2. VÔ NGÃ

VÔ NGÃ tức là: KHÔNG TA. Do chấp nhận CÁI TA mà có cái CỦA TA. Đã của Ta tức có riêng tư năng phân nên Bị Biệt từng nơi từng chỗ cùng với các vật dụng riêng của TA.

Do vậy mà có từng DANH NGÃ cùng TƯỚNG NGÃ như: Nhà, cửa, xóm, làng, thì có tên nhà của Ông A, xóm B, làng C chẳng hạn, chỉ vì tự đặt mà tự thành ranh giới biệt ngăn. Còn các vật dụng cũng có từng món, mỗi món đều có một tên để cho dễ nhận của ta hay của kẻ khác vậy.

PHẬT thấy rõ sự lầm nhận hình bóng huyển ảo cho là Mình, nên PHẬT nói Pháp Vô Ngã, là không có CÁI TA nơi đảo loạn để chúng sanh khỏi lầm nhận tu tập , nương vào Vô Ngã tìm lấy CHƠN NGÃ BẢN LAI đặng hoàn toàn CHÁNH GIÁC vậy.

Vì trót mê lầm tự nhận Nhân Thân ( là thân Tứ Đại ) hư dối của Ta, cùng với các dụng Nhơn Tướng ( vật dùng ) của Ta nương theo Tứ Đại để sống nhờ cầu lấy vật dụng làm nơi vui sướng, do bảo vệ Tự Ngã cùng với Tướng Ngã mà sanh ra tham lam sân hận, vướng mắc đua vạy hơn thua trong đường sanh tử vì Huyển Pháp lầm nhận Cái Ta hư dối làm Mình, chớ thật ra nơi thân Giả Hợp chẳng có CÁI TA, vì nó VÔ NGÃ.

Các bậc tu hành nên thực hành nhận định tìm trong Thân xem cái nào là cái TA ? Nếu chỉ nó ở trên đầu là cái Ta, thời trên đầu là tóc, còn dưới là: Trán Tai - Mũi cùng Miệng, đến Cổ - Ngực - Bụng - Rún, Tay và Chân. Còn ở bên trong thời có: Ruột, Gan, Phèo, Bao tử và Phổi cùng với Máu Mủ, Xương, Thịt không có cái chi gọi là CÁI TA cả. Còn nói gồm chung nó lại mới nhận nó là CÁI TA, thì một khi đã gồm chung nó lại cũng có thể gọi là nó là CÁI MI vẫn được, cần chi gọi CÁI TA? Như vậy, CÁI TA thật là Thị Danh Hư Dối vì nó BẤT NHẤT.

Lại nhận xem về các vật dụng như: Từ cái bàn qua cái ghế cùng lại giường, phảng, tủ lớn, tủ nhỏ, cùng với chén bát mỗi mỗi đều tự đặt cùng với tự mang Danh Ngã và Tướng Ngã cho nó chớ thật ra nó chẳng có CÁI NGÃ của nó.

LẠI NỮA: Tất cả vật dụng cùng với các loài thảy đều Bị Biến và Mê Lầm mang Danh Ngã cùng Tướng Ngã, thành thử cái Dụng máng cho: PHẢI LÀM và BỊ LÀM vậy.

THẾ NÀO LÀ PHẢI BỊ DANH NGÃ VÀ TƯỚNG NGÃ?

Cũng như: Từ nơi chất ĐẤT đem ra làm thành Chén Bát cùng Dĩa hay Độc Bình và các món đồ khác, mỗi món thảy đều có cách dùng của nó.

... Đó gọi là BỊ BIẾN mang Danh Ngã Tướng Ngã, chớ thật BẢN LAI nó là ĐẤT.

LẠI NHƯ: Bàn, ghế, tủ, giường hay tấm phảng nó cũng trường hợp trên. Nó từ Bản Lai là CÂY. Người thợ cưa ra vuông, tròn là GỔ, cưa từng miếng là VÁN, không còn gọi là Cây nữa. Đó, nó Bị biến và mang Danh Tướng Ngã qua Ba lớp vậy. Đến lúc tùy người thợ sử dụng đóng ra BÀN GHẾ, nó trở thành hình Bàn Ghế, thời cái Danh Ngã nó là BÀN GHẾ, nhưng Tướng Ngã nó khác nhau. Có khác nhau như vậy nên việc dùng nó mới khác, như: Cái bàn để ăn cơm hay để sách báo hoặc ly tách, chẳng bao giờ cái Bàn để ngồi. Cũng như cái GHẾ để ngồi, chớ chẳng bao giờ cái GHẾ để sách báo ly tách. Gọi là CÁI DỤNG mỗi khi thành hình thế nào thì dùng theo cái ấy của nó, chớ chẳng dùng sai chạy. Tất cả tủ, giường, phảng hay tủ áo và tủ bạc, mỗi mỗi đều theo thứ lớp DANH NGÃ TƯỚNG NGÃ tạo nên Hình Tướng.

Còn nói về THÂN của con người (Nhân Thân) bị chấp nhận Tự Ngã nên Bị Biến thành CÁI DỤNG của CHÂN NHƯ. Đã lầm lỡ chấp nhận Mình là Cái Dụng của Chân Thể, nên xa cách CÁI TA THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN, mà chạy theo Cái Ta đảo loạn Huyển Sanh. Vì sao? Vì nhận pháp Huyển làm Chân nên phải bị mang Danh Giả Tướng Giả, ngỡ Bản Ngã, Tự Ngã là mình. Vì trót nhận hình bóng Huyển là Mình nên nương theo bóng để cầu Thực, nhưng nó chẳng Thực vì vốn nó là Huyển Pháp.

Chẳng khác nào nhà Ảo Thuật kia lấy hình NỘM Giấy diễn tuồng ăn nói, xong rồi vứt bỏ hình giấy không thể nào làm cho trở nên THẬT đặng. Các Pháp cũng vậy, nó duy chỉ Giả Hợp mà thành nên khi hợp lúc tan, chỉ mê lầm nhận lấy nó mà bị Danh Ngã Tướng Ngã tư riêng tạo nên Nghiệp sai khác của Ta cái Ta hư dối mờ mê.

Khi đã trở nên Nghiệp thời có thanh thô, cao thấp và sướng khổ không đồng Chịu Báo hoặc Chánh Báo. Vì vậy mà có mỗi người một nghề, nghề ấy chính là Nghiệp để nương theo mà tạo cái sự sống. Đó cũng là Tự Làm phải Tự Chịu.

Các bậc tu hành nên nhớ: VÌ LẦM phải bị MÊ, do nơi MÊ mới có LẦM. Chớ không Lầm nào có nơi Mê ? Chẳng Mê là GIÁC. Cái GIÁC NGỘ ấy đâu phải là một hình tướng gì, nó duy chỉ là TỎ BIẾT trọn vẹn chung cùng. Còn mê mờ là CHƯA BIẾT mà ngăn ngại.

Bậc tu phải chủ quán VÔ NGÃ đặng lìa Tự Ngã làm cho các NGHIỆP tiêu giảm, thân tâm chẳng còn mắc miếu Huyển Pháp đặng Tỏ Tánh lại qua khỏi Pháp Chấp. Đó chính là một pháp môn TRI KIẾN GIẢI THOÁT vậy.

Hiện tại vì trót lầm mê nhận các pháp Huyển là mình, cái Hữu Ngã hư dối, cái Ta không bền, nên đóng thành khuôn Danh Tướng và Ngã Dụng của CHÂN NHƯ mà vọng loạn. Đó cũng gọi là: Phải sao chịu vậy trong khuôn khổ Hành Dụng do thọ chấp nên hình. Chẳng khác nào một món đồ kia chính nó là Đất, nhưng trót vỗ nên khuôn Chén Bát hay Dĩa chẳng hạn. Vì vậy mà hiện tại là một cái Bị Khuôn bởi trót lỡ nhúng tay vào nước Chàm. Sự tối cần là phải rửa cho sạch Nghi Chấp, tiêu giảm Tự Ngã Danh Tướng Ngã, nương vào Vô Ngã cho đặng Tỏ Tánh Viên Thông đến CHÂN NGÃ THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN. Nếu được như vậy gọi là Hành Nguyện.

Các bậc tu hành chớ nên than van một khi hãy còn lí bí vì Nghi Chấp, chưa đến Bản Ngã chung cùng mà hoài vọng Thoát Sinh chỗ kia hay chốn nọ, đó thực là điên đảo vậy.

Trong Nghiệp Lực một khi đã mắc miếu thời ai cũng có mang và cũng có chịu, chẳng riêng một ai cả, duy chỉ thanh thô, nặng nhẹ mà thôi, cần nên tu để cỗi giải.

Nó chẳng khác nào: Trót lầm lẫn làm trâu ngựa phải mang cày hay kéo xe, con người thì có kẻ sướng người khổ, nhưng chung lại tùy mỗi mỗi Nghiệp mà phải chịu lấy một HIỆN HÀNH thuyên diễn của nó.

CŨNG VÍ NHƯ: Con ngựa kia phải kéo xe hàng ngày, nó chẳng than van, một ngày kia xe hư, ngựa già liền đặng thoát sanh. Ngược lại : Nó bực tức phá chiếc xe thì người chủ lại đánh đập cùm xiềng, đóng chiếc xe bền chắc hơn, phải kéo lâu hơn mới hư nát.

Bậc tu hành nên nương theo ví dụ trên. Khi đang còn trong HƯ NGÃ nên cỗi giải chấp ngăn. Lúc GIÁC NGỘ Viên Thông nên Hành Nguyện theo mọi hoàn cảnh diễn tuồng cho TRÒN NGUYỆN. Lời PHẬT cũng có dặn như:Các ông chớ nên TẬN DIỆT ĐỊNH. Vì sao? Vì chưa TRÒN NGUYỆN.

Tất cả chúng sanh vốn nguyên MỘT THỂ, đồng với CHƯ PHẬT MƯỜI PHƯƠNG chẳng sai khác. Nhưng chỉ chấp nhận Pháp Ngã làm TỰ TÁNH cho là Mình. Chẳng khác nào một khối vàng kia đem chia vụn ra làm thành vật dụng, tự nhận xíu đỉnh nơi vật dụng là Mình, dùng Danh Ngã Tướng Ngã hơn là CHÂN NGÃ mà trôi dạt. Như theo Tự Ngã: Cà Rá, Bông tai hơn là KHỐI VÀNG vậy.

ĐỨC VĂN THÙ NGÀI NÓI: Nó là PHẬT chẳng chịu làm PHẬT, chỉ chịu làm chúng sanh.

Nó VÔ NGÃ nó chẳng chịu. Nó chỉ chịu nó HỮU NGÃ nên trôi dạt SANH TỬ LUÂN HỒI. Nếu nó không nhận Danh Ngã Tướng Ngã thì nó đồng với TAM THẾ.

CŨNG NHƯ: Các món ấy chính là VÀNG KHỐI, chẳng chịu nhận là VÀNG. Chỉ ưa nhận nó là Cà Rá hay Bông Tai mà thôi.

NAM MÔ TỰ TẠI VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT

1. VÔ THƯỜNG

Vô THƯỜNG tức là Không Thường, Vì luân chuyển vần xoay thay đổi biến dời, khi có lúc không, khi còn lúc mất nên gọi là VÔ THƯỜNG.

Tất cả Vũ Trụ đến Nhân Sinh muôn loài cùng vạn vật, từ HỮU TRI đến VÔ TRI đều hứng chịu Vô Thường Pháp mà xuôi dòng theo luật NHÂN QỦA ngăn thành giới hạn như: năm - Tháng - Ngày - Giờ - Giây cùng Phút. Vì vậy nên tất cả đều nhịp nhàng qui định nơi SANH DIỆT cùng DIỆT SANH bởi Sở Chấp in tuồng như thật.

Vô Thường là một sự mê mờ vì kiểm điểm, chớ thật ra vốn THỂ TÁNH linh động, chẳng phải TỰ NHIÊN hay NHƯ NHIÊN mà có nó, vì sẵn nó BẤT NHỊ, THƯỜNG CÒN, KHÔNG TĂNG, KHÔNG GIẢM, bởi phân chia cùng qui định nhận xét nên nó thành hình Vô Thường mà Thọ Chấp. Từ lúc Khởi Sanh đến khi Bị Diệt nhịp nhàng thứ tự có Bốn Pháp : THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG trong Vô Thường Pháp.

Lại nữa: Trót vướng mắc vào Vô Thường Pháp, trót bị xoay chuyển nơi: THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG, do đó dù muốn hay không cũng phải THỤ BÁO theo Pháp mà xuôi dòng buông chảy trôi dạt theo các Pháp nhịp nhàng xoay chuyển, đó là lẻ chung của Pháp vướng chịu sanh TƯƠNG ĐỐI PHÁP: Được Mất Có Không vậy.

Hiện nay bậc tu hành nên tìm nơi THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN để đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Tránh lầm lẫn: Được mừng, Mất buồn của Vô Thường thuyên diễn, đó mới gọi là TU PHẬT, cũng là CHÂN LÝ VÔ SANH.

ĐỨC THÍCH CA Ngài nhận thấy chúng sanh ngăn lầm phân biệt gìn giữ nắm bắt theo các Pháp, mong cầu nó dừng trụ để Thọ Hưởng, gọi là SỐNG CHẾT vì Pháp. Khi Pháp Dừng Trụ gọi là ĐẶNG, lúc Pháp Hoại Không cho là MẤT, tự phát sinh ưu phiền khổ sở như vậy thật là đảo loạn, nên PHẬT nói:Tất cả các pháp đều Huyển Hóa, nó như tia chớp chân trời, như bóng cây dưới nước, chớ nên lầm theo sự Diễn Tuồng của nó, chớ nên nhận nó là chân thật, đừng nhận chỗ Huyển Tưởng làm Chơn Tưởng.

Vì lầm theo các Pháp di chuyển từng lúc, từng hồi của nó mà cho nó là SANH DIỆT, lại chấp nhận từng ly từng tí của nó mà cho là MÌNH, mà tự mình bị nó điều động vướng mắc lấy pháp Tứ Đại riêng tư vòng quanh Sanh Tử.

Chẳng khác nào: một đám đông dân khờ khạo kia, cứ mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời mọc lên thì họ đồng vui mừng thích thú cho tồn sanh mặt trời. Đến chiều tối thì tất nhiên mặt trời lần lần lặn, họ lại sinh tâm buồn bả phiền trách khổ sở, cho là mặt trời Bị Diệt mất. So nơi ví dụ đó đủ biết sự xoay chuyển của PHÁP TÁNH như mặt trời linh động vậy, nhưng vốn nó THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN nào có Diệt Sanh. Nhưng bởi Diệt Sanh, Sanh Diệt là do lầm nhận từng hồi, từng lúc của nó chuyển mình phân biệt thành thử in tuồng như thật mà Thọ Chấp nên theo.

Ví như: Cái bánh xe có chín cây chân tăm, khi xe chuyển mình để chạy thời chín chân tăm lần lượt chạy quây từ trên xuống dưới, từ ngang qua dọc, không phải nó là NHƯ NHIÊN hay TỰ NHIÊN. Đó, bánh xe VÔ THƯỜNG cũng vậy.

Vốn PHÁP TÁNH nó vẫn Thường Trụ, Thường Trụ ở nơi điều động các pháp. Nếu các pháp chẳng di chuyển thì tất cả thua gang sắt, kém vô tri. Chẳng khác nào chiếc xe kia có chạy mới có sự công dụng, chớ xe mà không chạy thì chẳng phải là xe.

Bởi vì TỰ NGÃ tham muốn riêng tư từ Pháp CHẤP vị kỷ eo hẹp nên bị mắc miếu vào bánh xe, nắm lấy chân tăm của xe ngỡ là nơi an trú bền vững, nên chi để bị Tâm Ý đảo điên. Vì bánh xe xoay chuyển thành thử Vô Thường năng biến mới có nơi mong cầu dừng trụ ở chổ dừng quay bất động của các Pháp nữa. Do đó nên bị lầm nghịch mà điên loạn chớ chẳng chi cả.

Cũng như kẻ mong chiếc xe không chạy, thì thà rằng đừng tạo chiếc xe. Cũng như đừng nhận nó Thường hay Không Thường vậy.

Kẻ tu hành nên quan sát suy ngẫm tìm tỏ PHÁP TÁNH THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN của nó. Khi mà rõ thấu đặng thời TÂM Ý rỗng rang, chẳng còn sợ sệt Vô Thường xoay chuyển của các Pháp diễn hành.

NÊN CHƯ VỊ BỒ TÁT VẪN NÓI: Các PHÁP thường còn. PHẬT TÁNH thường còn. MA TƯỞNG thường còn. CHÚNG SANH thường còn.

CHỈ VÌ: NGÃ, SỞ NGÃ cùng DANH TƯỚNG NGÃ. Do Tâm Năng Biến nên Bị Biến, lại tự nhận VÔ THƯỜNG nên bị mắc miếu vào VÔ THƯỜNG, chớ chẳng chi là: THƯỜNG hay VÔ THƯỜNG.

NAM MÔ ĐẠI NHỰT NHƯ LAI
PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT

DUY NHẤT PHÁP MÔN NHƯ LAI TẠNG

ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHÁP TẠNG THỜI HAI (Thời Một: Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thời Hai: Đức Di Lạc Tôn Phật.)

Sự tu hành theo Phật Đạo có nhiều lối và nhiều Pháp Môn. Tu lối nào hay pháp môn nào cũng chủ yếu về Tâm. Vậy Pháp Môn hay đường lối tu tập đều là PHƯƠNG TIỆN để phá mê chấp đặng Giác Ngộ, nên tu lối nào cũng đặng, chỉ mau hoặc chậm mà thôi.

Tuy hiểu rằng: TỎ TÂM là GIÁC, mà làm thế nào để TÂM tỏ? Vì TÂM thì kinh KIM CANG có nói: “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM”. Nghĩa là: TÂM không chỗ chỉ mới sanh TÂM. Như vậy, đã không chỗ chỉ, lấy chi để làm TÂM mà tu cho TỎ TÂM đến Giác Ngộ?

Vì sự khó ấy mà kẻ tu hành phải có đường lối hay Pháp Môn. Nơi đường lối hay Pháp Môn phải có vị TĂNG CHỦ hoặc Bậc THIỆN TRÍ THỨC đã GIÁC NGỘ chỉ bày tu hành mới thành tựu cùng tỏ Tâm Giác Ngộ. Nếu chẳng vậy: Thời tu cho có chứng tu, hay tu để cầu Phước . Vì sao? Vì đang MÊ tu bằng cách nào cũng vẫn trong thời Mê. Cũng như: Kẻ đang bị lạc đường không lối thoát, thì dù có dìu dẫn kẻ khác theo cùng với mình cho có bạn thôi, nó cũng không hơn kém. Do vậy, kẻ tu hành tối cần nương tựa theo PHÁP MÔN VÀ TĂNG CHỦ THIỆN TRÍ THỨC đã Tỏ Ngộ mới mong CHÂN GIÁC.

Nếu theo PHÁP MÔN DUY NHẤT PHÁP TẠNG mà tu, thời chung gồm tất cả CĂN NGHIỆP của Chân Tử liền dùng ĐẠI PHƯƠNG TIỆN chỉ bày. Chân Tử phải phát BỒ ĐỀ TÂM và Kiên Dũng lập GIỚI ĐỊNH TUỆ, nhất tâm tu không ngừng nghĩ

Lại nữa, kẻ tu cần phải sửa đổi để tạo lấy THIỆN CĂN cùng phải chịu tất cả các thử thách khi THUẬN lúc NGHỊCH của thế gian hiện hành để đặng Hiểu Biết thế nào là PHÁP. Nếu tỏ PHÁP liền đặng tỏ TÂM, như vậy gọi là: NƯƠNG PHÁP TỎ PHÁP, tức NGỘ PHÁP. Những điểm chính yếu con đường tu theo PHÁP TẠNG NHƯ LAI vậy.

Sự tu hành Pháp Môn PHÁP TẠNG y Tôn Chỉnh PHẬT THỪA DUY NHẤT, lại dùng ĐẠI PHƯƠNG TIỆN diễn nói :“PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN GIÁC”.

Tất cả các bậc tu từ lớn, nhỏ, trước,sau, đều theo phương tiện GIẢI THOÁT thôi. Đó chính là lấy TÂM tu TÂM, khi TỎ Tâm TẠNG GIÁC. Nếu kẻ tu không lập pháp cho TẠNG GIÁC thì khó mà thành tựu. Vì sao? Vì Trí Tuệ bị lầm các SỞ CHẤP nên TẠNG cách biệt mà BỊ BIỆT. Đã bị biệt liền mắc miếu thành mê mờ. Lúc đã phát Bồ Đề Tâm mà tu, trước tiên phải KIÊN DŨNG cho TẠNG GIÁC, lại làm căn bản để con đường tu hành không ngừng. Cũng cần tu trên căn bản GIỚI ĐỊNH TUỆ là mới Dung Thông cùng sự Quyết Định thành tựu CHÁNH GIÁC.

Khi nương nhờ Quyết Định mà TÂM Ý đặng thuần túy đến Hiểu Biết, và cũng có đôi chút Trí Tuệ suy ngẫm ấy để PHÁ CHẤP. Khi lần lượt Phá Chấp sạch Lý liền đặng Tỏ Tâm. Đó cũng là mức tu thứ hai căn bản duy nhất con đường tu PHÁP TẠNG, cũng là PHƯƠNG PHÁP và TÔN CHỈ PHẬT THỪA, nó cũng là cầm đuốc TRÍ TUỆ soi lần tới mà đi vậy.

Con đường DUY NHẤT là một lối tu Điều Hòa, không nặng nhẹ bên nào. Vì vậy mà không mắc miếu thọ chấp, đến chốn VIÊN DUNG TỊCH TỊNH, chẳng có TẬP KHÍ SANH TỬ. Lại nữa, kẻ tu chớ nên chán nản tự dìm mình xuống thấp quá, cũng chớ nên tự cao, tự nâng mình quá tầm hiểu biết.

Kinh DUY MA có câu: “Chớ nên cho mình là PHÀM PHU, cũng chớ tưởng mình là THÁNH. Vì tưởng Phàm bị thối, tưởng Thánh bị Tăng”. Do chỗ chấp đó mà tu bị nặng nhẹ không đều, khó Viên Dung vào CHÂN GIÁC.

Về con đường đến Chân Giác nó thật là vi diệu, thường gần đối với bậc ĐẠI CĂN THÙ THẮNG. Những Bậc ấy không có ảo vọng xa xuôi, chỉ lấy HIỆN TẠI làm căn bản tu. Cũng như : Đạp gai lấy gai mà lễ, hết gai liền hết nhức.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài vẫn nói rất đơn giản như câu: BỊ LẦM NƠI PHÁP HUYỄN HÓA, LẤY PHÁP HUYỄN MÀ TU, KHI HUYỄN SẠCH HẾT TỨC LÀ NGỘ”. Như chúng ta lầm mê vì trót nhận Huyễn Hóa là CHƠN, chẳng khác nào như kẻ đạp phải gai thời bị nhức, lễ gai đặng thì liền hết nhức. Khi hết gai thì cũng không còn gai để mà lễ. Nếu kẻ tu mà so như vậy chính là TU PHẬT.

Kẻ tu hành rất cần nơi cỗi giải các Chướng Nghiệp vặt mắc, đố tật. Những NGHIỆP ấy làm cho Tâm Tham sinh ra sân hận nó lại làm cho kẻ tu hành BỊ CHƯỚNG và cũng BỊ NGĂN trên hoàn cảnh Hành Đạo cùng với Trí Tuệ không Thông Đạt đặng.

Kẻ tu mà kiên cố cỗi giải thì liền TÂM Ý rỗng rang, TRÍ TUỆ mở. Cũng lại tu hành chớ nên vọng ước cao siêu một khi mà Tâm còn ngăn cách mê mờ, lí bí, mà phải bị sa vào lối tu TƯỞNG VỌNG. Những lối tu ấy rất nhiều kẻ bị mắc phải không thể nào đoạt đến CHÂN LÝ, mà còn bị lầm tu trên ẤN TƯỞNG, lại còn Thụ Chấp con đường tu PHẬT là vậy.

Do sự lầm sai biệt ấy mà PHẬT mới nói để chỉ thẳng cho các Chân Tử khỏi lầm, hoặc tu hành khỏi bị chìm đắm nơi Huyễn Pháp mà mắc phải nơi Ấn Tưởng ấy.

Kinh KIM CANG có Bốn câu như sau:

NHẤT THIẾT HỮU VI PHÁP
NHƯ MỘNG HUYỄN BÀO ẢNH
NHƯ LỘ DIỆT NHƯ ĐIỂN
ƯNG TÁC THỊ NHƯ QUÁN

Nghĩa là tất cả các Pháp Hữu Vi đều là mộng không thực, như hình bóng, như tia chớp, không thực có, nếu nhận lấy đều mù quáng.

Lời nói của Đức THÍCH CA Ngài thấy tỏ rõ chỗ lầm nhận vọng cầu của chúng sanh trên con đường tu hành sai lạc ấy mà Ngài chỉ bày thẳng, cốt để lại cho khỏi lầm, cho tất cả kẻ tu đặng đến CHÂN GIÁC.

Vậy kẻ tu nên thận trọng, chớ nên thọ chấp các Huyển Hóa mà nhận lãnh làm cho càng tu càng mê mờ thêm nữa, thà rằng đừng tu còn hơn.

Bốn câu trên là một hồi chuông thức tỉnh Hộ Trì cho các Chân Tử khi đã ngộ nhận lỡ thời mau gạt bỏ cầu tiến, chớ nên cầu mong phép tài nhỏ mọn, nó có thể làm cho con đường TRI KIẾN bị ngăn.

PHẬT còn nói ra từng PHÁP MÔN để chứng minh lối tu sai hay đúng như:

HIỂN GIÁO  là Pháp Môn Hiểu Biết mà Ngộ.
VIÊN GIÁO  là sự Hiểu và sự làm tròn khắp mà Ngộ.
ĐỐN GIÁO là tìm đặng Chơn Tánh tu mà Ngộ.
MẬT GIÁO là tu Tự Biết mà Ngộ.
THÔNG GIÁO là Phá Chấp tỏ rõ mà Ngộ.
TỊNH GIÁO  là dùng Công cho Tịch Tịnh mà Ngộ.
TIỆM GIÁO  là thủng thẳng tu không ngừng Nghĩ mà Ngộ.

Chớ chẳng bao giờ tìm thấy Kinh Sách nào PHẬT nói đến THẦN THÔNG GIÁO hay PHÉP TÀI GIÁO. Nếu tu hành y theo các Pháp Môn hay Tông Giáo trên mà tu thì đặng sự lợi ích khó nghĩ bàn.

Con đường PHÁP TẠNG là một con đường tùy thuận mỗi hoàn cảnh, mỗi nghiệp căn của kẻ tu mà chỉ bày. Lại cũng tùy mỗi GIÁO của mỗi Chân Tử ưa thích chỉ bày để mà tu.

Chung gồm tất cả các GIÁO trên của PHẬT dạy mà gom lại: DUY NHẤT PHẬT THỪA, cũng gọi là Pháp Môn KHÔNG HAI. Nơi PHÁP TẠNG LẬP pháp THIỀN TỌA để TỎ PHÁP tức là TỎ TÂM.

Đối với tình DUY NHẤT PHÁP TẠNG kẻ tu hành phải TIN VÂNG KÍNH theo sự chỉ bày của TĂNG CHỦ và phải dẹp bỏ tất cả LÝ CHƯỚNG để tu tập đến: SỰ LÝ KHÔNG CHƯỚNG đó là con đường tu tỏ TÂM cùng khắp .

DUY NHẤT ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHÁP TẠNG dụng TIN VÂNG KÍNH chỉ bày Quyết Định tu TRI KIẾN GIẢI THOÁT . Nếu Tin Vâng Kính chẳng trọn khó thành tựu.

BA ĐIỂM để cầu NHƯ LAI mà tu đến CHÂN GIÁC. Một là THUẬN. Hai là HÀNH. Ba là DỤNG.

1 - THUẬN: Thuận nương vào Như Lai để cầu NHƯ LAI. Không lấy SẮC TƯỚNG ÂM THANH mà cầu. Duy nhất chỉ THUẬN DÒNG mà đặng.

2 - HÀNH: Hành với NHƯ LAI để cầu NHƯ LAI. Không lấy chỗ CÔNG ĐỨC mà cầu. Duy Nhất nương vào CÔNG ĐỨC NHƯ LAI chung cùng mà đặng.

3 - DỤNG: Dụng NHƯ LAI sẵn ĐỒNG DỤNG. Nguyện nương vào NHƯ LAI để cầu THUẬN NGHỊCH ĐỒNG SONG đặng CHÂN GIÁC.

Hóa Thân Đức TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN Chứng Ký
Chính là Đức DI LẠC TÔN PHẬT
Hạ lai trần thế 1918 -1993

Lời mở đầu

Giáo Pháp: Kinh dành cho Đại Bồ Tát. Từ Giáo Lý Trên Con Đường Giải Thoát, Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật viết sâu thêm để đi vào con đường Nhất Tôn Pháp Tạng. Bồ Tát được thọ ký bước vào Hạnh Nguyện và Hành Nguyện Đại Bồ Tát đặng thọ lãnh từ Thần Thông đến Tam Muội qua các Hiện Thân đến Giải Thoát Viên Mãn Ba Thân.

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.

 

11. TỨ ĐẠI GIẢ HỢP. MỘT LÝ MỤC GIẢI QUYẾT VŨ TRỤ CÙNG NHÂN SINH

Trong Tứ Đại Giả Hợp chính là trong con đường Phật Đạo một phương pháp tìm hiểu để đạt đến Tỏ Biết Chân Lý. Nó chung gồm tất cả Triết Lý Triết Học Khoa Học và Y Khoa mà soạn giải được sạch lý, tức là Chân Lý giải quyết đặng Bản Thân SANH TỬ.

Tứ Đại Giả Hợp tức Bốn Đại mượn nhau hợp thành Hình Tướng như: Vũ Trụ và Thân Người cùng Cây Cảnh và Vạn Vật muôn loài, gọi là Vũ Trụ Nhân Sanh vậy.

Nơi Vũ Trụ và Nhân Sinh ấy chia ra hai Tác Dụng: Một bên về HỮU TRI còn một bên là VÔ TRI nhưng thảy đều có Bốn Đại hợp thành. Bốn Đại hay Bốn Chất là: ĐỊA ĐẠI (chất đất ) THỦY ĐẠI (chất Nước) PHONG ĐẠI (chất Gió) HỎA ĐẠI (chất Lửa). Tứ Đại ấy nó liên tục cấu kết nhau thành Hình Tướng, khi đã có Tướng của nó chớ chưa nói về vấn đề NGHE THẤY BIẾT gọi là VÔ TRI. Nếu có đặng NGHE THẤY BIẾT thời gọi nó là HỮU TRI.

Vì có chỗ KHÔNG BIẾT và BIẾT nên Vũ Trụ và Nhân Sinh là HAI. Một VÔ TRI, Hai HỮU TRI. Bậc Hữu Tri có thêm hai Đại nữa là: HƯ KHÔNG và TẠNG THỨC, nên có tất cả là: LỤC ĐẠI, hơn Vô Tri hai Đại. Đó cũng chính là phần quan sát hiện tại của Nhân Sinh cũng có lối quan sát ấy một phần vậy.

PHẬT ĐẠO NÓI: Tất cả Vũ Trụ Nhân Sinh do GIẢ TƯỞNG Tâm biến hiện nên có SƠN HÀ ĐẠI ĐỊA, bởi vọng tưởng mà thành chớ vốn nó không thực, nó cũng ví như giấc chiêm bao vậy.

Nếu theo Triết Lý, theo lời của Phật Đạo để bàn giải thì nói: Khi đã Giả Tưởng hợp thành mà có nơi chiêm bao, thì tất cả đều SẴN CÓ Lục Đại, cũng như Hữu hay Vô đồng có. Nhưng tại sao có cái Biết còn có cái lại KHÔNG BIẾT? Triết Lý đến đây cũng phải chịu. PHẬT lại cho Triết Lý tận cùng là Biện Tài, nơi biệt tài vô ngại ấy nó chẳng phải là Chân Lý, vì Chân Lý bao gồm, thì Triết Lý nó vẫn lãnh một phần nào của Chân Lý thôi.

Về phần Triết Học và Khoa Học, thời họ có ý chí cao cả và rộng rãi hơn, nào là tìm những cái gì tồn tại nơi vũ trụ để cung đốn cho nhân sinh, nên họ dọ dẫm từng Sát Na khẻ động của Vũ Trụ so lại nhịp nhàng đều đặn ăn khớp với con tim của loài người. Họ khảo cứu thực tại, nên gọi họ là phái Duy Vật của Triết Học và Khoa Học. Họ lại thực hiện khám phá các Hành Tinh tìm ra đặng tính chất của Nguyên Tử, nào là chất Hợp, chất Phá, cùng các chất như: Đặc, Lỏng, Thăng, Trầm để họ biết nó gìn giữ vũ trụ và Nhân Sinh ra sao. Họ lại cần hiểu khi mà vũ trụ tan rã thì họ lại đưa Nhân Sinh lên các Hành Tinh đã tìm đặng để bảo tồn nhân loại. Đó là những điều của họ đang làm hay sẽ làm vậy. Nhưng ngược lại, chính ngay Thân Mạng họ đến lúc diệt vong không còn cứu vãng họ đặng thì sao? Họ đành chịu, họ lại triết lý rằng kẻ sau họ tiếp tục làm, có thế thôi.

Cũng có phần vẫn đi trong Triết Học và Khoa Học, gọi là DUY TÂM. Trước hết là họ phải sống để bảo vệ thân mạng của họ sau mới đến Nhân Sinh. Họ bèn quan sát và Tu Luyện theo lối của Nhật Bản gọi là:TRIẾT HỌC ZEN, còn ta gọi là THIỀN TÔNG.

Những bậc ấy họ đang hiểu hay đã hiểu: Vũ Trụ với Nhân Sinh in nhau không khác. Trong Thân con người trái tim khẻ đập các mạch máu chạy đều, thì ở bên ngoài Vũ Trụ chuyển mình làm việc in như nhau. Trong thân con người từ hơi thở hay nóng lạnh bao nhiêu thì ngoài Vũ Trụ: GIÓ, MƯA, NẮNG, TUYẾT bấy nhiêu. Do như vậy nên Vũ Trụ bên ngoài chuyển mình giao động, con người không đủ sức điều hòa theo vũ trụ liền sanh đau ốm chết chóc là vậy. Bậc ấy lại công nhận Vũ Trụ là ĐẠI THIÊN ĐỊA, còn con người là TIỂU THIÊN ĐỊA. Nhưng họ lại quyết định con người là: CHỦ của Vũ Trụ, vì họ cho con người lấy TẠNG THỨC làm Bản Năng, con người có sự HIỂU BIẾT, con người có KHÔN NGOAN TINH XÃO tuyệt mỹ, có thể làm cho các Ngoại Cảnh biến đổi như:Núi Sông Rừng Rú biến thành Bình Địa, nơi xa xăm hẻo lánh cồn cư trở nên Đô Thị, do những điểm Tạng Thức hiểu biết mà làm chủ Vũ Trụ, còn Vũ Trụ thì lấy ĐẤT làm BẢN NĂNG chỉ có to lớn hơn Nhân Sinh mà KHÔNG BIẾT.

LẠI NỮA:Bậc ấy lấy căn bản bí quyết làm sao cho con người và Vũ Trụ sự nhịp nhàng điều hòa không sai chạy, thì con người và Vũ Trụ đồng sống như nhau, thành thử họ tu luyện bảo vệ THÂN hơn. Trước tiên họ không dâm dục vì vũ trụ không dâm dục, sau họ dùng phương thức luyện theo với vũ trụ mà Tọa Thiền dùng Thiên Điện thu nhiếp tinh chất thanh khiết của vũ trụ thở ra họ bèn thâu nhận để tập trung năng lực bồi dưỡng Thân, trong một thời gian tu luyện Thân họ đặng điều hòa và tráng kiện, cái mức sống của họ lâu hơn kẻ tầm thường. Nhưng đến một thời nào nó cũng tùy theo công tu luyện bù đắp bảo tồn Thân Mạng, đến giai đoạn sau vẫn phải chịu với luật Sống Chết.

Tất cả phần Triết Học Khoa Học Duy Vật và Duy Tâm trên, theo lời của Phật Đạo giải và nói:TÂM PHÁP BẤT NHỊ tức là: Tâm và Cảnh không Hai, Tâm biến diễn in tuồng có thực. Chúng Sanh bị tưởng lầm sanh mê lầm, nương theo để sống ngỡ là thật, vốn nó Ảo Tưởng thành hình thôi. Nên chi Nó muốn thế nào đặng thế ấy không sai, vì nó Thọ Chấp mà thành.

TÂM PHÁP: Chẳng khác nào: Kẻ kia viết một quyển truyện thật hay, khi viết kẻ ấy đặt hết Tâm vào ngòi bút mà viết, Tâm thuyên diễn thế nào thì quyển truyện ra thế ấy. Tâm của kẻ viết truyện và quyển truyện đều là Một, nên Tâm Pháp không Hai là vậy.

Còn người xem truyện, xem chẳng nhàm chán, họ cũng đặt cả Tâm vào truyện họ tưởng in tuồng như thực, một phút ước mong bao nhiêu tư tưởng đi trong quyển truyện mà đầy sinh sống nó cũng vậy.

PHẬT ĐẠO LẠI NÓI: Kẻ nằm chiêm bao TÂM BIẾN ra SƠN HÀ ĐẠI ĐỊA, nào là Núi Sông Lâu Đài, kẻ qua người lại, họ tấp nập dưng hương lễ bái. Kẻ mơ ấy lại đi đứng nằm ngồi trong giấc mơ, nào có hay biết mình ở trong mơ. Tâm của mình biến hiện, mình lại ở trong Tâm mình. Khi mơ đó nó có những đặc tánh là:Mình vừa Khởi Muốn nó liền hiện theo như ý, mình lại tưởng mình làm mà đặng, mình tìm nó đặng. Đó là những then chốt lầm nhận trăm phần trăm đều thế cả. Khoa Học và Triết Học cũng vậy, nơi câu: nên chi nó muốn thế nào đặng thế ấy không sai, vì nó Thọ Chấp mà thành.

Khi hãy còn mắc vào Vũ Trụ và nhân sinh thời tư tưởng có thể đào tạo nên triệu sự Muốn để mà làm thảy đều thành tựu được cả, duy chỉ có trước và sau thôi, Nhưng gìn giữ cho nó tồn tại không đặng.

Có Bậc cũng đã Hiểu Biết những lời nói trong bài nầy và đã biết thật rõ mình đang nằm trong Chiêm Bao, nhưng không thể nào ra khỏi đặng. Vì sao? Vì chính mình không Tin Mình, hãy còn Nghi Mình (gọi là còn Nghi Chấp) nên mắc vào Tâm mình, đó gọi là Bị TÂM SANH. Vì bị Tâm Sanh như vậy nên mới có:Làm Ác bị sanh vào Địa Ngục. Làm Thiện đặng sanh Cõi Trời. Lập Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín sanh được Thế Gian. Đó là Tự Tạo lấy Cõi mà tự lãnh lấy Cõi vậy.

Trong Vũ Trụ và Nhân Sinh cũng thảy đều trong vòng Tâm Sanh chừng nào KHỞI SANH TÂM TU TỎ TÁNH mới thoát khỏi Tâm Sanh. Bậc mà chẳng bị Tâm Sanh thì gọi là VÔ SANH. Khi Tỏ Tâm Chánh Giác gọi là Giác Ngộ vậy.

Theo Phật Đạo thì phần Triết học cùng Khoa Học đang đi nơi thuyên diễn của Tâm Sanh, tuy đoạt đến làm chủ của Vũ Trụ chớ chưa phải làm chủ TÂM MÌNH. Khi Tâm của mình thuyên diễn qua tuồng khác thời chính mình phải trôi dạt theo nó, thành ra giải quyết vấn đề Vũ Trụ và Nhân Sinh không đặng.

PHẬT ĐẠO NÓI: Trước tiên phải thu nhiếp Điều Ngự Tâm vì TA bị Tâm Ta điều khiển nên mới Sanh Tử Luân Hồi. Nếu Ta tỏ Tâm gọi là GIÁC thời chẳng lầm TÂM, nào bị Tâm Sanh điều khiển ? Đó là một quyết định giải quyết Nhân Sinh được thì Vũ Trụ xong.

Các Bậc tu hành hay tìm hiểu nơi Khởi Sanh Tâm thì nên coi BÀI THỨ SÁU, đó cũng là bài giải đáp chung và riêng các Bậc vậy.

Sau nầy về phần của Y KHOA họ vẫn khảo cứu và truy tầm các chất trong Vũ Trụ không ngoài Lục Đại như: Cây Cỏ Đất Đá mỗi một thứ cây họ đều tìm đặng nguyên liệu tánh chất của nó để mà chửa bệnh hay bồi dưỡng Thân, tùy theo sức khỏe một khi Thân cần đến, họ tìm tòi từng hơi thở, từng lời nói đặng rõ biết chứng bệnh do nguyên nhân nào phát sanh mà trợ giúp cho Thân đặng lành mạnh như sau:

- Kẻ thiếu Máu, triệu chứng xây xẩm, họ liền cho chất máu của loài khác sang hay cho uống những chất trong cây cỏ mà thích hợp hóa sanh đặng máu hoặc dùng chất bổ nơi sự ăn uống làm cho kẻ thiếu máu đặng tăng vừa, thân liền trở nên điều hòa khoẻ mạnh. Bằng người dư máu lại cho uống chất để giảm, mục đích vẫn làm cho điều hòa là căn bản thôi. Đó cũng gọi là NƯỚC trong Tứ Đại.

- Kẻ thiếu Gió hơi thở mệt yếu, họ bèn bồi dưỡng về Phổi hay tùy theo chứng căn về gió.

- Kẻ thiếu Lửa khi nóng lúc lạnh, họ bèn làm cho điều hòa các mạch máu chạy đều mà tạo thành lửa.

- Kẻ thiếu chất Đất, liền cho uống chất vôi để bồi dưỡng lấy xương.

Nói tóm lại khi Thân sút kém, Tứ Đại thâu nhận chênh lệch chẳng điều hòa tức nhiên có Bệnh. Hoặc trong Lục Đại có ĐẠI nào DƯ cùng THIẾU vẫn bị đau ốm hay suy giảm đều có chất chữa bệnh hay bồi dưỡng trong Thân cả. Đó là lẽ thông thường của các Y KHOA đã làm và đã Biết. Nhưng đến lúc giải quyết về CÁI CHẾT vẫn đành chịu. Có bậc nói tu luyện thuốc Trường sanh hoặc Linh Đơn chẳng hạn, nhưng khi mà đã đến lúc Tan Rã phải đành thôi.

Tất cả theo phần Y Khoa, Phật Đạo giảng giải và nói:Tất cả bệnh hoạn do Chúng Sanh Sân Hận Tranh Dành Tâm Ý mắc miếu buồn khổ mà có bệnh, nó cũng gọi là Nghiệp đòi hỏi suy nghĩ mà thành lao. Nghiệp nóng giận, được mừng mất phiền mà sanh Não (đau đầu). Nghiệp nhát sợ hay bị đau xương ủ rủ. Nghiệp hốt hoảng chẳng định nên bị nước da vàng. Nuôi tức giận là Nghiệp sau sẽ đau gan hoặc đau xốc hông. Quá vui mừng chính là nuôi cho Tâm Ý điên cuồng vọng loạn mà phát sanh Tăng Thượng.

Nói đến các bệnh thời nó không cùng đặng, vì chính nó là:Nghiệp tạo thành có bệnh. Cứ mỗi trạng thái TĂNG hay GIẢM đều là NGHIỆP và BỆNH song liền với nhau. Càng văn minh bao nhiêu lại càng có bệnh bấy nhiêu. Càng bao quảng vũ trụ và Nhân Sinh lại càng tăng trưởng bệnh hoạn bấy nhiêu. Cứ tìm đặng một liều thuốc hay là có một bệnh nặng, bệnh do Nghiệp tạo thành mà có, vì thuyết giải của Phật Đạo như thế nên chi làm cho Nghiệp tiêu giảm là hết bệnh, Tâm Ý rỗng rang là hết bệnh, không hoảng hốt sợ sệt chẳng hơn thua đặng bình dị là hết bệnh. Tìm tỏ đặng Tánh Pháp bản tánh vọng đảo của mọi người mà Tâm chẳng gút mắc là hết bệnh. Thung Dung Tự Tại giúp người hơn lợi kỷ cho mình là giải bệnh. Khi bậc tu hành đã Tự Lợi và đến nơi Tha Lợi thời chẳng có bệnh, khi không có bệnh tức nhiên Lão (già) cũng không vậy.

Trên Căn Bản của nền Phật Đạo Tu Chứng có thể giải quyết đặng vấn đề vũ trụ và nhân sinh thực tại. Vấn đề Nhân Sinh duy chỉ có: SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ, đó là một khuôn khổ hệ thống kèm giữ nhân loại trong vòng BỊ SANH, lúc đã Bị Sanh liền Bị Tử, BỊ BỆNH phải có LÃO liền theo với KHỔ.

NGƯỢC LẠI: Ai sanh Ta: TÂM SANH Ta, Ta liền BỊ SANH. Hiện tại Ta phải làm thế nào? Ta SANH TÂM luôn luôn xem xét Tâm, không cho Tâm lung lạc, gọi là: Nghi Chấp để Phá Chấp, lúc chẳng còn bị Tâm sanh, Ta điều khiển đặng Tâm, thời chẳng Bị Sanh nào đâu có TỬ, đã Không Tử, Chẳng Sanh, gọi là VÔ SANH vậy.

CÒN BỆNH: Do đâu có bệnh? Bởi có NGHIỆP liền có BỆNH. Hiện tại ta phải làm thế nào Ta phải đối đải mọi hoàn cảnh chẳng mắc miếu nặng nhẹ riêng rẻ một mình ta, nếu ta làm như thế đặng thì Tâm rỗng rang, Từ Bi Hỷ Xã tâm đặng Tự Tại, Tình chân thật đối đải với kẻ lân cận họ hàng thời Tâm Vô Ngại. Biết vào cửa ĐẠI BI thì hết NGHIỆP BỆNH. Lúc đã không Bệnh thời nào có LÃO KHỔ. Đó chính là giải quyết vấn đề SANH TỬ BỆNH LÃO KHỔ, nó cũng chính nằm nơi TỨ ĐẠI GIẢ TẠO HỢP THÀNH vậy.

NAM MÔ CỨU KHỔ CỨU NẠN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT