7. Kinh Di Lạc Hạ Sanh

Trong kinh Di Lạc Hạ Sanh, Phật khai thị: “Sau này Bồ Tát Di Lạc Hạ Sanh lấy hiệu là Từ Thị. Khi thành Phật, quốc độ của Ngài là một quốc độ vô cùng trang nghiêm. Lầu đài đều làm bằng bảy báu. Đâu đâu cũng có ao trong, có đủ thứ hoa thơm. Mặt đất thì bằng phẳng chẳng có gai góc, chỉ mọc toàn cỏ nhuyễn xanh, người đi cũng như đi trên thảm. Người sanh vào Cõi này đều là người có duyên lành, sống một đời vô cùng an lạc, không đau khổ, bịnh tật, phiền não. Thân hình đầy đủ oai nghi đẹp đẽ, sống lâu đến mười ngàn tuổi, có đủ các thứ mỹ vị ngon lành, còn mặc thì khỏi cần phải dệt, vì có thứ cây sanh ra quần áo. Đến khi hết số phần thì vào rừng dành cho người đến đó nằm an nghỉ luôn”

Ngài Hạ Sanh lần này, trong một gia đình giòng họ Từ. Bài kệ của Ngài được ghi lại ở Chương Một là: TỪ THỊ DI LẠC TÔN PHẬT. Một buổi sáng tại căn gác gỗ, số 42 Hồng Bàng, Nha Trang, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị, tôi nghe như vầy:

"Thế nhân nghĩ rằng Đức Di Lạc ra đời ở quốc gia nào là nơi đó do đức độ và oai lực Ngài, làm trở nên đẹp đẽ trang nghiêm, không còn cảnh hỗn loạn. Đất đai đều biến thành của quí như vàng, pha lê, xa cừ, mã não, trân châu, xích châu, huỳnh châu, bạch quang châu... Còn Thánh ý cho rằng: Ngài tận độ tất cả chúng sanh tánh của Ngài xong, tâm trở nên Đại Thanh Tịnh, thân hóa trang nghiêm trong tứ thời như đi, đứng, nằm, ngồi và làm chủ bảy báu trong vũ trụ.

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cho đến thời Hạ kiếp này, Đức Di Lạc thành Chánh Qủa Phật chỉ có hai vị này có bảy báu mà thôi. Khi vừa Đản Sanh, Thái Tử Tất Đạt Đa Ngài đã bước đi bảy bước có hiện bảy hoa sen biện minh cho bảy báu. Còn Đức Di Lạc có ghi bài thơ kiếm bảy báu chỉ khi nào cần diệu dụng Chư Phật mới đem ra. Khi đến Cõi Trời, Chư Phật viễn dung sử dụng. Còn Ma Vương, Quỉ Vương đều thất kinh sợ hãi. Kiếm bảy báu chỉ dành Chư Phật mới dùng được mà thôi, khi cần nó xô thành quách, tát biển. Kiếm bảy báu linh động, không nơi nào cần mà chối từ, cốt yếu để phá vô minh.

Con người, ai cũng có bảy báu, nhưng khi còn mê lầm, bảy báu này ẩn, không hiện, khi đạt được Chánh Quả Phật, liền có bảy báu hiện. Bậc có Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi mới tinh thông sử dụng bảy báu. Ba cõi sáu đường kiếm bảy báu này xóa tan. Bảy báu của Phật: Nhất Tâm - Chân Như - Phật Tánh – Pháp Thân – Như Lai Tạng – Pháp Giới – Pháp Tánh. "–T.V.

"Đâu đâu cũng có ao trong, có đủ thứ hoa thơm." Tâm Ngài đã bình nên đâu đâu cũng trong suốt, còn thân đầy đủ ba thân nên mùi hương trầm lúc nào cũng tỏa ngát.

"Mặt đất thì bằng phẳng chẳng gai gốc, chỉ mọc toàn cỏ nhuyễn xanh, người đi cũng như đi trên thảm." Phàm nhân nghĩ rằng khi Đức Di Lạc Hạ Lai, đất không còn gồ ghề, không còn cao thấp, đâu đâu cũng bình. Gai độc không còn, đi đâu cũng như đi trên thảm.

Thánh ý cho rằng, trong thời Ngài hạ sanh đến lúc hành đạo, ai cũng nghe lời nói ngọt ngào đầy đại bi, không biến tánh khác thường như chúng sinh. Lời nói độc không có, ý nói gai độc không còn. Bất cứ chúng sinh gặp Ngài đều ra về thoải mái như đi trên thảm cỏ.

Ngay cả nhiều chúng sinh, ma quỉ độc địa, khi gặp Ngài, lúc ra về cũng thoải mái. Ngài đều lấy Đại Bi cứu độ làm cho ý dữ hóa hiền.

Có lần, một chúng sinh cao cấp đầy uy quyền của Cộng Sản đến gặp, Ngài ôn tồn tiếp. Khi dụng tha tâm thông, thấy chẳng ổn, Ngài liền cho hiện một vị Thần ở Núi Một gần số 6 Huỳnh thúc Kháng Nha Trang. Vị Thần này da ngâm đen, vạm vỡ, mắt mở tròn xoe đang ngồi canh giữ Ngài. Ông này thấy liền giựt mình, khi ra về có nói với đàn em: Ông Thầy này cao đạo. Chỉ có thế chứ không biết Ngài là ai. Ngài cũng chẳng cần phóng hào quang, chẳng hề nâng mình. Ngài thật bình dị mà đầy Đại Bi, Đại Dũng. Ai đã gần Ngài, tin Ngài theo tu học nếu đủ đức tin Ngài thường phát hào quang từ trong thân phóng ra cho thấy.

"Người sinh vào cõi này đều là người có duyên lành, sống một đời vô cùng an lạc, không đau khổ, bệnh tật, phiền não." Ý chúng sanh cho rằng vào được cõi Đức Di Lạc hạ sanh sẽ vô cùng sung sướng không cần tu.

Thánh ý cho rằng: Nếu chúng sanh nào sanh cùng một quốc gia khi Ngài hạ sanh mà có Đại Duyên Lành theo tu pháp môn giải thoát của Ngài, tâm sẽ an lạc, tất không còn đau khổ. Khi có hoàn cảnh hoá giải tâm được an, bịnh tật cũng được tiêu trừ.

"Thân hình đầy đủ oai nghi đẹp đẽ, sống lâu đến mười ngàn tuổi." Chúng sanh nghĩ rằng khi gặp Phật Di Lạc thân hình xấu trở nên đẹp, lại được sống lâu.

Thánh ý cho rằng: Khi gặp Ngài,tu sửa tánh, thiền định, học giáo pháp một thời tánh trở nên tốt nên tướng phải đổi theo như: mặt mày sáng, tươi đẹp, dáng đi cũng oai nghi. Khi đã được giải thoát sinh tử luân hồi, người sẽ được bất tử, nếu về cõi Trời sống, thọ mười ngàn năm.

"Có đủ thứ mỹ vị ngon lành, còn mặc thì khỏi cần phải dệt vì có thứ cây sinh ra quần áo." Chúng sinh nghĩ rằng gặp Đức Di Lạc trong nước này không còn thức ăn dở, hôi thúi, còn mặc thì có sẵn khắp nơi khỏi cần tốn tiền lại có áo quần đẹp.

Thánh ý cho rằng: Khi gặp Ngài, dù hoàn cảnh khổ ải, gai góc đến đâu cũng hoan hỷ, vui lòng gánh chịu vì nó là món ăn ngon lành của hàng Bồ Tát Nguyện. Khi đã điều ngự được vạn tánh, tức vạn pháp, sẽ có áo giáp bền, đẹp khỏi cần tìm kiếm, khỏi cần làm vất vả... Cây sinh quần áo, ý nói không còn sự nóng giận, đau khổ, lo sợ nào xâm chiếm nữa. Tâm an lạc, thân trở nên xinh đẹp.

"Đến khi hết số phần thì vào rừng dành cho người đến đó nằm an nghỉ luôn." Chúng sinh nghĩ rằng khi già chết sẽ được yên ổn.

Thánh ý cho rằng: khi tu đến thanh tịnh, thân hết phần số, ra đi nhẹ như bông. Rừng: ý chỉ nơi nào cũng thanh tịnh đầy khắp.

Ngài cũng đã từng dạy: Nếu chúng sinh có đức tánh tốt, tâm rộng rãi thương người khổ, thường giúp đỡ kẻ hoạn nạn. Gặp Thánh Tăng hồi hướng công đức rồi theo tu hành, thiền định, nếu chưa được giác ngộ cũng có nhiều phước báo tốt đẹp. Nghiệp tốt này sẽ được tái sinh vào nhà quyền quí cao sang, gặt hái được nhiều may mắn, tuổi thọ cao.

Nếu gặp Chư Phật cũng công đức, cũng tu thiền định theo sự chỉ đạo của Ngài, sẽ được quả tốt, được hưởng phước báu trong các Cõi Trời và trong cảnh vua chúa quyền quí cao sang. Nếu giác ngộ sẽ chấm dứt tất cả phiền não, cùng tỏ tường không ô nhiễm kiến dục. Bậc này sẽ có một đời sống trường tồn vĩnh cửu. Nếu giác ngộ rốt ráo sẽ ra khỏi vũ trụ, hoàn toàn thoát khỏi sanh tử luân hồi. Tuy được giải thoát rốt ráo hết thảy các nghiệp phiền não nhưng phiền não vẫn còn đủ, cả kiến dục vẫn còn đủ vì các pháp vốn như./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


6. Tuổi thọ con người thời mạt-kiếp giảm?

Lý do tuổi thọ con người thời Mạt Kiếp giảm.

Tôi nghe như vầy: Khi khai thị về Vũ Trụ với Con Người, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cho biết, tuổi thọ con người từ lúc khai sinh 8000 tuổi một kiếp, đến nay chỉ còn lại 100 năm. Tuổi thọ của con người bị giảm dần xuống thấp vì tư tưởng loạn gọi là “gỉa tưởng” cùng “tâm ý” ngăn cách quá nhiều trở thành eo hẹp.

Ngài đã tìm ra con người thời Hiền Kiếp hấp thụ “NGUYÊN TINH” bồi dưỡng thân thể đầy đủ. Đến thời Hạ Kiếp, con người hấp thụ “NGUYÊN TINH” yếu kém, nhiếp thu vào thân thể thiếu hụt mà tuổi thọ phải giảm dần do tánh xấu nhiều.

Con người cùng các nhà khoa học không hề hay biết tuổi thọ bị tiêu giảm là do chính con người tự tạo ra. Chính sự đau khổ, tham lam, nóng giận, sợ sệt trong cuộc sống phức tạp thời Hạ Kiếp làm giảm tuổi thọ. Muốn tuổi thọ tăng dần trở lại, con người cần thư thả thân tâm để tiếp nhận đủ “Nguyên Tinh.”

Các tôn giáo bảo tâm rộng rãi không mắc miếu, tư tưởng thanh cao, trí tuệ thoát sinh là tối cần cho con người. Họ chỉ biết có bấy nhiêu đó là tận cùng. Còn Đức Di Lạc dạy rằng: Thời này Chánh Pháp ra đời, Mạt Pháp sắp tàn canh, Ngài công bố chất “NGUYÊN TINH" cho con người biết nên thực hành làm tuổi thọ tăng mà hưởng lấy. Đối với bậc tu Thiền, việc thu nhận “NGUYÊN TINH” không có gì là khó nhưng nó cũng có hại cho bậc không hiểu rõ pháp môn Thiền. Nếu Thiền say đắm làm thu nhận “NGUYÊN TINH” quá nhiều mà trí tuệ còn kém, tư tưởng còn tham mau thành Tiên, Phật thì bị nguy hại.

Người không tu Thiền khó nhận được chất nguyên tinh nên không khỏe mạnh, không linh động bằng bậc có tu Thiền điều hòa. Bậc Thiền tọa đến mức khá cao thực hành một thời gian sở đắc Chánh Định Tam Muội thì hoàn toàn điều khiển, hoàn toàn sử dụng nguyên tinh. Thiền rất cần thiết cho bậc tu tại gia lẫn xuất gia Trực Giác Pháp Tánh.

Trong đời sống có một con người tối tăm, hay thất bại nhiều trên trường đời nếu Thiền Định đúng, sẽ sáng suốt trở nên thông minh giải quyết việc gì cũng đúng đắn chính xác.

Theo các nhà y học, thân thể con người luôn biến đổi, mỗi ngày có hàng triệu tế bào chết đi được bài tiết ra ngoài và được thay thế bởi hàng triệu tế bào mới sinh ra. Thân thể con người được thay đổi hoàn toàn tế bào mới trong vòng bảy năm rưỡi. Do sự thay đổi đó mà con người đi từ chỗ trẻ đẹp đến chỗ già nua xấu xí theo thời gian.

Có lắm người quyền uy, giàu có tìm đủ phương thức để sống lâu ngang với trời đất nhưng chẳng được kết quả gì. Người Phương Tây cũng lo âu, sợ sệt về cái chết giống như người Phương Đông. Nền y khoa của Phương Tây tìm ra được một loại thuốc nào hay liền thế gian xuất hiện một thứ bệnh ngặt nghèo mới.

Cuối cùng vua chúa và lãnh tụ phương Tây cũng đành chịu thua với cái chết. Riêng tại phương Đông, nhiều bậc Thiền Sư khám phá ngay trong thân mạng mình, đã điều hành được chất Nguyên Tinh nên tuổi già muốn bỏ xác thân hay còn muốn ở tại thế đều tùy ý. Có vị Thiền Sư ngồi trang nghiêm khuyên dạy chân tử mình, rồi báo cho tất cả biết mà ra đi thật kỳ diệu. Họ không có chút sợ sệt lại còn an ủi chân tử của mình và cho biết sẽ đầu thai hóa kiếp khác ở nơi nào nữa./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


5. Vết Chân Người-Cư-Sĩ

Đức Di Lạc đi dạo phố mặc Âu phục. Đi dự tiệc Ngài mặc veston như nhân sinh.

VẾT CHÂN Người CƯ - SĨ

Người CƯ-SĨ, vết chân người cư-sĩ.
Đạo hay Đời tê-tỉ sắc-son.
Hiên ngang đâu há mõi-mòn.
Bên trong Bảo-Pháp, ngoài choàng Cư-Nhân.

Tuyệt mỹ thay! Đức Thế Tôn đã từng khai thị “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Phật Pháp không thể tách rời thế gian mà tìm đặng sự giác ngộ. Do đó, trong cuộc sống thường ngày, Đức Tịnh Vương vẫn luôn dạy các Chân Tử Đạo-Đời song tu theo vết chân Cư Nhân Hạnh.

Ngoài choàng lớp Cư Nhân nhưng bên trong xây nền Chánh Pháp. Còn thời thế Mạt Pháp cực kỳ khó khăn nhưng Ngài cũng quyết giữ lời Nguyện đền đáp ơn Đức Thế Tôn, ơn Chư Phật đang thúc dục Ngài. Vết chân Ngài lưu lại thế gian, còn hai vai một gánh Đạo–Đời, quyết làm tròn bổn nguyện chứ không cần danh vọng. Đối với bậc Trí, hoàn cảnh hổn loạn luôn tìm phương hóa giải vì cho đó là vạn pháp sẽ thoát sinh, nên dù ở Cư Nhân vẫn ung dung tự tại, Vô Ngại Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát.

Người CƯ-SĨ xây đền Bảo-Pháp.
Nguyền với nguyền đền đáp ơn sâu.
Nên chi chẳng có danh cầu.
Miễn đem Giáo-Lý, trước sau giải bày.

Người CƯ-SĨ vết chân người cư sĩ.
Trí-Nguyện này chung-thuy keo-sơn.
Hai vai một gánh, không mòn.
Đạo đời duy nhất, trường-tồn PHẬT-TÔN./-

 TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN
Trung-Ương, Ngày 21-01-71 (TÂN-HỢI)
 NHATRANG

Còn đối với gia đình Ngài, hàng ngày vợ và các con cũng làm các ngành nghề để sinh sống như bao gia đình khác. Ngài hiện thân có khi là người chồng, cha, chú, anh luôn làm tròn bổn phận và trách nhiệm, không có một kẽ hở nào có thể chê trách được. 

Ngài năm 39 tuổi và
vợ 37 tuổi.
Ngày 25.10.1957

Đối với cha mẹ, Ngài là một người con luôn tròn Đạo Hiếu. Tứ chúng theo tu học Ngài, nếu ai ăn chay vẫn giữ, ai không ăn chay vẫn ăn như ý của mình. Gia đình Ngài cũng không ăn chay nhưng cấm sát sanh.

Thời Hạ Kiếp này, tất cả các pháp ở thế gian đều hiện cái gì cũng tận. Nó phơi bày chẳng thiếu sót một pháp Ác tận cùng nào. Con người sống nô lệ vật chất, tăng trưởng quá mức. Thấy của cải người khác lấy làm của riêng mình, ai khóc than kêu gào thảm thiết chết cứ mặc kệ, thản nhiên không hề có một chút động tâm thương xót. Tánh xấu, ác tính, thú tính hiện dẫy đầy. Ngài thương xót và bảo nếu không Hạ Lai trần thế, khai đạo chứng minh cho nhân sinh thì tuổi thọ của kiếp người hiện nay còn 80 tuổi một kiếp rồi sẽ hạ dần cho đến khi chỉ còn 10 tuổi một kiếp.

Chính vì vậy mà Ngài đã ban cho tứ chúng, lớp người đại diện nhân thế gặp Ngài, ban đầu tu sửa tánh xấu, tập nhiễm xấu, phải hóa giải để thu nhận cái thần lực sáng tốt tươi, làm tiêu tan dần Ma Lực xấu xa, tâm sẽ được an lạc, không nhiễm độc, thân có sức khỏe, điều hòa. Tuổi thọ tăng dần đến 100 tuổi một kiếp. Ngài cũng đã chứng minh cho tuổi thọ trung bình của một kiếp người là 100 tuổi.

Ngài tùy căn cơ của chân tử mà dìu dắt, dùng đủ phương tiện cứu cánh đến diệu dụng quyết đem Bảo Pháp trao cho chân tử. Ngài đặt những hạt giống Đạo Đức, Giác Ngộ, Giác Ngộ Rốt Ráo lưu lại hậu thế, để sau này sẽ nối tiếp làm sứ giả của Chư Phật truyền cho chúng sinh trực giác.

Thế mới hay, tuy nhân sinh không gặp được Đức Di Lạc Hạ Sanh nhưng muôn sự Chân Thiện Mỹ đầy phúc lạc cũng đã được Ngài sắp đặt, an bài sẵn./-

 

 

 

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


4. Chúa Giêsu và bà Maria đã tái sinh tại VN

4. Chúa Giêsu và bà Maria đã tái sinh tại VN

Bà Phạm-Thị-Ngọc-Anh, Pháp danh Diệu-Tuệ.

Bà Phạm Thị Ngọc Anh và con trai Võ Thiên Giao tại Thảo Cầm Viên, Sài Gòn năm 1986. Chính là bà Maria và Chuá Jesus nay lai sinh tại Việt Nam.

Bà Phạm Thị Ngọc Anh ở Phan Thiết cùng cha mẹ tập kết ra Bắc theo hiệp định Geneve năm 1954. Đến năm 1975 biến cố lịch sử ở Miền Nam Việt Nam, bà trở về Nam năm 1978, là một cán bộ Cộng Sản đang làm việc tại Sàigòn. Chồng bà tên là Võ Thịnh, cán bộ cao cấp ở sở Ngoại Vụ thành phố Sàigòn. Bà sanh được một người con gái ở Bắc, vào Nam sanh thêm một người con trai tên là Võ Thiên Giao. Gia đình ông bà nội của bà Anh tin Đạo Phật và xây chùa ở Phan Thiết để tu hành. Chính bà Anh mặc dù ở ngoài Bắc nhưng vẫn tin Đạo Phật. Do một nhân duyên bà vào tu trong Pháp Tạng, được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật ban cho pháp danh là Diệu Tuệ. Một hôm, bà thưa với Đức Di Lạc tại Trung Ương Hội Thượng Nha Trang sự nghi ngờ cái Thấy của bà chưa được rõ, nhờ Ngài giải.

• Đức Di Lạc Tôn Phật đã xác nhận mẹ con bà Diệu Tuệ là Maria và Chúa Jésus.

Đức Di Lạc Tôn Phật đã xác nhận chính bà Diệu Tuệ là bà Maria, mẹ Chúa Jésus ngày xưa. Sau đó, Đức Di Lạc hỏi bà Diệu Tuệ con trai bà nay bao nhiêu tuổi.

Bà Diệu Tuệ: – Thưa đang học lớp một.

Đức Di Lạc: – Còn nhỏ quá.

Ngài đã biết và chính bà Diệu Tuệ trước đó cũng nghi ngờ nay đã biết rõ con trai bà hiện tại tên Võ Thiên Giao chính là Chúa Giêsu hạ sanh trở lại, nhưng nay còn nhỏ quá chưa gặp Đức Di Lạc được.

• Bà Maria và Chúa Jésus là ai?

Cách đây 2538 năm Phật Lịch, Thái Tử Tất Đạt Đa ra đời, đến năm 19 tuổi cưới công chúa Da Du Đà La và sanh một con trai tên là La Hầu La. Sau Thái Tử bỏ cung vàng, điện ngọc vợ đẹp con thơ đi tìm Chân Lý Giải Thoát, sanh tử luân hồi cứu tứ loài. Ngài đã thành Phật hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau bà Da Du Đà La cũng tu theo Phật Đạo còn con trai La Hầu La lúc đó còn thiếu nhi được Đức Bổn Sư giao cho Tôn Giả Xá Lợi Phất nuôi Đạo và Tôn Giả Mục Kiền Liên chăm sóc Thiền Định cùng sinh hoạt đời sống thường ngày.

Kết quả La Hầu La chứng quả A La Hán được Đức Bổn Sư chứng minh cấp Tôn Giả giác ngộ Mật Môn. Tôn giả La Hầu La là một trong 10 Đại Đệ Tử của Phật thuộc hàng Thánh Chúng, còn rất thấp so với Chư Bồ Tát.

Khi tôi trực giác tiền kiếp biết được bà Diệu Tuệ chính là công chúa Da Du Đà La và cậu con trai Võ Thiên Giao chính là Tôn Giả La Hầu la ngày xưa, tôi đi Nha Trang thưa với Đức Di Lạc Tôn Phật, Ngài cũng xác nhận tôi thấy đúng. Chuyện này bà Diệu Tuệ (Maria) đã biết.

Từ khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Niết Bàn, 600 năm sau Chúa Jésus mới xuất hiện ở Tây Phương. Dù có thần thông Siêu Phàm nhưng Lậu Tận Thông chưa thấu đạt, nay lai sanh tu trong Pháp Tạng chỉ mới nhớ một kiếp thời Đức Thế Tôn là hết. Như vậy, thời Hạ Lai Mạt Pháp này đã giải mã chuyện nghìn xưa.

Đến lúc Đức Di Lạc nhập Bát Đại Niết Bàn, bà Diệu Tuệ chưa Giác Ngộ. Đường tu của bà hiện tại ở hàng học trò của Quán Thế Âm Bồ Tát cùng các vị Tôn Giả cũng là học trò của hàng Bồ Tát mà thôi. Vậy Chúa Jésus là con trai của Thái Tử Tất Đạt Đa là học trò của Phật rất đúng đắn.

• Bà Maria là nữ đồng-trinh? Nên Tu Trực-Giác để loại bỏ ảo vọng.

Chuyện bà Maria là nữ đồng trinh là chuyện hoàn toàn không có sự thật. Khi nghe nhắc lại chuyện này bà chỉ cười. Con người sống 100 năm là một kiếp nhưng thực tế tuổi trung bình chỉ khoảng 70 đến 80 tuổi là hết. Thế giới Cõi Trời của Chúa sống 2000 tuổi, nay thì thế kỷ 20 này Chúa đã mãn tuổi thọ ở Cõi Trời và hiện tại còn sanh tử nơi thế gian. Con người lầm Cõi Trời không chết, sự thật chỉ Bậc Chánh Giác như Chư Phật mới bất tử mà thôi.

Nay bà Diệu Tuệ (Maria) đã có chồng, con trai tức Chúa Jésus đang sống trong môi trường xã hội như vậy nay mai cũng không tránh khỏi phải lập gia đình. Vậy Chủ Chăn cùng Tín Hữu Kito sống tu ép xác để làm gì? Có gia đình thực tế mới giáp mặt với vui-buồn, sướng-khổ, được-mất, có-không. Bậc tu dù ở tôn giáo nào cũng cần Trực Giác mới sống thực tế theo chân lý được. Nay thì Chúa đã hạ sanh tại Sàigòn, Cõi Trời của Chúa đã tan rã, nếu cầu vái van xin về sống đời đời với Chúa là tu theo ảo vọng mong cầu không thực tế chút nào.

Bà Maria sau còn lai sanh một kiếp có tên Võ Tắc Thiên (Wu Zhao), hoàng hậu của Trung Hoa (624 – 705). Về câu chuyện này Ngài đã khuyên bà phải tu thiện căn và bà đã hứa từ đây về sau luôn giữ thiện căn.

Võ Tắc Thiên tiền kiếp của Phạm Thị Ngọc
Anh cũng là Maria.

Một khúc cây, một cục đất nếu ta làm ra hình ông Thánh, ông Phật mà cúng lạy, thì TÁNH THẤY VŨ TRỤ và TÁNH THẤY CỦA TA đồng ứng. Một thời gian hợp hóa, tự nó linh chớ không phải ai ban cho. Chỉ khi nào đến mức Trực Giác cao độ lúc đó mới được Mật Ấn Như Lai Phật hay Thượng Đế ban cho, nhưng chỉ bậc Siêu Thánh mới có được.

Nếu các phái đoàn Tôn Giáo cùng khoa học kiểm tra lại đúng Đức Di Lạc đã Hạ Lai trong thế kỷ 20 này thì các Chân Phật Tử quanh Ngài không thể là phàm phu được mà phải là Hàng Bồ Tát, Tôn Giả, Hộ Pháp gọi là Thánh Chúng, đều có mặt trong Long Hoa, thì bà Maria và Chúa Jésus hiện diện là chuyện thường tình. Đây là chuyện lịch sử có thật ghi chép đúng đắn để vén màn vô minh cho nhân sinh tu thực tế theo con đường Tri Kiến Giải Thoát, không cần cầu vái van xin nữa.

• Chủ Chăn John Paul II thiếu hiểu biết về Đạo Phật.

Qua quyển sách “Crossing The Threshold of Hope” của Chủ Chăn John Paul II, chỉ đề cập đạo Phật qua cấp Tiểu Thừa. Thực ra Phật Đạo còn Đại Thừa, Nhất Thừa, Tối Thượng Thừa siêu đẳng lắm. Tôn Giả La Hầu La chính là Chúa Jésus, Đức Di Lạc đã có ghi là một vị Thánh. Như vậy, cấp tu chứng A La Hán thuộc hàng Đại Thừa còn thấp xa với Chư Bồ Tát lắm./-

Lên đầu trang

PHẦN TRÍCH DẪN TỪ TÀI LIỆU VỀ ĐỀ TÀI “GIÊSU ĐÃ SỐNG, TU PHẬT TẠI ẤN ĐỘ.”

Ban Hộ Đạo chỉ trích dẫn một phần nhỏ cuốn sách “Jesus Lived In India” (GiêSu Đã Sống Tại Ấn Độ) của tác giả Holger Kersten, nhà nghiên cứu về thần học và giáo dục tại Đại Học Freiburg, Đức Quốc. Cuốn sách được xuất bản lần đầu năm 1994 tại Anh Quốc, Hoa Kỳ, Úc Châu. Và đã được tái bản năm 1995, 1996, 1997, 1998, 1999.

• Mục đích của trích dẫn này: Thời gian ở Ấn Độ, Giêsu đã học Phật Giáo với Vị Đại Sư Long Thọ cũng chính là Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật, thế danh Từ Thế Thọ kiếp này. Thời Mạt Pháp Mạt Kiếp, bà Phạm Thị Ngọc Anh (bà Maria) cùng Võ Thiên Giao (Giêsu) đã đến gặp Ngài Long Thọ, Vị Thầy từ tiền kiếp. Xin lưu ý là nội dung sự kiện này trong Kinh “Đức Di Lạc và Long Hoa” đã diễn ra vào thời điểm mà trong đất nước Việt Nam rất nghèo nàn về thông tin. Ngay cả thời điểm hiện nay cũng còn nhiều người chưa biết sự kiện này, trong khi phần khác của thế giới đã được thông tin đầy đủ. Đối với những Bậc có tinh thần cầu Đạo Thực Tiễn thì đây chính là một tiếng chuông thức tỉnh, quay về lối Tu Tự Tánh để đạt được Thiền Trí, Trực Giác. Chỉ có Trực Giác mới đạt cái Thấy, Biết vượt tầm giới hạn bởi Không Gian Thời gian của Chúng Sanh Giới, không còn ngăn cách quá khứ, tương lai. Nên chi “Có Tướng mới Thấy” thì dù là ông này bà kia cũng chỉ là chúng sanh mà thôi.

G I Ê S U
Đ Ã S Ố N G T Ạ I Ấ N Đ Ộ

Cuộc Đời Chưa Từng Được Biết Của Ông Ta Trước và Sau Ngày Bị Đóng Đinh

H O L G E R K E R S T E N

 

 

JESUS ĐÃ SỐNG TẠI ẤN ĐỘ (bìa sau cuốn sách)

Tại sao Tín Đồ Thiên Chúa đã phớt lờ sự nối kết với các tôn giáo Phương Đông, và nhiều lần gạt bỏ rằng Giêsu đã trải qua phần lớn cuộc đời tại Ấn Độ?

Cuốn sách này buộc phải đưa ra bằng chứng không thể chối cãi rằng Giêsu quả thực đã sống tại Ấn Độ và chết ở đó lúc tuổi già. Kết quả của nhiều năm nghiên cứu tỉ mỷ, “Giêsu Sống Tại Ấn Độ” dẫn người đọc đến tất cả các địa điểm lịch sử có quan hệ với Giêsu tại Do Thái, Trung Đông, A Phú Hãn và Ấn Độ. Nó cũng để lộ ra mối liên kết xa xưa giữa người Do Thái và Phương Đông, bằng chứng đó đã được tìm ra bởi Nhà Thần Học Holger Kersten chỉ ra những kết luận giật mình sau đây:

Trong thời trẻ của Giêsu đã đi theo Con Đường Tơ Lụa đến Ấn Độ. Thời gian đó ông đã nghiên cứu, lĩnh hội Giáo Lý Đạo Phật để trở thành một nhà Tâm Linh.

Giêsu đã sống sót khỏi sự kiện ‘bị đóng đinh’.

Sau sự kiện ‘sống lại’ Giêsu đã quay về Ấn Độ rồi chết tại đó lúc về già.

Giêsu được chôn cất tại Srinagar, thủ đô của Kashmir, nơi ông tiếp tục được tôn sùng như một thánh nhân.

Ngôi mộ của Giêsu hiện đang còn tại Kashmir.

HOLGER KERSTEN đã nghiên cứu về thần học và giáo dục tại Đại Học Freiburg, Đức Quốc. Ông còn là một tác giả đặc biệt về lịch sử tôn giáo và là đồng tác giả cuốn sách bán chạy nhất gây tranh cãi, “Mưu Tính Giêsu” với Elmar R. Gruber.

–Nhà xuất bản ELEMENT
Lên đầu trang
Dịch sang Việt ngữ trang 224 và 225 của cuốn sách.

 Trong thời gian Chúa Giêsu sống ở Kashmir, Thung Lũng Hạnh Phúc là một tụ điểm của các tôn giáo, văn hoá, trí thức và chính trị quan trọng đang trên đà phục hưng. Vương quốc Kashmir là địa bàn phần lớn là người của đế quốc Indo-Scythian(1) dưới sự cai trị của Đại Đế Kanishka Đệ Nhất (78 -103 sau Công Nguyên) thuộc triều đại Kushan. Là một người tài ba, nhân từ và độ lượng, nhà vua đã cố gắng liên kết các tập hợp chủng tộc trong vương quốc mình bằng chính sách khoan hồng và độ lượng. Sự phối hợp hài hoà của hai nền triết lý Ấn Độ và Hy Lạp đã đạt đến tột điểm trong nền văn hoá Gandhara. Tâm điểm văn học của điểm hội ngộ hai nền văn hoá này là trường đại học lâu đời tại Taxila, đã được vang tiếng khắp nơi.
Đối với Đạo Phật, vua Kanishka đã thấy rõ một cấu trúc vẹn toàn cho sự nhận thức trong những ý nghĩ của mình, vua đã thỉnh ý kiến chỉ đạo và giáo huấn từ Chư Tăng Phật Giáo. Vua đã bàng hoàng, sửng sốt nhận thấy những lời chỉ dạy của Phật đã vụn vỡ dần trong các trường học và Tông phái. Tuy nhiên, theo sự chỉ đạo của triết gia Parshwa, vua Kanishka đã triệu tập một Hội Đồng Kết Tập Kinh Điển Haran(2) (Harwan tên gọi tại Kashmir) với chủ ý hàn gắn và thống nhất những rạn nứt trong cộng đồng giáo hội bằng cách tiến hành một cuộc khảo sát và nghi thức hoá những kinh điển của Đạo Phật. Hơn 300 năm sau, một hội đồng kết tập kinh điển khác đã được khai mạc- Lần Thứ Tư- với sự tham dự hơn 1500 Vị học giả và Chư Tăng Phật Giáo. Lần kết tập kinh điển này nhằm phát huy một giáo phái mới và Đại Thừa được giữ vai trò là một tôn giáo quảng đại trong quần chúng. Chư tăng của phái Tiểu Thừa (Nguyên Thủy) phải chịu thiệt thòi mất mát những đặc quyền của mình và đã toan tính tìm một thế đứng cuối cùng với vai trò đối lập lại hội đồng kết tập, nhưng họ đã không còn đủ khả năng để cầm chân sự thoái bộ. Sau cùng thay vào đó, phái Đại Thừa đã được công bố chính thức như một tôn giáo độc lập khai mở con đường hoằng hóa cứu độ cho nhân sinh.

Với bản dịch thuật hiện thời của Lalitavistara – kinh điển Đạo Phật phơi bày những tương quan giống nhau so với Kinh Thánh Tân Ước – cũng cùng thời điểm đó.(3)

Địa thế của vùng Haran chỉ cách Srinagar 12 ki lô mét, theo dư luận cho thấy rằng Giêsu đã hiện diện trong kỳ kết tập kinh điển quan trọng này và ngay cả chính Giêsu đã đóng góp một phần quan trọng trong kỳ kết tập kinh điển đó.

Vua Kanishka rất cảm kích với thành quả của hội đồng kết tập, từ đó chính vua đã chuyển thành một Đạo Hữu Phật Giáo và thay đổi đường lối chính sách trị dân, nương theo chiều hướng của cộng đồng Chư Tăng Ni Phật Giáo mà người lãnh đạo tinh thần của giáo hội là Long Thọ(4) Đại Sư, nhà hiền triết lỗi lạc nhất của phái Đại Thừa Phật Giáo.

Lại thêm một dấu hiệu nữa có liên quan đến sự lưu trú của Giêsu tại xứ cổ Kashmir được cống hiến qua kinh sách của Rajah Tarangini, lịch sử xứ Kashmir đã được viết bằng những câu kệ Phạn Ngữ của Pandit Kalhana vào thế kỷ thứ 12 được ghi nhận như là một trong những chứng từ lịch sử chính xác lâu nhất trong văn chương Ấn Độ. Kinh Rajah Taragini hàm chứa đa phần những huyền thoại và được truyền khẩu trong nhân gian từ thời xa xưa. Phần lớn những văn chương truyền khẩu được tô điểm một cách hoành tráng. Tuy nhiên qua những tiến trình của thời gian làm cho bây giờ khó mà nhận chân được sự thật của lịch sử. Một sự việc có liên quan đến câu chuyện của một Thánh Nhân tên là Isana, người đã diễn đạt những phép mầu rất tương tự như những gì của Giêsu đã làm. Thêm vào đó được biết là Isana đã cứu mạng một vị lãnh đạo tài ba Vajir bị đóng đinh trên cây thập tự giá(5) và đã làm cho vị ấy sống trở lại. Sau đó Vajir trở thành một lãnh tụ của xứ Kashmir và trị vì được 47 năm. Theo lời của Kalhana thì Isana là người cải cách xã hội sau cùng của xứ Kashmir đã từng sống và dạy đạo vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Qua sự việc nêu trên giống như Isana người con của Thượng Đế không ai khác hơn chính là Chúa Issa- Giêsu.

– Phần chú thích dịch thuật:
(1) một xã hội lâu đời ở vùng Đông Nam Âu- Á.
(2) thời gian Giêsu có mặt.
(3) thời gian Hội Đồng Kết Tập Kinh Điển Haran, cùng sự có mặt của Giêsu.
(4) Long Thọ là Bồ Tát Di Lạc trao lại mối đạo cho Long Trí. Long Trí chính là Hoá Thân của Tôn Giả Mục Kiền Liên. Bà Maria và Giêsu đã thọ giáo hai vị trên.
(5) bị đóng đinh trên cây thập tự giá là một hình phạt được dùng vào thời đó.

Lên đầu trang
 
Vài hình ảnh từ cuốn sách:

Trang 230: Nhiều công trình học thuật cổ tại Kashmir minh chứng sự kiện rằng Yuz Asaf và Giêsu chỉ là một người.

5. Tượng Phật Di Lạc tại Mulbek

39. Dấu ấn ở Haran.

40. Ngôi mộ của bà Maria, mẹ của Giêsu, tại Mari, Pakistan.

41. Trong dấu chân đúc bằng khuôn, những vết sẹo do ‘Bị Đóng Đinh’ rất dễ nhận ra như hình lưỡi liềm phồng to cao hơn các ngón chân.

44. Bên trong lăng mộ dựng lên một phòng chứa ngôi mộ bằng gỗ.

45. Ngôi mộ được phủ bằng tấm vải dày.

46. Ngôi mộ là một loại đài hoặc bia kỷ niệm để làm dấu cho chính xác một quách đựng hài cốt được đặt ngay dưới hầm mộ.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến

CHƯƠNG III: THỊ HIỆN CƯ NHÂN
1. Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật
2. Đức Di Lạc xuất chánh Định gặp Đức Bổn Sư
3. Sự lầm chấp của Chúng Sinh đối với Đức Bổn Sư
4. Chúa Giêsu và bà Maria đã tái sinh tại VN
5. Vết Chân Người-Cư-Sĩ
6. Tuổi thọ con người thời mạt-kiếp giảm?
7. Kinh Di Lạc Hạ Sanh
8. Sấm kinh nói về Long-Hoa ra đời
9. Khai mở “Long Hoa Hội Thượng-Thời Hai”
10. Hịch Chứng Minh Vũ Trụ
11. Đức Di Lạc thành Phật Vương (Hịch CMVT phần 2)
12. Hịch CMVT, phần 3
13. Hịch CMVT, phần 4
14. Với đài phát thanh BBC
15. Mãi mãi là bài học nhớ đời
16. Sự tái sinh của chúng sanh

CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng

3. Sự lầm chấp của Chúng Sinh đối với Đức Bổn Sư

3. Sự lầm chấp của Chúng Sinh đối với Đức Bổn Sư

Đức Bổn Sư 41 tuổi, Purna
đã vẽ chân dung của Ngài.

Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 41 tuổi, một chân tử của Ngài tên Purna đã vẽ truyền thần chân dung của Ngài. Bức chân dung này được xem như một bảo vật và hiện đang được lưu trữ tại Bảo Tàng Viện Hoàng Gia Anh.

Suốt đời hành Đạo, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn để tóc ngắn gọn như chân dung ở bên cạnh chớ không có cạo sạch tóc như Tăng Ni hậu lai lầm tưởng. Nhắc lại buổi cơm cuối cùng của Ngài do ông Thuần Đà dâng cúng trong đó có một miếng thịt nướng. Điều này cho biết Ngài không có chuyên ròng ăn chay. Đức Di Lạc còn dạy rằng dù Đức Bổn Sư có quay về sống với vợ, con cũng không hề bị mất Chánh Báo của Ngài. Do lớp tu sau này nặng về Thiên Pháp nên phát sinh cạo đầu ăn chay, xa rời thế gian, sống theo trừu tượng dần dần làm xa lìa Chánh Pháp. Do đó, dẫn tới sự tu hành không còn y Tôn Chỉ của Phật, lại nặng Sắc Tướng Âm Thanh sa vào Mạt Pháp cho đến ngày nay.

Do sự lầm chấp trên nên khi Đức Di Lạc Hạ Lai khai đạo theo Cư Nhân Hạnh ngay giữa thành phố Nha Trang 37 năm mà không có một Tăng Ni nào theo tu con đường Giác Ngộ với ngài./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


2. Đức Di Lạc xuất chánh Định gặp Đức Bổn Sư

Đức Di Lạc xuất chánh Định gặp Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tôi nghe như vầy:

Trên đường hành Đạo, mỗi lần gặp pháp rối, trắc ẩn quá mức, Ngài nhớ lại những lúc gay cấn mà Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã gặp phải thì liền khi đó, luồng Huỳnh Quang xuất hiện và Đức Bổn Sư Thị Hiện trên căn gác gỗ của Đức Di Lạc ở Nha Trang. Ngài vui mừng thi lễ Đức Bổn Sư, thầy trò đàm đạo và Đức Bổn Sư chỉ giáo cho Ngài. Có lần khác Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật than với Đức Di Lạc cũng tại căn gác gỗ ở số 42 Hồng Bàng Nha Trang rằng:

...Họ đang gặp nạn!

“Tại Ấn Độ hiện nay, dưới chế độ cai trị của Bà Gandhi, Tăng Ni lớp con của Tôi, đang ở các chùa trong thành phố lại bị đuổi về thôn quê, về nơi núi rừng. Họ đang gặp nạn!”

Sau Bà Gandhi bị sụp đổ, con trai của bà lên thay làm Thủ Tướng cũng không đổi mới đường lối lại thực hiện y như mẹ. Sau ông này cũng bị chết vì bom. Hiện nay thể chế chính trị ở Ấn Độ đã đổi thay, kinh tế chuyển đổi theo thị trường.

Nhắc lại câu chuyện đặc biệt nữa của năm 1963 tại miền Nam Việt Nam, sau vụ tranh đấu của Phật Giáo đòi công bằng tự do tôn giáo thì một số Tăng Ni bị đàn em ông Diệm và Nhu đem bỏ vào bao bố cột lại rồi ném xuống sông. Còn số đông Tăng Ni Phật Tử khác bị dùng bàn chải đinh đập vào đầu chết thảm thiết.

Trong năm ấy, chế độ bị sụp đổ, ông Diệm và ông Nhu bị chết. Dưới mắt Thiền Sư, có cặp mắt Như Lai Nhãn Tạng nhìn xa về quá khứ, biết được kiếp trước của ông Ngô Đình Diệm là giám mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) người Pháp. Thời ấy, ông và một số nhân sĩ giúp dạy chữ Quốc Ngữ cho người Việt và cũng giúp dân về mặt xã hội. Do phước thiện này mà ông được cái quả làm Tổng Thống miền Nam nước Việt Nam mười năm./-

Anh em ông Nhu Diệm đàn áp dã man
Phật Giáo.

Thượng Tọa Thích Quảng Đức tự thiêu phản đối gia đình Ngô Đình Diệm đàn áp dã man Phật Giáo.

Ông Diệm (cả ông Nhu) bị lật đổ và bị giết. Đây là luật Nhân Quả.

Giáo Sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) chính là tiền kiếp của ông Ngô Đình Diệm.

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


1. Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật

 1. Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật

Chân dung Hoan Hỷ của Đức Di Lạc. Ở nhà Ngài mặc Bà Ba trắng.

Tượng cổ Phật A Di Đà từ Tây Tạng. * Trên bàn thờ.

Tôi nghe như vầy: Trước khi khai đạo, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật.

Đức A Di Đà liền hỏi:
– Thời Hạ kiếp này con dùng phương tiện gì để Đồng Độ chúng sinh?

Đức Di Lạc thưa:
– Bạch Đức Thế Tôn, thời này nhân sinh tác tạo quá mức, con phải Đồng Độ theo Cư Nhân Hạnh. Dụng sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp trong thế gian, dạy cho chúng sinh không nhiễm.

Đức A Di Đà Phật trả lời:
– Đúng, chính xác lắm. Thời Mạt Kiếp này con phải chuyển thế như vậy.

Đức Di Lạc :
– Bạch Đức Thế Tôn, thời này lắm bậc chứng tu, tu chứng dẫy đầy khó phân.

Đức A Di Đà :
– Con phải cố gắng, thời này Qủa Phật độc nhất vô nhị đó con. Ta sẽ theo dõi giúp đỡ cho con.

Đức Di Lạc bái biệt Đức Thế Tôn và trở về Tịnh Thất ở 42 Hồng Bàng Nha Trang./-

* Tượng cổ Phật A-Di-Đà từ Tây Tạng. Do một Cựu Sĩ Quan Mỹ gốc Việt cúng dường  cho Thiền Sư Bồ Tát Di Như đúng ngày Đại Lễ  Đông Độ năm 2008 tại Las Vegas, Hoa Kỳ.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA – Chương 2

Chương II: TỪ Đâu Ta Đến

Bối cảnh xã hội trên thế giới sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Bom nguyên tử tại Nagasaki, Nhật Bản thế chiến thứ hai.

Sau Đệ Nhất và Đệ Nhị Thế Chiến chỉ tính sơ qua những biến cố kinh tế, xã hội, chính trị của các quốc gia trên thế giới, dồn dập nghiêm trọng đến mức độ những nhà bác học, những nhà phát minh khoa học, những nhà xã hội học hoang mang và lo sợ.

Nhiều người bi quan cho rằng thế chiến thứ ba sẽ bùng nổ do những công trình phát minh của họ đồng thời cũng báo hiệu ngày tận thế sẽ xảy ra. Song song với việc con người tác tạo quá mức, còn có những trận cuồng phong bão tố tàn phá dữ dội, những trận động đất cực mạnh, nạn hạn hán kéo dài, nạn lụt lội tệ hại nhất thế kỷ, đã làm chết không biết bao nhiêu người mà kể cho hết được.

Đặc biệt nhất là nạn ô nhiễm môi trường sống thiên nhiên trong đất, trong nước ao, hồ, sông, biển. Khí độc thải ra phá tầng ozone của bầu khí quyển mỗi ngày một lớn dần. Trong khi những nhà lãnh đạo của các nước tiên tiến về công nghiệp chưa ý thức nhanh chóng làm chấm dứt những vấn nạn trên.

Chỉ bấy nhiêu tác hại trên cũng là nguyên nhân gây bệnh hiểm nghèo mỗi ngày một lan tràn cho nhân loại. Hậu quả thảm khốc và đau thương khủng khiếp hơn nữa trong trận Thế Chiến một và hai, những cuộc được gọi là cách mạng, đã để lại cho những người dân vô tội bị tan thương, mất mát không sao kể cho hết được.

Nhiều bậc có đạo đức, có trình độ hiểu biết về sự tồn vong của nhân loại, rất lo lắng. Họ tự hỏi, nhân loại cứ tiếp diễn bị sống bấp bênh quá mức chịu đựng, cuối đường sẽ đi về đâu? Có phải đây là triệu chứng của thời Mạt Kiếp?

Hủy diệt hay có Đấng Cứu Thế ra đời? Không một ai dám khẳng định cho nhân loại yên lòng được.

Riêng tại Việt Nam, kinh sấm đã lan truyền nhanh nhiều nơi trong nước: Tu mau kẻo trễ – sắp đến rồi – Đức Di Lạc đã ra đời. Hãy vững tin chờ đợi, nhưng không ai dám nói chính xác bao giờ Ngài ra đời. Cùng lúc, cũng có lắm kẻ cười chế diễu, vì họ cho là tin nhảm, ảo tưởng đối với những lời tiên tri trên. Họ hô hào hãy dùng hai bàn tay lao động để sống.

• Bối cảnh xã hội Việt Nam.

Hình ảnh chiến tranh VN

"Một nghìn năm bị đô hộ bởi người Tàu, một trăm năm bị đô hộ bởi giặc Tây, năm mươi năm nội chiến từng ngày”, bất cứ ai mới nghe qua cũng đủ biết từ thời ông Sơ, ông Cố của dân Việt Nam đã gánh chịu bao đau thương tang tóc, sự khốn cùng kéo dài lê thê qua nhiều thế hệ, đã chứng minh bao cảnh chém giết đầy man rợ, cảnh lầm than khốn khổ, cảnh chết vì đói, vì tù đày, vì gia đình ly tan quá đau buồn... Phải thán phục sức chịu đựng của ông cha ta đứng đầu trên thế giới.

Với tình hình xã hội vô cùng khắc nghiệt và vô cùng hỗn loạn như vậy, nhiều bậc hiểu biết càng ngày càng nhận định rõ: Con người đã và đang sụp đổ về tinh thần cùng sự suy đồi thường diễn hàng ngày khiến họ tin rằng Đức Di Lạc sắp ra đời vì Cùng Tất Biến là lẽ thường.

Để tán thán lời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cách đây đã hơn 2500 năm, Ngài đã khai thị hoàn toàn đúng với trăm ngàn chân thật. Đọc xong, quý vị Tăng Ni, Phật Tử, các nhà xã hội học, bác học, nhà phát minh khoa học hãy lập thành phái đoàn đến miền Nam Việt Nam, khảo sát và kiểm chứng lại. Qúy vị sẽ thấy bỗng nhiên ĐÊM hóa NGÀY của thế giới chúng ta đang sống đầy mầu nhiệm, đầy kỳ bí.

Nó thực tiễn lắm! Không một chút ảo tưởng, không hề viễn vông! Qúy vị còn tìm được nguồn sống mới an vui và tràn đầy hạnh phúc cho hiện tại và những kiếp tương lai nữa. Nếu không có luân hồi sao rất nhiều bậc tu nhớ kiếp trước của mình là ai? làm gì? ở đâu? rồi ghi chép lại rành mạch. Đối với các bậc Thánh Nhân, Thiền Sư nhớ quá khứ kiếp, đã ghi chép lại. Ngày nay các nhà khoa học cũng đã nghe, thấy, nhiều tài liệu đã để lại có chứng minh.

Các Nhà Khoa Học, Thực Nghiệm kiểm chứng các vật bên ngoài, còn các Thiền Sư Đông Phương kiểm soi khám phá ngay trong thân mạng mình để biết vũ trụ.

• Đức Tịnh Vương Nhất Tôn là ai? Ngài đã làm gì cho nhân loại?

Điều mà người tu hành lẫn người thế gian cần biết, Đức Trí của Chư Phật quá siêu đẳng, đã từng đem lại nguồn sống và hạnh phúc cho tứ loài mà tứ loài chẳng hay biết.

Bậc Chánh Giác chỉ sử dụng thần thông như một phương tiện khi cần thiết. Chư vị cũng không muốn những mầu nhiệm của vũ trụ được sử dụng để tiết lộ cho kẻ phàm tục đầy kiêu ngạo biết. Làm xong Ngài âm thầm ra đi, không cần chúng sanh tranh cãi đúng sai, không cần ở lại hưởng gì của thế gian, miễn sao tận độ chúng sanh an lành là đủ. Mùa Vu Lan năm 1969 tức năm 2513 Phật Lịch, nhờ một đại duyên lành, tôi theo tu học Đức Tịnh Vương Nhất Tôn. Một hôm Ngài gọi tôi và bảo:

- Này ông Pháp Khả, ông là Chân Phật Tử có căn cơ, quyết tâm cầu đạo giải thoát rốt ráo, trước Tam Thế chứng minh, Ta tuyên đọc bài kệ sau đây đặng ông cùng tất cả nhân sinh mai sau biết Ta hóa thân kiếp này, hiện tướng ở cõi Ta Bà Thế Giới làm tất cả những lợi ích gì để tận độ chúng sinh trong thời Mạt Pháp này.

TỪ Đâu Ta đến

THỊ Hiện cư nhân

DI truyền bảo pháp

LẠC quốc an khương

TÔN giả cúng dường

PHẬT Vương minh chứng

TỪ THỊ DI LẠC TÔN PHẬT thế danh Từ Thế Thọ Hạ Lai 1918–1993

Đọc xong, Đức Tịnh Vương im lặng, không khí trong căn nhà quanh chỗ Ngài ngồi bỗng nhiên có mùi trầm hương bay thơm ngát đầy vẻ trang nghiêm, ấm cúng lạ thường. Đem từng chữ đầu mỗi câu của bài kệ trên kết lại cho ta biết được:

 

" TỪ THỊ DI LẠC TÔN PHẬT "

Tôi đảnh lễ Ngài mà lòng hoang mang suy ngẫm, chẳng lẽ nay tôi gặp Đức Di Lạc hiện thân bằng xương bằng thịt, đang ngồi trước mặt tôi là thật chăng? Tôi cùng các bậc tu và bậc không tu đang ở tôn giáo nào cũng cần xem xét lại, Đức Di Lạc đã thị hiện đúng thời điểm, đúng hoàn cảnh, đúng thời Mạt Pháp. Ngài hoan hỷ lấy Đại Lực để gánh chịu. Ngài tận dụng Phật Lực chuyển hồn loạn của thời Mạt Kiếp đến Thượng Kiếp.

Lần Hạ Sanh này, Đức Di Lạc lấy danh hiệu Tịnh Vương Nhất Tôn, khai Đạo tại số nhà 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, những năm gần mãn đời, Ngài dời về ở số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng Nha Trang. Hôm nay thời điểm đã đến, khi ghi lại sự kiện lịch sử hi hữu này, tôi mong nhân sinh cùng quý vị chân tử nào nhận chân được Đời là bể khổ vô tận, là giả tạm, hãy dõng mãnh phát tâm cầu Đạo Giác Ngộ, thoát khỏi Sanh Tử Luân Hồi. Dù của cải giàu có chất đầy cả thế gian này, khi nhắm mắt cũng ra đi với hai bàn tay trắng. Lại không biết mình đi về đâu mới là điều sầu khổ không tả hết.

Căn nhà lá tại Bình Định, nơi Ngài Hạ Sanh.

Bình Định nơi Đức Di Lạc Hạ Sanh

Lúc 8 giờ sáng một ngày cuối mùa đông năm 1969 dương lịch, tại căn gác gỗ nhỏ số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, Đức Tịnh Vương Nhất Tôn khai thị, tôi nghe như vầy:

Từ Cung Trời Đâu Suất, Ngài mặc chiếc áo tràng dài, rộng, màu thanh thiên tức màu xanh da trời tươi đẹp, hai bên có Chư Thiên, Chư Long Thần Hộ Pháp, Chư Hộ Pháp Bồ Tát, Chư Bồ Tát cung nghinh theo tiễn. Ngài bước xuống thế giới Ta Bà này đến giáp ranh tầng khí quyển, Chư Thiên, Chư Long Thần Hộ Pháp nhìn thấy bụi hồng trần bao phủ dày đặc, đầy chất bẩn, tất cả đều dừng lại, cung kính chiêm bái Ngài và không dám đi theo nữa.

Chỉ một mình Ngài đi thẳng đến tỉnh Bình Định thuộc miền Trung nước Việt Nam. Ngài đứng trước cửa nhà, chờ bà mẹ tên là Nguyễn thị Phụng sắp sanh. Khi bà vừa hạ sanh ra một bé trai, Ngài liền nghiêng mình khẽ nhẹ bước vào thân chú bé. Lúc bấy giờ khoảng 9 giờ sáng ngày 24 tháng 12 âm lịch năm Kỷ Mùi (1918) tức năm 2462 Phật lịch. Ngày tháng này thời tiết đang chuyển mình sang ngày đầu Lập Xuân.

Cha Ngài là Từ Như Ý, gốc Hoa

Mẹ là Nguyễn Thị Phụng, người Việt. Chân dung trên bàn thờ.

Cha Ngài tên Từ Như Ý đặt tên cho Ngài là Từ Thế Thọ. Tứ Chúng Pháp Tạng tức chân tử của Ngài, hàng năm cứ đến ngày 24 tháng 12 Âm lịch đều sum vầy về nơi Tịnh Thất của Ngài làm Đại Lễ mừng Đản Sanh Ngài. Cũng ngày này năm Tân Hợi tức ngày 08-12-1972 Dương lịch, Ngài nhắn nhủ một lần nữa cho thế gian cùng chân tử của Ngài biết Di Lạc đã ra đời, qua bài thơ do chính Ngài ghi bút và cũng chính Ngài đánh máy:

TÌNH LỜI HẠ SANH
KỶ NIỆM NĂM KỶ MÙI (1918)

Giữa buổi trời xanh, nắng dịu hòa
Thuyền con, bườm trắng chạy xa xa,
Nha Trang bãi biển chiều thanh lịch,
Tôi kể thời xưa chuyện đã qua:

Năm ấy Đông đi, xuân sắp về,


Cánh đồng thịnh trị khắp thôn quê,
Lương dân vui hưởng ba ngày tết,
Giải sạch lo phiền chuyện gớm ghê.

Năm bốn năm qua... Tết những gì?


Nhà nhà vôi trắng, dựng Nêu Quy,
Có câu Liễn Đỏ hai bên cửa,
Có pháo huy hoàng mong chứng tri.

Trong lúc ấy, kẻ đi người lại,
Mua sắm đồ cầu vái Chư Thiên,
Huyền linh chung khắp các miền,
Thực hư, hư thực bởi duyên thanh bình.

Cùng ngày hai bốn viên minh,
Cũng trong tháng chạp, một mình Ta Thôi.
Phất phơ trên đảnh mây trời,
Đương Lai Sanh Hạ hợp thời Hạ Nguyên.

Ta có nói vẫn lời dư dả,
Ngày hôm nay thư thả như nhiên.
Phú cho mạt thế vẹn tuyền,
Của Như Lai Dụng, một phiên diễn tuồng.
Thiện Chân Tử chính nguồn an ủi,
Pháp Tạng nầy, chung tuổi ấm êm,
Miễn sao dưới mái gương thềm,
Chung vui hoàn giác, nỗi niềm Tôi mong.


–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Ngày Đản Sanh: 24-12 Tân Hợi
(08-02-1972)

 

Giải sạch lo phiền chuyện gớm ghê

Thế chiến thứ nhất năm 1914-1918 chấm dứt, nhân loại nhất là các nước kém mở mang đã giải thoát được thế chiến thứ hai 1939-1945. Hiệp định Geneve 1954 ra đời và nhiều người lo sợ nạn xâm lăng của chiến tranh. Trong bối cảnh khắc nghiệt báo hiệu cường độ hỗn loạn gia tăng, Ngài đã ra đời được một tuổi.

Huyền linh chung khắp các miền

Trong lúc dân chúng đi lại mua sắm vật dụng Tết thì cả một thể vô hình của Chư Long Thần, Địa Thần, Tứ Bộ Thần, Thượng Đẳng Thần quanh vùng Ngài thị hiện, đã có huyền cơ linh ứng chung khắp canh giữ Ngài.

Thực hư hư thực bởi duyên thanh bình

Nhìn gần, duyên thanh bình làm lương dân vui sắm Tết, nhưng nhìn xa, thế chiến thứ Ba đang âm ỉ không thực thanh bình, như thực hư hư thực vậy.

Cùng ngày hai bốn viên minh

Hai mươi bốn viên minh là ngày đặc biệt, rất hiếm có dịp đến. Vì sao? Vì ngày này năm ấy, theo lịch Trung Hoa là ngày Lập Xuân, tức ngày cuối đông thời tiết đang chuyển sang xuân tươi sáng.

Phất phơ trên đãnh mây trời
Đương Lai Sanh Hạ hợp thời Hạ Nguyên

Từ cõi Trời Đâu Suất, Ngài đi vào bầu khí quyển và các tầng mây đến thế gian. “Đương Lai Sanh Hạ”. Từ lâu Kinh Phật Giáo vẫn thường dùng để chờ đợi Đức Di Lạc, nay Ngài ghi bút cũng là nhắc cho thế gian biết hiện nay đã là Hạ Kiếp rất hợp thời cơ cứu đời của Ngài.

Ta có nói vẫn lời dư dã
Ngày hôm nay thư thả như nhiên

Ngài biết dù Ngài có nói thực, thời này vẫn là lời nói thừa, chúng sinh điên đảo chẳng tin. Phần Ngài vẫn bình thản theo lời đã nguyện.

Phú cho Mạt Thế vẹn tuyền”
Của Như Lai Dụng, một phiên diễn tuồng

Thời Mạt Kiếp thế giới muốn phát sinh độc hại như thế nào cũng mặc sức, còn Ngài đã biết được nó là diễn cảnh một thời của Như Lai để tiến đến Thượng Kiếp.

Thiện Chân Tử chính nguồn an ủi
... Chung vui hoàn giác, nổi niềm Tôi mong

Tuy thế gian diễn cảnh độc nhiễm tùy thích, nhưng Ngài vẫn còn niềm vui là số Chân Tử cầu giác ngộ đang theo Ngài. Long Hoa mà hầu hết những bậc tu trông chờ chính là:

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Còn Đức Di Lạc của quá khứ nay ẩn dưới danh hiệu TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN.

Lãnh đạo Pháp Tạng làm chủ mối đạo, Ngài lập danh xưng: TĂNG CHỦ NHẤT TÔN.

Khi mới sanh ra, thân hình Ngài đẹp, tướng hảo quang minh nhưng gia đình rất nghèo khổ, nhà vách bằng tre trét đất sét với rơm rạ, mái lợp tranh ở thôn quê. Chư Long Thần Hộ Pháp (vô hình) thấy vậy gỉa hiện mặt Qủy dữ tợn, bà mẹ nhìn thấy sợ quá bế con chạy sang nhà bà con sạch sẽ hơn, cao ráo hơn. Vì mới sanh được ba ngày nên ánh nắng chiếu vào mắt làm cho một con mắt Ngài phải bị tật.

Âu đó cũng do Như Lai báo trước, căn cơ của chúng sinh thời Mạt Kiếp, Phật ra đời mà chúng sinh không gặp được. Chỉ công đức Chư Tổ, tâm rỗng rang, lại có tâm tu cầu Giác Ngộ mới có Đại Duyên Lành đến được với Ngài mà thôi.

Ngài dạy tiếp: Tôi dùng thần thông hiện đầy đủ 32 tướng tốt giống Chư Phật rất dễ, nhưng thời Mạt Pháp chúng sinh đang ưa chuộng sắc tướng, âm thinh mà hiện thân như vậy, bá tánh chỉ vào cúng lạy, chớ không tu sửa tánh xấu thì đâu có ích lợi gì.

Thành Phố Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa nơi Đức Di Lạc Hành Đạo.

Nhà Ngài, 22/14 Sinh Trung

Tôi nghe như vầy: Trong Thế Chiến thứ hai 1939-1945 tình hình nước Việt Nam bấy giờ chiến tranh lan tràn khắp nơi. Lúc đang ở Bình Định, vì bị tình nghi, chính quyền Cộng Sản Việt Nam kết án Ngài 10 năm nhưng mới ở tù được 26 tháng thì Hiệp Định Geneve ra đời và Ngài được thả tự do. Lúc đó, Ngài được 36 tuổi và di chuyển về Nha Trang thuê mướn một căn nhà nhỏ lợp tranh vách đất ở Sinh Trung gần chợ Đầm bây giờ.

Đến năm 1956 Dương lịch tức năm 2500 Phật Lịch, Ngài đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Từ đó, Ngài dùng công năng trong vô lượng kiếp quá khứ, tận độ chúng sanh trải qua nhiều kiếp tích lũy công đức. Kiếp này Hiển Thị Phật Thân xây dựng Quốc Độ và tạo dựng thời Thượng Kiếp nơi cõi Ta Bà thế giới này. Từ nay, cứ mỗi giáp tức 12 năm, thế giới sẽ biến đổi dần dần đến thanh bình, con người sẽ thanh nhàn, thư thả và có đạo đức trở lại.

Kinh Phật tự chính Ngài ghi bút lưu lại hiện còn đầy đủ. Để chứng minh Ngài đã thị hiện, tôi xin ghi lại một số điểm chính nữa hầu quý vị nhận định đầy đủ hơn qua Ấn Chỉ 1-2-3-4*

* Ấn là ấn chứng vũ trụ nhân sinh.
* Chỉ là trực chỉ.

Mặc dầu không ai hiểu Ngài lúc này, nhưng Ngài vẫn âm thầm hóa giải thế gian qua Ấn Chỉ 1 cũng do Ngài đánh máy ra:

PHÁP ĐỘ THỜI ĐÔNG ĐỘ
Ngày: 20-01-Năm Đinh Tị
Giờ Ngọ 09-03-77


PHẦN KỆ:
Tây Phương cực lạc trổ huỳnh quang,
Đông Độ Đương Lai đã mở màn,
Diệu dụng tương song về nhất tướng,
Tứ loài đang diễn mộng chưa tan.

PHẦN GIẢI:
Ta đi Tây Độ tỏa huỳnh quang,
Ta lại Đông Phương vẹt bức màn,
Hòa hợp tương song đồng hiện tướng,
An khang lạc quốc trọn vinh quang.

PHẦN DIỄN:
Ai hiểu đến Ta giữa lúc nầy,
Ráp vần xoay vận hiệp Đông Tây,
Lời thề Vương Bảo tô nền tảng,
Cốt vãng hồi sanh thoát đọa đày.

PHẦN HÓA:
Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay,
Địa Tiên ngơ ngẩn châu mày thở than
Nhân sinh đi đứng ngỡ ngàng,
Các hàng Bồ Tát cười vang vui mừng.
Tam Giới rung chuyển chưa ngừng,
Ta ngồi Bửu Tọa vạn tuần xinh xinh.

PHẦN ẤN CHỈ:
Thế nhân cầu đạo chân thành,
Long Hoa nào rõ trở thành đảo điên.
Thân phàm Long Thọ vẹn tuyền,
Còn TÂM ÓC TRÍ của Tiên. Thánh. Thần.
Giác toàn chính thật là THÂN,
Tại sao chưa tỉnh phân vân nỗi gì?
Tìm đâu? Nhìn thẳng bài thi,
Lời Ta đã ngỏ những gì Phật ngôn.


TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Lúc giờ Ngọ (12) giờ trưa:
09-03-1977

Thời Đông Độ: Thời đồng hóa nhân sinh, hiện thân cư sĩ, dìu dắt bậc tu về với Chân Tôn Hiện Giác.

PHẦN KỆ:

Tây Phương ý nói Cõi Trời Đâu Suất đầy an vui, an lạc trong ánh Đạo vàng.

Đông Độ Đương Lai đã mở màn: Ngài Hạ Sanh tại Đông Phương, Đông Độ còn có nghĩa Cư Nhân Hạnh (cư sĩ). Đương Lai: Đức Di Lạc đã mở Đạo.

Ngài dụng đủ phương tiện tuyệt mỹ để chỉ ĐỜI LÀ ĐẠO LUÔN SONG HÀNH, luôn hiện như hình với bóng, tuy hai nhưng chỉ có một Tướng, Ngài tùy thuận cốt đưa nhân sinh về một lối tu duy nhất là Giác Ngộ.

Khi Ngài mở màn khai đạo, tứ loài đang gia tăng cường độ, đua tranh sát phạt nhau hỗn loạn, triền miên sống trong cơn mê.

PHẦN GIẢI:

“Ta đi Tây Độ... Ta lại Đông Phương”... Hóa thân Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hiện nay chính là Đức Di Lạc từ Thiên Thừa Hạnh (xuất gia) thuở trước, nay hiện Cư Nhân Hạnh (tại gia), mở màng vô minh cho lối tu sai lạc của thời Mạt Pháp. Ngài hòa hợp cho nhân sinh dụng nghe, thấy, biết trong đời để tu hành, chuyển cái Nghe, Thấy, Biết trở thành vạn pháp không mắc miếu. Thực hiện được con người sống an lành, hạnh phúc, gia đình ổn định, đất nước an lạc.

PHẦN DIỄN:

Ngài thường đi Khai Đạo nơi có Chân Tử như Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn. Cũng có một số tu sĩ xuất gia đến gặp Ngài, đọc kinh sách giải thoát của Ngài. Họ chỉ biết Ngài là ông Thầy Tịnh Vương. Suốt lộ trình Ngài không hề có một tu sĩ nào tìm hiểu pháp môn giải thoát, cũng không quan tâm, lại còn xem lối tu này không cần thiết và hoàn toàn xa lạ.

Song song với việc dạy đạo cho Tứ Chúng chung quanh, Ngài còn một Đại Nguyện khó khăn nữa, đó là quyết đem Bảo Pháp của Chư Phật xây đắp cho thế gian, chuyển từ Phương Đông sang Phương Tây, cho họ có lối tu thực tiễn sửa tánh, giải bỏ đố tật xấu, hóa giải hoàn cảnh đến minh tâm thoát khỏi khổ ải, ngay trong mỗi mỗi gia đình. Việc làm chuyển thế giữa lúc này, không một bậc lãnh đạo tôn giáo nào hiểu gì cả.

PHẦN HÓA:

“Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay”

Vì sao? Ở Cõi Tiên, Chư vị Thiên Tiên đang quan sát theo dõi chuyến Hạ Lai của Ngài. Thiên Tiên là những bậc ở ngoài trái đất của chúng ta, họ rất nhạy cảm. Từ quá khứ cho đến vị lai rất giao cảm, tất cả sự di chuyển điều động vạn pháp xuất hiện hay lưu hoàn thảy đều tỏ thông liễu ngộ, chỉ sút kém với hàng Bồ Tát chưa biết thân mạng mình đổi thay, thay đổi như thế nào để giải quyết sanh, tử, lão, khổ.

Bậc Thiên Tiên nhìn thấy vũ trụ, nhân sinh an lành, đến thời Hạ Lai Mạt Kiếp địa ngục phát sinh, nghiệp đau khổ tràn đầy liền nhìn thấy được có Đại Lực cứu độ tứ loài nên Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay.

“Địa Tiên ngơ ngẩn châu mày thở than”

Vì sao? Vì Địa Tiên luôn hướng về thời Trung Kiếp còn gọi Hiền Kiếp, thời này tu hành trọng Đạo Đức, Thánh Hiền. Đến khi thấy hỏa ngục phất, Đại Lực Di Lạc tận dụng nương theo thời Hạ Lai cứu độ, hàng Địa Tiên không hay biết khi thấy Thánh Hiền, Bồ Tát bị khổ như thân trâu ngựa nên cho là Phật Đạo suy đồi, Mạt Pháp mà khóc than. Còn hàng Thánh Hiền, hàng Bồ Tát đều đi trong “Phổ Môn Phẩm” tức đi trong HỎA NGỤC, chịu đắng cay, chịu nhục nhã, chịu cực hình để độ KHỔ cứu độ chúng sinh.

“Nhân sinh đi đứng ngỡ ngàng”

Vì sao? Vì nhân sinh bị cuộc sống đảo loạn,từ có hóa không, từ an ổn đến hỗn loạn, từ sum họp đến ly tan, từ nơi mát mẻ hóa nóng bức, từ nơi êm ấm hóa không nhà cửa sống lang thang. Nhân sinh cho đến bậc tu mất thăng bằng, không còn định hướng, không còn tin Phật đúng đắn, chạy theo Hỏa Ngục, chạy đến chân trời mới... ai ai cũng kinh ngạc, lo lắng, bỡ ngỡ, liều lĩnh.

“Các hàng Bồ Tát cười vang vui mừng”

Hàng Thánh Hiền, Bồ Tát nguyện đi trong “Phổ Môn Phẩm” nên đứng trước hoàn cảnh khắc nghiệt thân tâm vẫn ghi nhận và rỗng rang vui mừng. Độ khổ là món ăn của hàng Bồ Tát nên vui mừng chịu tận theo vết chân Chư Phật.

“Tam giới rung chuyển chưa ngừng”

Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Các Cõi Trời này thấy thế gian bị Hỏa Ngục phất cũng lo âu, bàng hoàng, toàn thân chư vị ở các Cõi này rung chuyển đau đớn theo.

“Ta ngồi Bửu Tọa vạn tuần xinh xinh”

Ngài biết chẳng qua chỉ là diễn ảo của thế gian và lần Nhất Sanh Bổn Xứ này, Ngài thành Phật Quả mãi mãi xinh tươi bất diệt.

PHẦN ẤN CHỈ:

“Thế nhân cầu đạo chân thành”

Ngài đã biết thế nhân hiện nay tu theo Đạo Phật số lượng rất đông, hầu hết đều nương tựa vào Tăng Ni ở chùa, cốc núi rừng, lòng rất thành tâm cầu Đạo vì ngao ngán cuộc đời. Riêng Ngài vẫn than:

“Long Hoa nào rõ trở thành đảo điên”

Câu thơ này cho biết quá rõ Đức Di Lạc đã ra đời, khai mở Long Hoa, dạy Đạo Đức cho chúng sinh đang sống trầm luân trong bể khổ đến Bờ Giác. Không một ai ở các tôn giáo chờ đợi Ngài, nhận được lối tu thực tiễn của thời Mạt Kiếp: Tự tánh tỏ tánh, hóa giải hoa pháp tánh. Trái lại, đảo điên, ảo tưởng chờ núi Thất Sơn nổ.

“Thân phàm Long Thọ vẹn tuyền”

Đến đây Ngài chỉ thẳng, thân Tịnh Vương kiếp này chính là thân phàm Long Thọ thật đúng đắn. Thân Long Thọ ngày xưa của một kiếp, chính là thân Di Lạc đây đang hiện tướng ở Ta Bà thế giới này.

“Còn tâm óc trí của Tiên, Thánh, Thần”

Tiên, Thánh, Thần là những bậc có cái nhìn nhạy cảm hơn thế gian, lời nói đây còn sáng suốt tỉnh táo như óc trí của Tiên, Thánh, Thần vậy. Ngài chỉ thẳng, giác ngộ chính nơi thân tâm của mình sao lại không nhận còn vọng cầu bên ngoài làm chi. Lời này là của Chư Phật thật sự.

“Thời này Ta đến chỉnh trang”

Chư Phật ra đời duy nhất đem đến nhân sinh trực chỉ hoàn giác. Đó cũng là Ấn Chỉ của Ba đời Phật. Theo lời Khai thị của Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân của Đức Di Lạc, thời này là thời Hạ Kiếp, Chánh Pháp bị Mạt Pháp ngự trị lan tràn. Bậc tu chuộng cái học, chuộng nghiên cứu kinh Phật, chuộng sắc tướng âm thanh cầu đạo trở thành Bị Giác.

Ngài không tạo ra mối Đạo mới mà chỉnh trang, sửa đổi lại tu theo con đường Tri Kiến Giải Thoát, con đường Tự Giác theo Y Tôn Y Chỉ Ba đời Phật.

“Thị hiện Cư Nhân *Chỉ-Ấn-Hoàn”

Ngài cho thế nhân biết rõ ràng: Ra đời với Hạnh Cư Sĩ tại gia còn gọi là Cư Nhân Hạnh.

*Chỉ: Trực chỉ
*Ấn: Ấn Chứng vũ trụ nhân sinh.
*Hoàn: Giác hoàn, hoàn tất ba đời Phật hiện thân.

Ngày nay, đa số bậc tu không theo Ấn Chỉ trên làm cho Đạo Phật mang tiếng tiêu cực hay lớp tu ngoại giáo tế lễ đưa con người tín tâm vào nơi tu hành cuồng tín, cầu vái van xin hơn là chính bản thân sửa tánh, lập Thiện Căn hóa giải Ma Lực.

“Phật ra đời có hai lối dụng”

Một lối không, có nghĩa xuất gia ở chùa, cốc không có vợ, chồng, con cái nên tách khỏi ràng buộc của gia đình. Miễn tâm dung thông, không nhiễm trước ngoại cảnh vẫn hoàn giác.

Một lối có, tức Cư Nhân Hạnh, ở gia đình có chồng, vợ, con cái, trăm chiều ngược xuôi của bối cảnh gia đình, khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ... vạn pháp diễn cảnh muôn ngàn lối trong đời sống. Miễn tâm vào ra giới không nhiễm trước vẫn giác ngộ.

Dù tại gia hay xuất gia, tu đúng con đường trực giác vẫn giác ngộ. Phần Ngài chọn tại gia, sống có gia đình vợ và 6 người con. Giới tu xuất gia ở chùa gặp Ngài bỡ ngỡ không tin.

Bậc tu xuất gia còn gọi Thiên Thừa Hạnh tiêu biểu cho phái tu Tịnh, chủ về Tịnh để Độ nhưng cũng phải Tín Hạnh Nguyện nơi NGHE THẤY BIẾT tức vạn pháp, cốt sống động mà hóa giải, dần dần tỏ vô minh không còn nhiễm trở về Tịnh Hoàn Giác.

Bằng sống yên ổn, tránh đụng chạm dù có Tịnh cũng là Tịnh Biệt, một lối tu nguy hại, không bao giờ đến bờ bến Giác. Lối tu xuất ly tránh dơ chọn sạch của bậc xuất gia vô tình trở thành Tiên, Thần Trí không có hoàn giác bao giờ. /-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA – Chương 1

Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc

Tượng Đức Bổn Sư tại thiền viện Pháp Tạng.

Theo lời thọ ký của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn, sau này vào thời Mạt Pháp, Bồ Tát Di Lạc vì Đại Bi nguyện mà Hạ Sanh xuống thế gian, tận độ chúng sanh. Ngài sẽ thành Chánh Qủa, là một vị Phật nối tiếp Đức Phật Thích Ca, chỉnh trang Phật Đạo, giữ gìn Chánh Pháp của Như Lai Phật trường tồn được 5000 năm.

Chiếu theo Phật Lịch, nay đã hơn 2500 năm, được ghi nhận ba lần Đức Di Lạc Hạ Lai khai đạo tại Ta Bà thế giới này, được số đông người tu theo Phật biết tiếng. Ba lần lai trần nữa nhưng Ngài im lặng nên không mấy ai biết đến. Một lần làm Quốc Sư, một lần làm vua đều ở nước Tàu, một lần dạy đạo ở Tây Tạng sẽ được trình bày chương sau.

• Phó Đại Sĩ. Có một kiếp Bồ Tát Di Lạc lai trần ở nước Trung Hoa, Ngài lấy tên Phó Đại Sĩ đến lúc nhập diệt, người thế gian mới được biết Phó Đại Sĩ là hóa thân của Đức Di Lạc.

• Bố Đại Hòa Thượng. Đến đời nhà Lương cũng ở nước Tàu, Bồ Tát Di Lạc lai trần lấy tên Bố Đại Hòa Thượng. Thân hình Ngài khác thường hơn người thế tục, trán thì nhăn, bụng thì lớn và thân người mập mạp. Đến lúc nhập diệt, Ngài ngồi thiền tọa, không tật bệnh gì cả. Lúc đó người thế gian mới được biết Bố Đại Hòa Thượng là Bồ Tát Di Lạc hiện tướng ở Ta Bà thế giới này.

Bố Đại Hoà Thượng

Long Thọ. Lại một kiếp khác, khi Bồ Tát Di Lạc lai trần ở Ấn Độ, Ngài lấy tên Long Thọ, đến lúc ra đi người thế gian mới được biết Ngài Long Thọ chính là hóa thân Đức Di Lạc. Mỗi lần thị hiện ở cõi ta bà thế giới này, Ngài đều vì bổn nguyện làm những việc lợi ích cho chúng sinh.

Sau thế chiến thứ hai cho đến bây giờ, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni đều cho rằng thời này chưa đến lúc Đức Di Lạc xuất thế. Ngài còn ở trên cung trời Đâu Suất, nhiều kiếp nữa mới thị hiện ra đời để tiếp nối Chánh Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trái lại trong lúc đó biết bao lời tiên tri của các đạo giáo như Cơ Đốc Giáo, Phật Giáo, Cao Đài Giáo, Phật Thầy Tây An, Phật Giáo Hòa Hảo lại có cả nhà Bác Học cùng các bậc Dị Nhân ở miền Nam nước Việt Nam cùng các kinh sấm cho biết, Đức Di Lạc đã Hạ Lai tại Việt Nam nhưng còn ẩn.

Họ hoàn toàn tin vững vàng rằng Đức Di Lạc đã ra đời tại Việt Nam. Thực tại vẫn yên lặng, ngày tháng vẫn trôi, nhưng không ai nghe, không ai thấy, những hiện tượng kỳ lạ của kinh sấm xuất hiện để diện kiến Ngài. Dần dần khiến nhiều người bâng khuâng, lo lắng sanh ra nghi ngờ. Theo Đại Tập Kinh, sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, 2500 năm sau là thời Mạt Pháp, Đức Di Lạc Hạ Sanh. Nay đã đến 2538 năm Phật Lịch mà vẫn chưa có Đức Di Lạc ra đời, càng làm cho nhiều bậc học giả cùng những bậc tín tâm tu Phật hoài nghi hơn nữa.

• Đức Di Lạc chính là Khổng Minh. Gần ngày nhập Bát Đại Niết Bàn, Ngài viếng thăm Đà Lạt và mua một tượng Khổng Minh đem về Nha Trang, Ngài ghi chú dưới tượng câu:

Tượng Khổng Minh, Ngài mua ở Đà Lạt

“Đời là BIỂN KHỔ, không mấy ai tránh được cái khổ của đời.
Còn vũ trụ không bao giờ giúp ta, chỉ có tâm ta mới cứu ta mà thôi.
Kẻ VÔ TÂM là độc ác nhất”
–T.V.

Đường đạo Ngài xác định thật rõ ràng: Bậc tu không thể nương tựa chỉ biết cầu vái van xin mà phải chính mình tinh tấn sửa đổi tánh tình cho thật tốt, vạn pháp diễn cảnh phải chịu đựng và tự hóa giải cho sạch nghiệp. Sau khi chánh giác, bỗng tự phát lòng đại bi thương chúng sinh như thương thân mạng mình, không thể ngồi yên thấy chúng sinh đang trầm luân trong biển lửa.

Một hôm Ngài dạy tôi nghe như vầy: Tôi với ông nhiều kiếp luôn ở bên nhau, có một kiếp Tôi làm Quốc Sư ở bên Tàu, thấy người dân bị rên siết trong đau khổ không thể làm ngơ được, Tôi phải đem trí tuệ làm phương thức cứu đời. Ngày nay tu hành tuy không có binh hùng tướng mạnh, không có quyền hành, một người lính canh cũng không có, lại không có một loại vũ khí thô sơ nào ở bên cạnh, nhưng với sự quyết chí tu hành, Tôi lấy Phật Lực đầy quyền uy gấp vạn lần hơn thời trước cứu đời rất hữu hiệu.

Rồi Ngài cho vẽ tượng Quan Công treo trong Tịnh Thất của Ngài. Khi vào phòng, tôi thấy hình Quan Công treo ở tư thế hộ giá, bỗng nhiên tôi trực giác nhớ tiền kiếp của tôi và của Đức Ngài. Tôi ngạc nhiên khi biết Ngài là Khổng Minh đời nhà Hán làm Quốc Sư thời Lưu Bị còn được gọi Lưu Huyền Đức. Lạ thật! rất nhiều ngạc nhiên đối với tôi khi nhìn được từ quá khứ xa xôi vào khoảng năm 191 Lưu Bị-Quan Công-Trương Phi sau khi bàn luận, hẹn nhau hôm sau kết nghĩa trong vườn đào phía sau nhà Trương Phi, bày lễ vật cáo tế Thiên Địa.

Lúc đó Khổng Minh chính là hóa thân của Bồ Tát Di Lạc. Dưới mắt Thiền Sư, nhìn biết tình nghĩa đã trở nên nhân duyên cao dày, tan hợp, hợp tan với bao phong ba, nay ở bên nhau trong thời đại nguyên tử của thế kỷ 20 này! Hai câu thơ của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cũng là Khổng Minh của thuở trước nhắn nhủ sự luân hồi quay tròn không dừng của kiếp người, có tình nghĩa vẫn tái hợp!

–Tịnh Vương

Từ ngàn xưa nay là thế kỷ 20, trình độ, sự tiến bộ của văn minh nhân loại, Ngài Khổng Minh nay lại với cái tên Tịnh Vương Nhất Tôn cũng chuyển mình theo sự tiến bộ ấy và Ngài đã thành công trên khoa học và trên cả những chính trị gia thế giới mới là vi diệu. Ngài thị hiện ở cõi Ta Bà thế giới này, trình độ học vấn chỉ mới lớp ba, chưa hết bậc tiểu học mà biết bao nhà khoa học gia với bằng cấp tiến sĩ, bác học đã phát minh bao điều dù cho tối tân cũng không qua nổi sự chỉ đạo kín nhiệm của Ngài từ xa rất xa. Kinh sách Ngài nhập Chánh Định Tam Muội ghi chép lại những nhân vật trình độ Đại học đọc đã phải thán phục và chưa hiểu hết nổi. Thế mới biết cái học không qua được Chánh Giác.

Tranh Quan Công,
bàn thờ Hộ Pháp

Trong thời Đức Tịnh Vương tận độ chúng sinh, có Quan Công ở cấp Thần thuộc hàng Hộ Pháp vô hình, nguyện ứng trực hộ trì chánh pháp. Quan Công đã tinh tấn dùng thần lực đi đến những nơi cần trên các nước Cộng Sản, giải tỏa chùa chiền bị đóng cửa được mở cửa lại cho các bậc tín tâm vào lễ bái, chiêm ngưỡng Phật và tu hành theo ý nguyện.

Tăng Ni các nước Cộng Sản được tiếp tục ở chùa tu hành cho đến khi nước nhà đổi mới phải kể đến nguyện độ sinh của Chư Thiên, Chư Thần, Chư Long Thần Hộ Pháp...và nhất là của Quan Công. Quan Công thường đến Trung Hoa và Đài Loan giúp giữ gìn dân hai nơi sống trong hòa bình, nhiều lúc gay cấn chính Quan Công nhận mệnh lệnh của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc, đi hóa giải thật là khó diễn tả ra hết được. Cũng chính Quan Công đến nhiều lần ở Liên Xô trong những thời gian Liên Xô và Trung Hoa căng thẳng ở vùng biên giới để ngăn không cho Cộng Sản Liên Xô xua quân tràn sang nước Cộng Sản Trung Hoa.

Quan Công thật có công lớn cùng với Chư Thiên, Chư Thần, Chư Hộ Pháp, Chư Long Thần Hộ Pháp... góp phần xây dựng hòa bình trên thế giới và hộ trì Chánh Pháp do Đức Tịnh Vương điều động và lãnh đạo. Thật không thể tưởng nổi ngày xưa là Khổng Minh ngày nay cũng chính là Khổng Minh trở lại với cái tên Tịnh Vương ẩn dưới bao điều huyền diệu mà giới khoa học Tây Phương đành chịu! Ngày nay Hộ Pháp Quan Công ở đẳng cấp Thần, theo Đức Tịnh Vương lập công đức tu hành, nhóm Ngũ Hổ cùng các cận thần đời Lưu Bị của Hán Triều cũng đều phát tâm tu hành trong Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam tức trong Long Hoa Hội Thượng.

Ảnh Ngũ Hổ, Ngài cho treo
tại Trung-Ương-Hội-
Thượng số 6 Huỳnh Thúc
Kháng, Nha Trang.

Các vua, quan thời đại Đinh-Lê-Lý-Trần cũng lai sinh theo tu quanh Ngài với xác thân mới tên tuổi mới của kiếp này. Không có gì lạ vì nhân duyên đã gieo từ trước, ta thấy lịch sử ghi chép lại những triều đại này đều sùng ái đạo Phật, nay họ cầu Tri Kiến Giải Thoát nên gặp lại. Thời này Lưu Bị cùng những cận thần xưa lai sinh làm người theo tu hành con đường Giác Ngộ.

Quan Công còn gọi Quan Vân Trường không lai sinh làm người mà vẫn giữ vị trí cấp Thần vô hình theo hộ trì chánh pháp, ông cũng thường đi Hoa Kỳ và nhiều nơi của thế giới tự do. Còn Trương Phi ngày xưa nay chính là Tổng Thống Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan. Gần ngày nhập Bát Đại Niết Bàn Đức Tịnh Vương chứng minh cho Quan Công là Hộ Pháp và căn dặn:

“Sau này ông truyền cho các chùa nên thờ Quan Công vì ổng đi giúp mở cửa các chùa cho chúng sinh tu hành!”

Ngày xưa pháp tánh như thế nào thì nay cũng diễn y thời Ngài Khổng Minh thật khó nghĩ bàn. Nhóm Ngũ Hổ cũng nằm Bộ Trung Ương điều hành suốt lộ trình hành đạo của Ngài cho chúng sinh được tu hành. Đặc biệt chân tử Ngài đông và bên cạnh có khá nhiều con cháu Đề Bà Đạt Đa cũng tu nhưng lòng dạ đầy trắc ẩn, đầy tỵ hiềm, luôn tìm cách quấy nhiễu.

Đức Tịnh Vương còn cho ghi bốn câu thơ thể hiện chữ hiếu của Quan Công:

“Bất hiếu tử nạn tai khiên
Khổ hình sài giải bệnh tương truyền.
Oan hình lao ngục oai xiên phối
(đem ngục hình tới)
Thủy hỏa chi tai mạt khải liên.” (liên tục chuyện dữ mang tới)
–Quan Công

Về phương diện thần bí, dưới mắt Thiền Sư giải đáp thì khoa học, không chấp nhận vì họ đòi hỏi phải có hiện vật thí nghiệm cụ thể chứng minh nhưng dù cho có cụ thể chứng minh để giải đáp mà họ chưa có cặp mắt Thiền Định, chưa có trình độ Thiền Sư khó mà nhận được để chấp nhận.

Ví như khi Đức Tịnh Vương Chánh Giác Ngài nhớ tiền kiếp quá khứ, rất nhiều kiếp cả trăm ngàn năm về trước nay thấy đủ chuyện tương lai của nhân loại trên quả địa cầu này cùng của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, giờ này có nói ra càng thêm cải vả. Vài năm mới đây chuyện bảy hành tinh cùng hiện một lúc mà báo chí đã đăng tin, thế giới đâu có biết chính Đức Di Lạc đã thực hiện, dù có biết cũng không thỏa mãn cho họ được. Chỉ trừ họ quay về Việt Nam nguyên cứu, theo học Đông Phương, khám phá ngay chính thân mạng họ, may ra mới thỏa mản được mà giao cảm đồng thể với vũ trụ, với Thượng Đế như trong Hịch chứng minh, Ngài quả quyết có thế giới vô hình hằng hà sa số trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giơi trong khi đó khoa học tìm có vô số hành tinh nhưng lại không tìm ra được sự sống của các sinh vật mà chỉ mắt Thiền Sư mới thấy.

Vì sao? Vì Thiền Sư luôn hướng thượng nhờ ý thức thi hành trong cuộc sống điều ngự tánh tình, kết quả trở thành Siêu Nhân, Thánh Triết, nhận thấy cái gì cũng chân thật, ngoài ra còn cá tánh lấy cái học để nghiên cứu khó mà thấy đặng.

Vua Lý Thế Dân. Đời nhà Đường ở Trung Hoa Vua Lý Thế Dân chính là Bồ Tát Di Lạc trong lúc đó hóa thân Tôn Giả Mục Kiền Liên chính là Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh từ Trung Hoa đến Ấn Độ. Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di lạc khai thị tôi nghe như vầy:

Vua Lý Thế Dân

“Bồ Tát được đích Bất thối tuyệt đỉnh, bậc này an nhiên không còn ái nhiễm, bước ra đi dạo khắp các cảnh giới. Lễ bái Đức A Di Đà Phật, một là an trú tịnh độ hai là phát Đại nguyện lai trần.
Nếu lai trần xuống đặng làm Vua minh chánh, làm lãnh tụ cứu nước, cứu an dân lành, giải khổ ách nô lệ. Bậc này dù tái sanh nơi nào trong lục đạo cũng đặng làm thủ lãnh cứu nguy, chớ không bao giờ làm thường dân cả. Vì sao phải làm vua hoặc làm lãnh tụ? Vì có làm vua hay làm lãnh tụ sau này mới có trang nghiêm quốc độ thành Phật, trước tiên làm chủ giúp dân, sau làm chủ vũ trụ, đó chính là lẽ đương nhiên nó phải như thế.”
–T.V.

Ngài còn dạy: Làm vua để đào tạo tài có Tài mới có Trí. Đức do tu tập nhiều kiếp đã có sẵn. Nay có trí được Đức trí tương song. Bậc tu thực hiện được Siêu Thiện mới có đức lớn như biển cả. Trí Vô Thượng Đẳng là trí không ai địch nổi. Đức trí siêu việt như vậy là Phật.

Cho nên bậc này không hiền mà cũng chẳng dữ. Không thiện mà cũng chẳng ác. Chỉ thực hiện đúng pháp vô sanh trở thành bất tử, nó phải như vậy.

Bậc Thánh Hiền chỉ đi có một mặt phải, còn mặt trái của đời không đủ tài nên dể bị chết mà không oán, lại đem tình thương ban cho họ nữa. Pháp này không có Chánh Giác cũng không có Vô Thượng Đẳng Trí, chỉ có trí Thánh Hiền đến giác ngộ là cùng. Bậc giác ngộ rốt ráo tức Chánh Giác, bậc này phải chờ diện kiến Đức Đại Lực Di Lạc thành Phật thử thách, kiểm tra rồi chứng minh mới được nhập thể.

Như Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã từng chứng minh Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Di Lạc Bồ Tát... Thời hạ kiếp này cũng vậy, Đức Di Lạc đã khai mở Long Hoa 37 năm mà những vị tự xưng Chánh Giác không vào diện kiến để chứng minh, dù có xưng Phật cũng không phải Phật thật vì chưa đủ công năng công đức mà xưng bị kẹt ở Phật Giới thật tai hại vô lượng kiếp. Bởi vậy bậc tín tâm biết rằng, mỗi khi Đức Di Lạc lai trần đều có tất cả các vị Tổ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật theo tu học ở quanh Ngài.

Vua Thế Dân và
Ngài Huyền Trang.

Như đời nhà Đường ở bên Tàu, vua Lý Thế Dân ra đời chính là Bồ Tát Di Lạc thì có Tôn giả Mục Kiền Liên hóa thân là Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh. Một điểm đặc biệt mà bậc tín tâm cần lưu tâm là trước khi viên tịch, chân tử của Pháp sư Huyền Trang tên là Phổ Quang và những người khác có hỏi “Thầy có chắc được tái sinh lên cõi Trời Đâu Suất không?

– Pháp sư trả lời: “Chắc chắn như vậy” Rồi Pháp sư nói “Nhục thân độc địa này của Huyền Trang thật đáng nhàm chán. Nay công việc đã xong, tôi quả không nên lưu lại ở đây nữa. Tôi xin hồi hướng tất cả công đức và tri thức của tôi cho tất cả chúng sinh, cầu mong tất cả chúng ta sẽ được sinh lên cõi trời Đâu Suất theo học Bồ Tát Di Lạc và phụng sự Ngài. Khi Đức Phật lại xuống trần, chúng ta cầu mong sẽ được xuống lại cùng với Ngài để tiến hành Phật sự cho đến khi chúng ta đạt được mục đích Tối Thượng”

Sau khi nói lời từ biệt ấy, Pháp Sư lại Thiền định. Đoạn Ngài đọc lên một bài kệ tán Phật Di Lạc và lập nguyện được tái sinh lên cõi Trời Đâu Suất. Nói xong hơi thở Ngài yếu dần và Ngài tịch một cách bình an. Da Ngài vẫn hồng hào và sắc mặt Ngài hoan hỷ. Trong bảy ngày nét mặt của Ngài vẫn không đổi và nhục thân không thoát ra mùi gì khó chịu. Lúc bây giờ là năm 664 tức là thế kỷ thứ bảy.

Lời thệ nguyện này, nay là thế kỷ thứ 20, đã được trả lời hùng hồn nhất, chân thật nhất được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã chứng minh. Thế mới xác minh sanh tử luân hồi là có thật. Đức Di Lạc Hạ Lai kỳ này ở vào hậu bán thế kỷ thứ 20. Ngài hiện cư sĩ. Trần Huyền Trang cũng hiện cư sĩ. Chư Tổ thời Đức Phật Thích Ca cũng hiện diện đầy đủ với hạnh cư sĩ tại gia. Tất cả đều có gia đình, vợ, con làm tất cả các ngành nghề trong xã hội miền nam Việt Nam.

Nay đã hội tề đông đủ, theo tu học Đức Di Lạc. Trong đó Trần Huyền Trang với hóa thân mới, tên mới của kiếp này đã được Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc chọn đứng đầu Bộ Trung Ương, tiến hành Phật sự suốt lộ trình hành đạo của Ngài ở thế giới này. Ông cũng chịu muôn vàn gian nan, khắc nghiệt của thời mạt kiếp còn hơn thời đi thỉnh kinh nữa. Có rất nhiều chân tử Ngài Tịnh Vương đồng tu với Huyền Trang đã tìm đủ cách xô, lật, đập đổ... đủ hình thức nhưng họ không đủ trí bát nhả nên đã nhiều đợt bị thất bại.

Thật hy hữu thay lời nguyện xưa ở thế kỷ thứ bảy đã được thể hiện đúng vẹn vừa ở thế kỷ 20 này, thế kỷ nguyên tử mà Đức Di Lạc đã hiện thân. Ngày nay đã được giải có đáp số đúng.

Một lần nữa: “Khi Đức Di Lạc xuống trần chúng ta cầu mong sẽ được xuống lại cùng với Ngài để tiến hành Phật sự cho đến khi chúng ta đã đạt được mục đích Tối Thượng” đã được thực hiện và đã đạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, duy nhất được Đức Di Lạc ban hành Hịch vào hàng Bồ Tát Ma Ha Tát trong Đại lễ 30 tháng 9 năm 1989.

Thế mới biết bậc tu hành thành thật tâm và thiết tha tâm đều được Chư Phật mười phương gia hộ chứng minh không có sai chạy. Giả sử nếu thời pháp sư Huyền Trang không được sanh về cõi Trời Đâu Suất như đã hạnh nguyện, sao ta thấy kỳ hạ lai này Đức Di Lạc hiện cư sĩ ở tại gia, Huyền Trang cũng hiện cư sĩ tại gia và gặp nhau kiếp cuối thành Phật của Đức Di Lạc. Huyền Trang cũng đã phụng sự đúng nguyện và đã thành công. Kiếp nào Chư Tổ cũng xuất gia nhưng khi Đức Di Lạc sống tại gia là tất cả cũng tại gia. Do đó chúng ta phải biết rằng đã có sắp xếp của Ngài trước khi lai trần và đã hội tề với nhau trước là chuyện chắc chắn.

Vào hậu bán thế kỷ thứ 11, Tôn giả Mục Kiền Liên lai sinh ở Tây Tạng là một La Ma Milarepa có lịch sử ghi chép cuốn "Milarepa Con Người Siêu Việt". Lúc đó Đức Di Lạc là Thầy dạy đạo cho Milarepa. Bao nhiêu kiếp hạnh nguyện năng động thuộc phẩm Bất Khả Tư Nghì, chờ đến thời Hạ Lai này mới được chứng minh là cả một chuổi dài qua nhiều kiếp tinh tấn không ngừng, không mệt mỏi, cùng sự chịu đựng vạn pháp diễn hành có lắm lúc kiệt sức. Nhiều bậc chạy dài trong thời mạt pháp này, không chịu đựng nổi phải quay lại vào chùa, vào cốc, trốn không gặp vạn pháp diễn hành ở thế gian!

Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị: Chân tử của Ngài hàng hàng lớp lớp hiện nay, người nào thấp nhất cũng làm quan ở triều đình còn thì Đại Thần của Ngài thời Khổng Minh và thời vua Lý Thế Dân đời Đường nay đều phát tâm tu hành. Thế mới xác nhận được nhân duyên đã cao dày nay mới tái hợp được./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA – GIỚI THIỆU

Giới Thiệu

Hoá thân ĐỨC TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
chính là ĐỨC VÔ THƯỢNG DI LẠC TÔN PHẬT
Hạ Lai trần thế 1918 – 1993
Thế danh TỪ THẾ THỌ
CHỨNG MINH VŨ TRỤ THỜI MẠT KIẾP
 
 

Kinh ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

Lộ trình chỉnh trang Phật Đạo của
Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật thời Mạt Kiếp
 
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: TỪ Đâu Ta Đến
Chương III: THỊ Hiện Cư Nhân
Chương IV: DI Truyền Bảo Pháp
Chương V: LẠC Quốc An Khương
Chương VI: TÔN Giả Cúng Dường
Chương VII: PHẬT Vương Minh Chứng

 Chúng con thành kính nguyện cầu Đức Thế Tôn Di Lạc cùng Như Lai Phật Mười Phương minh chứng.

 Chúng con nguyện cầu Nhân Sinh cùng các Cõi Chí Dũng phát tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát, Giải thoát rốt ráo để thoát khỏi sanh tử luân hồi, vì có về cõi Trời, cõi Thiên hay Thần vẫn còn sanh tử luân hồi.

 Chúng con nguyện cầu Chư Phật Mười Phương tiếp dẫn Cứu Độ song thân con cùng Cửu Huyền Thất Tổ kiếp này trở về sau phát tâm tu hành theo con đường Tri Kiến Giải Thoát đặng thoát sanh tử luân hồi.

Phần Tác Giả

Thiền Sư Bồ Tát Di Như Chân Phật Tử Truyền Thừa

* Trong quyển Đức Di Lạc và Long Hoa này, tôi không đủ phương tiện để diễn đạt hết những gì mà ĐỨC THẾ TÔN DI LẠC đã khai thị trong suốt lộ trình Chỉnh Trang Phật Đạo, Tận Độ Hạ Lai của Ngài tính đến năm 1993. Chỉ hóa giải tự mãn lý chướng, nghi chấp để diện kiến may ra mới có thể thỏa mãn được phần nào về Chân Nguyên, Tâm Ấn Như Lai Thiền mà thôi.

* Tứ Chúng Pháp Tạng Phật Giáo Hải ngoại Hoa Kỳ và Vương Quốc Anh, Ấn Hành Phổ Truyền. Nguyện Hồi Hướng Công Đức tu hành TRI KIẾN GIẢI THOÁT cho tất cả Chúng Sanh cùng Thánh Chúng được sống trong Ân Đức TỪ THỊ của Phật Nhãn Phổ Chiếu giữa thời ĐƯƠNG SANH HẠ LAI.

 

 Hỡi Người Chân tử Phật Đà
 Nghìn năm Pháp Tạng trổ hoa một lần

–Tịnh Vương 

NAM MÔ DI LẠC TÔN PHẬT
HẠ LAI TẬN ĐỘ

Phụng ghi tại Sài Gòn Mùa Vu Lan năm 1995
Tức ngày 14 tháng 7 Âm lịch năm Ất Hợi

Hóa Thân DI NHƯ
Đại Hiếu Đại Trung
Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát
HẠ SANH ĐỒNG ĐỘ

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến

CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng