất cả thiện ác. Không chấp không chướng, tâm ý dung thông.
–VÔ SƯ KINH

Làm sự lạ phải cầu Chư Phật Chánh Quả khai thị, vận chuyển vạn pháp lạ được mới thấy điều kỳ diệu. Pháp lạ khó nghe. Nghe gì cũng không chướng đối, cũng không nghi chấp cần tỏ tường pháp tánh rồi hỷ xả đến lúc khó nghe mà vẫn nghe một cách tự nhiên tâm trơn liền không nhàm chán lại còn tìm đủ phương thức cầu tiến không ngừng.

Cái nghe, cái thấy phải hạnh nguyện tự giác như vậy. Đến cái biết dù nhỏ cũng chú tâm quán sát chẳng lơ là, còn cái biết dù lớn cũng không tự mãn, tự kiêu. Càng độ chúng sanh tánh càng hiểu biết rộng thêm cũng vui mừng, nhưng không trụ mừng. Đến tận biết sở đắc Vô Thượng Chánh Giác. Tu như vậy không bị thọ Phật Giới. Bởi vậy mở đầu khai kinh, Tôn Giả A nan ghi: Khai kinh kệ, Vô Thuợng thậm thâm vi diệu pháp. Nơi bá thiên vạn pháp khó gặp Phật Vô Thượng Chánh Giác có đầy đủ chủ quyền Phật Lực thành Phật. Nếu gặp được Phật là căn cơ sâu dày mầu nhiệm mới nhận lãnh lời văn đắc Chân Lý bảo trì, lại nguyện giải toàn Như Lai Pháp thành chân thật nghĩa.

“Thời quá khứ tiền thân Đức Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật còn hiện thân Bồ Tát gọi là Thường Bất Khinh Bồ Tát nơi kinh Pháp Hoa:

Khi bấy giờ Thường Bất Khinh Bồ Tát sở đắc Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Nhìn thấy tất cả chúng sanh đều là ứng thân Phật thị hiện. Ngài đặng biết đồng ứng Như Lai, làm hàng bá thiên Vạn Hạnh đi, đứng, nằm, ngồi đầy đủ tư cách tốt xấu, sạch dơ. Ngài liền đến từng người lễ bái thưa gởi: Chính các ông là Phật. Tất cả thảy đều cho Thường Bất Khinh điên. Chớ nào hay nào biết đặng bậc say sưa đánh cờ kia mà say sưa Đạo Phật tu vẫn thành Phật. Kẻ chơi Tiên chìm đắm nọ mà tu trì chìm đắm tỏ ngộ vẫn đặng thành Phật thì sao? Đó là không giới tròn giác vậy.” – T.V.

Bồ Tát sở đắc Tam Muội mới hành dụng tận độ chúng sanh tánh theo một con đường duy nhất mà Chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai đều phải trải qua một lối, phải chung một đường. Ngài nhìn thấy tất cả chúng sanh vốn có Phật Tánh, vốn sẵn có bá thiên vạn hóa thân, thân nào cũng là Phật hiện cả nhưng vì mê lầm do tham sân si rồi tranh giành hơn thua đủ muôn ngàn lối nên Phật tánh bị che ẩn không hiện được.

Chư Bồ Tát nào cũng phải biết thị hiện xác thân này vạn hạnh mới tận độ hết chúng sanh tánh nên Ngài lập hạnh làm cho chúng sanh khinh chê để phơi bày hết pháp tốt xấu, sạch dơ. Từ đó xem xét tâm đã trơn liền chưa, nếu thấy còn chớp động phải tự nguyện hành dụng cho sạch gọi là tận độ. Thực hiện xong Bồ Tát thành tựu hạnh Thường Bất Khinh có nghĩa chúng sanh khinh chê mà Bồ Tát không thấy có bị khinh chê, không thấy oán hờn mà lại càng hỷ xả để cúng dường Như Lai.

Cho nên chư Bồ Tát không một pháp nào chẳng hạnh nguyện, cốt để tự độ và tha độ. Chúng sanh, bậc Nhị Thừa thường khinh chê Bồ Tát nên bị bê trễ không theo kịp con đường Chư Bồ Tát đã đi. Thật khó có cơ hội gặp lại để cầu Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo.

Hàng Nhị Thừa thấy hạnh Thường Bất Khinh của Bồ Tát, vội hùa theo nguyền rủa bị tổn thương không còn bảo trì công đức thật tai hại ắt bị sa Địa Ngục thọ báo.

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi còn hạnh nguyện Bồ Tát đã thực hành hạnh nguyện Thường Bất Khinh đến thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc Bồ Tát cũng lập hạnh Thường Bất Khinh sau lập Trang Nghiêm Hạnh thành tựu Phật Quả. Đường đi trước và sau của Chư Bồ Tát cầu Diệu Quả Bồ Đề phải hiện Sắc Thân Tam Muội mãi cho đến khi hoàn toàn viên mãn. Không có con đường nào khác, chỉ duy nhất một con đường Nhứt Thừa này để thành tựu vào Tối Thượng Thừa.

Chúng sanh thấy hạnh nguyện Bồ Tát chớ nên chướng đối mà bị tổn thương quá to lớn, cũng chớ nên dung dưỡng trông đợi ảo mộng tối tăm. Hãy nhìn, hãy nghe nơi thị hiện sắc thân Tam Muội của Bồ Tát mà sở đắc tự biết Không Tướng đến Giác Tướng. Giác Tướng là Tướng Phật.

Bồ Tát cầu Diệu Quả Bồ Đề không lập giáo môn chỉ do chúng sanh đa bệnh mà Bồ Tát phải đa hạnh. Thời Hạ Lai vẫn không lập giáo môn chỉ tùy căn sâu cạn, tùy duyên lơi, duyên thiết tha mà hóa độ thôi. Bồ Tát ắt phải am tường đường đi của chư Phật hiện tại vừa Bát Đại Niết Bàn nên chỉ chuyên hóa giải quan niệm tạo thành nghiệp cứu độ chúng sanh. Trong hư không không thấy vết chân Chư Phật nhưng Bồ Tát tìm lại được dấu vết Chư Phật đã đi nay theo không hề có lạc đường.

Trong hư không, không còn dấu vết mà tìm được dấu vết mới thật vi diệu nên Bồ Tát nhất tâm cổi giải an lành như nhiên cho chúng sanh cùng hàng Nhị Thừa, hàng A La Hán tu chứng mà thôi. Bởi vậy kẻ say mê đánh cờ, bậc thọ nhiễm Tiên Đạo nếu lìa chấp, lìa chướng gặp Bồ Tát vẫn được chỉ dạy thoát chìm đắm đặng Giác Ngộ. Phẩm Phật Quốc trong kinh Duy Ma như sau:

“• Trực tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không đua vậy sanh sang nước đó.
 • Thân tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó.
 • Nhẫn nhục là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ 32 tướng tốt sanh sang nước đó.” –T.V.

Tu lâu lên chức Đại Đức, Hòa Thượng mà khi già bệnh hoạn rồi hôn mê chết do tại sao?

Thân theo tư tưởng, nói sao làm vậy nên còn đang làm chúng sanh Hộ Pháp tức Chúng Sanh Tăng. Do đó thân với tâm là hai. Chừng nào chịu tu sửa đến lúc tâm nghĩ như thế nào thân làm y vậy là một thì sở đắc chân lý.

Thích suy nghĩ, học, tụng kinh, xem kinh rồi thuyết giảng thì hay. Còn chịu khó, chịu khổ làm để sửa tánh, sửa tật xấu thì không làm, Thân Tâm thành hai là chúng sanh. Chân lý chỉ có một đường duy nhất là Giác. Nhiều bậc rất tin tướng Phật, cốt Phật mà không chịu tu Tâm. Có lúc Tâm chịu tu mà thân không chịu hành nên không có Trực Giác. Chư Bồ Tát Thân Tâm là một, Tâm và Pháp tái hợp làm một đó là Tịnh Độ của Bồ Tát.

Bậc tu còn tâm thức động vọng nên cần Thiền Định đạt Tịnh Tâm. Đã tịnh tâm đương nhiên tịnh độ của Bồ Tát chừng đó mới có Trí Huệ. Trí Huệ không mắc miếu nơi đâu thì đâu đâu cũng đều là Tịnh Độ được tận thấu Trực Tâm.

Thiền Định và Tịnh Tâm vốn là một, nếu là một liền có trí tuệ. Không Thiền Định không phát triển Trí Tuệ, không có Trực Tâm. Nương nhờ Thiền Định mới Giác. Thời Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật, Ngài dặn dò rất tỷ mỉ, nhiều bậc tu làm biếng Thiền Định hay gặp hoàn cảnh khó khăn bỏ Thiền nên Ngài dỗ dành khuyên bảo không khác ông cha thương đàn con còn dại khờ.

Bậc tu còn thân tâm là hai, dù tu lâu năm khi chết vẫn còn sanh tử chớ không đi đâu được. Khi thân tâm là hai thì tâm và pháp cũng là hai nên phản nhau cũng như bậc tu theo chư Phật, tâm muốn tu giác nhưng pháp đến mình chê. Rõ ràng tâm và pháp là hai nên không được về Tịnh Độ. Khi thành Phật chúng sanh tánh đã được thanh tịnh cũng được trả về Quốc Độ Chư Phật, được sanh sang Phật Quốc.

Nhẫn nhục mà biết hóa giải vạn pháp trong Đạo Hạnh sẽ trực giác Tịnh Độ của Bồ Tát. Còn gọi là Nhẫn Nhục Tam Thừa. Chúng sanh nhẫn nhục cứ làm thinh không tu sửa, không hóa giải, thời gian hóa khờ không có trí tuệ.

“Bồ Tát nương nơi Công Đức Như Lai. Tĩnh tọa an nhiên, đồng thuyết pháp cho vô số chúng sanh nơi mình đặng nghe pháp, lãnh hội lời thuyết ngôn, tất cả thảy đều đặng nhiều môn giải thoát, đó là những vị đã từng Cúng Dường Như Lai nên ngày nay mới nói như thế.” –T.V.

Bồ Tát không soạn bài chuẩn bị giảng, cũng không nghiên cứu kinh để thuyết pháp bao giờ. Bồ Tát thân cận Tứ Chúng cùng chúng sanh, nương vào họ lập công đức tu hành thực tiễn, nhận chân được nghe thấy biết chính là Như Lai Pháp tùy căn bệnh của chúng sanh, cùng căn bệnh bậc tín tâm rồi từ đó thuyết pháp đúng thọ chủng, thọ nghiệp của họ, làm cho chúng sanh cùng bậc Tín Tâm tỏ thông Giác Ngộ. Chính hạnh nguyện như vậy mà Bồ Tát được nhiều tài liệu, nhiều môn giải thoát để Cúng Dường Như Lai đặng thành Phật.

Bồ Tát dần dần trực giác chu đáo Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh tận thấu không còn ưa thích cá nhân cá tánh, chỉ nương pháp Như Nhiên nơi mình, nơi chúng sanh, nơi bậc tín tâm để tận độ.

“Thời bấy giờ có vị Thiền Sư Bồ Tát, sở đắc thần thông, dạo khắp tam thiên thế giới rồng người. Khi dùng Lậu Tận Thông biết đặng nghiệp lậu chúng sanh. Dụng Tha Tâm Thông tỏ rõ tâm trí rồng người. Dùng Túc Mạng Thông quán sát tuổi thọ từng các cảnh giới. Dụng Thần Túc Thông tận rõ nơi thọ ngã chư Thiên Tiên.” –T.V.

Có tu ở gần Đức long Hoa Tăng Chủ mới chứng kiến Ngài có đầy đủ Lục Thông thị hiện nhiều vô số vi diệu pháp, để tận độ Tứ Chúng trong đạo và nhân sinh cùng tứ loài thời Hạ Lai Mạt Pháp này. Ngài biết tất cả nghiệp căn, nghiệp lậu của từng Chân Tử, lúc nào cũng khai thị cho họ tháo gỡ đến tỏ thông nghiệp lậu. Bởi vậy, Ngài thường diệu dụng phi tướng cho bộ Trung Ương nhưng số này vẫn tin vâng kính Ngài. Những bậc cùng tu trong Long Hoa Hội mà thờ ơ, ở vòng ngoài không khi nào biết rõ diệu dụng của Ngài. Họ được Ngài hoá độ thuận hành, cuộc sống được sung túc vật chất như ý họ mong cầu.

“Thiền Sư Bồ Tát tận dụng thường dùng Ngũ Nhãn, Lục Thông, đo lường tất cả Nhân Thiên, Tiên loài thảy đều chánh báo bị sanh gây tạo thân hình, thân mạng không thực thể. Vị Thiền Sư Bồ Tát ngạc nhiên tự thốt ra nơi cửa miệng: Lạ thay! Có thân mạng chưa có chủ quyền, sống theo sanh diệt đồng ứng chưa tận giác chỉ là con nộm mà thôi.” –T.V.

Đức Di Lạc trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này chứng thị tất cả bậc tu từ nhân sinh đến Tiên Thiên do nghiệp chủng mà bị sanh thân mạng như đã hành động. Ăn ở, sinh sống, tập nhiễm như thế nào thì khi chết lai sinh về nơi ấy mà thọ hưởng Chánh Báo, Thọ Báo phân minh.

Có thân mạng chưa có chủ quyền: Thân mạng không tu Tri Kiến Phật, Phật Tri Kiến thì không có chủ quyền Phật Lực. Chỉ có Ma Lực nên thân mạng bị nó sai khiến không kiềm chế được, thân chỉ là con nộm múa may quay cuồng theo người tạo ra con nộm.

Bậc tu không theo vết chân chư Bồ Tát ắt bị Ma Lực sai khiến. Thân làm theo ý Ma Lực điều động phải sống sanh diệt tức theo sanh tử luân hồi. Bậc tu dù tín thành, thiết tha mà chưa thấu đáo đúng đường dây sanh tử thì có tu bao lâu chăng vẫn bị sanh tử luân hồi như chúng sanh. Thời Hạ Lai Ngài dùng Ngũ Nhãn, Lục Thông khai thông đường đạo cho Tứ Chúng trong 37 năm tại thành phố Nha Trang, Sàigòn, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế nhưng số nhận được sở đắc chân lý cũng quá hiếm. Tu hành khó như vậy mà nhiều bậc chưa tỏ đường dây sanh tử vội xưng Thánh, xưng Phật là do Ma Lực làm chủ điều động. Chính nhiều bậc bị nó xâm chiếm toàn thân mà không hề hay biết. Thật lạ thay cho sự tu hành Thọ Ngã.

“Nay ta công dụng Thần Thông đồng ứng Nhãn Tạng Trí Hóa đặng biết vẫn lầm nơi pháp giới tận biết, từ ngoài đến trong từ trên đến dưới mà chưa Tận Giác thân mạng nơi ta, chưa thấu tường tận bản thân thị chứng đường dây sanh tử, thì làm sao tận giác?

Vị Thiền Sư Bồ Tát tự hỏi xong, lặng lẽ đến một phiến đá an dưỡng, đồng soi khắp thân tâm qua hàng trăm tuần nghìn lớp lớp, thời gian tận giác Chứng Thị Chánh Giác.” –T.V.

Ngài Khai Thị cho các Chân Phật Tử.

Khi Ngài còn đang hành nguyện, Đức Di Lạc nhắc nhở lớp Bồ Tát theo sau cần tự soi khắp thân tâm từng lớp lớp chúng sanh tánh, từng tư tưởng khởi sanh khởi diệt mới mong tận giác từng tư tưởng mà thấu đạt Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông đến Chánh Giác. Chính Ngài còn phải soi khắp thân tâm tỷ mỷ rồi ghi chép lại để Bồ Tát đi sau cũng phải tận tâm tu, tự soi như vậy nếu không dễ bị Ma Lực điều động. Một hôm có một chân tử theo Ngài ở Bình Định trời nóng bức sau cơn Thiền Định ông này mong có gió đến cho khỏe, bỗng gió thổi mát lạ thường. Vị này liền mừng rỡ tin mình đã đồng ứng với Như Lai vũ trụ, sau tự cho là đã giác.

Ngài ôn tồn khai: Chưa có chủ lực, chưa Chánh Giác mà ước gì có đó là Tưởng. Thuộc loạïn động do Ma Lực điều động chớ nên thọ chấp. Cứ hóa giải, cổi giải chừng nào Trực Hiện mới thật. Ma Lực rất tinh khôn nó biết hết, thấy hết, nghe hết ý nghĩ nơi ta nên hóa cho ta bị lầm. Nếu không có Ngài, thật bị lầm truyền kiếp. Ma ba tuần trong ta nó chỉ chờ một sơ hở nơi cái muốn, cái vọng là gạt ta, chớ nên vội tin nó. Nhiều bậc còn bị nó gạt là ông này, ông nọ, nó nói tới nói lui làm bậc tu tin lầm nơi nó.

“Phật ra đời tùy căn cơ, căn tánh lần đưa cho chúng sanh tánh biết Hướng Thượng mở mang tâm thức trở thành Bồ Tát Tánh. Bồ Tát Tánh có đồng thể chất bao dung giúp đỡ từng lớp chúng sanh không quái ngại, lấy sự tiến hóa nơi chúng sanh giới về với chính bản thân Bồ Tát an vui. Phật Tánh cũng như thế.” –T.V.

Mỗi chúng sanh tánh chính là mỗi tánh. Mỗi con người cho đến Chư Thiên, Chư Tiên có vô số tánh gọi là có vô số chúng sanh tánh. Chư Phật ngự trên tòa sen, tiêu biểu mỗi cánh sen là một chúng sanh tánh, Phật đã điều ngự. Ngự chế được tất cả chúng sanh tánh nên mới ngồi trên tòa sen. Hoa sen sống ở bùn dơ hôi tanh. Phật ngự trên tòa sen tiêu biểu cho trong thế gian có đầy đủ chúng sanh, tánh tình tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố, thường, lạc, ngã, tịnh. Từ thế gian Ngài kiên trì tu hành, mỗi khi gặp diễn cảnh nan giải liền hướng thượng. Hướng thượng là chủng tánh Bồ Tát. Có hướng thượng tâm thức được khai thông rộng rãi, bao dung lại biết tận độ chúng sanh đi vào con đường vô sanh không còn quái ngại, Bồ Tát được an vui. Còn chúng sanh khi gặp lúc khó khăn, gay cấn tánh tình vặc mắc xấu xa gọi là Ma Tánh phải sống trong biển khổ sanh tử.

Khi tu hành đến Chánh Giác, tất cả chúng sanh tánh sạch dơ, tốt xấu không còn bị nhiễm được sung mãn công đức gọi là Phật Tánh. Trong mỗi cánh sen có một vị Phật ngự, đó là Phật Tánh. Chư Phật diệu dụng lúc tận độ chúng sanh lấy ra dùng, nó thường còn, bất tăng bất giảm, lại vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Điều ngự xong chúng sanh tánh Chư Phật tận thành Phật Tánh, danh hiệu Điều Ngự Trượng Phu là một trong mười danh hiệu của Chư Phật mười phương.

“Khi Bồ Tát tự nguyện cúng dường Như Lai Phật. Chư Bồ Tát đồng hiện đồng hóa, trở thành Mật Thể và Như Tướng, vì như thế nên chi Bồ Tát mới hóa thân sơn hà đại địa chủ yếu mát mẻ Như Lai, Ứng Cúng Chánh Biến có từng lớp lớp, từ cây cỏ đến suối đào, từ ẩm thực đến hoa quả. Thế giới gọi là Thiên tạo.” –T.V.

Đứng về cái nhìn nơi Phật, từ kẻ ăn mày khổ sở đến hàng vua chúa, quan quyền đều là Bồ Tát hóa thân vạn hạnh. Cho nên Bồ Tát cần phải tự nguyện hành thâm pháp giới đủ vạn hạnh chẳng thiếu sót, chủ yếu cúng dường Như Lai mà tận thấu Như Tướng, Như Tướng chính là Mật Thể. Cho đến sơn hà đại địa, cây cỏ cùng thiên nhiên đều là hóa thân Bồ Tát từng lớp lớp. Thế mới biết nương nhờ nơi chủng tánh hướng thượng thực hành tinh tấn được kiến diện Như Lai quá ư to lớn vậy.

Chúng sanh không dám đánh đổi, hơn thua, nhỏ nhen, bủn xỉn, keo kiệt thuộc ma tánh bị ô nhiễm thì làm sao hiểu thấu được Bồ Tát hạnh nguyện vạn hạnh. Dưới mắt Phật chỉ thấy Bồ Tát không thấy có chúng sanh. Vì sao? Vì tất cả chúng sanh tánh đối với Chư Phật đã trở thành Bồ Tát tánh, Phật Tánh nên dưới mắt Phật chỉ thấy Bồ Tát. Còn bậc tu chưa Chánh Giác chưa gặp Phật chứng minh tâm ấn cũng không tự xưng là Bồ Tát được.

“Đồng thời chư Bồ Tát hiện hàng hàng lớp lớp pháp giới để thọ giới đầy đủ trang nghiêm cung thỉnh Như Lai Phật cúng dường ngôi Tam Bảo tất cả các Bảo Châu, Ngọc Bích, Xa Cừ, Mã Nảo, San Hô, Hổ Phách cùng Long Phướng Xe Giá, kèn trống tiễn đưa đón rước Chư Phật mười phương tề tựu đàm luận cùng thảo luận. Bồ Tát chủ yếu chứng tri công đức, Bồ Tát tự nguyện, an trú pháp giới cúng dường, từ đời đời kiếp kiếp. Có như thế, hành như thế nên chi Chư Bồ Tát thảy đều là cái dụng của Như lai.” –T.V.

Dưới mắt Phật không thấy chúng sanh, chỉ thấy đâu đâu cũng hiện Bồ Tát Tánh, Phật Tánh trùm khắp từng lớp lớp. Mỗi Phật Tánh là một pháp giới có phẩm chất riêng gọi là Bổn Lai Diện Mục pháp giới. Tất cả đều cung kính đầy đủ trang nghiêm trong thể Như Lai Phật cúng dường Như Lai Phật những vật quý nhất như Bảo Châu, Ngọc Bích, Xa Cừ, Mã Não...

Mỗi Phật Tánh hay mỗi Hóa Phật thảy đều hiện Tịnh Bất Tịnh trong thể Như Lai càng làm tăng thêm sự trang nghiêm để cúng dường Như Lai. Bồ Tát Tánh, Phật Tánh là cái dụng của Như Lai, Chư Phật sử dụng rất tận tỏ tường. Mỗi Bồ Tát Tánh là hóa thân của Bồ Tát nên tự an trú pháp giới trong thể Như Lai, vì sẵn chủng tánh hướng thượng mới được gọi cúng dường Như Lai Phật đời đời kiếp kiếp từ vô thủy vô chung nên Bồ Tát được tăng trưởng Chánh Báo.

“Khi bấy giờ Bồ Tát mong Tri Kiến Phật thì làm như thế nào để Tri Kiến? Bồ Tát phải giải giới, Bồ Tát phải tận độ chúng sanh giới, do đó nên chi Bồ Tát nhìn thấy tất cả đều là vạn pháp ràng buộc chúng sanh chịu giới cực khổ, Bồ Tát nguyện đem thân mạng, trí huệ, tay chân, đầu cổ bố thí chúng sanh thoát khỏi pháp giới, làm nơi an lành của Bồ Tát Nguyện.” –T.V.

Hàng Nhị Thừa tu hành chưa có chủ lực để điều động vào giới ra giới. Bồ Tát phải là bậc đã trực giác được Bồ Tát Tánh nên vào giới ra giới được dung thông. Chúng sanh giới còn chìm trong chủng tánh riêng tư, không siêu độ được phải bị trị trong vòng đai pháp giới tức trong biển khổ. Bồ Tát đem hết tâm trí, tín thành làm đủ phương tiện Hữu Tướng Phi Tướng giải giới cho chúng sanh thoát khỏi pháp giới. Bồ Tát không có ô nhiễm hỷ, nộ, ái, ố nên cứu độ tất cả chẳng còn ô nhiễm vạn pháp. Bồ Tát vì lòng bi nguyện đem thân mạng, trí huệ, tay chân, đầu cổ bố thí cho chúng sanh chẳng thiếu thứ gì nơi Bồ Tát làm cho chúng sanh được an lành. Đó chính là Bồ Tát đem hết tâm lực, đem cả bộ óc, đem cả thân mạng chú tâm hóa giải cho chúng sanh đạt được vào giới ra giới, tròn giới... Chánh Giác.

Còn ở hàng chúng sanh, tâm tánh eo hẹp, trí nông cạn không thể nào tự thắp đuốc mà đi được. Trong thời Hạ Lai nhiều bậc tu đến được với Long Hoa, được tu hành quanh Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc có đầy đủ hàng Tôn Giả, Chư Tổ thời xưa mà cũng phải khó khăn lắm mới hiểu một phần nào thì làm sao cấp chúng sanh vào giới ra giới cho được. Còn đầy vô minh không thể nào có tự tánh được.

“Bồ Tát nguyện ra vào địa ngục giới, lãnh lấy sự khổ đau ngục hình, hoặc giả hứng chịu kẻ kia mắng chửi hành hạ thân mạng, để cho chúng sanh hóa giải nghiệp lậu đặng thoát khỏi ngục hình. Nguyện như thế, làm như vậy Bồ Tát làm nơi an lành của Bồ Tát Nguyện.” –T.V.

Trong Lục Đạo phải kể Địa Ngục Môn là nơi Bồ Tát phải vào để thực tiễn, chịu ngục hình, chịu sự khổ đau, chịu hành hạ thân mạng, chịu sự chửi mắng, chịu đủ điều tủi nhục để hóa giải cho sạch nghiệp thức, nghiệp lậu. Có như thế Bồ Tát mới thoát khỏi chốn ngục hình. Có đầy đủ công đức sung mãn mới tận độ chúng sanh thoát khỏi Địa Ngục Môn.

Trong thời Hạ Lai này chính Đức Di Lạc trước khi thành Phật cũng phải vào thọ ngục hình ở Địa Ngục Môn của cộng sản nơi mật khu tỉnh Bình Định Qui Nhơn, tất cả là 26 tháng. Ngài cũng phải bị hành hạ thân xác đủ hình thức cốt tận độ chúng sanh tánh của Ngài, sau thoát khỏi ngục hình nơi Địa Ngục môn Ngài mới thực chứng mà tận độ nhân sinh, Tiên, Thần cùng tứ loài trong ba cõi sáu đường. Có hạnh nguyện như vậy Bồ Tát mới đi vạn hạnh thực chứng. Bồ Tát được Lý Sự tương song, Tánh Tướng tương song, Đức Trí tương song.

“Lúc Bồ Tát hành nguyện đồng với hạnh nguyện, Bồ Tát không bao giờ nhàm chán, Bồ Tát say sưa nơi nguyện. Vì sao? Vì bản năng thực thể mong đợi Tri Kiến, do đó nên chi Bồ Tát lìa tất cả mà không nhiễm ái, cúng tất cả mà không nhiễm chấp, đưa tất cả mà không nhiễm trần cấu.” –T.V.

Bồ Tát hành nguyện có nghĩa thi hành vạn pháp phải học hết cái Sự nơi Bồ Tát, nghe thấy biết, từng tiếng, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng gì biết tiếng đó. Đặc điểm không giới nào bỏ, không giới nào lấy. Đó là tu bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Cho dù gặp hoàn cảnh tức vạn pháp sướng khổ, mưa gió, trời long đất lở cũng không bỏ tu đó là tu bất sanh bất diệt nên trái đất dù có bị hủy diệt Bồ Tát vẫn không bị tiêu diệt. Vì sao? Vì nhiều cái không tướng mà biết sâu hơn bậc La Hán. Bồ Tát sống trong Bồ Tát Tánh, chỉ một câu nói đủ biết người đó như thế nào. Nhờ hành vi đụng chạm tức tri kiến giai cấp gì.

Bồ Tát hạnh nguyện xây dựng chánh pháp thật khó vì phải chỉnh trang lại đường dây khai ngộ Phật Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nay nhân sinh tu sai lạc. Tri kiến một pháp là vạn pháp tri kiến được. Đắc một pháp là vạn pháp đắc được. Trong cùng một đạo tràng, Bồ Tát nhìn thấy nhiều nhóm đồng tu tạo thành Liên Hoa nhìn người đứng đầu dở là biết trong nhóm đó đều tu dở. Biết người đứng đầu kia giỏi thì biết nhóm đó đều giỏi hết gọi là Liên Hoa Tôn. Đức Di Lạc chọn Chân Phật Tử trong Trung Ương Bộ để hành nguyện, hạnh nguyện là như vậy. Sau Bồ Tát thâm nhập, không còn ái nhiễm, không còn nhiễm chấp mới làm chủ hết vi trần rồi còn phải hóa cho chúng sanh tu theo Bồ Tát được giác ngộ, Bồ Tát mới thành Phật.

“Bồ Tát hành nguyện, hạnh nguyện như thế vươn mình đánh đổi như vậy Bồ Tát sở đắc pháp giới tận biết đặng pháp giới kết nạp trở thành vợ con, chồng vợ, trai gái, nam nữ phải chịu nơi pháp giới trăm phương ngàn cảnh, sướng khổ do nơi lầm lẫn chìm đắm nặng nhẹ mà thọ nghiệp, thọ chủng, thọ ái, thọ tử liền sở chứng vô sanh.” –T.V.

Bồ Tát hành nguyện có nghĩa là thi hành pháp Phi Tướng chẳng sợ tiếng khen chê, chẳng phiền trách sự khinh ghét, chẳng cần khổ tâm lời nguyền rủa từ nơi chúng sanh. Bồ Tát hạnh nguyện có nghĩa thi hành pháp Hữu Tướng làm chúng sanh ưa thích ái kính thuộc Đạo Hạnh, Bồ Tát chẳng thấy vui mừng dù thật biết vạn pháp vốn tịch tịnh.

Từ một khởi điểm nhỏ là mấu chốt gom hết vi trần có lúc phải đánh đổi, Bồ Tát mới sở đắc đầy đủ vòng đai pháp giới tạo vợ chồng, con cái, anh em, giòng họ, thân quyến. Mỗi một gia đình có nếp sống riêng. Đắc một pháp giới thì các pháp giới khác cũng diễn y như vậy, chỉ khác nhau tính chất như chua, ngọt, tốt, xấu. Tự nhiên Bồ Tát thông đạt có thể tìm được một pháp giới để chứng ngộ được Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Từ một pháp nhỏ tỏ hết pháp giới. Tu từng môn làm sao thông? Đó là khai tâm ấn.

“Khi bấy giờ Bồ Tát lấy Đạo Tràng làm thú vui tạm trú, lấy mức tiến làm món ăn nơi ở hàng ngày, lấy bao dung rộng rãi xây dựng Tịnh Độ của Bồ Tát. Bồ Tát hành thâm pháp giới, nhiếp độ hóa giải pháp giới! Từ nơi vinh Bồ Tát nhìn nhận thoảng qua không lấy đó làm nơi trụ xứ. Từ chỗ nhục Bồ Tát chẳng tái tê nhưng chẳng lấy đó oán hờn.
Bồ Tát Nhất Tâm đảnh lễ tự nguyện tất cả thân mạng đều cúng dường Như Lai, chẳng còn chi nơi Bồ Tát, đặng pháp đảnh Như Lai thọ ký. Bồ Tát liền sở đắc tận giác tất cả pháp giới, Bồ Tát liền đặng giải giới, đặng Chư Phật thọ ký lãnh lấy ứng hiện thân Bồ Tát.” –
T.V.

Trong Long Hoa tận độ, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc phân định rành mạch cho bậc tu từ Hộ Pháp đến Tôn Giả, A La Hán, Tinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, cho đến Hộ Pháp Bồ Tát đều phải tu theo một con đường: Đạo Đời song tu cho hợp nhất. Mỗi vị đều làm các ngành nghề ở trong đời từ lao động tay chân cho đến giáo viên, giáo sư, kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ...tất cả đều lấy đó làm phương tiện tu hành cầu Giác Ngộ.

Khi có một vị trong đạo tràng nơi Long Hoa sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác được kiểm tra chứng minh Bồ Tát thì Ngài ấn quyết bậc này chỉ lấy đạo tràng làm nơi tạm trú hành nguyện, hạnh nguyện. Đối với đời Ngài xem như đã đủ không sinh nhai qua nghề nghiệp nữa mà phải thực hành Đạo Tràng duy nhất để tu hành tiến đến thành Phật.

Còn cấp Thánh Hiền tu đạo đời. Đến Bồ Tát Chánh Giác không hiền cũng chẳng dữ, không thiện cũng chẳng ác, không sanh cũng chẳng diệt. Có tu hành như vậy mới giải giới đến viên dung pháp giới. Bồ Tát lên trên cao cũng không bỏ ở dưới gọi là hành nguyện không cao cũng chẳng thấp. Nếu còn bỏ, còn lấy không bao giờ sở đắc Chánh Giác được.

Một hạt đất, một hạt cát nào nằm dưới đáy chân núi thì nó rất rắn chắc rất mạnh. Bậc tu nào chịu vạn pháp xoay thì người đó công năng càng lớn, kết chung sở đắc chân lý. Còn ngồi thuyết pháp nghiên cứu không qua nổi hoàn cảnh thì chỉ thuyết cho hay, cho vui thôi. Đó là khai ấn.

Thế gian làm việc ở đời dần dần phát triển. Còn bậc tu cầu Tri Kiến Giải Thoát thì trổ nghiệp. Đừng chán nản, cố tinh tấn. Vì một tánh thọ nghiệp phải hóa giải mất mười kiếp tu hành. Tỷ như tánh lừ đừ, nghe xong ra khỏi đạo tràng tánh đó nó trở lại lừ đừ. Bậc tu thọ lãnh pháp giới như vậy, cố thủ gọi là Kim Cang Tạng vì thọ lãnh một pháp củng cố muôn tỷ kiếp không giác ngộ được. Bậc tu không thể cầu vái van xin khi tu hành không chịu cổi giải. Nhưng biết lìa ngã, phát nguyện tìm gặp tu theo bậc đã biết là Bồ Tát đang thi hành Chánh Quả Phật thì chỉ một kiếp quyết Tin Vâng Kính trọn liền sở đắc. Khi đã tỏ tường thế nào là chân pháp là thiện pháp liền kiến diện Như Lai, đặng gặp Chư Phật thọ ký, chừng đó mới được công nhận đã có ứng thân Bồ Tát hiện khắp pháp giới, quán chúng khắp khắp gọi là Du Hí Thần Thông Tam Muội vậy.

“Bồ Tát trải qua vạn hạnh, vạn nguyện, Bồ Tát mới nhìn nhận: Tất cả chúng sanh giới, từng hàng Nhị Thừa tu chứng cho đến Tiên Thần Thánh Hóa chỉ hơn nhau nơi Thanh và Thô, chớ nghiệp chủng nơi chúng sanh tánh còn nguyên vẹn.” –T.V.

Những pháp lớn, pháp thô bậc Nhị Thừa tu chứng dễ thực hành được, qua được. Còn những pháp nhỏ gọi là pháp thanh qua không được, không thấy được nên chưa có Nhãn Tịnh. Bồ Tát tỏ Bổn Lai Diện Mục nơi thô, thanh, vi tế được Thanh Tịnh. Tánh và cốt cách trước sau đều y nhau như quá khứ, còn tướng mạo thay đổi dạng tùy giới. Bậc tu không tỏ nơi thanh, nơi vi tế chỉ thấy thô cần phải tinh tấn tu cho đến đam mê mới có đủ tinh thần. Chừng một thời gian nào nhớ tiền kiếp quá khứ.

Những bậc ngồi kiết già thuyết pháp không được tự nhiên. Gặp trường hợp nào cũng thuyết pháp được vừa trình độ, vừa đúng nghiệp chủng cứu độ được chúng sanh đó là Bồ Tát. Đức Di Lạc Tôn Phật khéo thuyết từng căn bệnh của chúng sanh, ai gặp cũng thích thú, quý mến, ái kính. Ở ngoài nhìn vào thấy Ngài là cư sĩ có vợ con rườm rà lộn xộn. Thật sự bậc say đạo gặp Ngài theo tu kết quả thấp nhất cũng được Phước Báo Nhân Thiên.

Đã là chúng sanh, thọ nghiệp chủng còn nguyên vẹn, chừng nào phát tâm sửa tánh tu một thời gian tỏ tường vạn pháp làm gì cũng đúng là ngộ. Còn làm gì cũng không biết đúng hay sai, hoặc làm gì cũng sai thuộc pháp thô là mê. Nếu biết vạn pháp huyễn hóa, thực tu với tâm chân thật một ngày nào sẽ trở về với cái thật./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


46. Đức Di Lạc Thọ Ký Tái Sinh Trong 350 Năm Sau

...Lúc bấy giờ nhìn tôi Ngài nói: Ta đến thời Hạ Lai Tận Độ sự mê lầm Chúng Sanh đưa về Phật Tánh Chánh Giác. Nếu bậc nào nghe Ta tin Ta đứng nhìn Ta bằng phương thức nầy hoặc phương thức nọ liền đặng Tri Kiến Giải Thoát. Bằng cứ mãi nhìn, mãi nghi chấp thì đến Ba Trăm Năm Chục Năm Sau, Ta mới thị hiện để chứng minh Tận Độ, nói xong Ngài truyền đọc:

Chừng nào trái đất rẽ đôi.
Hai hàng thiên giới ta ngồi chứng minh.

Kỳ thi Long Hoa đợt một đã xong, nếu bậc tu hồi hướng lìa Ngã ắt được gặp Long Hoa tại Việt Nam đang trở mình tận độ chúng sanh vào Như Lai Tạng đặng nhận được con đường Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo. Nếu chần chừ, lưỡng lự, nghe không nhận lãnh được thì 350 năm sau Ngài lại thị hiện để chứng minh việc làm của Bồ Tát cùng Tôn Giả tận độ chúng sanh. Ngài đã đoạt quả Vô Thượng Bồ Đề như Chư Phật mười phương thì không còn dạy tỷ mỉ qua lại từ đầu làm chi nữa.

Năm 1993 Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn, Ngài đã chứng minh 350 năm sau Bồ Tát và Chư Tổ hành đạo đem lại lợi ích to lớn, thực tiễn cứu độ chúng sanh. Số đông Nhân Sinh trên quả địa cầu này đều theo hạnh Cư Sĩ tu theo Chơn Tánh.

Lúc bấy giờ hàng Xuất Gia thấy được mối Đạo của Chư Phật lưu truyền nay đã rẽ đôi đều đem lại lợi ích thực tiễn cho giới Tân Tăng: Xuất-Gia, Cư-Sĩ. Lúc đó 17 tuổi, Ngài từ hạnh Thái Tử, thị hiện ở quốc gia khác theo thể chế Quân Chủ Lập Hiến, có hai hàng Quan Đại Thần từ Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Tướng Lãnh, Tổng Giám Đốc, Tỉnh Trưởng gọi là Thiên Giới dưới quyền Ngài ngồi trang nghiêm. Ngài chứng minh Chư Bồ Tát, Chư Tổ đã thực hiện việc dạy chân lý thực tiễn cho chúng sanh một cách bình đẳng.

Ngài chứng minh để vào quả vị tu chứng trong vũ trụ nên Chư Tổ tùy bậc tinh tấn tu hành hạnh nguyện mà thọ lãnh quả vị. Sau đó chư vị xuất gia còn lạc pháp tự biết phải quay trở lại chân lý thực tiễn của Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc.

Quan cận thần lúc đó không đâu xa lạ mà chính là Bồ Tát, Chư Tổ, Chư Hộ Pháp lai sinh Cư Sĩ lớp Thiên Giới lúc bấy giờ học hành rất cao, từ bác học, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư... gặp Ngài trở lại một lần nữa. Chứng minh xong Ngài liền tuyên bố nhập Bát Đại Niết Bàn mà không cần ở lại hưởng gì của thế gian.

Tôi nhớ lại những diễn cảnh trước Ngài, những mê lầm Tứ Chúng trong đó có tôi nữa, làm cho Ngài phải chịu chẳng biết bao nhiêu lời giải, chịu biết bao chỉ vì Nghiệp Chủng Chúng Sanh Tánh mà ra. Tôi băn khoăn, về đến nhà với tấm lòng man mác.

Gần lúc nhập Bát Đại Niết Bàn Ngài lại bảo: 

"Cũng có thể Tôi lại Hạ Lai thế gian, lúc 17 tuổi nhớ tiền kiếp Tôi ở lại thêm khoảng 8 đến 10 năm nữa, để ra đời Tận Độ một lần nữa nếu thấy Chúng Sanh trên Quả Địa Cầu bị đe dọa tận diệt."

Ra đời tại Quốc Gia nào, nơi nào, Ngài đã khai thị cho Đại Bồ Tát.

HỘI THƯỢNG, ngày 20 tháng 4 năm
06-06-1992
ẤN TRUYỀN
–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Ngài căn dặn kỹ Chư Tổ, cấp Tôn Giả, A La Hán cùng chư Hộ Pháp tu hạnh Thánh Hiền. Nếu vị nào lầm lẫn tự đi Phi Tướng tức pháp Bất Tịnh cần phải có Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát chỉ đạo cốt thoát khỏi vòng đai Pháp Giới. Bằng không bị sa ba đường ác rất nguy hại trong vô lượng kiếp.

Chư Tổ, Tôn Giả, A La Hán, Hộ Pháp nếu sau này hạnh nguyện mà không gặp Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát cũng phải thận trọng chớ tự ý phóng đại xưng Phật, xưng Bồ Tát nữa. Làm như vậy bị Tăng Thượng còn bị mang khai tướng Phật, lại làm mất pháp bảo trì từ lâu đã tu tập.

Không nên xưng Phật, Bồ Tát loạn như thời Mạt Pháp mà Đức Ngài đã chứng kiến, phải đầy đủ công năng công đức và còn phải chờ khi gặp Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát chứng minh mới được tương thông Phật Lực chính thức trở thành Bồ Tát. Phật Vương như Ngài không những chỉnh trang đường tu lưu lại hậu thế cùng trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới mà còn sắp xếp trật tự, ổn định cho chúng sanh trên quả địa cầu nầy.

Chư vị Tổ mới đắc Chân Lý, xem xét kỹ có vận chuyển Tam Muội làm an lành trong Tứ Loài được không? Nếu không chớ có xưng Phật, xưng Bồ Tát nữa. Hãy thận trọng bảo trì quả vị Thánh Hiền để Chư Thiên, Nhân Thần, Địa Thần, Thượng Đẳng Chánh Thần, Tứ Bộ Thần hộ trì xây dựng Chánh Pháp./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


45. Vì Sao Kinh Sấm Nhận Định In Tuồng Thực

“Khi Kinh Sấm phát sinh, chính do lòng chân thành biểu lộ, đương nhiên chân tâm sinh vạn pháp chân như. Vạn Pháp ấy gốc Tâm Sanh, đã sanh pháp liền có Phật chứng, Phật chứng đó chính là Phật của Pháp, chớ chưa phải là Phật Trí Nhất Tôn Chánh Giác.” –T.V.

Kinh Sấm ra thi thơ do tu định tưởng của Tiên Thần Trí. Dù có thành tâm tu cầu thì định tưởng vẫn là Tâm Sanh vạn pháp. Phật hiện đây là Phật của Pháp chứng tri chứ không phải Phật Trực Giác của Chánh Giác Chứng Minh. Định tưởng thuộc Nhị Nguyên. Trực Giác thuộc Nhất Tôn. Do đó chúng sanh mới bị lầm chấp.

“Theo Kinh Sấm, lòng chân thành Nhân Chứng lúc có bậc tin vào kinh pháp, chân thành với kinh pháp liền đồng với chân như quần chúng mà phát hiện in tuồng thật với bậc chân thành chớ chưa thực với kẻ bất chân thành nên mới có câu: Linh Tự Ngã Bất Linh Tự Ngã, Cảnh và Tình hợp với bậc Tình và Cảnh chớ chưa hợp với người Vô Tình diễn cảnh đó chính là lời chân thật nhận định in tuồng thật của Kinh Sấm. Nếu gọi là đúng với tinh thần của Kinh Sấm chớ chẳng đúng với Phật Trí. Phật Trí theo lời bảo truyền của Đức Phật Không Hai, nên chi nhận định như sau:

 – LONG HOA TẬN ĐỘ: Nhận định Đồng Nước Hội Tề.

 – DI LẠC TÔN PHẬT: Nhận định Đồng Thể Tương Sanh.

 – THẤT SƠN KHAI DIỄN: Nhận định Nhất Cảnh Hỏa Khai.”

Chúng sanh vốn có cảnh sanh tình cũng như có nhơn là có quả, không có nhơn là không có quả. Do đó có tin là linh ứng hiện, không tin không có linh là như vậy. Người không tin là người Vô Tình nên Pháp Tánh không hiện gọi là không linh.

Còn bậc tu sửa theo chân lý thực tiễn con đường trực giác thuộc trí tuệ. Khi thấy cảnh nhà Ngài, các con và vợ gây hỗn loạn bậc này liền điều ngự kiềm chế tánh chướng, sau hóa giải Hoa Pháp Tánh nên người được nhạy cảm, hiểu biết được tỏ thông, lại thấy được nhận định sai lầm trông chờ Long Hoa của các bậc tu dùng Định Tưởng trở thành lầm truyền kiếp.

LONG HOA TẬN ĐỘ: Tánh độc cùng tất cả tánh xấu đều đua nhau trổ hình qua vợ và sáu người con, Ngài gánh chịu không phiền trách.

NHẬN ĐỊNH ĐỒNG NƯỚC HỘI TỀ: Các bậc tu từ Chư Tổ cho đến Hộ Pháp thời Đức Bổn Sư ngày nay đều hiện diện hội tề tại Long Hoa theo cư nhân hạnh. Di Lạc Tôn Phật: Ngài đang hiện từ trong Pháp Bất Tịnh đến Đại Thanh Tịnh.

NHẬN ĐỊNH ĐỒNG THỂ TƯƠNG SANH: Chư Tổ đều tương đồng hòa hợp với Ngài nên đồng sanh Phật Trí. Những vị quanh Ngài đều hộ trì và thi hành lời Ngài khai đi hóa giải đủ phương tiện miễn sao phát sinh trực giác là tất cả đều mong đạt cho được.

THẤT SƠN KHAI DIỄN: Chư Tổ quá khứ Chư Hộ Pháp đã nhận định được bà vợ và sáu con của Ngài chính là núi Thất Sơn.

NHẬN ĐỊNH NHẤT CẢNH HỎA KHAI: Chỉ duy nhất có diễn cảnh ở nhà Ngài đang vang nổ là Thất Sơn chứ không có núi Thất Sơn Châu Đốc nổ đâu mà chờ đợi theo kinh sấm. Nhận định theo Nhân Sanh, Tiên Thần không bao giờ gặp Long Hoa được.

“Đứng phương tiện nhận định Thất Sơn thì Đức Bổn Sư Ngài Hiện Thể tại Ấn Độ, còn Thất Sơn tại Cam Bốt cùng Việt Nam tỉnh Châu Đốc, do như thế Phật chẳng ấn truyền khó mang ra nhận định. Nhưng đứng về LONG HOA TẬN ĐỘ đến cây Long thọ Di Lạc, đồng thể thì đương nhiên liên hệ với Thể Hiện. Khi Hiện Thể một nơi nào hoặc một nước nào lấy nơi đó nhận định. Trái lại đặt trường hợp Thất Sơn, chính phải để bối cảnh diễn cảnh chung quanh Đức Di Lạc, gọi là Nhất Cảnh Hỏa Khai. Có nghĩa hoàn cảnh thuận nghịch trước sau trên dưới trong ngoài thảy đều Pháp Độ Thời Đông Độ. Đức Ngài chịu lấy cứu độ Chúng Sanh Tứ Loài gọi là Đại Lực Tôn Phật.”

Pháp Độ Thời Đông Độ: Thời Hạ Lai Mạt Pháp là thời Đồng Độ. Bậc tu và chúng sanh đều được độ vì sao? Vì các pháp diễn hành tận cùng, bậc tu, bậc không tu đều bị diễn cảnh quá sức chịu đựng làm cho chúng sanh tánh được phơi bày chẳng thiếu sót độc nhiễm.

Đến tận cùng nó thấy nó quá độc nên kiêng sợ tự hồi tâm quay về điều thiện vì có Vô Thượng Tôn Di Lạc ẩn mật điều động Như Lai Tạng đang chuyển mình. Bậc tu lẫn bậc không tu đều được kín nhiệm tận độ gọi là thời Đông Độ Hiện Giác. Còn tứ loài cũng được cứu độ như Hịch Chứng Minh Vũ Trụ ở phần trước. Do đó mà gọi là ĐẠI LỰC DI LẠC TÔN PHẬT.

“Có hai trường hợp Nhất Cảnh Hỏa Khai như: Pháp Độ nơi Ngài Xuất Gia, hoặc Tận Độ nơi Ngài Cư Sĩ Tại Gia. Hai trường hợp trên tuy khác nhưng diễn cảnh đều như nhau: Ngài Xuất Gia liền có sáu Ông Đạo và Bà Chủ Chùa. Bằng Cư Sĩ Tại Gia vẫn có Sáu Con Một Vợ đồng có Tứ Chúng như nhau.”

Nếu Đại Lực Di Lạc Tôn Phật thị hiện mà từ núi Thất Sơn nổ không có cha mẹ sanh ra thì hình thức khai Long Hoa như thế nào cũng không như nhiên. Bởi vậy có hai trường hợp Ngài thị hiện thực tế.

Một là xuất gia ở chùa cũng phải có Phật Tử cùng bà chủ chùa, mỗi người một cá tánh vẫn phải chịu Lục Đạo diễn cảnh để Ngài tận độ. Hai là Ngài hiện Cư Sĩ vẫn phải có bà vợ và các con cùng Tứ Chúng, mỗi người một cá tánh cũng phải có Lục Đạo diễn bối cảnh để ngài tận độ. Nhận định thực tế biết được Ngài khai Long Hoa tại Việt Nam.

“Sáu ông đạo hay sáu con tiêu biểu Lục Đạo. Mỗi Ông Đạo, cùng mỗi người con thảy đều mỗi ông mỗi tánh khác nhau, đến cử chỉ mỗi mỗi khác nhau hành động đều chẳng giống nhau, do lẽ ấy mới gọi là Sáu Đạo. Lúc nào hợp nhau đem câu chuyện Đi, Đứng, Nằm, Ngồi nơi Ngài bàn tán, có khi đến nhà bà chủ chùa hoặc Mẹ mà nói. Ngài thật biết như thế, Ngài thường nói Sáu Ông là Sáu Đạo diễn hành chớ nên chấp nê gì chúng.” –T.V.

Ngài hiện Cư Sĩ, sáu người con của Ngài không hiểu được Diệu Dụng của cha nên mỗi người một tánh hành động chống lại mỗi kiểu khác nhau của Lục Đạo diễn hành.

Số Chân Phật Tử tín thành còn rất ít vẫn bình thản đến với Ngài, mỗi lần hàng xóm nhìn thấy gia đình bất ổn mà vẫn có bậc tu còn theo Ngài, họ cười chế diễu, nhìn với cặp mắt khinh khi, người nhà các Phật Tử nầy lại cấm tu làm dữ, còn con trai của Ngài đánh đập không cho vào thăm Ngài. Có người con gái gọi công an bắt nếu ai còn lui tới gặp Ngài. Thật sự bậc tu lì lợm lắm, mắt thấy, tai nghe chuyện phi pháp mà vẫn tín tâm lẫn tránh, thừa dịp gặp Ngài như thường.

Ngài bảo đó là pháp vô quái ngại, phải thực hiện không nên chấp sáu người con của Ngài diễn cảnh Lục Đạo. Một số rất ít bậc tu còn lại cũng tin Ngài nhưng thỉnh thoảng mới về. Số đông 3000 Chân Tử trốn biền biệt.

Sau khi việc bất ổn đã xong số mới vào tu cũng rớt nhiều vì nghe kể Pháp Bất Tịnh họ thấy lạ quá không tin. Số còn lại vẫn tin. Cuối đời Ngài còn khoảng 100 Chân Tử chỉ nghe nhưng không có dịp chứng kiến cảnh nổi lôi phong.

Lúc đó tôi đi cải tạo, vẫn được nghe tin việc Đạo đầy đủ nhưng vẫn chí dũng nhận được Chân Pháp, hóa giải chúng sanh tánh. Lúc ra cải tạo vẫn tu hành theo sát Ngài như thường.

“Từ nơi Nhân Trí bất đồng với Phật Trí, từ cử chỉ tu tập của hàng Nhị Thừa cùng Nhất Tôn khắc biệt, nên chi càng khuyên giải bao nhiêu thì sáu Ông Đạo chung với Bà Chủ Chùa hiệp nhất. Bà vợ với sáu con một con đường phê chỉ trách móc đủ đường, đủ lối. Khi nghe Ngài là Phật, khó tin càng thêm tăng cường càng thêm diễn hành đủ thứ lớp. Ngài chưa biết nói hơn, vì nhận định bất đồng, nên mới phát sinh phê chỉ, mới có những chuyện rối rắm. Đối với hàng tín chúng có bậc nhận định đặng còn có bậc vẫn mơ màng khó hiểu Diệu Dụng Đức Ngài giữa thời Hạ Lai Tận Độ, nên Ngài mới làm bài thi nói lên đối với Ngài có hai trách nhiệm. Một là CHỈNH TRANG PHẬT ĐẠO. Hai là TẬN ĐỘ HẠ LAI.” –T.V.

Sáu con của Ngài thuộc Nhân Sanh Trí cùng các bậc tu Nhị Thừa nhận định khắc biệt với Phật Trí nên: Con và vợ Ngài không tin Ngài là Phật lại còn tìm đủ mọi cách ngăn cản sự Diệu Dụng của Ngài mỗi lúc càng tăng cường làm vang nổ khắp thành phố Nha Trang ai ai cũng nghe cũng biết. Còn Chân Phật Tử Ngài hàng Nhị Thừa sợ quá trốn và bỏ tu gần hết.

Trong số này phải kể trên 10 vị Tôn Giả quen tu xuất gia nhiều đời kiếp không chịu nổi Phi Tướng cũng lui về am cốc ở tư gia. Hàng Hộ Pháp rớt cũng nhiều. Đó là thời Hạ Lai Lạc Pháp Ngài thị hiện tận độ chúng sanh, làm cho chúng sanh nhận định được lối tu sai lầm ảo tưởng của Nhị Thừa đặng trở về lối tu Trực Giác kết quả vô biên xứ vào biển cả.

“Phần thì diễn hóa bên trong, phần mặt ngoài lại vào thời Hạ Lai Lạc Kiếp quá ư khó khăn đối với sự việc, cứ mỗi một gia đình bất ổn, hay một ngôi chùa sự sự việc, xảy ra mất thanh bình liền bị nhà nước đưa vào những vùng cấm địa, do đó Ngài và Tứ Chúng lặng yên, chỉ trông cậy đến Đại Lực Hóa Giải, Ngài thật biết nhưng chưa bao giờ nói.” –T.V.

Từ năm 1975 biến cố lịch sử miền Nam Việt Nam bắt đầu hỗn loạn, Ngài liền trực giác thấy cần phải khai mở Long Hoa sang giai đoạn cao đạo. Ngài mở Pháp Bất Tịnh ra đời cho phù hợp với Như Lai Tạng đang di chuyển cực mạnh đúng với Như Pháp.

Bậc tu nhạy cảm có con mắt Như Lai Nhãn Tạng mới thấy biết. Quá hiếm hoi mới có Chân Phật Tử thấy biết, còn phần Ngài vẫn yên lặng khai pháp cho phát hỏa náo động. Số đông bậc tu của Ngài ngơ ngác, ngỡ ngàng trước diễn cảnh hỗn loạn cả ngoài thế gian lẫn trong đạo. Cùng thời gian này việc gia đình, việc trong Chùa có xảy ra ồn ào, lộn xộn liền bị tổ dân phố báo cáo, tức thì khóm phường cho đi kinh tế mới, sống trong cái tử trước mắt ai cũng lo sợ tự giữ gìn bản thân và gia đình.

Ngài không dấu, lại mở cho tất cả thấy biết Pháp Bất Tịnh có vợ bé nên con, vợ Ngài trổ đủ diễn cảnh A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục chống lại cha, chồng. Có lắm lúc cùng đường hết phương hóa giải, Ngài phải trông cậy vào công năng, công đức đã tích lũy trong vô lượng kiếp gọi là Đại Lực làm an lành. Chỉ Chân Phật Tử tình thâm, cao hơn là tình thức mới cảm thông cùng nhau che chở cho qua từng giờ, từng ngày để không bị chính quyền đưa đi kinh tế mới hoặc nông trường.

Pháp diễn như thế, Tôn Giả, Hộ Pháp không có ghi tên ở phần trước sợ quá chạy trốn, sợ bị vạ lây nên bỏ mặc Ngài chống đỡ.

Chính Ngài khai thị tôi nghe như vầy: “Sau này khi Chánh Pháp Long Hoa ra đời nhiều Chân Phật Tử của tôi đã bỏ trốn, họ sẽ huênh hoang lớn tiếng vỗ ngực xưng tên là học trò Phật Di Lạc. Họ sẽ ngồi nói dóc nhưng lại thuyết pháp rất hay, pháp bị giác. Ông nhớ loan truyền cho nhân sinh đừng lầm lẫn những kẻ nói Lý mà Sự bỏ không hạnh nguyện.” –T.V.

Tứ Chúng thường về thân cận bên Ngài, khi Ngài ngồi im lặng, lúc Ngài hóa giải chấp mê, Ngài chỉ dạy không thiếu sót, ngặt vì trí tuệ và trình độ chưa nhận lãnh được hết. Ngài xem Tứ Chúng không khác mấy đàn con. Ngài thường nói:

Tôi vui khi các ông thọ lãnh Bảo Pháp, Tôi thích khi các ông hóa giải mê lầm, vì thế nên Tôi có bài thi...

...Thiện chân tử là nguồn an ủi
Pháp Tạng nầy chung buổi ấm êm
Miễn sao dưới mái gương thiềm
Chung vui toàn giác nỗi niềm tôi mong.

Lúc gia đình Ngài đang diễn cảnh vang rền, Chân Phật Tử nào quyết tâm tu theo Ngài cầu Tri Kiến Giải Thoát đều được dạy tỷ mỉ không thiếu sót. Nhưng không phải bậc tu nào cũng nhận lãnh thông pháp như nhau nên chia nhiều trình độ trí tuệ không đồng. Số Chân Phật Tử tín thành, thù thắng vượt bao khổ ải, khổ hải được Ngài chỉ đạo hóa giải mê lầm mà tri đạo, có bậc giác ngộ, có bậc hoàn toàn Giác Ngộ.

Sau cùng chỉ còn Thiện Chân Tử là niềm vui của Ngài vì có bậc đoạt Giác Ngộ đến Toàn Giác. Nghe lời Ngài nói, xem đến tình thi Tứ Chúng Ái Kính vô cùng không có bút mực nào kể nổi.

Có một hôm Ngài ngồi thư thả,
Chúng dâng trà, Ngài tả thi thơ,
Anh em Đạo Chúng chực chờ,
Ngài cười vui vẻ, lặng lờ trao thi.
Chúng Tôi muốn nói những gì...
Ngài liền giải đáp bài thi vang rền.
Sáu ông Đạo, Sáu con tên,
Có thêm bà vợ, vang rền Thất Sơn.
Khi bấy giờ Tứ Chúng đứng lên,
Đọc tuyên sáu Đạo sáu tên Thi rằng:
 
KHÁNH tận Nhân Sinh chẳng nói năng.
TƯỜNG chưa Minh đạt, nổi lôi phong.
ÂN thường Vân Lệ rơi tơi tả,
OANH luyện trùng dương, khắp Tứ Phương.
XOA dịu cảnh tình, chiều nắng dịu.
THU MINH Vương Đế trổ an bang,
HIẾN thân Tam Thế, Tiên Thần chứng.
Dâng quả KIM LÊ, Pháp BẢO ĐÀN.
Ấn Chỉ III
Dưới Sự Nhận Định Bất Đồng
–T.V

Khánh tận nhân sinh chẳng nói năng. Người con gái đầu của Ngài bị câm từ khi mới còn nhỏ, lớn lên cuộc sống lăng nhăng trốn cha mẹ, không khuyên bảo được. Cô Khánh là biện minh cho Địa Ngục môn.

Tường chưa minh đạt, nổi lôi phong. Người con trai thứ hai của Ngài tên Tường không hiểu việc làm của cha, chưa thông đạt Diệu Dụng của Phật chính là cha mình, làm Ngài và Tứ Chúng phải khổ lụy. Thuộc Súc Sanh Pháp hay phát sinh gây bất ổn.

Ân thường vân lệ, rơi tơi tả. Người con trai thứ ba tên Ân thấy cảnh gia đình bất ổn thường nóng giận khóc la gào thét, đập phá. Biện minh A Tu La.

Oanh luyện trùng dương, khắp tứ phương. Thường đi đây đi đó hoặc đến nhà bà con thân nhân than phiền việc gia đình. Thuộc Ngạ Quỷ, là người con gái thứ tư trong nhà tên Oanh.

Xoa diệu cảnh tình chiều nắng diệu.
Người con gái thứ năm tên Xoa thường an ủi mẹ. Thuộc Nhân Pháp.

Thu Minh Vương Đế trổ an bang. Thu Minh là con gái út thuộc giới Thiên trong nhà. Sau khi khai Long Hoa nổ vang rền, đường Đạo trong Tứ Chúng đã có bậc đoạt kết quả. Sáu người con nêu trên tiêu biểu cho Lục Đạo.. Đối với Thế gian Ngài Diệu Dụng làm cho thế giới tránh nạn thế chiến thứ ba không còn sự đe dọa tàn phá của hai phe Tự Do và Cộng Sản.

Tuy Ngài không phải vì vua nhưng ẩn danh không khác vị Minh Vương của Thế Giới. Còn Đạo tận thành Chánh Quả Phật. Đạo Đời song toàn hợp nhất. Thật xứng đáng là vị Phật thừa kế đạt danh hiệu Thế Tôn.

Hiến dâng Tam Thế, Tiên Thần chứng. Hiến là tên người vợ của Ngài. Việc Hộ Pháp của bà trong gia đình cho Ngài được khỏe là dâng Tam Thế, được Tiên Thần chứng minh, sau hết kiếp được thoát sinh về nơi cảnh giới ấy mà an hưởng.

Dâng quả Kim Lê Pháp Bảo Đàn.
Đạo được kết quả Long Hoa Hội Thượng đem đến Chánh Giác tức Pháp Bảo Đàn. Tứ chúng đọc tụng Thi xong đồng thanh đảnh lễ ra về. Tôi còn nhớ Đức Ngài thường diễn cảnh, từ nơi tánh này qua tánh khác mà mãi luôn luôn Ngài nói đó chính là Diệu Dụng Phật Tánh, tôi thắc mắc nghi ngờ càng nghi ngờ thêm lên mãi, chỉ vì tôi tu trì vẹt phá Vô Minh phơi bày Phật Tánh, tôi tin Phật Tánh là một tánh toàn thiện, toàn thuận, nếu hơi nghịch tôi quá ư khó chịu. Có một hôm tôi đến đảnh lễ Ngài bày tỏ những điều tôi chưa nhận định đặng, Ngài mỉm cười nói:

"Ông hãy nghe Ta nói, rất có lợi từ đời nầy cho đến đời sau nhận định thế nào là PHẬT TÁNH. PHẬT TÁNH chung gồm tổng quát tất cả Tánh nơi Chúng Sanh Tánh đang thọ chấp, không phân biệt Tốt Xấu Thiện Ác, Tịnh cùng Bất Tịnh gọi là Phật Tánh Nhất Tôn. Nhận được Phật Tánh thật khó nghĩ bàn. Phải tu sửa, cổi giải thực tế áp dụng trong đời sống mới nhận Chân Lý được. Xem kinh, học, nghiên cứu không hạnh nguyện, trụ nơi Lý chẳng phải Phật Tánh thực thể.

Phật Tánh không khác mấy với kho tạng hàm chứa tất cả Bảo Châu đủ màu sắc, đủ hình thức, đủ các yến sáng đen, trắng, vàng, đỏ... Từ khi Tạng tung lên trời trải khắp Như Lai, kẻ chưa tỏ lấy mỗi một hạt châu đến vài hạt châu theo ý mình muốn, cho đó là Bảo Châu. Còn ngoài ra chẳng phải là Bảo Châu, kẻ ấy nhận như thế, là Chúng Sanh Tánh, còn bậc thu nhiếp bá thiên vạn tánh, Vô Lượng Vô Biên Tánh chung gồm Vô Thượng Vô Đẳng Tánh Chánh Giác Phật Trí. Vì sao? –Vì tất cả thảy đều là Bảo Châu đâu có khác? Tánh nó vốn như tánh phát sanh ra từng lớp lang, từng giai đoạn trở lên vốn tánh Như Như có gì lạ đâu mà ông phải phân biệt đến dị biệt tánh nầy cùng tánh khác." Tôi nghe vô cùng mừng rỡ, tôi liền đảnh lễ xưng tán Đức Ngài đã ban cho Tôi Bảo Châu vô tận.

Lắm bậc tu đạt được chân lý vội vàng xưng Phật bị Phật Giới. Hãy thực hiện thực tiễn theo vết chân Ngài vừa đi, cùng đồng hành đồng sự với Bồ Tát Ma Ha Tát đặng hy vọng vào đúng đường Nhất Tôn. Lúc bấy giờ nhìn tôi Ngài nói:

"Ta đến thời Hạ Lai Tận Độ sự mê lầm Chúng Sanh đưa về Phật Tánh Chánh Giác. Nếu bậc nào nghe Ta tin Ta đứng nhìn Ta bằng phương thức nầy hoặc phương thức nọ liền đặng Tri Kiến Giải Thoát. Bằng cứ mãi nhìn, mãi nghi chấp thì đến Ba Trăm Năm Chục Năm Sau, Ta mới thị hiện để chứng minh Tận Độ." nói xong Ngài truyền đọc:

Chừng nào trái đất rẽ đôi.
Hai hàng thiên giới ta ngồi chứng minh./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


44. Ấn Chỉ III: Đồng Hoá Nhân Sinh, Dưới Sự Nhận Định Bất Đồng

“Bàn về sự nhận định, phần nhiều hay bất đồng tự sanh khắc biệt, do lẽ ấy rất hiếm có sự đồng đặng hóa ra tri kỷ. Tại sao có những sự nhận định thường bất đồng như thế? –Vì nơi nhận định nó phải tùy thuộc vào trình độ đồng nhau, tùy theo hoàn cảnh tương sanh giai cấp chẳng dị biệt. Nếu như đa số Nhân Sinh thuộc với nhau một trình độ hoặc giả đã từng chung sống nhau một hoàn cảnh tương tự hòa hiệp cùng nhau, liền trưởng thành một khối. Bằng mỗi một con người riêng định tự nhận lấy mình, thì thuộc về nhân cách nhận định.” –T.V.

Người thế gian khi nghe thấy khác ý mình liền chướng, do cá nhân cá tánh sinh chướng đối. Đó chính là thường tình. Học làm Thánh phải biết hướng thượng lại biết nương vào vạn pháp để cầu lấy giải thoát. Phải tập khi nghe thấy khác ý liền hỷ xả, xem xét những chướng đối bộc phát từ trong thân mạng mình mà kiềm chế, ngự chế.

Nếu cùng trình độ cầu Giác, cùng hoàn cảnh gay cấn phải quyết tâm hỷ xả để không chướng đối. Chừng đó đồng ứng với bậc Thánh Tăng liền được đồng hóa theo bậc đó sẽ có lợi vô kể.

DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH BẤT ĐỒNG.

“Bởi duyên như thế Phật Đạo mới phân định thành Bốn Lối nhận định trở thành dị chủng bất đồng. Lối thứ nhất là Nhân Sanh Trí. Lối thứ hai là Tiên Thần Trí. Lối thứ ba Là Bồ Tát Trí. Lối thứ tư là Phật Trí.” –T.V.

Do có sự bất đồng nên Phật Đạo phân định thành bốn trí:

- Nhân Sanh Trí: Còn gọi là chúng sanh trí, đã là chúng sanh phải có hình tướng, có sắc mới thấy biết. Không có hình tướng chúng sanh không thấy biết.

- Tiên Thần Trí: Sống nhờ tư tưởng, lại công dụng Định Tưởng để luyện thần thông. Quan sát vũ trụ cùng dùng Định Tưởng thu nhận Tinh Khí Thần để nuôi thân sống lâu lại xa lánh chốn phàm phu, đó là sự sai lầm. – Thiên Trí dùng uy quyền làm lẽ sống thường bậc này thông minh.

- Bồ Tát Trí: Hạnh nguyện thâm nhập tất cả pháp giới như Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí để cầu Đại Trí. Tận độ chúng sanh tánh được linh động, tâm trí tinh hoa biết hành dụng vạn pháp sau biết diệu dụng thông đạt Như Lai Tạng đặng chứng tri Phật Trí.

- Phật Trí: Chỉ có Chư Phật mới giải tận tường mà thôi. Vì hành dụng nên hàng Bồ Tát sống chung với chúng sanh không bị nhiễm nên gọi gần phàm không mất Thánh Ý, lại có Đại Trí tùy thuận cứu độ chúng sanh giờ phút trước giờ phút sau linh động không hề có bị biết, không y kinh nhưng chẳng ly kinh nên lúc nào dụng Trí đều đúng. Hàng Bồ Tát Trí lúc nào cũng niệm niệm cổi giải tâm mắc miếu trước hoàn cảnh để hiện giác. Đó là đường đi duy nhất.

“Khi bậc đoạt đến Vô Thượng Chánh Giác thành Phật thì từ lời nói, đến cử chỉ thảy đều Diệu Dụng, thảy đều Diệu Pháp Liên Hoa Phật Trí. Bậc này từ nơi Phật Trí quán xuyến tổng trì soi khắp từ hàng Bồ Tát cho đến hàng Nhị Thừa A La Hán, Bích Chi cùng Thinh Văn, Duyên Giác đến Phàm Phu Nhân Thế. Bậc Phật Trí có thể soi từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài vì bậc này thật tỏ rõ tất cả Chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát nên đắc Phật Quả triệt thấu tất cả từng thứ lớp của các hàng nhận định thọ chấp ra sao, chánh báo thọ báo của nó như thế nào không còn vướng đọng nên hoàn toàn giải thoát.” –T.V.

Bồ Tát Di Lạc đã Hạ Lai thời Mạt Pháp này đoạt Diệu Quả Vô Thượng thành Phật nên phải dụng Hữu-Tướng, Phi-Tướng thuộc Pháp Tịnh, Bất-Tịnh dung thông cốt đánh thức tánh tình của tất cả Chân Tử đúng thời điểm 1975 xã hội Việt Nam đang hỗn loạn, thế giới cũng lo thế chiến. Ngài dùng Phật Trí quán xét thấy biết Như Lai Tạng cũng đang vận chuyển hỗn loạn. Đây là lúc đúng thời điểm dụng Phi Tướng để đoạt Phật Quả.

Với Đức Tăng Chủ, Ngài đã được Tứ Chúng kính ái, chiêm ngưỡng thế mà Ngài vứt bỏ quyết thực hiện lìa Ngã, Ngã Sở. Từ lời nói đến hành động ân ái với vợ bé cốt yếu phô diễn cho tất cả bậc tu theo Ngài nghe, thấy tổng quát hoặc chi tiết tùy bậc tin sâu, tin cạn làm cho họ không chướng bằng sự. Đến lúc nhận được là Hoa Pháp Tánh đã Diệu liền tỏ “DIỆU PHÁP LIÊN HOA” sống động thực tế trong đời chứ không còn tụng đọc cầu xin van vái mà mắt không thấy tai không nghe Diệu Pháp Liên Hoa. Bậc Chánh Giác tùy thời có Phật Trí nhìn được Như Lai Tạng mà vận chuyển để mở Diệu Pháp Liên Hoa mới đoạt Phật Quả.

Ngài nhìn tận tường Như Lai Nhãn Tạng soi khắp, thấu đáo tất cả bậc tu. Có bậc thích thú hoan hỷ vẫn theo Ngài, hộ trì khi diễn cảnh hỗn loạn đến với Ngài. Có bậc hướng thượng đứng yên, có bậc thấy khó chịu nhưng vẫn tin theo, có bậc bất đồng bỏ đi không tin, có bậc chống đối cho là chuyện súc sanh bậy bạ. Từ đó Ngài phân định và triệt thấu lớp lớp nên bậc này được ở gần, bậc này phải có pháp mới được đến, có bậc không cho nghe thấy, hoặc không được gặp Ngài. Ngài tận tường lớp lớp chúng sanh giới, Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh, Bồ Tát Hạnh đến Phật Quả tức Diệu Quả Bồ Đề.

“Nói đến các Nhân Sinh từ dưới soi tỏ lên trên thật khó khăn vô kể, phải nương vào công đức của Như Lai, nhờ công đức ấy mới lần soi tỏ tánh, lần bước giải mê, chớ đương nhiên nhận định chỉ trích bừa bãi gọi là: Phật Làm Phàm Phê. Cho nên Phật nói, Các ông cũng nên biết: Nhân Sinh không thể nào soi biết đặng Tiên Thần Trí, Tiên Thần không thể hiểu đặng các bậc Nhị Thừa A La Hán, Bích Chi, Thinh Văn, Duyên Giác Trí. Hàng Nhị Thừa không thể nào soi hiểu Bồ Tát Trí. Bồ Tát không bao giờ biết đặng chư Phật, phải thi hành hạnh nguyện cầu lấy Chánh Tri thành Phật.” –T.V.

Chúng sanh không thể nào biết được việc làm của Tiên Thần Trí. Tiên Thần không thể nào hiểu đặng trí của hàng Nhị Thừa A La Hán - Bích Chi - Thinh Văn - Duyên Giác. Hàng Nhị Thừa không thể nào hiểu được Bồ Tát Trí. Bồ Tát không thể biết được Phật Trí. Thật khó khăn vô kể. Đó là căn bệnh truyền kiếp.

Vì vậy, do mê lầm mà bậc dưới thường chỉ trích, phê phán việc làm của Bồ Tát cùng chư Phật gọi là Phật làm phàm phê. Hỷ xả để hồi hướng công đức Như Lai, chướng đối không còn nghi chấp lướt qua được đến lúc đầy đủ bỗng trực giác được thoát khỏi Nhân Sanh Trí. Do đó Ngài đã khai con đường Giác Trí cho bậc tu thời Mạt Pháp nhưng rất ít bậc nhận lãnh được. Đa số phê bình, chỉ trích nên không tỏ rõ lối tu giải thoát là thế nào.

“Sự nhận định bất đồng là do trình độ hiểu biết chưa rốt ráo, khi hiểu biết chưa tường tận rốt ráo thường hay thủ chấp. Lúc đã tường tận hiểu biết đến thật tỏ rõ gọi là Giác, bậc Giác thường rõ ràng từng căn cơ, từng trình độ, từng ý mong muốn của con người, của Tiên Thần cùng các hàng tu chứng hoặc chưa đến mức tu chứng nơi Lục Đạo. Bậc Diệu Dụng Phật Trí minh xác tường tận, không khác mấy vị Đại Lương Y thật biết tính dược các món thuốc, lại thật rõ ràng chứng bệnh của các con bệnh mà chữa trị, nên chi bậc này đứng trước Nhân Sanh hay A La Hán đến Tiên Thần bất luận cấp bậc nào trình độ chi vẫn làm cho họ khỏi khắc biệt được vui vẻ an lành đồng đẳng, bậc này lại tùy theo thời cơ tùy thuận tất cả ý chí Chúng Sanh Giới mà Thị Hiện từ cử chỉ đến ngôn ngữ đồng hợp, đồng hóa Chúng Sanh, bậc đã thực hành như thế cử chỉ như vậy đều là Diệu Dụng.” –T.V.

Bậc Chánh Giác nhìn chung thời Mạt Pháp này, đến nay là năm 2539 năm Phật Lịch trong Long Hoa hội Chư Tổ, Chư Hộ Pháp thời quá khứ đã qui tụ về đầy đủ, căn tánh cầu đạo nhiệt thành nên phải trắc nghiệm mới phân định được thực hư.

Ngài liền diệu dụng nghịch hành, tất cả tứ chúng đều ngỡ ngàng hiện rõ sự tu hành chọn thanh bỏ thô, chọn sạch bỏ dơ, chọn tiếng thơm khen tặng, tránh chê bai, bác bỏ. Hầu hết chín phần mười bậc tu trong Long Hoa đều ưa thích Tịnh bỏ Bất Tịnh trở thành Tịnh Biệt truyền kiếp, không tiến đến con đường Chư Bồ Tát được.

Dần dần từ cử chỉ, lời thuyết giảng Ngài lựa từng căn bệnh nghi chấp của số chân tử tín tâm mà thị hiện làm cho họ tỉnh trí, sau nhận được mới phát sinh trí tuệ mà tỏ thông Tri Kiến Phật, có bậc Phật Tri Kiến đến Chánh Giác. Ngài diệu dụng nghịch hành làm cho nhân sinh ở Nha Trang hầu hết chê bai, cho là tà đạo, còn số ít chân tử Ngài vẫn theo hộ trì. Họ đã thực hiện không chấp, không chướng khi đối cảnh diễn hỗn loạn.

Ngài nhận thấy trình độ chúng sanh là phải vậy không hơn được. Nếu có chúng sanh nào không chấp, không chướng liền đồng Chư Tổ, Chư Hộ Pháp thời xưa. Nhưng trình độ Nhân Sanh Trí khó tìm được vị nào có tâm từ, hỷ xả vui vẻ với các bậc trong đạo tràng.

“Tất cả sự nhận định bất đồng, chính là một vấn đề khó khăn làm cho hợp hóa. Có thể nói những bậc tu hành chưa sở đắc Bản Thể Tâm rốt ráo tỷ mỉ tường tận, tỷ như thời Đức Phật còn tại thế, Chư Bồ Tát được sự nuôi dưỡng chỉ dạy của Ngài, Chư Bồ Tát vẫn bị lầm lẫn nhận định đúng sai sai đúng, lúc bấy giờ có ngài Duy Ma thị hiện trưởng giả hóa giải chấp mê thì thử hỏi thời này là thời Lạc Pháp mấy ai nhận định đúng đắn?”
–T.V.

Ngài ra đời trong thời Lạc Pháp cốt yếu khai đạo nâng bậc tu cao hơn con người, nếu tánh bị nhiễm độc lại tự cao tự mãn còn thua con người hiền lành thời làm sao gỡ độc nhiễm để cao hơn Nhân Sanh Trí. Ngài phải tạo pháp nghịch hành, phô bày cho bậc tu nương theo vết chân Bồ Tát biết hướng thượng thực tiễn diễn cảnh trước mắt làm cho tâm chí chúng sanh biết cần phải sửa tánh, biết điều ngự tánh, đặng giải nghiệp nặng nề về sau trưởng thành sở đắc Bản Thể Tâm.

Bậc bất đồng chướng đối việc diệu dụng của Ngài làm cho không đồng hợp nên vô cùng khó đồng hóa trưởng thành Thánh Nhân, Thánh Thiên. Tứ chúng thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng y tâm trạng bất đồng nên 1250 vị chỉ có sở đắc 10 vị Tôn Giả và vài Bồ Tát tại thế được chứng minh.

“Vì nơi nhận định bất đồng sai biệt nên bậc Chánh Giác nói ra kẻ mê lầm nào hiểu, cho nên kẻ mê lầm phải tu trì tạo công đức thi hành Lục Ba La Mật có công năng mới lãnh hội đặng lời nói của Phật một phần nào, do lẽ khó nghe, khó hiểu nên chi Phật nói: Chúng Sanh Chưa Bao Giờ Xem Kinh. Lời nói trên như thế, trái lại Chúng Sanh Nhân Trí đã từng đọc tụng thuộc kinh thật vi diệu thay. Nói đến sự nghe lầm nhận như: Thời Đức Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Tạng sang Trung Quốc gặp vua Lương Võ Đế, nhà vua thì Nhân Trí nên công nhận mình là vua. Còn Tổ thời Phật Trí biết thật rõ nếu nhà vua cầu Đạo. Ngài khai thị sở đắc tùy theo mức độ mà thọ lãnh thành Phật hay Bồ Tát cùng A La Hán chẳng hạn, do hai lối nhận định thành thử bất đồng khác biệt nhau.” –T.V.

Như đã trình bày phần trước (vua Lương Võ Đế và Tổ Bồ Đề) về hành sự Tổ nằm ở chữ Không, còn về lý ở Nhứt Thừa nên lời nói của Tổ vua không hiểu phải sinh ra bất đồng. Khi bậc tu dù lâu đời vẫn còn thấy nghịch sinh chướng, liền có bất đồng, sai biệt không hiểu việc làm của chư Phật nên còn mê lầm. Phải tu sửa tánh tạo công đức, thi hành Lục Ba La Mật Đa, đến thời có đủ công năng không còn đối chướng mới nhận lãnh một phần lời dạy của chư Phật. Bậc không tu sửa, bất đồng chướng đối còn dẫy đầy, dù có đọc tụng thiên vạn quyển kinh, Phật vẫn bảo chưa bao giờ xem kinh là như thế.

“Nhà vua mới hỏi: Ông biết tôi là ai chăng?

Tổ trả lời: Không. Làm cho nhà vua chẳng tin Tổ là Phật khi chưa nhận định được thời nơi tưởng niệm chẳng còn, nhưng nhà vua hỏi tiếp: Thưa Ngài tôi xây dựng trên bốn vạn tám ngàn (48.000) Chùa Tháp để cho tất cả Tăng Ni trong nước tu hành có công đức chăng?

Tổ trả lời: Không. Vua Lương Võ Đế bất bình, Tổ phải ẩn danh quay mặt vào vách chín năm không truyền đạo.

Tại sao Tổ Đạt Ma Trả lời không công đức? Vì đối với Nhất Tôn Phật Thừa chính mình phải tu, tự nơi mình tạo công đức mới là Công Đức. Bằng xây cất Chùa Tháp để cho tất cả tu hành, chính mình chưa lấy một ngày tu chưa phải Công Đức, chỉ tu cầu Phước Nhân Thiên nên Tổ trả lời Không.” –T.V.

Tâm chí sẵn có, vua tin Tổ là Phật nhưng khi gặp câu trả lời Đốn Giáo của Tổ, vua không nhận định được, từ đó tư tưởng không còn tin Tổ là Phật nữa nên phát sinh chướng đối bất đồng. Sự bất đồng thời nào cũng sẵn có ở chúng sanh, nhất là bậc tu cầu Phước Báo Nhân Thiên, khó lãnh hội được chân lý Nhứt Thừa.

“Sự Diệu Dụng của Chư Phật đối với bậc Sơ Trụ Bồ Tát cũng khó hiểu đặng làm sao hàng Nhị Thừa đến Nhân Trí biết đặng. Nên Đức Bổn Sư Ngài thường nhập Chánh Định, Ngài biết tỉ mỉ các hàng Bồ Tát cùng trình độ các Tín Chúng đang suy nghĩ mỗi bậc một lý lẽ, mỗi người nhận định mỗi khác nhau, có từng người nhận định như thế này cho mình là đúng. Có bậc nhận định như thế nọ cùng thế kia hoặc thế khác, thảy đều đúng đắn với công năng khả năng của thứ bậc họ.” –T.V.

Chư Phật chỉ có một thừa duy nhứt là Tối Thượng Thừa, một pháp môn duy nhất là Vô Thượng Chánh Giác nhưng chư vị Bồ Tát cùng A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác, Thinh Văn, Tiên Thần, cho đến chúng sanh mỗi lớp, mỗi bậc tu có một nhận định khác nhau, nên có lý lẽ tu khác nhau. Đức Bổn Sư biết tỷ mỉ nên tùy trường hợp Ngài khai thị mỗi lớp một phương tiện trở thành Đại Phương Tiện khai ngộ cho Tứ Chúng.

Thời Hạ lai này cũng vậy. Đức Long Hoa Tăng Chủ cũng tường tận lớp lớp trong Tứ Chúng cùng chúng sanh. Ngài dụng đủ phương tiện khai thị cho chẳng thiếu sót trong 37 năm. Có bậc căn cơ sâu dày nhận lãnh được Chân Lý thi hành thấu đạt, cũng lắm bậc nghe xong để đó trở thành Lý không Sự, nhiều bậc nói giỏi mà thi hành thì thất bại do nghiệp lực không qua nổi.

“Ngài bèn nói: Các ông nên biết, ngày nay các ông nhận định như thế này là đúng, thì nơi chỗ đúng ấy nó thuộc về ngày nay, chớ chưa phải ngày mai nó đúng. Đến mai kia mốt nọ, nó vẫn đúng nhưng nó đúng với mai kia mốt nọ chớ chưa hẳn đúng hoàn toàn với Chân Giác. Do đó, các ông phải tu tập lần qua rất nhiều giai đoạn, rất lắm bờ ngăn đoạt đến toàn diện rốt ráo Phật Trí nhận định chân thật đúng đắn.” –T.V.

Thời Đức Bổn Sư, Ngài khai mở Chân Lý cho Tứ Chúng áp dụng tu hành, đến nay 2500 Phật Lịch chân lý ấy vẫn đúng, nhưng Đại Phương Tiện áp dụng cho thời Hạ Lai này phải đổi mới. Vì sao? Vì Như Lai Tạng chuyển mình trong thời đại văn minh khoa học quá mức. Bậc Chánh Giác như Đức Di Lạc Tôn Phật đã có Như Lai Nhãn Tạng nên thấy phải đến lúc làm cho tất cả nhận được Hoa Pháp Tánh hỗn loạn phô diễn để Giác Ngộ, làm cho tất cả nhận định được cái đúng ngày hôm qua chưa phải ngày hôm nay nó đúng. Từ đó trực giác được không còn bị biết mới đi đến viên dung sở đắc hoàn toàn đến Chánh Giác.

Do đó Ngài chuyển mình cho Tăng Ni Pháp Tạng theo Cư Nhân Hạnh cho đúng Như Lai Tạng trổ hình. Đã Cư Nhân Hạnh thì gia đình phải có bối cảnh hỗn loạn, Hoa Pháp Tánh trổ để bậc tu hóa giải, Ngài nương theo chỉ đạo bậc tín tâm đến Chân Tôn. Những bậc không tin, nghi chấp, chướng đối không theo kịp ngón tay Ngài chỉ Như Lai Tạng chuyển mình đều bị đứng yên, coi như bị thi rớt dù ở trong Long Hoa Hội.

“Kể theo câu chuyện dưới đây để biết đặng sự nhận định Phật Trí Chánh Giác, rất khó khăn vô kể, chỉ có đầy đủ công năng tu tập mới nhận định đặng lý thú kỳ diệu, bằng dùng Nhân Trí không thể nào rõ đặng. Có vị Thiền Sư tu đoạt Chánh Giác Phật Trí quan sát trùm khắp biết tỏ rõ, nhận định đúng đắn các hàng tu chứng thứ lớp, Thiền Sư tự nghĩ thật khó khăn làm thể nào cho họ nhận định đúng đắn đồng nhau cốt hóa giải lầm lẫn nơi họ làm cho họ đặng Chánh Giác.

"Khi bấy giờ Thiền Sư thường tĩnh tọa an lành các pháp làm nơi an dưỡng quốc chờ ngày nhập Bát Đại Niết Bàn vì thật biết thời này chưa phải là thời hóa độ nhiều. Vì Sao? Vì chúng sanh đang sinh sống gặp phải thời an lành thích hợp, nên khó tu, khó có bậc phát tâm tu cầu Giải Thoát, chờ đến thời Đông Độ chúng sanh nhiều ý nghĩ, nhiều tham vọng nghiệp cấu vạn pháp linh động Hành Dụng Như Lai chuyển mình, mới có thể hóa sanh đồng độ, vì duyên trên nên Thiền Sư tận dụng hư không an dưỡng quốc.” –T.V.

Tâm sự của Thiền Sư tu đoạt Chánh Giác Phật Trí cũng thấy quá khó làm cho chúng sanh nhận được thế nào là Chân Pháp đặng hóa giải cho họ hết lầm lẫn. Phải chờ cơ hội đến lúc Hành Dụng Như Lai chuyển mình, các pháp động loạn, chúng sanh gặp lúc cuộc sống khó khăn mới nảy sanh tham muốn, lúc này mới dụng pháp đồng độ được, làm cho chúng sanh Giác Ngộ, vì khi chúng sanh còn cuộc sống sung túc, xã hội an lành không ai nghĩ đến việc tu cầu Giác Ngộ.

“Một hôm có vị văn hào đã từng nghiên cứu kinh điển thành thật thiết tha tu tập tìm tòi Chân Lý đến bái kiến Thiền Sư thưa gởi: Kính thưa Thiền Sư, mong Thiền Sư chỉ dạy Đến Rõ, Biết Rõ Chân Giác Chánh Giác thưa gởi xong đứng lại một bên. Thiền Sư mỉm cười đáp: Ông cứ tu cứ tìm, bây giờ Ta nói ông liền chửi Ta.
Nói xong Thiền Sư tĩnh tọa, vị văn hào ra về, đến 20 năm về sau, nhà văn hào tu tĩnh tọa vừa nâng chung trà liền đánh rơi, tiếng khua chung trà Trực Giác. Nhà văn hào đứng lên quay mặt về phía Thiền Sư đảnh lễ, thật vi diệu, thực khó nhận, nếu nhận được Trực Giác thời chẳng có chi bằng.” –TV

“...Ông cứ tu, cứ tìm, bây giờ Ta nói ông liền chửi Ta...”

Vậy cầu Chánh Giác có đặc điểm gì mà khi khai cho bậc cầu đạo phải chửi lại? Thật ra Bậc Chánh Giác hành thực tiễn cho Bậc Tín Tâm nhận được Vô Ngã, Vô Sở Hữu.

Vô Ngã: Tỷ như bậc Chánh Giác đánh đuổi ông ra khỏi đường tu, khai trừ ông ra khỏi đạo chúng. Nếu ông còn cái TA hư dối ắt không chịu nổi liền chửi lại...

Vô Sở Hữu: Người đời ai cũng say mê giữ gìn ba thứ: Vật chất - danh vọng - tình yêu. Những thứ đó ai cũng lo xây đắp bảo vệ. Nếu là tâm chí chúng sanh vào tu cầu Giác Ngộ, Bậc Thiện Tri Thức giỏi như đại lương y sẽ Diệu Dụng nghịch pháp một trong ba thứ. Nếu hoan hỷ hướng thượng, ông sẽ Giác Ngộ đến Liễu Ngộ.

– Nếu cầu Chánh Giác, ông được Bậc Thiện Tri Thức diệu dụng bất tịnh cả ba. Nếu hướng thượng, tận độ chúng sanh tánh ông sẽ Chánh Giác. Phải sự sự chớ không nói lý.

Thiền Sư không mở cho văn hào vì vị này chưa đủ TIN VÂNG KÍNH. Thứ hai vị này tu: học, nghiên cứu, chớ không tu sửa tánh nên không thể khai mở được. Nếu mất danh dự văn hào sẽ chửi lại do không tu sửa tánh nên mở cho rất nguy hại. Gặp bậc có chức quyền còn có thể giết hại Bậc Thiện Tri Thức Chánh Giác nữa. Chỉ có Đốn mới Ngộ. Có Đốn mới Nghi. Giải Nghi sẽ Ngộ.

  Không nghi không ngộ.

  Tiểu nghi tiểu ngộ.

  Đại nghi đại ngộ.

Bậc cầu Giác Ngộ phải nhẫn nhục, nhẫn nhịn, nhẫn nại cốt điều ngự chúng sanh tánh trở thành Điều Ngự Trượng Phu mới sạch chúng sanh tánh. Kẻ ngu xuẩn thấy chân tử cầu Chánh Giác bị khai trừ do diệu dụng vội vui mừng chê bai. Kẻ xuẩn này tu vô lượng kiếp cũng uổng phí công tu mà thôi. Cũng chẳng khác kẻ vào tu, lại không chịu tu lại đi ĐÒI NỢ Bậc Chánh Giác ban cho Phước Báo Nhân Thiên để hưởng sung sướng.

Chính vì vậy mà nhà văn hào phải lần theo vết chân của học trò Thiền Sư sau về lo tu sửa tánh, tự tánh tỏ tánh nương vạn pháp thực hiện dung thông. Đến lúc sung mãn công đức cúng dường Như Lai, công năng xuất thế mới trực ngộ khi đánh rơi chén trà. Lúc đó đã 20 năm dài! Thiền Sư tuổi già không còn ở thế gian nữa. Nhà văn hào hối hận vì không còn Bậc Chánh Giác để đảnh lễ tri ân nên quay về hướng Bậc Chánh Giác thi lễ tạ ơn về sự giác ngộ của mình.

Nếu nhà văn hào đừng chấp cái học, sinh ngã mạn, không háo danh, vô sở hữu thì chỉ một lời khai thị của Bậc Chánh Giác liền Giác Ngộ, chớ đâu phải đợi đến 20 năm sau.

Đương Thời Hạ Lai Mạt Pháp nầy: “Tất cả nhân sinh tứ loài lạc lối tu hành, thất chân truyền bảo pháp, làm cho chưa biết nhận định đường lối để tu, cho nên tu theo nhu cầu ý muốn đem lý trí Nhân Sinh khảo cứu với bộ óc Nhân Trí huyễn hóa, thêm vào đó sự ước mơ thèm khát, càng mong tìm con đường Tri Kiến Giải Thoát bao nhiêu càng thọ ngã bấy nhiêu, chỉ vì thời Cấu Tạo phát sanh tư tưởng quá nhiều trở thành Lý Chướng, Sự Chướng. Do đó, mà ưa thích tu học những pháp môn nào Không Tu Mà Chứng, chưa thực hành, chẳng thực tu mà mong mỏi thâm nhập vi diệu Chánh Giác, hiếm bậc lần nơi Chơn Tánh để tu, có bậc tu nơi chơn tánh lại chưa tu Tận Giác. Kể từ hàng Phật Tử đến các nhà tu Tiên thảy đều bị vướng víu sống nơi kỳ ảo mộng mị sưu tầm, chưa mấy bậc đã từng nương vào Diệu Dụng, Hành Dụng cốt thâm nhập Pháp Giới. Vì vậy cho nên đem lời Chánh Giác Phật dạy đặt trong vọng đảo Nhân Sanh Trí mong mỏi Phật ra đời theo lòng ham muốn.” –T.V.

Đối với Đức Long Hoa Tăng Chủ, Bậc Vô Thượng Chân Tôn đương thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Ngài đã chứng kiến tường tận số đông tu lạc pháp chưa nhận định đúng đường lối tu Giác Ngộ, thịnh hành nhất tu theo ý muốn ưa thích. Nếu bậc nào có tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát lại vương mang nghiệp cái Ta thọ ngã quá lớn.

Chư Bồ Tát Chư Phật có tâm đến gần chỉnh trang cho tu sửa không sao cứu độ được. Đâu đâu cũng nặng sắc tướng âm thanh, cầu vái van xin, không hề chú tâm tu sửa trở thành tu nơi kỳ vọng, ảo tưởng trong chiêm bao.

Sự Diệu Dụng của Ngài cốt chờ một Tăng Ni đến cũng không có. Có số mong chờ Long Hoa, Đức Di Lạc ra đời theo quan niệm của riêng mình trong lúc Ngài đã thị hiện ở Nha Trang bằng xương bằng thịt như tất cả con người đang sống.

Đức Bổn Sư, Ngài đã tường tận thời Mạt Pháp chúng sanh dự đoán bằng Nhục Nhãn Nhân Trí, xem kinh chấp tự, nương tựa theo cuồng vọng mê tín, do như thế mà căn cơ thấp kém, không khác nào Nồi Đất Mỏng, nên Ngài nói:

"Y kinh diễn nghĩa, tam thế phật oan.
Ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết"

Hai câu trên ám chỉ lời kinh chính lời Chánh Giác không thể dùng tướng văn tự mà hiểu đặng, duy chỉ tự giác, giác tha mới nhận định được thôi, hoặc Hạnh Nguyện Hành Dụng mà thọ lãnh, vì nó như thế nên chi đọc tụng thuộc kinh liền bị biết, khó lãnh hội Phật Trí.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký Đức Di Lạc năm 2500 Phật Lịch Hạ Lai tận độ chúng sanh, có nghĩa là Đức Bổn Sư đã biết tường tận thời Ha Lai Mạt Pháp không còn thực tu, thực chứng mà chỉ y kinh học, nghiên cứu rồi chấp từng chữ tán rộng ra cho là cao đạo.

Lại lấy con mắt thường để xem xét, suy đoán có tướng mới thấy, không tướng không thấy nên Ngài căn dặn chư Bồ Tát thời Hạ Lai phải nương chìu theo cái mê của chúng sanh mà lần tháo gỡ, đừng chỉ thẳng họ oán bỏ đi chẳng khác nồi đất mỏng đụng mạnh sẽ vỡ tan. Vậy chỉ thẳng cái gì mới có trực giác không còn y kinh? Bậc thấy biết chỉ tật xấu, tánh độc của chúng sanh ngay trong cuộc sống, chỗ ở, chỗ làm việc chung đụng với mọi giới từng ngày để tháo gỡ độc nhiễm. Một ngày nào sạch sẽ bỗng Trực Giác thấy biết không còn lầm.

Đã Trực Giác đâu còn y kinh, lời Trực Giác toàn là bộ kinh Nghe Thấy Biết trong thế gian, ngoài thế gian khắp trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới nên đâu có ly kinh Phật. Đúng lúc, đúng vị trí viên dung làm tỏ rõ tất cả thì đâu còn ly kinh mà bộ kinh tự giác xuất ra khác ý thế gian hay nghịch hành đều đúng, vì cốt tháo gỡ độc nhiễm của chúng sanh nên nó phải như vậy thôi. Ai chê tức bị bê trễ.

“Đức Phật Ngài khéo thuyết đạo, Ngài tinh vi đưa cho chúng sanh cùng Tín Chúng tri đạo. Ngài thương tứ loài không khác người mẹ thương con vừa mới thoát thai ba tháng. Ngài phân tách tu Tự Giác cùng với tu Bị Giác. Ngài nói nếu các ông tu bị giác dù cho các ông có thành Phật chăng nữa cũng thành Phật với Định Tưởng Tướng Phật mà thành. Ngài chỉ nói trên mặt quyển kinh với nhan đề là Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh. Có nghĩa là tu đến Phật Trí Chánh Giác mới là Phật. Bằng tu thuộc kinh sau thành Phật chăng nữa vẫn là Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh, thật là lời Diệu Dụng quá ư tỷ mỉ, quá vi diệu của đấng Chí Tôn lo nghĩ chúng sanh từng tỷ mỉ.” –T.V.

Như đã trình bày ở phần trước, nhiều bậc tu bị lầm lẫn dùng Định Tưởng lại cho mình là Phật bị ở Phật Giới vô số kiếp khi bậc tu thọ chấp thật khó gỡ. Còn nghe một câu kinh hay đọc quyển kinh sau ngộ là ngộ kinh. Kinh là Đại Phương Tiện Phật lưu lại để thi hành tự giác nếu ngộ kinh thì hãy báo ân kinh là Phật. Chứ Phật thật khai thị sau Trực Giác không bị vướng trong giác giả thuyết học thuyết.

“Khó khăn thay: Nhân Sanh lạc pháp lầm lẫn chân truyền do kẻ kỳ ảo háo danh dục lợi dụng lý trí nhân sanh phổ truyền Đạo Phật, bằng tư cách ngồi yên dự đoán, chớ chẳng thành thật cùng thiết tha cầu đạo, giải mê phá chấp, lìa Ngã cốt đoạt đến Phật Trí.

Ta còn nhớ: Thời Đức Bổn Sư thành Phật. Danh hiệu Ngài BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. Tứ chúng Tin Vâng với tư cách Đức Thầy, chớ chưa hẳn Tin Vâng với bậc Tối Thượng Chánh Giác Sư Bổn nên Phật nói: Các ông tin Ta làm bậc Tôn Sư, nếu Ta thực chất là vị Tôn Sư của các ông, thời các ông liền Tri Kiến Giải Thoát. Vì sao? Vì trong thân của các ông có đến hàng ngàn hàng vạn, đồng với hàng trăm ông Tôn Sư, do lẽ ấy ngăn cản các ông nên nơi Tin Vâng chưa hẳng Nhất Tâm đảnh lễ thành Phật. Lời dạy của Đức Bổn Sư đủ cho Tín Chúng hiểu thời Chánh Pháp có Phật vẫn còn như thế. Tứ Chúng thời ấy vẫn nhận định sai biệt, nhận định trên hình sắc Thái Tử Tất Đạt Đa hoặc tập quán chủ quán là Thầy như thói thường ngày nay vậy.” –T.V.

Đối với chân lý chỉ biết nhận cùng chưa biết nhận. Nếu biết nhận thì sự nghe thấy biết được viên thông chân lý. Ngài thường khai thị: Nhất Ngôn Tri Kiến Phật. Bậc tu chỉ cần bỏ tạp nhập sẽ có lúc Trực Giác Nhất Tâm. Nếu đầy tham vọng, thích vọng bậc tu bị vô minh dù cả đời có nghe Ngài khai thông biết bao nhiêu lần, vẫn không nhận lãnh được.

Tham vọng, thích vọng chính là nghiệp thức phiên diễn hàng vạn, hàng vô số nó làm thầy của ta khiến ta sống trong vô minh với nó vô số kiếp. Thật tự thấy vô minh quá khó. Duy nhất đủ công đức mới gặp Chư Phật, Chư Bồ Tát thị hiện phá vô minh cho.

“Nhược bằng đương thời hạ Lai Lạc Pháp nầy: Tâm chí tất cả thảy đều tu cầu Tri Kiến, tu cầu Giải Thoát, nếu ai va chạm đến cá nhân cá tánh liền bất mãn bỏ tu, hai nữa có hy vọng thời Mạt Pháp Phật ra đời. Di Lạc Tôn Phật hiện thế, trên hình thức Long Hoa Khai Đạo. Từ nơi tâm chí cá nhân cá tánh kia làm sao nhận định được, cho nên nếu có trường hợp nào gặp đặng Ngài hay đang ở tại Long Hoa tu tập thì làm sao nhận định đặng Ngài? Khi nhận định chưa đặng thì Đức Tin yếu kém, Đức Tin kém thời công năng cũng sa sút, làm thế nào nhận lãnh thấy biết đặng? Khi chưa thấy biết Nhất Tôn được, thời chưa bao giờ Giác Ngộ.” –T.V.

Người thế gian hy vọng Long Hoa ra đời theo sự ưa thích kỳ lạ. Nếu gặp đặng Long Hoa cho họ tu sửa theo vết chân chư Tổ đã đi, họ sẽ chán ngán. Do lối tu này không giống cá nhân cá tánh của chúng sanh nên không nhận định được pháp môn Tri Kiến Giải Thoát. Đã không nhận định được chân lý ắt không nhận ra được Đức Di Lạc Tôn Phật đang khai đạo cho họ. Khi không thấy biết con đường tu Giác Ngộ là như thế nào thì kiếp nào cũng vậy dù có gặp vị Phật kế cũng không cứu độ được.

“Dưới sự nhận định bất đồng của Nhân Sanh Trí đối với chư Phật chẳng biết bao công trình Diệu Dụng, cứ chúng sanh đa bệnh bao nhiêu thì Phật phải đa dụng bấy nhiêu, chừng nào chúng sanh hết bệnh thì Phật mới hết dụng. Do nó như thế nên chư Phật hiện thế gánh chịu chẳng biết bao nhiêu chua chát đắng cay từng giây từng phút. Nhất là thời kỳ Mạt Pháp Hạ Lai này nếu Đức Đại Lực Tôn Phật thị hiện thời chưa có bút mực nào kể cho hết đặng sự gánh chịu cho Nhân Loài Tứ Chúng. Chỉ vì Phật Tử lạc lõng đảo điên hư vọng mới có như thế.”
–T.V.

Chúng sanh không biết Diệu Dụng của Chư Phật thường sanh bất đồng. Cứ mỗi căn bệnh tập nhiễm thì Phật phải có Diệu Dụng. Khi chúng sanh hết nhiễm Giác Ngộ, Phật hết Diệu Dụng.

Chúng sanh bị nhiễm ái Phật phải Dụng ái tháo gỡ cho hết ái nhiễm. Do đó việc thực hiện phi tướng cốt độ chúng sanh thoát sinh ái nhiễm thường bị chống đối. Chư Phật phải gánh chịu chẳng biết bao nhiêu việc làm độc hại, từng phút từng giây nhận cay đắng nguyền rủa của chúng sanh, Chân Phật Tử. Chỉ vì chúng sanh, Chân Tử đảo điên, hư vọng mới phản đối như thế.

Tỷ như bác sĩ giải phẩu ung nhọt cho đứa trẻ. Nó không biết lại la, hò hét phản đối bác sĩ. Khi hết bệnh lớn lên nó mới biết sự sai lầm của mình. Chúng sanh mê lầm dùng Nhân Sinh Trí phản đối chư Phật cứu độ cũng vậy, không khác đứa trẻ nhỏ kia.

Sự diệu dụng phi tướng của Ngài ở Nha Trang làm ồn ào chúng sanh chê bai, nguyền rủa từng giây phút không ngừng. Mục đích khai mở Hoa Pháp Tánh còn gọi Long Hoa để trị tâm bệnh mà đào tạo Thánh Chúng. Thật sự Hạ Lai này chỉ có Ngài mới ở trong lửa mà vẫn diệu dụng cứu độ sự mê lầm của chúng sanh.

“Hiện nay các Phật Tử cùng bậc tín tâm hãy nhận định lý chân trên hai trường hợp có Đức Tôn Phật đã Hạ Sanh nhưng đang còn ẨN như sau:

Trường hợp thứ nhất: Ngài xuất gia làm vị Hòa Thượng, làm vị Đại Đức hay Thượng Tọa.

Trường hợp thư hai: Ngài là Cư Sĩ tại gia có vợ có con cùng Tứ Chúng.” –T.V.

Không nên trông chờ kỳ lạ như Núi Thất Sơn nổ Đức Di Lạc Tôn Phật từ trong núi đi ra như vậy không hợp với như nhiên. Do kinh sấm mà nhân sinh hiểu theo lý trí mê lầm.

“Nếu Ngài xuất gia Hòa Thượng, Đại Đức hay Thượng Tọa đương thời này Ngài vẫn có Bổn Đạo Tín Đồ từng lớp từng trình độ hiểu biết khác nhau, từ tâm lý hẹp hòi đến rộng rãi khoát đạt. Nhưng vấn đề phê phán chỉ trích của Nhân Sinh Trí vẫn còn, Ngài cũng bị chỉ trích như: Ngài thế này hay thế nọ hoặc thế kia, cùng thế khác, làm như thế phải như thế, Đạo Chúng mong sao Ngài từ lối ăn đến mức ở, từ sự Diệu Dụng nơi Ngài buộc Ngài phải làm y theo lý trí của Nhân Sanh Trí, mới bằng lòng tán thán, nếu trái ý với ý thức đương sanh nghi ngờ mê chấp. Rất hiếm bậc Tin Vâng từng theo lời chỉ dạy cốt lìa Ngã, Ngã Sở để tu trì chuyên đạt đến Chân Trí Phật Trí. Đứng trước trường hợp diễn cảnh mà Đức Ngài đã chịu biết bao cay đắng chát chua, chỉ vì nhận định chưa đồng nên mới có những điểm như vậy.” –T.V.

Nếu Ngài xuất gia mà muốn tận độ chúng sanh thì phải diệu dụng hữu tướng phi tướng thế nào cũng bị Phật Tử do mê lầm chỉ trích phê phán. Họ muốn Ngài phải nói năng, hành sự giống theo cái Ngã và Ngã Sở của họ mới được. Khi đã diệu dụng tận độ chúng sanh không sao tránh khỏi ồn ào, động loạn của người chung quanh nên Ngài phải chịu đắng cay chua chát từng lớp lớp trong từng phút từng giây vì họ không biết việc hóa độ của Phật.

“Bằng Ngài thể hiện Cư Sĩ Đồng Hóa Nhân Sinh vẫn có vợ, có con đồng với có Tín Đồ Đạo Chúng. Khi bấy giờ Tín Đồ Đạo Chúng có từng lớp người, có từng trình độ nơi hiểu biết khác nhau, nơi tâm ý chẳng đồng, có kẻ hẹp hòi, có bậc rộng rãi khoát đạt mà vấn đề phê phán chỉ trích của Nhân Sinh Trí cũng không ít, có thể nói: Ngài làm như thế này, hay thế nọ hoặc thế kia và thế khác phải làm như thế, cùng như thế, lại có phần chỉ trích phê phán còn hơn thế nữa, nào là lối ăn, mức ở, mỗi mỗi phải chịu trong mọi hình thức chê khen phỉnh báng. Về phần Ngài: Từ Diệu Dụng đưa Nhân Loại đến nơi chốn Đạo Đời Hợp Nhất khó nói khó giải, duy chỉ có Ngài biết thôi. Nhưng buộc lòng Ngài phải hứng chịu sự ràng buộc của Nhân Sinh Tứ Loài, chỉ lý trí của tất cả Nhân Sinh nó như thế.” –T.V.

Hiện kiếp này Ngài hiện Cư Sĩ dạy đạo chủ yếu đồng hóa Đạo và Đời cho nhân sinh nhận được chân lý. Ngài có vợ và sáu người con. Nếp sống cũng như bao gia đình, cũng có vui buồn, sướng khổ, giận hờn yêu thương. Vợ con cũng ồn ào và yên ổn. Cũng đòi hỏi nhu cầu cuộc sống.

Tứ Chúng trong Đạo có nhiều lớp nhiều trình độ khắc biệt chê, chống đối, phỉnh báng cho là phàm tục như bao gia đình khác. Mắt trần thấy, tai nghe đều chướng đối. Đạo hạnh là quả vị của Thánh Hiền ai cũng ưa thích Thanh, gia đình con cái có lúc lộn xộn vốn như nhiên, gia đình nào cũng một thể cách không khác. Đa số bậc tu không nhận được, đã vào theo chân lý mà còn nghi chấp bỏ đạo tất nhiều.

“Ngoài Đạo Chúng Tín Đồ còn về Con và Vợ. Con thì tự trách Cha sự đòi hỏi khờ dại, nơi mộng tưởng đua tranh nên thường nói: Cha tôi phải lo cho chúng tôi như thế này, như thế nọ hay thế kia, thật ra khó diễn tả hết, ai là kẻ đã từng sống giữa thời Hạ Lai mới thông cảm nổi, bằng thanh bình thịnh vượng chưa nhận định được thời Mạt Pháp Con Đối Với Cha, Vợ Đối Với Chồng. Về phần vợ thì lại nặng vào gia đình, do lẽ ấy nên Ngài phải qua rất nhiều trở lực quá đáng, phải chịu những gì khi bà vợ nổi lôi phong bối diễn.” –T.V.

Bên ngoài Tứ Chúng trong Đạo cùng Nhân Sinh thấy dị biệt sanh bất đồng. Bên trong gia đình con cái đòi hỏi nhu cầu ham muốn theo thời thế. Nhưng làm Đạo thì tiền và vật chất có rất hạn chế không thỏa mãn đủ cung cấp cho con nên Ngài cũng bị phiền trách, khó kể hết bối cảnh gia đình.

Còn phần bà vợ thương con cũng muốn con mình có đủ như những gia đình khác, cũng đứng về phía con nên Ngài cũng phải trải qua rất nhiều trận bà vợ nổi lôi phong. Còn những trận nổi lôi phong rối loạn do bà vợ ghen tuông, bất chợt Chân Phật Tử gần xa về thăm Ngài bắt gặp, thấy diễn cảnh kỳ lạ liền nghi chấp, gặp bạn bè đồng tu kể lại đồng bỏ đi biền biệt. Chỉ còn một Bồ Tát và ba Tôn Giả số còn lại thấy bối cảnh trốn hết. Có số ít sau trời êm biển lặng thỉnh thoảng ghé về. Chân Tử các tỉnh không bao giờ thấy việc này, số nghe được còn theo tu nay là Hộ Pháp ở các tỉnh thị hội Pháp Tạng tức Long Hoa Hội.

Xuất gia ở chùa thật khoẻ, tu hành yên yên tịnh tịnh. Thế mới biết Đức Bổn Sư thọ ký Đức Di Lạc Hạ Lai Đồng Độ, mở màng cho chúng sanh, cho bậc tu đủ lớp lớp, đủ trình độ.

“Ngoài gia cảnh còn có Thế Nhân viễn ảo mộng tưởng, sự nhận định Phật Đạo khắc biệt, nên thường xảy ra các Tôn Giáo cạnh tranh, các lối tu mâu thuẫn phê bình chỉ trích nhau quá kể, chính thật Phật Nơi Tự Tánh Không Tu, lại tu trong mộng tưởng đảo điên của thời lạc pháp. Chỉ vì Ngã, Ngã Sở mà có như thế.

Đối với ba đời Phật cùng các chư Phật đến mỗi một vị Phật hiện thế, lời nói như Ngài là duy nhất không hai, nhưng có ba phương thức khác nhau sự kết quả chu toàn nó sẽ về một. Thế nào gọi là: Ba phương thức khác nhau? Thứ nhất lời Ấn Chứng Phật nói. Thứ hai phương tiện Phật nói. Thứ ba tùy thuận Phật nói.” –T.V.

Đây là tâm sự của Ngài trong chuyến Hạ Lai thời Mạt Pháp đã chứng kiến sự tu hành của tất cả Nhân Sanh Trí. Đối với ba đời Phật, lời nào cũng là lời Chánh Giác nhưng có bậc tu tin tuyệt đối, có bậc tu tin vừa, có bậc tin nhưng rất dễ nghi chấp bỏ tu nên chư Phật mới có ba phương thức nói:

–Thứ nhất lời Ấn Chứng Phật nói: Có nghĩa chỉ thẳng, nói thẳng sự mê lầm của bậc đang tu. Hàng Đại Bồ Tát, Bồ Tát, hàng Thánh nghe liền tán thán thi hành.

–Thứ hai phương tiện Phật nói: Có nghĩa nếu nói thẳng, chỉ thẳng vô minh thì bậc tu sẽ bỏ đi nên chỉ quanh co sau đến chỉ thẳng như Hàng Tiên Thần Trí, Chúng Sanh Trí.

–Thứ ba tùy thuận Phật nói: Bậc trí tuệ lung lạc, không vâng lời Phật, không thi hành lời Phật dạy. Tu tự ý kết quả vẫn theo ý nó muốn. Tự phá chấp tu bất tịnh không do Phật, Bồ Tát hướng dẫn nên Phật tùy thuận nói cho vừa ý cá tánh nó.

Đương thời Đức Long Hoa Tăng Chủ ra đời trong thời lạc pháp này, ngay trong Long Hoa Hội cũng có bậc tu tự ý, Ngài tùy thuận nương theo. Chưa sở đắc chân lý tự ý đi phi tướng rất nguy hại. Vì sao? Vì còn nhiễm bị vòng quanh trong lục đạo. Tu tự ý không vâng lời Ngài chỉ đạo, chỉ có tin Phật nhưng không biết việc Ngài diệu dụng, sở đắc của giả thuyết Ngài không chứng minh. Ngài bảo chứng minh là không có một phần ly ty sai chạy được mới chứng minh.

Khi ấn chỉ lời nói nơi Ngài như thế này:

"Các ông cũng nên biết. Ta là Phật đã thành, Các ông là Phật sẽ thành Chư Bồ Tát đến Đại Bồ Tát thảy đều công nhận, lời Phật nói quá đúng, khi Bồ Tát tu trì mới đoạt thấu nên nói:

Có tu mới có thành,
Chưa tu vẫn chưa thành,
Bổn lai vốn rành rành
Nhân sinh đều Phật Tánh.

Phật ấn chỉ dưới sự mê lầm của chúng sanh, Đui Điếc Ngọng Câm Ngài nói: Các ông cũng nên biết, đời nầy đến thời sau: Nếu các ông gặp Bồ Tát ra đời, hoặc Phật Hiện Thế kẻ đui liền đặng sáng. Người điếc đặng nghe. Ngọng câm biết nói. Bậc tê liệt biết đi. Ngài chỉ cho Nhân Loài thảy đều Câm Điếc Ngọng Đui Tê Liệt. Nếu không đui thời tại sao chưa nhìn thấy Phật. Chẳng điếc tai sao chưa nghe đặng lời Phật thuyết. Không câm vì sao chẳng thuyết pháp, bằng chẳng tê liệt tại sao trí tuệ chẳng suốt thông, nhập Chánh Định du hành vạn triệu cõi. Lời trên chân thật trực giác, còn Nhân Sanh Trí dùng vọng tưởng mong đợi Phật ra đời, Bồ Tát thị hiện chữa các con bệnh Đui Điếc Ngọng Câm, Tê Liệt theo lý trí hoài mong Nhân Loại tự đặt Đức Phật cùng Bồ Tát không hơn không kém với một vị Phù Thủy vậy. Đó chính lời Phật nói, ý chí phàm nghe bất đồng nó như thế.” –T.V.

Vì ảo tưởng kỳ vọng của bậc tu chờ Long Hoa bằng kinh sấm như núi Thất Sơn nổ chuyện không như nhiên, trông chờ Đức Di Lạc làm chuyện Phù Thủy, dù Ngài có hiện thần thông cũng không đem đến Chân Giác.

“Lúc dùng phương tiện Ngài nói: Ngài đã nhìn vào vọng tưởng điên đảo của Chúng Sanh, nhìn nơi tham vọng mong ước của các bậc Tín Tâm. Nếu để nó như thế nó vẫn thành như thế, nó phải sinh vào các cõi Tiên Thần, do lẽ ấy Phật mới phương tiện nói các cảnh giới và các cõi Tiên Thần đến Tịnh Độ cùng Quốc Độ Phật Quốc. Làm cho tất cả phấn khởi phát tâm tu cầu đến quả vị Phật Trí Giải Thoát.”
–T.V.

Cõi Tiên Thần người thế gian mơ ước cho là sung sướng. Các cõi này vẫn còn sanh tử, tuổi thọ có hạn đến lúc già vẫn chết. Chỉ con đường giải quyết sanh tử luân hồi của Chư Phật mới bất tử. Đó là nơi an lạc nhất.

“Phật lại tùy thuận mà nói: Sự tùy thuận nơi Ngài không làm tổn thương Đạo Phật, chẳng làm mất Công Quả của các bậc đang tu, không phương hại đến Công Đức. Nếu có bậc xuất gia vào hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di tu trì thời gian lâu mau chẳng hạn, có Trí Tuệ hoặc giả chưa có Trí Tuệ đầy đủ. Nhưng tánh tình lung lạc, đạo hạnh khó gìn giữ phạm nhiều giới luật, làm cho tất cả Tứ Chúng phê chỉ rất nhiều, lúc bấy giờ Phật tùy thuận nói: Các ông chớ nên nói đến bậc này hoặc bậc kia cùng bậc nọ. Những bậc ấy thảy đều tu trì nơi Hạnh Nguyện. Có bậc hiện thân tu trì nguyện độ Súc Sanh, có bậc tu hành nguyện độ Ngạ Quỷ, có bậc tu trì nguyện độ Địa Ngục, có bậc tu hành nguyện làm Quỷ Dạ Xoa làm Càng Cát nên chỉ có những hạnh như thế làm như vậy. Đó chính lời Thiện Xảo mà Phật nói đến hậu quả vẫn y như thế. Qua thời nầy các tín tâm tu hành phá chấp hay dùng lối này để tu lối bất tịnh, tu theo sự Kiến Dục, chỉ vì Nhân Trí tham vọng mơ màng trên lý thuyết mà nó phải như thế.”
–T.V.

Trong tứ chúng Pháp Tạng, những chân tử tu công năng công đức còn yếu kém, họ tin Ngài nhưng không làm theo lời dạy do thiếu Vâng. Ngài biết Bổn Lai mỗi vị liền Diệu Dụng, tất cả đều ưa thích ái kính Ngài. Cả trăm bậc tu thiếu vâng lời, tự ý nào có hay biết, vì Ngài biết không làm gì hóa cải đố tật tập nhiễm của họ nên làm cho họ an trụ thích thú còn hơn. Vì vậy vị nào cũng thấy Ngài thương mình thứ nhất. Phật tùy thuận nói trình độ họ không sao hiểu biết nổi.

Có một bậc tu theo Ngài tự xưng Hoan Lạc và xưng Phật, Ngài tùy thuận làm họ thích thú nhưng quyết định không được Chứng Minh văn bảng dù là hàng Hộ Pháp cũng không có được.

Hàng Tôn Giả vị nào cũng tùy công năng công đức Ngài giao nhiệm vụ giúp đỡ hàng Hộ Pháp. Hàng Bồ Tát điều hành mối đạo thừa hành lệnh Ngài thật nghiêm túc –Vị xưng Phật, Ngài diệu dụng gạt ra vòng ngoài, đứng lơ lửng trong đạo không hề nhận một nhiệm vụ gì vì thọ ngã không gỡ được.

Gặp Phật ra đời mà biết nhận định tu cho đoạt chân lý cũng thật khó. Chỉ một sơ sót liền bị rớt vì tự giác phải cao độ mới ở gần Ngài, được Ngài dạy tỷ mỉ chẳng thiếu sót. Do quá khứ tu lung lạc bị thọ nhiễm đến thời Hạ Lai Mạt Pháp này pháp tánh không biến đổi được. Thật uổng phí một kiếp gặp Phật Chánh Giác.

“Đối với Chư Phật ba thời (Quá Khứ, Hiện Tại, Vị Lai) cùng các Đức Phật nếu có Vị Phật Hiện Thể chứng minh tận độ chúng sanh, thời vị ấy trước tiên phải tùy theo thời như: Thời Thượng Kiếp, Trung Kiếp, Hạ Kiếp của chúng sanh mà Thị Hiện, lại tùy theo căn cơ lòng hoài vọng mà Hành Dụng đến khi chúng sanh nhận chân ít nhiều mới Diệu Dụng cốt hóa độ chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát.”
–T.V.

Thời Trung Kiếp Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khai đạo, xã hội thời này chưa phát triển văn minh khoa học hiện đại tánh tình chúng sanh dễ ngộ nhập Phật Pháp.

Đến thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Đức Long Hoa Tăng chủ nhìn thấy xã hội phát triển theo khoa học hiện đại quá mức, trình độ chúng sanh cũng bộc phát theo nên Ngài diệu dụng phi tướng cốt yếu đưa chúng sanh vào sâu Chân Lý cho kịp xã hội hiện đại, phá tan nghi chấp, chấp thủ dừng trụ đứng yên, từ đó chúng sanh nhận được sự họp hóa vạn pháp của Như Lai Tạng đang chuyển mình, nếu theo kịp sẽ sở đắc Như Lai Nhãn Tạng sau đến Trực Giác mà ngộ nhập con đường Tri Kiến Giải Thoát.

“Về Phật Trí nơi Phật, lại thường soi khắp ba thời hóa giải thành một. Là quán xuyến quá khứ Chư Phật đã thi hành, hôm nay Đức Phật phải làm, đồng chỉ dạy chư Bồ Tát rõ để làm. Lại diễn giải trong thời hiện tại tỏ rõ, hóa giải các ngăn chấp ngăn ngại để lướt qua từng lớp lớp nghi chấp, trí tuệ tăng trưởng tỏ tánh Trực Giác. Ngài tùy theo thứ lớp công dụng Đốn Tiệm tương song, làm cho tất cả Tứ Chúng hợp căn cơ, hợp trí tuệ đạo hạnh đoạt đến Phật Trí.”
–T.V.

Ba thời là thời Thượng Kiếp, thời Trung Kiếp và thời Hạ Kiếp soi khắp để hóa độ Tứ Chúng tu đến Giác Ngộ. Hóa giải ngăn chấp, ngăn ngại không thể ngồi nói mà được phải diệu dụng phi tướng trong thời này cho ngăn chấp, cho ngăn ngại sau nhờ hỷ xả đầy đủ bỗng Trực Giác xóa sạch ngăn chấp, ngăn ngại. Tùy theo trình độ Tứ Chúng Ngài dùng Đốn cho Ngộ sau dùng Tiệm Giáo lập lại Đạo Hạnh cho tương song đoạt Chánh Giác.

Thật khó khăn vô kể, nếu tự tu không sao hết ngăn chấp, ngăn ngại nên không bao giờ Trực Giác để có Trí Tuệ tiến dần đến Bồ Tát Trí.

“Lại vạch rõ cho Tứ Chúng nhận chân, tu như thế nào Chánh Báo, tu như thế nào Thọ Báo, Ngài dặn dò tỷ mỉ lưu lại đời Vị Lai để các bậc tu hành đời sau khỏi sai lạc trở thành Tam Tạng Kinh Điển ngày nay.

Phật lại Ấn Chứng Thọ Ký cho Vị Đại Bồ Tát Nhứt Sanh Bổn Xứ thành Phật để hoàn toàn Ba Thời Đồng Nhất, toàn diện rốt ráo Như Như gọi là Không Hai Tướng. Phật thường nói : Phật Diệu Dụng duy chỉ có Phật mới biết Phật mà thôi, cho nên giai đoạn Phật chỉ dạy cho Tứ Chúng Phật Diệu Dụng ba phương thức diễn nói, để cho Nhân Sanh nhận định đặng, chính ra Phật chỉ Ấn Quyết một phương thức khai thị, chớ chẳng có ba phương chi cả. Phật Trí soi khắp trong ba thời hóa giải duy nhất, mỗi một thời thọ ký chớ không có ba thời như trên đã nói.” –T.V.

• Tu Chánh Báo: Tu sửa có tự tánh tỏ tánh, đến hóa giải, vận chuyển vạn pháp. Viên dung đoạt Chánh Báo.

• Tu Thọ Báo: Không tu sửa, tu theo ý muốn, tu định tưởng tướng Phật bị thọ báo Tiên Thần. Tu không thấy không biết vô minh dễ sa ba đường ác bị thọ báo A Tu La, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục.

Vô Minh không phải dễ thấy, dễ tháo gỡ nó. Duy có Chư Phật, Chư Bồ Tát mới chỉ được rõ Vô Minh mà thôi. Vô Minh thấy cạn sâu tùy theo công năng công đức. Thời Hạ Lai Mạt Pháp cả đời lắm bậc tu chưa thấy một pháp Vô Minh, trong lúc Vô Minh nhiều như đám rừng! Nói giỏi viết hay nhưng không nhận diện được Bổn Lai của Vô Minh tu uổng phí thời gian. Vậy học giỏi Phật Pháp để làm gì? Thấy Vô Minh, phá Vô Minh mới sạch Chúng Sanh Tánh, chờ bậc Chánh Giác khai mở Trực Giác mới có ngày Giác Ngộ.

“Nên chi khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, ấn chứng thọ ký Di Lạc Tôn Phật thành Phật, lúc bấy giờ nơi hội trường tất cả thảy đều nhận định hai tướng nhận định ba thời (Quá Khứ, Vị Lai, Hiện Tại) Đức Di Lạc thành Phật. Liền sau khi đó Đức Duy Ma Cật, Ngài là một vị Cổ Phật, thật biết sự nhận định sai lầm của Tứ Chúng hội trường làm mất lời vàng của Đức Chí Tôn nên chi Ngài hỏi Bồ Tát Di Lạc? - Ngài Di Lạc, Đức Thế Tôn thọ ký cho Ngài một đời sẽ được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thành Phật, đó là đời nào Ngài đặng thọ ký? Nếu đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng?

Quá khứ thì quá khứ đã qua, bằng vị lai thời vị lai chưa đến còn hiện tại thì hiện tại không dừng, chính lời hỏi của Duy Ma, chỉ vào ba thời đồng nhất thọ ký Không Hai Tướng, ba phương thức lời của Phật thảy đều Khai Thị Chứng Tri Phật Trí.” –T.V.

Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật quyết định thọ ký đức Di Lạc Tôn Phật, lúc bấy giờ nơi hội trường Tứ Chúng đều lấy hai tướng Sanh và Diệt để nhận định. Dù cho bậc tu gặp Phật Chánh Giác mà chưa giác ngộ thì Quá Khứ, Vị Lai, Hiện Tại ba thời đều lấy tướng tương đối để nhận định Đức Di Lạc Tôn Phật đều lầm lẫn.

Vị Cổ Phật Duy Ma biết được sự nhận định sai lầm của Tứ Chúng chưa nhận định được sự thọ ký tuyệt mỹ này chính là chỉ thẳng Pháp Vô Sanh Tam Thừa. Ngài Duy Ma liền hỏi, Bồ Tát Di Lạc giải Bí Tạng này.

Quá khứ thì quá khứ đã qua, bằng vị lai thời vị lai chưa đến còn hiện tại thì hiện tại không dừng. Vậy thời nào mà Bồ Tát Di Lạc được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?

Đến nay thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc giải Bí Tạng như vầy:

Ba thời đồng nhất có nghĩa: Từ vô thỉ vô chung Phật Quả Vô Thượng vốn sẵn có nơi chúng sanh tại tu chưa đủ công năng công đức, chưa trực hiện chớ đâu phải chờ 2500 năm sau mới đoạt được. Khi Trực Giác liền nhận được sự Khai Thị của Đức Bổn Sư: Phật quả vốn ba thời đều sẵn có. Nó đồng Nhất Tướng, không hề có hai tướng, là chơn tâm thanh tịnh viên dung, chung cùng vô thỉ vô chung, thường còn bất biến.

Ngày 24 tháng 12 âm lịch năm Nhâm Thân, tức năm 1992, tôi đại diện Tứ Chúng Pháp Tạng tổ chức đại lễ kỷ niệm ngày Đản Sinh thứ 75 và cũng là kỷ niệm mùa Hồi Sinh hy hữu của Đức Vô Thượng Tôn Long Hoa Tăng Chủ.

Hồi Sinh có nghĩa Bậc Chánh Giác như Ngài đã tận thành việc phân thân Tứ Đại, muốn ở thế gian hay lúc đã nhập Bát Đại Niết Bàn mà muốn hiện thân bất cứ nơi nào đều tùy ý dùng thân Tam Muội thị hiện như lúc còn sống tại thế gian.

Ngài đã tận dụng Đại Phương Tiện ngay cả nhập tận diệt định tận độ chúng sanh thật thậm thâm vi diệu, thật kín nhiệm mà Nhân Sanh Trí cùng Tứ Chúng trong Long Hoa chẳng ai hay biết. Ngài nhớ lại lời Đức Bổn Sư, thời Hạ Kiếp ông phải thị hiện bệnh Thần Kinh để Tận Độ chúng sinh mới Hồi Sinh.

Sau đại lễ Vị Cổ Phật Duy Ma liền thị hiện gặp Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc tại tịnh thất ở Nha Trang. Ngài Duy Ma hỏi:

- Nghe nói ông đoạt quả Vô Thượng vậy ông để nó ở đâu?

- Đức Di Lạc: Tôi để nó ở chỗ đó.

- Ngài Duy Ma vừa cười vừa nói: Hay, Hay, thật tuyệt, danh bất hư truyền. Rồi Ngài Duy Ma cười đi ra khỏi tịnh thất.

“Để nó ở chỗ đó” trong Long Hoa Hội không ai giải được Mật Tạng này, thực tế duy chỉ có Mục Kiền Liên Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát giải sạch được cho cả Ngài Xá Lợi Phất và các Tôn Giả, Hộ Pháp ở vòng Trung Ương. Họ vui thích, hoan hỷ bảo chưa từng nghe nay được nghe.

“Dưới sự nhận định bất đồng có từ ngàn xưa chớ chẳng phải thời Mạt Pháp nầy mới có, từ Nhân Sanh trí cho đến Phật Trí vốn sẵn nơi Mê và Ngộ, khi mà trí mê mong làm thế nào đoạt đến ngộ trí cũng chưa đặng. Đến lúc ngộ trí muốn trở thành trí mê cũng chưa xong, duy chỉ có tu hành vượt qua tất cả Trí Giới đoạt đến Giác Chân rốt ráo thành Phật mới đặng mà thôi.” –T.V.

Thực tế bậc tu vượt qua giới vô cùng khó, kỳ Hạ Lai thời Mạt Pháp này hiện diện đầy đủ chư Tổ thời quá khứ, cho thấy không vị nào vào giới tự vượt khỏi giới nổi, giỏi lắm chỉ tu tự tánh tỏ tánh. Tỏ giới còn hóa giải, vận chuyển qua khỏi giới rất hiếm hoi. Nó thuộc quả tu chứng, quá ư khó! Chỉ bậc tín tâm nào thành thật tâm, thiết tha tâm còn phải có đủ trí tuệ hộ trì vết chân Ngài đi trên đường Chánh Quả mới được cơ hội khai thị, dắt dẫn, tháo gỡ pháp giới cho thôi.

Kinh điển của Ngài đang còn nghi bút:

Thiên môn đâu suất tọa
Hạ lai vô thượng tôn.

Đức Bổn Sư thọ ký Di Lạc Tôn Phật thời Đương Lai Hạ Sanh. Dưới cây Long Thọ đoạt Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khai hội LONG HOA nhiếp độ các Tiên Thần tận độ Chúng Sanh thành Phật có Kinh Sấm lại nói:

Thất Sơn bảy ngọn núi dài,
Chừng nào vang nổ Vương Đài khai hoa
Từ nơi kinh điển lời vàng của Đức Phật, từ các Sấm Kinh dụng tưởng tương sanh phối hợp làm cho tất cả cố công tu hành chờ ngày Khai Hội. Thật cao quý thay! Thật đáng quý mến thay! Các Phật Tử quyết tâm cầu đạo hao công tốn của chẳng biết bao nhiêu. Nhưng đáng tiếc thay! Cầu đạo tự nơi đáy lòng mãi dùng Nhân Sanh Trí mãi dụng lối hoài mong Hai Tướng tu cầu. Nếu tu hành cầu Đạo Chánh Giác thì phải tìm Chơn Tánh để tu qua các chướng đối tâm không quái ngại sở đắc Nhãn Tịnh Nhĩ Thông mới nhìn thấy Đức Di Lạc Hiện Thế tại Việt Nam nầy.” –T.V.

Như đã trình bày, cây Long Thọ có nghĩa là hóa thân một kiếp của Đức Di Lạc. Nếu Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí tìm cây Long Thọ, chẳng lẽ cái cây này mà làm cho Ngài Chánh Giác sao?

Nay đã đến lúc Mạt Pháp Ngài mới Hạ Lai tu hành trải qua bao gian lao thử thách, bao đắng cay nơi vợ và con cùng nhân gian.

Thất Sơn bảy ngọn núi dài, ý chỉ là vợ và sáu người con cộng lại là bảy ngọn núi Hỏa diệm Sơn to lớn.

Chừng nào vang nổ Vương Đài khai hoa. Khi Ngài có vợ bé dụng phi tướng là Pháp Bất Tịnh, vợ và sáu con Ngài nổi lôi phong làm náo động, trong đạo và nhân gian ai thấy cũng cho không phải là đạo Giác Ngộ của Đức Di Lạc, không ai nhận định được Long Hoa gì mà kỳ lạ quá không giống lối tu ở đâu cả. Chỉ có số ít không chướng tiếp tục theo Ngài để được mở Bảo Pháp. Tất cả Hoa Pháp Tánh lúc này trổ cực mạnh gọi là vang nổ. Cũng là lúc điều ngự, hóa giải, vận chuyển cho ổn là Thanh Tịnh Tâm đến kết quả Đạo Vô Thượng.

Trong lúc đó Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí trông chờ núi Thất Sơn ở Tỉnh Châu Đốc nổ theo Kinh Sấm làm ngăn che không cho những bậc trông chờ Long Hoa vào được với Đức Di Lạc.

Tất cả đều dùng Tưởng để hoài mong Long Hoa. Tưởng là tướng sanh diệt hai tướng tu cầu này bị chìm trong cơn mê dài của sanh tử. Trong lúc Chư Tổ, Chư Hộ Pháp, Bồ Tát quá khứ tu theo Chơn Tánh mới nhìn nhận chính Ngài khai Long Hoa Hội tại thành phố Nha Trang của nước Việt Nam.

“Vì sao? Vì Việt Nam là giống Tiên Rồng hoa Đàm nở tại Việt Nam gọi là Long Hoa Nhất Tướng đầy đủ các bậc tu Tiên, tu Thần, tu Thánh, tu Phật vốn ở trong một nước Việt Nam tạo thành LONG HOA TẬN ĐỘ. Khi nghe đặng lời nói chân thật này không hai tướng khuyên các bậc tu hành hãy hóa giải nghi chấp, dùng Tự Tánh Chơn Tánh nhận định mới tỏ rõ lời nói bất nhị, chớ vì nghe lời nói nầy mà phát sinh bộc khởi Tự Ngã xem như lời nói biện luận mà chướng đối thời rất phí một kiếp Hạ Lai khó gặp, khi có chướng đối ngăn ngại chưa phải tự ngã của các ông chướng đối ngăn ngại mà là tu trì chưa đầy đủ khả năng nghe được, đôi lúc nghe được lại vướng vấp loài Ma Ba Tuần làm cho khó gặp.” –T.V.

Năm 1976 khi diễn cảnh trong gia đình hỗn loạn, Ngài điều ngự và gánh chịu. Ngài khuyên các bậc tu trong Long Hoa cùng các bậc tu ở ngoài nên nhìn diễn cảnh hỷ xả, chớ có nghi chấp dừng trụ, nếu chấp nghi nên hóa giải vì đó là Long Hoa đưa bậc tu đến Chánh Đẳng Chánh Giác. Không nên lấy cái nhận định hai tướng sanh diệt của Tiên Thần Trí, Nhân Sanh Trí mà phỉ báng uổng một kiếp tu hành rất khó gặp đặng Long Hoa ra đời, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đang thề nguyện tháo gỡ tất cả Hoa Pháp Tánh cho chúng sanh không còn bờ ngăn.

Khi Long Hoa khai hỏa cũng có những bậc tu không chấp không chướng, nhưng trong thân mạng bị Ma Ba Tuần làm cho đứng riêng không đến với Ngài những lúc cần nghe, cần thấy hỗn loạn nên cũng chẳng biết gì tháo gỡ sâu Hoa Pháp Tánh.

“Khi nhận định đặng Việt Nam tiêu biểu cho Tiên Rồng, Hoa Đàm nở tại Việt Nam, Phật ra đời nơi đất Việt gọi là: VIỆT NAM LONG HOA NHẤT TƯỚNG trên dãy đất có đầy đủ Tôn Giáo, đầy đủ các bậc tu hành thứ lớp không thiếu sót, hội tề trang nghiêm quốc độ, thì không còn lấy một nghi, duy chỉ chính mình tự trách lấy mình chưa trọn Tin nên chưa Tròn Giác.

Còn nhận định về cây Long Thọ đồng với Đức Phật Tôn Di Lạc đều một tướng không khác mấy với Việt Nam Long Hoa vậy. Bằng nhận định Hai Tướng có cây Long Thọ có Tướng Tôn Phật Di Lạc, không lẽ cây Long Thọ đem đến cho Ngài Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay sao? Còn phần Ngài lại ấn chỉ cây Long thọ Chánh Giác hay sao? Phật Đạo thì duy nhất Chân Tôn trực giác không hai tướng mà Giác, đó chính là lời Chân Truyền Nhất Tôn vậy.” –T.V.

Đức Di Lạc Tôn Phật ra đời khai đạo ở tỉnh Khánh Hòa nước Việt Nam. Bấy giờ các Tôn Giáo khác đều có đại diện vào tu theo Pháp Tạng Phật Giáo chính là Long Hoa. Những vị nầy không hề có xa lạ mà quá khứ đã từng theo tu Đức Bổn Sư cách đây 2539 năm Phật Lịch, nay lai sanh đã có sẵn căn cơ, đủ các trình độ tu chứng Tiên, Thần, Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán, Bích Chi, Bồ Tát. Chỉ khác nay không dụng Thiên Thừa Hạnh (hạnh Xuất Gia) mà dụng Nhân Thiên Hạnh (hạnh Cư Sĩ), chủ yếu Ngài diệu dụng cho tất cả vào thấy, nghe pháp động, bất tịnh cho khỏi chướng đối, qua được quái ngại không còn quái ngại đặng Tự Tại Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát.

Phần Ngài thực hiện Quốc Độ Trang Nghiêm Nhất Tướng. Đó là một lối tu duy nhất trực giác không hai tướng vọ vạy sanh diệt, tối sáng được về với Chân Tôn.

“Nhận định về Kinh Sấm để nói: Kinh Sấm lối nhận định thường hấp thụ NHỊ NGUYÊN, sống nơi tương đối lý tưởng thường tưởng định tưởng nên có rất nhiều lý đoán hợp thành tương sanh chấp nhận. Sống như thế, không khác nào sống trên khói thuốc lá, khi khói thuốc bốc lên, kẻ chưa biết thì chạy theo khói mà lý đoán, bậc kiến thức biết tìm lẽ sống thực thể nguyên lý vững vàng thì bậc này nương theo khói thuốc, tìm đến tận gốc thực thể điếu thuốc đồng với lửa của thuốc. Đối với Nhị Nguyên tương đối định tưởng và lý đoán chấp nhận gọi là Sống Điên Đảo chưa thực thể.” –T.V.

Đa phần tất cả bậc tu Tiên Thần Trí, Nhân Sanh Trí đều tin Kinh Sấm theo nhận định cá tánh. Nhị Nguyên là hai tướng Có-Không, Tăng-Giảm, Đúng–Sai, tức hai tướng sanh diệt, lối nhận định tương đối do ưa thích theo lý tưởng, do mơ ước thường tưởng, do ham muốn theo cá tánh gọi là Định Tưởng. Những lý đoán về Long Hoa Đức Di Lạc ra đời này chạy theo tin đồn hoài vọng không thực thể Tánh Chơn Giác.

Bằng bậc biết nương vào Kinh Sấm tự nhận định cảnh trước mắt bà vợ và sáu người con nổi lôi phong ầm ỹ gây bối diễn hỗn loạn là núi Thất Sơn nổ, liền sống thực thể theo Chơn Tánh không còn sống hoài vọng điên đảo. Chừng đó biết nhận Đức Di Lạc Tôn Phật đang đi, đang hành nguyện tận độ chúng sanh tánh và cũng chính mình nghìn năm nay mới được ở trong Long Hoa tu tập cầu Giác Ngộ Rốt Ráo./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


43. Khai-Thị sàng lọc chọn Hộ Pháp, Tôn Giả, Bồ Tát

Ngài khai đạo từ năm 1957, khai thị Phật Pháp, truyền Thiền, nương chiều tứ chúng vào tu tập đông tới 3000 Chân Tử. Sau đó bắt đầu từ năm 1974 Ngài ấn quyết mở khoa thi bằng cách dụng Hữu-Tướng cùng Phi-Tướng nghịch hành còn gọi là Pháp Tịnh cùng Bất-Tịnh.

Dần dần, đến năm 1976 toàn thể trong Long Hoa hội chân tử nào cũng biết Ngài có vợ bé là người Chân Tử trong đạo. Lúc này đã lộ rõ số Chân Tử chướng đối và nghi chấp bỏ đạo gần hết, chỉ vọn vẹn kiểm lại không quá mười (10) Chân Phật Tử.

Ngài viết Ấn Chỉ III khai thị những bậc tu và lưu lại mai sau cho hàng Bồ Tát, Tôn Giả, Hộ Pháp cần biết nhận định lý nghe quá nhiều, học quá nhiều, nghiên cứu Tam Tạng Kinh không thiếu sót nhưng phải thực hành không đối chướng, lìa chấp, tu hành theo pháp môn Vô Lượng, Vô Biên, Vô Ngã... mới mong đến bờ Chánh Giác. Luôn luôn dụng pháp ghi nhớ không được quên gọi là niệm niệm hai chữ HỶ – XẢ cho sạch sẽ mới từ Đại Thừa bước vào Nhứt Thừa được./-

Hình ảnh căn gác gỗ đường Núi-Một Nha-Trang. Sau khi Đức Ngài mở Pháp Bất Tịnh, Ngài đã ở đây với người Thị Giả trợ duyên –vợ bé– để Ngài mở khoa thi hay còn là Pháp Tri Kiến Phật cho nhân sinh thời này cũng như muôn đời sau. Ngài đã từng thốt lên "Dù Nhân Sinh có bạc đãi Ta, Ta vẫn đưa con người đi Giác Ngộ."

Hình ảnh lấy ra từ phim tư liệu Pháp Tạng năm 2009. Tình trạng căn gác gỗ vẫn còn y như ngày vào những năm 70, 80 lúc Ngài ở đó.

Cầu thang lên căn gác.

Vừa lên thấy ngay sàn gỗ.

Vách dựng bằng phên tre.

Mái tôn không có trần.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


42. Tứ Thánh

Bậc Trí Tăng biết thích quý lướt qua các trở lực, đặng cầu quả Vô Thượng. Bậc Phàm Tăng tránh né các trở lực đặng cầu quả Thanh Tịnh Tâm, đó là một điểm lầm truyền kiếp.
–Vô Sư Kinh

 Hàng Tứ Thánh gồm có:
 • Hộ Pháp, Tầng Thánh Thứ Nhất.
 • Hộ Pháp Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Hai.
 • Bồ Tát thành tựu Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Ba.
 • Bồ Tát Ma Ha Tát nương bổn nguyện nhứt sanh bổn xứ thành Phật, Tầng Thánh Thứ Tư.

• Hộ Pháp, Tầng Thánh Thứ Nhất.

“Khởi điểm ban đầu. Tâm Chí Hộ Pháp, Tín Thành Hộ Pháp, Tự Nguyện Hộ Pháp. Dù cho Hộ Pháp bằng cách nào chăng vẫn đứng nơi thứ vị Chúng Sanh Hộ Pháp.” –T.V.

Bậc Tâm Chí Hộ Pháp, Tín Thành Hộ Pháp, trải qua nhiều kiếp thông đạt Phật Pháp đến lúc tự thấy thích thú và tín thành giúp cho chúng sanh tu theo Đạo Phật. Thường những vị này chưa ý thức lìa cá tánh cá nhân. Những bậc Hộ Pháp khi gặp hoàn cảnh không nản chí, gặp lúc gay cấn gian nan tâm không thối chuyển huân tập như vậy gọi là Tự Nguyện Hộ Pháp, bậc này quyết chí lại không có gì ngăn cản được việc hành đạo giúp đời tạo đạo đức gọi là Hộ Pháp Bất Khả Tư Nghì.

Nhiều kiếp Tự Nguyện Hộ Pháp như vậy đến một kiếp nào sung mãn công đức nơi Hộ Pháp, gặp đặng Phật ra đời hay Bồ Tát Ma Ha Tát chứng minh cho mới chính thức là Hộ Pháp. Nếu chưa có kiếp nào gặp Phật chứng minh thì còn ở hàng “Chúng Sanh Hộ Pháp”. Dù có giỏi đến đâu cũng vậy.

Thế mới biết nhập thể vũ trụ tức nhập thể Như Lai Phật ở bậc Hộ Pháp không phải dễ! đối với Phật Đạo là như vậy, còn đối với đời dù có giỏi cũng phải chờ mở kỳ thi được thi đậu có cấp bằng tú tài I, tú tài II, cử nhân... mới chính thức công nhận bắt đầu vào các ngành ở Đại Học.

Vậy nếu là Hộ Pháp, Bồ Tát phải có sự chứng minh của Phật mà vị Phật này phải được chứng minh từ Như Lai Trụ tức Đức Tịnh Vương Phật.

Kỳ Hạ Lai này Đức Di Lạc Tôn Phật chứng minh lớp Hộ Pháp vòng trong Hội Thượng Long Hoa không quá 30 vị trong tổng số 3000 Chân Tử đã được ghi ở phần trước.

• Hộ Pháp Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Hai.

“Hộ Pháp Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát, hành thâm pháp giới tận độ giới sanh thực hành hạnh nguyện cúng dường Như Lai Phật, lần tiến tu hành trải qua nhiều kiếp mới tu đạt Bồ Tát tự nguyện Bát Nhã, Bồ Tát Bất Khả Tư Nghì liền mới bước sang cương vị Ma Ha Tát gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát.” –T.V.

Tuy cùng tu trong một đạo tràng có đầy đủ tín chúng, Hộ Pháp nhưng hàng Tôn Giả vẫn được nâng đỡ dạy tu theo hạnh Bồ Tát. Hàng này phải sở đắc xong một trong ba phẩm:

 – Vô Sanh Pháp Nhẫn.

 – Bình Đẳng Tánh Trí.

 – Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn.

Và phải Giác Ngộ đến Liễu Ngộ mới đủ công năng theo Hạnh Bồ Tát. Hàng Hộ Pháp Bồ Tát hằng ngày không rời tận độ chúng sanh tánh đặng thâm nhập tất cả pháp giới cốt cúng dường Như Lai Phật.

Nhiều kiếp cúng dường Như Lai Phật đầy đủ tận độ tất cả chúng sanh tánh mới tu đạt Bồ Tát, lại ý thức quyết chí tu theo Bát Nhã, phải tự nguyện tu Bất Khả Tư Nghì tỷ như Pháp Sư Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh, tỷ như đời Hạ Lai chịu sống nơi cay nghiệt, nơi không có đạo lý, đạo đức, vạn cảnh đều bế tắc như sống trong lửa ngục dần dần hóa giải tháo gỡ không còn mắc miếu được tỏ thông.

Nếu hàng Tôn Giả tránh né vạn pháp, chưa tu sạch chúng sanh tánh chưa tròn hạnh tiến lên Bồ Tát. Đến kiếp nào thực hiện Hữu Tướng Phi Tướng dung thông, sạch sẽ cũng phải chờ Bồ Tát Ma Ha Tát hoặc bậc Nhứt Sanh Bổ Xứ thành Phật chứng minh cho mới được vào hàng Bồ Tát.

• Bồ Tát thành tựu Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Ba.

“Từ Bồ Tát Ma Ha Tát gọi là Đại Bồ Tát trải qua Bất Thối Bồ Tát thành tựu công đức sung mãn vào hàng Đại Bồ Tát.” –T.V.

Trong thời Đức Di Lạc hành đạo, có vị Hộ Pháp Bồ Tát và vị Bồ Tát chưa sở đắc Cửu Phẩm Liên Hoa nên không được Ngài chứng minh vào hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát.

Trong Cửu Phẩm Liên Hoa Bồ Tát đúng nghĩa Chư Phật phải biết từ phẩm thứ nhất đến phẩm thứ chín là những phẩm gì. Tự giác sẽ biết rất nhẹ cảm chứ không y kinh giáo điều. Phẩm thứ chín là Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Nếu xưng Bồ Tát phải biết đúng đường đi theo vết chân Chư Bồ Tát quá khứ, đúng theo thứ tự từng bước một mới gọi là Thực Chứng Vô thượng Đẳng, Vô Thượng Sư. Nếu không tự giác được thứ tự chín phẩm thì đó là Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư học thuyết, giả thuyết chứ không có thực chứng.

Trong Pháp Tạng đã xảy ra một trường hợp tự xưng Vô Thượng Đẳng không được Ngài công nhận, không được chứng minh hàng Hộ Pháp. Cái ngộ của giả thuyết thật lầm lẫn truyền kiếp. Thường những bậc này dễ bị lầm phải hành thâm pháp giới bá thiên vạn lần mới thực chứng Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư. Lầm giả thuyết, học thuyết xưng Phật bị Phật Giới thời Hạ Lai này vô kể. Lại định tưởng cho có thần thông làm chúng sanh bị lầm, bậc tu bị chấp do không tỏ rõ ngọn ngành đường đi nước bước của Bồ Tát.

Như Ngài dạy: Đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác do Đức Bổn Sư thọ ký từ Bồ Tát đến nay 2538 năm Phật Lịch Đức Di Lạc mới thành tựu Phật Quả. Lời nói mới đại diện Tam Thế mới hiện thực.

Khi được Chư Phật chứng minh Bồ Tát, bậc này mới hạnh nguyện Bồ Tát Ma Ha Tát được. Bồ Tát Ma Ha Tát còn gọi là Đại Bồ Tát bậc này qua được tất cả trở lực cực kỳ khó khăn, cực kỳ bi đát, không nản chí, không bỏ dở hạnh nguyện mới sung mãn công đức cúng dường Như Lai vào hàng Đại Bồ Tát.

• Bồ Tát Ma Ha Tát, Tầng Thánh Thứ Tư.

“Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. Trong bốn thời của hàng Tứ Thánh, thật dài dặn, trải qua vô lượng kiếp, vô lượng công đức, vô lượng phẩm cúng dường Như Lai, cúng dường chư Phật mới thành Phật, chớ nào phải tu một kiếp mà trưởng thành đâu. Sự trở thành trong một kiếp, nó đã có sẵn gieo trồng, có sẵn đầy đủ ngày nay mới tu đạt Chánh Giác.” –T.V.

Đến đây chư vị hãy chiêm bái Đức Di Lạc kỳ Hạ Lai này Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. Thế là 2500 đã đến. Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đã hoàn mãn Diệu Quả Bồ Đề ở thời kỷ nguyên nguyên tử này tại nơi dầu sôi lửa bỏng, quả là một chứ không hai.

Sự tê liệt, không vận chuyển được vạn pháp trong lửa chớ vội xưng Phật dù có Đắc Vô Thượng cũng bị lầm do Ngã, Ngã Sở mà bị thọ chấp thật uổng phí sự tu hành. Thành vị A La Hán thời Mạt Kiếp cũng đã là khó, còn nói chi Bồ Tát, còn Phật lại quá ư kín nhiệm, quá ư tuyệt mỹ đâu có tầm thường suy nghĩ loạn mà vẫn xưng Phật thật tội lỗi./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


41. Tứ Hạnh

Bậc chỉ đạo cứu độ chúng sanh cần tinh tấn nhiếp thu Tứ Hạnh, hoàn tất Pháp Thân để tỏ rõ trực giác đi vào Thật Hiện chứ không nặng Ứng Hiện. Trong Tứ Hạnh gồm có:
 – La Hán Hạnh.
 – Thinh Văn Hạnh.
 – Duyên Giác Hạnh.
 – Bồ Tát Hạnh.

• Thứ Nhất : La Hán Hạnh.

“Phẩm hạnh của những bậc A La Hán gọi là Hạnh Tướng Phật. Nếu an trụ tướng ấy thành đạt tướng Phật thời gọi là Bích Chi Phật. Bằng tu hành hạnh La Hán nó lại tùy nơi tu chứng cấp bậc an trụ thì Chánh Báo từ hàng Thiên Tiên, Đại Tiên, ở nơi ứng hiện trực hiện Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới gọi là Tam Giới.” –T.V.

Những bậc tu sở đắc chân lý Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ thường bị lầm cho là cao nhất và tưởng rằng đã đạt đến mức tận cùng của chân lý nên an trụ hạnh này gọi là Phật Giới. Thật ra sự an trụ hạnh tướng này chỉ là Bích Chi Phật còn gọi Phật Giới. Phật an trụ một giới tỏ rõ tùy mức độ tu chứng Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ mà đạt mức từ Thiên Tiên đến Đại Tiên gọi là Phật Tiên vẫn nằm trong đài hoa pháp giới, khó có kiếp nào thoát khỏi pháp giới để bước vào dung thông cùng Bồ Tát Hạnh.

Đến mức tu chứng này những bậc nào biết cần phải tu tiến lên nữa liền không chấp trụ hạnh tướng Phật Giới rất hiếm hoi vô kể. Gặp Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng khó lìa bỏ Tập Nhiễm Phật Giới để được hóa độ con đường Bồ Tát. Thà rằng làm vị Bồ Tát tu tiếp còn có thời điểm thành Phật chứ trụ Phật Giới phải bị A Tăng Kỳ Kiếp không tiến lên được nữa.

• Thứ Nhì : Thinh Văn Hạnh.

“Bậc tu La Hán Hạnh, nương nơi Tứ Hạnh tu cầu Chánh Giác thời tận dụng kinh điển là ngón tay chỉ, xem kinh cốt liễu nghĩa không chấp tự kinh thâu nhận trực giác, gọi đó là thực hiện Thinh Văn Hạnh.” –T.V.

Bậc Thinh Văn Hạnh tu giác ngộ cũng được gọi là La Hán Hạnh. Từ La Hán Hạnh tu cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, những bậc này xem kinh cốt liễu nghĩa kinh đặng trực thị vạn pháp. Nếu xem kinh, nghiên cứu kinh, học kinh mà không biết áp dụng kinh trong đời sống hàng ngày cốt tỏ vạn pháp, trực giác vạn pháp vẫn là Bị Giác rất khó thoát sinh. Những bậc này thường vấp phải Ngã, Ngã Sở mà không bao giờ hay biết mình đang bị vô minh bao phủ phải bị triền miên trong kinh điển. Họ cho rằng đọc, nghiên cứu kinh Phật là đường tu duy nhất chớ đâu có biết rằng nhờ kinh Phật để tu trực giác thoát khỏi pháp giới bị biết. Thật quá ư khó khăn thay cho một bậc nào biết nhận định sâu sắc để tự độ đời mình đặng tu cầu Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sự mê lầm nhiều đời kiếp.

• Thứ Ba : Duyên Giác Hạnh.

“Bằng tùy duyên cảnh thuận nghịch mà trực giác, không vì thuận, chẳng vì nghịch, tâm phân đối chướng ngại nơi Tịnh Bất Tịnh mà thối chuyển chấp nghi, duy nhất trực giác mà đặng, gọi là thực hiện Duyên Giác Hạnh.” –T.V.

Tùy duyên cảnh thuận nghịch có nghĩa trong cuộc sống thường ngày gặp hoàn cảnh thường diễn thuận nghịch liền biết ở đời ai cũng có hoàn cảnh khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ, khi có lúc không, không quái ngại cho là chuyện lạ, tâm bình thản xem xét hoàn cảnh không còn chướng đối. Dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu cũng an vui tìm phương tiện hóa giải đến tỏ thông không còn phân biệt đối chướng, không còn nghi chấp Chư Phật, cùng bậc Thiện Tri Thức, được đến thường còn không còn nằm trong vô thường của chúng sanh, được an vui. Bậc trực giác được hoàn cảnh đến thuận hay nghịch, tịnh hay bất tịnh đều phải hóa giải gọi là Duyên Giác Hạnh.

Bậc Duyên Giác khi hóa giải hoàn cảnh không lo sợ pháp này giải đúng sai, sai đúng. Dù cho sự hóa giải một hoàn cảnh không đúng cũng ghi nhớ lấy cái sai này làm bài học cho cái đúng sau này, đặng hoàn tất Duyên Giác Hạnh là thiết yếu. Bậc La Hán Hạnh, Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh đúng nghĩa thường sở đắc một trong ba phẩm:

◊ Vô Sanh Pháp Nhẫn.

◊ Bình Đẳng Tánh Trí.

◊ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn.

Còn phải trải qua tu tập tự nguyện nhiều kiếp mới đến Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ.

Nếu gặp bậc Thiện Tri Thức là Phật hay Bồ Tát có Tâm Ấn thực của Phật Thích Ca, Phật Di Lạc thì rất có lợi vô kể, chỉ cần một kiếp nếu Tin Vâng Kính đầy đủ là đến Giác Ngộ thật sự không đợi nhiều kiếp.

Nhiều bậc khi đã gặp Đức Di Lạc nhưng lại tự ngã, lại thêm đeo cái cân tiểu ly bên mình tính hơn thiệt cũng không có kết quả chứng đạo. Đời Tôi đã chứng kiến và quá biết thật nó như vậy. Trên lộ trình hành đạo Ngài tận tình cho tất cả. Nhưng cũng khó vì họ không tinh tấn. Còn nhiều vị trụ ở Chân Không tháo gỡ đến giác ngộ không qua nổi khi Đức Long Hoa Tăng Chủ ra đi họ vẫn trụ không. Thật là khúc eo vĩnh cữu.

Tại Trung Ương Hội Thượng, tôi nghe Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc khai thị như vầy: Thời Hạ Lai Mạt Pháp đã tàn canh, cần chỉ bày tu tập tỉ mỉ giúp cho mai sau bậc tín tâm tránh được lầm chấp KHÔNG, theo đúng con đường Giác Ngộ.

Ngài ôn tồn khai thị tiếp:

- Vua Lương Võ Đế nước Tàu là vị rất tin đạo Phật. Một hôm vua đến thăm Tổ Bồ Đề Đạt Ma và hỏi:

- Trẫm xây hàng vạn ngôi chùa, cúng dường hàng vạn chư Tăng, vậy có công đức không?

Tổ Bồ Đề Đạt Ma trả lời:

- Không

Vua Lương Võ Đế hỏi:

- Tổ có biết trẫm là ai không?

Tổ trả lời:

- Không

Vua Lương Võ Đế không tin Tổ, bỏ ra về và cấm các quan trong triều không được tu theo Tổ.

Câu chuyện trên cho biết Tổ Bồ Đề Đạt Ma dùng Đốn Giáo sai lúc. Vì vua Lương Võ Đế mới gặp Tổ nên không thể dùng Đốn Giáo được. Tổ phải dùng Đạo Hạnh nương chiều dạy Tiệm Giáo cho vua một thời gian, đến lúc thấy đủ Tin Vâng Kính mới dùng Đốn cốt yếu cho vua Ngộ.

Tổ chỉ biết Tổ chớ chưa biết ý vua muốn gì và tu đến mực độ nào. Vì Tổ chưa ngộ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn. Do đó Tổ chỉ tự độ chớ tha độ chưa đúng. Tổ sở đắc chân lý, giảng đạo Đại Thừa nhưng phần thực hành áp dụng pháp vào đời sống bị kẹt KHÔNG. Cuối cùng Tổ quay vào vách thiền định chín năm hối hận sự đốn pháp sai gây hậu quả tai hại nầy chứ không phải quay vào vách thiền định chín năm là cao đạo như những lớp tu sau lầm chấp.

Thiền quay mặt vào vách chín năm tránh thế gian bị lạc vào Tiên Đạo.

◊ Lý: Đại Thừa.

◊ Sự: vận chuyển Pháp không qua. Bị kẹt Không.

◊ Kết quả: lạc Tiên Đạo.

Như đã ghi phần trước trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này chính Đức Long Hoa Di Lạc Tôn Phật hành đạo từ năm 1957 đến năm 1993 cũng đã gặp lại 33 vị Tổ thời Đức Bổn Sư qui về tu hành đông đủ nhưng tất cả đều hiện Cư Nhân Hạnh, có gia đình, sinh sống đủ các nghành, nghề trong xã hội Việt Nam.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng qui về năm 1980 với hóa thân mới, tên hiện kiếp. Có lần tôi được chứng kiến Đức Di Lạc Tôn Phật khuyên Tổ nên phát tâm dõng mãnh tu Bồ Tát Hạnh chứ đừng trụ hạnh tướng Phật bị giới gọi là Bích Chi Phật. Thà ở Bồ Tát Hạnh sau thành Bồ Tát còn có ngày thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác chứ ở hạnh Phật Giới đến vô lượng kiếp không thoát sinh nổi.

Tổ không chịu nổi pháp động thuộc phi tướng do Đức Long Hoa Di Lạc Tôn Phật diệu dụng. Sau chỉ một năm Tổ quay về đóng cửa không tiếp bất cứ một ai trong đạo, Ngài kêu gọi gì cũng đóng kín cửa. Pháp tánh viễn dung bình đẳng, ngàn xưa nay tập nhiễm diễn y không hề thay đổi. Đức Di Lạc Tôn Phật có viết hai câu thơ cho Tổ như sau được lưu giữ trong Pháp Tạng:

Đường về Thiên Trúc xa bao dặm
Mà Tổ Bồ Đề gánh chữ KHÔNG.

–TV

Tổ sở đắc Chân Không chớ chưa Giác Ngộ. Lục Tổ Huệ Năng cũng vậy, tu được một năm trong Pháp Tạng, không chịu nổi pháp động cũng bỏ đi. Thế mới biết tu cư nhân hạnh thời này Pháp sống động phải bền chí, chịu đựng độ khổ mới qua nổi lớp lớp pháp giới. Tiền thân của Lục Tổ Huệ Năng chính là Sa Nặc trong thời thái tử Tất Đạt Đa. Khi Đức Bổn Sư thành Phật Sa Nặc cũng tu trong tăng đoàn, chưa được chứng minh vào hàng Thánh Tôn Giả.

Khi đó Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai vị Tôn Giả tích cực đến nay đã có trong Long Hoa còn đang hạnh nguyện từ Tôn Giả đến Bồ Tát thì làm gì có chuyện Lục Tổ Huệ Năng (Sa Nặc) đã thành Phật!

Năm vị Tổ sau truyền sang Trung Hoa từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng đều đắc Chân Không chứ chưa có vị nào Giác Ngộ.

“Nói hay viết giỏi chưa phải của ta, khi gặp hoàn cảnh ta giải quyết hay đó mới là của ta.” –T.V.

Tự tánh tỏ tánh được sạch chúng sanh, còn phải nương vào vạn pháp hóa giải, tịnh bất tịnh thảy đều nhiếp thâu cốt yếu tạo công năng còn phải nương nhờ nơi công đức mới mong sở đắc chân lý. Tùy mức độ cạn sâu nơi công năng, công đức mà được Giác Ngộ đến Liễu Ngộ. Cần có lập trường vững, kiểm chứng sáng soi nghiệp thức, nghiệp lậu cùng nghiệp kiết sử cố định lâu đời, hóa giải lầm mê vận chuyển sạch sẽ vạn pháp mà Chánh Giác. Bậc tu cầu con đường Tri Kiến Giải Thoát thời hãy tu tất cả các môn sao cho pháp hồi tâm, chỉ đúng pháp môn giải thoát mới đến. Bằng tu chỉ một môn Tiệm Giáo, Đốn Giáo, Mật Giáo, Hiển Giáo khó Giải Thoát được.

Vì tu đốn giáo hiểu biết đốn giáo, tu tiệm giáo hiểu biết tiệm giáo chớ chưa phải đủ pháp môn giải thoát. Tu hiển giáo hiểu biết hiển giáo, tu mật giáo hiểu biết mật giáo chớ chưa phải tu pháp môn giải thoát.

Bậc tu nơi thích muốn, tu cầu tịnh cũng không giải thoát được. Phải tu theo tôn chỉ mục đích được hướng dẫn rõ ràng của bậc Chánh Giác mới đạt được như đã tỏ bày phần trước mười vị Tôn Giả cùng chư vị Hộ Pháp thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật kỳ hạ kiếp này có mặt trong Long Hoa, đã được Đức Di Lạc Tôn Phật cho thi kiểm tra quân minh về Đức Trí, dụng cư nhân hạnh tu hành thực tiễn. Kết quả chư vị còn ở vị trí Tôn Giả, Hộ Pháp. Duy nhất chỉ có một Tôn Giả được Ngài chính thức chứng minh Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát trước mặt ba Chân Phật Tử.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng còn ở vị trí Hộ Pháp chưa được Ngài chứng minh vào hàng Tôn Giả. Căn cứ vào sự chứng minh của Đức Di Lạc Tôn Phật kỳ Hạ Lai này thì Tôn Giả Mục Kiền Liên đi trước Tôn Giả Xá Lợi Phất một đời Phật. Như vậy Mục Kiền Liên sau này lai trần hạnh nguyện thành Phật sẽ độ lại cho Xá Lợi Phất vào Bồ Tát vì hiện tại Tôn Giả Xá Lợi Phất chưa được chứng minh Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát.

Bậc trí tuệ thường nghĩ đúng và sai, sai và đúng thì không bao giờ đúng được. Do đó cứ suy tính làm việc này sẽ sai không nên làm. Bậc chẳng nghĩ mà làm, lấy cái sai học hỏi rút kinh nghiệm thì cái sai làm Thầy cái đúng.

Phải vào vạn pháp nương pháp dù có sai, tỏ sai một ngày kia sẽ đúng đó là đường đi của bậc cầu giải thoát. Bậc sợ làm bị sai nên không làm thì cái đúng của nghiệp thức chưa thật. Cuối cùng còn bị vướng trong suy nghĩ, không thoát khỏi vòng đai của tư tưởng. Mỗi một tư tưởng có một bản chất của nó, khi bậc nào cố định không ai giải tỏa nổi, dù có Phật ra đời cũng đành chịu. Duy chỉ có bậc đang tư tưởng cố định tự giải tỏa là xong. Do đó chư Phật dạy: Vạn pháp như huyễn hóa, đời là một giấc mơ qua nhanh như tia chớp. Phải tu trong pháp huyễn, tu trong mơ vọng, sau tỏ huyễn, hết mơ vọng về Chơn Tôn.

“Thời Lục Tổ Huệ Năng với Ngài Thần Tú đồng tu dưới sự chỉ đạo của Ngài Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn.
Mỗi vị tu theo mỗi thế. Ngài Thần Tú đứng về Tiệm. Còn Ngài Huệ Năng thuộc về Đốn. Ngài Thần Tú tu nơi Đạo Hạnh, Ngài Huệ Năng về Giác Chơn thể tánh tịch diệt nơi vạn pháp. Một bên dụng tướng tỏ chơn, còn một bên truy chơn tỏ tánh.

Rốt cuộc là Ngài Lục Tổ vẫn phải còn thực hành Đạo Hạnh Tướng cùng Chơn. Phần Ngài Thần Tú tầm chơn hợp tướng, đó chính là một con đường duy nhất Phật Thừa không hai lối.”
–T.V.

Bước đầu môn nào cũng phải tu sửa, nếu lơ là chểnh mảng tu sửa, dù tu môn nào cũng trở thành cố định đứng yên. Vô lượng kiếp cũng đứng yên vẫn bị lầm lạc không giải thoát được. Như kỳ Hạ Lai này nhiều vấn đề nói ra khó nghe nhưng đều có thực. Các vị Mã Minh, Thế Thân, Vô Trước thời quá khứ giảng Phật pháp Nhứt Thừa, Tối Thượng Thừa được xem hàng Bồ Tát. Nhưng kỳ này trong Long Hoa, Đức Di Lạc Tôn Phật kiểm tra, chứng minh còn ở hàng Tôn Giả, Thinh Văn Hạnh.

Cấp A La Hán lý giỏi, sự vận chuyển pháp chưa qua nổi, còn đứng yên một chỗ gọi là Lý Sự chưa tương song - Đức Trí còn chênh lệch chưa tương song. Nói chung Ngài rất nghiêm túc khi chứng minh. Ngài đã từng khai thị: "Tôi chứng minh hàng Thánh Chúng không bao giờ để vướng động chữ Vì. Tất cả đều quân minh, do đó mới có cơ bản chân truyền."

• Thứ Tư : Bồ Tát Hạnh.

“Khi ba phẩm hạnh trên đầy đủ đương nhiên phát tâm dũng mãnh vào con đường tu Bồ Tát Hạnh. Vì sao? Vì hạnh Bồ Tát tùy căn mà trực hiện Bổn Lai Diện Mục nơi Bồ Tát. Khi Bồ Tát thực hiện ứng thân nơi Bồ Tát, Bồ Tát giả mê, như nhiên có phẩm hạnh đầy đủ, có uy nghi có những lời chánh đáng nằm sẵn tự tánh của Bồ Tát xuất ra không lệ thuộc giáo điều, nhưng không làm hại kinh pháp của Đức Thế Tôn hướng dẫn.” –TV

Hạnh Bồ Tát là hạnh tự nguyện, trực hiện có nghĩa tự ý thức tu tánh, đào sâu tất cả nghiệp kiết sử trong thân mạng đặng trực giác thấy biết hóa giải vạn pháp. Không còn nặng cầu vái van xin. Nếu đã được chư Phật chứng minh thành đạo Bồ Tát cho dù có lai trần chưa đến thời kỳ trực giác gọi là Bồ Tát giả mê thì bậc này tuy thân còn nhỏ tuổi vẫn hàm chứa sẵn phẩm hạnh, vẫn có uy nghi của Bồ Tát. Đến đúng tuổi xưa bỗng trực hiện, Bồ Tát được trả lại không còn có vô minh che như chúng sanh.

Nếu là Bồ Tát đúng nghĩa của chư Phật tạo dựng thì không còn có sai sót nào mà tần số ở dưới thấy biết được duy chỉ có Như Lai dạy cho Bồ Tát được mà thôi. Do đó ý nghĩ, lời nói, việc làm đều tự phát Tịnh Bất Tịnh cũng không sai, tất cả đều thừa hành chư Phật mà dạy cho tứ chúng cốt Giác Ngộ thôi.

“Vì lời trực giác kia toàn lời thị hiện chư Phật nay Bồ Tát thừa hành nên phát lời nói ấy. Các ông chớ nên phê phán lời trực giác, tự giác nói ra, hoặc giả chấp nghi mà dừng trụ thời không bao giờ đến quả Bồ Đề. Nay Ta vì thương các ông để các ông khỏi tổn thương con đường tu đạt.” –TV

Phật làm phàm phê, Bồ Tát làm phàm phê từ lâu vốn thường diễn. Nay Đức Long Hoa Tăng Chủ nhắc nhở những bậc tín tâm cầu giải thoát chớ nên chấp nghi, chớ nên phê phán chỉ trích, vì đức mỏng công năng lại kém xa Chư Bồ Tát, nếu chỉ trích bậc trực giác hàng Bồ Tát ắt bị tổn thương công đức rất lớn. Cần thận trọng bảo trì công đức mỏng manh của mình đã tạo trong việc tu hành nhiều đời, nhiều kiếp mà chưa được Chư Phật Chư Bồ Tát chứng minh.

Thời Hạ Lai tôi đã chứng kiến một số bậc tu nghi chấp, vô tình phá pháp làm tổn hại Bồ Tát, hậu quả tai hại đến không lường hết được. Thế mới biết “Đức trọng quỷ thần kiêng” xưa nay vẫn bất diệt.

“Ngài vừa nói đến đây thời trong hàng Thinh Văn, Duyên Giác cùng A La Hán chư Thiên đều đứng lên thưa gởi:

- Bạch Đức Vương Phật chúng con đang đi trên đường này. Chúng con đang đứng trong đàng này, chúng con đang tu trên con đường này. Nếu chờ cho mãn kiếp, nếu chờ cho đúng thời, nếu đợi cho đến lúc, chưa đặng gặp Phật, chưa đặng gặp Đại Tăng thời mới làm sao tu cầu Chánh Giác? Xin nhờ Đức Phật Vương khai thị cứu giúp chúng con.

Ngài liền phóng quang nơi pháp đảnh, tỉa ra chín dòng quang, nét mặt tươi đẹp vô cùng tận, nở nụ cười tựa như triệu nghìn hoa đàm xòe cánh. Ngài nói:

- May thay! may thay: Các ông là những bậc gặp lúc, những bậc đang gieo căn duyên lành vô triệu kiếp bị lung lạc trong các lối đi, gặp bậc Thiện Tri Thức chỉ đường hướng dẫn thì làm sao lạc lối mà sợ sệt van xin?

Ngài vừa nói đến đây tất cả vui mừng vô kể, đồng đảnh lễ, đồng chiêm ngưỡng, đồng ái kính chẳng khác cha lành cứu bầy con đói khổ. Các tuần Trời reo tiếng nhạc, các cõi Tiên trải hoa đầy đủ màu sắc, toàn là các giàn hoa quí nhất thảy đều trải đến cúng dường. Ngài lặng yên thọ ký công đức cho tất cả Ngài nói:

- Các ông hãy nghe, các ông hãy thọ trì đọc tụng. Tứ Hạnh đồng đẳng như nhau, không lớn chẳng nhỏ, không cao chẳng thấp, bằng thiếu khuyết một trong tứ hạnh khó mà thành. Phải chăng các ông đã đặng sự đồng đẳng tu hành thực hiện tứ hạnh mà Giác Ngộ Chánh Giác chăng?
Tất cả đảnh lễ thọ trì phụng hành kính bái.”
–T.V.

Hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán còn gọi Bích Chi Phật, mỗi hạnh đang độ khổ, vừa giải khổ. Từ hàng Bồ Tát đến Đại Bồ Tát hành dụng, diệu dụng pháp khổ mới thực hiện được bốn hạnh trên đồng đẳng, đã đồng đẳng liền đúng thời gian, đúng vị trí nên pháp không lớn cũng chẳng nhỏ, không cao cũng chẳng thấp. Bậc chưa thực hiện được bốn hạnh, hoặc chưa thực hiện được đầy đủ chiều sâu khó hoàn mỹ Chánh Đẳng Chánh Giác. Bậc như vậy chưa đúng nghĩa Bồ Tát.

Khi Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật Hạ Lai kiếp này thành Phật, mỗi khi Ngài khai thị Phật Pháp tại bất cứ nơi đâu, ngoài chúng sanh, tứ chúng Pháp Tạng còn có các bậc ở Cõi Trời, Chư Thiên đồng giao cảm đến dự đông đủ. Trong lúc đó hàng Tăng Ni cùng bậc tu ở thế gian đâu có được duyên lành tham dự trong suốt 37 năm hành đạo của Ngài. Ngài cũng từng than thời Mạt Pháp này thật khó đắp xây./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


40. Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn

Bậc tu, chủ yếu rõ biết Vô Minh mới gọi là tu. Bằng tu để tu không biết Vô Minh thời tu đến vô số kiếp chăng nữa, cũng không được lấy một ngày tu.
–Vô Sư Kinh
 
“Khi mà Đức Bổn Sư cầm cành hoa đưa lên hội trường, chính Ma Ha Ca Diếp nhận lãnh liền chứng thị: Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn, đó phải chăng Tương Thông Phật lực?” –T.V.

Tôi nghe như vầy: Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng số 42 đường Hồng Bàng, Nha Trang. Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật khai thị: Tôn giả Ma Ha Ca Diếp chứng thị Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn. Vậy thế nào là Thực Tướng Vô Tướng?

Hoa hồng là thực tướng, nếu đem con sâu sống trong hoa hồng sang hoa cúc hay bất cứ một loài hoa nào khác, nó phải bị chết vì không quen ăn chất hoa cúc hay một chất nào khác, môi trường sống khác nó cũng không quen, nó chỉ thích hợp với môi trường và chất hoa hồng thôi. Đó là vô tướng. Từ đó Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp trực giác chúng sanh giới nào chỉ biết giới đó, ngoài giới không biết không tồn tại được. Trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, mỗi thế giới có một môi trường sống, ẩm thực, vật dụng đều đồng đẳng với nó không sai khác được.

Tỷ như con cá sống trong nước ngọt, nếu đem nó lên bờ hay bỏ nó vào nước mặn, nó sẽ chết. Tỷ như con người sống nhờ có không khí nếu mất không khí hay ra khỏi bầu khí quyển không còn không khí ắt phải chết, nếu muốn tạm sống phải có bình oxy để thở. Từ tánh tình, tập nhiễm, cách sống, cử chỉ thảy đều tương thông mỗi giới.

Bậc biết thực tướng, biết được vô tướng, biết chình mình lầm mê gọi là ba cái mê nơi bậc tu. Vậy là bậc tu giải được Tam Muội. Đấy là Tâm Ấn chư Phật khai thị để bậc thật tín tâm giải sạch vòng đai pháp giới, là pháp vi diệu đạt được Chánh Định Tam Muội.

Thực Tướng Vô Tướng là chính yếu để giải mê lầm khi gặp vạn pháp, nếu bậc tu Trực Giác nó chính là con đường Trung Đạo. Muốn bước vào con đường Trung Đạo bậc tu phải tự tánh tỏ tánh, không chấp, không chướng tâm rỗng rang mới đạt được. Thực Tướng Vô Tướng còn gọi là hai pháp Có – Không. Nếu bậc tu bỏ Có lấy Không thì sa vào Tiên Đạo. Còn bỏ Không lấy Có thì ví bằng phàm phu, thường mắc miếu trụ chấp, chướng đối phải bị chìm đắm trong sanh tử luân hồi.

Các vị Tổ xưa kia khi chưa đắc chân lý cũng phải bị mê lầm như chúng sanh. Các vị trước tiên cũng niệm Phật, cũng nghe thuyết pháp, cũng xem kinh, cũng mê tín, cũng tập khởi, cũng chấp pháp Có-Không, nặng nhẹ không chừng. Nhưng với bản năng quyết tâm cầu Giác Ngộ cần thực hiện sửa tánh bộc phát hóa giải vạn pháp chớ không xem kinh, tụng kinh Phật mà học thuộc. Mục đích chư Tổ là tự biết chớ không bị biết cũng không thọ ngã, không thọ chấp Thực Tướng, cũng không thọ chấp Vô Tướng nên chẳng còn nghi, tỏ thông pháp tánh tròn khắp.

“Ma ha Ca Diếp chứng tri Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn, phải trải qua hàng bao Tam Muội, vạn pháp Thần Thông Tam Muội, mới chứng tri lìa có lấy không, tận tận không không đến nơi Phật Tướng Giác Tướng.” –T.V.

Mặc dầu sở đắc chân lý nhưng còn phải hành thâm pháp giới, phải trải qua hàng bá thiên vạn pháp Thực Tướng Vô Tướng mới tỏ thông liền lạc, mới không còn lầm, đến lúc sạch sẽ pháp giới tức sạch sẽ chúng sanh tánh, tận thấu không còn vướng một pháp giới mới đến giác tướng, bước từ Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Hạnh vào hàng Bồ Tát được. Cái Không của bậc Giác Tướng đã từng dẫm nát vạn triệu triệu pháp giới, vào ra không ngại chứ chẳng phải ngồi yên mà cho là đắc Không được.

“Nơi Kiến Tánh nó tận dụng không sắc tướng vẫn Thấy Biết, nó từ nơi chân tánh phát hiện ở nơi soi tánh, sửa tánh mà tự thấy đặng tánh, nhờ tu pháp môn giải thoát nên chi thường tánh sáng soi nơi Không Tánh vẫn thấy.”
–T.V.

Chúng sanh phải có sắc, có tướng mới thấy biết, bậc tu thường quan tâm sửa tánh, xem xét tánh đúng mức tự nhiên phát hiện chân tánh, từ chân tánh như nhiên sáng nên khi pháp diễn cảnh thấy biết Vô Tướng gọi là Không Tướng vẫn thấy.

Tỷ như hai người bạn thân với nhau từ lâu, bỗng một hôm có hoàn cảnh rối rắm, một trong hai người bất bình giận người kia. Người bạn nói một câu bất mãn, bỏ tình bạn cũ, người kia nhờ tu sửa tánh, không còn giận hờn bạn, lại bình tĩnh, sáng soi tại sao bạn mình nói câu dứt tình nghĩa như vậy, liền biết được nguyên nhân, biết được do hoàn cảnh gì từ trong thân tâm bạn mình ẩn khuất bên trong, đó gọi là Không Tướng mà thấy. Người bạn quan sát giỏi, hóa giải đúng vẹn toàn gọi là Diệu Quan Sát, chân tánh được tỏ thông pháp môn giải thoát, con đường đi đến Lục Thông. Từ Lục Thông sẽ hoàn tất Tam Muội.

Không nên dùng thương, ghét suy đoán mà thấy, không suy nghĩ nặng một chiều, phải như nhiên quan sát kỹ lưỡng, được tự biết.

“Hai giáo phái Đại Thừa và Tiểu Thừa đối với những bậc căn cơ chưa hiểu biết thường phân tách chướng đối. Bậc đã từng biết hoặc biết hơn thế nữa thì đặng gọi chung lại là Đạo Hạnh-Trí Tuệ của hai môn, phân ra hai lối tu hành nặng nhẹ của mỗi bên, do đó mới gọi là chung và riêng, Ứng Thân Chân Lý cùng Pháp Thân Chân Lý. Bằng Pháp Thân cùng Ứng Thân song tu thì được gọi là Viên Giác, mới hoàn toàn tôn chỉ duy nhất trên con đường Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V.

Tiểu thừa thuộc Đạo Hạnh. Đại thừa thuộc Trí Tuệ. Tiểu thừa tu kết quả Ứng Thân đắc chân lý. Đại Thừa tu kết quả Pháp Thân đắc chân lý. Bởi vậy bậc tu Ứng Thân đầy đủ cần phải tu Pháp Thân. Ứng Thân cùng Pháp Thân rốt ráo liền có Chánh Báo Thân, viên mãn ba thân. Chư Phật có ba thân.

Bậc tu nặng Đạo Hạnh, nhẹ Trí Tuệ. Cũng có bậc tu nặng Trí Tuệ, nhẹ Đạo Hạnh, không tỏ thông viên giác được. Phải Trí Tuệ và Đạo Hạnh tương song. Tiểu thừa nặng tổ chức, nặng hình thức, từ đi đứng, nói năng, cử chỉ cái gì cũng đẹp, được nhiều bậc tu ưa thích. Bậc Đại Thừa tu Pháp Thân, chính là tu Nghe Thấy Biết trong đời sống, giải nghi chấp, giải mê chấp làm cho thân tâm thanh thoát, cuộc sống hồn nhiên. Bậc Đại Thừa đã tu được con đường chân lý thực tiễn, chứ không phải lúc nào trí cũng rỗng không, bỏ hết vạn pháp nơi Nghe Thấy Biết./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


39. Giác Tánh

“Nơi Giác Tánh sẵn có nơi con người cùng các cấp bậc ưa thích Như Nhiên Tánh, Đương Nhiên Tánh, tự biết hơn là học đòi đặng biết tu học tụng tán kinh điển.” –T.V.

Mỗi chúng sinh đều sẵn có Phật tánh. Phật tánh là tánh như nhiên khi nó chưa nhiễm vẫn suốt thông phổ chiếu cùng khắp chẳng khác. Khi chúng sanh nghi, trụ chấp bị che mờ gọi là vô minh nên Phật tánh kia trở thành Ma tánh. Ma tánh thường diễn tuồng hỗn loạn tạo thành nghiệp. Nghiệp dắt đi sanh tử không ngừng. Bậc học nhiều kinh điển, không quan tâm sửa tánh đương nhiên còn tham, sân, si chịu làm chúng sanh giới sống trong ba cõi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới và sáu đường: Thiên, nhân, A tu la, Ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.

“Đối với Nhân Sanh, từ thuở nghìn xưa đang sống thực tại hay hoài vọng, niệm tưởng xa xôi hiếu kỳ trở nên vọng sống. Họ chỉ ước ao hơn là thực tánh xấu xa cải hóa trở nên bậc thanh cao hướng thượng rộng rãi bao dung thì chứng ấy, đưa tập kinh điển ngang tầm đôi mắt liền thông cảm tỏ tường cần chi phải nghiên cứu.” –T.V.

Thường bậc tu ao ước được thấy Phật từ trên trời giáng xuống, hoặc ưa nghe tiếng nói bên tai chỉ dạy, thích kỳ vọng cao siêu. Ít bậc chịu quan sát các pháp nơi nghe, thấy, biết, gặp gút mắc hóa giải. Nếu bậc tu biết tự quán xét lỗi lầm, biết hướng thượng tâm tánh được như nhiên, khi gặp kinh Phật vừa đọc liền tỏ thông một cách hồn nhiên không còn suy nghĩ, không còn nghiên cứu để biết.

“Khi bậc tu hành vốn tùy thuộc nơi quan niệm của mình mà chứng tri đạo pháp.” –T.V.

Bậc tu quan niệm như thế nào thì đường đi của mình nó kết quả như thế ấy. Tỷ như bậc có tư tưởng tu phải thanh bai, chọn nơi thanh vắng, tránh thế gian ồn thì đó là đường đi của Tiên Đạo. Tỷ như bậc tu tư tưởng nghĩ và hành nghiên cứu, học mà không chú tâm sửa tánh, độc nhiễm còn, đó là đường đi của La sát. Do vọng tưởng sai lạc bậc tu Phật trở thành Tiên, Thần, Thánh Hóa mới có Tam Thiên Đại Thiên thế giới, mới có ma, qủy dữ.

“Bước đường tu Phật chỉ sợ chưa biết tu, chớ đừng sợ không giải thoát.” –T.V.

Có bậc tu chỉ biết tu chớ không biết tu để làm gì? Có bậc cầu giải thoát lại không biết pháp môn giải thoát phải tu như thế nào hoặc tin theo một vị thầy mà vị này cũng không minh định được thế nào là pháp môn giải thoát. Do đó cầu giải thoát theo quan niệm. Chỉ sợ tu không đúng pháp môn giải thoát chớ nếu tu đúng nó phải đến. Đừng cầu giải thoát phải siêu hình vạn lối cũng đừng lo sợ không được giải thoát, cần chú tâm Đạo Đức, Giáo Lý, Tọa Thiền ba môn tiến đều dung thông là đến giác tánh. Giác Tánh Minh Tâm.

“Những bậc đa văn trí thức tu hành rất cần có công năng thực hành hơn là xem kinh tu tập, còn bậc ít học thời phải xem kinh để tu hành hơn là công năng thực tiễn.” –T.V.

Những bậc học nhiều rất cần thực hành để tự tánh, tránh tập nhiễm văn tự quá nhiều, cốt yếu đạt được giác tánh mà tự biết. Còn bậc ít học phải đọc kinh cho thông giáo lý rồi cũng phải thực hành tự tánh cốt giác tánh. Hai lớp chúng sanh tu hành trên đều bị tập nhiễm nên cần bổ sung cốt bất tăng bất giảm.

Nơi tự giác nói thảy đều là lời Phật Ngữ nói, bằng chẳng dùng lời Tự Giác nói tức lời Ma Thuyết tưởng vọng nói. Đoạn này rất cần cho bậc tu hành lưu ý.” –T.V.

Bậc sạch chúng sanh tánh rất hiếm có, bậc này đã từng hạnh nguyện Hữu Tướng, Phi Tướng, Tịnh, Bất Tịnh dung thông mới sạch chúng sanh tánh, đã từng gặp chư Phật được vào hàng Bồ Tát chờ Như Lai Phật thọ ký. Mỗi lời nói đều tự, pháp sống động cứu độ chúng sanh rất thực tế. Chưa sạch chúng sanh tánh mà thuyết pháp dù có học hết, nghiên cứu hết Tam Tạng Kinh điển của Phật vẫn là lời Ma Thuyết, do suy nghĩ chứ không do trực giác thuyết.

“Trong vũ trụ và nhân sinh cũng thảy đều trong vòng Tâm Sanh, chừng nào khởi sanh tâm tu tỏ tánh, giác tánh mới thoát khỏi tâm sanh. Bậc mà chẳng bị tâm sanh thì gọi là Vô Sanh, khi tỏ tâm Chánh Giác gọi là Giác Ngộ.” –T.V.

Tứ loài trong đó có con người đều khởi sanh tư tưởng, chạy theo tư tưởng sanh tánh. Tánh chính là tâm. Bị tánh dẫn dắt phải chịu sống theo nó gọi là Tâm Sanh, chừng nào bậc tu không còn khởi muốn, không còn vọng loạn mà thân tâm kiểm soát, kiềm chế, ngự chế tánh liền thông đạt thoát khỏi tâm sanh. Chừng đó mới không còn bị tâm sanh. Vậy phải làm sao? Ta Sanh Tâm luôn luôn xem xét tâm không cho nó dẫn dắt ta. Ta điều khiển được tâm, không còn bị sanh nào đâu còn tử. Đã không còn sanh tử gọi là vô sanh.

Bậc bị tâm sanh gọi là chúng sanh. Khi đã là chúng sanh liền có phân biệt trong thân và ngoài thân. Bên trong là Tâm Pháp còn bên ngoài là Tướng Pháp vì phân biệt nên tâm điều khiển sanh muôn trùng vạn pháp. Bậc Nhị Thừa thấy loạn mới khởi diệt để đạt Không Pháp trở thành sanh diệt lại không biết còn cho là thực. Sự lầm lẫn này phải bị động vọng theo tâm thức di chuyển mà thành loạn tưởng không ngừng trong sanh tử luân hồi. Vì vậy sự tu hành rất cần đến Thiện Tri Thức đã giác ngộ. Vì bậc tu nào cũng vậy, chỉ trong một thời gian lơ là không kiểm soát, kiềm chế liền bị Tâm Sanh mà không hay biết lại cứ tưởng mình làm chủ tu tập chân chính.

Tỷ như bậc tin Phật tu tụng kinh, cúng lạy thì tâm sanh làm cho bậc ấy trở thành mê tín, thích thú vẹn vừa nếu có ai bảo tu sửa tánh, giải tật xấu thì rất sân hận ghét không nhìn mặt.

Tỷ như tu cầu vái lâu ngày trở thành bi mà không trí. Do đó không biết xem xét việc nào đúng việc nào sai thành ra thấy ai khổ sở thì bậc này rất sầu khổ hơn họ chỉ vì nặng về thiện căn nên chấp trụ cho là tu hành phải thương lụy chúng sanh như vậy, nếu có ai làm ác hay nói lời độc liền xa lìa, ghét bỏ chớ không có trí hiểu biết Bổn Lai của người ác tập nhiễm là nói năng, hành động hung bạo.

Chừng nào họ tự kiên sợ cái ác, tự tâm hồi hướng tìm gặp Thiện Tri Thức chỉ bày để tự nguyện lìa chấp lìa chướng mới tỏ thông./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


38. Thuyết Minh Ứng Hiện

“Sự ứng hiện là sự chờ khai thị chứng minh, ngoài ra không thể dùng vọng tưởng, thường tưởng nào mà đặng sự ứng hiện.” –T.V.

Bậc tu thành thật tâm cầu giác ngộ đều ứng thân nguyện gặp bậc Thiện Tri Thức mới được bậc này hiện thân khai thị, đến chừng tỏ thông đặng chứng minh. Nếu tu chưa gặp Thiện Tri Thức không có ứng thân đúng đắng sẽ không được hiện. Không thể ngồi yên suy nghĩ ảo vọng xa xôi mà đến đựơc, chúng sanh có sẵn như nhiên tự giác nhưng khó phát triển hình thành vì quyền lực Ma Lực khó thấy, khó biết, khó có đủ công năng để thắng nó.

“Bằng bậc có sẵn căn tánh của Thiên hoặc Tiên Thần Thánh Hóa, bị sanh ứng hiện trong cõi đời, phải chịu sống theo sáu đường như tất cả nhân loài.” –T.V.

Căn tánh có sẵn Thiên hoặc Tiên là căn tánh hàm chứa chất thanh cao, quyền uy thống trị thiên hạ. Căn tánh Thần chính trực quang minh. Căn tánh Thánh đi đứng nằm ngồi trong tứ thời nặng hình thức được tôn sùng, nặng nhắm mắt lim dim, thiện căn. Những bậc trên dù có tu đến mức nào, bao lâu cũng còn nằm trong vòng đai pháp giới, phải bị ứng trực hiện thân sanh tử trong lục đạo như chúng sinh chớ chưa được giác ngộ rốt ráo. Tuy sống trong đời theo dòng sanh tử chưa thoát sinh được nhưng tư cách họ vẫn khang trang, đàng hoàng, cử chỉ thanh thoát đẹp hơn chúng sanh.

“Nhưng có một nỗi, nặng về hình sắc quan niệm nơi Thân Phật Thị Hiện, hơn là tu hành tự tánh. Nặng chiêm ngưỡng lễ bái hơn là lãnh giáo của Chư Tăng. Do nơi Thiên Pháp tập nhiễm thọ chấp, tu như thế khó thành tựu chứng tri Bồ Tát Hạnh được gọi là Nhị Thừa Tu Chứng.” –T.V.

Số đông bậc tu xuất gia ở chùa, cốc, núi chú trọng hình tướng cho giống Phật nhưng lại ít quan tâm sửa tánh, ít xem xét tật xấu hóa giải cho thông. Lại nặng cúng lạy tu cầu Phật hơn là đào sâu chân lý. Vì căn tánh tập nhiễm nên chưa được nhập vào dòng Bồ tát hạnh. Chúng sanh tánh biết hướng thượng, hỷ xả trở thành Bồ Tát Tánh.

“Bậc có sẵn căn tánh của Thiên hoặc Tiên Thần Thánh Hóa, bị sanh ứng hiện giữa cõi đời như trên đã nói: Nếu gặp đặng Phật. Nhãn quang phong phú, nhìn đặng thể cách bình dị của Như Lai thị hiện, sinh lòng ái kính. Khi nghe đặng lời khai thị, toàn thân long mạch của bậc ấy viên thông, tất cả sơn hà đại địa rung chuyển, liền lễ bái thọ trì xưng tán, chưa bao giờ nghe, nay đặng nghe lời khai thị, chưa bao giờ thấy nay đặng thấy Chơn Tướng Trực Giác, liền đặng giải tâm sắc tướng về Như Tướng tu hạnh Bồ Tát Nguyện.” –T.V.

Bậc Thiên, Tiên, Thần, Thánh khi bị sanh ở thế gian, do tập nhiễm sẵn quan niệm: Phật phải sống kỳ lạ khác thế giới. Nếu bậc này biết nhìn thực tế lối sống ở đời Chư Phật sống bình dị, không cầu kỳ, không nhắm mắt lim dim, không phải lúc nào tay cũng bắt ấn, bậc như vậy được cái nhìn thực tế phong phú. Đó chính là cuộc sống hồn nhiên của Như Lai, liền biết nhận định sự bình dị của Đức Phật Di Lạc đương thời thị hiện bằng thân người đang trụ thế gian, biết ái kính, tín thành, thiết tha tâm, chừng đó một lời khai thị của chư Phật liền trực giác được pháp thực tiễn, toàn thân tứ đại liền tiếp nhận nguồn sống mới, phấn khởi tiếp được chân lý sống động ngay tại chỗ chớ không phải ở đâu cao sang.

Toàn thân chuyển, tế bào được đánh thức đổi mới hoàn toàn. Quan niệm ảo, sai lầm bỗng chốc tan biến gọi là toàn thân long mạch viên thông. Sơn hà đại địa ý chỉ thân tứ đại của bậc tu gồm đất, nước, gió, lửa cũng được đổi mới nhờ xóa được nghiệp do quan niệm mê lầm từ xưa bảo thủ mà thọ chấp.

Từ giờ, thân đã đổi mới ứng hiện theo Như Pháp mà lâu nay chưa bao giờ được nghe, nay được tự nghe, chưa bao giờ được thấy nay được tự thấy, chưa bao giờ được biết nay được tự biết, trở thành trực giác không còn chấp sắc tướng âm thanh cầu đạo nữa mà nương theo vạn pháp ngay thế gian, hòa nhập, nguyện tự tu tự hành. Đó mới là Bồ Tát Nguyện.

Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc Tôn Phật, Vị Long Hoa Tăng Chủ đã chứng kiến tôi nghe hầu như số đông bậc tu đều lạc Tiên, Thiên, Thần, Thánh đạo. Đạo giác ngộ rất hiếm thấy bậc thực hiện độ chúng sanh.

“Những bậc này thường đứng về Nhân Thiên Hạnh trong hàng Trưởng Giả Chúng tu tập.” –T.V.

Những bậc Thiên - Tiên – Thần - Thánh sau khi trực giác tu con đường giác ngộ thường là những bậc Trưởng Giả, theo hạnh Trưởng Giả tu tập.

Hàng Hộ Pháp Chúng, hàng Trưởng Giả Chúng, hàng Thị Giả Chúng, hàng Tín Đồ Đạo Chúng gọi là bốn chúng tu tập quanh Phật đều được giác ngộ.

“Phật ra đời không thể nào khai thác căn nghiệp của chúng sanh, mỗi một khi chúng sanh thọ giới bị thọ chấp căn nghiệp kiến tạo thành hình Nhị Thừa Tu chứng hoặc giả thọ căn nghiệp Tiên Thần Thánh hóa, hay ngạ quỷ - súc sanh đến địa ngục Phật đành phải chịu. Chỉ có những bậc tự nơi bản thân của mình, nhất niệm hóa giải lấy mình thoát khỏi căn nghiệp của mình mà thôi. Đó là lời chân thật nên có câu: Phật bất hóa độ vô duyên. Bất hóa độ định nghiệp.” –T.V.

Chúng sanh thọ chấp tạo nghiệp căn cố định chấp thủ thành bậc tu tánh tướng không tương song gọi là nhị thừa tu chứng hoặc thọ nghiệp Tiên Thần Thánh hóa, khi được đại nhân duyên gặp Phật khai mở cho nhận được nghe thấy biết trực giác, nếu không nhận lãnh đặng, không ý thức tự nơi bản thân, không quyết tâm bền chí hóa giải vạn pháp, Phật cũng đành chịu.

“Khi gặp thời căn nơi chúng sanh đầy đủ sung túc lại bị chìm đắm nơi tướng dục hư vọng, tưởng vọng xa hoa Lọng Phướng, Phật bảo phải xuất gia tu tập Thiên Thừa Hạnh, cốt xuất ly Danh giả tướng, áp dụng bằng “chữ không” lối này điều ngự dục vọng, khắc phục tham vọng trở về Như Nhiên Trực Giác.” –T.V.

Thời Đức Bổn Sư cuộc sống chúng sinh vật chất thật giản dị nhưng lại chấp đắm giai cấp cao sang, quý trọng, đi đâu, ở đâu cũng có người dưới quyền hầu hạ, họ độc quyền đối với lớp chúng sinh hạ cấp. Phật tận biết phải hóa giải cho xuất gia, lìa bỏ gia đình, không còn đắm danh vọng giả tạm. Lấy không nhà, ở nơi Tịnh xá, đạo tràng tu tập cho đạt đến “Chữ không” lại đi khất thực sống đạm bạc qua ngày, tất cả cốt yếu điều ngự căn tánh không còn ham danh vọng, không còn ngã, không còn sở hữu thành tựu hồn nhiên trong vạn pháp, như nhiên tự tháo gỡ được chấp pháp, thanh tịnh tâm đến Chánh Giác.

“Đến thời căn chúng sinh đói khổ, dùng nơi năng lực khai thác mưu sinh trong hiện vật để sinh sống, ngành trí hóa văn minh thực chất chẳng thể nào dụng lối không hướng dẫn trên con đường Tri Kiến, nên chi Phật Thị Hiện phải Đồng Hóa chúng sanh. Dụng lối có để Hóa Độ. Khi đã dụng lối có thì có trăm phương vạn lối diễn hành. Tâm không nhiễm trước giác hoàn thể chân.” –T.V.

Đến thời Hạ Lai Mạt Kiếp này, căn cơ chúng sinh đói khổ, phải dùng sức lao động hằng ngày, làm các ngành nghề trong thế gian để kiếm sống. Ngành khoa học phát minh đủ thứ mới lạ đầy hấp dẫn, hiếu kỳ, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc tường tận sự bộc phát Như Lai Tạng đang diễn hành quá mạnh, nếu cho bậc tín tâm tiếp tục tu xuất gia ở chùa, cốc, am như cách đây 2500 năm, không vào các ngành nghề, ngành trí hóa khoa học, bậc tu sẽ bị lạc hậu không tỏ tường sự tiến hóa thời Hạ Lai, còn nặng học kinh, nặng nghiên cứu kinh thuyết giảng mà thực tế trước mắt không thấy biết vạn pháp di chuyển.

Do đó ngài phải dụng pháp tu tại gia để bậc tín tâm nhận định được, tu tập được hành dụng Như Lai Tạng. Khi bậc tu có gia đình, có vợ chồng con cái, có thân nhân phải lo cuôc sống đương nhiên vạn pháp diễn hành không thiếu sót động, tịnh. Bậc tu nương theo động – tịnh tâm không trụ chấp, không mắc miếu ắt đặng tỏ thông hiện tại thật vi diệu. Thật là một lối tu cải cách thực tiễn trong gia đình mà vẫn đảm bảo chỉ tiêu Chân Giác.

“HỶ, NỘ, ÁI, Ố, THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH là pháp môn Diệu Dụng của Phật tùy căn tánh Phật phải thị hiện để hướng dẫn Bồ Tát thọ chủng tánh, chớ chẳng phải nơi trụ xứ chứng tri của Phật.” –T.V.

Bậc tu hành gặp nhiều diễn cảnh buồn không qua được, Phật phải dụng Hỷ cốt hóa giải cho họ lướt qua không còn nhiễm phiền não. Bậc tin Phật tu hành nhưng không vâng lời hạnh nguyện, Phật phải Nộ cho bậc tu hồi hướng tu hành. Bậc tu ưa thích nương chìu Phật phải dụng Ái hóa độ cho họ lần tiến. Bậc tu Tịnh Biệt nằm sâu trong pháp giới Phật phải dụng ố tức phi tướng, bất tịnh cho họ hành nguyện được đầy đủ chân giác. Bậc tu loạn tưởng đảo điên Phật phải dụng thường lạc ngã tịnh cốt yếu cho bậc tu liễu ngộ. Sự diệu dụng của Phật cứu độ chúng sinh không thể nghĩ bàn. Vì chúng sinh Phật tùy thuận bệnh mà thị hiện cứu độ chứ Phật không có bị nhiễm bao giờ./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng