57. Trung Đạo Tôn

“Kẻ ngu xuẩn nhất chính Ta, kẻ hư vọng tham cầu mang Phật Đạo vào con đường lệch lạc mà công nhận tu cầu giải thoát môn. Ta hiếu kỳ lựa chọn một trong hai điểm Thanh–Thô, Thiện–Ác. Ta ngỡ rằng Thanh là Phật Đạo. Thiện tạo giác chân tu lấy một chiều, còn một hướng Ta đành vứt bỏ, may mắn thay nếu Ta huân tập nung đúc thiện căn, Ta phải lầm tu nơi phước báo. Bằng thâu nhận thanh hương có lẽ lúc hình thành sa vào Tiên Đạo thì sao?” –T.V.

Ngài tự xét mình để nhắc nhở căn bệnh lầm lẫn của bậc tu cầu Tri Kiến Giải Thoát có quan niệm chọn Thanh là điều tốt lành, hành động dịu dàng ai cũng ưa thích. Bậc chọn Thanh phải bỏ Thô tức cái không ưa thích, cái xấu. Cũng có bậc quan niệm chọn thiện, ghét ác rồi cho thanh, thiện là Phật Đạo. Tất cả quan niệm trên của đa số bậc tu đều không tỏ rỏ được con đường Trung Đạo vì bị lệch một chiều theo ý muốn đã qui định sẵn nên không sao đi đúng Giải Thoát Môn, lạc vào Tiên Đạo.

“Tuyệt tác thay. Hôm nay Ta mới thâu nhận con đường Trung Đạo Tôn chính một con đường duy nhất, thâu nhận tất cả hai bên Thiện Ác, Có Không mới tu đạt tuyệt đối thoát khỏi tương sanh mới điều hòa không chênh lệch. Té ra Phật Đạo tâm chí dung thông, tương đối chốn lầm than, tuyệt đối nơi giải thoát lành mạnh khỏi dị phân nào ngăn cách dị biệt.” –T.V.

Con đường Trung Đạo rất cần thiết để bậc thật tâm tu giải quyết vạn pháp đúng nhất, hợp lý nhất, thích đáng nhất trong đời sống hiện tại, tỏ thông Đạo Đời hợp nhất. Nó là con đường tuyệt đối đưa đến hoàn mỹ thành đạt quả vị tu chứng.

Hóa giải vạn pháp một chiều, còn mắc miếu ở tương đối, sẽ không thông. Câu chuyện sau đây chỉ rõ con đường Trung Đạo đáng ghi nhớ cho việc hóa giải vạn pháp.

Một hôm Đức Long Hoa Tăng Chủ muốn có bức tranh “Đức Di Lạc đang tháo đãy”. Ngài bảo tôi thực hiện. Khi vào Sài Gòn tôi tìm họa sĩ nói ý nghĩa, họa sĩ vẽ rất công phu cả tháng mới xong. Tôi mang ra Nha Trang lòng vui mừng vì đã thực hiện được một công đức làm cho Ngài thích, chủ yếu tỏ tâm nhiệt thành đạo. Bức tranh đã được treo lên ai cũng khen đẹp. Chừng 30 phút sau ông Pháp Dung cũng mang ra một bức tranh “Đức Di Lạc đang tháo đãy”. Thì ra cùng một lúc Ngài bảo tôi lại cũng bảo ông Pháp Dung vẽ nữa. Khi treo lên Ngài bảo:

"Tranh ông Pháp Dung vẽ đẹp hơn. Vậy làm sao đây Pháp Khả?"

Tôi liền kiểm soi có buồn, có tức giận, có khổ tâm không. Nhưng những chủng tánh này không còn hiện trong tôi nên tôi thưa: Bức tranh Pháp Dung đẹp nên giữ, còn tranh con nên đốt.

Ngài làm thinh, chừng 15 phút sau Ngài hỏi lại –Tôi thưa nên đốt vì để hai bức tranh cùng một nội dung tại Trung Ương mai sau không nhất trí. Khoảng một giờ sau từ tịnh thất Ngài vào chánh điện hỏi tôi một lần nữa. Tôi vẫn thưa với lòng trong sạch không có một khởi vọng giận hờn. Ngài cho đốt. Tôi hoan hỷ mừng vì còn một bức duy nhất làm mẫu.

Đốt xong Ngài bảo: “Tôi chứng minh cho ông vào được con đường Trung Đạo Tôn.”

“Nơi kinh điển đường Trung Đạo mà Đức Thế Tôn đã ấn chỉ trong thời hiền kiếp, đường hướng chỉ đạo cho thính chúng phải thực hiện hai bên, phải hòa đồng tương đối mà sở đắc tuyệt đối mới mong Giác Ngộ. Nó cách xa bá thiên vạn triệu thế kỷ trước, nó gần nhất đối với thế kỷ hai mươi nầy, thế mà chính ta đã lầm lẫn, thời làm sao các bậc tu hành tránh khỏi sự lầm lẫn như ta.” –T.V.

Tỷ dụ trên cho thấy phải xem xét không thiên lệch bên nào, phải hòa đồng hai bên gọi là tương đối. Sau chọn một bức tranh tốt nhất bỏ cái kia đi gọi là tuyệt đối. Có vậy mới hợp lý, đúng đắn nhất. Lối giải quyết như vậy gọi là Trung Đạo Tôn, con đường đi đến Tri Kiến Giải Thoát.

Nếu không hóa giải đúng tức còn lầm lẫn. Trước khi Chánh Giác bậc nào cũng không tránh khỏi lầm lạc nhưng những bậc thiện chí cầu đạo đều hỷ xả không vì cá nhân cá tánh mới thông suốt hết lầm lạc. Rất ít bậc thật tâm cầu đạo Giác Ngộ nên cũng không tránh khỏi lạc lầm con đường Trung Đạo Tôn nhiều đời nhiều kiếp.

“Hay thay! Cao quí thay Chí Tôn Vô Thượng. Ngài chỉ đạo Trung Tôn, chớ nên bỏ lấy chung khắp sự lầm lạc tương đối, phải tương tranh, thiếu thừa sa đọa cùng điều đau khổ do nơi dị biệt cho nên bất đồng, do chỗ Có Không sanh ra tham vọng, do ganh tị phải hồ nghi, sự đen trắng trắng đen hai con đường sanh tử.” –T.V.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Ngài vẫn dạy con đường Trung Đạo Tôn, tương đối là pháp lầm lạc. Phải hòa đồng tương đối mà đi đến tuyệt đối. Đó là con đường Giác Ngộ. Bỏ–lấy, có–không, thiếu–thừa là tương đối sanh ra bất đồng, sanh ra tham vọng, hồ nghi. Đó là con đường sanh tử. Trong cuộc sống hằng ngày nếu chú tâm thực hành con đường Trung Đạo Tôn sẽ kết quả hoàn mỹ.

“Ta phải tu từng bước một, từ giai đoạn nầy đến giai đoạn nọ phải gìn giữ cho tròn, khi gặp bất tịnh lòng nơi ta hỷ xả. Đến một ngày nào chính Ta mới hay lời Chí Tôn nói: Từ Bi Hỷ Xả là mục tiêu nầy lòng Ta tự sanh Bác Ái đồng hóa nhân sinh.” –T.V.

Thực hiện được cho tròn chính là Trung Đạo Tôn. Từng pháp, từng pháp một bậc tu cần nhận định thực hiện đúng. Tịnh thường ưa thích, bất tịnh chê bai không hỷ xả sinh chướng đối thì làm sao có Từ Bi. Muốn có lòng Đại Từ Bi cứu chúng sanh, trước tiên: Từ là từ bỏ những tánh xấu, đố tật xấu. Bi có nghĩa là tròn, chỗ nào nó cũng lăn tới được. Khi con người sạch sẽ trơn liền chúng sanh tánh thì độ chúng sanh lúc đó mới hiệu quả. Đó là Từ Bi, Từ Bi có sẽ ý thức được Hỷ Xả. Từ đó tự phát sanh Bác Ái. Còn vướng mắc, còn chướng đối chưa có Từ Bi-Hỷ Xả được. Tịnh-Bất Tịnh dung thông nếu chưa thực hiện cũng chưa tỏ thấu Từ Bi Hỷ Xả.

“Tỏ thấu tánh chất mình mới thâu nhận được vũ trụ hư không Như Lai Nhãn Tạng, hòa hợp chung khắp tận tận ngọn ngành mà Chánh Giác.” –T.V.

Trong đời thiện ác đầy dẫy, hữu tướng cùng phi tướng khắp nơi, phải hòa hợp tỏ thấu đầy đủ chi tiết toàn chân toàn thiện hai nơi thuận nghịch, điều ngự khỏi lầm mê. Không chấp pháp mà tỏ thấu pháp đó là vào hư không, vào Như Lai Tạng thấy biết chung cùng gọi là Như Lai Nhãn Tạng thuộc không tướng vẫn thấy.

“Thiền sư suy ngẫm đến đây, Ngài bèn chỉnh đốn y áo, quay mặt hướng đông lễ bái bảy lần, Ngài âm thầm thưa gởi: Bạch Thế Tôn Vô Thượng, Ngài chính bậc Chí Tôn vuông tròn chung khắp, đồng đẳng bá thiên vạn triệu, bá thiên vạn hạnh, Vô Lượng Vô Biên Công Đức Phật về với Đẳng Đẳng Tôn Chánh Giác. Do đó, cho nên dưới mắt Phật thảy đều đồng đẳng Như Lai, vô phân biệt tính, vô thọ chủng lai, vô hoàn thể giác, vô xứ xứ trụ. Nay con xin kiểm chứng thừa lệnh thuyết minh, giúp đời này, đời sau nương Trung Đạo Tôn tu đoạt giác chân trùm khắp.” –T.V.

Sau khi thành Phật Quả, Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật hồi hướng cùng Chư Phật. Ngài thấu hiểu phải vô lượng công năng công đức sung mãn mới Chánh Giác. Dưới mắt Chư Phật đều là Như Lai Tối Thượng không còn một vi trần phân đối, cũng không còn tập nhiễm một chủng tử nào, cũng không còn thọ chấp Chánh Giác, lìa Chánh Định không trụ xứ nhưng đâu đâu cũng thị hiện Trung Đạo Tôn trùm khắp./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


56. Tư Tưởng Đại Diện Linh Hồn

“Do thế nào mà Tư Tưởng Đại Diện Linh Hồn. Vì tất cả nhân sinh tứ loài sống không ngoài tư tưởng. Tư tưởng là bá chủ hoàn cầu, cho đến Tam Thiên Đại Thiên thế giới chung khắp vũ trụ, nếu không nương theo tư tưởng thời không thể nào có cái sống. Tuy nhiên tư tưởng nó có sẵn sự lý vui buồn, sướng khổ, được mất, không thể nào mất hẳn tư tưởng làm nơi sống cho con người đặng.” –T.V.

Nhân sinh tứ loài sống trong tư tưởng không lúc nào dừng, nguời tu chú ý mới thấy nó di chuyển linh động, không ai làm chủ nó mới bị nó dắt đi sanh tử.

Tư tưởng do con người theo tập nhiễm mà thanh thô, rộng hẹp, thiện ác nên mới tiêu biểu cho sự tu chứng khác nhau như phàm nhân, trí thức qua Tiên Thần. Tư tưởng tạo ra vui buồn, sướng khổ chung khắp Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Bậc tu Thiền thấy rõ tư tưởng di chuyển khắp mười phương qua từng lớp lớp cốt để tỏ ngộ. Nó cũng dễ dàng làm cho Bậc tu lầm tưởng mà thọ chấp, rồi tưởng mình thành ông nầy bà nọ. Rất nhiều trường hợp xảy ra bị lầm nhận không được gặp Bậc thật biết khai ngộ cho nên cứ lấy cái tưởng sống trong Loạn tưởng tu đến thành tựu liền bị An Trụ.

“Nói đến dòng tư tưởng, thường tư tưởng là tư tưởng, còn linh hồn là linh hồn, chớ chẳng có thể nói tư tưởng là linh hồn đặng. Khi dòng tư tưởng phát huy có hệ thống, sáng suốt gọi nó là trí tuệ, chập chờn đen tối, lầm lẫn cho nó là ngu xuẩn thành thử mới có trình độ, chia ra giai cấp, cấp nào dùng tư tưởng theo giai cấp đó, trình độ đạo đức hay phi đạo đức thảy đều sử dụng, tuân hành tư tưởng của mình mà phát hiện, thật khó mang tư tưởng của giai cấp này sang trình độ kia mà sử dụng, chỉ trừ ra tâm chí bản năng của mỗi người, tự chính mình phải cấu tạo, huân tập một thời gian làm cho tư tưởng lành mạnh mới sử dụng được mà thôi, bằng cố ép giúp đỡ trong khuôn khổ nào chăng vẫn đều là kém phần kết quả như ý đặng.

Vì sao? Vì mỗi một tư tưởng, nó có một bản chất độc lập nơi nó, duy chỉ có con người đang mang chỗ cố định tự giải tỏa là xong.” –T.V.

Tư tưởng tạo nghiệp thức, ai là chúng sanh không sao thoát khỏi nó, nó là nguồn mê đưa nhân sinh tứ loài thọ chấp dừng trụ. Nếu Bậc tu hành Đạo hạnh vẫn bị chấp, nếu tu trí tuệ phá chấp vẫn bị chấp. Hai lối vẫn không thoát sinh được Nghiệp Thức. Nếu Tọa Thiền Xuất Định để an trụ nơi Thiền Định, vẫn không thoát khỏi Nghiệp Thức. Nhiều Bậc lầm nơi an trụ không biết làm sao phá vô minh. Thực tế khi Đức Long Hoa Tăng Chủ chỉ đạo hàng Tôn Giả, A La Hán, Tiên Thần đang hiện diện trong Long Hoa Hội Thượng, tất cả đều thấy, đều nhận định được tu phải giải nghiệp nhưng đến phần thực hành giải nghiệp ai ai cũng thấy khó khăn, quá ư khó khăn thoát sinh nơi hữu hoá của tư tưởng.

Từ đó mới có tu chứng cao thấp khác nhau, mới có sự chứng minh, không chứng minh cho nhiều Bậc tu quanh Ngài. Vì sự hệ trọng và ích lợi của tư tưởng như thế nên Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật căn dặn Đức Trí Tương Song. Tư tưởng có ý thức tạo được đạo đức là Pháp Định. Còn tư tưởng ở vị trí Thần Thức phát Huệ chính Pháp Thân. Gặp Ngài chỉ rành mạch như vậy nên khi bước từ Đại Thừa vào Nhất Thừa đa số hiểu nhưng không thực hành được. Do tư tưởng chứa nhóm tạo thành TÁNH. Cùng lắm là sửa Tánh nơi Đại Thừa chớ vào tư tưởng đi quan sát tỷ mỷ Long Mạch Pháp Thân thuộc Nhất Thừa đa số không theo kịp nên Ngài dừng cho họ. Một đời Phật nay lại một đời Phật ở thế kỷ này thật dài. Hàng Thánh Chúng hầu hết tỏ Đại Thừa còn thành tựu Phật Thừa thì còn xa, như vậy thử hỏi lấy lý trí nhận định làm sao tỏ tường được.

Vì vậy khó mang tư tưởng an trụ của giai cấp này sang giai cấp khác được là như vậy. Do đó mà gặp Phật, bậc tu hàng Thánh Chúng không tự nguyện cao độ cũng không ép được dù lòng Đại Bi, Đại Chí, Đại Dũng của Chư Phật đã sẵn.

“Phật đạo không công nhận Linh Hồn, chỉ chấp nhận tư tưởng lầm lạc, vọng khởi đảo điên, nếu tư tưởng trừ tưởng buông lung gọi là Loạn Tưởng. Từ nơi toàn diện lầm lạc, đảo điên không kiểm chứng tư tưởng của bản thân mình, mong cầu loạn tưởng trở thành nơi chân thật, chẳng bao giờ đến chân thật, thành thử mới có chỗ giả tạo. Nếu tư tưởng giả tạo thì sự việc phải thay đổi, đổi thay theo nhịp nhàng tư tưởng khẳng định, trở thành nơi mức sống tạm bợ của tứ loài nói chung, nhân sinh nói riêng từng cảnh giới đều sanh tử luân hồi thay đổi. Do Phật nói vạn pháp như huyễn hóa. Đời là một giấc mơ, phải tu cầu giải thoát nơi mơ vọng về với Chân Tôn chứng trụ.” –T.V.

Chư Phật viên minh trùm khắp tư tưởng lầm lạc của Chúng Sanh. Chúng sanh lầm theo vọng tưởng làm tâm sống trong vọng tưởng cô động. Thật tuyệt diệu thay, Đấng Chí Tôn A Di Đà ban hành Vãng Sanh tư tưởng, làm cho chúng sanh từ nơi tư tưởng động vọng tối đen, trở thành sáng tưởng về Tịnh Độ. Đúng đường Tịnh Độ của Chư Phật cũng không phải dễ, đừng nên quan niệm tu Tịnh Độ dễ nhất, vì lầm cho là dễ dàng, bị tưởng không tỏ rõ đuợc vòng đai sanh tử nơi tư tưởng.

Bậc tu trên con đường giải thoát phải nhận được tư tưởng nó có hàng hàng lớp lớp diễn mãi không ngừng, nhiều vô tận vô biên như cát sông Hằng, mỗi hạt cát là một khởi tư tưởng, một tư tưởng là một chủng tử khác nhau. Nếu Bậc tu an trụ quan niệm mình phải lãnh lấy một hạt cát mà hưởng. Đại Bồ Tát, Bồ Tát biết sử dụng từng chủng chủng làm pháp giới cơ bản tu hành nên nó biến thành hạt giống Như Lai vô cùng hữu dụng, thấu đạt được thì nó trực thuộc Đại Ngã kiến diện Như Lai phá tan lầm lạc đưa về Siêu Đẳng Chánh Giác. Do đó hàng Đại Bồ Tát rất thận trọng thệ nguyện Như Lai vô biên thề nguyện sự. Phật Pháp vô biên thề nguyện học. Còn Bậc tu phát nguyện cho có là chuyện khác vì câu này nghe thường quá!

Vì lầm lạc nơi tư tưởng thành loạn tưởng, vọng tưởng nên chúng sanh phải bị sống giả tạm gọi là Vạn Pháp Như Huyễn trở thành đời là giấc mơ. Do đó Chư Phật mới khai ngộ con đường Giải Thoát Sanh Tử. Vậy Bậc tu sao lại không cầu Giải Thoát! Bất kể tôn giáo nào cũng cần Giải thoát sanh tử, có về cõi Trời hết kiếp cũng chết rồi lại bị sanh tử không vĩnh cửu thoải mái an lành đuợc.

“Bản Ngã giả tưởng chính nó là Đại Diện Linh Hồn của chúng sanh Âm u theo giả tưởng mà phải lìa bỏ Chân Giác chưa về nơi Bát Đại. Bát Đại Linh Hồn bất biến thường còn vậy.

Sự thừa nhận làm cho chúng sanh giai thành Phật đạo, nên chi Chư Phật mới khuyến khích Chư Vị Bồ Tát Hạnh-nguyện độ sanh, Hành-nguyện thâm nhập pháp giới cùng tu cầu Bát Nhã, đặng trọn lãnh thừa hưởng Bát Nhã Trí an vui Cực Lạc, khỏi vòng tư tưởng giả tưởng, làm chủ thân mạng, làm chủ vạn pháp, tường tận Chánh Giác.” –T.V.

Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác như Ngài đã tận từ chỉ đạo Bồ Tát nên chi Bậc này tận dụng ngôn ngữ thuyết giải theo Bậc tu sao cho phù hợp mà dìu dắt chúng sanh. Hàng Bồ Tát nương tư tưởng nhiếp thâu từng lớp lớp tư tưởng giả tưởng của chúng sanh lầm lạc sanh tử mà thấu đạt Bát Nhã Trí thoát khỏi vòng đai tư tưởng giả tưởng làm chủ thân mạng, làm chủ vạn pháp, thấu đạt Chánh Giác. Chừng đó mới tiếp tục hành nguyện hạnh nguyện thâm nhập cho đến khi tận thành Bát Đại Linh Hồn bất biến thường còn mới thành Phật.

Khó khăn như vậy mà nhiều vị Phật giới lầm chấp cho mình đã thành Phật như thời Hạ Kiếp Ngài đã chứng kiến thật không sao kể và tính đếm cho hết được.

“Khi Bồ Tát tận dụng Đạo Hạnh Không, cũng chưa đủ trên con đường tu cầu giải thoát vọng mơ. Đạo hạnh phải kèm theo Chí nguyện, mới gọi là Bồ Tát trọn vẹn Hạnh Nguyện. Bằng đạo Hạnh đứng yên, Đạo Hạnh gìn giữ củng cố thời trở thành tượng gỗ chồi khô, sống trong tư tưởng thọ Ngã rỗng không khoảng cách. Bồ Tát có chí nguyện chính là Bồ Tát Hạnh đã từng hướng thượng. Bồ Tát Hạnh chưa chí nguyện là hàng Bồ Tát giả danh củng cố tư tưởng, chưa bao giờ khai thác tư tưởng nơi mình để sáng soi chung khắp mà tự ngộ.” –T.V.

Thường thường Bồ Tát Hạnh củng cố Đạo hạnh được tất cả ưa thích nên khi gặp pháp bất tịnh, gay cấn khó khăn phải qua khúc eo, Bậc này thường nản chí. Vì vậy cần phát Đại Nguyện bền chí để thấu đạt sâu con đường giải thoát rốt ráo. Có như vậy mới hạnh nguyện được trọn vẹn, thấu đạt từng lớp lớp chúng sanh, đuợc Tịnh Bất Tịnh dung thông với mục đích thề nguyện sự cúng dường Như Lai. Bồ Tát được sạch sẽ không còn tập nhiễm, được Vô Ngại Tự Tại, Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo. Đại Bồ Tát được tự tại không còn mảy may ô nhiễm sự việc mình đang hành thâm pháp giới, duy nhất cầu sở đắc thấu suốt chung khắp dù cho hàng Nhị Thừa không chứng tri được Bồ Tát cũng hành sự, kiến sự đặng Tổng Trì Đà La Ni Tạng mà chung cùng Như Lai, nhập nơi Chánh Định Tam Muội đặng chờ đến dịp Chư Phật thọ ký thành PHẬT.

Khi thâm nhập Pháp giới có bị nguyền rủa Bồ Tát vẫn hướng thượng vì đó là Bồ Tát Tánh rất cần thiết phải thực hiện.

“Vì lầm mê chung khắp thọ Ngã nhận lãnh, mỗi một khía cạnh tư tưởng làm chốn an trụ trở thành chúng sanh giới hạn. Phần Đại Diện phải linh động dung thông từ Tịnh đến Bất Tịnh đâu đâu vốn thuyên diễn chẳng thiếu sót, cho nên tư tưởng mới làm chủ động Tam Thiên và Tam Thế Phật.

Nơi Tam Thế Chư Phật đồng nương bổn nguyện, tận độ chúng sanh rốt ráo mà Chánh Giác. Do đó mới có Chư Phật thị hiện, chúng sanh gặp Phật. Nơi thị hiện này là cương vị Hiện Thể của Chư Phật. Còn Hàng Bồ Tát lai trần nương thể mà hiện thời đặc trách qui chế thể hiện. Chư Phật Hiện Thể có thẩm quyền độc lập, chứng minh vũ trụ. Bồ Tát thể hiện cứu độ chúng sanh chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng. Vì vậy nên chi Chư Phật toàn chân toàn thiện Chánh Giác.” –T.V.

Tư tưởng Đại Diện Linh Hồn nên vốn sẵn linh động lại dung thông, đâu đâu nó cũng có từ nơi Tịnh-Bất Tịnh, nó làm chủ Tam Thiên Đại Thiên Thế giới và cả Tam Thế Phật. Chư Phật luôn Đại Từ Đại Bi, lúc nào cũng đồng bổn nguyện tận độ chúng sanh đến Chánh Giác như các Ngài. Vì vậy Chư Phật nương chúng sanh làm chủ khai đạo mới thấy biết từng Bổn lai pháp mà hiện thân tận độ chúng sanh thành Phật.

Còn Bồ Tát lai trần phải nương thể của Như Lai Phật đặc trách nhiệm vụ độ sanh theo đường lối Phật y Tôn chỉ không y Kinh cũng chẳng ly Kinh. Chư Phật làm chủ tất cả tư tưởng nên Chư Phật mới đủ quyền Phật Lực vô lượng vô biên, vô ngại, tư tại hiện đại phương tiện, đường lối an lạc cho chúng sanh. Như Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đã sắp đặt ổn định cho hai khối chung sống hòa bình. Dẹp nạn nguyên tử đe dọa nhân loại, chiến tranh hết đe dọa giữa hai khối làm nhân loại sống an ổn. Cuộc thế Ngài chứng minh an bài phân minh.

Nói không hết muôn ngàn ý, chính cái thế hiện nay của Trung Quốc và Việt Nam là Ngài đã an bài đổi mới nó là giao điểm cho Đông Phương và Tây Phương. Đừng nên nghĩ mình đã làm ra, sáng tạo ra vì đối với chúng sanh lãnh đạo, Chư Phật dùng Tam Muội Định đem đến quân minh thật khó nghĩ bàn. Lời nói kín nhiệm này trăm ngàn chân thật. Nếu ai am tường Tam Muội chỉ một nhẹ khẽ đã phải biết sự thật đúng đắn.

Nhìn đời Ngài đã ban hành Hịch Chứng Minh vũ trụ. Về Đạo Ngài lập lại tu có tôn ty trật tự theo y Tôn Chỉ Tam Thế Phật. Chư Bồ Tát, A La Hán được Chư Phật ban hành lệnh ấn ký, cứ theo thể của Chư Phật mà cứu độ chúng sanh. Bồ Tát không có làm gì ra khỏi quốc độ của Chư Phật được. Nhờ có hạnh nguyện mới tiến dần đến Phật Chánh Giác. Đạo Đời song toàn mới thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Khuyên ai xưng Phật hãy xem xét lại.

“Tư tưởng không lầm, thì Tạng thức nào đâu có lạc? Không lầm lạc thì viên minh Như Lai Kiến Diện, Kiến Diện Như Lai đồng một. Làm như thế, tu như vậy vẫn chưa đủ bổ sung, hiện thể tướng Bát Đại Niết Bàn. Vì sao? Vì Bát Đại phải trải qua Đại Bát, nhiếp thu tám đại tận tận rốt ráo hoàn toàn Chánh Giác. Thế nào là tám Đại?

  1. Địa Đại.
 2. Thủy Đại.

 3. Phong Đại.

 4. Hỏa Đại.

 5. Hư Không.

 6. Tạng Thức.

Trong 6 Đại này, Vũ Trụ chỉ có Tứ Đại: Đất Nước Gió Lửa. Ngoài Đất Nước Gió Lửa ra thì tứ loài có thêm hai Đại: Hư Không và Tạng Thức, thành thử tứ loài lai sanh làm chủ vũ trụ. Sự thừa hưởng của tứ loài nó không ngoài Chánh Báo và Thọ Báo nhịp nhàng nơi tư tưởng, vì như thế nên chi từ hàng Nhân Thiên dụng tư tưởng làm nơi tiến bộ, cho đến hàng Nhị Thừa phải tận dùng Định Tưởng mà sáng tạo Cõi Trời hay thành công các cơ sở chủ đích. Ngoài ra chỉ có ba cõi như Dục Giới – Sắc Giới và Vô Sắc Giới cùng các cõi Thiên Tiên thì ứng dụng Hư Không Tạng Thức được gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Phẩm lượng và chất độ nó tùy theo hàng hàng lớp lớp mà huân tập thành tựu.

Còn lại hai Đại, vượt tầm gọi là Như Lai Đại cùng Giác Tướng Đại, nên chi lúc không lầm, không lạc Kiến Diện Như Lai hay Như Lai Kiến Diện chớ chưa thành đạt Như Lai thì phải thấu đáo Hư Không tận tận thấu Đại Giác Tướng Phật.” –T.V.

Tư tưởng không lầm lạc thì Bồ Tát vào thể Như Lai gọi là Kiến Diện Như Lai, thấu đạt được Như Lai vốn dung thông viên minh. Hàng Bồ Tát đối diện nhận định được đâu đâu cũng Như Lai Kiến Diện trong tứ thời. Hàng Ma Ha Tát còn phải nhập thể sâu vào tám Đại của Như Lai mới rốt ráo hoàn toàn Chánh Giác. Chỉ Đức Bổn Sư nay là Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật mới hoàn tất Bát Đại mà vào Hư Không tận tận thấu Giác Tướng Phật.

Tứ loài bị tư tưởng điều hành, sáng tưởng được phước báo Nhân Thiên. Tối tưởng nó đưa đi Thọ Báo A Tu La, Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục. Biết dụng tư tưởng làm chủ thân tâm, làm chủ Tam Thiên thì được Chánh Báo. Hàng Bồ Tát thấu đạt biết dụng tư tưởng. Còn cấp dưới dù tu gì cũng bị nó điều động. Cho nên Chư Phật mới cho niệm Phật để sáng tưởng không còn bị thọ báo nhưng chúng sanh chưa Nhất Tâm vẫn bị sanh tử.

Hàng Bồ Tát Kiến Diện Như Lai nên lấy Như Lai Đại làm chỗ nương thân tu hành cho rốt ráo Giác Tướng Đại chờ Chư Phật thọ ký thành Phật.

Hàng Nhị Thừa cho đến hàng tu cầu phước báo Nhân Thiên thảy đều dụng tư tưởng làm nơi Định Tưởng. Nơi Định Tưởng nó có đầy đủ từng lớp mà thọ báo cảnh giới như Tiên Thần thì an trụ nơi thanh thoát thành hữu vi Niết bàn nhận lãnh Hư Không làm Có. Còn Bậc không tu cầu Chánh Báo sa vào Vô Dư Niết Bàn không Tri Kiến Phật hiện tại, không Giác Tướng Đại.

Chỉ Chư Phật được đầy đủ Bát Đại mới chu đáo khai thị cho Hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát nhận diện được Bát Đại. Hàng A La Hán chỉ khi nào không còn an trụ Phật Giới mới Kiến Diện Như Lai vào sâu Giác Tướng Đại. Thật khó khăn vô kể tất cả Tam Tạng Kinh, cho đến diệu dụng từ nơi lời nói, cử chỉ của Chư Phật đều là Khai Thị làm cho Tứ Chúng Ngộ Nhập, nhưng Tứ Chúng vì chủng tánh chủng nghiệp ngăn cản đủ hình thức tạo thành vô minh che khuất mà khó nhận lãnh được nên mới gọi là khó khăn.

Do nơi chúng sanh thờ ơ chưa Nhất Tâm nghiêm túc, chưa đầy đủ chí hướng ngang hàng với Bồ Tát thành chưa hợp hóa trưởng thành quả vị tu chứng.

Tự bản thân phải tự nâng mình cốt giải quyết thân mạng, giải quyết tư tưởng dụng nơi Hướng Thượng làm nơi sáng tưởng, viên minh khám phá Tạng Thức về với Chân Như. Tu như vậy, thực hiện như vậy làm gì có Nghiệp ngăn cản, kéo lôi.

Từ đó nhận được: Chính Như Lai không thuyết pháp mà chúng sanh cũng không nghe pháp. Chí Tôn giải: Phải chính ông không nghe pháp mà ta cũng không thuyết pháp. Tuyệt tác thay! Vi diệu thay! Đấng Chí Tôn Vô Thượng thị. Bằng Như Lai thuyết pháp, Tôn Giả tu Bồ Đề nghe pháp thời các pháp này thảy đều là các pháp hư dối, nhận lãnh tư tưởng giả tưởng làm thế nào, thọ trì Giác Tướng để tận tận hư không, qua bên kia Không Không tận Chánh Giác./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


55. Do Lầm Nên Hữu Hoá

“Bậc Đại Giác Chí Tôn, Ngài đã tường tận, cái MÊ không gốc mà trái lại có nguồn, vì chúng sanh Hữu Ngã mà gây ra, nên Ấn chỉ chúng sanh lìa Ngã, nương Vô Ngã tầm Đại Chơn, nương theo trăm sông lần về biển cả. Thiền Sư Ngài nói đến đây ra chìu suy gẫm liền tự thán: Khó khăn thay trên con đường vào Chánh Giác. Ta đã từng trải qua bao nỗi khúc eo vô cùng vô tận, nay đạt đến biển cả khó phân như thế nào cho tất cả đang vật vờ nơi cơn mơ chưa hồi tỉnh. Sức nơi Ta là sức Đại Dương, còn công năng chúng sanh khác nào bọt trôi theo cơn sóng gió.” –T.V.

Cái mê nó không có gốc vì nếu mê có gốc thì chẳng bao giờ tu Giác Ngộ. Trái lại cái mê nó có nguồn. Vì sao?

Vì duyên khởi sanh tâm đó là nguồn mê. Khi đã có TÂM SANH, Tâm nó liền có TÁNH đó là nguồn mê. Tánh ấy phải có THỨC đó là nguồn mê. Thức thì linh động di chuyển không ngừng, bởi Bậc tu hay kẻ chưa tu mong cho Thức ngừng an trụ mà trở thành Nghiệp. Đó chính là nguồn mê trong tứ thời lầm lẫn để thọ chấp làm chúng sanh giới. Bậc tu tỏ biết không thọ chấp, không an trụ sẽ được tu chứng từng cấp bậc cao thấp khác nhau rốt ráo hoặc chưa rốt ráo mà tỏ rõ được nguồn mê. Khi đã thấu đạt do nghiệp tạo nguồn Mê, phải hành thâm pháp giới cho đến thật chứng liền hết nguồn Mê. Thức đây là Thần Thức, Thần Thức là tư tưởng năng trụ chấp theo cái Ngã Sở của Ý Thức tạo thành Nghiệp.

Do đó mà Bậc tu cần tìm phương thức giải nghiệp hay tìm Bậc thấu đạt Bồ Tát Đạo chỉ bày Giải Nghiệp mới tu. Nghiệp thì nhiều vô kể gọi là trăm sông, nó có đủ chiều hướng, đủ khía cạnh quá ư khôn khéo, quá ư tinh vi. Nhiều Bậc tu còn Nghiệp thức lại không biết Nghiệp thức là gì nó liền gạt nói mình ông nọ bà kia thật lầm độc hại truyền kiếp. Giải Nghiệp sạch sẽ được về Chân Tôn gọi là về biển cả.

Khúc eo gọi là qua được hoàn cảnh khắc nghiệt, cứ giải bớt được Nghiệp bao nhiêu thì Trí Tuệ tăng trưởng thọ lãnh Bảo Pháp bấy nhiêu. Còn chúng sanh dụng công năng học từ chương, nghiên cứu mà không biết tu Giải Nghiệp cũng chẳng khác bọt nước trôi theo con sóng không đến đích Giác Ngộ được. Chịu đựng vượt qua vô số khúc eo gay cấn quá ư khó khăn gọi là sức Đại Dương thành Phật. Thấu đạt là Chư Bồ Tát.

“Ngài tự thán xong, Thiền Sư đưa Chánh Niệm giao cảm Chư Phật mười phương rung chuyển Tam Thế Chư Phật đồng thọ ký lời huyết tâm Thiền Sư cảm ứng. Đâu đó xong xuôi Thiền Sư giải nói: Nầy các Bậc Cố Tri Vĩ Nhân Đại Chí, tu cầu con đường song tu Hiện Giác, những vị này chưa bao giờ được gặp nay gặp với Ta, bất cứ một nơi nào đáng kể, miễn nhận chân minh thuyết thực hành đó chính là cố tri nay gặp gỡ. Bằng gặp gỡ đương thời, sống chung một mái, bê trễ ương hèn dù cho đọc tụng chăng vẫn chưa nhìn đặng Ta một ít nào cả. Thật phí thay, thật uổng thay trong một đời chưa gây tạo.” –T.V.

Bậc giải sạch nghiệp, một tư tưởng vừa khởi liền giao cảm mười phương Chư Phật. Đối với Bậc Chánh Giác như Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật, một khởi là một Chánh Niệm liền rung chuyển Tam Thế cảm ứng cùng Chư Phật.

Các Bậc Cố Tri Vĩ Nhân Đại Chí chính là các bậc Đại Bồ Tát đã từng thực hành, đã từng nương theo Thức di chuyển tức là Pháp di chuyển của Thần Thức. Bậc cao đạo Ý Thức có nghĩa là trụ vào Thức mà không thọ chấp. Đó chính là Bồ Tát Trụ mà Không Trụ. Có như vậy mới biết giải nguồn mê của Thức, Bậc sâu hơn như Đại Bồ Tát biết rốt ráo mạch lạc bổn lai của Thức tu đoạt thật sâu Tự Tánh Tỏ Tánh, chớ chẳng phải nương theo Thức mà an trụ thọ chấp nơi Thức. Nếu thọ chấp thì đương nhiên bị Chứng tu nơi mình chỉ tu đến đó mà thôi. Cần nương nơi Vô Ngã tìm Chân Ngã, đó là Bậc Cố Tri quá khứ nay gặp gỡ nơi Long Hoa nhận được lời minh thuyết thực hành.

Nơi Long Hoa đã hội tề đầy đủ Chư Tổ, Chư Tổ của Tiên Thần trong thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, nay lai sinh tại Việt Nam, đa số cấp A La Hán, Thinh Văn, Duyên Giác đang bị khúc eo khó gỡ của Thức, nếu thực hành Ngài mở tiếp, còn chỉ đọc tụng sẽ bị đứng yên dừng trụ bị lầm nên hữu hóa.

“Nầy các ông, các Bậc Cố Tri nay ta kể: Các vị cùng ta hãy nhìn nơi Hư Không Vô Tận, nhìn đến sơn hà sông núi đang chung sống cùng ta. Bản thân ta tìm phương Giác Ngộ, Tự Tánh nơi ta hóa giải chấp mê, diệt trừ Bản Ngã trên Lý Sự tu hành ta cùng các ông dẫm nát, nó mãi kéo dài, có từng vạn triệu kiếp người, kiếp Thiên Tiên hay thọ sanh vào các nơi cầm thú, thăng trầm làm quỉ làm ma không dứt. Do đó nên chi mới có Phật Thánh thường còn. Chúng sanh thường diễn, đến bao giờ chấm dứt giữa Phật với chúng sanh, tìm Ngộ bị Mê, ở nơi Mê thấy Ngộ. Lạ thay, đứng Thánh tự tăng, ở vào phàm sa đọa. Khó khăn thay tu Tịnh vướng Động tâm. Sửa sai lầm, sanh chứng tật.” –T.V.

Ngài nói với Bậc Cố Tri cốt để tâm sự với Bậc quyết tu cầu Chánh Giác thuộc hàng Bồ Tát. Hãy nhìn nơi Hư Không vô tận là nhìn nơi vạn pháp diễn cảnh đến đâu cũng không chấp, không chướng tâm trong sáng tỏ rõ pháp cũng như nhìn nơi sông núi bao la hùng vĩ để tâm rộng rãi bao dung không nên lấy một pháp mà thọ chấp. Lý và Sự cần thực hành thường ngày mới dẫm nát pháp giới, nếu không tu hình thức nào vẫn bị kéo dài hàng triệu triệu kiếp. Nếu giỏi Lý mà không biết rõ tác hại của thọ chủng nghiệp xấu dù là ông gì vừa tắt hơi thở liền thọ báo làm loài trâu, bò, ngựa… quá ư tai hại. Còn độc địa bị hiện thân ma, qủy, quái là đúng đường của họ. Cho nên Phật và chúng sanh xa cách nghìn trùng. Chúng sanh tu Tịnh bị sa vào Tịnh Biệt vẫn là Động tâm trụ nơi KHÔNG tai hại. Còn sửa sai lầm mà không tỏ Bổn Lai Nghiệp Thức vẫn mang chứng tật Tự Ngã quá lớn cũng còn cấu tịnh chưa phân minh. Nếu Bậc tu chưa giải sạch Nghiệp mà cho mình là Thánh bị Tăng thượng còn nhận mình là phàm phu không nhận biết được đang thọ nghiệp bị sa đọa là lẽ đương nhiên.

“Ngài nói: Tuyệt tác thay! Thiên nhiên sơn hà, cỏ cây, trời mây với Ta là một. Hợp hóa đồng thanh tương ứng hiện Giác. Thế mà con người ngỡ con người với cây cỏ núi sông là hai, thật sai lầm vô hạn.

Đức A Đề Cổ Phật lúc bấy giờ Ngài có sẵn thể tánh đồng đẳng với sơn hà vũ trụ nên chi thường nhập Chánh Định kiểm chứng bao quản cùng khắp. Ngài nói: Mắt nhìn thấy hư không, ta đặt thân mình vào tận Hư Không. Ta không còn thấy Hư Không mà tận thấu Hư Không là Giác Tướng. Ta ra vào vạn pháp, Ta không nhiễm trước, Ta chưa thấy vạn pháp diễn hóa ra sao, mà ta nhận thấy vạn pháp như nhiên diễn hóa, đó là ta thị chứng như nhiên thể tánh vạn pháp.” –T.V.

Một hôm, sau buổi vào Chánh Định Thiền Sư đã Trực Ngộ được những bí ẩn của vũ trụ. Viết về những điều này thấy nó đơn sơ nhưng xem xét kỹ thật thâm sâu, đầy vi diệu: Con người và tứ loài gồm Tứ Đại: Đất, Nước, Gió, Lửa kết hợp thành. Các loài thực vật, khoáng vật... cũng do Tứ Đại hợp hóa thành.

  Thực vật như cây cỏ... hàm chứa Tứ Đại.
 • Đất: Thân cây, cành, lá.
 • Nước: Bẻ cành hay vò lá thấy ướt.
 • Gió: Sự vận chuyển dưỡng chất chạy theo thân cành lá nuôi cây.
 • Lửa : nhiệt độ nóng lạnh của cây.

  Khoáng vật như đất đá... hàm chứa Tứ Đại.
 • Đất: chất đặc của tảng đá, viên đất.
 • Nước: khi nhúng vào nước nó ướt tức là có hàm chứa nước.
 • Gió: khi đập nó bể ra chứng tỏ nó có hàm chứa gió.
 • Lửa: khi ta đun nóng lên chứng tỏ nó hàm chứa lửa.

Sơn hà đại địa thuộc vật chất hàm chứa tinh thần: nếu ta lấy khúc cây, cục đất, đá tạo thành ông Phật, Thánh, Thần... cúng lạy, cầu xin sau thời gian cũng có linh ứng. Như vậy sơn hà đại địa cũng hàm chứa tinh thần, tánh linh. Điều này linh ứng tùy tánh và lòng thành của bậc cầu xin.

Do đó, dưới mắt Thiền Sư con người với sơn hà đại địa trời mây... tức vũ trụ là Một.

Con ngưòi có Cái Biết sau khi đủ cơ quan hợp hóa hình thành. Thảo mộc cũng có Cái Biết nó nuôi cây lớn lên, biết ra hoa, lá, quả. Nó cũng có tuổi thọ cao thấp tùy loài. Con người tuổi thọ cũng 70 hay 80 đến 100 tuổi là một kiếp. Còn đất đá nó cũng có Cái Biết tùy môi trường, tùy nhiệt độ mà nó sinh ra các sinh vật côn trùng đủ chủng loại trên trái đất. Trong nước cũng sinh ra vô số loài cá, sinh vật. Trong không khí cũng sinh ra vô số vi khuẩn. Tuyệt mỹ thay, thiên nhiên sơn hà, cây cỏ trời mây với ta là Một, hợp hóa đồng chất kết nạp mà hiện tương ứng.

Mắt nhìn thấy hư không có nghĩa nhìn thấy vạn pháp như nhiên diễn hóa chứ không phải do bàn tay ai tạo ra sơn hà đại địa. Ta hòa thân mình vào tận hư không có nghĩa ta đem hết thân tâm vào soi xét kỹ sự diễn hóa của sơn hà đại địa, cỏ cây, mây nước. Ta không còn thấy hư không mà tận thấu hư không. Có nghĩa tuy vào sơn hà đại địa biết như nhiên vạn pháp hợp hóa mà ta không thấy có ta, lại được tận thấu sự hợp hóa sinh ra vạn vật.

Đó là Giác Tướng vạn pháp, bổn lai của mỗi mỗi do hợp như thế nào nó hóa như thế ấy. Đến thật tận biết thì ta cũng chẳng có ta. Ta với thiên nhiên sơn hà, cây cỏ, trời mây là một. Từ đó ta chứng thị thể tánh vạn pháp như nhiên diễn hóa.

Sơn hà đại địa quả đất cỏ cây toàn diện như nhiên diễn hóa, sự diễn hóa này thuộc thể tánh như nhiên hóa, hồn nhiên tự hóa, nó hòa hợp với tất cả chúng sanh tứ loài cũng như nhiên diễn hóa không sai chạy./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


54. Đại Nguyện Xây Dựng Chúng Sanh Của Bồ Tát

“Bồ Tát Phổ Hiền nguyện: Giúp đỡ các Bậc tu hành về Tinh Tấn nguyện. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử nguyện: Giúp đỡ về Trí Tuệ nguyện. Thế Chí nguyện Tổng Trì Trí Hóa nguyện. Quán thế Âm nguyện Cứu Khổ Giải Ách nguyện. Còn tất cả chư Bồ Tát nguyện tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo nguyện. Khi bấy giờ Đông Độ phóng huỳnh huỳnh quang, bạch bạch quang nguyện cứu độ chúng sanh Trực Giác nguyện. Tây Độ A Di Đà Vãng Sanh Cực Lạc Quốc Độ nguyện. Tất cả Chư Thiên, Chư Tiên Thần Rồng Người chưa hề hay biết, làm sao các Bâc tu hành trong Tứ Chúng hiểu thấu sự việc Chư Phật đã làm, Chư Bồ Tát nguyện giúp đỡ chúng sanh thay lần bản chất, kiến tạo công năng.” –T.V.

Tất cả những Bậc tu cầu giải thoát, buổi ban đầu phải bước qua Độ Khổ Ách nên thường được Quán Thế Âm Bồ Tát giúp đỡ. Bậc tu giải khổ nơi thân tâm chính là Hạnh Quán Thế Âm Bồ Tát.

Lúc làm biếng tự ý thức vùng lên tinh tấn lướt qua vạn pháp chính là Hạnh Phổ Hiền nơi thân mạng đã đồng hợp. Có ứng đúng liền hiện. Lúc kiểm soi toàn thân tâm không còn chủng tánh chúng sanh là Bồ Tát Tánh hiện, Trí Huệ phát sanh nhạy bén Trực Giác thấu đáo là hạnh Đại Thế Chí. Lúc thuyết pháp chính mình nghe trước nhận định không còn trí hóa, trí sanh là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử nguyện.

Sự cứu độ của Chư Phật, Chư vị Thiên Tiên chưa bao giờ hay biết vì Chư Phật hiện Nhất thiết Sắc thân Tam Muội. Bậc chưa sở đắc Tam Muội không biết nổi nên Bậc tu còn tâm tánh chúng sanh không hề hay biết sự tận độ của Chư Phật thật là đúng.

“Xây dựng công năng và bản chất, Diện Mục nơi nó trực thuộc về chúng sanh Tứ Loài phải vươn mình xây dựng đối với Chư Phật, Chư Bồ Tát không thể xây dựng cho chúng sanh đặng, nên chi các Bậc tu hành dù cho tín tâm chưa chịu vươn mình lướt qua vạn pháp hoàn cảnh, chưa tự chính mình hóa giải mê lầm, nằm yên cầu vái thảy đều chưa đặng lấy một ngày tu.” –T.V.

Hàng Bồ Tát tu Bát Nhã Trí tổng trì Trí Hóa nguyện thấu đạt Giác Trí về Như Trí nên tứ thời đều niệm niệm hóa giải vạn pháp.

“Phật dạy Bồ Tát lìa Bản Ngã, không trụ mà trụ. Trụ mà không trụ, đó chính là ra vào hoàn cảnh tâm không quái ngại thọ pháp Đại Bi Tổng Trì bản chất. Nên chi có câu: Bồ Tát Vô Ngã nhiếp thâu về Đại Ngã Bát Đại. Còn chúng sanh hữu Ngã lầm mê." –T.V.

Không trụ mà trụ có nghĩa không chấp pháp nhưng biết sạch pháp. Tỷ như gặp chúng sanh mưu sĩ tôi không hành mưu sĩ nhưng tôi phải biết thấu đáo chủng tánh mưu sĩ tác hại như thế nào. Khi gặp họ tôi luôn biết cảnh giác nhưng không hiệp.

Trụ mà không trụ: Có nghĩa đang hành pháp giới soi biết tỏ tường nhưng đừng áp dụng không đúng lúc. Tỷ như khi còn Ngài khai dạy nghe thích quá đụng ai cũng giảng lại y theo lời Ngài làm cho Bậc không có bệnh học thêm nuốt vào sanh thêm bệnh. Sự khai thị của Ngài dạy cho hàng Bồ Tát phải không y Kinh mà không ly Kinh, áp dụng vạn pháp trong Tam Tạng Kinh Phật phải tỏ tường không trụ mà trụ, trụ mà không trụ.

“Bồ Tát thường đặt địa vị mình, cương vị mình hay thân mạng mình trong hoàn cảnh của chúng sanh, soi rõ, hiểu rõ, đồng biết rõ, để hóa giải cứu giúp chúng sanh không phân biệt lành dữ, tốt xấu, tịnh bất tịnh, làm cho chúng sanh được lợi, Bồ Tát không hổ thẹn vui mừng vì chúng sanh mà Bồ Tát gánh chịu, do đó nên chi Bồ Tát ra vào nhiều kiếp thọ lãnh pháp độ, nhiều tận độ chúng sanh mà Bồ Tát không có tội, chỉ có phước điền quá ư to lớn khó mà ai sánh kịp, mới gọi là Bồ Tát cúng dường Như Lai, làm cho Như Lai tán thán Bồ Tát, nên Bồ Tát sở đắc Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội.” –T.V.

Muốn thấu đạt chủng tánh Bồ Tát hàng Tôân Giả, Thánh Hiền năng thực hiện Vô Úy Thí để cúng dường Như Lai. Bồ Tát không quái ngại lành dữ, tốt xấu, tịnh bất tịnh làm cho chúng sanh thấy được cốt tận độ được chúng sanh tánh. Tâm được rỗng rang sở đắc tự tại. Có tự tại mới Tịnh Bất Tịnh, Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Kinh nghiệm cho biết phải hy sinh thật sự để tận độ chúng sanh tánh được Như Lai Phật khai mở ấn. Rất ít Bậc hành tự tại lại được sở đắc tự tại, chỉ thực hiện tự tại theo sở thích cá nhân. Có tu trong Long Hoa hội gặp Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc được thấu đáo pháp tự tại này.

“Tại sao con đường Duy Nhất Phật Thừa dễ nghe khó làm, hoặc giả dễ làm mà khó nghe? Vì công năng chưa đầy đủ theo từng lớp tu chứng nên chi dễ nghe mà khó làm. Bằng chưa thấu tầm quan trọng Chánh Báo, Thọ Báo trong Vô Lượng Nghĩa nên dễ làm theo dục vọng mà khó nghe lời Phật dạy.” –T.V.

Con đường Đại Thừa là hỷ xả, sửa, hóa giải chúng sanh tánh. Con đường Nhất Thừa gọi là Phật Thừa hoá giải sạch chúng sanh tánh, vận chuyển pháp cho đến thấu đạt nên nghe mau hiểu còn thực hiện chưa tròn, chưa kín, chi tiết chưa sạch Tướng Pháp như Chư Phật gọi là khó làm. Dễ làm mà khó nghe tức làm theo ý muốn chưa trơn liền như Chư Phật còn nằm trong nghiệp kiết sử nên nghe hiểu chưa tận, tự chủ chưa có làm đúng hoàn toàn như Chư Phật gọi là dễ làm mà khó nghe.

Hàng Bồ Tát lại nhìn nhận vạn pháp thuận nghịch, sướng khổ, bất luận hoàn cảnh nào chăng vẫn an nhiên không thấy hoàn cảnh. Vì sao?

“Vì Bồ Tát thâu nhận lấy Giác Tướng, tỏ pháp thành thử thoát sanh tâm không chướng ngại hoàn cảnh mà tự nguyện độ vạn pháp thuận nghịch đến chốn an lành, thâu nhận tỏ ngộ thôi. Về chủng tánh Phật không thấy chúng sanh, không thấy Bồ Tát, chỉ thấy tất cả thảy đều Đại Diện Như Lai Ứng hiện Như Lai, phẩm cúng dường Như Lai, bình đẳng Chư Phật. Do đó nên chi Chư Phật đối với chúng sanh quá gần, quá bình đẳng, quá an nhiên, quá thân cận, không thể nào dạy chúng sanh, không thể nào độ chúng sanh, duy chỉ có hàng Bồ Tát mới độ chúng sanh mà thôi.” –T.V.

Hàng Bồ Tát tu đến Giác Tướng vạn pháp mỗi mỗi đều Trực Giác thấy vạn pháp thuận nghịch, nghe thấy biết không lầm. Nhiều Bậc nói pháp rất hay nhưng pháp trước mặt không Tri Kiến được. Chủng tánh Phật Tánh chính là chủng tánh Như Lai. Bổn lai mỗi chủng tánh vốn nó như vậy, cần tỏ thấu mỗi chủng của nó mới dụng đúng thể tánh phẩm lượng, cùng trọng lượng mới hưởng Chân Lý. Chủng tánh Phật suốt suốt phân minh còn chủng tánh chúng sanh vọ vạy nên hai chủng tánh xa cách nhau hàng triệu do tuần không thấy nhau. Chủng Tánh Bồ Tát hướng thượng còn đang trên đường tận độ, đang tu tập pháp quân minh đến viên dung. Do đó, Chủng Tánh Phật đều có hàm chứa chủng Tánh Chúng Sanh nhưng không thấy chủng Tánh Chúng Sanh. Vì nếu còn thấy chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát là không phải Chủng Tánh Phật, chỉ thấy khắp đâu đâu cũng Như Lai Tánh hiện.

Phật với chúng sanh rất xa nhưng cũng rất gần. Xa vì chúng sanh bị nhiễm chẳng biết Phật. Còn Chư Phật từ chúng sanh tu thành nên biết tường tận chúng sanh. Biết từng lớp lớp không thiếu sót chủng nào có Bổn lai, có tác dụng của nó quá bình đẳng, nếu đem sử dụng phải bất bình đẳng từng lớp lớp. Quá an nhiên vì từ trong chúng sanh, biết rõ không lầm chúng sanh. Quá thân cận vì không chúng sanh làm cơ bản đâu có gì tu thành Phật. Không thể độ chúng sanh vì chúng sanh là chúng sanh, Phật là Phật đâu có lẫn lộn được nên không độ được. Chỉ tự chúng sanh đủ công đức,đủ hồi hướng có khả năng trực giác được thay đổi bản chất của Thánh, đến Bồ Tát mới đến Phật. Khi có Phật tánh mới hay chúng sanh là chúng sanh. Phật là Phật quá ư xa mà gần, gần mà xa. Thật tuyệt mỹ chỉ Chư Bồ Tát còn đang tu mới tự tại độ chúng sanh thôi.

Do hai chủng tánh Chúng Sanh và Phật có cách biệt nhau quá xa nên Phật ra đời chúng sanh không gặp được. Chỉ Bồ Tát trên đường Hạnh nguyện, Hành nguyện mới độ chúng sanh thôi. Giả sử có gặp đặng Phật cũng không nghe được lời Phật. Chỉ Bậc tâm chí hướng thượng như Bồ Tát, tâm chí lìa Ngã sống trong biển Như Lai chứ không sống trong Phật Pháp dù chưa phải Bồ Tát vẫn được gặp. Hầu hết chúng sanh chỉ gặp Phật qua hình tranh, tượng cốt gỗ, xi măng... chiêm ngưỡng tin cầu thôi. Chỉ Bậc Giác Tướng nghe khẽ cũng nhận ra Phật thị hiện bằng thân tứ đại như chúng sanh mà khác chúng sanh.

Tuyệt mỹ thay Mê với Ngộ, Phật và Chúng Sanh.

“Tinh tấn là một pháp môn toàn diện cho ba căn, từ hàng Tiểu Căn, Đại Căn đến Tối Thượng Căn thảy đều do Công Đức Phẩm thành tựu công năng mới đến Tinh Tấn Lực.

Tinh Tấn Lực nương vào Phổ Hiền Hạnh, những vị Đại Bồ Tát đã từng tu, nhờ Tinh Tấn mới viên thông chủng tánh của Tứ Thánh mới vi tế từng sát na vận chuyển luân hồi sanh diệt, diệt sanh pháp giới, do thế mà lầm mê trở thành chúng sanh giới. Đại Bồ Tát và Chư Phật chỉ hơn nhau tận cùng chưa tận tận mà thôi.” –T.V.

Tinh Tấn Lực, Hàng Đại Bồ Tát sau khi đã dụng được quân minh vạn pháp, pháp nào cũng nằm trong phẩm vô sanh nên không còn làm biếng. Đã không làm biếng đâu cần phải làm siêng. Làm siêng trường hợp này vẫn còn bệnh Y Kinh Bất Liễu Nghĩa.

Hàng Nhứt Thừa không làm biếng cũng chẳng làm siêng mới tỏ thấu vi tế vận chuyển sự luân hồi sanh diệt, diệt sanh vạn pháp. Đã không diệt cũng không sanh chính vô sanh. Hàng Đại Bồ Tát thấu đạt vi tế pháp giới, Chư Phật tận thấu vi tế pháp giới.

“Pháp môn Tinh Tấn khởi điểm từ thuở ban đầu nơi Thành Thật Tâm cùng Thiết Tha Tâm, mang lại cho các Bậc tu hành đương thời phát Bồ Đề Tâm cầu Đạo, những Bậc này thường qua hệ thống mến Đạo, say Đạo mà tỏ Đạo, Bất Thối Bồ Đề đến Bất Thối Bồ Tát tu Đại Bồ Tát. Những Bậc thiếu Tinh Tấn khó thành tựu. Tinh Tấn kèm theo Nhẫn Nhục mới có Trí Tuệ căn bản soi sáng dung thông cùng khắp Thiền Định gọi là Định Tuệ.” –T.V.

Những Bậc tu pháp môn Giác Ngộ đều phải mến Đạo đến say Đạo mới tỏ Đạo. Bậc không say Đạo tu thờ ơ, không thích tự tánh đào sâu các pháp không Giác Ngộ.

Trong kỳ Hạ Lai này Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật thường nhắc nhở những Chân Tử Thành Thật Tâm cần say Đạo. Có vậy mới Tín Hạnh Nguyện lời Ngài mà thi hành không thối chuyển pháp nghịch, pháp chướng đối. Có động mới quyết tâm tinh tấn hóa giải thông suốt được Bất Thối Bồ Đề, Bất Thối Bồ Tát là đường đi của Đại Bồ Tát.

Bậc tu Bất Thối Bồ Đề đến Bất Thối Bồ Tát rất hiếm. Phải có căn cơ sâu dày: Chống đỡ, tháo gỡ tỷ mỷ vạn pháp thuận nghịch thật sâu không thiếu sót mới đúng tinh thần Bồ Tát được. Bậc tu tinh tấn kèm nhẫn nhục trơn liền sáng soi vạn pháp thấu đạt Bổn Lai không còn lầm được gọi là Chánh Định. Có Chánh Định liền có Tuệ viên thông nên việc gì hóa pháp cũng được vô sanh rốt ráo. Pháp môn của Chư Phật, Bồ Tát phụng hành thật tỷ mỷ, thật kín khi hóa giải, vận chuyển pháp, chứ không đơn sơ, không tổng quát một mặt như hàng Đại Thừa tu chứng.

Càng lên cao càng thận trọng pháp môn của Chư Phật là: Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật, Bi Chí Dũng, Tín Hạnh Nguyện, Giới Định Tuệ. Chư Bồ Tát lấy đó làm hành trang cho đến khi thấu đạt Giác Trí đến Như Trí, khai hoang trực chỉ lời chỉ dạy của Chư Phật.

“Hàng Bồ Tát chẳng còn tánh tự mãn, tự ái, tự tôn, tự ý, tự lợi cùng tự sanh. Vì sao? Vì tự mãn, tự ái, tự tôn, tự ý đều là pháp hư vọng nó thường sanh hay diệt, thường cấu hay tịnh, chưa hẳn thuộc về thể tánh Chơn Như của vạn pháp. Lại nữa, tự mãn, tự ái, tự tôn đến tự ý liền tự sanh Tăng Thượng sai lạc với con đường giải thoát. Bồ Tát thật tỏ rõ những tánh kia còn dung túng, còn tập nhiễm, còn cô đọng gìn giữ nó, dù cho thuyết pháp thuyết minh lời lẽ in tuồng như Phật chăng vẫn là lời Ma thuyết.” –T.V.

Từ chúng sanh bước qua chủng tánh Bồ Tát thật là khó. Vì chúng sanh đang thọ chủng nghiệp nơi chúng sanh tánh phải phát tâm tự nguyện bước qua mới có năng lực nhận được Bảo pháp. Lý hiểu biết Phật thì dễ mà giải quyết sanh tử thực hiện Chánh Giác khó khăn vô cùng.

Hàng Bồ Tát rất thận trọng xem xét nhiều Bậc tu khi chủng tánh chúng sanh chưa sạch, còn tự tôn, tự ý, tự mãn, tự sanh đều là pháp sanh diệt dù có thuyết pháp hay như Phật cũng là Ma thuyết không phải tu chứng. Hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát khi chứng xong Chánh Giác cũng không thấy chứng, cũng không tu, lìa Chánh Giác vào Chánh Định lìa Chánh Định nên hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội tận độ chúng sanh không thể nghĩ bàn.

“Hàng Bồ Tát khai trừ chủng tánh bỏn sẻn, thù hận, ganh tỵ và vặc mắc những tánh nầy không bao giờ trưởng thành Phật Đạo. Vì sao? Vì bỏn sẻn sanh nở thù hận ương hèn là nơi chốn trú ẩn của chủng tánh chúng sanh an dưỡng nơi Ngạ qủy, Súc sanh cùng Địa ngục. Lại nữa chủng tánh Bồ Tát chủ yếu nhiếp thu pháp giới cốt tường tận. Từ chủng tánh chúng sanh tánh của mỗi nơi, mỗi chỗ thọ nghiệp, tất cả vũ trụ Tam Thiên có hằng hà sa số khởi sanh. Từ nơi sanh ấy thọ chủng phát hiện cảnh giới, các cõi gọi là Thượng Sanh Hạ Kiếp không ngừng.

Bồ Tát kiểm chứng nơi thân tâm, nơi ngưỡng vọng Bồ Tát mới hay kẻ lười trễ là kẻ vặc mắc đứng thứ nhất, vặc mắc, lười trễ mới phát sanh nghi ngờ, nghi ngờ tự sanh ra muôn nghìn pháp giới, vô tận pháp giới là một nơi sanh diệt không ngừng.” –T.V.

Lắm Bậc tu lâu, thường vấp phải thọ chủng chúng sanh tánh vi tế nặng, sâu thâm. Dù tu đến mức nào, chưa sạch vẫn còn nằm nơi chúng sanh thành Phật. Phật với pháp giới chúng sanh đó thôi. Phật Đạo chủ yếu cứu chúng sanh giải nghiệp thoát sanh tử. Hàng Bồ Tát phải sạch nghiệp kiết sử là cần nhất. Nó vi tế khó thấy, lại quá ư tinh vi. Bậc tu tâm rỗng rang không thấy nó, phải công dụng công thức Diệu Quan Sát Trí mới thấu đáo nó.

“Do đó nên chi hàng Bồ Tát phát nguyện Tinh Tấn, phát nguyện Đại Nguyện Bi Chí Dũng lướt qua từng pháp giới hóa giải nghi chấp. Bồ Tát thật tỏ rõ nơi nghi chấp này, chưa hóa giải chủng tánh chúng sanh, còn cặn bã nào mang lấy nghiệp quả của chủng tánh ấy. Cũng như chén Ngọc Bích không bao giờ chứa đựng món ăn nhơ nhớp, hàng Bồ Tát nhiếp thu suốt thông vạn nẻo, lại còn phải phẩm chất hôi tanh, do cớ sự trên nên chi Bồ Tát hóa giải gạn trừ sạch sẽ chủng tánh chúng sanh thật thụ vào hàng Bất Thối Bồ Tát mà tu đạt.” –T.V.

Hàng Bồ Tát nhiếp thâu suốt thông vạn nẻo: nghe thấy đơn sơ nhưng thực hành khó vì còn một pháp giới chưa hóa giải suốt thông là còn mang lấy nghiệp quả của chủng tánh ấy. Do vậy rất nhiều Bậc xưng Phật bị trở thành Phật Giới. Cứ có 100 Bậc sở đắc Chân Lý Vô Thượng là có 99 vị vào thọ Phật Giới. Đã vào thọ Phật Giới do căn nghiệp, nghiệp thức, nghiệp chướng, nghiệp lậu, nghiệp trần, nghiệp kiết sử rất khó vô kể để thoát sinh.

Bậc chưa sở đắc dung thông đến viên dung, ra vào vạn pháp chưa thấu đạt quân minh Lý và Sự chưa tương song vẫn còn bị tự ý thành thử còn Tự Lợi. Đã thọ giới, các thứ nghiệp trên ngăn che khó nhận được sự thị hiện của Phật. Thực tế nó như vậy, còn lắm Bậc đã gặp đuợc lại thiếu Tin Vâng Kính cũng không sở đắc.

“Bồ Tát nhìn nhận tại sao các hàng tu chưa đến, chưa có một lý sự chứng minh, phải đi vòng với chúng sanh tánh mà thọ nghiệp. Do nơi chưa sạch sẽ, nên lý sự bất tương song chỉ tu nơi ngưỡng vọng đến mà chẳng đến. Còn hàng Bồ Tát không tu cầu đến mà đến, vì Bồ Tát tu sửa tận gốc nên tất cả vạn pháp hồi tôn không còn mới sạch sẽ.

Bồ Tát biết rõ căn nguyên của chúng sanh chủng tánh vướng phải lỗi lầm mà thọ nghiệp mang pháp giới thụ sanh còn cuộc sống hằng ngày do diễn cảnh, bối cảnh, nghịch cảnh, mãi lăn lóc nơi bối cảnh diễn cảnh chưa bao giờ đặng an nhàn như Bồ Tát.” –T.V.

Lý Sự chưa tương song có nghiã Đức Trí chưa tương song, Bậc tu phải chờ đến một thời điểm nào hoặc kiếp nào sung mãn Công Năng Công Đức gặp được Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ đang hành nguyện chờ thành Phật chứng minh cho vị này mới chính thức là Bồ Tát được cũng như một Bậc giỏi ngang với bác sỹ cũng phải chờ qua một kỳ thi quốc gia mở khi thi đậu được cấp bằng và phải được bổ nhiệm mới có thật quyền.

Đương thời Đức Di Lạc bảo: chưa được vị Phật chứng minh Bồ Tát có giỏi cũng không được Phật Lực ban cho. Đời cũng như Đạo tuy hai mà một. Tuy một mà là hai vậy. Hàng Bồ Tát tu sửa tận gốc có nghĩa tu sửa từng vi tế chủng nghiệp nơi thân mạng mình. Chỉ một đơn vị nhỏ nhất cũng tỏ rõ đến sở chứng vô lượng. Chỉ một diện tích cực nhỏ cũng không bỏ qua thấu đạt vô biên. Đó là Bồ Tát tu sửa tận gốc từng vi tế nên mới Hồi Tâm. Trước đó nó cũng chính là pháp giới khởi sanh, khởi diệt, cấu tịnh, tăng giảm tạo thành vòng đai luân hồi sanh tử.

“Hàng Bồ Tát thật tỏ rõ. Từ nơi tánh trí suy nghĩ nơi chủng tánh, do nơi tư tưởng phát huy hồi tưởng, tư tưởng làm chủ động của suy tưởng, trưởng thành Quán Tưởng đến Định Tưởng, mới phát hiện hành động cho nên mới gọi là: Tư tưởng làm mẹ đẻ hành động. Hành động này nó trực thuộc trình độ giai cấp của mỗi chúng sanh có mỗi hành động. Chủ đích nơi nó xuất phát tánh tình cũng là Tánh Trí hành động, không ngoài đồng hợp hóa giữa chúng sanh với nhau, hay bất hợp hóa mà có diễn cảnh thuận nghịch là hai con đường chúng sanh phải chịu lấy.

Bồ Tát thật tỏ, còn rõ hơn thế nữa nên chứng thị Vô Sanh. Thân khẩu ý liền lạc không sai lệch, nhờ như thế mới có uy nghi, uy thế của Bồ Tát. Bồ Tát liền tuyên thuyết: Nhất Ngôn Tri Kiến Phật làm cho tất cả nương nơi Bồ Tát, đó chính là con đường Bồ Tát độ chúng sanh.” –T.V.

Hàng Bồ Tát biết tỏ rõ tư tưởng làm chủ động của suy nghĩ nên nương theo suy nghĩ mà thi hành được sở đắc Vô Sanh. Nếu suy nghĩ mà không làm là Sanh Pháp. Bồ Tát thân khẩu ý là một không còn hai tướng được liền lạc, chỉ cần một lời, liền thấy biết không lầm gọi là Nhất Ngôn Phật Tri Kiến. Đuợc Tương Thông Phật Lực, khó nghĩ bàn, nơi Bồ Tát đã liền lạc Nhất Tướng vào Nhất Tâm Đảnh Lễ Chư Phật.

“Khi Bồ Tát viên dung nương nhờ nơi tu trì Chủ Quán, Bồ Tát thường quán thế, pháp môn quán thế của Quán Thế Âm Như Lai Phật là con đường tự tại của Bồ Tát, con đường này nhiếp thâu đầy đủ Tịnh Bất Tịnh thảy đều hiện thân cứu độ. Bồ Tát thường đứng trong diễn cảnh Bối Cảnh của chúng sanh mà cứu độ, do đó nên chi Bồ Tát mới viên dung nghe thấy biết tận tận, được gọi là: Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội.” –T.V.

Sau khi Bậc tu độ khổ được chúng sanh tánh nơi thân mạng, được chứng tri Bồ Tát, được Chư Phật ban hành chứng minh công nhận Bồ Tát. Lúc bấy giờ Bồ Tát tu pháp Quán Thế Âm Như Lai Phật. Nương nhờ nghe thấy biết nơi Như Lai Phật đặng vào sâu biển cả tỏ rõ sạch sẽ liền lạc Bát Nhã.

“Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Bồ Tát đã từng lìa Ngã cùng Ngã Sở không còn tự mãn, tự ý, tự lợi. Bồ Tát quân minh tha lợi, do đó nên chi tỏ rõ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn làm chủ trì thực vô, vô thực, chứng tri Bát Nhã. Gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát không còn tập khởi, tập nhiễm trần lao, vì đã trải qua chủng tánh chúng sanh tánh cùng Bồ Tát tánh thực chứng.” –T.V.

Sở đắc Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn là Bậc độc nhất nhưng phải còn thi hành hàng vạn pháp thần thông Tam Muội mới thực chứng lìa có lấy không tận tận không không đến nơi Giác Tướng Phật Tướng mới gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Khi đã vào Tam Muội tận thấu không sanh, không diệt liền dứt tập khởi, tập nhiễm trần lao. Lúc bấy giờ thấy rõ, biết rõ chúng sanh lầm lạc bị ở pháp giới các cõi cùng các cảnh giới trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

“Bậc Ma Ha Tát nhìn nhận, trước kia chúng sanh trí tuệ thuộc về viên dung Như Lai Trí. Như Lai thời không thể chỉ, còn viên dung Như Lai làm như thế nào để biện minh. Nhưng tập cẩm nang này cốt lưu cho tất cả các Bậc tu hành để nhận chân thật hiện vào con đường giải quyết tử sanh thành thử phải diễn giải trên.” –T.V.

Chúng sanh vốn thuộc trí tuệ viên dung của Như Lai, nhưng khi chúng sanh thọ chấp củng cố một chủng tánh thì chúng sanh vương vào Tạng Thức. Tạng Thức này cũng chính là hạt giống Như Lai nó trực thuộc Như Lai Tạng. Chúng sanh củng cố Tạng mình mà gìn giữ theo lý trí. Tốt xấu, đúng sai. Chung qui Như Lai thời không thể chỉ cố định được vì Như Lai vốn thể tánh như vậy. Chỉ hàng Bồ Tát Ma Ha Tát đã Giác Tướng sâu mới thấu đạt đuợc viên dung Như Lai, mới giải quyết được sanh tử, tử sanh.

Mỗi chúng sanh nhận lấy một Tạng Thức khác biệt bất đồng do chủng tánh thọ khác nhau sanh ra lầm lạc chạy theo sanh tử do đó không thể dùng văn tự để giải quyết nghiệp thức, nghiệp căn của chúng sanh, duy nhất chỉ Bậc tu vừa hiểu biết vừa thực hành gọi là Hành Thâm Pháp Giới mới nhận được viên dung nơi Như Lai hết lầm lạc.

“Bồ Tát Ma Ha Tát. Trước tiên phải là Bậc tu đạt Bát Nhã Trí, khi Bát Nhã Trí viên thông ra vào viên giác mới chứng tri Ma ha Tát. Bậc tu cần phải đi vào con đuờng Tứ Nhiếp Pháp cùng Lục Ba La Mật Đa thành tựu Bát Nhã Trí, đoạn trên đã nói: Chớ nên dùng Không lìa Trí mà an trụ xứ rất tai hại đường tu, sai với tinh thần giải thoát.” –T.V.

Bậc tu nghe quá nhiều nơi câu Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa. Nhưng đối với con đường Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành không rời Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa vì nó là môn sở trường của Chư Phật. Càng lên cao chừng nào Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa càng phải thấu hiểu chi ly sát với thực tại không còn tu tổng quát nữa. Nương nhờ Bát Nhã Trí trực giác thọ chủng vi tế nơi Tâm Thức mới thấu đáo Bát Nhã Trí. Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát nghe một câu, một lời nói, một cử chỉ nhỏ nhặt cũng tỏ thấu nơi Không Tướng mà thấy chớ chẳng phải dụng Không phải bị an trụ Không rất tai hại đường tu, sai với tinh thần Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo.

“Ma Ha Tát đã giải quyết ba chỗ dụng. Chủng tánh chúng sanh tánh, Bồ Tát tánh, tu đạt đến tận tận vô minh, vô minh liền tận, chưa bao giờ hàng Bồ Tát tận diệt vô minh, thành thử trơn liền, không còn Phật chủng là Phật tánh nữa. Bồ Tát thành Phật độ sanh, trải qua xây dựng Quốc Độ sắc tướng bất biến thường an bất diệt vậy.” –T.V.

Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát đã giải quyết xong ba chỗ dụng của Chúng sanh tánh, Bồ Tát tánh, Phật Tánh. Một là nương theo pháp giới tỏ rõ thâm nhập pháp giới để giải giới. Hai là nương khởi sanh, khởi diệt cốt sở đắc Vô Sanh giải quyết sanh tử. Ba là vào vạn pháp tu hành tỏ pháp Đắc Đạo. Giải quyết ba chỗ dụng trơn liền Bồ Tát tu đạt đến tận tận vô minh, thấu đạt sạch sẽ vô minh nên không còn Phật chủng nào vướng động nữa Bồ Tát xây dựng Quốc Độ vào Bất Tử.

“Hàng Ma Ha Tát rất thâm nhập lý chí của các lời Phật ngôn chỉ giáo hướng dẫn chúng sanh trên con đường giải thoát. Chư Phật dặn dò tất cả các Bậc tu hành chớ nên chấp trụ, lìa hẳn lý sự đảo điên mộng tưởng, phải tu cầu lãnh lấy sự tu cầu bằng pháp Vô Lậu, sẽ kết quả Vô Biên Xứ, Vô Định Xứ, tỏ Vô Tận Xứ rốt ráo giải thoát Niết Bàn hai cánh cửa Niết Bàn mà Chánh Giác cho nên Phật nói: Không đắc mà đắc. Không chứng mà chứng. Không đến mà đến. Không công đức mới gọi là công đức. Không thân mới gọi là thân. Những ấn chỉ Phật tôn này chỉ có hàng Ma Ha Tát, đã từng thấu.” –T.V.

Lý Chí có nghĩa Chân Lý chí tình của Đức Bổn Sư. Hàng Ma Ha Tát rất thấu đạt Chân Lý mới chí tình hướng dẫn chúng sanh tu tập theo con đường Tri Kiến Giải Thoát.

Công đức Hữu Lậu sung mãn mới Trực Giác công đức Vô Lậu, sẽ kết quả vô lượng vô biên rốt ráo giải thoát. Cho nên Chư Phật khai thị: Không công đức mới gọi là công đức, Không đến mà đến, Không Thân mới gọi là Thân. Đó là Tâm Ấn chỉ thẳng còn Trực chỉ hàng Ma Ha Tát đã thấu đáo nghe thấy biết viên dung, không còn một nghi chấp nào nữa, liền thấu đạt không công đức mà công đức. Không còn pháp thân mà vẫn pháp thân. Không thấy mình đắc mà đắc.

Hàng Ma Ha Tát hành thâm pháp giới từ thế gian đến xuất thế gian đầy đủ mà biết được chúng sanh nó thọ nhiễm như thế nào, nó phải lãnh như thế đó: Sướng khổ, vui buồn, thanh thô, đẹp xấu. Nó làm nó hưởng chớ chẳng phải ai ban cho nó. Hành thâm pháp giới được đầy đủ hàng Ma Ha Tát đứng nơi sắc tướng đã tận thấu đạt hóa giải vận chuyển Tam Muội quân minh liền lạc suốt suốt tuyệt mỹ là giải thoát chớ chẳng có chi là giải thoát.

Sắc tướng thân hình thuộc pháp giới cố định không bao giờ thay đổi mà nó đổi thay hết tất cả chủng tử từ nơi thân mạng nên còn gọi nó không khác mà khác. Hoàn cảnh khẳng định không bao giờ thoát khỏi nhưng nay đã có Phật Lực thị hiện hỗ trợ nên nó vẫn thoát sinh đến mức an lành ổn định.

Bậc như vậy không khác mà khác. Hoàn cảnh bế tắc không thoát mà nó vẫn thoát hoàn cảnh, Bậc này biết từng chi tiết chủng tử phải bổ sung những khiếm khuyết đầy đủ. Những Bậc tu hoài mong nơi tu sửa thực tế trí tuệ, công năng yếu kém khó vượt qua vi tế tử sanh nên rất khó hiểu. Vì pháp của Bồ Tát đi sát vũ trụ, mắt thấy tai nghe chi tiết, còn từ A La Hán mới mở mắt thuộc hàng Đại Thừa cũng không tường tận được pháp của Nhất Thừa.

Hiện nay trên quả địa cầu khoảng một phần tư Bậc tu theo đạo Phật nhưng rất hiếm Bậc tìm con đường giải thoát, còn nói giải thoát rốt ráo lại quá hiếm hoi Bậc phát tâm Đại Nguyện.

Các nhà khoa học hãy để ý xem sắc tướng gốc của nó vốn từ Thành Trụ Hoại Không. Nó tùy hoàn cảnh đồng hợp đồng hoá chớ không bao giờ có diệt. Bậc siêu đẳng Chánh Giác nương nơi nó tỏ rõ chớ chẳng diệt gọi là nương nơi sanh tử giải quyết sanh tử Trực Giác Bất Diệt. Khoa học lấy vật chất biến chế phát minh được những điều mới lạ làm cho con người sống đầy đủ tiện nghi cùng các loại thuốc cứu con người nhưng con người nào cũng sống với thời gian giới hạn rồi cũng phải chịu chung số phận đã an bài hàng ngày hàng sát na sống trong niệm sanh tử./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


53. Đạo Phật Triệt Thấu Siêu Đẳng Khoa Học

Đạo Phật rất tân tiến, không phải Đạo Phật cổ truyền, Đạo Phật chính là một nền tảng văn minh vô tận, chẳng phải Đạo Phật đem nhân loại tứ loài thụt lùi nghìn xưa cổ hũ, vì như thế cho nên

Đạo Phật thời nào cũng đặng tôn sùng sống động, thời nào cũng vẫn có đủ tài liệu chỉ dẫn cho tứ loài đến nơi Bất Diệt, đến chốn người với người sống chung với nhau an nhiên thoải mái, quí mến nhau như thịt với xương. Chỉ có khái niệm giữa con người và con người tự lợi, nên Đạo Phật chậm tiến mà thôi.

Bao nhiêu những lời xác minh mong sao cho Bậc Tín Tâm thức tỉnh, nhận lãnh lời Kinh Pháp thực hành hóa giải, đó chính là tu, chớ đừng nên tu theo tổ chức mà bê trễ chốn thực hành hóa giải thân tâm làm thế nào Tri Kiến Giải Thoát đặng?


–Chân Nguyên Thực Tế Luận Kinh

“Trong thế kỷ hai mươi nầy, nói lên chỉ có Phật Đạo mới triệt thấu siêu đẳng khoa học mà thôi. Thật khó hiểu khó nhận chân đặng. Vì sao? Vì Khoa học thực hiện bằng hiện vật kết nạp hóa chất, biến thể cấu tạo ra mọi hình thức các môn, các ngành thảy đều chứng từ cho tất cả thế giới con người có biện minh chứng thật. Còn Phật Đạo chứng tri tu chứng của mỗi vị dù vị ấy, thật tỏ rõ lời nói trên xác thật: Chỉ có Phật Đạo mới triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học chăng, vẫn chưa có bằng thể biện minh đặng, cho nên nơi hiểu biết chính mình là một chuyện, thông đạt tận thành minh thuyết là một điều, minh thuyết rõ ràng, biện minh có lối giải là một đường lối. Còn những vị nhận chân được là một câu chuyện đáng nói, cùng với được nghe để thực tiễn một điểm khó khăn nhất, trong bài Siêu Đẳng này vậy.” –T.V.

Nếu những nhà bác học, khoa học gia, triết gia cùng nhà tâm lý học chịu khó đọc, nhận định mới thấy Phật Đạo mà Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật trình bầy những điểm cốt yếu dưới đây, qúy vị sẽ xác nhận thời đại nào cũng chỉ có Phật Đạo mới có đủ Đức Trí triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học, Xã Hội Học, Tâm Lý Học.

“Phật đã tường tận thể tánh, cũng như nhà Bác Học đã tỏ rõ phẩm chất trọng lượng. Ngài vốn thấu con người có sẵn thể tánh: Như nhiên tự biết. Bỗng nhiên tánh nó phát sinh an nhiên thông cảm. Hồn nhiên tiến bộ thông đạt đến chốn rốt ráo triệt thấu, nó liền giải thoát lầm mê trên sanh tử.

Chính ra con người với vũ trụ, con người sống chung con người ngay bản thân mình chưa hiểu được mình, có nhiều lúc thân mạng chính mình còn phản bội lại mình thì làm sao kết quả mục tiêu con người mong đạt đến.” –T.V.

Nhà Bác Học, Khoa Học Gia... dù tài giỏi đến đâu cũng không khám phá được thể tánh nơi thân mạng mình. Khi vui lúc buồn, khi thoải mái lúc bực dọc, khi sáng suốt lúc rối loạn. Vì không khám phá được thân mạng mình nên nền Khoa Học, Y Khoa không triệt thấu hết vũ trụ di chuyển, điều động. Phật Đạo là một nền tản văn minh vô tận luôn giúp con người giải đáp số thực tế nhất. Nếu lấy cái học, cái nguyên cứu nhưng tánh trong thân mạng còn thay đổi, còn bị nó làm chủ nên sự hiểu biết của lý trí dù thông minh đến đâu cũng còn giới hạn.

Bậc Chánh Giác Thiền Sư khám phá được sự di chuyển, sự điều động thể tánh nơi thân mạng mình đến lúc tỏ thông đã hòa vào vũ trụ, như nhiên không còn dùng trí suy nghĩ, bỗng nhiên tánh nó phát sanh khám phá điều kỳ diệu trong vũ trụ và lúc già điều khiển cái chết ra đi một nơi đã định tùy ý đểù lai sanh nơi khác. Còn Chư Phật an nhiên thông cảm vũ trụ với thân tâm là một nên thời nào Phật Đạo cũng sống động có đủ tài liệu và phương tiện giúp nhân sinh. Hơn nữa ở hay vào Niết Bàn đều tùy ý quyết định.

“Bậc Siêu Đẳng là Bậc đã từng tận thấu nguồn gốc phát sanh, con người lầm lạc chạy theo nó để cầu lấy hy vọng kết quả. Nền văn minh thế hệ lâu dài bền vững hay tan rã cấp thời duy nhất chính con người cần phải tận thấu nó mà tận dụng nó mới là một sự việc tối cần xây dựng. Con người phải thấm nhuần triệt thấu tánh tình mình, hoàn cảnh mình đúng sai tự tạo hay tự nhiên mà có hoặc như nhiên nó đến, tự chính mình có lý trí thông minh giải quyết ổn thỏa cao đẹp, cũng thật tỏ rõ tánh tình của mọi người, hoàn cảnh của mỗi từng lớp người. Những Bậc triệt thấu như thế Phật gọi là: Tri Kiến Phật, nơi Tri Kiến Phật là chỗ kiến nhận lời vàng Phật dạy, chớ chẳng phải gặp Đức Phật giao cảm cùng Chư Phật, đây là lời Ấn Chỉ không hai. Bằng con người mới hiểu mới biết hoặc giả học đòi trên văn tự để mà biết, chưa thực hiện đặng nơi lời trên đều sống nơi bị biết, chớ chưa triệt thấu thâm nhập.” –T.V.

Nguồn gốc phát sanh ra tất cả các vật trong thế gian này đều do thể tánh thông minh cao thấp khác nhau, đủ nhiều tầng lớp trình độ của các nhà khoa học. Con người phát minh ra rồi chạy theo để cầu lấy mà hưởng. Từ các nước phát triển đến các nước chậm tiến cũng không thoát khỏi đường lối độc nhất này, Chư Phật gọi là tạm biết còn lầm lạc vì con người học, nghiên cứu, suy nghĩ rồi chế tạo, biến chất mà có.

Trong khi Bậc Chánh Giác Thiền Sư tận thấu giải tỏa sạch sẽ tập khởi, tập nhiễm tánh chất nơi thân mạng, biết được tánh tình từng lớp lớp người, lớp lớp chúng sanh. Nếu Khoa Học Gia biết khám phá phát minh thân mạng mình được đời đời ích lợi hay chóng tàn phế thải đó là việc tối cần. Chỉ có Phật Đạo mới thực hiện được Như Trí Siêu Đẳng trong khi khoa học dụng lý trí suy nghiệm nên bị đào thải từng đợt, từ thế hệ này đến thế hệ khác không siêu thoát, không vượt được Phật Đạo.

“Bậc đạt đến Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác nói: Con người làm chủ vũ trụ, ta đã thành Phật các ông sẽ thành Phật, lời nói này chứng tỏ đưa con người toàn diện theo tài liệu Phật Đạo làm định hướng thực hành sẽ thấu tận Siêu Đẳng Khoa Học. Vì sao?
Vì lý sự nghe thấy biết kia là một nền điện tử bày hiện cho con người, con người chưa biết sử dụng nó liền bị điện tử điều hành. Khi triệt thấu nó thời chính nó trở lại cung phụng cho con người bất diệt.”
–T.V.

Lời Chư Phật là lời Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác: con người làm chủ vũ trụ. Bậc Thánh Tăng, Bồ Tát lo tu hành làm chủ thân mạng đặng khám phá làm chủ vũ trụ, được cái biết đem lại lợi ích thường còn cho con người, cho tứ loài. Tu hành như Chư Phật đã làm chủ được vũ trụ, đã triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học. Con người đi đứng, làm việc gì cho đến suy nghĩ... đều do điện tử có sẵn trong vũ trụ hướng dẫn hết trong cuộc sống.

Bậc tu được gặp Chư Phật, Chư Bồ Tát chỉ bày lần lần triệt thấu tất cả con người, sơn hà đại địa, cỏ cây đều do điện năng vũ trụ điều hành. Tu là điều hành lại điện tử vũ trụ cho đến khi Thành Quả điều động lại nó. Nhà khoa học biết tận dụng điều này sẽ siêu đẳng sử dụng điện tử vũ trụ.

“Sự việc và cơ cấu này các ông nào tận thấu thể tánh tướng tâm, vướng phải tiềm thức thao diễn trong cái thấy mà phân biệt dị biệt, liền tự mang lấy hóa chất nơi ý thức nên chi nhìn nhận thấy, trở thành cảnh sanh tình thành thử các ông phải nương nơi cảnh để mà sống, chạy theo sắc tướng cầu lấy an vui. Nếu không có sắc thì các ông không vui sống. Bằng chưa có tình khô héo bước đi, hai điểm này các ông đành theo sanh tử, đó chính là điều đáng kể nhất.” –T.V.

Tất cả khoa học gia đều bị có cảnh sanh tình. Tức khi có diễn cảnh, có hoàn cảnh vui, buồn…điện tử vũ trụ liền điều động thân mạng làm phát ra tánh tình. Bậc Thiền Sư lấy tình sanh cảnh tức điều hành lại tánh mình, dụng điện tử trung hòa không cho chạy theo diễn cảnh. Tâm đứng yên rồi điều động giải tỏa tức lấy tình sanh cảnh. Dần dần không còn sanh, được tỏ thông. Đã không sanh đâu còn tử. Thấu đạt bất tử, từ đó lời nói, cử chỉ đều siêu đẳng.

“Thời này khoa học chưa có danh chánh ngôn thuận trên thế giới. Thái tử tu đạt Vô Thượng Chánh Giác. Thái tử tận Vô Thượng Siêu Đẳng Khoa Học, tỏ rõ tỷ mỷ từng lớp lang di chuyển linh động thuyên diễn điện, điện tử cho đến siêu siêu điện tử chung khắp vũ trụ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đang sống động lưu hành.” –T.V.

Cách đây 2538 năm, thế giới này chưa phát triển thành hệ thống khoa học Đức Bổn Sư lúc đó đã tận thấu siêu siêu điện tử trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới đang lưu hành.

“Siêu Siêu Điện Tử nó cực kỳ tinh nhuệ, phẩm nó lưu hành, không chỗ nào nói lên từ ngữ đặng, không nơi nào gọi là nó đi, nó lại hay chốn đến, đối với Ngài triệt thấu nó mới thâu nhận đặng nó mà thôi. Do đó mới dùng từ ngữ là Như Lai Tạng. Còn chỗ hiện Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Rồng Người tứ loài văn tự Pháp Thân Phật.” –T.V.

Siêu siêu điện tử không nơi nào gọi là nó đi, nó lại hay chốn đến nghiã là chỗ nào nó cũng có, từ vô thủy vô chung cũng sẵn có chỉ tại khoa học không khám phá ra nay mới tìm ra được thôi.

Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị Như Lai Tạng chính là điện tử vũ trụ. Còn tất cả chủng tánh chúng sanh tánh trong vũ trụ chính là Pháp Thân Phật. Như vậy đủ biết từ Đức Bổn Sư nay lại đến Đức Di Lạc Tôn Phật cùng Chư Phật Mười Phương Ba Đời đều đã tận thấu siêu đẳng khoa học từ xa xưa. Sự khám phá điện tử để biết vũ trụ của khoa học cho đến thế kỷ 20 này so với Chư Phật thật còn quá xa vời chưa thấm vào đâu.

Siêu Điện Tử Phật Đạo gọi là Chủng Tử, tư tưởng là nguyên tử. Những hạt nguyên tử cấu kết thành phân tử cũng như Phật Đạo đã từng giải thích tư tưởng chứa nhóm thành chủng tánh. Ngày nay khoa học còn tìm ra nguyên tử cấu tạo bởi nhiều nơtron, Phật Đạo đã chỉ duyên khởi cấu tạo tư tưởng. Phật Đạo còn đi xa hơn là duyên khởi chính các giống vi khuẩn trong thân mạng cựa quậy tạo tư tưởng trong thân.

Tánh thấy trong thân hiệp tánh thấy trong vũ trụ sinh ra cái biết tùy trình độ, tùy giai cấp, tùy xứ sở, khoa học nay tìm ra các Gen di truyền. Phật Đạo đã triệt thấu siêu đẳng khoa học từ xa xưa.

“Tuyệt tác thay. Ngôn từ Phật thuyết Như Lai Tạng siêu siêu đẳng, vì thế Bổn Thể Như Lai vốn Như Vậy, lưu hành vãng lai, lai vãng chung khắp chẳng khác giọt nước cam lồ cưú an thiên hạ. Không thể hỏi hay nói: Có phải là giọt nước hay chưa phải giọt nước? Chính Bổn Thể là giọt nước. Đối với Bổn Lai siêu siêu Như Lai vốn như thế.” –T.V.

Thời Hạ Lai này đã tàn canh Đức Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác Di Lạc chỉ thẳng siêu siêu điện tử chung khắp Tứ Loài để tìm cách sử dụng chúng đặng Bất tử. Không nên bàn tán phê bình, chỉ trích từ cái học, nghiên cứu, cố tạo Thiền Trí đến Giác Trí là qúy nhất.

“Còn thế giới với con người, quả địa cầu đang quay quần Hư không Giới trong vòng Thái Dương Hệ, Bậc siêu siêu đẳng tỏ rõ tường tận chung khắp có từng vùng, có nghiã là ngoài vùng Thái Dương có hằng hà sa thế giới. Mỗi giới là một vùng, mức sống, lẽ sống, tầm sống, lối sống thảy đều sống chia ra Lai Sanh, Thượng Sanh, Hạ Sanh, Đương Sanh, sự sanh trưởng cao thấp tùy theo Điạ Giới, Tiên Giới, Thiên Giới làm Tam Giới, kiếp sống, mạng sống dài ngắn tuổi thọ cùng hiện vật dụng cụ vốn theo Thiên Khí Hiện, Tiên Thanh Ứng, Nhân Sanh Lực. Tịnh Độ Như, Như Lai Tạng siêu đẳng tùy giới cung cấp, trang trí đầy đủ không thiếu sót.” –T.V.

Khoa học hiện nay đang khám phá vũ trụ trong vòng thái dương hệ. Trong lúc đó Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã chỉ ngoài thái dương hệ có hằng hà vô số thế giới khác có sự sống, mức sống, lẽ sống cao thấp do thanh bai hay thô lỗ, cộc cằn, độc hại của tứ loài. Biết bao thế hệ nưã của khoa học cũng khám phá có giới hạn cũng không tìm ra các sinh vật vô hình đầy đủ được.

“Con người hiện tại đang sống ở trong Địa Giới này chưa bao giờ biết mình từ đâu đến, cho đến Chư Thiên hay Chư Tiên, Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc thảy đều chưa biết đặng. Bậc Chánh Giác siêu đẳng rành mạch rõ ràng tận thấu, nên Ngài mới ấn quyết con đường thoát sanh xây dựng thân mạng tự sanh từng cõi, từng tánh chất chi hợp hóa với thế giới chính mình ưa chuộng, mà tu tập tu hành đoạt như ý nguyện. Chẳng khác nào con người mong trở thành người quân tử phải tâm tánh quân tử, những bậc vĩ nhân hay siêu nhân phải có đầy đủ tiêu chuẩn vĩ nhân hay siêu nhân mà thành đạt.” –T.V.

Trên thực tế kỳ hạ lai này, trong Long Hoa Hội đã có đại diện bậc cao đạo các cõi như Chư Thiên, Chư Tiên cùng bậc ở Tịnh Độ Tây Phương tu Định Tưởng chưa nhớ quá khứ tiền kiếp của mình từ đâu lai sanh tại Việt Nam này. Còn các nhà bác học, khoa học... cũng chỉ biết khám phá vũ trụ theo lý trí suy nghĩ nên càng mơ màng sự tái sanh của con người và tứ loài. Lắm bậc không tin nhưng bậc có Thiền Trí, Giác Trí tu theo con đường chư Phật lại biết rất rõ từ 2538 năm đến nay đã lai sanh nơi nào tên gì, làm nghề gì. Biết từ đâu tới, biết sẽ đi về đâu nên biết sống đầy đủ ý nghĩa.

“Phật Đạo là một nền tân tiến hóa tạo con người thực tế tu cốt tỏ, hành cốt đạt ngay thân tâm mình thật biết tỏ rõ, sau khi mạng vong sẽ đặng về đâu rất tường tận quả vị mình sắp đến, do đó nên chi các bậc tu Phật không bao giờ sợ chết cầu sống, chưa bao giờ nhận lấy hơn thua được mất làm bước đi mà chỉ tu cầu tỏ ngộ.” –T.V.

Những nhà khoa học nào còn dùng lý trí suy đoán, những chính trị gia vô thần hãy đọc kỹ đoạn kinh trên để biết Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc xác nhận con người chết không chấm dứt mà đi đầu thai nơi đã hành tốt xấu tùy thọ báo, tùy chánh báo.

“Phải chăng Phật Đạo triệt thấu bản năng thể chất và tánh chất phẩm lượng của con người cùng vũ trụ Tam Thiên, đang sống hấp thụ cái gì, ảnh hưởng ra sao. Kết quả của nó như thế nào? Không khác vị đại lương y, hay một bác học đã từng thực hiện hóa chất cho hoàn thành, những món đồ dùng hay những viên thuốc cốt cứu chữa con bệnh lành mạnh không tổn thương cho con người chăng?” –T.V.

Khoa học, y khoa bào chế các thứ thuốc, giải phẫu cứu con người nhưng con người lành mạnh rồi đến tuổi già cũng tàn. Còn Thiền Sư siêu siêu đẳng chánh giác tận thấu bản năng tánh chất thể chất con người cùng Thiên, Tiên, Thần giúp đỡ như Đại Lương Y được lành tâm bệnh được bất tử, siêu siêu đẳng hơn khoa học hàng triệu triệu do tuần.

“Đứng trước thế giới, nhân loại hoàn toàn phế nhân bất lực cứu chữa con người, xây dựng con người thoát khỏi căn bệnh lầm mê, chứng bệnh điên loạn, nhiễm độc quay quần bất ổn trong kiếp sống do Tạng Thức gây nên Tiềm Thức tìm tòi theo những ý muốn của mỗi con người thảy ra sống còn lung lạc. Vì sao? Vì Như Lai là nơi an lành đứng thứ nhất như con người không bệnh lành mạnh an vui. Tất cả những con người ấy mang vào Tạng Thức thời Như Lai kia trở thành Như Lai Tạng.

Mỗi nhân loại giữ lấy một Tạng. Bá thiên vạn triệu vô số vô biên chúng sanh thành thử mỗi chúng sanh phải hứng chịu một giới hạn của Tạng Thức gọi là Chúng Sanh Giới.” –T.V.

Các nhà khoa học, nhân chủng học nghiên cứu từng quốc gia, từng sắc tộc có tập quán, phong tục, ngôn ngữ nhưng chưa chịu tìm ra gốc của các loài do thần thức khởi điểm gọi là Tạng họ gìn giữ lấy quan điểm đó thành ra giới nào cũng có Tạng Thức trở thành ngăn chia theo giới mà sống theo giới đó.

“Khi đã hình thành Chúng Sanh Giới thời mỗi người, mỗi bậc và mỗi vị, cho đến mỗi thế giới ngăn biệt nhau cùng nhau trưởng thành Tạng Thức, khai hoang tiềm thức, ổn định ý thức, do đó nên chi mới có tam giới chia ra từng địa giới đã nói trên.
Mỗi giới hiện vật trang trí như: Nhà cửa lâu đài cao ốc thành phố có cõi thanh ứng mà thành như cõi Tiên, cảnh Tiên có cảnh giới như nhiên đồng hiện hoa mỹ Ngọc Bích, Pha Lê, Xa Cừ, Xích Châu, Hổ Phách như Tịnh Độ quốc độ đồng niệm tưởng niệm mà thành tựu, trang nghiêm Bửu Châu, trang nghiêm thất báu.

Trang nghiêm quốc độ cực kỳ cao quý. Chư Bồ Tát hằng hà sa số Bồ Tát, cúng dường lễ bái chiêm ngưỡng Phật, trong sạch liền lạc an nhàn thanh tịnh, Đại Thanh Tịnh quốc độ không thể nào kể hết vô biên vô tận cao qúy, vô cùng thanh nhã khó nghĩ bàn, khó dùng văn tự để diễn đạt vậy.”
–T.V.

Khi đã hình thành chúng sanh giới thì mỗi xứ sở có một thế giới ngăn biệt nhau, đồng đắp xây thành cảnh giới sinh sống. Như cõi thế gian dùng sức lao động xây cất nhà, lâu đài. Cõi Thiên, cõi Tiên khoa học đành chịu không thấy, không biết cảnh giới sống thoải mái đầy châu báu này.

“Khi đã ở nơi Địa Giới trên mặt đất quả địa cầu này, toàn diện đều là ĐẶC CHẤT. Các ngành Khoa học không làm thế nào hơn phải nhận lấy đặc chất hiện vật mà hóa chất, từ một khởi điểm nghiên cứu đến thành công, đó chính là một sự thường nó phải như thế, vì địa giới chứ chẳng phải địa hóa mà đặng, nguồn gốc do phẩm chất nó như vậy. Sự lầm tưởng nơi thực hiện đúng với phẩm chất, đúng với tư thế có hòa mới có hiệp, không hòa thì chưa bao giờ hiệp, cũng như các Bậc tu hành rất cần Giác Tướng về Như Tướng chớ cầu Tướng Hóa Tướng đó chính là Bậc sai lầm vô lượng. Nhà Khoa Học nên chu đáo công trình thể chất hóa chất rất cần nơi hợp hóa năng lượng phẩm chất đúng theo công sự mới là Bậc đúng đắn. Không khác chất vôi gạch thì vôi và gạch hít nhau. Bằng bột đắp vào gạch nó chỉ dán chớ không hòa hít.” –T.V.

Đặc chất thuộc Địa đại là Đất, động vật, thảo mộc có thân lá cho đến con người có xương thịt thuộc đặc chất là Đất. Các nhà khoa học lấy các chất thuộc về Đại Địa gọi là đất để thí nghiệm, nghiên cứu ngoài ra không có gì ngoài đặc chất cả.

Địa giới chính là quả địa cầu có vô số đặc chất, lấy chất này chế biến ra chất khác không lìa giới Đại Địa được. Còn Địa hóa ý nói các cõi Thiên, Tiên hóa sanh mà có không cần đặc chất. Bậc Thiền sư biết ở cõi Tiên, cõi Thần các vật đều biến hóa mà không như thế gian pha chế các đặc chất phải mất thời gian khám phá rất lâu dài. Bậc Giác tướng vạn pháp rất hiếm, Bậc này biết dụng vạn pháp quân minh liền đến Như Tướng. Hàng Bồ Tát Giác Tướng, Bậc A La Hán Liễu Ngộ vẫn còn mơ màng Giác Tướng Đại.

Còn Khoa học lấy đặc chất này chế biến ra đặc chất khác tức lấy tướng hóa tướng bị giới hạn vẫn bị mê lầm theo sanh diệt.

“Nói về Thiên Khí hiện cõi Trời có 18 tuần trời, trong 18 tuần đều hấp thụ Thiên Khí. Hiện cao thấp khác nhau, nhưng tất cả Chư Thiên thảy dùng tài trí hiện, có phần cao hơn địa giới công lực kiến tạo nơi tài các cõi trời tinh xảo gấp trăm nghìn lần Địa giới nó vẫn tùy ở Tuần Trời mà xuất hiện. Từ y áo, cung điện, dinh thự, lộng phướng, xiêm y, rồng phượng mỗi mỗi lập Bổn lấy uy là gốc, lấy quyền là dụng, lấy thế làm danh, lấy châu là chi dụng. Ngoài ra không thể lấy ứng, lấy thanh bai lả lướt của Tiên mà trang trí đặng.” –T.V.

Quả địa cầu được bao bọc bởi bầu khí quyển, tất cả sinh vật cho đến con người đều sống nhờ không khí. Thiền sư Chánh Giác như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc lấy Như Lai Nhãn Tạng nhìn được Chư Thiên, Chư Tiên sống nhờ Thiên khí, tinh khiết, trong sạch còn bầu không khí của thế gian bụi hồng trần quá dơ bẩn.

Một hôm tôi nghe Ngài khai thị như vầy: Quả địa cầu chúng ta có trên 200 quốc gia. Còn 18 từng trời, cứ mỗi từng lớn hơn gấp ngàn lần quả địa cầu. Con người ở Địa giới tức quả địa cầu này dùng công lực kiến tạo là dùng sức lao động xây dựng nên. Còn các Cõi Trời dùng tài trí là dùng tinh thần đạt thần thông hiện ra vật dụng lâu đài, cung điện, y áo, thực phẩm v.v... nên cái gì cũng tinh xảo gấp trăm ngàn lần thế gian.

Ở các Tầng Trời người Thiên luôn tôn trọng Bậc cao đạo là lãnh tụ. Bậc lãnh đạo rất uy quyền, lấy quyền ban cho Thiên nhân trong Cõi Trời của mình những gì lãnh tụ muốn. Lấy thế làm danh là lấy tu chứng thần thông cao thấp được thế đứng quan quyền đi đứng đều được Thiên nhân trong cõi Trời xem là Bậc có danh giá. Lấy châu làm dụng là ở Cõi Trời châu báu, xa cừ, xích châu, mã não... làm đồ dùng, khác thế gian vật dụng đều lấy từ trái đất gọi là đặc chất như cái bàn, cái tủ, cái ghế... đều gốc từ cây hoặc kim loại trong trái đất.

Tiền làm bằng giấy, kim loại, vàng bạc đều từ trái đất. Ở Cõi trời ai cũng có thần thông do tu chứng cao cấp hàng Thiên mà được sanh về nơi đó. Nên không có ai là công nhân, lao động để kiếm sống vất vả.

Muốn ăn, mặc đều được thần thông hiện không thiếu chi, chỉ tu tánh tình cao thượng thương người, hiếu thảo cha mẹ, trung với thầy cô, không nói tục tằn, không hành động mưu sĩ khác với thế gian. Kể không hết ý nổi, chỉ Bậc đúng mức Như nhiên xuất định đến nơi mới được chứng kiến tường tận rất thực tế, chứ không phải tưởng tượng hướng một nơi gọi là Định tưởng để đến, cái thấy nầy còn ngoại giáo.

Đến nay thế kỷ 20 sắp dứt, thế kỷ 21 bắt đầu Khoa học dùng đặc chất khám phá, trong lúc Đức Thế Tôn nay Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc cùng khai như nhau. Những Bậc có thiên nhãn, thiên nhĩ chưa đủ lục thông của Chư Bồ Tát đừng vội cho là nói tưởng tượng nữa.

Còn Chư Tiên mức sống, vật dụng còn cao rất nhiều, thanh bai tinh xảo, không dùng bút mực nói hết được. Vậy mà Bồ Tát xuất định vừa đến là được qúy trọng, được đưa đón để họ chờ thọ lãnh pháp không kể hết được.

Con người sống ở thế gian dùng thứ gì không không ngoài trái đất cung cấp nên không rời khỏi Tâm Địa được. Do đó nhiều tánh độc trổ hình phải nhờ tu hành sửa tánh tinh tấn thực hiện, chớ tu sắc tướng quá nặng không sửa tánh khi chết cái khổ đem đến rất tai hại. Nếu là Thiền sư Chánh giác nghe được, đọc được phần này liền nhẹ cảm thông không nghi ngờ như các nhà Khoa học. Vì Khoa học lấy hiện vật dùng mắt thấy. Bậc siêu siêu điện tử thấy chẳng cần mắt nơi thân.

“Còn về Thanh Ứng, Cảnh Tiên hay Cõi Tiên chia ra Bậc Thiên Tiên và Bậc Thần là hai giới có hai đặc điểm cực kỳ về Ứng và Thanh cách biệt nhau xa hẳn. Bậc Thiên Tiên chủ tọa về cảnh Tiên hay Tiên cảnh thanh ứng rất cao, hoa mỹ tuyệt mỹ. Bậc Thần Tiên tư thế về cõi Tiên thời thanh ứng có phần thấp thanh thoát có phần nặng thô hơn Thiên Tiên, Chư Tiên vẫn lấy tài phép làm gốc, lấy hưởng thụ làm thanh ứng hiện, nên chi y áo, lâu đài cảnh giới thảy đều thanh chất ứng hiện, tùy những vị cao qúy thần thông mà thụ hưởng, hoàn toàn khai thác thanh ứng an vui hỷ lạc. Ngoài ra không thể dùng hiện vật hay tài trí. Cũng như Địa giới không thể áp dụng được TƯỞNG mà thành vậy.” –T.V.

Cõi Tiên cũng chia ra nơi ở sang trọng cao đẹp, thanh bai đầy hoa mỹ gọi là Thiên Tiên. Cõi Thần Tiên cảnh giới, vật dụng thấp hơn Thiên Tiên. Chỉ riêng con người nơi thế gian lấy hiện vật từ trái đất làm ra. Phải bằng nhân lực, nếu máy móc thay cũng là trí tuệ, tài năng sáng chế mới có. Ngồi tưởng không thực hiện không bao giờ có. Cõi Tiên, Thần Tiên ngồi tưởng, vào Định tưởng không làm cũng có theo ý muốn. Cõi Trời chỉ biết cõi Trời, cõi Tiên chỉ biết cõi Tiên, Thần Tiên chỉ biết Thần Tiên chứ không đủ quyền năng từ cõi Trời đến cõi Tiên được. Ngược lại các cõi cũng thế. Cũng như con người trên quả địa cầu chỉ đi được trên quả địa cầu thôi, ra ngoài đến hành tinh khác không thấy sinh vật khác vì họ vô hình. Hàng Bồ Tát thành quả đi khắp. Chư Phật tận thành nên 10 phương đâu đâu cũng viên dung có và đến được. Muốn hiện hay ẩn do Bậc tu cao thấp đúng tầm mức mới thưa thỉnh tận độ chúng sanh được.

“Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác đã tận biết cơ sở tánh chất, phẩm chất, trọng lượng của mỗi nơi chúng sanh hỗn hợp gây tạo nên chi Ngài mới vạch ra tu hành nhiếp thâu tận thấu tất cả Thể Tánh Bổn Lai của mỗi mỗi giới mà tỏ ngộ gọi là sở đắc vạn pháp tỏ pháp, chớ chẳng chi tỏ pháp.

Nền khoa học ra đời đã từng qua, đã từng biết mỗi chất nó là mỗi chất nơi nó. Phẩm của nó ra sao, lượng của nó thế nào. Khi bào chế hoặc lúc ráp bộ máy cho nó đã từng biết tỷ mỷ hình thành nó, sáng tạo đặng nên hình mà sử dụng khác nhau theo các chiều hướng như: Máy điện toán, điện tử, máy thu hình, máy phát hình, cùng thu phát thanh chẳng hạn, cho đến những viên thuốc trong ngành dược phẩm có đầy đủ tánh dược, có đủ phẩm cùng lượng hiệp hóa rất tỏ rõ không lầm lạc tý nào.” –T.V.

Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác Như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã tận thấu tánh chất, phẩm chất, trọng lượng của mỗi chúng sanh nên Ngài mới lập ra pháp môn tu hành để cứu chúng sanh thoát khổ đi đến bất tử.

Còn nền khoa học ra đời đem tiện nghi từng thời đại làm cho con người sống thoải mái, thuốc giúp trị bệnh. Hai ngành đạo Phật và khoa học tiến song song nhưng khoa học chưa tìm được con đường bất tử nơi thân mạng.

“Đối với Chánh Giác Siêu Đẳng cũng như thế. Nhà Khoa Học khi chế biến còn dễ, vì chính tự tay mình hòa hợp chế biến, do nơi đầu óc thật biết của mình ráp các bộ phận hình thành bằng máy, những bộ máy kia toàn là hiện vật nó tùy thuộc theo lặng lẽ chấp hành nên rất dễ dàng điều động.

Còn Bậc Chánh Giác thật biết, biết tỷ mỷ còn biết hơn thế nữa, biết sự lầm lẫn, biết nơi tai biến, biết chỗ tác hại cuồng quay hư hỏng nơi đầu óc thân mạng con người, do nơi nào, do chốn nào mà nó lầm kêu vang sự cứu giúp nó. Nhưng trái lại Bậc Chánh Giác có quyền hướng dẫn khai hoang, phần con người phải phát tâm tự sửa tự giác đến Tự Thành, ngoài ra không có quyền bắt buộc sự việc này thật nan y khó giải. Nên Phật nói: Phật bất hóa độ vô duyên bất hóa độ Định Nghiệp.

Các Khoa Học Gia đành chịu sửa chữa bộ máy nơi con người, chính thân mạng mình cũng đành chịu với lầm mê trong con đường sanh tử. Đứng trong giai đoạn này, không riêng chi địa giới gánh chịu mà tất cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới, Tịnh Độ, rồng người chúng sanh đành chịu trở thành toàn diện đều là phế thân vô lượng kiếp vậy. Vì sao? Vì mỗi giới, mỗi chất, mỗi phẩm, mỗi nơi, mỗi chốn không thể nào vượt tầm số mình, vượt giới hạn trọng lượng mình để làm sự việc nào khác hơn chính mình làm, làm y như thế mà hứng chịu.” –T.V.

Các Khoa học gia, Bác học chế phi thuyền thám hiểm cung trăng cùng vũ trụ hãy suy ngẫm đoạn kinh trên. Chính Đức Di Lạc Tôn Phật viết trong thế kỷ 20 này. Hình ảnh Bửu tích Ngài để ở trần gian còn mới lắm. Nghi ngờ con người chết là hết thì hãy quay vào thân mạng mình tu sửa, Thiền định được chỉ dẫn cũng còn kịp thời gian được Thiền Sư Bồ Tát và chư Tổ thừa kế hướng dẫn để biết con người chết lai sinh tiếp nơi sống khác rất chân thật.

“Nhưng lạ thay. Hoàn cầu thế giới lầm tưởng Đạo Phật suy đồi Mạt Pháp. Sự lầm lạc này nó riêng từ cá nhân cá thể của mỗi một nhà nước. Nào ngờ các Bậc tin Phật tu hành quá đông, họ truy tầm cực điểm. Mỗi người, mỗi vị nương nơi giáo lý Phật, đến nỗi đọc tụng thuộc lòng từng chữ một, có hàng hàng lớp lớp. Nhưng lạ thay chưa thấm vào đâu, đó chính là đáng kể trong bài này.

Vì sao? Vì tần số chưa hoàn toàn thấu đạt Tứ Trí thì làm sao kết thúc chân lý giải thoát?” –T.V.

Tất cả chúng sanh hiểu biết theo sở thích cá nhân lầm lạc. Tứ trí chia ra bốn thứ lớp nhận định khác nhau nên khó biết nhau: Chúng sanh Trí gọi là Trí Hóa. Tiên Thần Trí gọi là Trí Sanh. Bồ Tát Trí là Trí Tồn từ như . Phật trí là Trí Tận.

Như Lai Tạng chung gồm Tứ Trí. Tất cả chúng sanh chỉ có Trí Hóa. Học, nghiên cứu trí hóa làm căn bản hiểu biết phát triển từng ngành. Bậc Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác như Ngài tận thấu Tứ Trí tức Như Lai tạng. Chúng sanh chạy theo trí hóa bị sanh vọng tưởng điên đảo. Phật đạo cho trí hóa là trùng trùng duyên khởi sanh diệt, diệt sanh.

“Trí Hóa là một nguồn máy phát huy, từ nơi thân mạng con người, nói chung lại là nguồn phát triển chung khắp vũ trụ Tam Thiên thế giới, nó nâng cao đời sống nhân loại trưởng thành khôn ngoan linh động trong các ngành, chia ra nhiều ngành như Khoa học kỹ thuật, các nghề nghiệp, các Bác sĩ, Kỹ sư, cho đến Bác học trong thế kỷ 20 nầy đang nhìn thấy, trên nguồn hiện sanh của thế giới không ngoài Trí Hóa mà ra.” –T.V.

Do quy chế Trí hóa mà từ nhà Bác học cho đến tất cả con người có khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ, khi trầm tỉnh lúc nóng nảy điên loạn. Khi hòa đồng lúc bất đồng sinh ra khổ. Đạo Phật dạy chúng sanh thấu đạt Như Lai Tạng Tứ Trí nên không có tình trạng mê lầm như vậy.

“Phần Trí Hóa đối với Nhân Sanh, Thiên Sanh, Tiên Hóa chung khắp vũ trụ Tam Thiên là một điểm chính của Tứ loài, thành thử vũ trụ Tam Thiên phải bị sống Nhị Nguyên phân đối sướng khổ khác nhau, được mất có không chưa bao giờ thoải mái. Vì sao?

Vì Trí Hóa nó tùy thuộc bản chất của mỗi con người phát sanh trí hóa, dù cho Bác sĩ, Kỹ sư Bác học cho đến tầng lớp không ngoài Tứ Đồ là điều khó giải. Tứ Đồ là đạo đức hay phi đạo đức. Hung cường và Mưu-Sĩ-Đồng mà khó giải. Phật đạo cho trí hóa chính nguồn điên đảo hóa nên mới có: Tất cả hư vọng đảo điên.” –T.V.

Dù cho Bác sĩ, Kỹ sư, bác học cũng không thoát khỏi qui chế Trí hóa. Phải bị sống nơi Nhị nguyên là sướng khổ, được mất, có không... Chư Phật Giác Trí về Như Trí thật quá siêu đẳng. Phật đạo cho qui chế Trí Hóa là nguồn điên đảo bất tận.

“Bậc tận thấu siêu đẳng nói đến Tứ loài Nhân sinh và Tiên cảnh Tam Thiên Đại Thiên thế giới dù cho những Bậc thông thái hiền triết hoặc giả vĩ nhân hiện đại văn minh chăng vẫn nằm trong Trí Hóa hư vọng. Vì sao? Vì Trí Sanh vẫn hóa sanh, trí tồn bị tồn, tận thấu chăng vẫn tận thấu hiện sinh hiện vật chớ bản thân chưa bao giờ tận thấu con đường siêu đẳng.

Do đó nên chi con người bước vào con đường đạo Phật. Trước tiên hỷ xả tất cả các sự trong thân tâm mình, dọn cho sạch sẽ Trí Hóa, Nhất Tâm đảnh lễ chiêm ngưỡng lễ bái Phật, nương theo ngôi Tam Bảo tu hành theo đạo lý và giáo lý làm nền tảng cải hóa giải nghiệp.” –T.V.

Trí hóa còn sanh diệt gọi là Trí sanh diệt. Trí Tồn của các nhà Khoa học do thiên tư cá nhân nhanh thấu hiểu ngành nào của mình, vẫn qui chế bị biết vì còn suy nghĩ nên bị Trí hóa. Dù Bậc tận thấu cũng là do hiện vật từ đó Trí hóa phát sinh. Bởi vậy để thoát khỏi Trí hóa bị sanh diệt nhà Bác học, Khoa học gia cần sửa, dọn cho sạch sẽ thân tâm mình. Có nghĩa hỷ xả tất cả việc chướng tai gai mắt đến với mình đến lúc kết quả trí không hóa nữa dần dần phục hồi Giác Trí đến Như trí. Tận thấu Trí lấy nghe thấy biết tức lấy Như Lai Tạng cải hóa giải nghiệp được Như Trí. Bậc sống trong Như Trí thật tuyệt mỹ khó có cấp nào thấu hiểu nổi.

Chư Bồ Tát tu Bát Nhã Ba La Mật Đa thấu đạt Như Trí. Chỉ Chư Phật tận thấu Như Trí. Nghe thấy biết viễn thông khắp xứ.

“Phải tự tánh tỏ tánh hóa giải Trí Hóa, rất cần đến Bậc Thiện Tri Thức hướng dẫn, vì sao? Vì Trí Hóa đặng Trí Sanh căn bản vào con đường giải thoát là một vấn đề đưa cho những Bậc tín tâm từ một kiếp giải thoát đến vạn kiếp chưa giải thoát. Con đường tu Phật quan hệ nhất từ chỗ Trí Hóa về với Trí Sanh đúng với tinh thần giải thoát liền đặng giải thoát bằng không đúng với tinh thần dù có tu vạn kiếp vẫn sanh tử.” –T.V.

So đoạn Kinh trên Chân Phật tử phải hiểu, cầu giác ngộ cần gặp Bậc đã giải thoát đi trước cứu độ cho mới được. Gặp rồi nếu tin vâng kính trọn chỉ cần một kiếp là đến. Lắm Bâc được gặp Đức Long Hoa Tăng Chủ mà thờ ơ không có tinh thần cầu Giác ngộ đến lúc Ngài ra đi họ vẫn chưa Giác ngộ được... Còn thiếu tinh thần vạn kiếp nữa có gặp Bậc Chánh Giác cũng như không gặp. Thời Hạ lai lắm Bậc lấy trí hóa, trí sanh tưởng mình là Phật thật mê lầm truyền kiếp.

“Nơi Trí Sanh tùy vào Trí Hóa của mỗi vị mà tu đạt. Có vị chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, có Bậc chứng Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn. Có Bậc nương vào Bình Đẳng Tánh Trí mà đường tu chủ quán sơn hà đại địa sau Trí Sanh sở đắc Pháp thân.

Khi bấy giờ đã sở đắc không còn phải dùng Trí nữa. Vì sao? Vì trí huệ vị trí trong căn bản Trí hóa, thuộc về tư tưởng phát sanh, Phật đạo gọi là Bản ngã giả tưởng. Thời này có rất nhiều Bậc tu hành sai lạc với hướng tu, lấy Trí Hóa vọng cầu trí hóa nên chi bị biết thật nhiều, bị tu không ít do lòng mong mỏi Trí Sanh, thêm vào đó nhìn nhận học vấn lấy trình độ học vấn để hiểu biết chân lý, làm sao tận thấu đặng chân lý, do duyên căn này mà bị chứng Chân Không Trí Sanh tăng thượng tu theo tối sáng mập mờ, hiếm Bậc Thực Chứng Chân Không, bậc này vẫn nương nơi Đạo lý, không tách rời Đạo Hạnh chẳng xa lánh Đạo Tràng gọi là Hạnh Nguyện.” –T.V.

Bậc Đại thừa cũng tỏ rõ trí hóa sau biết trí sanh nhưng còn cạn chưa sâu như hàng Bồ Tát thấu đạt Trí Hóa. Trí tuệ, học hành, nghiên cứu thuộc trí hóa. Trí hóa thuộc tư tưởng khởi sanh. Trí hóa làm cho nhiều Bậc lầm nghĩ xưng mình là Phật. Giác trí đến Như trí thấu đạt trí hóa nên không còn lầm nó. Dù Bậc cao cống trí tuệ đến đâu cũng không ra khỏi vòng đai sanh tử của nó.

Các nhà Khoa học hãy tham khảo Trí Hóa, tìm cho ra Như Trí sẽ thấy một chân trời mới lạ trong thân mình và sẽ nhận được một thể sáng như nhiên không gì qúy bằng. Không con đường nào khác, hãy tìm về chân Chư Phật, vết chân chư Bồ Tát mà đi dù nhà Bác học ở tôn giáo nào, hoặc không tôn giáo vẫn đem lại siêu trí rất bổ ích cho bản thân cho nhân loại. Lúc đó mới thật biết chỉ có Phật đạo mới triệt thấu siêu đẳng Khoa học, lại được minh xác trí tuệ Bác học nơi thế gian với Như Trí của bậc Chánh Giác cũng nơi thế gian chứ chẳng phải ly gia cắt ái, cũng chẳng phải do ăn chay, không ăn chay, cũng chẳng phải do ở tu viện, ở chùa. Ở bất cứ đâu cũng được tự do thoải mái không lệ thuộc giáo môn./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


52. Tâm Tình Diễn Tiến Phật Đạo

“Hàng Bồ Tát tu hạnh giải nghiệp vì hàng Bồ Tát chứng tri thể tánh vận chuyển của Như Lai Tạng, nương nơi Như Lai mà giác ngộ thành thử giải nghiệp sạch nghiệp rốt ráo thành Phật, do đó nên chi Bồ Tát không bao giờ diệt nghiệp để tu cầu.” –T.V.

Hàng Nhị Thừa tu Phật thấy nghiệp thức thường chướng bị biến đổi đủ chiều hướng nơi Nghe Thấy Biết. Nó là thể tánh vận chuyển của Như Lai Tạng thấy phức tạp, khó khăn, liền tránh né để diệt nghiệp. Kết quả tu thành Tiên Đạo.

Còn hàng Bồ Tát nương nơi Nghe Thấy Biết tức nương nơi Như Lai, vận chuyển vạn pháp qua tất cả chướng ngại cầu Chánh Giác nên quyết tâm giải sạch nghiệp, không bao giờ diệt nghiệp để tu rốt ráo thành Phật.

“Trên con đường tu Phật, Chư Bồ Tát thực hành pháp môn Phật Thừa, Chủ Quán Như Lai, Quán Như Lai là một pháp môn Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác. Tâm qua tất cả bối cảnh nghịch cảnh giải nghiệp vướng mắc thọ chấp ngăn ngại của Bồ Tát, nhờ thường chủ quán mà thấy nghiệp di chuyển ra vào, năng chấp dị phân nơi thân mạng mình, cùng tất cả con người quần chúng nhân sanh, cho nên miệng nơi mình thường nói ra, thời kẻ kia bắt lấy, nghe qua tức giận hay vui mừng, thỏa mãn hoặc nghi chấp, từ thế nhân con người học chỉ sống nơi chỗ sống chạy theo nghiệp hơn là tự sống quân minh, do đó nên Chư Bồ Tát dẹp tất cả nhỏ nhen liên hệ khởi sanh nghiệp mà sống nơi sống sáng soi nghiệp thức tỏ ngộ mà thôi.” –T.V.

Chủ quán Như Lai có nhiều lớp là pháp môn Nhất Thừa tu thẳng đến Thanh Tịnh Tâm thông đạt Nhất Tâm mà hoàn toàn Tri Kiến Giải Thoát. Trước tiên hàng Nhất Thừa đã được hỷ xả sâu, nương nhờ pháp quán xét nơi Nghe Thấy Biết trong thế gian gọi là bất ly thế gian, lướt qua các pháp được hồi tâm, được rỗng rang, chẳng còn mắc miếu, sâu hơn Đại Thừa sạch nghi đến Đại Thanh Tịnh.

Nhờ thường chủ quán mà thấy nghiệp thức di chuyển ra vào làm lầm chấp nơi thân mạng, thấy tất cả đều chạy theo nghiệp không thoát sinh được. Nghiệp ăn sâu thành nghiệp căn, tỏ rõ tỷ mỷ khỏi lầm nghiệp Kiết Sử vi tế mới dẹp nhỏ nhen không sanh nghiệp, thân tâm thanh tịnh, được Thiện Tri Thức diệu dụng Biệt Tôn Đốn Ngộ để khai thị làm cho Bậc này sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Hàng nhất thừa là hàng không còn phân đối pháp, quân minh thực hiện tuyệt đối pháp, lấy Như Lai nương Như Lai không còn lăn tăn gợn sóng ngăn chấp. Nhận được pháp Đốn Ngộ thì Nghe Thấy Biết tỏ rõ, rỗng rang sở đắc được Bổn Lai Diện Mục của mình, của Như Lai Pháp được Đại Thanh Tịnh vào Nhất Tâm. Bậc tu hành chưa sạch lý, chưa được Bậc Thiện Tri Thức chỉ bày, còn chướng chấp nếu tu Đốn Giáo rất có hại vì không thi hành không biết làm sao cho sạch nghiệp lại dùng tâm tham, sân, si thuộc Đốn Môn liều lĩnh mang nuôi bệnh rất có hại là như thế.

“Có Bồ Tát thưa hỏi Phật: Bạch Thế Tôn, con lầm mê, càng tu càng thấy mê lầm, con có giải nghiệp đặng thấy nghiệp mà giải. Bằng con cứ an nhiên, con không bao giờ thấy nghiệp. Đức Thế Tôn Ngài hỏi: Ông thấy nó, ông lấy chi để mà thấy?
Bồ Tát đáp: Con thấy lấy cái thấy mà thấy. Ngài tươi cười nói: Cái thấy đồng với thấy không bao giờ đặng thấy, chỉ ngoài cái thấy mới thấy mà thôi.” –
T.V.

Rất nhiều Bậc tu thời Hạ lai không chú tâm thực hành hạnh nguyện giải nghiệp. Nghiệp rất khó thấy, nếu bậc tu tinh tấn nhận được nó cũng thấy cạn cợt không thiệt thấy hết. Có thực hành mới thấy nghiệp trổ mà giải. Phải dung thông, tâm đứng ngoài hoàn cảnh không vướng mắc, không bảo thủ cá tánh mới lấy cái thấy để thấy.

Cũng như chuyện người ngoài mình thấy rất rõ nghiệp của họ, còn chính nghiệp của mình lại không bao giờ thấy, dù Bậc chú tâm cũng không thấy hết được. Lấy cái thấy để thấy tức lấy Như Lai Nhãn Tạng để thấy.

“Bồ Tát tán thán, hay thay tán thán cứu tinh Phật Đạo. Con đang ở nơi nghiệp không bao giờ thấy nghiệp, con đang lầm lạc chưa bao giờ tránh đặng lý sự lạc lầm. Con nằm yên chưa bao giờ nhận chân Phật Đạo chứng tri. Con phải nương theo vết chân Bồ Tát Phật mới trưởng thành Đạo Phật. Con đã thật biết hay đã từng biết, sự diễn tiến đạo Phật, con nên tiến từng giai đoạn diễn hành cốt tỏ ngộ, nhận đặng tâm tình Chư Phật đã cứu giúp con, tình nơi Chư Phật chính là một mối tình không phương mà chúng con được cứu trợ nâng đỡ con từng bước tiến. Con đã từng tỏ rõ nghiệp là tự con ngăn chận hoài mong cái sống chỗ sống tự ngã do con. Thế mà lúc con xả ra cho thật hết nghiệp lại tự mang lấy cấu nghiệp nằm yên chờ chân lý giác ngộ.

Con đã từng nghe, sạch nghiệp mới dung thông tận thấy biết mà tri kiến. Bằng chưa dung thông thì chưa bao giờ sạch nghiệp. Bồ Tát tán thán xong bái lễ. Đức Thế Tôn gật đầu yên lặng chứng minh.” –T.V.

Hàng Đại Thừa hỷ xả tỏ rõ giải nghiệp. Bồ Tát biết chân lý có sẵn khắp nơi như lớp lớp bụi vi trần chung khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Nó là Pháp Thân Phật, hàng Bồ Tát biết sự vận chuyển mà thành Như Lai Tạng nên thường tâm niệm tin Phật – tin Pháp – tin Tăng để rốt ráo giác ngộ. Tâm tình Chư Phật luôn cứu giúp khắp muôn phương, Bồ Tát thức tỉnh liền đâu đâu cũng có Phật Lực cứu độ lúc diễn cảnh cho đến hồi cam go, khó khăn làm cho Bồ Tát sạch nghiệp, biết nghiệp do tự mình hoài mong, tự ngã phải mang cấu nghiệp.

Bồ Tát theo vết chân Chư Phật Bi Chí Dũng thực hành dung thông đến sở đắc viên dung tận thấy biết sạch nghiệp là cốt yếu. Khi đã sạch nghiệp Bồ Tát được nhẹ cảm, như nhiên thân cận Như Lai Phật thật không gì qúy bằng. Dù của cải đầy nhà Bồ Tát biết qúy Chánh Giác nên cái gì cũng dám đánh đổi để chung cùng với Như Lai.

“Con đường duy nhất các Bậc thảy đều bước qua không thể nào tránh được. Từ Đức Bổn Sư thành Phật đến hàng Bồ Tát nương theo qua từng cơn giải nghiệp, qua từng lý trí sáng soi, qua từng giai đoạn giải tỏa, nó càng nhịp nhàng bao nhiêu thì tâm tình Đạo Phật, giữa Đức Chí Tôn cùng Chư Tổ lại càng giao cảm bấy nhiêu. Có như thế nên chi các Bậc Bồ Tát không bao giờ củng cố quả vị. Vì sao?

Vì địa vị hay quả vị củng cố cũng đứng vào hàng hư vị danh giả, nên chi mới công dụng Lý Trí dung thông đương nhiên quả vị. Nhờ nơi Lý Trí dung thông là do xa lià Ngã cùng Ngã Sở, nhờ xa lià Ngã mà chẳng bao giờ có tự Ngã, tự tôn kết quả không man khai tướng Phật chỉ thể tánh đồng đẳng chung cùng với Phật mà thôi.” –T.V.

Bậc tu nào cũng vậy, từ hàng Bồ Tát đến thành Phật đều phải trải qua từng lúc khó khăn giải nghiệp, Chư Bồ Tát lúc đầu cũng phải dùng ý trí sáng soi, giải tỏa nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu, nghiệp kiết sử từng lớp lớp sau sạch nghiệp được kiến diện Như Lai. Chính vì khó khăn như thế nên Chư Phật rất giao cảm với Chư Bồ Tát. Phần Bồ Tát tri ân Chư Phật phải cầu tiến mãi không ngừng nên chẳng bao giờ củng cố vị trí tu chứng. Nếu củng cố là dừng trụ bị sa vào pháp giới đồng với Nhị Thừa tu chứng. Bồ Tát ý thức được như vậy nên không cầu hư vị danh giả, sống bình dị thân cận chúng sanh, nên chúng sanh, A La Hán không nhận ra được.

“Bậc Chánh Giác trong sáng lành lẽ, lời vàng Chân Lý từ Kim Thân phát hiện, tất cả Chư Bồ Tát mỗi bậc lãnh lấy Chân Lý mà tu hành thời gian sở đắc Chân Lý ra làm một vị Tổ thừa kế chỉ giáo. Các hàng Chư Tiên, Chư Thiên, Chư Thần, Chư Long Thần đồng với Chư Hộ Pháp đến Hộ Pháp Bồ Tát, nghe đặng mỗi một lời nói. Lời nói ấy lãnh hội đặng hay không do lòng cung kính Phật mà thọ trì lãnh lấy liền sở đắc pháp Chân Lý, hoặc giả tiếp nhận một hơi thở hay nhìn một ngón tay hay một ngón chân Phật đang bước nhẹ nhàng thoải mái để lãnh lấy Chân Lý, với hàng Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Hộ Pháp, Hộ Pháp Bồ Tát Ma Ha Tát, tận tường chu đáo rốt ráo Chánh Giác thành Phật.” –T.V.

Tu đến rốt ráo chân lý thành tựu Bồ Tát thật quá khó khăn. Nếu có thành tựu phải đợi nhiều kiếp gặp Phật chứng minh nhập thể mới thật sự đại diện Chư Phật tận độ chúng sanh. Còn từ Bồ Tát tu đến rốt ráo thành tựu Diệu Quả Bồ Đề như Đức Bổn Sư nay đến Đức Di Lạc thật hiếm hoi vô kể. Chư Bồ Tát được tương thông Phật Lực thừa kế chỉ giáo tất cả các hàng từ Hộ Pháp, Hộ Pháp Bồ Tát đến Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thần, Chư Long Thần nghe được một Pháp liền lãnh lấy sở đắc Chân Lý. Hàng Bồ Tát vì nhạy cảm, nhanh hiểu biết nên nhìn qua một cử chỉ, một ngón tay hay một ngón chân Phật diệu dụng cũng dễ thoải mái lãnh lấy chân lý chu đáo. Vì Chân Lý vốn sẵn có, chỉ bậc nặng nề do nghiệp khó nhận, bậc nhẹ cảm dễ tiếp thu, chỉ cần một cử chỉ nhỏ nhặt của Phật cũng cảm thấu nên Chư Phật và Chư Bồ Tát rất dễ cảm thông nhau qua Giác Tướng Đại./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


51. Về Với Chân Tôn

Bậc thấu đạt Như Lai tạng là những vị Đại Bồ Tát, đã từng bao quản cúng dường Như Lai, phụng hành tạng pháp của Chư Phật Nhất sanh Bổ xứ thành Phật, tất cả vạn pháp trơn liền, ra vào Viên giác.
–Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh

“Chân Tôn là một lối tu Phật thừa không trực thuộc pháp môn chỉ nương theo con đường Trung Đạo nhiếp thu tỏ tánh mới vào Phật thừa tu tập, chân tôn tường tận, pháp đảnh viên đạt Như Lai Tạng mà thôi.” –T.V.

Đại Bồ Tát là Chư Vị đã từng biết cúng dường Như Lai, từng tu cận kề sát thể với Như Lai, đã từng thấu đạt Như Lai Tạng vào ra vạn pháp trơn liền rốt ráo được về với Chân Tôn. Khi đang tu tập cầu tri kiến giải thoát để được ban hành chứng minh, những Bậc này còn phải tu hành pháp môn Phật Tri Kiến cho giác ngộ rốt ráo, muốn vậy phải thực hành hoàn toàn đầy đủ Phật Thừa còn gọi Tam Thừa, chung lại một gọi là Nhất Tôn Hạnh. Thấu đạt Chân Tôn.

Nhất Tôn Hạnh gồm có Tiểu Thừa, Đại Thừa, Nhất Thừa. Hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát còn gọi Đại Bồ Tát mỗi mỗi đều thị hiện Trung Đạo Tôn, con đường thị hiện sắc thân Tam Muội nên không còn bị gò bó giáo điều, không còn lệ thuộc pháp môn. Vì sao? Vì Bồ Tát đã trực giác biết thị hiện Như Pháp không còn y Kinh cũng chẳng ly Kinh, được thấu đạt Pháp đảnh Như Lai Tạng.

“Kể cả hàng Bồ Tát hạnh, Bồ Tát nguyện, lần nơi hạnh nguyện vẫn mơ màng, do đó mà thoái chuyển, phải tu hành Bát Nhã đến Bất Thối Bồ Tát vào Phật Thừa Chân Tôn Pháp Đảnh Chứng Tri Pháp Đảnh Như Lai Tạng. Do lẽ ấy nhiều Bậc lầm nhận sự lý kín nhiệm Như Lai, thật ra Như Lai không kín nhiệm. Nơi lầm lạc mơ màng cho đó là đóng mở Như Lai, thật ra Như Lai không đóng mở.” –T.V.

Những vị còn đang tu Bồ Tát hạnh, Bồ Tát nguyện chưa thành tựu Bồ Tát vẫn mơ màng chân lý vì thấy biết pháp giới chưa sâu đậm.

Hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát đã thấu đạt nơi Chân Lý Thực Tiễn, từng phút giây tường tận tỏ rõ tỷ mỷ sự di chuyển vạn pháp nơi thân mạng, thành tựu hỷ xả và vận chuyển được vạn pháp hồi Chân Tôn. Hàng A La Hán cao nhất đến Liễu Ngộ, tỏ rõ hỷ xả nhưng đây là khúc eo vĩnh cửu phải qua vận chuyển thành công vạn pháp mới bước vào Nhất Thừa không hai tướng.

Thời Hạ Lai này Chư Tổ quá khứ giỏi thuyết, giỏi hỷ xả, đến đó đứng yên. Đức Long Hoa Tăng Chủ phải vận dụng cho Khoa Thi nhưng rất nhiều vị còn kẹt ở Phật giới không qua nổi, có vị đã được khai con đường Nhất Thừa nhưng chung kết không thi đậu. Do vậy mà không được Ngài ban hành chứng minh. Vì sao? Vì không thấy, không biết sâu đậm nghiệp thức để thoát sinh cho sạch lại sinh chán nản làm tăng thêm nghiệp căn nghiệp kiết sử. Lắm bậc giảng Bát Nhã lại không thực hành đúng được Bát Nhã, vận chuyển pháp không tự tin, không khẳng định được đúng hay sai, còn mơ màng trở thành lý bí Bát Nhã.

Bậc tu không chuyên hoá giải vạn pháp mới có tối sáng không chừng nên lầm nhận Như Lai kín nhiệm, Như Lai đóng mở. Thật ra nghe thấy biết vốn Như vậy, Bậc tu thọ giới bảo thủ thành Không Như. Do đó mới biết Như Lai không kín nhiệm, Như Lai không đóng mở.

“Phật Pháp. Chính Phật thời không Pháp, mà chưa thọ Pháp thời không có Phật. Cũng như: Giác không còn mê, lúc đang mê phải tu cầu Giác.” –T.V.

Chính Phật thời không Pháp. Vì sao? Vì Chư Phật đã thành tựu Phật tánh, đâu đâu cũng đều hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, mỗi sát na là Vi Trần Phật, Sát Na Phật, dưới mắt Phật chỉ có Nhất Tướng đâu còn hai tướng nên Phật thời không Pháp.

Bậc đang còn tu phải nương vạn pháp, tỏ pháp, thấu đạt pháp đến tận thành pháp. Khi đã giác ngộ rốt ráo, nghe thấy biết không còn mê. Ngoài ra những Bậc tu còn đang mê lầm phải tìm chân tánh để tu, phải nhất tâm tự tánh tỏ tánh. Khi còn thấy nghi nghi chấp chấp, còn mơ màng chưa sạch sẽ Hoa Pháp Tánh là còn mê. Chúng sanh lầm mê nơi vạn pháp không thể kể hết được, Chư Phật rất khéo lưu lại Tam Tạng Kinh để giải mê, phá nghi chấp cốt nâng đỡ chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát Rốt Ráo như Phật. Vì vậy Phật không bao giờ có Pháp nào của Phật cả, chỉ giải mê lầm cho chúng sanh mà Phật hoá pháp đem đến bất sanh bất diệt cho chúng sanh, Thánh Hiền, Bồ Tát thôi.

“Bậc thấu đạt Như Lai Tạng thật biết, biết tỏ rõ, biết tỷ mỷ Như Lai Tạng thường còn, thường sẵn có cùng khắp không thiếu sót Như Lai Phật cho đến tất cả chúng sanh, rất bình đẳng dung thông. Do tại Đức Độ, do tại trọng lượng bản năng, rộng hẹp, dài ngắn, vuông tròn từng khía cạnh mà nhận lãnh. Khi đã nhận lãnh mỗi một hạt vi trần Phật nào thì thừa hưởng mỗi vi trần Phật ấy. Bằng nhận một khối hay một thặng hoặc giả một cân cho đến bá thiên vạn cân khối liền tự mình thừa hưởng chớ chẳng ai ban cho mình, phải tự chính mình mà đặng thành đạt tận thấu tận hưởng Như Lai Tạng chăng?” –T.V.

Bậc thấu đạt Như Lai Tạng thật biết tỏ rỏ, biết tỷ mỷ vạn pháp hồi Chân Tâm, không còn khởi sanh diệt, cấu tịnh, tăng giảm. Đó chính Như Lai đồng hiệp Tạng gọi là Như Lai Tạng đặng quân minh trực giác liền biết Như Lai Tạng vốn thường còn khắp nơi chốn. Từ Như Lai Phật cho đến chúng sanh đều bình đẳng từng lớp lớp.

Do tại chúng sanh tự phân biệt chạy theo biệt phân trở thành pháp giới. Pháp giới thì thiên hình vạn trạng như rộng hẹp, dài ngắn, vuông tròn. Mỗi giới đều vẹn vừa với nó mà nhận lãnh. Tự mình tạo mình phải lãnh chớ chẳng ai ban cho.

Mỗi pháp giới khi đã tu tỏ thấu đến Chánh giác thì nó là mỗi vi trần Phật. Một vị thành Phật có hằng hà sa số vi trần Phật, mỗi vi trần Phật có tính chất, phẩm lượng nơi nó, nên Bồ Tát thành quả A La Hán không sao hiểu thấu. Còn thành Phật như đức Vô Thượng Tôn Di Lạc cũng không có ai hiểu đầy đủ thể hiện của Ngài. Trừ trường hợp đến mức thi hành Đại Bồ Tát, Ngài mới Mật Ấn để thọ lãnh Như Lai Tạng mà hành tiếp cho đến Nhất Sanh Bổ Xứ thành Phật.

Thật không có chư Phật A Tăng Kỳ kiếp cũng chưa tìm đường đi tới suốt suốt được. Nói trên thực tế còn lý luận ai muốn nói gì cũng được. Phật duy nhất Phật thừa chớ chẳng có Tam Thừa. Do như vậy nên Chư Bồ Tát tin vâng kính đều là Duy nhất Phật Thừa còn chúng sanh căn cơ không đồng mới có Tam Thừa. Chư Phật nương theo để chỉ đạo khai thị.

“Bậc thấu đạt tận thấu rất cảm mến chúng sanh, rất thương mến chúng sanh chẳng khác thương mến, cảm mến thân mạng mình, không có bờ ngăn cách Phật và chúng sanh chỉ nhìn nhận mình tỏ rõ tỷ mỷ mà chúng sanh chưa thấu đạt thôi, chỉ nhìn nhận nơi mình vô biên Bảo Châu, vô số Kim Châu, vô lượng Bích Châu, vô xứ Thanh Châu, vô kể Hoàng Châu, nên chi gần gũi tất cả chúng sanh làm thầy trò, giả làm anh em hoặc vợ chồng, cha mẹ để đem bảo vật ban cho rất nhiều tư cách, rất nhiều vai tuồng tùy theo hình thức, phương diện, miễn chúng sanh chớm nở hoặc khởi điểm liền có năm thứ châu trao tặng, thế mà vẫn bị rơi bị rớt vì chưa biết sử dụng chớ chưa hề mất hẳn các thứ ban cho." –T.V.

Chư Bồ Tát Trực giác được vô minh sâu mới biết tường tận ý nghĩa bảo châu... trước tiên cũng từ chúng sanh tu tập đầy công năng công đức không còn bờ ngăn cách mà tận thấu các giống hạt châu, tận tường chúng sanh tánh. Từ đó rất thương mến chúng sanh, rất cảm mến chúng sanh như thương mến, cảm mến thân mạng mình.

Bồ Tát biết nhìn nơi mình lúc chưa Trực Giác còn là chúng sanh có vô biên nghi chấp, vô số sợ sệt, vô lượng nôn nóng, vô xứ mong muốn, vô kể ngẩn ngơ. Sau Bồ Tát nhất tâm Bi Chí Dũng, Giới Định Huệ, Lục Ba La Mật Đa không nhàm chán lướt qua vạn pháp nghịch, chẳng còn tập khí viễn vông. Không còn nghi ngờ hai Pháp thân cảnh, có không, đâu đâu cũng viên dung. Bồ Tát liền thấy biết lạ thay! Qua năm chủng tánh chúng sanh trên liền thấu đạt vô biên Bảo Châu, vô số Kim Châu, vô lượng Bích Châu, vô xứ Thanh Châu, vô kể Hoàng Châu. Tâm không động vọng, ý chẳng thối chuyển, nhập lưu 42 ngày qua bờ bên kia thấu đạt các diễn cảnh chính tâm Chân Như. Chỉ kém Phật 49 ngày đêm tận thành qua bờ bên kia, chỉ Bậc sở đắc mức tu chứng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát mới cảm thông mà thôi. Ngoài ra nó vượt tầm nói năng, vượt tầm lý luận, vượt tầm hiểu biết.

Bồ Tát thật biết sống trong thế gian phải có cha mẹ, vợ chồng con cái, anh em, dòng họ. Bồ Tát giả mê hoá thân vẹn vừa cốt ban cho rất nhiều phương tiện khiến cho có bậc Trực Giác được con đuờng Nhất Thừa: Không khen cũng chẳng chê, không phải cũng chẳng quấy, không thiện cũng chẳng ác, không đạo đức cũng chẳng bỏ đạo đức, không hòa cũng chẳng đạp đổ ai, không gần cũng chẳng xa. Tất cả cũng không ngoài năm thứ châu qúi báu trên. Còn số đông không nhận lãnh được nhưng cũng không mất, nó chứa trong các hộc nơi Như Lai Tạng chờ đủ căn cơ nó hiện, chỉ lâu hay mau do nhất tâm mà thôi.

“Các ông nên nhớ kỹ, nhận định kỹ càng: Bậc Chánh Giác từ nơi Bảo Tạng Phật minh thuyết, Bảo Tạng này chung gồm năm châu báu nói trên, mang ra minh thuyết có đầy đủ Chư Bồ Tát phụng hành cho đến Chư Thiên kính bái chiêm ngưỡng Tạng Pháp, nên mới xưng tán Bảo Pháp Ngũ Châu lời vàng Phật thuyết.” –T.V.

Bậc tu nên quan tâm đọc kỹ, nhớ kỹ, nhận định kỹ lời của Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đây chính từ nơi Bảo Tạng Phật minh thuyết Chư Bồ Tát thi hành Nhất Tôn Hạnh. Còn Chư Thiên nhẹ cảm nên kính bái chiêm ngưỡng một thời nào Trực Giác bước vào Bồ Tát Hạnh, Bồ Tát Nguyện chừng đó mới biết Ngũ Châu chính lời vàng qúi báu biết chừng nào. Vật chất được đầy đủ, giàu sang, nhà cao sang cũng không ngừng sự tham muốn, không giải khổ đau do sanh, lão, bệnh, tử vì nó còn sắc vọng. Chư Phật thật biết bổn lai nguồn gốc chúng sanh không đảo vọng, tất cả đều có sẵn Viên Tịch Chách Giác, do Cái Muốn rồi nghĩ mà hành theo ý muốn trở thành tư riêng thành có sanh ra vạn pháp gọi là nghiệp đã là nghiệp liền bị nhiễm độc mà mê lầm chấp nhận mới có sanh tử luân hồi.

“Còn đối với chúng sanh nương nơi pháp tu học thọ pháp lần nơi pháp hóa giải hồi Tôn, về với Chân Tôn sở đắc Phật Pháp sở chứng Như Lai Tạng, tự tánh tỏ tánh, phi đạo suốt đạo, dung thông thấu đạt Như Lai Tạng, con đường này gọi là: PHÁP TẠNG.
Một chiều nhưng hai lối. Chư Phật thời cứu giúp chúng sanh dụng Bảo Pháp Ngũ Châu vị trí Tạng Pháp. Còn về phương diện chúng sanh nhận lãnh Bảo Pháp, phải nương tỏ pháp trở về Chân Tôn Bảo Tạng Phật Thừa Tri Kiến Giải Thoát.” –
T.V.

Bậc tu nơi vạn pháp hoá giải đến thấu đạt mới nhận diện được Như Lai Tạng gọi là Pháp Tạng, gọi là về với Chân Tôn.

Tu vạn pháp là một chiều khi tỏ rõ Như Lai Pháp nhập Tạng là hai lối, nhớ biết qúi Ngũ Châu nên trí tuệ tăng trưởng sáng soi nghiệp thức cùng vọng khởi, không còn chọn thanh bỏ thô, không còn chọn lành bỏ hung dữ, không còn chán chê sự thế vô thường sống chết đảo điên, không còn tu nặng nhẹ, được mất, có không mà dung thông Như Lai Pháp tỏ pháp, thấu đạt pháp hồi Chân Tôn Phật Thừa còn gọi là Nhất Thừa đó là con đường đi đến hoàn toàn Tri Kiến Giải Thoát.

Còn đối với chúng sanh thì năm thứ độc hại: Nghi chấp, sợ sệt, nôn nóng, mong muốn, ngẩn ngơ làm cho không thấy, không nghe, không biết đặng châu báu của Ngũ Châu nên phải được khai thông cho nhập Như Lai Tạng hồi Chân Tôn.

“Nơi thọ sanh ly diệt nầy, dù cho Bậc Thiền Trí cho đến siêu phàm, cho đến tỏ pháp chưa về với Chân Tôn vẫn nằm nơi pháp giới mơ màng không lối thoát. Sự đòi hỏi toại nguyện đáp số theo nhu cầu con đường tu hành giải thoát tử sanh nơi Bậc tín tâm tín đạo chưa hẳn là ít, cho đến nỗi phải hỏi Bậc Thiền Sư trong hàng Bồ Tát rằng: Làm thế nào, tu như thế nào giải quyết tử sanh? Thiền sư đáp: Làm theo sanh tử, tu theo sanh tử mà giải quyết tử sanh.” –T.V.

Thiền trí là do chủng nghiệp của chúng sanh mà có. Chúng sanh chia từng giới bị lầm mới có chướng đối nhau và cảm mến nhau thành nghiệp. Bậc có Thiền trí biết do nghiệp dẫn đi sanh tử luân hồi, chớ thể tánh vốn sẵn từ vô thủy vô chung an nhiên viên tịch sẵn có nơi chúng sanh. Bậc có Thiền trí, cho đến bậc siêu phàm làm Thánh mà chưa đến mức hoàn toàn Tri kiến Giải Thoát vẫn còn mơ màng chân lý. Vì sao?

Vì chưa ra khỏi vòng đai pháp giới của vũ trụ, vì còn về cõi Trời, cõi Tiên… còn giới thuộc qui chế chúng sanh giới. Bậc siêu phàm có thể chỉ đường cho chúng sanh tu hành về cõi Trời, cõi Tiên nhưng chủ yếu của Chư Phật đưa chúng sanh thoát khỏi vũ trụ, đứng ngoài vũ trụ, làm chủ vũ trụ, điều động vũ trụ mới Tri Kiến Giải Thoát con đường sanh tử.

Vậy làm thế nào, tu như thế nào giải quyết tử sanh? Chung cùng với chúng sanh, nương theo vạn pháp nơi chúng sanh hoá giải nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu, nghiệp kiết sử gọi là tu theo sanh tử để hết tử sanh.

Nếu Bậc Thiền Trí không theo thể tánh Thiền như trên mà huân tập định tưởng đều là ngoại giáo còn sanh diệt. Chư Bồ Tát khi Chánh Giác cũng có lúc dụng định tưởng, không bỏ cũng chẳng lấy vì đã thoát sinh khỏi pháp giới. Đó là đặc điểm của Nhất Thừa.

“Tu trên con đường giải thoát cực kỳ tế nhị từng phân lượng nơi Bậc chứng tri và thực chứng khác nhau, cứ mỗi nơi sở đắc có bá vạn đường tẻ khác nhau, chẳng khác nào : Bậc đắc pháp Thường Chân liền theo nơi đó tự nhận đồng đẳng thường chân là chân thật, chính ra nó vốn chân thật thường còn bất biến ở trong khía cạnh nào thôi, chớ chưa hẳn là rốt ráo Chân Tôn tận thấu.” –T.V.

Bậc chứng tri là Bậc tỏ đạo do từ lý trí để biết, Bậc thực chứng được các pháp Bình Đẳng, Phật tánh bình đẳng do không đảo vọng mà Bình Đẳng Tánh Trí. Đặng Bình Đẳng Tánh Trí thời mới đặng tỏ thông các pháp không lầm lạc sanh tử. Nếu theo lý trí là còn cái muốn để chứng đạo thì ý muốn là Bất Bình Đẳng đã Bất Bình Đẳng thời vọng loạn vậy. Cứ mỗi nơi sở đắc có bá vạn đường tẻ khác nhau. Vì sao?

– Vì Bậc xuôi dòng cứ cho sở đắc của mình là nhất, không tiếp tục chịu lìa Ngã, Ngã Sở để gặp Bậc Minh Đạo Thiền Sư từ hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát đến chư Phật. Nếu gặp qua một vài câu đơn sơ cũng lợi ích vô kể, mới biết mình đang đứng ở mức nào của sở đắc, đang đi ở đuờng nào.

Vì vậy lắm Bậc chứng tri vô tình đi ngược lại con đường Tri Kiến. Mỗi Bậc tu có một trực giác rộng hẹp nên không bao giờ sở đắc đồng đẳng thường chân là thật được. Do tại pháp tánh nó bình đẳng viên dung vẹn vừa vô kể, nó có thể đưa Bậc sở đắc chưa rốt ráo lầm theo cái còn khởi muốn xưng Bồ Tát, xưng Phật không biết thấy hết tập khí sanh tử đến vô lượng, vô biên kiếp. Pháp tánh cung đốn Bậc muốn tuyệt mỹ khả thượng, khả hạ, nó là Bậc thầy của Bậc chứng tri còn ước vọng, mong cầu xa xôi mà chìm trong sanh tử chịu làm chúng sanh nơi các cõi mà không hề hay biết. Pháp tánh nương chiều tất cả Bậc tu còn cái muốn. Nó không phân biệt là ai, nó chỉ chiều cái muốn thật vẹn vừa nên không có Bậc chỉ đạo dễ lầm.

“Bậc trụ xứ thường chân, đương nhiên chưa đào sâu vạn pháp, biếng sanh lười trễ Phật pháp hoang mang. Một là nhiếp thâu thường chân về Tịnh Độ. Hai là nhiếp tâm tu luyện, ba là mơ màng Vô Minh pháp nhẫn không thể nào thoát sanh. Những Bậc đắc pháp thường chân tu đến chân thường rất hiếm. Vì sao? Vì thường chân là một bước đầu thân tâm bình đẳng phải tu trì đạt đến tận cùng bản thể tâm. Bản thể chân tâm chính là về với chân tôn cao qúy." –T.V.

Những Bậc đắc pháp thường chân tu đạt nơi Nghe Thấy Biết vào biển Như Lai pháp, từ đó đến chân thường tức tu thấu đạt Như Lai tạng.

Tu nơi Như Lai pháp không còn nặng nhẹ, không còn cấu tịnh, không còn tăng giảm, vạn pháp được viên dung từng lớp lớp. Tỏ rõ bổn lai từng pháp không còn lầm. Pháp hồi tâm, sở đắc Bản Thể Chân Tâm. Càng kiểm soát tỷ mỷ, từng chi tiết vạn pháp càng thấu đạt rốt ráo không còn cạn cợt. Những Bậc đắc Như Lai pháp tu đến chân thường rốt ráo rất hiếm.

Tỷ như tu giải Khổ đắc pháp độ Khổ, tỏ rõ Khổ, cần hoá giải pháp Khổ gọi là tận thấu tận diệt Khổ, phải tập thi hành độ Khổ, xem xét kỹ từng ly từng tý không còn kẽ hở, Khổ không chui vào tâm đứng mới sạch Khổ. Phải tu như vậy là rốt ráo về với Chân Tôn tận thấu. Đường đi chi ly kín là của Nhất Thừa mới bước vào biển cả Tam Muội được. Đắc bản thể chân tâm phải là Bậc thấu đạt đầy đủ pháp giới lớp lớp bình đẳng gọi là về với Chân Tôn. Không nên suy luận Nó cũng có. Nó cũng không. Muốn có liền có. Muốn không liền không. Nó không hai. Nó không có chỗ chỉ đều chưa đạt bình đẳng mơ màng phân hai không quyết định Duy Nhất.

Vì không quyết định được Bản Thể Chân Tâm nên chán ngán đứng yên về với tịnh biệt, gọi là Tịnh Độ. Thật ra Tịnh Độ thật sống động, thật tỏ tuờng bản thể Chân Tâm. Có Bậc không đứng yên tịnh để độ thì bước vào đường tu luyện thần thông tài phép cũng không về với Bản Thể Chân Tâm. Có Bậc chưa đủ pháp nhẫn chưa sở đắc vô sanh rốt ráo cũng không tỏ tường Bản Thể Chân Tâm.

“Các ông nên biết: Về với Chân Tôn là một cơ bản hoàn toàn giải thoát. Vì sao? Vì nhìn sâu thấy rộng tâm chí mở mang không vướng mắc. Thời Đức Thế Tôn còn tại thế, ông A Nan là em của Chí Tôn đang tu trì tỏ tánh, đang lướt qua pháp giới từng cơn, chưa về Chân Tôn, thành thử mới nghĩ: Đức Thế Tôn Ngài đang đi, đứng, nằm, ngồi. Cảnh giới ô trược, uế truợc trong cõi Ta Bà, rất cam lao, rất cực nhọc, có núi sông nơi cao chỗ thấp.

Khi bấy giờ Chí Tôn Ngài rất tường tận, Ngài từ Bửu Tọa bước xuống nói với A Nan rằng: Nầy A Nan theo sự suy đoán của ông sai biệt với Chân Tôn Vô Thượng Đẳng, sai tất cả những điều ông nghĩ sai, sai tất cả mục tiêu nhìn nhận nơi ông đều sai, không mảy may đúng với Chân Tôn. Đức Thế Tôn Ngài dụng thần lực Ngũ Châu khai hoang, A Nan trực thị, liền trạch vai đi bảy lần thưa thỉnh: Bạch Thế Tôn con nào ngờ công đức vô lượng Bình Đẳng Chân Tôn mà quốc độ Chí Tôn trang nghiêm đất liền chưa có nơi nào chỗ nào cao thấp cả. Chưa có chốn nào nơi nào ô trược, uế trược phiền não trược là năm thứ con vừa suy nghĩ. Lạ thay Kính bái. Chí Tôn im lặng chứng minh.” –T.V.

Thời Đức Thế Tôn, Chư Vị Tôn Giả, Thánh Hiền còn lầm tưởng rằng Thế Tôn đang sống nơi thế giới Ta Bà đầy ô trược, rất cực nhọc, rất cam go như núi sông nơi cao chỗ thấp Đức Thế Tôn Ngài rất tường tận sự lầm lẫn này của Tứ chúng, nên Ngài mới dùng Phật lực cho Thị Giả A Nan trực thị Quốc Độ của Thế Tôn là Chân Tôn Vô Thượng Đẳng đầy đủ trang nghiêm, tâm bằng phẳng mịn như nhung không hề có chút nào ô trược, phiền não trược, tứ thời luôn an lạc.

Thời Hạ Lai Mạt Pháp cũng diễn tuồng lầm lẫn như trên của Tứ chúng. Đức Vô Thượng Chân Tôn Di Lạc, Ngài cố nhắc nhở quốc độ của Chư Phật đầy trang nghiêm không hề có chỗ cao chỗ thấp, lại mịn như nhung, lại đầy đủ bảy báu, không có nóng lạnh bất chừng, tâm Ngài lúc nào cũng điều hoà. Tại Tứ chúng chưa đúng mức trình độ nhận lãnh nên mới có lầm.

“Đến một thời gian sau. A Nan thọ lãnh lời khai thị, về với Chân Tôn thị chứng, liền đảnh lễ thưa thỉnh như sau: Bạch Thế Tôn, sự lầm lạc nơi con vô cùng vô tận, do chốn diệt sanh lại qua nhiều kiếp. Mỗi một kiếp con ngỡ là cha mẹ nuôi con từng mâm cơm manh áo, từng chỗ tắm nơi nằm, cho đến vô số kiếp thảy đều như thế. Đến nay con mới rõ, chỗ thị danh lầm lạc ngỡ thật cha con. Nào ngờ chính con không thể ngỡ đặng. Ngài chính là cha mẹ của con. Ngài là Bậc đã nuôi con từ thân thể tứ đại hợp giả trở thành Kim Thân mã não.

Thân mạng nơi con phàm phu tục tử, Ngài dưỡng cho con đặng chư Phật hiện toàn thân, lý trí nhỏ nhen vị kỷ, con nhìn không ngoài pháp giới bị sanh eo hẹp, nay đặng rộng rãi bao la chung khắp. Ngài cho con thực dụng Bảo Châu, đầy đủ Ngũ Châu làm món ăn hương vị, cùng với cơm Hương Tích Ngài nhận của Chư Phật mười phương, cốt nuôi con bất diệt. A Nan thưa thỉnh xong chiêm ngưỡng lễ bái.” –T.V.

Ngài nhắc nhở Tứ Chúng chính Chư Phật mới làm cho thân phàm trở thành Kim Thân, lại nữa tâm vọ vậy chúng sanh, Ngài nuôi dưỡng Phật hiện toàn thân, không có gì sánh bằng thực dụng Bảo Châu của Ngài đã thị hiện Hạ Lai ban cho./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


50. Tam Muội

Tam Muội gồm có bốn Bậc cao thấp, sâu cạn khác nhau:

 • Bậc Thinh Văn.
 • Bậc Duyên Giác.
 • Bậc A La Hán.
 • Bậc Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát.

• Tam Muội của Bậc
Thinh Văn: 
 ◊ Linh cảm được việc sắp xảy tới. Tỷ như: muốn đến nhà bạn thăm chơi, tự nhiên có pháp trục trặc. Kết qủa đến là không có bạn ở nhà. Tỷ như: đang đi tự nhiên buồn ngủ. Tốt nhất là đừng đi. Đi là có chuyện không may.

• Tam Muội của Bậc Duyên Giác:

 ◊ Cảm nhận được vạn pháp. Biết được vạn pháp. Hóa giải, vận chuyển được vạn pháp. Tỷ như: đi đến một nơi chốn đã được định sẵn, nhưng khi sắp đi hoặc đang đi có sự việc cản trở không đi đến nơi được. Đó là cảm nhận được sự việc đang trục trặc. Biết được liền dùng đủ phương tiện hóa giải vượt qua không còn chướng ngại ngăn chận. Bậc như vậy đã biết dụng vạn pháp gọi là vận chuyển vạn pháp được thông.
 ◊ Cảm nhận được là giải được cái mê thứ nhất.
 ◊ Biết được là tỏ cái mê thứ hai.
 ◊ Dụng pháp cho thông là tỏ cái mê thứ ba.
  *Giải được ba cái mê nơi pháp là Tam Muội của bậc Duyên Giác.

• Tam muội của Bậc
A La Hán:
 ◊ Thực tướng.
 ◊ Vô Tướng.
 ◊ Vận chuyển vạn pháp.

 √ Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở giữa hội trường đưa cành hoa lên. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Ngài liền biết Tôn giả Ca Diếp sở đắc Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn. Vì sao Tôn giả cười? Vì Tôn giả trực giác được:
◊ Thực tướng: Loại hoa gì.
 ◊ Vô Tướng: Loại hoa gì có pháp tánh đó, dùng làm gì, mùi vị...
 ◊ Vận chuyển: Dùng đúng. Tỷ như: loài hoa gì dâng cúng Phật, loài hoa gì cúng ông Táo...
 *Tỏ ba cái mê của mỗi pháp giới là thông suốt pháp giới. Mỗi pháp cần quan sát biết tường tận đến Diệu quan sát thấu đạt mỗi pháp có ba cái mê. Tam Muội tác dụng giải mê cho bậc tu rất hữu hiệu từ đó thi hành hóa giải hàng vạn, triệu tam muội mới thực chứng đến sở đắc chân lý không còn mắc miếu nơi pháp giới.

• Tam Muội của Bậc Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát:

 ◊ Biết rõ thông vạn pháp.
 ◊ Điều động thông suốt vạn pháp.
 ◊ Thấu đạt vạn pháp.
  *Hàng Bồ Tát biết rõ Bổn Lai Diện Mục của Pháp giới là trọng điểm rất cần thiết. Có vậy mới biết căn bệnh của chúng sinh mà tùy phương tiện hóa giải, vận chuyển sao cho đồng hợp đồng hóa đặng gần gũi thân cận tận độ chúng sanh.

Đến lúc tỏ thông vạn pháp, hành dụng được viên dung biết phân chia định hướng cùng bất định hướng vạn pháp được quân minh mới thấu đạt vạn pháp. Chỉ có Chư Phật mới tận thành. Bồ tát không tự mãn hành nguyện, hạnh nguyện cho đến một kiếp nào vào y đường Chư Phật mười phương mới vào Niết bàn.

Nhiều bậc thích tu mà không chịu tu sửa, thân lười trễ không chịu hành theo Bồ Tát hạnh nên không giác ngộ. Thân và tâm của Bồ Tát tiến đến chỉ còn một, chúng sanh thân tâm là hai. Tâm pháp tái hợp là một mới giác ngộ. Đã là một mới xuất nhập Chánh Định Tam Muội được.

Bậc tự tu theo quan niệm suốt kiếp này đến kiếp khác vẫn còn nằm trong Phật Pháp, Pháp Phật thêm lý chướng không sao đi đúng đường giải thoát được. Thời hạ lai Ngài đã chứng kiến nhiều bậc dùng định tưởng để xuất định thuộc ngoại giáo. Không thiền định không có trực giác chẳng bao giờ phát huy trí tuệ. Do những điểm trên mà bậc tu nhiều kiếp vẫn không kết qủa.

“Ngài ngồi tĩnh tọa trên tảng đá, như nhiên tịch tịnh, thả theo gió thoảng lần lần trong khi xuất định. Phong cảnh ở khu rừng Trảng, có những mõm đá lô nhô, bắt đầu in tuồng theo cơn Chánh Định của Thiền Sư...” –T.V.

Đoạn kinh ghi lại Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc xuất chánh định đến cõi Trời gặp Chư vị Thập Bát La hán đang hội thảo chân lý.

“Thiền sư đến ngôi chùa cổ, mái chùa cong cong hai cánh, vừa rộng vừa thấp, tựa như chim Phụng Hoàng trải cánh che chở khách thập phương. Ngài bước vào bên trong chùa có mười tám vị chia ra ba nhóm đang hội thảo về chân lý đường tu. Ngài dùng Nhĩ Viễn Thông, Nhãn Tạng Tam Muội Định, thấy rõ tai nghe không thiếu sót, Thập bát la hán không hề hay biết trong hội thảo có vị Đại Đại la hán dự...

Khi bấy giờ mười phương Chư Phật đồng nói lên câu chúc tụng Phật Vương (Di Lạc), xong đâu đó nói với Chư vị Bồ tát. Này các ông hãy đi đến Khánh Trang Tỉnh, Long Phụng Sơn, Long Bửu Pháp, có vị phật pháp hiệu Phật Vương (Di Lạc), thị hiện thời Hạ Lai. Vị này có nhiệm vụ chỉnh trang Phật Pháp, chứng thị Hạ Lai, tuyên thời Tứ Hạnh làm cho tất cả đang sống vật vờ, đang tu lầm lạc trở thành Chánh Pháp Tịnh Vương, Nhất Tôn Tứ hạnh, cốt đem đến điềm lành đưa về Chánh Giác. Các ông đến kính bái chiêm ngưỡng, thọ trì Tứ Hạnh, Ngài đã bổ ban Chư Bồ tát đồng đảnh lễ, phóng quang, nương nơi huỳnh quang, đồng đến lễ bái.

Tất cả các hàng Chư Thiên, Tiên rồng, Thánh hóa nhìn về Đông Nam, hương đàm trùm tỏa, nghe tiếng trên hư không phổ truyền, tất cả đều mang các phẩm cúng dường đồng đến bái lễ.

Khi bấy giờ tòa Long Bửu, các cánh hoa to bằng qủa Hồng đào, tựa như quả mâm xôi. Phật Vương thị hiện, mặc y áo Bạch Nhung, đầu đội Mão Bảo Trì màu trắng hồng nhạt, trên mão có chín búp hoa, mỗi búp hoa tỏa ra mỗi hào quang tia sáng gồm có Huỳnh quang, Huỳnh Huỳnh quang, Thanh quang có sắc Thanh Thanh quang, Hồng quang có sắc Hồng hồng quang, Hắc quang có sắc Hắc Hắc quang. Còn riêng Nhất bạch quang không có sắc Bạch quang. Ngài thị hiện đủ 32 tướng tốt bước lên hoa, hào quang tia màu vàng. Chư Bồ Tát, Chư Thiên Tiên cùng Chư Long Thần cho đến A La hán cùng Thinh Văn, Duyên Giác, nhìn không nháy mắt, đồng thanh xưng tán, chưa bao giờ nhìn thấy nay nhìn thấy.

Bỗng trên hư không xưng tán, do công đức vô lượng Phật mà thị hiện Vô Thượng Tôn, Vô Thượng Sắc, Vô Lượng Hương đầy đủ không thiếu sót. Ngài lên tòa Sư Tử an tọa. Tất cả các hàng chiêm ngưỡng lễ bái, xong đâu đấy theo thứ lớp, theo thứ vị đồng nhau tĩnh tọa. Khi bấy giờ Đức Phật Vương (Di Lạc) nhẫn 12 triệu phút. Mặt Ngài an nhiên bình dị hòa đồng với tất cả, làm cho các hàng thứ lớp thảy đều hoan hỷ, phấn khởi ái kính không còn mảy may hư vọng hoài vọng tập khởi. Ngài liền nói: Ta khá khen cho thời Hạ Lai Mạt Pháp nầy mà Thập Bát La Hán hội thảo. Chư vị Bồ Tát đang hiện hành, hàng hàng lớp lớp tu trì không nhàm chán, giữ gìn bảo pháp trường tồn.

Đối với các vị căn cơ chưa đầy đủ, trí tuệ chẳng viên thông nên chi trí hóa sanh ra vạn pháp an lành, đặng phước báo nhân thiên, đặng tu chứng từng phẩm hạnh. Bằng trí tuệ tối tăm trí hóa tự sanh các nghiệp. Sống trong cơn thăng trầm đủ lối. Tu nơi vạn ý uyên thâm vòng quanh khó thoát sanh tu đạt Chánh Giác.

Lý sự tín tâm, Nhất Tâm đảnh lễ Chư Phật thì có, nhưng đường lối chưa tận thâm làm sao đắc quả?

Ta vì các ông thị hiện đầy đủ, Cư Nhân Tướng, đầy đủ hoàn cảnh thâm vào sắc, Thinh, Hương, Vị mà bảo các ông đừng xúc pháp. Từ hàng Thiện nam tử đến hàng Thiện nữ nhơn, tu cầu ứng hiện, tu lấy thọ lãnh Nhân Thiên rất hiếm Bậc đang tu nơi Trực Hiện.

Ngài nói đến đây có vị Bồ Tát bước ra đi vòng bảy lễ chiêm ngưỡng lễ bái thưa gởi? –Bạch Đức Thế Tôn, con đã tu sạch hết chúng sanh, truy tầm lấy mỗi một chúng sanh đều không có, con kính nhờ Chí Tôn thương con khai thị cho con, làm như thế nào, tu bằng cách nào đặng tận giác quả Bồ Đề nguyện.

Hay thay! Khéo thay! Này Bồ Tát Bửu Tịnh, Ông tu sạch lý chúng sanh, chớ chưa tu đạt Bổn Lai của mỗi chúng sanh giới. Mỗi chúng sanh giới, bá thiên vạn chúng sanh hợp hóa trở thành pháp giới. Mỗi một pháp giới có hằng hà số số chúng sanh. Ông tận giác chúng sanh Bổn Lai Diện Mục. Ông tận thấu pháp giới diễn hành khi bấy giờ ông thị chứng mới tận thành tận giác.

Bồ tát Bửu Tịnh toàn thân thảy đều nở ra hoa Bửu Pháp, nhẹ nhàn tươi tỉnh, vui mừng xưng tán. Chưa bao giờ đặng nghe hôm nay mới đặng. Chí Tôn Vô Thượng Thị. Xong đâu đấy đảnh lễ ngồi lại một bên chiêm ngưỡng” –T.V.

Việc hóa độ chúng sanh đối với Đức Phật Vương Di Lạc thật không thể nghĩ bàn. Khi Ngài Hạ Lai thành Phật, được Chư Phật mười phương tán thán, được Chư Bồ tát, Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Long Thần cùng Tứ Bộ Thần chiêm ngưỡng cung nghinh. Mỗi lần Ngài xuất định tận độ là mỗi lần rung chuyển tam thiên. Trong khi rất nhiều vị xưng Phật lại nhờ định tưởng biết có Long hoa nhưng không gặp Ngài được. Nếu tu Trực Hiện mới đủ công năng công đức hàng Thánh, liền được vào Long Hoa chớ đâu phải chờ đợi nữa.

Đạo Phật luôn lấy tình thương cao đẹp vì vậy bậc chân tu tự xét lỗi lầm để không lầm lỗi. Tư tưởng cao độ chừng nào thì thần thông hóa chừng ấy. Những ai chưa nghe được, chưa hiểu được thì Như Lai tạng vẫn chứa cái nghe này, cái biết này vào các hộc, một ngày nào gặp Bồ tát thấu đạt chỉ khai một câu đúng của quá khứ mình đã nghe liền cái thể huyền bí tự nhiên nó trả lại cho mình. Mỗi người tu hành đúng tự tánh là mỗi ngày có tiến bộ là đường đi trong vũ trụ gần Chư Phật.

Con người có học thần thông hóa thông minh nhưng không tu vẫn còn mê mờ con đường sanh tử. Người không chấp không chướng thân người nhẹ nhàng dễ tiếp thu thần thông ra vô nhiều càng thông minh. Mỗi pháp đều có bổn lai của nó. Tỷ như Pháp của người thợ mộc chỉ biết gỗ và dụng cụ làm ra tất cả những gì thuộc về thợ mộc. Đưa thanh sắt không biết tỏ tường được.

Còn pháp của người thợ sắt làm cửa, đưa thanh gỗ không biết làm sao cho đúng. Mỗi nghề là mỗi pháp có bổn lai của nó, quen nghề gì thì thần thông vào người đó, ăn, ở, ngủ cũng thấy nó chui vào thân đứng. Cho nên bậc không tin không nghĩ thì thần thức nó không vô.

Tăng Ni sợ pháp nên phải ly dục cho thần thức khỏi vào đến khi thâm nhập Như Lai tạng mới biết càng tu cao độ, càng giỏi đường đi dung thông chừng nào càng nhanh biết thần thông chừng đó. Người thế gian thông minh lấy cái thần thức. Bậc Thiền Sư không lấy chẳng bỏ thần thức được nhập Như Lai Tạng nên sở đắc Thần Thông Tam Muội.

Thế gian lấy tai để nghe, lấy mắt để thấy, lấy đầu để biết nên thông minh còn hạn chế. Chỉ chư vị Thiền Sư lấy cái nghe để nghe. Lấy cái thấy để thấy, lấy cái biết để biết nên thông minh càng siêu đẳng thấu đạt thần thông.

Một người nào thành công một nghề là đã sẵn có Tam Muội rồi. Chỉ cần thực hiện một pháp biết được, pháp kia nó hồi lại hết và làm cho mình.

Chỉ có Thiền Sư nhìn nơi cái thần thức của chúng sanh mà biết tất cả. Thiền Sư nhìn một người biết ý nghĩ của người, biết tánh người nên tùy thuận bệnh thọ nhiễm mà khai thị mới giải mê lầm cho họ được. Chứ không phải đăng đàn thuyết pháp một lối mãi mà họ nghe rồi thực hiện được. Phải gần gũi, trang nghiêm khai thị cho từng lớp, từng pháp mỗi ngày dần dần mới tỉnh được. Trên thực tế dạy đạo cho người tu hành giác ngộ không phải dễ, nó rất khó. Bậc chánh giác phải biết tận dụng Đại Phương Tiện mới mong cứu bậc tu theo mình giác ngộ được.

Chúng sanh đa bệnh Bồ Tát phải lập đa hạnh tùy bệnh cứu độ. Cũng như Bác Sĩ giỏi: Khám bệnh cho thuốc bệnh nhân hết bệnh. Còn tụng kinh, nghiên cứu kinh, thuyết pháp bá thiên vạn pháp chúng sanh phải nghe hết nhưng một điều lầm lẫn là không biết phải dùng pháp nào, vào trường hợp nào, ở đâu. Cũng như cho con bệnh vào kho thuốc đụng thứ gì cũng cho là qúy đều lấy uống, tức nhiên bệnh không lành mà càng thêm bệnh.

Thuyết pháp không biết đúng bệnh mê lầm của mỗi chúng sanh cũng y như bắt người ta vào kho thuốc gặp thuốc gì cũng uống, dù cho thiên thu vạn kiếp tín thành cũng không bao giờ giác ngộ được. Thiền Sư phải dụng Tam Muội mới thuyết pháp thông được, người nghe cũng sẽ thông. Còn mê lầm mà thuyết pháp hay, người mê càng mê lầm, lý nhiều sinh chướng.

Bậc sở đắc Tam Muội phải thực hiện hàng bá thiên vạn pháp tam muội, hàng bá thiên vạn pháp thần thông tam muội mới trực giác biết tiền kiếp quá khứ. Tam Muội càng sâu đậm trực giác được nhiều kiếp qúa khứ. Trong Long Hoa có nhiều bậc tu nhớ được một kiếp qúa khứ mà không biết nhiều kiếp trước của mình được vì còn đang thâm nhập pháp giới, chưa tỏ pháp tánh sâu. Bổn lai pháp trước sau không thay đổi. Tỷ như một bậc ở cõi Tiên, cử chỉ tánh tình ra sao, khi hết kiếp lại sinh nơi thế gian bây giờ cũng y như lúc trước chỉ khác nhau khuôn mặt thôi.

Gặp Đức Long Hoa tăng Chủ theo tu đam mê, đức trí mỗi ngày mỗi mở mang được kết quả thực tiễn lắm. Đức Ngài thật tỏ rõ tuổi thọ nơi con người chưa bao lâu thì đến lão, bệnh, tử. Còn thời hiện tại chân lý bất sanh bất diệt ra đời cứu vãn nhân loại không thể nghĩ bàn. Chỉ cần nhận định được, không uổng phí kiếp hiện tại liền được vô lượng, vô biên tận biết mà giác ngộ.

Lời Chư Bồ Tát toàn lời trực giác chân thật, đều là lời thừa hành Chư Phật diễn nói. Còn lời tham vọng dục vọng tự ngã nói đều là lời Ma Ba Tuần giả thuyết. Ngài thị hiện ở thế gian nhưng mỗi lần xuất định đến các cõi đều được Chư Thiên, Tiên, Thần Thánh cung nghinh vui mừng không kể hết để được thọ lãnh Bảo Pháp. Trong lúc Phật tử không hề hay biết Long Hoa đã ra đời. Nay Chư Bồ Tát tiếp nối con đường đưa chúng sinh thoát khỏi sanh tử luân hồi, chúng sanh cũng vẫn còn mơ màng trông đợi kỳ ảo nơi núi Thất Sơn. Số đông thời Hạ Lai này, nhiều bậc tu chưa thấu đáo. Hiển giáo chuyên ròng hiển giáo. Tu Thiền quan niệm Mật Tôn siêu hình vạn tượng. Đốn giáo đụng đâu đốn đó không cần đến đạo hạnh. Tu Tiệm Giáo giữ gìn Tiệm. Nếu bậc tu không chung kết tổng hợp làm thế nào Chánh Giác được!

Đông Phương tìm chân lý tự tu học riêng nên có vị sở đắc được tâm ấn chỉ cần chân phật tử có tâm cầu đạo phải tin về tinh thần tu chứng mới truyền trao chân lý, dần dần hết vô minh được Chánh Giác. Đức Di Lạc Tôn Phật phải diệu dụng đường lối này trong thời Mạt Kiếp. Ngài không thể tập hợp đông đảo tại gia đình khi người cộng sản không chịu cho tạo dựng đạo đức.

Còn Tây Phương lấy hiện vật thực nghiệm công bố cho mọi người thấy biết nhưng bên cạnh cái hay lại có cái hại về sau thường bị hủy diệt. Đông Phương qua nhiều thế hệ đã biết từ lâu thân tâm con người trùm khắp vũ trụ, do tứ đại giả hợp tạo thành Ứng Thân cho vũ trụ nên trong thân, ngoài thân đồng nhất con người giao cảm tiếp nhận thần thông nơi vũ trụ. Tại Tây Phương không khai thác đúng mức nơi thân mạng nên chưa biết.

Phật Đạo không chấp nhận linh hồn, chỉ ghi nhận tư tưởng đại diện linh hồn. Linh hồn trùm khắp hư không vũ trụ mới có giác linh cảm ứng nơi linh hồn. Con người chưa nhận định đặng nơi tư tưởng khởi sanh, phải lần theo khởi sanh, khởi diệt đủ công năng công đức được tỏ thấu tư tưởng bất diệt mới có cảm ứng linh hồn, chừng đó trực giác thần thông. Linh hồn không hai tướng. Linh Hồn Tối Thượng sáng suốt bất biến, quang minh bất tận là Như Lai Phật. Phật Đạo cho là ĐẠI NGÃ cái Ta duy nhất. Cái Ta trong thân mạng con người hay Tứ Loài đều là cái ta tạm bợ gọi là TIỂU NGÃ giả tưởng. Đại Ngã là viên bảo châu. Tiểu Ngã là yến sáng. Dưới mắt bậc Chánh Giác linh hồn là Như Lai vốn sẵn đủ thần thông. Nó không cấu cũng chẳng ly. Nếu cấu nắm bắt gìn giữ hay ly là xa lìa đều sai lạc.

Con người khi thành hình thân mạng đầy đủ như nhiên có Nghe – Thấy – Biết. Chính là từ nơi Đại Ngã Linh hồn thể hiện để đồng ứng thân mạng xuất phát từ Như Lai nên Thần Thông vốn như nhiên từ Như Lai hiện. Trong chúng sanh cũng có đủ nhưng khi Đại Ngã thể hiện đến con người và tứ loài gọi là Ứng Thân còn gọi là Hóa Thân lại muốn nhận đặc điểm riêng liền bị phân chia, Chư Phật tường tận nên Ngài nói: “Tất cả chúng sanh giai hữu Phật Tánh" nghĩa là: Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh, đều có thể tiến đến thông đạt vũ trụ. Tu thực tiễn từng bước một sẽ đến chứ không thể dùng trí hiểu, không thể dùng thức để biết. Bậc tu muốn thanh tịnh một phút cũng không có được nên bị Ma Lực bao vây diễn hóa. Chư Phật khai ngộ, Chư Bồ Tát phải tin vâng kính đầy đủ mới tự phá vòng đai Ma Lực nhốt nhiều đời kiếp.

Đây không phải là việc tầm thường, cũng chẳng phải là việc nhỏ... Nếu bậc Nhất Tâm, Thiết Tha Tâm mà không hạnh nguyện trong vạn pháp thuận nghịch chỉ tránh né diệt pháp thì sự thanh tịnh này muôn đời kiếp cũng không thật thông. Đã không thông sao được Mật Ấn từ Như Lai Phật ban cho.

Nhiều bậc thấy được, biết được trong cái học, trong kinh điển chớ không thực hành tận độ chúng sanh tánh Tịnh Bất tịnh, Hữu Tướng Phi Tướng thì cái biết này cũng như chưa thấy chưa biết. Các pháp thần thông không hiện.

Thần thông vốn ở trong mê
Thông mãi thông đi thông lại về.

–T.V.

Vậy đâu phải tu cầu kỳ, cũng không phải học, cũng không phải cúng lạy cầu xin. Tạp nhập không dừng nghĩ là hình tướng không dừng nghĩ. Cứ hạnh nguyện ban ngày không tạo sanh diệt vạn pháp, ban đêm ít nhất là một giờ công phu Thiền, cần qua nhiều trở lực mỏi mệt, chán nản, buồn ngủ, đến lúc không còn tạp nhập trong lúc Thiền. Sau tứ thời đi, đứng, nằm, ngồi đều được thanh tịnh. Chân như hồn nhiên hiện liền biết thực hành vạn pháp không lấy cũng chẳng bỏ, không nặng cũng chẳng nhẹ, không hiệp không tan là Nhất Tướng là tánh thường trụ.

Thiền cần hàng Bồ Tát hướng đạo mới có đủ Mật Tôn, Mật Tôn giúp giải nghiệp thức, không còn vọng khởi nhưng phải nhẫn vì nghiệp thức tinh vi hơn con người. Nói thì nghe dễ còn thực hành không đúng đường khó đạt kết quả. Dù bậc tu tinh thần thiết tha nhưng chưa có trí tuệ vẫn lầm nơi cuồng tín. Vì thế nên chi Đức Long Hoa Tăng Chủ Di lạc mới lưu lại cho thế gian những gì cần cho bậc thiết tha tâm, thành thật tâm tiếp tục thi hành mà trọn hưởng chân lý, dưới sự chỉ đạo của Chư Bồ Tát bậc tu sẽ an tâm không còn sợ thất chân truyền nữa.

Còn nếu chưa gặp bậc Thiện Trí Thức nên tu Thiện Căn. Tinh thần thiện căn thiện chí cúng dường lập phẩm công đức, tín ngưỡng nơi Tam Bảo tinh thần như thế vẫn đáng qúy. Không nên ham muốn Thiền mà vọng cầu dễ bị Ngủ Ấm Ma gạt khổ muôn chiều. Tự xây dựng thân mạng trước nhất phải lo tu sửa. Không ai có quyền bắt ta chỉ nơi tâm tánh của ta tự nâng ta mà thôi.

Bậc trí dung thông nhờ nghịch pháp
Kẻ khờ chống đối tạo vô minh.
–T.V.

Bậc tu có nhẫn nhục, nhẫn nhịn, nhẫn nại được tỏ thông, biết thực hiện dung thông pháp sau sở đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Có dung thông được vạn pháp mới thấu đạt viên dung, con đường này tu đến Bát Nhã Ba La Mật Đa vượt hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán. Đó là hàng Bồ Tát được các thứ thần thông từ Như Nhiên, Hồn Nhiên hiện.

Đạt được Bồ Tát thần thông cần phải hành thâm pháp giới thuận nghịch chẳng thiếu sót liền đến tận độ chúng sanh tánh. Đó là Tịnh Phật Quốc Độ Thành Tựu Chúng Sanh. Hàng Bồ Tát đã thấu đạt hư không, chỉ Chư Phật mới thông đạt tận thành Hư Không không tận.

Chân không khác hư không. Đối với hàng Bồ tát Hư Không có nghĩa đã hạnh nguyện hành nguyện thấu đạt Như Pháp nhưng không chứa trong tâm. Bồ Tát biết để nó trong Như Lai Tạng từng các hộc, khi có pháp như nhiên biết, hồn nhiên thực hiện vẹn vừa không dư cũng chẳng thiếu. Vận dụng pháp xong nó trở về các hộc trong Như Lai Tạng. Nó là Mật Ấn Bồ tát biết lấy dùng.

Từ thời Đức Thế Tôn cho đến Hạ Lai Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc thị hiện, Ngài chỉ Chư Tổ, Chư Tôn giả trụ chân không trở thành vô tình, cần hóa giải vạn pháp mới mong sở đắc chân lý.

Vào Hư không ta không thấy hư không mà tận thấu hư không là Giác Tướng.
–T.V.

Giác Tướng hành dụng đầy đủ sẽ đạt Giác Tướng Đại. Giác Tướng Đại là tứ thời trong cuộc sống đều biết hiện thân giác không còn lầm lẫn khi dụng pháp thuận nghịch. Đủ công năng công đức từ Giác Tướng Đại liền đến Như Lai Đại.

Tình thâm hành dụng Chơn Như thủ
Tình thức Như lai Mật Ấn trao
–T.V.

Trong thế gian hay trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, bậc nào đàm luận đến Mật Ấn không thể nào vượt ra khỏi hai câu thơ Ấn Chỉ của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc. Có vị Thiền Sư liễu ngộ cũng phải chờ mất 18 kiếp được gặp Bồ Tát thừa kế ấn chứng mới nhập thể!./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


49. Mật Ấn

 

Tuyệt tác thay Đấng Chí Tôn Vô Thượng, Ngài đã thành Phật. Nay Ta lại thọ ký chúng sanh tánh sẽ thành Phật. Tuy nhiên hai lối trong ngoài, chung lại chỉ có một điều duy nhất, phải chăng tiêu biểu hoàn tất Ba Thân?

–Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh

“Lúc bấy giờ, toàn thân nơi Thiền Sư thảy đều mỗi lỗ chân lông có một vị thị hịên, chung quanh Thiền Sư có hàng hà sa số ứng trực thị hiện lễ bái, ứng trực thọ trì tán thán công đức vô lượng Thiền Sư, tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo. Thiền Sư minh thuyết giải bày, nói năng xong từng lớp lớp thọ trì, lớp lớp ái kính. Tất cả thảy đều thưa gởi. Mỗi chủng tộc của mỗi giới sanh mình. Thiền Sư cười vỗ tay, tất cả đều vỗ tay xưng tán. Thiền Sư nói: Lạ thay trên con đường giải thoát. Ngài liền thọ ký cho tất cả chúng sanh tánh sẽ thành Phật.” –T.V.

Tôi nghe như vầy: Đối với Minh Đạo Thiền Sư như Ngài khi thành Phật mỗi lỗ chân lông đều có một hóa Phật. Từ một lời nói, một cử chỉ, một tư tưởng đều hiện mỗi mỗi hóa Phật. Từng sát na hiện hóa Phật. Toàn thân Ngài có hằng hà sa số hóa Phật thị hiện chung quanh Ngài cung kính.

Ngài xuất chánh định đi đến bất cứ nơi nào, Ngài nhập chánh định ra vào Diệu quan sát trùm khắp. Ý Ngài muốn liền có hóa Phật cùng một lúc đi nhiều nơi hóa độ chúng sinh thật không thể nghĩ bàn. Trong lúc đó Chư Tiên, Chư Thiên chỉ đi được một vị trong toàn thân. Vì sao? Vì còn thọ một giới làm chính yếu, nên khi định tưởng thành, chỉ hiện một vị đi một chỗ, sau trở về lại thân mới hiện một vị đi nơi khác được. Chánh giác của Chư Phật nó vĩ đại đến nỗi không một Tiên, Thánh nào biết nổi.

Bởi thế bậc có được Thiên Nhãn, có bậc được Thiên Nhĩ vội xưng Phật thật lầm lạc truyền kiếp. Chúng sanh thấy nói đúng nhờ nhãn hoặc nhĩ của bậc tu này thấy cao siêu chớ nào hay chư vị Bồ Tát, Chư Phật biết họ còn xa hàng triệu triệu do tuần, chẳng thấm vào đâu, chỉ bằng một lỗ chân lông trong toàn thân Đức Thế Tôn, Đức Di Lạc thôi. Chư Tổ vị lai đừng vội xưng Phật nữa nhé.

“Khi bấy giờ Thiền Sư quá tường tận sự xuất nhập nơi Như lai Tạng, phân chia định hướng cùng bất định hướng, dung thông cùng bất dung thông Như lai, ứng hiện nơi pháp thân thị hiện, toàn thân Như Lai Chánh Giác. Từ mỗi một lỗ chân lông của Thiền Sư đến bá thiên vạn triệu hằng hà sa số không còn bờ ngăn nên đồng ứng hiện bá thiên cảnh giới, sa số các cõi thị hiện vẫn từ mỗi lỗ chân lông bước ra được gọi là Ứng Hiện Pháp Thân của Bậc Chánh Giác.” –T.V.

Đối với Minh Đạo Thiền Sư như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc, xuất nhập chánh định tam muội là chuyện thường làm. Ngài định hướng xuất nhập hoặc không định hướng xuất nhập bất cứ vấn đề gì cũng sẵn tận tường, vì Ngài đã làm chủ Như Lai Tạng.

Dù giải quyết pháp dung thông hay không dung thông cũng không làm suy giảm vô lượng công đức nơi Ngài. Tất cả Pháp Thân Phật cũng hàm chứa Như Lai Tạng mà Ngài đã tận thành nên có thị hiện dung thông, bất dung thông vẫn là tận độ hòa hợp cùng Như Lai. Ngài đã từng thực hiện những kỳ diệu này đối với Tứ Chúng Pháp Tạng, nhưng trong đạo tràng không mấy chân phật tử nhận được.

Tôi nghe như vầy: Trong tam thiên đại thiên thế giới đều vốn có sẵn Vi Trần Phật, Sát Na Phật tức đều có sẵn thần thông. Tất cả không ngoài điện tử vũ trụ sai khiến tứ loài. Bậc tu khi chánh giác rồi thì ôm hết huyền cơ vũ trụ trong tay. Điện tử vốn nó biến hóa như thân của Chư Phật có hàng hàng lớp lớp Vi Trần Phật, Sát Na Phật thị hiện mãi mãi thường còn. Như y khoa nghiên cứu chừng nào ra chừng ấy...

Thành công cái ảo của khoa học là cái thật của nhân sinh. Bậc tu không chấp, không nghi, không chướng, vận chuyển vạn pháp được THÔNG thì nói và làm gì ở đâu đâu cũng THÔNG. Bậc thông pháp, thuyết để thông suốt là của riêng bậc đó còn bậc nghe chưa thực hiện thì đâu phải của họ.

Những gì chúng sanh nói và làm đó là trí hóa ra tư tưởng sinh giai cấp, trình độ khác nhau. Bậc thuyết pháp thông là trí hóa biết hết trở thành nhà biện tài. Lý này đè lý kia là biện tài.

Thần thông vốn ở trong mê
Thông mãi thông đi thông lại về

–T.V.

Tại sao? Vì bậc tu cùng chúng sinh ưa cầu kỳ sống ảo tưởng xa xôi tìm tòi thần thông ở chân trời hay ở chốn thanh vắng núi rừng.

Vậy thần thông của tứ loài đang sống ở chỗ nào? Chỗ nào tứ loài sinh sống chỗ đó đều có thần thông cả. Con người đứng được do trong ngoài đều có sức đẩy của thần thông. Khoa học gọi là các lực không gian tác dụng lên bề mặt của vật ép nó đứng, vì bên trong con người có dòng điện vũ trụ ra vào theo các lỗ chân lông. Khi con người hay tứ loài hết thở nó ngã không đứng được nữa vì dòng điện không còn ra vào thân được nữa.

Còn trẻ đi đứng vững, già đi đứng yếu, tóc bạc vì hào quang trong thân ra ngoài yếu, lỗ chân lông và chỗ trống trong thân là thần thông ra vô. Khi bậc tu đạt Chánh Giác thì điều động được Vi Trần Phật, Sát Na Phật từ mỗi mỗi lỗ chân lông trong thân ra vào vô ngại, tự tại đặng đại bi. Râu tóc là cặn bã của thần thông.

Tu hành tư tưởng tự tại, đại bi cao độ chừng nào thì thần thông hóa tương song chừng ấy. CON NGƯỜI KHÔNG CÓ CÁI BIẾT TRONG THÂN. Thần thông nó hóa. Trong vũ trụ nó vốn hàm chứa sẵn các hộc gọi là Như Lai Tạng.

Nếu cái biết nó nằm trong thân thì khi chết nó phải chôn theo và mất, đại đa số khoa học gia cũng cho cái biết ở trong thân, nhưng thật ra cái biết nằm trong vũ trụ, môn nào nó nằm trong hộc đó. Người vừa sanh ra cho đến khi lớn lên cái biết quá khứ tích trữ ở ngành nào, tập quán, thói quen, quan niệm sống ngành nào của bậc đó nay Như Lai Tạng phổ chiếu trở lại.

Tỷ như một người chuyên học tiếng Anh thì trong cuộc sống đi đứng nằm ngồi đâu đâu cũng toàn cái thể của Như Lai Tạng chuyên Anh Văn. Như Lai Tạng nó ra vô trả lại cho mình cái biết từ bốn phía. Tánh càng cao thượng chừng nào sự thông minh hiểu biết càng cao.

Càng thông minh cái biết càng xa gọi là Thánh Nhân, Thánh Thiên, Thánh Triết. Từ thượng cổ cho đến bây giờ con người lấy gì để tu. Lấy mắt để tu, lấy tai để tu, lấy đầu để tu đều kẹt ở tầm mức phàm phu. Lấy Như Lai Tạng chung cùng để tu cái gì cũng biết. Bậc biết tận dụng thân nơi kiếp này tu hành như vậy cho đúng đường Chư Phật, Chư Bồ Tát, lại biết thân cận để cầu đạo thì được chỉ dạy cho Như Lai Tạng trả lại, bậc tu nhận biết được tất cả đều thông.

Sao gọi là Như Lai Tạng? –Cái nghe của cái nghe, cái thấy của cái thấy, cái biết của cái biết. Do đó bậc tu cần lấy cái nghe để nghe, lấy cái thấy để thấy, lấy cái biết để biết. Nếu nhận định được sẽ nghe thấy biết không còn chướng đối không còn Đoạn, Dị, Diệt.

Đối với bậc giác xây đắp căn nào thì thông căn đó thôi. Giác ngộ chớ chưa phải toàn giác. Bậc giác ngộ rốt ráo mới toàn thông. Bậc toàn thông thâm nhập đầy đủ liền vào Chánh Định Tam Muội. Mỗi lúc mỗi nơi đều hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Tu vào con đường Nhất Thừa đúng nghĩa đương thời Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị không phải dễ nhận.

“Trực hiện là nơi Bồ Tát Sơ Trụ đến Đại Bồ Tát thường dùng Trực Hiện cùng Cảm Hóa Hiện, cảm hóa hiện chính bậc thường thông cảm Tam Thế tam thiên. Xuất định dạo khắp các cảnh giới, gọi là cảm hóa hiện cho đến bậc tận thành, lúc bấy giờ mới Thật Hiện. Bốn tướng hiện trên vẫn còn nơi Pháp Thân Phật chu toàn thị hiện đồng đẳng từng lớp tu chứng, từng lớp chưa tu chứng đảo điên vẫn đặng thừa hưởng hiện. Nơi hiện cảnh ứng hiện chia ra làm hai nơi, gọi là chánh báo cùng thọ báo hiện chớ chưa hẳn Tâm Hiện hay Tâm Pháp, Pháp Tâm hiện vốn như nhiên Pháp Thân tùy thuận hiện. Vì sao? Vì như nhiên hợp hóa bản năng thể tánh đồng hiện thôi.” –T.V.

Từ thế gian cho đến Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thần, hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La hán dùng quy chế ứng hiện. Quán Thế Âm Bồ Tát mới tùy nơi mong muốn mà ứng hiện hóa độ. Có bậc tu hành chuyên tế lễ cầu ơn trên ban cho được linh thiêng thuộc ứng hiện.

Còn Trực Hiện là trực giác Tam Muội Pháp Môn. Có trực hiện mới tự giác nhận được Tam Thế thường trú khắp xứ lúc đó liền biết cảm hóa hiện. Hàng Bồ Tát trực hiện chỉ Đức Thế Tôn, Đức Vô Thượng Di Lạc mới có Thật Hiện.

Chư Bồ Tát quán sát trùm khắp mới thấy: Con người chỉ sống tạm nơi cái sống ở thế gian. Bởi vậy rất cần không những chỉ vật chất mà cả về mặt tinh thần nữa. Phần Thánh Đạo cứu giúp tinh thần. Từ Đạo Lão, Đạo Khổng, Bà La Môn, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Thông Thiên Giáo... Trong các tôn giáo thảy đều với đích nuôi dưỡng tinh thần, lúc con người chết được về cõi Trời hay về với Thượng Đế là duy nhất, thuộc quy chế ứng hiện, có cầu có linh thiêng, không cầu không có.

Chỉ có Phật Giáo chủ đích đưa con người đến Chánh Giác, thoát sinh ngoài vòng vũ trụ. Vì sao?

Vì Phật Đạo đã tìm được Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới ngoài cõi Trời. Còn khoa học thực nghiệm những gì Phật đã khai thị hàng nghìn năm sau, nay mới tìm ra được.

Tâm Lý Học từng nghiên cứu từ tư tưởng sau phát hiện qua hành động, biết tất cả tâm lý con người để điều động giúp đỡ nhưng tâm lý học chưa biết được tinh thần với vật chất dung thông trong tạng thức của con người mà trưởng thành tất cả.

Triết học tận dụng tư tưởng lần đến tận thấu tư tưởng, tận cùng để tỏ tường từng lớp con người, trở nên thông thái chớ chẳng đến được tuyệt đích Giác Nguyên, chẳng thể nào giải được những gì mà Phật Đạo sở đắc, những gì mà Phật Đạo đã giải xong trên bước đường sanh tử luân hồi. Con người thường dùng tư tưởng nung đúc tinh thần phát sinh ra cảnh giới, sau lúc chết được về trong cảnh đó. Chỉ có chư Phật, Chư Bồ Tát Ma Ha Tát biết tỏ rõ, thấy đúng đắn không cố định, chỉ quán xét để giúp con người, giúp bậc tu ý thức Trực hiện đến cảm hóa hiện mà ra khỏi sanh tử luân hồi nhờ vậy bậc tu thấy biết tự ngã của mình gọi là Chánh Định Tam Muội.

Nếu bậc tu có tư tưởng cầu chánh giác sau được ứng hiện Chánh Báo. Chỉ cần tư tưởng ngoài bản giác liền bản năng phải bị ứng hiện thọ báo phân minh.

Chủng tánh chúng sanh vốn có sẵn trong tứ loài, chúng sanh tánh đó không đâu xa lạ mà chính là các giống vi trùng trong thân mạng. Khi chúng diễn âm trong thân thì đương nhiên con người phát sinh tư tưởng. Hằng hà sa số tư tưởng thì chủng tánh vi trùng có bấy nhiêu.

Bậc tu hay Thiền Sư thực hành thông thái bao nhiêu thì những giống vi trùng trong thân bậc tu hay Thiền Sư khôn ngoan bấy nhiêu. Đến lúc chết, thân tứ đại rã, cái biết thuộc Như Lai Tạng nó trả về các hộc trong vũ trụ. Khi sinh ra một thân mới nó liền phổ chiếu trở lại. Thiền Sư nhìn tánh tình, cử chỉ, lối sống hiện tại nhờ sở đắc Trực Hiện liền cảm hóa biết được tiền kiếp qúa khứ cùng vị lai chúng sinh, biết bậc tu lai sinh nơi đâu, từ đó mới hợp hóa siêu độ được. Trực hiện sâu biết được nhiều kiếp qúa khứ còn thì nhờ ứng hiện nhớ một kiếp. Nát địa mới trực hiện sâu thuộc hàng Bồ Tát Bất Khả Tư Nghì, Bồ Tát Bất Thối Chuyển.

Đến đây Ngài ngưng giây lát hớp chung trà rồi khai thị tiếp: Đến lúc Thiền Sư thành Phật các vi trùng trong thân Thiền Sư trưởng thành Bồ Tát hàng hàng lớp lớp thật hiện làm trang nghiêm đầy quốc độ. Do đó mới có Như Nhiên Tâm Hiện, Pháp Thân tùy thuận hiện.

Vì sao? Vì như nhiên hợp hóa do thể tánh vốn sẵn đồng hiện vi trần Phật, sát na Phật. Thiền Sư nghĩ đến đâu, hóa giải thế gian như thế nào, vi trùng trưởng thành Bồ Tát đến nơi hiện thân hình làm theo lệnh tuyệt mỹ để hoàn tất thế gian giải theo ấn quyết của Thiền Sư.

Thiền Sư đắc đạo liền có bá thiên vạn triệu chủng tánh nơi Thiền Sư đắc đạo gọi là Chân Lý Hải. Khi Thiền Sư đắc Vô Thượng Đẳng liền có bá thiên vạn triệu chủng tánh của Thiền Sư đắc Vô Thượng Đẳng gọi là Vô Thượng Đẳng Thế Giới Hải. Do đó khi cần dùng Thiền Sư chỉ ra lệnh liền trong một sát na có một, hai hay nhiều vô số Vi Trần Phật nơi thân Thiền Sư thật hiện. Bậc vào chánh định biết tất cả những con vi trùng trong thân mạng mình.

Thân chúng sinh là cái giả, vì thân người do đất, nước, gió, lửa kết nạp thành. Các con vi trùng nó cựa qua cựa lại, chạy qua chạy lại trong các mạch máu, trong các tủy xương... tạo thành cái biết của chúng sinh. Vì thân do tứ đại giả hợp nên cái biết của mình cũng giả, do đó bậc tu điều khiển được chủng tánh các con vi trùng trong thân mình được gọi Chư Phật hiện toàn thân. Lúc bấy giờ, mỗi lời nói, cử chỉ đều hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Tam Muội là Huệ bí mật của Như Lai, là Mật Ấn.

Bồ Tát là bậc đã được Chư Phật thử thách trao cho Trí Ấn bằng đại phương tiện thuận nghịch, tịnh bất tịnh, hữu tướng phi tướng. Khó mà biết trước được Diệu Dụng của Ngài nên dễ hồ nghi, dễ bỏ dang dỡ, chỉ một sai nhỏ là hỏng cả đường tu dầy công bấy lâu, phải tự sám hối sau đến sám hối lỗi lầm Ngài mới ghi nhận. Có bậc cho tu lại từ đầu.

Qua được, dung thông được mới trao Tâm Ấn. Tâm Ấn là Mật Ấn Như Lai, văn tự âm thanh không diễn tả hết được. Ngưng giây lát, Ngài khai thị tiếp:

– Các giống vi trùng ở trong toàn thân mỗi bộ phận hay mỗi cơ quan đều có mỗi loại vi trùng, chúng nó tiết ra chất nhờn nhớt, chất nhờn nhớt này chạy thẳng đến thận hóa thành tinh trùng. Tinh trùng chờ khi giao hợp thụ thai sinh ra con người, liền có cái biết tùy căn cơ của mỗi loài chúng sinh.

Do đó bậc có thiền trí, sáng soi thân tâm để phá mê thường chấp sau tỏ thông sở đắc Tam Muội. Nếu bậc tu dùng trí tuệ trí thức, nghiên cứu dù học giỏi đến như Bác học cũng chỉ là tu phước thiện thôi. Tu thiền thông đạt còn nghe được hơi thở cùng sự sống của các loài thảo mộc cùng qủa địa cầu nhịp nhàng di chuyển, cho đến các loài chim chung hòa với tiếng gió reo trở thành muôn vạn câu niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng không dứt. Bậc tu có tinh thần thiết tha, chưa có trí tuệ cứu cánh vẫn lầm nơi cuồng tín.

Thời Hạ Lai Mạt Pháp này Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc ra đời chỉnh trang Phật Đạo, Bậc tu lìa ngã vẫn còn nắm đường dây trực hiện được. Hai câu thơ Đức Ngài đã ghi:

Đương nhiên Mạt Pháp kia vừa dứt
Thời Chánh liền ra tiếp vẻ vang

–T.V.

Bậc sở đắc Chân Thiền tỏ rõ bổn lai từng chủng tánh nhờ tận giác nên biết rõ ràng Chư Thiên, Tiên, Thần, Thánh mỗi nơi bị nhiễm thế nào phải lai sinh vào cảnh giới ra sao. Từ chốn thọ ngã thi hành huân tập tự ngã để tạo thần thông tài phép ra sao, đều tỏ rõ tỹ mỹ tường tận không sai chạy mà nhập Chánh Định Tam Muội nhiếp độ. Đối với Chư Phật thì lục thông, thần thông tam muội không quan trọng bằng Tam Muội. Thế nên Chư Phật khai thị Chư Bồ Tát: Chánh định Tam Muội là chỗ tạm trú của Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát. Còn thực hiện Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội chưa sâu là thần thông tam muội của hàng A La Hán./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


48. Mật – Hiển – Đốn – Tiệm

 

Bậc thực hiện mười danh hiệu thật khó gặp vì bậc này đồng ứng với bổn nguyện Tam Thế mà thị hiện. Từ ngôn ngữ, hành động không khác với nhân sinh nên Thánh Tăng Bồ Tát cũng chưa biết, chỉ trừ Bồ Tát hạnh nguyện Bát Nhã Trí, dùng Giác Tướng mới nhìn đặng phần nào nên khó gặp.
 –Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh

Bậc thực hiện mười danh hiệu để thành Phật phải thành tựu bốn duyên căn:

MẬT - HIỂN - ĐỐN - TIỆM

Bốn tướng của hàng Bồ Tát tu đạt đến THÔNG - ĐẠT - TẬN - THÀNH, cầu diệu quả Bồ Đề.

“"Làm thế nào mà đạt được Thông?

Thông nhờ Mật Giáo, có Mật mới có Thông, chưa Mật thì chưa Thông. Vì sao?

Vì Mật là Mật Ấn Như Lai Tạng, nếu chẳng Mật không Ấn, chẳng bao giờ Mật Ấn làm sao sở đắc để mà THÔNG.”" –T.V.

Thông nhờ Mật Giáo. Thế nào gọi là Mật. Bậc tu ý thức sửa tánh là chính, sau được tự tánh thấy tánh đến Minh Tâm. Bậc Minh Tâm từ lời nói đến việc làm đều hàm chứa Mật gọi là có Mật mới có Thông. Chúng sanh được nương nhờ sẵn có Như Lai Tạng nên tánh Nghe - Thấy - Biết chính là Bổn Lai cũng gọi là Phật Tánh nhưng Phật Tánh - Nhất Tâm - Chơn Như - Như Lai Tạng - Pháp Tánh - Pháp Thân - Pháp Giới là bảy báu của Chư Phật.

Tuy là bảy báu nhưng thể tánh vốn chỉ là một. Chúng sanh và Phật vốn sẵn nhưng vì một khởi sai lầm nơi chúng sanh mà thọ chấp thành bờ ngăn điên loạn. Như mặt trời kia bị mây che. Do đó Mật là Mật Ấn Như Lai Tạng. Đức Đại Nhựt Như Lai Phật khi đồng Như Lai, lúc hòa cùng Chư Phật. Tất cả bí mật kín nhiệm di chuyển do Ngài nắm giữ từ Thần Thông đến Tam Muội qua các Hiện Thân đến Giải Thoát.

Đức Đại Nhựt Như Lai Phật lại gìn giữ Tâm Ấn, Mật Ấn nên đối với Ngài chúng sanh không thể nghĩ bàn. Chư Phật có nhiệm vụ thọ ký và diệu độ Chư Bồ Tát.

"Nếu có một vị Bồ Tát tu vạn hạnh bên ngoài trí huệ suốt thông khi nghe Đức Di Lạc Tôn Phật thời Hạ Lai thị hiện dù đã biết hoặc chưa biết dù cho bậc đó sở đắc hoặc thành Phật thật sự đi nữa mà chưa biết nơi chứng minh Nhất Tôn, chẳng tin sự chứng minh, có lòng tự mãn ngã mạn thì cũng chưa đến nơi rốt ráo để nhập Đại Niết Bàn. Vì sao?

Vì chưa đặng thọ ký Nhất Tôn thì làm sao đến Như Lai Nhất Tôn chứng minh, đã chẳng đặng chứng minh thời làm gì có Đại Nhựt Như Lai ban hành thị hiện cảnh Đại Niết Bàn, do lẽ ấy mà bậc kia phải dùng Định Tưởng, đã Định Tưởng thời còn sanh diệt, đó chính là trọng yếu thứ nhất." –T.V.

Thời hạ Lai Mạt Pháp này Ngài ấn chứng đoạn kinh trên cho thấy muốn thành Phật dù sở đắc Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư cũng phải có Đức Di Lạc Nhất Tôn chứng minh. Tự ý xưng Phật là không chứng từ, là bị tự mãn sai lạc.

Nếu Đức Di Lạc Tôn Phật đã ra đi cũng còn Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát thừa kế, nếu không được vị này Tâm Ấn làm sao Đức Đại Nhựt Như Lai Phật thị hiện chứng minh. Cho thấy tu hành phải có quả vị. Phải có tôn ty trật tự, tự xưng chưa được chứng minh đều lạc lối. Đức Di Lạc cũng được Đức Bổn Sư thọ ký. Đức Bổn Sư cũng được vị Phật trước thọ ký. Còn tự ý đi sai lạc xưng Phật không bao giờ được Đức Đại Nhựt Như Lai Mật Ấn cả. Thời Hạ Lai quý vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư hãy suy xét lại lời ấn chứng của Đức Di Lạc.

Đã có thừa kế chứng minh là có Mật Ấn không nên tự ý xưng. Ngài nhắc đó là điểm đáng ghi nhớ cho các vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư cần hồi tâm nơi thời Hạ Lai này chớ có lầm lẫn nữa. Nếu sau này chỉ còn chư Tổ cấp Liễu Ngộ các vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư phải chờ Bồ Tát được thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thị hiện. Nếu bậc thật tu, kiếp này hãy sớm thức tỉnh theo lời thọ ký minh chánh của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật sẽ được lợi vô kể.

Ngài đã làm xong nhiệm vụ chỉnh trang Phật Đạo nếu vị nào tự ý dù ở Phương Đông, Phương Tây, Phương Nam, Phương Bắc mà không hồi hướng sự tu hành còn kẹt ở Định Tưởng là tướng sanh-diệt, tướng sanh-tử cần quan tâm.

“"• Về Đạt: Đạt nương theo Hiển, nếu không Hiển Giáo không Đạt.

 • Đứng về Tận: Không Đốn Giáo không Tận Giác. Đốn cho Tận, không Đốn không Tận.

 • Còn về Thành: Không Tiệm Giáo không Thành. Vì sao? 

 • Khi dùng Đốn là Phá Giải. Về Tiệm thời đạo hạnh sáng soi. Nếu Đốn không Tiệm bị Không Chấp, vướng vào pháp không.

 • Cũng như: Phá chấp không biết Duyên Căn tỏ chấp thì không bao giờ thành.

Chẳng khác nào: Phá nhà phải biết xây nhà là tu Đốn Tiệm tương song, phá nhà không biết xây nhà, như kẻ phá chấp mà chấp, không chấp bị chấp Không, chẳng bao giờ Thành Đạt.”" –T.V.

Bậc tu khi ý thức được tự tánh tỏ tánh thì từ lời nói đến sự sự đều có Mật. Đã có Mật liền đạt Hiển. Hiển Giáo đây là của Bồ Tát Tánh tu đạt còn không tự tánh mà tu Hiển là của phàm phu, lý thuyết, thuyết giảng, nghiên cứu gì cũng không thoát khỏi vòng đai của Ma Lực.

Khi Chư Phật nhận thấy Bồ Tát còn chưa suốt, có lúc còn vướng mắc mà Tự chưa đầy đủ Phật liền Đốn để phá Vô Minh, Bồ Tát được nghe thấy biết từ tỏ thông đến thấu đạt. Đốn cũng như phá rừng nhưng phải biết trồng trọt cây theo hàng lối theo tổ chức để có quả sinh ra của cải là Tiệm Giáo. Nếu đốn bỏ đi, đất trống cây dại sẽ mọc lại thì sự đốn kia cũng không tròn, cũng kẹt không tai hại, lại bị nhiễm không.

Nếu Bồ Tát cho đến chư Phật dùng Đốn Giáo là biết Chân Phật Tử đủ sức Tin Vâng, sau kết quả mới tự phát tâm kính ái. Cấp Nhị Thừa tu chứng Đốn không có cơ sở bị hỏng, hóa Tăng Thượng Mạn vì chưa chu đáo.

Đương thời Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc, Ngài để yên, vỗ về cho các chân tử không chịu tu, thích tu sao cho giàu có nên lớp này không bao giờ Ngài Đốn, chỉ dùng Tiệm cho trụ đạo hạnh nên họ ưa thích. Họ chẳng bao giờ biết Diệu Dụng của Ngài cho những chân tử cầu Giải Thoát.
“
Thông – Đạt – Tận – Thành chung gồm bốn tướng MẬT – HIỂN – ĐỐN – TIỆM.

"Do đó mà Ta nói:

Không Mật thì không Thông.

Không Hiển thì không Đạt.

Không Đốn thì không Tận.

Không Tiệm thì không Thành.

THÔNG - ĐẠT - TẬN - THÀNH là như thế.

Phật dạy: 

Đức Trí tương song
Chân nguyên Tận Giác."
–T.V.

Hàng Bồ Tát hành nguyện, hạnh nguyện ý thức bốn tướng Thông - Đạt - Tận - Thành, nên không tu riêng rẽ từng môn mà liên kết tùy lúc tùy thời điểm, ứng hiện cho đồng hợp Mật - Hiển - Đốn - Tiệm mới Tận Giác.

"Chư Phật có nhiệm vụ thọ ký và Diệu Độ chư Bồ Tát. Chư Phật chỉ dạy cho Chư Bồ Tát thành tựu Phật Quả và đồng thọ ký cho Chư Bồ Tát trong đường hạnh nguyện đưa Chư Bồ Tát Ngũ Nhãn, Lục Thông, Tam Thân, Tứ Trí đồng thành Phật." –T.V.

Cách đây 2538 năm Phật Lịch, Đức Bổn Sư đã thọ ký Bồ Tát Di Lạc sẽ thành Phật nối truyền và giữ gìn Chánh Pháp tiếp nối thêm 5000 năm. Trong khoảng thời vị lai Đức Di Lạc Tôn Phật cũng đã thọ ký và Diệu Dụng cốt tận độ cho được Mục Kiền Liên thành Bồ Tát cùng Thánh Chúng. Bồ Tát sẽ lai trần hành nguyện cùng hạnh nguyện cứu độ chư Tổ để gìn giữ Chánh Pháp. Vết chân đi trước bậc bước theo sau vẫn y nhau không khác mà khác. Không khác là chân truyền vẫn giữ còn khác là phương tiện đến Chân Tôn tùy mỗi thời mà Bồ Tát hành thâm nên không giống mà vẫn y tôn y chỉ ba đời Phật. Thế mới biết chỉ Bồ Tát mới Trực Giác: Khác mà không khác, không khác mà khác cốt Tận Giác đặng Ngũ Nhãn, Lục Thông, Tam Thân, Tứ Trí.

Còn bậc Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư tự tin là Phật sao lại dạy cho chúng sanh! Phật dạy chúng sanh là Phật của chúng sanh - kết chung chúng sanh niệm chúng sanh nghe. Phật khai ngộ được Bồ Tát, Thánh Chúng sau Bồ Tát thành Phật là Phật đủ mười danh hiệu. Mỗi lần thị hiện là rung chuyển Tam Thiên, đem lại lợi ích vô lượng cho chúng sanh không tu, còn lợi ích cho Thánh Chúng nối tiếp khuyên dạy đời chuyển ác trược, phiền não trược thành Tịnh Độ.

Nếu dùng vật chất, tiền bạc cho người đời tu, đạo sớm diệt vong không trường tồn. Chỉ khi nào bậc tu tự ý thức làm thiện được phước báo, còn tu hành được giải thoát là Chánh Báo thời đạo mới trường tồn bất diệt.
“
"Còn chư Bồ Tát Tín Hạnh Nguyện để lãnh hội các pháp và Chân Lý huấn từ của Chư Phật mà sở đắc. Chư Bồ Tát độ sanh với con đường hạnh nguyện Lục Ba La Mật Đa, thâm nhập pháp giới thành tựu Bát Nhã Trí, được trí tuệ vô ngại. Đức hạnh ứng thân rốt ráo từ hữu lậu đến vô lậu không hai, hoàn toàn giải thoát."” –T.V.

Thời Hạ Lai Mạt Pháp này Ngài khai thị bậc tu cần theo đường Ngài đã vạch ra, trước tiên phải Tin Vâng Kính bậc Thiện Trí Thức sau mới tỏ thông chân lý lại cần tín tâm, đạo hạnh tự phát thệ nguyện tu cầu Tri Kiến Giải Thoát gọi là Tín Hạnh Nguyện. Đức Ngài rất nghiêm túc, Chân Phật Tử không Tín Hạnh Nguyện chẳng bao giờ truyền pháp. Bậc Tín Hạnh Nguyện cạn, sâu cũng tùy căn cơ bậc tu mà được thọ lãnh chân nguyên.

Chư Bồ Tát Hạnh, nguyện không sống cao xa viễn vông, không trừu tượng như hàng Nhị Thừa tu chứng mà chỉ hạnh nguyện thực tế nơi Lục Ba La Mật Đa hơn nên trước mắt biết nhận định là việc gì hư sẽ là thầy của cái đúng. Nhờ đó Bồ Tát tu đến thấu đạt bình đẳng từng lớp lớp pháp giới chúng sanh. Bình đẳng mà bất bình đẳng.

Chúng sanh, sanh ra ai cũng như ai, thân cũng có đầy đủ các bộ phận, các cơ quan, cũng có hoàn cảnh như nhau, tại chưa biết soi thấu. Do tánh mà đổi cảnh, chớ cảnh vẫn là cảnh. Cảnh bất bình đẳng là Thọ Ngã. Đã thọ ngã là có cảnh. Không có Ngã là không có cảnh. Đường tu bước qua bất bình đẳng lớp lớp chúng sanh được trở về bình đẳng của tâm thanh tịnh. Suy ra tánh trí bình đẳng mới Tín Hạnh Nguyện được viên dung thấu đạt Bát Nhã Trí thực thể không còn pháp trừu tượng. Trí tuệ được tự tại vô ngại lúc đó hữu lậu vô lậu chỉ là một mà hai, hai mà một ứng thân thị hiện đúng không còn sai được hoàn toàn giải thoát sanh tử luân hồi.

Duy Vật đánh ngã Duy Tâm. Duy Tâm có làm thực thể thì Duy Tâm cũng là thực chất sẽ đi sát hơn Duy Vật. Thời Hạ Lai thực tế nhất còn cụ thể chứng minh nơi ban Hành Hịch Vũ Trụ, kết chung cho thấy Duy Tâm nương Duy Vật, điều động được Duy Vật sát thực tại. Có tu thành Tiên, Thánh, thành quân tử cũng phải theo con đường này. Khi thực hiện đúng là giác ngộ. Khi thực hiện sai bị khổ là mê. Thực ra mê, ngộ không chứng từ ghi chép được. Nó thuộc Tâm Ấn, phải Tin Vâng bậc Tâm Ấn thôi. Vì sao? Vì vạn pháp huyễn hóa cần có bậc thật biết theo đường đi vũ trụ tức Như Lai Pháp sẽ thực hiện được chân thật mà trở về thật.
“
"Thời kỳ nào Phật hóa độ tất cả chúng sanh và Bồ Tát? Thời Đức Phật ra đời, chưa có thể hiện Bồ Tát, thì Phật phải Hành Dụng đến Diệu Dụng chung một hai thứ gọi là Bồ Tát Phật. Khi chúng sanh Giác Ngộ hoặc đắc pháp thì Phật trở qua Đốn Pháp để cho chúng sanh hiện thể, thời này gọi là Phật hóa độ Bồ Tát.”" –T.V.

Thời nào có Phật ra đời, chúng sanh và Bồ Tát còn lẫn lộn trong Đạo Tràng. Phật phải hành dụng cùng diệu dụng để tuyển chọn bậc tu căn cơ sâu dày. Diệu dụng hữu tướng, phi tướng, bậc thật tu qua được, điều ngự tánh được đắc pháp hay Giác Ngộ. Sau Phật Đốn Pháp cho bậc tu sửa được hiện thân Bồ Tát. Bậc Bồ Tát đối với Ngài phải là bậc tu Tin Vâng Kính trọn, Tín Hạnh Nguyện tự giác cao độ mới Đốn cho sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Khi đã chứng minh Bồ Tát. Phật mới nuôi dưỡng riêng, pháp mỗi lúc mỗi khó, chỉ một sai nhỏ cũng chỉ thẳng bằng Đốn: La rầy, làm dữ, đuổi, đánh cốt tận độ chúng sanh tánh cho trơn liền, tâm không còn chớp động trước vạn pháp. Thời này Phật hóa độ Bồ Tát thật khó.
Những vị Tôn Giả được Ngài chọn phải chịu kỳ thi khó khăn trong phần hóa độ Nhứt Thừa này.

"Qua thời Bồ Tát hiện thân đầy đủ hoặc chưa đầy đủ thì Phật mới thi hành Tịnh Bất Tịnh, Thuận Nghịch quyết đưa chư Bồ Tát qua các trở lực ngăn ngại mắc miếu, thân tâm tập khởi, tập nhiễm trong lý sự chưa đồng đến đồng, chưa đặng đến đặng, chưa sở đắc đến sở đắc hoàn toàn thành Phật." –T.V.

Trên thực tại thế gian, kỳ Hạ Lai này Ngài hóa độ chỉ có một vị đắc Vô Thượng Chánh Giác, Ngài liền diệu dụng Tịnh Bất Tịnh quyết đưa Bồ Tát qua các trở lực cho thân tâm sạch hết tập khởi, tập nhiễm, không còn nghi.

Trong thế gian tâm còn vướng động là còn theo nghiệp. Bậc giải nghiệp, tỏ nghiệp giác từng vi trần của pháp. Giải được một pháp là vượt qua khỏi pháp giới đó, là thoát một kiếp sanh tử luân hồi. Bậc tu từ một pháp giải được làm điểm tựa tiến bước, phải qua hàng tỷ pháp giới mới giác ngộ. Một chữ là một pháp giới, một lời là một pháp giới, một hành động là một pháp giới... Như thiện ác, tốt, xấu. Sáng tưởng được thượng sanh, tối tưởng chính Địa Ngục.

Một hôm Đức Di Lạc Tôn Phật hỏi Tứ Chúng: Thử kiểm lại lâu nay tu những gì? Những gì thuộc thiện căn, thiện chí thì cứ theo con đường đó mà đi. Khi không còn vọng tâm, không ham muốn, thực hiện được lý sự đồng sẽ sở đắc chân lý. Tâm không còn vọng chẳng khác vạn pháp đều chảy ra biển cả hết. Bổn Lai Diện Mục của một pháp nếu biết được pháp sẽ Trực Giác, sau tâm liền lạc suông sẽ được nhạy cảm, chỉ cần một khẻ nhẹ cũng biết đủ gọi là Không Tướng thấy. Tu như vậy đem lại Chân Thiện.
“
"Nên Phật hóa độ khó nghĩ bàn, khó phê phán. Vì sao?

Vì Phật diễn ra các pháp chẳng thiếu sót. Từ Bồ Tát chưa bao giờ nhìn đặng, thời làm sao chúng sanh biết nổi việc hóa độ của Chư Phật? Làm cho sức lực công năng của Chư Bồ Tát chịu đựng tiến triển thọ lãnh đầy đủ của Như Lai Tạng mà rốt tận Bát Đại Niết Bàn.”" –T.V.

Bậc tu trong thời Mạt Pháp này thấy lối tu của Ngài khai có mới lạ, nhưng thật không khác với mười phương Phật Ba Đời. Phải cố sức tu chớ đừng phê pháp, chớ đừng phá pháp. Một vị còn mê lầm nói bậy, bậc tu kia nghe được tự kiềm chế lại, khuyên vị tu mê lầm chớ tự mãn, nếu được điều kỳ diệu cũng chớ nên khoe khoang. Đời sống chỉ biết có ăn, ngủ chẳng khác gì loài động vật, lại uổng phí một kiếp khó được tái sanh làm người lắm.

Bồ Tát làm việc gì cũng thật nhuyễn, nên một pháp đi qua dù nhỏ đến mấy chăng nữa cũng thấy biết tường tận, tỷ như trong một nghề nếu bậc tinh vi mà có ai vào làm lạng quạng là biết liền. Tu cũng vậy biết tỷ mỷ được thọ lãnh đầy đủ Như Lai Tạng.

Phật diễn pháp rất khó biết trước, càng cao pháp càng gai góc khó nhận nổi, chỉ biết kềm chế tánh mới qua nổi. Bồ Tát tu hành cần phá chấp, dụng trí tuệ tìm một pháp mới thì sau triệu kiếp Như Lai Tạng cũng cung đốn cho mình sống như vậy. Cũng như có làm là có cái sống, có tu sửa sẽ chứng ngộ. Dù bậc tu có gặp Phật lai trần mà không tu sửa Phật cũng phải chịu, không hóa độ được. Bậc tu chưa biết đường tu giác ngộ ra sao thì chớ nên vội phê phán chỉ trích bậc Thiện Tri Thức, chỉ cần tự mình hóa giải không chướng không chấp sẽ nhận biết được Chân Pháp.

"Sự hóa độ của Phật, chỉ có Phật với Phật biết, Phật đưa từng hàng Bồ Tát bởi tịnh hay thuận mà thọ chấp, Phật làm cho Bồ Tát ấy Tâm không phân biệt dị biệt, được suốt thông Tịnh, Bất Tịnh đến thuận nghịch thực thi rỗng rang trùm khắp đến thành Phật." –T.V.

Bồ Tát bị nhiễm lý kinh trụ xứ, Phật rất biết Diệu Dụng đưa Bồ Tát thoát nhiễm văn tự. Sau Bồ Tát tự ý thức tháo gỡ tập nhiễm không còn phân biệt, không còn bị Tịnh Biệt. Chủ yếu của Phật làm cho hàng Bồ Tát hợp hóa chứ không có diệt, nếu diệt pháp làm sao hợp hóa được, nếu diệt bị đứng yên chữ KHÔNG lại lấy văn tự làm sở chứng. Vô số bậc tu thời Hạ Lai tự gọi Thiền Sư ở vị trí này.

Có vị còn viết cả chìa khóa tu Phật mà khi đọc kinh Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đưa tận tay không hiểu được lại chê bỏ đi. Đường lối hợp hóa của Phật là làm cho Bồ Tát nghi chấp sao qua được pháp nghịch mà phá nghi chấp, trí tuệ được suốt thông không còn quái ngại. Việc đáng làm là thực hiện dù khó khăn đến đâu, việc không đáng làm dứt khoát thật dung thông ra vào vạn pháp. Sau được viên dung thấy Nhãn Tịnh, nghe Nhĩ Tịnh, đến thật biết tỷ mỷ tận giác, không còn trụ chấp văn tự, sở đắc Bát Nhã Trí vào hàng Đại Bồ Tát chờ Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật.
“
"Phật hóa độ, tất cả nghi Phật thật ÁC, Phật hóa độ Chư Bồ Tát phải nghi thật là NGHỊCH, dù có ác hoặc nghịch chăng thời khó nghĩ bàn, vô lượng hóa độ, vô lượng diệu dụng Bồ Tát nhìn chưa thấu, thì phàm phu lấy đâu để hiểu? Phật chỉ vì Bồ Tát đứng yên thọ chấp mà phải hóa độ như thế, để được thọ ký và chứng minh của Như Lai."” –T.V.

Hầu hết chúng sanh tin Phật ra đời theo tu sẽ được vật chất đầy đủ, sung sướng lắm. Bậc được ở gần Chư Phật mới biết tu hành quá ư khó khăn, khó đến nỗi Chư Thánh Chúng phải bỏ chạy. Có bậc trốn luôn không dám quay lại nhìn nơi Ngài đang ở như đã xảy ra thực tế đời Hạ Lai này tôi đã chứng kiến. Vì sao?

Vì Bồ Tát chưa rốt ráo còn nhiễm ÁI, nhiễm vật chất, nhiễm danh vọng. Ba thứ nhiễm này tạo vòng đai sanh tử ngăn trở Bồ Tát làm nhiều kiếp đứng yên thọ chấp. Nhất là Bồ Tát hiện thân tướng cư sĩ thì ba thứ độc nhiễm trên nếu không có Phật vô lượng Hóa Độ, vô lượng Diệu Dụng, thực tế không có Bồ Tát nào vào, ra Giới nổi, không đủ sức tự tại tháo gỡ.

Chỉ Bồ Tát nào dày công đức cúng dường Như Lai, như nhiên vào hàng Đại Căn được tháo gỡ trước. Còn những vị bê trễ, an trụ, không hợp nên Phật không hóa độ được. Do đó mà khó. Vì vết chân Chư Phật, lộ trình thời gian không đủ, tuổi cao nên phải đợi vị Phật kế.

Lối hóa độ của Phật một là đưa Bồ Tát ra khỏi ÁI vì đang nhiễm ái. Lối thứ hai là cho vào ái sau lôi ra khỏi ái, cuối cùng Phật cho dung thông ái. Thấy mất ái ai cũng sợ, cũng gào thét nên thấy Phật ác, nghịch là vậy.

Qua được ái, sau không còn nhiễm ái nhưng ái không mất. Tiền hung hậu kiết, chưa nhận định được ái Bồ Tát bỏ chạy, phê phán chỉ trích Phật thật ác nên bị lầm phải đợi những đời Phật sau! Cho nên trụ La Hán còn tạm, nếu hạnh nguyện đúng Bồ Tát tận độ Hoa Pháp Tánh không ai làm nổi, phải huân tập nhiều kiếp mới xuất hiện Bồ Tát Đại Căn theo Phật cầu Diệu Quả Bồ Đề. Bởi vậy Phật làm Phật biết, chỉ Phật biết Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát biết chưa tận thì bậc tu ở dưới sao thấu hiểu.
“
"Bồ Tát Quán Tự Tại Vô Ngại phá nghi, phá tương đối, phá thân khẩu ý xuất ly đặng gìn giữ tư duy nên chưa tỏ rõ di chuyển Pháp Tánh, chưa biết được thường tánh thì làm sao chu đáo Diệu Tánh Niết Bàn. Bậc Bồ Tát như vậy mà bắt chước hóa độ nơi Phật làm hành dụng tác tạo Nghịch Hành, thật là nguy hại vô kể.”" –T.V.

Bậc tu chưa trực giác đầy đủ, còn dùng trí suy nghĩ gọi là tư duy, cũng chưa được Chư Phật ban hành chứng minh hành nguyện, hạnh nguyện cầu Diệu Quả Bồ Đề mà tự ý tạo pháp bất tịnh rồi cho là vô ngại, tự tại bắt chước Chư Phật. Kết chung đi ba đường ác, không tự tháo gỡ được sẽ thành Phật Qủi còn gọi Phật Giới thật nguy hại vô kể.

Đương thời còn Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc tại thế có bậc tu tự xưng Hoan Lạc đã tự tung tự tác, Ngài báo cho chân Phật tử tín thành thấy biết mà tránh. Ngài cũng không chứng minh làm Hộ Pháp, bậc này không hay biết nên tưởng tượng mình thành Phật như Ngài. Tự ý suy nghĩ tu hành sao cũng được nhưng theo tôn ty trật tự vết chân Ngài, bậc Bồ Tát đến hàng Thánh Chúng Ngài kiểm tra Đạo-Đời hợp nhất thường xuyên. Không có bậc nào dám tự ý khi chưa được Ngài khai mở vô minh cho trực giác. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác như Ngài chú tâm đồng hóa nhân sinh nên lối sống ăn ở cũng giống như tất cả tầng lớp con người, chỉ hơn nhân sinh, tứ loài Bản Giác thôi.

"Bồ Tát nên y kinh để liễu nghĩa, nên dạy chúng sanh nghe pháp cốt tỏ biết. Chớ chẳng nên y kinh bất liễu nghĩa dạy chúng sanh nghe pháp chớ nên thuộc lòng không hiểu nghĩa sau này sẽ bị biết, dạy chúng sanh thật biết hữu lậu thật rõ vô lậu. Hữu vô đều tỏ rõ, chớ vì hữu mà nặng, chớ vì vô để chấp. Lại cũng chớ vì hữu mà đoạn, chớ nên vô mà lìa, đó chính là Bồ Tát khéo cúng dường Tam Bảo, khéo đưa chúng sanh chẳng lấy cũng không bỏ." –T.V.

Pháp của Bồ Tát là pháp không Hữu cũng chẳng Vô. Không lấy cũng chẳng bỏ. Không y kinh cũng chẳng ly kinh. Đó chính là pháp viên dung không hai tướng, pháp của Nhứt Thừa hoàn toàn giải thoát. Thực hiện được pháp này bậc tu đã được Trực Giác lúc nào cũng tự tánh, chúng sanh tánh không còn vọ vậy nữa.

Hàng Bồ Tát biết sống cuộc đời thoải mái, lấy chân lý là người bạn trung thành nhất nên ý thức được trong cuộc sống người ta phản mình, người thân cũng phản mình, chính mình cũng phản mình. Chỉ có chân lý là trung thành với mình nhất, là nguồn an ủi cho mình quý nhất, nó đem đến cho mình thêm hiểu biết Bảo Pháp như lời của Chư Phật thật quý.

"Các hàng Thánh, Tiên cùng Chư Bồ Tát thảy đều công dụng tương song tu cầu quả vị. Nơi quả vị chủ yếu tương song mới đặng hóa thân Phật Tướng hay Bồ Tát Tướng. Mặc dù Bồ Tát, Phật không có tướng, nhưng nó phải có cái gì tương song mới hình thành Chánh Giác."
–T.V.

Phật không tướng, Bồ Tát cũng không có tướng. Giác tướng là tướng Phật, tướng Bồ Tát. Chư Phật khai ngộ Chư Bồ Tát tu cho thấu đạt Giác Tướng. Muốn vậy Bồ Tát phải tu từng các cõi, mỗi cõi có một sắc thái cao thấp, rộng hẹp, thanh thô, dơ sạch... khác nhau. Phật nói chúng sanh vọng tưởng điên đảo tham cầu nhiều hơn là thực tiễn, đòi cái lớn bỏ nhỏ nên không tu sạch các cảnh giới. Cõi nhân gian lấy sức lực xây dựng nhà, đền đài... cõi Thiên thì thanh thoát.

Lý và Sự cần tương song, bỏ lấy không chừng đổi sanh dị biệt. Nếu từ cái khởi điểm nhỏ cũng thực hiện thì Tánh Tướng được tương song sẽ tỏ rõ Giác Tướng. Chúng sanh tu có biên giới, Bồ Tát không biên giới nên ở trường học, ở cơ quan chỗ nào cũng tu được, chớ không phải vào chùa mới tu được. Tu có biên giới không bao giờ tỏ tường Giác Tướng Phật. Nó không biên giới lại vô lượng vô biên. Nhưng dù có việc khó khăn, lắt léo cũng phải hóa giải để nhận diện được Pháp Tánh là đạt được Giác Tướng sâu hơn hàng A La Hán.

Bồ Tát đi cùng khắp hạnh nguyện nên biết hết Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Từ đó biết có người đam mê, nghiên cứu đủ thứ, khi chết thành ông Thần... mỗi nơi thọ chủng sản xuất ra một vị cao thấp khác nhau do tư tưởng tạo thành nhờ đó tận tường Giác Tướng đến Chánh Giác.

"Đa số các bậc tu hành, tu thời chỉ biết mình tu chớ nào rõ tương song chính là nơi bảo toàn đức tánh quả vị, do lẽ ấy nên Bồ Tát không bao giờ làm ác, Bồ Tát chẳng bao giờ làm mất phẩm hạnh nên chi Bồ Tát lai sanh kiếp kiếp thảy đều không có tội lỗi, chỉ vì chúng sanh đồng ứng tương song cứu độ thôi." –T.V.

Nhiều bậc tu nặng Đạo Đức kém Trí Tuệ. Có bậc trí tuệ khá lại kém đạo đức. Do đó dù tạo quả vị cũng không bảo trì được. Bậc tu cần tạo đạo đức và trí tuệ tương song mới bảo trì được đường tu có phẩm hạnh đạt quả vị. Tu tri Kiến Giải Thoát do căn cơ tự biết ý thức đức trí, tánh tướng, lý sự tương song. Gặp hoàn cảnh tánh tướng thực hiện qua được không còn vướng động tâm, giải tâm được giải thoát. Bồ Tát biết giải thoát từng khâu nhỏ, từng vi trần đó là bảo toàn quả vị. Bồ Tát dù va chạm đụng đến thế gian, tâm giải tỏa các pháp giới không còn vướng động đó là giải thoát, nên lai sanh kiếp kiếp đều không có tội lỗi, chỉ vì chúng sanh cứu độ thôi nên chẳng bao giờ mất phẩm chất hạnh nguyện.

Tu sao mà Thánh không biết, phàm không hay đó là Phật. Còn chư vị Thánh chỉ giữ điệu bộ Thánh nên ai cũng biết. Còn phàm vì không biết Phật và Bồ Tát nên nói ông này tu tầm thường quá. Tu mà Thánh biết, Phàm biết thì không ra ông gì, cũng không thành ông phàm hay Thánh gì hết. Đó là Nhất Tôn Phật đi như vậy, chỉ vì chúng sanh mà cứu độ thôi. Bồ Tát sanh trưởng trong gia đình nào đều chấp nhận rồi tùy thuận phải cải hóa, giải tỏa cho đẹp toàn vẹn. Có vậy mới cứu độ được Cửu Huyền Thất Tổ.

Tỷ như Phật hay Bồ Tát sanh vào gia đình ngạ qủi lấy tiền làm gốc, ai có tiền thì tử tế, Bồ Tát phải cải tạo lại, có tiền không tiền cũng được miễn là thoát sinh khỏi lý trí, chỉ lấy tình là thứ nhất, cải tạo ngay bản thân mình, mình chỉ trách mình mê, không trách ai hết. Cuối cùng hóa độ cả gia đình thoát khỏi ngạ qủi căn.

"Bồ Tát tu vạn hạnh, từ nơi Tịnh - Bất Tịnh không chướng đối với hàng tu cầu giải thoát. Trí tuệ nơi hàng tu Bồ Tát là trí tuệ bất thối chuyển, trí tuệ bất thối chuyển chính là Bát Nhã Trí, trí tuệ này không chấp trụ, không vì khởi niệm tương song, lý trí quan niệm tự cho mình là Bồ Tát lai trần cứu độ." T.V.

Bồ Tát dù tu tánh tướng, đức trí tương song cũng không chấp trụ tương song, đó chính là pháp môn không hai, đã không hai là nhất niệm. Vào pháp môn không hai Bồ tát lấy dân chúng làm nhà cửa, làm cuộc sống. Bồ Tát lấy tất cả chúng sanh làm bà con dòng họ. Nhờ chúng sanh mới có Phật Tánh. Nhờ mưu sĩ mình xem xét mình mới có ngay thẳng, nếu chúng sanh không mưu sĩ Bồ Tát cũng ngay thẳng thì đồng nhau không hơn ai, thì làm sao xuất sanh thành Bồ Tát được. Tổ là tỏ thông, Bồ Tát là thấu đạt nhưng chưa tận thành cho nên phải biết trực giác chớ chưa tận giác không nên chấp trụ.

"Bồ tát tự làm ra Tướng Phật vẫn chưa phải là Phật. Vì sao ? Vì Phật không có tướng. Phật chỉ thị hiện đầy đủ từng lớp lớp không thiếu sót bao trùm khắp khắp Phật Tướng." –T.V.

Bồ Tát gặp kẻ gây điều xấu, không hờn giận lại tùy hoàn cảnh hiện thân cứu độ thật đẹp, thật tròn khắp lớp lớp. Bảo châu nằm nơi nghịch pháp, Bồ Tát hành nguyện gặp người nói xấu, nguyền rủa đủ điều, Bồ Tát có quyền soi sáng là hơn hết. Đó là Đại căn, Đại trí. Họ xấu vì nghiệp chúng sanh Bồ Tát không giận hờn. Đó là Bồ Tát soi thấu ngàn phương. Do đó Bồ Tát không tướng mà giác tướng biết trùm khắp khắp Như Lai hiện thân cứu độ lớp lớp.

"Có khi một bậc từ trong A Tỳ Địa Ngục hoặc Vô Gián Địa Ngục, gặp đặng duyên lành của Bồ Tát tận độ, liền đặng thoát sanh lên Nhân Thiên. Bằng có bậc đang sống ở Nhân Thiên, giờ phút lâm chung mạng vong thoát khỏi Nhân Thiên, thụ sanh vào Ngạ Qủy, Súc Sanh hay Địa Ngục." –T.V.

Tốt và Xấu là hai, Thiện và Ác là hai, Thượng Sanh Nhân Thiên, Hạ Kiếp lưu đày, Bồ tát tu hết cái tốt được cái tốt nhưng không ghét cái xấu là độ xấu. Tu hết cái Thiện được cái Thiện nhưng không ghét cái ác là độ ác.

Thế nào là Thiện Căn để độ Ác Căn. Bậc tu không khinh kẻ ác căn đó là độ kẻ ác căn. Được một gọi là Nhất Tôn Hạnh còn gọi không Thiện cũng chẳng Ác vì độ hết ác căn rồi. Kẻ làm quấy sai trái mình không cho nó là quấy vì hoàn cảnh mê lầm của nó phải như vậy. Khi mình gặp hoàn cảnh tương tự cũng bị như vậy thôi. Kẻ khùng chưởi mình, mình giận chi. Bậc tròn giác thấy cái gì từ thân mình cũng có. Bậc tu đòi làm Thánh làm Bồ tát mà còn thấy hơn chúng sanh thì chưa phải là Bồ tát.

Mình cứ hạnh nguyện như vậy không thấy mình là Bồ tát chỉ thấy độ chúng sanh. Đương nhiên đầy đủ công năng công đức là bậc tu đã độ xong Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục A Tỳ, Địa Ngục Vô Gián. Chừng đó chỉ cần một câu niệm vì đã có lòng Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng chúng sanh đại duyên cầu liền được cứu độ. Bậc tu đã siêu độ được tánh mình, vận chuyển được ba cõi sáu đường không còn bị giới mới tận độ được chúng sanh.

Cũng có bậc căn tánh Nhân Thiên, khi gặp hoàn cảnh thuận lợi liền sanh tâm độc, mưu sĩ đoạt của, làm tổn hại kẻ khác. Khi thác sanh việc làm của chủng tánh độc, mưu sĩ nó trả về ngạ qủy, súc sanh, địa ngục là lẽ thường vì nó làm như thế nào thì nó về nơi ấy. Do đó mà Đức Di Lạc Tôn Phật mới khai thị có bậc ở trong địa ngục tối tăm đại duyên gặp đặng Bồ tát liền thoát sanh nhân thiên sung sướng phước báo. Còn có kẻ Nhân Thiên hay bậc tu xuất gia làm lỗi lầm tai hại bị sa Địa Ngục, Ngạ Qủy, Súc Sanh là như vậy.

"Một khi con người chán chê kiếp sống, mong giải thoát, phải nương nơi thụ sanh cổi giải cho đặng thoát sanh từng giai đoạn, nên mới niệm niệm cốt dứt bỏ từng quan niệm theo tấm gương của Chư Bồ tát cùng Chư Phật, đã từng hóa giải thoát sanh bá thiên vạn triệu pháp giới, đến tự tại vô ngại thoát sanh về với giải thoát." –T.V.

Bậc tu còn lầm lẫn đều bị thọ pháp giới dưới muôn ngàn hình thức. Nếu mong cầu giải thoát phải nương nơi giới, cổi giải mới qua từng pháp giới. Niệm niệm có nghĩa từng pháp cỗi giải, còn quan niệm là còn nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu cần phải cỗi giải cho sạch. Bồ Tát thuyết pháp để chúng sanh giải gút. Chúng sanh tin cần cổi giải tánh nghi. Còn nghi còn giải. Hết nghi hết giải. Cũng như cái áo còn dơ là còn giặt mãi cho trắng.

Chúng sinh tìm chân lý bằng quan niệm phải tu như vậy, phải làm như vậy, khác ý họ bảo tà đạo. Tu bằng quan niệm bị nghiệp thức ngăn che dù có a tăng kỳ kiếp cũng không bao giờ giải thoát. Thường bậc tu nhìn hoàn cảnh người khác thì thấy được, còn chính hoàn cảnh của mình, mình không biết. Ta biết họ, ta giải cảnh đó thì ta được đúng. Làm mãi sẽ đến cơ bản chính là vô ngại, tự tại, đại bi, tri kiến giải thoát. Đâu còn bị thọ chấp pháp giới. Bằng niệm niệm nơi mơ ước niệm, tưởng niệm hoặc diệt bối cảnh niệm, đó là diệt pháp không đúng đường Chư Bồ tát đã đi, bị sanh trong vòng sanh tử.

"Nên chi chư Bồ Tát tu theo chí nguyện, lập hạnh nguyện, ban đầu nương nơi nguyện để tu, đến giai đoạn trực giác mới tường tận lướt qua các bối cảnh thuận nghịch, tâm không mắc miếu mới là độ sanh." –T.V.

Đối với Ngài trao cho hàng Hộ Pháp, Tôn Giả độ sanh, Ngài xem xét kỷ, thử thách dạy cho nhận định được chân lý sau trực giác mới cho thuyết pháp độ sanh. Ngài cũng kiểm tra các vị này nếu ở các tỉnh ba hay bốn tháng phải vào vấn an Ngài. Có bậc Ngài bỏ, có bậc tín thành Ngài đào tạo tiếp. Những bậc này số đông Ngài cho lập ba tâm năm nguyện y như Chư Tổ đã lập ra. Hàng Bồ Tát nguyện Ngài cho lập ba lần nguyện:

Lần thứ nhất Ba Tâm Năm Nguyện.
Lần thứ hai Chi tiết Nguyện.
Lần thứ ba Mật Nguyện.

Cả đời theo tu Ngài tôi được Ngài cho lập ba lần nguyện. Cũng có hai vị tôn giả nữa ở Trung Ương được lập ba lần nguyện như trên nhưng khi Ngài ban hành Hịch Bồ Tát Ma Ha Tát duy nhất chỉ có một được thọ lãnh trong toàn Long Hoa Hội Thượng.

Ngài từng khai thị: Chân Phật Tử bản năng chưa sửa chỉnh, tâm chí không hướng thượng, tư tưởng còn mơ ước ảo tưởng dù miệng thuyết pháp cũng nói cho có nói chứ không mang lại lợi ích thực cho chúng sanh. Bậc nói ra hay còn việc làm rỗng không, lý sự không đồng, chỉ sống nơi trừu tượng, bản thân còn đầy ma tánh vội dạy chúng sanh chỉ thêm vô ích.

"Tại sao không qua nổi chủ lực của Lục Đạo? Do mỗi một con người có một đích sống quan niệm lẽ sống của một tướng môn thì làm sao chủ lực được sáu đạo mà thoát sanh khỏi lục đạo." –T.V.

Đức Ngài trước Chánh Điện

Diện kiến với Đức Di Lạc Tôn Phật, được theo khi Ngài khai thị mới biết quá ư khó qua nổi chủ lực của Lục Đạo. Học, tu thì dể vì tu theo quan niệm còn thực tế phải có Ngài, bậc thành tâm thiết tha phải mất 20 năm mới ra khỏi chủ lực của Lục Đạo, mới qua nổi chủ lực của vòng đi pháp giới! Chẳng khác nào nhà khoa học chế tạo ra phi thuyền bay ra khỏi vòng đai bầu khí quyển, sống trong trạng thái không trọng lực, sau đó phải có lực quay trở về trái đất an toàn.

Vì vậy bậc ra khỏi vòng đai pháp giới, ra khỏi chủ lực lục đạo cùng ba cõi không dùng văn tự diễn tả được, cũng không sống cầu kỳ làm Thánh nên chúng sanh, bạn bè, thân quyến ở sát bên không hề hay biết. Chỉ có Chư Phật mới thực hiện qua nổi chủ lực của ma lực lục đạo. Nói thì dễ thực hành thắng ma lực được mới có chủ lực. Tự ý đâu biết phải thi hành ra sao nên không có ai qua nổi chủ lực lục đạo.

Càng học, càng nghiên cứu, không vận chuyển được vạn pháp nơi nghe thấy biết làm sao thoát sinh. Còn lầm chấp nó càng khủng bố để chúng sanh củng cố đứng yên trong chủ lực của nó. Hiểu biết là một chuyện còn thực hiện lấy lại chủ lực thật khó khăn vô kể.

Quan niệm lẽ sống của một tướng môn có nghĩa nơi thân mạng của mỗi chúng sanh tuy có hằng hà sa số tánh nhưng chỉ có một căn tánh chính mà thôi. Mỗi căn tánh là một tướng môn ngạ qủy, súc sanh, địa ngục, a tu la, nhân thiên... mà chúng sanh tự tạo bị nhiễm. Có chúng sanh sống tướng môn Địa ngục, có chúng sanh sống tướng môn súc sanh, ngạ qủy... Chúng sanh rất khó thấy, khó biết làm sao ra khỏi chủ lực lục đạo được. Bậc tu dù nhiều năm cũng vậy phải có cách thức của mỗi môn mới lần thoát sinh thôi.

"Ta phải vãng sanh bản thân, hồi sanh tu nơi bốn bài năm môn mà đoạt đến Cửu phẩm Liên Hoa tận thành chánh giác. Khi bấy giờ mới hay: Ngũ Uẩn Giai Không, Độ Nhứt Thiết Khổ Ách vậy." –T.V.

Hóa giải sạch hoa pháp tánh nơi thân mạng gọi là vãng sanh. Hồi sanh là cái sống thực không còn ma lực làm chủ nữa, lúc bấy giờ tu nơi bốn bài toán cộng, trừ, nhân, chia và năm môn là Giáo lý môn, Triết môn, Toán lý môn, Khoa học môn, Siêu hình môn. Bốn bài toán và năm môn bao gồm Tam Tạng kinh của Chư Phật. Đến lúc sở đắc chân lý mới biết lời khai thị tuyệt mỹ của Chư Phật.

Sở đắc Cửu Phẩm Liên Hoa là chín phẩm tu chứng lớp lang đầy đủ Đức Di Lạc Tôn Phật mới kiểm tra chứng minh vào hàng Bồ Tát, đại diện Chư Phật lai trần tận độ chúng sanh chờ đầy đủ thành Phật. Vậy hạ kiếp này những vị không gặp Đức Di lạc Tôn Phật mà bảo là Phật, Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư hãy kể chín phẩm sở đắc mới là đường đi của Chư Phật. Nếu là thực ắt phải biết, còn không, bị mang khai tướng Phật. Cửu Phẩm Liên Hoa chỉ có Đức Di Lạc Tôn Phật biết được, tận rõ được, chủ trì được mà thôi.

Chư Phật chỉ có một đường Nhất Tôn không hề có đường thứ hai, thứ ba. Chỉ bậc lầm nhận mới có nhiều đường khác mà thôi. Ngài còn căn dặn đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác phải hành thâm pháp giới chẳng thiếu sót mới chứng quả. Chớ không phải sở đắc Vô Thượng là thành Phật được đâu. Thật là mê lầm còn dày đặc, bị Phật Giới khó thoát khỏi chủ lực lục đạo, vẫn chưa xong độ Nhứt Thiết Khổ Ách.

"Bộ óc nơi ta, thân mạng của ta nó là giống gì? Ta chưa bao giờ biết rõ nó, nó chẳng cần biết ta nên ta ngỡ nó là ta, cho nó ăn hương vị đầy đủ, cho nó mặc sung túc chẳng thiếu chi, cầu nó gìn giữ trẻ trung sợ nó già nua sút kém nhưng chính nó nào đâu phải vậy. Nó là bộ máy ráp vần ghi nhận như nhiên ta có bổn phận phát ngôn thấy biêt. Nó cùng ta thẩy đều như nhiên, phần nó đã giải thoát từ lâu, nơi ta lại sống theo quan niệm, Thiền sư nói xong cười xòa lải rải." –T.V.

Như cái radio phải do từng bộ phận ráp lại đúng nó phát được tiếng nhờ Đài phát thanh. Nếu Đài phát thanh ngưng hoạt động cái radio không phát ra tiếng được. Nếu dòng điện tắc nó cũng không lên tiếng được.

Con người cho đến tứ loài cũng đầy đủ bộ phận như nhiên tiếp nhận được cái nghe, thấy, biết của vũ trụ nhưng người nào ưa thích môn nào thì nghe thấy biết nơi Như Lai tạng cung đốn cho như ý nguyện của nó mà thọ lãnh. Do lầm mà ai cũng cho thân xác này là ta, rồi lo cho nó sung mãn, không chú tâm đến cái nghe thấy biết ngăn biệt tạo ra vô số tánh tốt xấu, thiện ác, tạo nơi loạn trí trong thân mạng con người.

Có bậc khi thấy thích thú phát tâm tu thì lại không chú tâm tìm pháp môn giải thoát để tu. Ngày nay Long Hoa ra đời Đức Di Lạc Tôn Phật đã để lại cho nhân sinh con đường đi đến chân lý thật sống động tại thế gian này.

"Dại thay, khó khăn thay con đường giải thoát. Ta là con người nơi một con người. Chưa bao giờ biết đặng nơi con người, thì làm sao hơn con người mà giải thoát? Khi Ta biết, đã thật biết đặng con người thì lạ thay! Ta đã giải thoát dù cho có cho ta giải thoát khỏi con người. Nhưng Ta đã hoàn toàn giải thoát toàn bộ." –T.V.

Tính theo Phật lịch cho đến hiện nay Đức Bổn Sư đã nhập Bát Đại Niết bàn hơn 25 thế kỷ. Bậc tu Phật có hàng triệu triệu xuất gia lẫn tại gia. Lượng thì quá đông, Chân Phật Tử tu đạt đến đích giải thoát quá hiếm, do nơi chưa nhận định được thế nào là tu. Nơi chủ lực đòi hỏi bậc tu phải có căn tánh hướng thượng, căn tánh đại chí. Càng phát tâm bao nhiêu lại càng lầm lạc bấy nhiêu vì tu hư vọng, mất thể tánh tự tánh giải mê.

Tôi nghe như vầy: Thời mạt pháp bậc tu hóa giải dù đúng Phật ngôn nhưng không đúng thể tánh, càng hóa giải vô minh che Phật Tánh bao nhiêu lại càng thọ tánh xấu bấy nhiêu. Sự thông thái, trình độ mỗi cõi mỗi khác nhau vì hiểu biết bất đồng khác nhau, khó hiểu nhau. Tất cả mức sống , trình độ, vật dụng chỉ có hóa sanh kết tạo mà thành. Tất cả hiện vật trong vũ trụ thảy đều nơi vũ trụ hóa sanh chớ con người làm sao sáng tạo chất hóa. Con người chỉ lấy hiện vật có sẵn kết nạp gọi là biến chất dù cho con người tiến bộ đến đâu, khám phá vũ trụ dạo khắp hành tinh đem về thực nghiệm cũng không biết được PHI VẬT là chất chưa hóa, sanh ra vạn vật. Mỗi thế giới Tiên, Thần, mức sống trình độ, vật dụng tinh xảo tốt đẹp gấp ngàn lần thế giới con người.

Chỉ trừ con người dùng trí tuệ khám phá thân mạng, lúc khám phá xong chừng đó mới tỏ rõ con người, đã thật biết đặng con người thì lạ thay! Bậc đó đã hoàn toàn giải thoát.

"Con người với con người khôn khéo đến đâu khó nói lên thế nào con đường giải thoát, chỉ có bậc giải thoát mới bày rõ Chân Tôn, biện bày giải thoát. Dù cho nhất tâm tu đạt, tin chỗ giải thoát chăng, vẫn tin nơi quan niệm giải thoát bằng thể thức tuyệt dục ly thân cắt ái xa lánh con người trần lao cấu nhiễm là giải thoát." –T.V.

Một chúng sanh thông minh đến đâu mà Bậc Chánh Giác khai thị cho họ cũng phải nương chìu, dỗ dành cho họ một thời gian tin đạo, sau tìm phương tiện cho họ vâng lời thi hành lời dạy đặng hạnh nguyện. Đến lúc thuần thục mới lựa thế khai mở cho giải thoát. Thật khó vì chúng sanh sống theo quan niệm giúp cho họ tu phải làm sao, phải hành như thế nào, phải khai thị ra sao khi họ trực giác được là một kỳ công của Bậc Chánh Giác. Khi nhận định được, đến trực giác mới biết giác ngộ không phải tuyệt dục ly thân cắt ái, xa lánh con người trần lao mà phải nương những thứ đó hóa giải không còn nhiễm chấp, đến khi sạch nghiệp chờ gặp Bậc Chánh Giác khai giác ngộ.

Bồ tát hạnh nguyện độ sanh cốt đánh thức chúng sanh khỏi lầm lạc nên Bồ Tát chẳng bao giờ diệt pháp. Khi Đức Bổn Sư nhập Niết Bàn Chư Tổ phụng hành Bảo Pháp làm cho chúng sanh tiến theo con đường thiện căn thiện chí đúng nghĩa Thánh Hiền. Đến thời Tổ cuối là Lục Tổ song hành có Thần Tú xây dựng Đạo bằng tín ngưỡng, ông cho tăng thêm tán phách chủ đích nương nơi đó tu hành cho đến ngày hôm nay, thời Hạ Lai Mạt Pháp đa số bậc tu nặng triển khai sắc tướng âm thanh mà lập pháp. Kém về y chỉ tự tánh.

Nay thì Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã mở một con đường trở về Chân Tôn cho Bồ tát và Chư Vị Tôn Giả, Hộ Pháp hàng cư sĩ xây dựng lại Chánh Pháp. Trên đường hành đạo, thể hiện Long Hoa đã ra đời, gặp nhiều bậc tu bảo thủ môn phái nhận chấp vẫn bị mê, có số lại vô tư bị sa Tịnh Biệt vẫn lầm lẫn. Thật ra Tôn Chỉ Tịnh Độ vốn giác Tịnh đặng Độ mà thôi. Bồ Tát và phàm chỉ hơn nhau Ngộ và mê. Bậc trình độ Thánh Hiền ngang tầm mức tỏ chân lý mới nhận được. Ngoài ra giảng giải cho bậc tu chưa đến mức Thánh Tăng không thể nhận được nếu có cũng hiểu lờ mờ sanh dễ nghi chấp. Vì vậy mà Ngài lập lại tôn chỉ mục đích cần Tín Hạnh Nguyện mới nhận chân được.

"Bạch Thế Tôn chính con đã đưa tất cả chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát. Sự lầm lạc nơi con giờ phút này không nói được. Con vướng bệnh mê lầm chính con phải chữa căn bệnh, khi bệnh hết mới đặng giải thoát. Con tu cầu đã từng thề nguyện, độ hết chúng sanh mới nhập Niết bàn. Bằng còn mỗi một chúng sanh chưa tận độ, con thề chưa nhập Niết bàn." –T.V.

Đoạn kinh này cho thấy ngụ ý Đức Di Lạc trước khi chánh giác cũng bửu sám lên Đức Thế Tôn để Chư Tổ sau đừng xưng Bồ Tát, Phật loạn như thời Hạ Lai Mạt Kiếp này nữa. Còn một chúng sanh tánh chưa tận độ tức chưa tròn đầy Đại Viên Cảnh Trí thì làm sao nhập Niết Bàn cho được.

Hàng Bồ Tát lâu lâu tùy thời cũng khuấy động vạn pháp, xem thân tâm có liền chưa mà tận độ chúng sanh tánh còn chưa xong. Vậy phải chờ thời kiếp nào diện kiến Chư Phật mới vào sâu tận độ nên bậc trí cạn tự hào xưng Phật hãy thận trọng hý ngôn.

Một hôm Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn phật nhập chánh định khai thị rằng ông Krishnamurti là một vị A La Hán còn rất xa mới lên đến Bồ Tát. Quả A La Hán tu đạt cao nhất là Đại Tiên rất nhẹ cảm dễ nhận biết nhưng những vi tế chúng sanh tánh di chuyển trong thân mạng chưa nhận được như hàng Bồ Tát thấu đạt thật sâu.

"Nầy hàng chư Tiên, các ông rộng hẹp chưa dung đồng bình đẳng, chỉ vì độc tôn bỉnh trị, do nơi ưa chuộng say đắm chốn uy quyền. Ta phải dạy sắc hương chớ vương trong pháp giới, buông thả tỏa muôn phương cúng dừơng tam thế chứng. Còn hàng thanh thoát của Chư Tiên do căn tánh hiếu kỳ, do lòng hữu hóa nên bị sống hóa sanh trưởng thành tài phép chìm đắm diệt sanh. Ta phải dạy tâm hành Kim Cang Đại Trí. Đến hàng Bồ Tát hiện tu đạt Phẩm Phổ Môn, cung kính phẩm cúng dường, rộng đường Bát Nhã vị.
Thiền sư vừa tuyên đọc xong, tất cả Rồng Người Tiên Thần Thánh Hóa cùng Bồ Tát trùm khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới tán thán. Chư Phật mười phương chứng minh đương thời Hạ lai Pháp Thân thị hiện giảng giải." –
T.V.

Tâm hành Kim Cang Đại Trí là tâm đã tu tự tánh đoạt Bát Nhã Trí. Không còn ảo vọng biết tu thực tiễn. Bậc có bát nhã trí không bao giờ bày ra công việc làm nhưng vạn pháp đến thì biết phải hành sự như thế nào cho tròn.

Thế nào là hàng Bồ Tát hiện tu đạt Phẩm Phổ Môn? Hàng Bồ Tát hiện tu đạt vạn pháp, độ nhất thíêt khổ ách, trực giác được trong tầng lớp lớp chúng sanh, có bậc tốt, tốt quá thành ngu. Càng tốt càng ngu nhưng dù thấy biết như vậy cứ tiếp tục đi tới tận cùng nghĩa vị tha. Đó là Chân Đế còn gọi là tu đạt Phẩm Phổ Môn.

Một chúng sanh làm một nghề gì đến giỏi tận cùng là chân đế đến thành công. Bậc này đã đạt Phẩm Phổ Môn. Như một bác sĩ hành nghề đến tận cùng của chân đế là nổi danh gọi là tu đạt Phẩm Phổ Môn.

Bậc tu toàn diện tận cùng của chân đế là Chánh Giác. Khi đạt đến chỉ cần một chân đế thôi thì bá thiên vạn chân đế khác nó đến cùng giống nhau hết. Bồ Tát rất cao, chúng sanh nói làm đủ điều cứ nhẫn nhục, đến khổ nữa nhẫn nại, đến khổ nữa nhẫn nhịn. Suy ra ai cũng phải nể hết. Đó là chân đế khổ, tu đạt Phẩm Phổ Môn.

Mỗi pháp là một chân đế. Chân đế là gì? Là chạy dài từ đầu kéo dài đến cuối cùng ở đầu kia là hết. Tất cả vạn pháp đều có chân đế. Đây là mê lầm, tận cùng mê lầm là tận giác, là chân đế. Bậc ác căn hành động thật ác, lúc ý thức được ác dẫn đến nguy hiểm nó đạt được chân đế liền hồi tỉnh đạt Phẩm Phổ Môn.

Tỷ như nước hôi thúi, đem lọc, lọc mãi hết cặn cáu, hết thúi hết hôi là nước sạch. Đó là chân đế. Hàng Bồ Tát phải hành, phải quan sát đến thành công Diệu Quan Sát là chân đế đạt Phẩm Phổ Môn độ nhất thiết khổ ách một cách thực tiễn, đâu có cầu vái van xin, đọc tụng tối sáng, chỉ hợp hóa bằng sự mới tu hành Quán Thế Âm Bồ tát, Tận cùng chân đế tận thành Quán Thế Âm Như Lai. Được chư Tiên Thần, Thánh cùng Bồ Tát khắp trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới tán thán, Còn Chư Phật mười phương chứng minh hiện tại Hạ Lai Đức Di Lạc thị hiện tận độ./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng