24. TƯỚNG TÂM

TƯỚNG là TÂM. Nếu nói do TÂM sanh TƯỚNG, đó cũng là lời phương tiện nơi Sở Chấp Năng Biệt của Pháp TƯƠNG ĐỐI: CÓ TRONG. CÓ NGOÀI. Nên Bậc Viên Dung phải tùy thuận nói theo thế thôi, chớ thật: TƯỚNG chính TÂM. Vì sao? -Vì Tướng DUY NHẤT.

Bằng quan sát: BÊN TRONG: Có RUỘT -GAN -TIM -PHỔI toàn khắp là THÂN, thì THÂN vẫn TƯỚNG. Còn BÊN NGOÀI: Cảnh Sở Thích hay Không Thích, hoặc dùng Công tạo thành hay Có Sẵn. Từ Cảnh Giới MÊ đến TƯỚNG Đại Giác Phật Quốc, chớ bao giờ gọi là TÂM?

Nên chi từ một Công tu tập, đến chịu khó Hạnh Nguyện Độ Sanh, đều nằm nơi Phẩm CÔNG ĐỨC mà tu rốt ráo cùng TỎ BIẾT, thì CÁI BIẾT đó là PHÁP. PHÁP vốn TƯỚNG nào phải TÂM? Nếu cho đó là TÂM, thì từ nơi TÂM phải đi vòng qua PHÁP, rồi đến TƯỚNG?

Do TƯỚNG chính TÂM là Quyết Định của NHỨT THỪA. Khỏi vòng TAM THỪA đến MỘT THỪA. TƯỚNG nó có sự Quy Định sẵn, còn TÂM chẳng Tự Quyết. Vì sao? -Vì TÂM nằm nơi VÔ TƯỚNG để lần BIẾT gọi là TÂM KHÔNG, đến ĐÃ BIẾT gọi là TÂM THÔNG, qua THẬT BIẾT gọi là NHẤT TƯỚNG, về TRỌN BIẾT trùm khắp là NHƯ TƯỚNG.

Bởi đó nên TƯỚNG chính là một Huyết Hệ Trọng yếu, mà từ xưa đến nay lầm lẫn trên con đường tu tập. Lắm kẻ LÌA hẳn TƯỚNG để ngồi TƯ DUY, DIỆT hẳn TƯỚNG để cầu RỖNG KHÔNG NÁT BÀN.

Có Bậc lập VÔ VI PHÁP để TẬN DIỆT ĐỊNH, thiếu nhiệm vụ Sửa Sai TÂM MÌNH trước mắt, chỉ nhìn nơi Ảo Tưởng Viễn Vong để buộc TÂM trong RUỘT, Quán Đảnh trên ĐẦU, vẫn có CÔNG nhưng chưa RÕ LỐI.

TÔI khuyên các Bậc tu hành dùng TƯỚNG ĐẠO HẠNH, từ Cử Chỉ nói năng trong căn bản ĐẠO ĐỨC HIỀN LÀNH. Lấy các TƯỚNG trước MẶT làm TÂM MÌNH để tu. Chịu qua tất cả những HOÀN CẢNH THỬ THÁCH mà không QUÁI NGẠI. Đó chính là PHẬN SỰ của Bậc tu hành TIÊN PHẬT hoặc THÁNH TĂNG cũng đó.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài đã vạch Sẵn một Chương Trình tu tập LÝ SỰ ĐỒNG SONG rất tỉ mỉ công phu không một LỜI thiếu sót, không một SỰ nào chẳng tận từ CHƠN CHÁNH liên hệ với nhau.

Từ Phẩm CÔNG ĐỨC đến tu tập thi hành

LỤC BA LA và TƯỚNG Thu Nhiếp, gọi là TỨ NHIẾP PHÁP. Chung lại TU các PHÁP đặng thấu đáo TỎ NGỘ PHÁP.

NGÀI THƯỜNG NÓI: TƯỚNG hay nhiễm TÂM. Nếu TƯỚNG: SÁT-ĐẠO-DÂM các ông chẳng LÌA để tu, thời dù cho TRÍ TUỆ THIỀN ĐỊNH chăng, TÂM vẫn Tập Nhiễm Sanh Tử: Vì sao? -Vì TƯỚNG chính TÂM, lầm lẫn lấy TRONG bỏ NGOÀI, mà nhận TÂM ra TƯỚNG.

Bằng Bậc Tu nào chỉ đi trong Trí Tuệ, tự suy nghĩ Phá Chấp thì đặng đấy. NHƯNG NGƯỢC LẠI: TƯỚNG PHÁP không Dung Thông. Vì TƯỚNG là CHỦ của TÂM PHÁP. Mà TƯỚNG chẳng dung hòa thỏa mãn, lấy đâu thành tựu BA THÂN?

Nếu Bậc tu hành chẳng nghe, hãy còn y nguyên dung dưỡng CỬ CHỈ NGÔN NGỮ đến HÀNH VI BẤT THIỆN, mà làm những điều PHI ĐẠO. Dù Trí Tuệ thông suốt Phá Chấp chăng, nhưng để sau cùng mà CHẤP THỦ.

NÓ CHẲNG KHÁC MẤY: Người nằm trên BE CẦU, chỉ suy nghĩ xây cất LÂU ĐÀI, trang hoàng rực rỡ, nào là XE LỌNG, TRÀNG PHANG, kẻ TÔN SÙNG, người ĐƯA ĐÓN chẳng thiếu sót. Trong khi ấy HỌ có quyền nghĩ những gì được cả. NHƯNG NGƯỢC LẠI: Họ không có quyền Chân Thật Thọ Hưởng Tòa LÂU ĐÀI và VẬT DỤNG mà HỌ đã nghĩ.

CŨNG NHƯ: Bậc tu hành dù cho có ngồi dùng Trí Tuệ đến Cứu Cánh GIẢI THOÁT. Nhưng không bao giờ đoạt đến THẬT TƯỚNG CHÂN NHƯ mà trọn NHƯ TƯỚNG. Bậc ấy chỉ hưởng trên GIÁC suy tưởng thôi, Còn TƯỚNG vẫn chống đối chưa thỏa mãn, gọi là Tập Khí Sanh Tử.

Bậc tu hành chẳng làm cách gì hơn HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH, nương theo Đạo Tràng căn bản Tôn Chỉnh TƯỚNG, lập THIỆN CĂN để thu nhiếp thỏa mản, tỏ rỏ TỊNH, BẤT TỊNH đều NHẤT TƯỚNG không HAI. Nhưng chẳng Tập Nhiễm Trơn Liền, goị là TÂM TƯỚNG Đồng Nhất, đó mới thật là KHÉO TU.

Lại CHÁNH NIỆM cần thi hành TƯỚNG trong LỤC BA LA, TỨ NHIẾP PHÁP và tất cả các TƯỚNG để thâm nhập Tỏ Biết CHÁNH GIÁC, chớ chẳng suy nghĩ rằng CHẤP với KHÔNG CHẤP. Đến lúc CHƠN GIÁC thì dù có CHẤP chăng cũng không còn lấy MỘT CHẤP vậy.

TÔI NÓI: TƯỚNG CHÍNH TÂM CÁC ÔNG. Đó cũng là Lời chỉ Quyết Định Không HAI, sai khác chút nào. Nhưng phải tùy Công Năng tu tập rõ thấu mà nhận lãnh LỜI NÓI trên.

Bằng có Bậc TIN TÔI, cũng chưa đặng trọn sự Tỏ Biết cặn kẻ, cần phải tu niệm theo lời nói: CÁC TƯỚNG VỐN LÀ TÂM MÌNH. Để tất cả công việc lớn nhỏ đều phải tu, nên LÀM mà ĐẾN chớ nên Nhận Càng mà đặng sao? Bậc như vậy mới Tin Tôi.

Sự tu hành nhìn vào Công Đức Phẩm Hạnh, cân với sức Chịu Đựng để Tỏ Biết. Tuy thế, nhưng nó thật là TươNg XỨng mà Sở Đắc Nghĩa ấy không sai chạy đối với Bậc đã Tu. Miễn dùng TưỚng để Tu, chẳng Mắc Miếu TưỚNG, được Tỏ TưỚng CHÁNH GIÁC trùm khắp.

TƯỚNG tuy sai khác, nhưng không sai khác chút nào, Vì sao? Vì ĐỒNG không sai, mà CHẲNG ĐỒNG bị sai. Đó cũng là một Chính Yếu nơi Pháp DỊ DIỆT.

NÊN PHẬT NÓI: TƯỚNG tuy có Một, nhưng TÂM ĐỊA các Ông không ĐỒNG thành thử SAI, có chỗ Chịu Báo và có nơi được Chánh Báo. Chỗ Chịu Báo phải cực khổ, họ cầu Chánh Báo. Khi toại nguyện Sở Cầu, thì sự cực khổ liền Mất, nơi ấy gọi là DỊ DIỆT Pháp. NGƯỢC TRỞ LẠI: Bậc được nơi Chánh Báo giàu sang mà đi nơi Tâm Địa xấu xa, liền đến chỗ Chịu Báo nó cũng Dị Diệt vậy.

Tâm Địa thì nhiều lớp không Đồng, nên Tướng phải nhiều Hình sai khác, tùy theo Hình ấy mà ra Thứ Lớp. Thứ Lớp Năng Biến và Bị Biến trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Cõi Trời và Người.

Nhưng cõi Trời hoặc cõi Người hay Cảnh Giới của Tam Thiên do bởi không Đồng, Sai khác, nên có bốn Tướng làm căn bản hiện diện cho các đồ dùng để Chánh Báo và ChỊu Báo. Bốn Tướng ấy là: THANH, THÔ, TỐT, XẤU, tùy theo Sở thích Qúy Báu hoặc không Qúy mà Thọ Lãnh.

Chỉ vì các Ông lầm nơi mong cầu, nuôi sự Thích Muốn mà chạy trong chìm đắm SÁT ĐẠO DÂM. Khi tu hành lại chẳng sửa sai trừ bỏ trở thành Vọng. Nơi Vọng ấy chính là phát sanh THAM do TÂM bị nhiễm xấu xa, tư riêng, dục lợi trở nên TÂM ĐỊA. Đã Tâm Địa thì phải nằm căn bản của Pháp THÔ. Cho nên có giàu sang Chánh Báo đến đâu chăng sự Thọ Hưởng không ngoài: ĐẤT CÁT.

Ta biết tận từ, tận gốc Chịu Báo Chánh Báo riêng tư từng Cảnh Giới một, cho đến Tam Thiên cùng khắp. Mà Thật Biết sự Mê Lầm của các Ông trót vào chỗ ThÔ mà chịu chung, lại tưởng mình sung sướng. Nên TA vì các Ông mà nói: HUYỂN HÓA, để các Ông lìa bỏ từng Tướng tham vọng tập nhiễm, đặng đến Chân Tướng rộng rãi, Chánh Giác hoàn toàn Bất Biến mà đặng hưởng như Ta, chẳng còn chịu trong sự DỊ DIỆT nữa.

Những lời Phật nói trên, TÔI mong cho các Bậc tu hành ghi nhận để tu. Chớ nên dùng Ảo Tưởng ngồi yên gọi là: Đặng hay Đắc cùng Đến mà chẳng Tỏ Biết sự Chân Đế hiện tiền, Tướng Tâm của mình rơi rớt. Nên dụng TỨ NHIẾP đặng rõ biết vẹn vừa trong đường tu, chẳng DƯ không THIẾU thì chắc chắn sẽ thành tựu.

TƯỚNG chính TÂM. Khi đã biết TƯỚNG là TÂM của mình, thì dù có đi trong: SẮC- THINH- HƯƠNG- VỊ- XÚC- PHÁP để tu chăng, cũng không còn Nhiễm Trước đến nó, lại nương nhờ nó được TỎ NGỘ.

Bằng Không Biết: Thời vì SẮC mà ĐẮm. Bởi THINH mà SAY. Do HƯƠNG mà MUỐN. Tại VỊ mà GIÀNH. Nơi Bốn Tướng mê lầm cho mình ĐÃ BIẾT, chạy theo sự Hiểu Biết của mình mà bị XÚC PHÁP đặng nhận TÂM bên trong, bỏ TƯỚNG bên ngoài.

Giữa Hai trạng thái: Biết TƯỚNG là TÂM mình. Chưa Biết TƯỚNG là TÂM. Hoặc Biết: SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP cùng chưa Biết, nó có sự Lợi và Hại. Nó NGƯỢC XUÔI và XUÔI NGƯỢC, Ngộ Mê cũng vậy.

Các TƯỚNG PHÁP nơi LỤC BA LA thật là Tuyệt Mỹ. Bậc tu nên thi hành Chân Chánh để nương nhờ Pháp ấy mà rõ thấu đoạt đến rốt ráo HẠNH NGUYỆN. Có nghĩa là cho mọi Người và Mình đồng CHÁNH GIÁC.

THẾ NÀO LÀ: TƯỚNG PHÁP LỤC BA LA TỎ BIẾT?

Khởi đầu Pháp LỤC BA LA: Thời BỐ THÍ làm vai chính, chi tiết của nó gồm có: PHÁP THÍ, VÔ ÚY THÍ và TÀI THÍ. Còn đứng về con đường Duy Nhất có MỘT không HAI, thì chỉ TƯỚNG chính TÂM mình để tu.

Nên tất cả từ lời nói đến Vật Dụng Tài Sản cùng khắp thảy đều là TƯỚNG. Khi đã biết Tướng chính Tâm mình, đem ra áp dụng quan sát tu. Thời nó có Hai yếu điểm làm đích đo lường TƯỚNG TÂM đặng rõ biết sự DƯ THIẾU TĂNG GIẢM, để thực hành con đường tu cho được vẹn vừa trọn vẹn BẤT TĂNG BẤT GIẢM.

HAI YẾU ĐIỂM ẤY LÀ:

MÌNH MUỐN hay KHÔNG MUỐN hoặc MÌNH THÍCH cùng KHÔNG THÍCH. Hai yếu điểm ấy, từ công việc HẠNH NGUYỆN tu hành, hoặc Đồ Dùng trang trí, Ẩm Thực, Y Áo. Tất cả các Tướng Pháp đến, Bậc tu hành phải làm để biết trọn, sau đặng Viên Thông, nếu chẳng làm khó thành tựu.

VÍ DỤ: Có việc đưa đến, chính mình Không MUỐN, nhưng kẻ khác nhờ giúp đỡ cho họ trong khi họ MUỐN. Đó chính là TƯỚNG TÂM của kẻ ấy đang cần, chớ chẳng phải của Mình.

Mình vì Tướng Tâm của họ. Nhưng trước khi làm phải nhận xét, không có sự tổn hại đối với đường tu của mình cho lắm. Nên giúp họ trong lúc CẦN. Vì sao phải nhận xét? Chỉ vì BI phải có TRÍ nên nhận xét. Nếu BI không TRÍ chớ vội làm.

NGƯỢC LẠI: Đối với MÌNH MUỐN, nhờ người kia giúp mình, nên nhận định đối với TƯỚNG TÂM của họ có đủ sức giúp không? Nếu nhận định được thì nhờ họ để gieo Duyên. Bằng quá sức của họ chớ nên nhờ. Họ giúp nhưng thiếu khuyết chớ đem lòng phiền trách, mà con đường Tướng Tâm chẳng trọn.

VỀ ĐỒ DÙNG: Món đồ MÌNH THÍCH mua đem về NHÀ hay CHÙA THÁP chẳng hạn. Dùng trong một thời gian không Thích nữa, đem đi cất gác một nơi. Trong khi mình thích món ấy chính TƯỚNG TÂM của Mình. Lúc không Thích vì Công Đức của Mình đã qua mà Chánh Báo món tốt hơn, nên gác lại. Có kẻ nhìn thấy, một là họ thiếu dùng, hai họ sở thích ngõ ý mua lại hoặc xin mình, thì chính mình được biết rõ TÂM của họ đang Thọ Báo trong món ấy.

Nếu nhận xét mình không thích hay ít thích hoặc dư dùng, vì TÂM của họ mà BỐ THÍ. BẰNG NGƯỢC LẠI: Tự Kiểm Điểm để đo mức TÂM mình trong lúc ấy, được sự tiến bộ chu đáo hơn, như: vui vẽ bình dị mà cho, hay TƯỚNG của họ đối với mình TƯƠNG XỨNG mà cho? Hoặc cho vì khinh rẽ dòm ngó xấu xa, chính mình cho để bỏ ghét? CÒN KHÔNG CHO: Vì TƯỚNG của họ không thích hợp mà không cho? Hay vì lòng mình tiếc mà không cho? Nó rất nhiều khía cạnh và trạng thái, miễn Ngược Xuôi để soi biết, cổi giải, được sự BỐ THÍ ích lợi trên con đường lập Pháp tu hành.

Bằng có Bậc mà đặng biết như vầy, Một trong Ba bậc:

- BỐ THÍ người giàu sang hơn mình, dù sao mình cũng có Sẵn Chánh Báo vô kể, hôm nay mới được BỐ THÍ.

- Bằng có Bậc ngang hàng Tương Xứng với mình. Thời trái lại VỊ THA mà BỐ THÍ.

- Nếu có Bậc cực khổ hay thiếu dùng, xin hay mua lại. Mình tự Phát Tâm BỐ THÍ, chính là mình sẽ đặng Chánh Báo lần đưa.

Biết được như thế thật là LỢI vô kể, khó nghĩ bàn.

VỀ GIA ĐÌNH hay CHÙA THÁP: Trong GIA ĐÌNH hoặc CHÙA THÁP của mình, cần siêng năng sắp xếp thứ tự. Thời đặng TINH TẤN, mà chính mình vào Phẩm Trang Ngiêm. Từ trong đến ngoài sạch sẽ được Tướng tâm Thanh Thoát. Các đồ dùng hiện tại dù quý báu sang cả hay không đáng giá chi, cũng thảy đều sửa soạn trang hoàng cho ngăn nắp vẻ vang tỉ mỉ. Thời đặng TƯỚNG Trọn Vẹn Hiểu Biết không thiếu sót.

Nếu bừa bãi: Tự đem TÂM hoài mong, vọng ước, dụ dự không sắp xếp. Cùng với để chờ cho có tiền bạc mua sắm vừa ý muốn rồi sẽ làm. Đó thật là Sai, vô tình đem Tướng hiện hữu vào nơi ảo tưởng, chớ chẳng biết: Làm đây, mới có đó, Tướng Tâm trước mặt có tỏ biết Một, mới đến Tỏ Thông VẠN TƯỚNG. Dù cho Bậc Hiểu Biết sâu xa, cầu kỳ cách mấy chăng, mà không biết hiện tại trước mắt, vẫn không Đỉnh Đạt TÂM, mà Ý cuồng quay lộn xộn lu mờ hiện diện.

Bằng được ngay thẳng điều chỉnh Trang Nghiêm như trên, thì cũng chớ Thích Muốn Quá Đà, đem vào sự đòi hỏi trang trí, nuôi sự ưa thích cầu kỳ, dung dưỡng TƯỚNG TÂM vào lòng Dục Vọng. Đó chính là làm TƯỚNG bị chìm nơi SẮC TƯỚNG, gọi là: Theo SẮC mà ĐẮM.

CÓ NGHĨA LÀ: Trong giai đoạn nào, thời chỉ biết làm tròn với thứ lớp đó, chớ không thể đòi hỏi hơn. Nếu đòi hơn mà không điều kiện thì BỊ TĂNG, chẳng Tương Xứng với hiện tại. Còn thờ ơ bị TƯỚNG GIẢM. Đối với Bậc tu Chơn Chánh, họ có Phẩm Hạnh tao nhã, lại chẳng mắc miếu sự THAM MUỐN, tạo đặng mức vẹn vừa, kết hợp các TƯỚNG mà Tỏ Biết chu đáo. Nhờ vậy sau khi Chánh Giác Hành Nguyện trong LỤC ĐẠO, làm cho tất cả mọi kẻ thảy đều khâm phục, họ đồng Tán Thán TIN VÂNG, nghe sự chỉ bày không thiếu sót mà đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

VỀ MỤC LÃNH TƯỚNG TÂM ĐỂ TỎ BIẾT:

Nếu có kẻ thành Tâm khẩn muốn, thời họ chẳng biết cái TÂM ở chỗ nào. Nên mua sắm lễ vật, nhang đèn hoa quả đặng Cúng Kính. Vô Tình hay Cố Ý, họ đem Chân Thật TÂM mà Cúng Dường. Đó chính là những điểm Bậc tu nên biết, chớ cho là giả tạo. Nhưng nó tùy theo TƯỚNG TÂM, Công Đức cùng Căn Cơ của mỗi người hoặc mỗi kẻ mà mua sắm không Đồng, để Chứng Minh TÂM ĐỊA Chịu Báo hay Chánh Báo của Lục Đạo. Nên chi lễ vật có kẻ mua sắm thật Tinh vi tươi tốt, có người Kém Khuyết Xấu Xa. Đó chính là TƯỚNG TÂM của họ.

Đứng vào Bậc Tu Thọ Lãnh Tướng Tâm của mọi người nên biết rõ điểm trên đặng dìu dắt.

HAI NỮA: Chớ phân biệt lễ vật tốt xấu Bất Bình Đẳng. Nên tỏ tình cung kính thịnh trọng TƯỚNG TÂM với lòng Thành của mọi người, mà đem sắp Lễ Vật cho ngay ngắn trên bàn PHẬT, cùng đứng ra chiêm ngưỡng cúng lạy van vái theo ý của kẻ dâng lễ, làm cho họ thích thú vui vẻ đến lúc ra về không một lời ta thán.

Lại có người mua sắm đồ dùng cho mình. Trong sự cho ấy chia ra Ba thứ lớp như: Tình Thầy Cung Kính mà Cho. Tình Bạn cảm mến mà cho. Tình hàng xóm thân thiện mà Cho.

Nhưng kẻ ấy đứng vào Bậc Giàu hay Nghèo, có danh giả hoặc không danh giả, lại với món đồ cho ấy: XẤU TỐT, quý hay không quý. Đồng với TƯỚNG TÂM sở thích của mình, hay không thích. Bậc tu vẫn một Mức tỏ tuồng vui thích để khỏi phụ với TÂM Thành Kính hay Cảm Mến hoặc Thân thiện của mọi người đã đem cho mình.

HAI NỮA: Cũng cần đến TỰ LƯỢNG mà Thọ Lãnh và cần đến sự Cung Đáp để vẹn vừa chỗ Lãnh lấy của người. Nếu người ấy là học trò tu tập, thì phải giúp họ thế nào? Bằng là Bạn thì phải làm ra sao? Cùng người hàng xóm phải chu tất thứ gì Cho đúng lẻ Lưu Hữu?

Tùy theo mỗi mỗi mà Tỏ Biết đáp ứng vẹn vừa để đều đặn trong Pháp BẤT TĂNG BẤT GIẢM.

Những lời Tôi nói tuy sơ sài chẳng có cầu kỳ chi, nhưng nó không ngoài chỉ thẳng TƯỚNG chính TÂM mình phải thu nhiếp từng tỉ mỉ để đến Tỏ Biết Chân Thật trùm khắp chẳng thiếu sót. Khi mà đặng làm trọn Tướng thời rõ thấu những Pháp cực kỳ Tuyệt Mỹ và Biết tất cả sự Kín Nhiệm của NHƯ LAI TẠNG vậy.

THẾ NÀO LÀ: TƯỚNG TRÌ GIỚI TỎ BIẾT?

Nơi TRÌ GIỚI Tỏ Biết của con đường Duy Nhất, TƯỚNG chính TÂM mình, nó không Hai. Nhưng sự quan sát BUÔNG GIỚI trùm khắp để được rõ biết. Từ MỘT TƯỚNG đến Vô Lượng Vô Biên Tướng đều là TÂM mình, nhưng chính mình Lầm Mê rơi rớt mà chưa Biết hết. Còn Chư Phật là Bậc đã TRỌN BIẾT tất cả. Nên tu hành mới lập: BA TÂM và NĂM NGUYỆN có câu: PHẬT PHÁP VÔ BIÊN THỀ NGUYỆN HỌC. NHƯ LAI VÔ BIÊN THỀ NGUYỆN SỰ.

Vì vậy Bậc Tu cần nên dùng Trí Tuệ để Phá Chấp mà chu đáo TÂM, VÔ BIÊN GIỚI, TÂM đã Vô Biên thì TƯỚNG vẫn trùm khắp, TƯỚNG đặng Đồng Nhất liền CHÁNH GIÁC.

TRÍ TUỆ phải dùng như trên, còn sự Làm theo thứ lớp cũng phải chăm chỉ cần mẫn mà Thi Hành đúng đắn. Tùy theo Công Năng Mức Độ qua từng Giới Hạn gìn giữ vẹn vừa, không DƯ THIẾU TĂNG GIẢM, gọi là TRÌ GIỚI TỎ BIẾT.

TƯỚNG TINH TẤN TỎ BIẾT:

Sự TINH TẤN Tỏ Biết ấy nó phải có đủ Chí Nguyện Cầu Tiến không ngừng, để Hiểu Biết từng công việc Hành Nguyện tu tập qua từng GIỚI HẠN của Pháp Giới, khi Trì, lúc cho Qua, mà Siêng năng kiểm điểm đặng lần vào TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

TƯỚNG NHẪN NHỤC TỎ BIẾT:

Tướng NHẪN NHỤC Tỏ Biết chính là TƯỚNG chớ vội vàng chấp nhận các Pháp, khi mà Bậc tu hành LÝ SỰ chưa đặng Viên Thông, hãy còn tựa vào Một TƯỚNG phỏng đoán cho rằng mình: ĐẮC hay ĐẾN hoặc ĐẶNG. Còn trong Hạnh Nguyện cũng chớ nên Tự Cao vì Bản Ngã mà phải cố gắng trong tất cả Tướng Pháp để Trọn Biết gọi là: TƯỚNG NHẪN NHỤC Tỏ Biết.

TƯỚNG TRÍ TUỆ:

Là một TƯỚNG chung gồm để sáng soi hiểu biết. Từ công việc Hạnh Nguyện đến sự giúp đỡ hoặc lời nói Bất Thiện hay Thiện thảy đều Tỏ Biết. Nó đi sát liền với: BI TRÍ DŨNG, GIỚI HẠNH NGUYỆN để cầu CHƠN GIÁC.

TƯỚNG THIỀN ĐỊNH:

Cũng là một TƯỚNG giúp cho Trí Tuệ Cứu Cánh. TIN PHẬT PHÁP, Tin Chân Lý và Tin Mình chẳng còn Sự Nghi. Nó lại giúp cho rõ biết cùng khắp Pháp Giới, đi vào BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA, thâm nhập BÁT NHÃ đặng CHÁNH GIÁC CHÂN NGUYÊN tận từ NHẤT TƯỚNG đồng NHẤT THỂ trùm khắp NHƯ TƯỚNG vậy.

Nơi Tướng Pháp LỤC BA LA chung gồm để THẬT BIẾT, nó là một Pháp Môn rất cần cho Bậc Tu đặng Trọn Biết chu đáo tỉ mỉ, khỏi sự phân biệt để nhận lãnh: TƯỚNG chính TÂM. Vì CHÂN THIỆN của Mình đã đánh rơi rớt từ lâu, nay Hoàn Lai Chánh Báo.

Từ khi ĐỨC THẾ TÔN THỊ HIỆN Ngài vẫn thường chỉ thẳng TƯỚNG chính là TÂM của các Ông.

PHẬT NÓI: Chỉ vì Chúng sanh lầm mê, nên từ Bản Thể CHƠN TÂM trùm khắp chẳng chịu nhận, lại lầm nhận Thân GIẢ HỢP làm TÂM, nên bị Sanh Tử mà có CHỊU BÁO CHÁNH BÁO sai khác.

Qua thời LỤC TỔ HUỆ NĂNG Ngài lại chỉ thẳng nơi Kinh PHÁP BẢO ĐÀN mà nói: TÂM CÁC ÔNG RUNG. NÀO PHẢI PHƯỚNG RUNG. Có một số nhận được: TƯỚNG chính là TÂM mình, nên TÔN SÙNG mà nương theo tu tập: TƯỚNG TÂM đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Ngày hôm nay: CHÍNH TÔI, nhận thấy đối với con đường tu hành thật quá TIN PHẬT. Do sự TIN ấy lắm Bậc XUẤT GIA, nhiều Bậc CƯ SĨ đồng cố gắng đào tạo cho mình đặng Tri Kiến Giải Thoát hiện tại. Nhưng tại sao chưa đặng Trọn Nguyện? Vì DƯ THIẾU TĂNG GIẢM nên có nhiều Bậc dùng về HIỂU BIẾT TRÍ TUỆ chớ chẳng Thi Hành TU CHỈNH, gọi CÓ LÝ, KHÔNG SỰ.

Còn lắm Bậc tu rất dày công trong việc THI HÀNH ĐẠO HẠNH, nhưng thiếu sự HIỂU BIẾT TRÍ TUỆ CẦU TIẾN. Giữa Hai Trạng Thái không Đồng nhau thành thử mơ màng nơi THẬT TƯỚNG cùng VÔ TƯỚNG để đến CHƠN GIÁC mà đặng Toại Nguyện SỞ CẦU.

CŨNG NHƯ: Thời còn PHẬT, DƯ Bậc chỉ bày, THIẾU Bậc TIN để tu. Hôm nay lại DƯ Bậc TIN tu, mà THIẾU sự chỉ bày.

TÔI chẳng phải là: AI. Nhưng ai muốn TÔI cũng đặng. TÔI chỉ Biết tỏ rõ các TƯỚNG trùm khắp là CHÍNH TÔI, nên TÔI lại chỉ Thẳng. Nếu Bậc TIN TÔI tu tập LÝ SỰ Đồng Song sẽ Tỏ Ngộ CHƠN GIÁC.

NAM MÔ THANH TỊNH
DIỆU PHÁP THÂN TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT
TỊNH VƯƠNG Kỷ Niệm ngày mùng 8 tháng Chạp Mậu Thân.

23. PHÁP THÍ

PHÁP THÍ là một PHÁP trong vấn đề ĐỒNG NHẤT, trùm khắp TAM THIÊN của TỐI THẮNG DIỆU ÂM và CHƯ PHẬT, chung gồm NHƯ LAI TẠNG Diệu Dụng không ngừng với đích đưa Chúng Sanh TỰ BIẾT, liền thoát Trần Lao thấu đáo HÀNH DỤNG NHƯ LAI không có sự Kín Nhiệm, nó lại làm cho THÂN TÂM Tịch Tịnh, chẳng còn Tập Nhiễm mà thâm nhập BẢO PHÁP NHẤT THỪA, đặng nghe TẠNG VƯƠNG PHẬT, để đoạt CHÁNH GIÁC.

Do lẻ ấy nên Bậc ĐÃ BIẾT từng cấp mà làm BỒ TÁT hay BỒ TÁT MA HA TÁT, đã từng Nghe, Biết nhiều ít, liền Phát Nguyện Hộ Trì PHÁP THÍ.

Không nhàm chán, không tiếc rẻ, không Chấp Thủ, không Danh Giả, chẳng lìa Danh Giả. Không quán TỰ TẠI, chẳng lìa TỰ TẠI. Vì tất cả Hạnh Nguyện đã biết rõ sự HÀNH DỤNG NHƯ LAI vẫn không Chấp Thủ, PHẬT PHÁP BA ĐỜI đang diễn nói, nên Pháp Thí Cúng Dường không ngừng để cho mạch lạc NHƯ LAI TẠNG chẳng dứt đặng trọn vẹn ĐỒNG ỨNG.

Còn Bậc Khởi Tâm Pháp Thí, hay tỏ lòng Pháp Thí, hoặc Phát Nguyện Pháp Thí cùng với TÂM Ý xây đắp Đạo Tràng. Những Bậc như vậy thì A Tăng Kỳ Kiếp cũng đã tu hành nên ngày hôm nay mới có CĂN LÀNH, đồng HƯỞNG ỨNG, đồng BỔN NGUYỆN ĐỘ SANH chung, lại đồng sự Hướng Dẫn, đưa người qua từng lớp PHÁP GIỚI để phá VÔ MINH, gọi là trùm khắp ĐỒNG ỨNG PHÁP THÍ vậy.

Một trong BA BẬC trên chẳng khác nào:

Có một QUỐC VƯƠNG kia, vì tấm lòng BÁC ÁI cùng khắp, thương DÂN GIẢ trong nước chẳng khác thương CON, thường nhìn thấy sự nghèo túng của DÂN, đến sự mong muốn cứu giúp của VUA.

Ngày nọ cho mời các QUAN đến bàn những cần thiết nơi nhu cầu khai thác cho DÂN để giải ách khổ, bèn khai thông ĐƯỜNG CÁI, ĐẮP MƯƠNG ĐẬP, MỞ TRƯỜNG HỌC... HÀNH DỤNG NHƯ LAI cũng thế.

Phần các QUAN lãnh chỉ thị và cuộc sắp đặt của NHÀ VUA. TIN VÂNG KÍNH, do lòng TIN VÂNG mà hãnh diện được gặp BẬC MINH ĐẾ. Nhờ vậy nên phụng sự ngày đêm không nhàm chán. Chẳng vì lợi riêng cho Mình mà vì MINH ĐẾ. BỒ TÁT Pháp Thí cũng vậy.

Đến DÂN GIẢ trong nước hay xóm làng, có nhiều Bậc hiểu biết và nhận xét: Những MƯƠNG ĐẬP CÔNG LỘ của VUA QUAN đưa lại sự ích lợi cho Quần Chúng. Do đó biết Tự Trọng giữ gìn CỦA CÔNG chẳng bao giờ phá hoại.

Đồng nói cho tất cả được hiểu, được biết. Khi mọi người nhận lãnh liền Khởi Tâm Quý Trọng TIN VÂNG, hướng về VUA QUAN chiêm ngưỡng tỏ lòng ĐỒNG NHẤT để Báo Ân Vua. Cùng Tín Tâm Pháp Thí, Phát Nguyện Pháp Thí, chung cùng Pháp Thí không sai với NHẤT THỪA HÀNH DỤNG NHƯ LAI TẠNG cả.

Vì lẻ ấy nên:

Từ VÔ THỦY đến nay, không mấy ai mà chẳng muốn TÂM TÁNH hiền lành, Thiện Căn ĐẠO ĐỨC. Do đó họ đồng nhau TÁN THÁN CHƯ PHẬT cùng THÁNH TĂNG không ngừng. Làm cho nền tảng ĐẠO PHÁP khỏi Diệt Vong, càng ngày càng thịnh vượng Đạo và Đức.

PHÁP THÍ có MỘT. Nhưng bởi trình độ nó chia ra rất nhiều Bậc, chung lại chỉ có: TIN ĐẠO HIỂU ĐẠO và BIẾT ĐẠO cùng Nhất Tâm Pháp Thí CHÂN CHÁNH làm căn bản mà thôi.

BẬC TIN ĐẠO: Họ chỉ biết khen Công Đức PHẬT Từ Bi Hỉ Xã Hiền Lành Đạo Đức. Khiến cho tất cả kẻ nghe đều được ưa thích TÔN SÙNG, CHIÊM NGƯỠNG, LỄ BÁI, CẦU KHẨN làm cho Tâm nhẹ nhàng thưa thới hiền hậu cầu mong CHƯ PHẬT cứu độ.

BẬC HIỂU ĐẠO: Bậc ấy cũng đã từng được nghe Pháp Thí chẳng lìa bỏ các Hạnh tu niệm Chiêm Ngưỡng Lễ Bái và đã kiên dũng đánh đổi tu nhiều hơn Bậc TIN ĐẠO.

VÌ lẽ có nên được hiểu rõ sự ích lợi của TU PHẬT, cốt yếu SỮA TÁNH TU TÂM lập nền Đạo đức chung, HẠNH KIỂM chẳng thiếu. Bằng thiếu sót TÔN CHỈNH đó khó thành tựu mỹ mãn.

Bậc Hiểu Đạo và Biết các Pháp chính là tầm quan trọng cho kẻ tu, còn TÁNH TÌNH làm nguồn gốc, những hậu quả CHỊU BÁO CHÁNH BÁO không sai. Nó tỷ như Bóng với Hình, như tấm gương soi mặt. Nếu Hình chạy thì Bóng chạy. Còn mặt nhăn, nơi gương soi vẫn nhăn theo, nào sai khác?

Bậc Hiểu Đạo Chân Chánh, họ vừa Pháp Thí lại vừa TỰ sửa chữa. Họ căn dặn nói năng sự nguy hại của TÁNH xấu xa phức tạp cho nhiều kẻ chừa bỏ, họ liền chừa bỏ. Họ thuyết giải những ý nghĩa chân chánh, họ liền nương theo những điều Chân ấy mà sửa trị tu tập.

Pháp Thí là một Pháp Tuyệt Mỹ, vừa dạy cho mọi kẻ tu hành, mà chính cũng dạy cho mình tu tập. Nó công dụng trong Hạnh Nguyện Hiểu Đạo để BIẾT ĐẠO. Mà chính kẻ nghe Pháp Thí thích thú hiểu biết kiên sợ. Từ NGẠ QUỶ, SÚC SANH, ĐỊA NGỤC Tánh kẻ ấy sửa đổi TÂM TÁNH, ĐẠO HẠNH trong một thời liền Chánh Báo NHÂN THIÊN. Thật là Cứu Cánh từ BA Đường Ác đến CÕI TRỜI hay CÕI NGƯỜI sung sướng.

BẬC BIẾT ĐẠO: Chính Pháp Thí là nòng cốt để đưa tất cả vào con đường TRI KIẾN GIẢI THOÁT, nên chi Bậc ấy dùng tất cả Pháp chỉ dạy phương tiện Đạo. Lại từ hàng Tiểu Thừa lần đưa cho họ lên Đại thừa. Từ Tiểu Căn eo hẹp làm cho Phát Nguyện thù thắng Tâm Ý rộng rãi mà đặng Thượng Căn Tu tập thông thái.

Bậc ấy lại dùng Lời Pháp rành mạch Quyết Định nói kẻ tu hành lập Tâm xảo trá tuy biết Pháp Thí nương Đồng Ứng Tam Thế, mà Tự mình chẳng chịu SỬA TÁNH của mình, làm cho TÁNH TƯỚNG đều phản nhau mà Pháp Thí thì gọi là Ngụy Thuyết Giả Thuyết. Nó chẳng khác nào CON CỌP GIẤY. Họ chỉ nói năng Hùng Biện To Lớn Kềnh Càng, nhưng ruột chứa đầy THAM VỌNG, dù có thành tựu chăng cũng không ngoài BA ĐƯỜNG ÁC.

Vì sao? Vì BIẾT sự Chân Thật TÂM TÁNH là những hậu quả của Bậc tu hành. BIẾT sự xấu xa thâm nhập ảnh hưởng nơi CHÁNH BÁO và CHỊU BÁO. Pháp tuy Bình Đẳng nhưng sự CHÁNH NGỤY Thụ Báo rất TƯƠNG XỨNG, ban hành đúng theo SỞ NGUYỆN. Lại THẬT BIẾT chẳng khác nào chọn HẠT GIỐNG để gieo trồng CHẮC LÉP thành cây trái của CHƠN TÂM.

Do thế nên mới khuyên can từ buổi ban đầu phải Phát Nguyện Nhất Tâm Chơn Chánh để tu. Sau đặng TỎ PHÁP Chân Chánh mà THUYẾT PHÁP cũng Chơn Chánh. Kẻ được NGHE Pháp Thí nương nhờ Chánh Đáng Phước Điền đó mà TRỌN Pháp. Hoặc giả Chư LONG THẦN HỘ TRÌ CHÁNH PHÁP làm cho kẻ Nghe được An toàn, đến lúc kẻ ấy ra về đương nhiên thích thú ghi nhớ mà SỬA SAI y như Bậc đã THÍ PHÁP. Vì sao? Vì Bậc ấy xây dựng CHÁNH PHÁP.

Bậc tu nên luôn luôn giữ mức Chân Thật, mức Chân Thật ấy có nghĩa: KIỂM ĐIỂM TỰ TÁNH sửa sai những gì mọi người chẳng ưa thích, những gì làm mất Tác Phong Đạo Hạnh và tất cả mọi kẻ không chịu, chớ nên làm đến. Dù cho Bậc Tu Trí Tuệ Thiền Định hay Thông Đạt chăng nữa chớ nên dùng Hành Vi Phi Pháp. Nếu dùng nó thì Pháp Thí chẳng tròn sự TÍN, trái lại không được Hộ Trì TIN VÂNG của kẻ Nghe Thọ Pháp.

Nếu Bậc trọng lượng hay gieo trồng Pháp Thí, từ lời nói đến việc làm đi đôi với nhau như NHÂN THỪA hay THIÊN THỪA mà đặng trọn vẹn. Những Bậc như vậy, dù cho Pháp Thí lớn nhỏ không đáng kể, liền được rất nhiều kẻ lãnh hội TIN VÂNG lời VÀNG làm trọn. Còn hơn kẻ nói nhiều Pháp lớn mà Phẩm Hạnh chẳng tròn, Vì sao? Vì Pháp Thí cần sự TIN để mà tu sửa, chớ chẳng phải SỢ để mà sửa tu.

Đối với Bậc TIN PHẬT nương tựa vào Đạo để: TIN ĐẠO tu trong một thời đến HIỂU ĐẠO và sau sẽ TỎ NGỘ mà BIẾT ĐẠO làm Hạnh Nguyện trọn vẹn đặng Chư Phật Thọ Ký thành PHẬT. Một trong BA giai đoạn ấy chẳng khác nào: Những THƯỜNG DÂN HÀNH GIẢ kia tuy chưa gặp đặng NHÀ VUA. Cũng như: Bậc phát Nguyện tu chưa gặp PHẬT, nhưng vẫn Nhất Tâm chiêm ngưỡng, Đồng Ứng Pháp Thí, Đồng Sửa Sai để cho Bậc dưới TIN VÂNG lãnh Pháp Thí. Làm cho DUYÊN PHẬT mỗi ngày càng thêm phồn thịnh.

LẠI NHƯ: Bậc DÂN GIẢ một lòng tôn trọng VUA QUAN gìn giữ CỦA CÔNG như của mình. Và bày tỏ sự ích lợi xây đắp khai thác, cùng nhau thân cận giúp đỡ thương mến. Làm cho tất cả vui thích Bảo Tồn nhiều hơn Sứt mẻ nên xóm làng phồn thịnh trong nước giàu sang khỏi nạn đói khổ.

Do lẻ ấy NHÀ VUA cảm mến, các QUAN khâm phục lời nói và sự BẢO TỒN của DÂN GIẢ chân thật. Bèn ý định tâu cùng NHÀ VUA đem vàng bạc hàng lụa thăng thưởng cho DÂN. NHÀ VUA liền CHẨN Y và phong QUAN TƯỚC cho Bậc CHÂN CHÁNH PHÁP THÍ. Sau NHÀ VUA THĂNG HÀ, trong nước chọn HIỀN THẦN kế vị. Bậc Chánh Đáng đặng TẤN PHONG làm VUA.

Sự tu hành tuy nhiên buổi ban đầu kẻ tu mơ màng vì chưa hiểu thấu nơi vi diệu của các Pháp. Nhưng nó có một QUYẾT ĐỊNH TƯƠNG XỨNG đối với Bậc có Công Năng tu tập mà bồi đắp lại rất xứng đáng không sai. Do đó nên các Bậc mới phát BỒ ĐỀ TÂM Nguyện mà cầu DIỆU QUẢ, lại dùng Pháp Thí làm HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH. Lấy Công Đức xây đắp Đạo Tràng, kiểm điểm để Sửa TÁNH lần tiến bộ.

Từ nơi TIN ĐẠO để được sự HIỂU ĐẠO và lần đến TỎ BIẾT ĐẠO. Những Bậc tu Chân Chánh luôn luôn họ Tự thương lấy họ, và họ cũng thương khắp mọi người. Vì lòng BÁC ÁI VỊ THA vốn Sẵn nơi Đạo Tràng Tôn Chỉnh của Bậc NHẤT TÂM mới lần lượt Pháp Thí. Bậc ấy họ xem xét thấy rõ, biết tận từ Nghiệp Căn của kẻ nghe Pháp mà Pháp Thí vừa nơi ý muốn của họ, khiến cho kẻ nghe thích thú mừng rỡ đặng ích lợi tu sửa tiến bộ.

CÒN BẬC NGHE PHÁP LÀM THẾ NÀO LÃNH HỘI?

Bậc tu hành có bốn thời kỳ nghe pháp:

THỨ NHẤT gọi là: MẾN ĐẠO nghe pháp.

THỨ NHÌ gọi là: SAY ĐẠO nghe Pháp.

THỨ BA gọi là: HIỂU ĐẠO nghe Pháp và Tập Pháp Thí.

THỨ TƯ gọi là: BIẾT ĐẠO nghe Pháp và Pháp Thí.

Một trong BỐN THỜI KỲ, Thời nào cũng chẳng ngoài Siêng Năng, tu không Dừng Trụ, chẳng Chấp Pháp, lìa BỐN TƯỚNG để GIẢI THOÁT. Nhưng trọng yếu của nó mỗi một Thời có mỗi đặc tánh một khác tùy theo Nghiệp Thức mà diễn hành lừa dối kẻ tu. NÊN CHI: Càng tu khá chừng nào, lại càng thịnh trọng suy ngẫm từng vi tế chừng nấy.

KHÔNG KHÁC: Kẻ THỢ CHẠM kia, càng chạm đến chỗ thành hình bao nhiêu, lại càng cẩn thận những đường cong tỷ mỷ. Bậc tu PHẬT cũng vậy.

ĐÂY NÓI VỀ BẬC MẾN ĐẠO:

Bậc MẾN ĐẠO chính là bậc khởi đầu để tu hành. Nó thường cản trở vì NGHIỆP THỨC, cho nên: Từ Công Phu đến khi nghe Pháp Thí, trong mọi việc tu hành nó đều Tự sanh ra TÁNH biếng trễ, thờ ơ mỏi mệt, do dự hay buồn ngủ. Nó tùy theo mỗi người mà lôi kéo, tùy theo mỗi Gia Cảnh làm cho trễ nãi việc tu.

Nếu Mến Đạo mà cố gắng chống trả với Nghiệp Thức, có Quyết Định tiêu dẹp nó, thì con đường Hiểu và Biết không xa, mà đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Bằng chẳng qua nổi thì phải chịu nó điều khiển Sanh Tử đến MUÔN TRIỆU KIẾP, gọi là Tiểu Căn hay Nặng Nghiệp, thật uổng một Kiếp NHÂN SINH.

NÓ CHẲNG KHÁC MẤY. TRONG THỜI CÒN PHẬT ĐANG THUYẾT PHÁP

Thời ấy: Có một TRƯỞNG GIẢ kia, ngoài 70 tuổi nghe pháp ngứa ngáy cựa quậy ngồi không yên, sau rồi ngủ tại HỘI TRƯỜNG.

Còn một Ông chừng 17 tuổi chăm nghe, mặt sáng rỡ hào hứng. PHẬT chỉ trong Hai vị mà nói rằng:

Kìa các ông xem: Trưởng Giả tuy đã già, nhưng khi nghe thuyết Pháp lại ngủ, vì Tiền Kiếp Trưởng Giả đó là Con RỒNG, chưa đặng nghe Pháp bao nhiêu, nên Nghiệp Thức VÔ MINH che khuất làm cho không nghe đặng Pháp.

Còn Bậc kia tuy tuổi hãy còn nhỏ, nhưng đã từng nghe đến pháp, mà cũng đã từng phá qua các trở lực của VÔ MINH, nên Nghiệp Thức chẳng làm chi đặng. Mới được nghe Pháp, mới đặng ngồi yên, ngày gần đây sẽ Chứng VÔ SANH cùng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

NÓI VỀ BẬC SAY ĐẠO:

SAY ĐẠO chính là Bậc đang phá Nghiệp Thức VÔ MINH. Cầu sự tu hành làm vai chính, dùng Thế Gian để phụ thuộc. Bậc ấy ưa nghe thuyết Pháp, thích thú LỄ BÁI ĐẠO HẠNH. Công Phu Thiền Tọa hay tìm hiểu Phật Pháp. Họ có thể đánh đổi những gì để cầu DIỆU QUẢ. Thường những Bậc nầy quá SAY đâm ra MÊ TÍN.

Nếu gặp THIỆN TRÍ THỨC dung thông chỉ bày thật là quý vô kể. Chẳng khác nào: Kẻ mong ra khỏi khu rừng mà gặp đặng người biết lối ra. Bằng không gặp đặng Bậc Chân Chánh thật là nguy hại. Nhưng lỗi ấy: Không phải kẻ mong đi, mà chính do người dẫn lối.

Trên căn bản SAY ĐẠO tu để HIỂU ĐẠO đồng với BIẾT ĐẠO là một đường tu rất tốt. Nếu không SAY ĐẠO thì chẳng bao giờ TỎ NGỘ HIỆN GIÁC. Nếu chẳng SAY ĐẠO thì không bao giờ Thâm Nhập TẠNG NHƯ LAI, nên cần SAY ĐẠO.

Trong thời kỳ SAY ĐẠO có hai lối tu: Một là TÍN TÂM CHIÊM NGƯỠNG. Hai là TÂM

TÍN NGƯỠNG, có Tự Tánh tìm Chân Lý Phật Pháp mà tu.

Bậc TÍN TÂM CHIÊM NGƯỠNG tu bằng TIN Phật, đọc tụng, Lễ Bái, lấy tất cả tâm chí tinh hoa TIN Phật, gìn giữ GIỚI HẠNH đúng đắn, lập THIỆN CĂN vững, TỪ BI HỶ XÃ, BỐ THÍ, TRÌ GIỚI cùng NHẪN NHỤC. Những Bậc tu như vậy cũng được HIỂU và BIẾT ĐẠO Mầu Nhiệm Cứu Cánh về CÕI PHẬT.

Còn bậc TÂM TÍN NGƯỠNG, tìm Chân Lý TỰ TÁNH để mà tu, nhưng khi coi KINH chớ nên học thuộc vì BỊ BIẾT. Lúc được nghe thuyết Pháp chớ suy nghĩ riêng nơi mình mà khó nhận thức được trọn THỜI pháp.

Nên lìa bỏ những cái Hiểu Biết của mình để trừ LÝ CHƯỚNG đặng lãnh cái Hiểu Biết của Bậc Chỉ Dạy. Bằng cần dùng theo sự Hiểu của Mình là phải mà Thọ Chấp thì không tiến bộ. Vì sao? Vì LÝ CHƯỚNG sẽ đem lại cái SỰ CHƯỚNG nên khó tu. Nó cũng gọi là NGHIỆP CHƯỚNG, ngăn cản của sự SAY ĐẠO vậy.

Từ nơi SAY ĐẠO đến mức Hiểu Đạo nên xa lìa BẢN NGÃ, chớ vội cho mình ĐÃ HIỂU, vì chỗ HIỂU đó cũng có 8 vạn 4000 Bậc để lần đến BIẾT.

Khi đến giai đoạn BIẾT ĐẠO lại càng thịnh trọng từng vi tế chu đáo hơn. Vì sao? Vì khi Nghi Chấp đến đâu thời Phá Chấp liền Hiểu Biết đến đó. Do lẻ Phá Chấp đến KHÔNG PHÁP hoặc giả nơi KHÔNG vẫn SẴN CÓ. Mà ngược lại chính BẢN NĂNG chưa có một mảy may nào về CHÂN CHÁNH HOÀN MỸ cả.

Nên chi khi BIẾT ĐẠO chẳng xa lìa PHÁP THÍ, chẳng e ngại nơi Chấp hoặc Lìa Chấp, miễn là HẠNH NGUYỆN đầy đủ tròn khắp, cần nương theo câu: NHƯ LAI VÔ BIÊN THỀ NGUYỆN SỰ.

Đối với sự tu hành hay đối với Phẩm CÔNG ĐỨC nó rất Thọ Xứng. Do chỗ Công Thọ Xứng ấy mà các Bậc tu hành mới CẦN TẠO và CỐ TẠO để đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT HOÀN TOÀN chẳng còn Tập Khí Sanh Tử.

Bằng ngồi yên mà suy nghĩ hay nương tựa nơi mơ màng CẦU BÁO, thì nó có đặng chỗ BÁO chăng cũng in như sự mong cầu đó chớ không hơn kém. Nên đem tất cả LÝ SỰ ĐỒNG SONG KHÔNG CHẤP TRƯỚC để CẦU liền đặng Trọn Vẹn như Ý NGUYỆN. Nên những Bậc tu hành mong cầu nghe Pháp, hay mong sự thành tựu, thời cũng nên tỏ ra TỰ TẠO một THÙ THẮNG CÔNG ĐỨC để CẦU. Chớ nên Thử Thách mà Cầu, chớ nên Lợi Dụng để Cầu, chớ nên đem Tâm Hiện Hữu mà Cầu, thì con đường GIẢI THOÁT khó đến vậy.

NAM MÔ TỐI THẮNG DIỆU ÂM PHẬT

22. BẤT ĐỘNG

NÓI đến Pháp BẤT ĐỘNG duy chỉ Bậc Sở Đắc tận cùng rốt ráo THẬT BIẾT CHÂN CHÁNH nó là như vậy, như thế hoặc như kia. Bậc ấy khi dùng đến các Pháp vẫn tùy lúc hay tùy hồi quyết định không còn nghi ngờ. Pháp Bất Động là một Pháp vượt tầm lý luận hay ngôn thuyết suông để giảng giải ra nó mà đặng. Vì sao? Vì nó SẲN CÓ nơi từng lớp, từng Bậc, từ lớn nhỏ, rộng hẹp, thanh thô, tế nhị trùm khắp tuyệt mỹ, nó không có sự Tăng Giảm hoặc Dư hay Thiếu mảy may nào cả.

Nói đến thứ lớp của nó thời cứ mỗi một lớp như vậy có hằng hà sa số Bậc, mà mỗi một Bậc thì vô lượng vô biên lớp. CŨNG NHƯ: Nhìn trong một thành phố hay một xóm làng, mỗi một khoảng đất thì có một cái nhà, mà mỗi một cái nhà có một hoàn cảnh. Nếu trong nhà ấy có 5 người, hay 10 người, thì mỗi một người đều sự Hiểu Biết và Hoàn Cảnh của người đó thảy đều sai khác với mấy người kia. Nó cứ từng người, từng Bậc, từng gia đình, từng Nhà nước thống trị mà tuần tự thuyên diễn, nhưng mỗi mỗi hay lớp lớp thảy đều SẴN CÓ Bất Động Pháp.

Cho đến VŨ TRỤ cùng TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI không thể nào mà kiểm điểm hay diễn nói hết đặng. Duy chỉ có SỞ ĐẮC CHƠN BIẾT BẤT ĐỘNG mới chu đáo mà thôi. Vì trong một pháp nầy Sẵn có sự Hiểu Biết nầy. Nơi pháp Bất Động khác Sẵn Có cái Hiểu Biết khác, nó chỉ Đồng Hợp để mà hiểu biết, bằng chưa Đồng Hợp thời chưa hiểu nhau. Do đó mà chia ra từng lớp: Vuông tròn Dài ngắn Rộng hẹp Cao thấp cùng khắp, nơi đâu cũng thảy đều có một sự Hiểu Biết chung và riêng.

Đức THẾ TÔN Ngài Chánh Biết Nguyên Thể Bất Động nó Sẵn Có nơi từng lớp, mà mỗi chúng sanh phải đành chịu trong thứ lớp đó. Chúng sanh lại đòi hỏi Chân Thiện Chánh Giác như Ngài, thành thử Ngài vì chúng sanh mà chỉ dạy trong các thứ lớp đặng thoát sanh lần hiểu biết Tỏ Thông đoạt đến Thực Tưởng Bất Động, chỉ vì chúng sanh lầm nhận cái Biết của mình mà mê mờ.

DO ĐÓ NGÀI NÓI:

Tất cả chúng sanh thảy đều có sự hiểu và Biết. Nhưng cái Hiểu nầy là cái Hiểu của Ông chớ chưa phải đã Hiểu đặng cái Hiểu của Bậc khác. Cũng như: Cái Biết nầy là Cái Biết của Ông, chớ chưa phải Đã Biết nơi Cái Biết của Bậc khác.

Những lời nói tối diệu của Ngài để cho Bậc tu hành cầu tiến, từ nơi Hiểu và Biết của mình đến cái Hiểu Biết Bậc khác, làm cho Trí Tuệ Tăng Trưởng lần đến tận cùng CHÁNH BIẾT BẤT ĐỘNG.

CHẲNG KHÁC NÀO: Sẵn có từng NẤC THANG, kẻ quyết chí LEO THANG không ngừng, đến tột cùng của NẤC THANG liền RÕ BIẾT cái thang mấy NẤC. Pháp Bất Động thứ lớp nó cũng thế.

Nên chi Bậc đã tỏ rõ Chân Thực, Tận Biết tỉ mỉ từng giai đoạn TÁNH PHÁP ra sao, sự CÔNG DỤNG nó thế nào một cách chu đáo không lầm lẫn nên Điều Khiển Sắp Đặt nó. Chẳng khác nào Trưởng Giả kia Trang Trí đồ dùng trong nhà của mình.

Bậc ấy khéo Di chuyển thứ lớp mà trở thành QUỐC ĐỘ. Lại vì Chúng sanh mong Tri Kiến rốt ráo mà Thần Diệu lần lượt đưa chúng sanh Tam Thiên cùng Cảnh Giới trở thành PHẬT QUỐC, các chúng sanh trong Cõi chẳng hay biết ngỡ Mình làm đặng.

Pháp Bất Động là một pháp có LỢI và cũng có HẠI vô kể. Khi Bậc Thật Biết thì chẳng còn nghi ngờ, liền thoát Trần Lao hoàn toàn Giải Thoát chẳng Tập Khí Sanh Tử. Bằng chưa biết đến hay lưng chừng biết, hoặc tu hành chưa rốt ráo do Khởi Mường tượng vội chấp nhận, nó liền nương theo Hương Vị tập nhiễm ngọt mùi ấy mà trở thành Cảnh Giới vẹn vừa theo ý, họ liền ngỡ là Chân Thật mừng rỡ cho Đã Đắc đến Chân Lý thọ lãnh Chịu Báo hay Phước Báo, tùy theo Công Năng Sở Tri Kiến Chấp mà thành tựu.

Bậc đã trọn biết Pháp Bất động, Bậc ấy tỏ rõ từng đường kim mối chỉ của sự tu hành, lại thâm nhập tất cả TẠNG THỨC từng Sở Tri sâu cạn của họ như : Tri Kiến hay chưa Tri Kiến mà Kiến Chấp, Giải Thoát hoặc chưa Giải Thoát mà Thọ Chấp. Rõ biết từ hành vi tu tập của Bậc tìm đặng Chơn Tánh mà Tự Biết hay tu Khảo Cứu để Bị Biết. Còn thấu đáo bậc đang mắc miếu trong pháp để mà Chấp, hay đã thoát sanh đặng pháp Sạch Sẽ trơn liền nhưng vì Nguyện Độ Sanh diễm nói in tuồng Thật Chấp, nhưng không còn lấy một Chấp.

Còn biết qua từng giai đoạn Chứng Ngộ dừng trụ sạch sẽ, hay lấy TƯỞNG mà dừng trụ? Hoặc KHÔNG TƯỞNG mà dừng trụ? Cùng với sự thu nhiếp TÂM mà dừng trụ, hoặc lập Thiện Căn, Thanh Tịnh Căn, Hòa Giải Căn, cộng cùng Bất Động Căn để thành tựu Chứng Ngộ đến nó?

Đó chính là những điểm khó giải cho nhiều Bậc tu hành tìm một lối trụ, một pháp hay một Tôn Chỉnh đúng đắn để thâm nhập Viên Giác rốt ráo, Thân tâm BẤT ĐỘNG vậy.

Do lẽ ấy nên các Bậc Tu Chứng qua từng pháp, từng lớp mơ màng, Trí Tuệ rời rạc chưa Thật Biết mà nhận lãnh trọn vẹn, chỉ nương vào VÔ NGÃ nhận thấy Tư Duy Pháp để làm rỗng rang Tâm Ý mình. Lâu ngày tập khởi Nghi Mình, Nghi Chân Lý, Nghi Pháp Môn, nhưng tìm một lối trên để dừng trụ thật là nguy hại. Lại có Bậc xem kinh ghi nhớ học thuộc tu tập Bị Biết Kinh, nhưng vẫn có sự rỗng rang trên chẳng hạn. Nếu gặp ai hỏi đến đoạn Kinh thời giảng giải y theo bài vở đã học, còn chận hỏi pháp Chân Lý bất ngờ liền lý bí. Vì sao? Vì bị biết chớ nào có Tự Biết đâu, do Bị Biết đó mà chẳng Tỏ Tánh thành thử bị nằm trong LỜI NÓI của PHẬT.

CŨNG NHƯ: Nằm nơi ngón tay PHẬT chỉ Chân Lý chớ chẳng tìm Chân Lý để mà TỎ. Con đường lập pháp Tỏ Biết thật là trăm phương vạn lối Có kẻ tự nâng cao mình là: THÁNH. Có Bậc tự hạ thấp mình là: PHÀM. Kẻ mong chứng nầy, người đòi chứng nọ, tự sinh chứng che đậy buông xuôi biện luận thuyết giải trôi chảy để mà Thọ Chấp, trong một thời gian nơi chấp ấy in tuồng là Thực, lãnh lấy những pháp Tự Tạo tự lãnh mà không hay biết vậy.

Những lẽ trên có nhiều điểm chưa thấu đáo vì Tâm Chí nông cạn, Hữu Lậu Vọng Đảo chưa sạch, Hạnh Nguyện chưa tròn, nên sự Khởi tham lam vội chấp lầm lẫn che đậy.

CHẲNG KHÁC NÀO: Con Lương kia vốn Sẵn Có chất nhớt của nó để bảo vệ THÂN và sanh sống. Còn Mê Lầm Phàm Phu Sẵn Có PHÁP GIỚI che đậy những gì lầm sai. Bậc tu vẫn còn Bản Ngã ấy nhận chịu che đậy thuyết giải mê lầm bao phủ như thật, gọi là: VÔ MINH.

Đối với Bậc Sở Đắc CHÂN NHƯ BẤT ĐỘNG thời Thật Biết các Tập Khởi của mỗi lớp thế nào, bị nhiễm ra sao? Mong muốn chấp nhận thế nào? Chịu Báo hay Chánh Báo ra sao? Bậc ấy biết tất cả, còn biết hơn thế nữa, nhưng không chấp Sở Tri mà Hoàn toàn Giải Thoát chẳng còn Tập Khí Sanh Tử, chỉ nương vào Công Đức Như Lai để diễm nói, chỉ bày từ ly tí. Khi biên soạn hay đọc tụng phương tiện Kinh Sách miễn làm cho sáng tỏ các bậc tu hành đến đích Tri Kiến Giải Thoát là đủ.

Dù cho Bậc ấy Thị Hiện các HẠNH THUẬN NGỊCH, TỊNH hay BẤT TỊNH chăng nữa cũng không có lỗi mà đặng Phước báo vô kể khó nghĩ bàn. Vì sao? Vì Bổn Nguyện chung để Độ Sanh mà phải như thế.

CÒN NGƯỢC LẠI: Cũng vốn Pháp Bất Động ấy. Nhưng Mê Lầm thời nó trở thành PHÁP GIỚI đóng khuôn ngăn biệt mỗi CHÚNG SANH nên gọi là: CHÚNG SANH GIỚI.

Nơi Pháp Giới vẫn từng Bậc từng lớp lang, từ nhỏ bé lên đến to lớn trùm khắp TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI. Mỗi một kẻ hay một Bậc cùng một người thảy đều nằm nơi Pháp Giới, nó đóng nên khuôn HIỂU và BIẾT riêng nhau từng Pháp, nên LẼ PHẢI với VIỆC QUẤY tự tạo Hoàn Cảnh THUẬN NGHỊCH riêng nhau.

Từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn thảy đều có sự Biệt Lập Tự Ngã thành thử khó mà Hiểu cùng Biết với nhau cho tận từ. Bất quá có Hiểu Biết nhau chăng cũng trong một trường hợp chốc lát hoặc trong một hoàn cảnh mà thôi.

Ngoài ra vẫn xung đột cạnh tranh tự cho mình:ĐÚNG hay PHẢI, nên mới có: THƯƠNG-GHÉT, ĐÚNG-SAI, do hợp và không hợp trở thành câu chuyện SAI ĐÚNG trong Pháp Giới nó sẵn sàng Bản Năng phủ kín che đậy thành Bản Ngã kiên cố chỉ vì chấp nhận mà nó trong Pháp.

Pháp Giới là một pháp quá ư Tinh Nhuệ, nó có thể gạt gẫm từ phàm phu thấp kém đến Bậc ĐẠI THIÊN TIÊN, qua hàng TĂNG THÁNH. Nó đưa từng lớp, từng Bậc, từ sơ khởi tu hành đến bậc tu hiểu biết Phật Pháp, lại lừa bậc đã từng đi trong HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH cùng với bậc GIÁO PHÁP nếu Tập Khởi chấp nhận vẫn mắc Pháp Giới thêm phí công bê trễ, Nó có đủ phương lừa, đủ cách gạt. Nó tùy theo SỰ MUỐN Tuyệt Mỹ, khôn khéo đưa từng lớp bị lầm vì nó.

Nếu kẻ tu chẳng khéo suy ngẫm để điều ngự sự Tham Muốn, không củng cố kiên nhẫn đặng lần nương theo Pháp để Tỏ Pháp mà thâm nhập PHÁP GIỚI thì dễ bị lầm nhận mà lộn vòng Sanh Tử.

Tuy nhiên còn có bậc tu chánh đáng, quyết tâm cầu Diệu Quả. Họ chẳng vì Danh Lợi để mà tu, chỉ vì thoát Trần Lao Hư Vị nên mới tìm hiểu đặng nó. Mới nhìn nhận Tánh Điêu Luyện tầm quan trọng và sự nguy hiểm của nó, làm cho kẻ tu hành sơ sài phải Chấp Pháp. Vì lẽ đó nên Bậc ấy mới mềm dẽo thịnh trọng Tinh Tấn Đạo Tràng trên hết để tu. Chủ Quán THẾ GIAN như Huyển nên chẳng bao giờ tranh giành Hơn Thua, Được Mất mà mắc miếu theo Pháp Giới. Do đó, không có sự Tập Nhiễm Thanh Thô để Thọ Chấp. Họ nương vào VÔ NGÃ cầu lấy Xuất Ly từng Pháp để Tỏ Biết chơn thật rõ ràng.

CŨNG NHƯ: Hiện THẾ GIAN GIỚI chẳng tập nhiễm để Tỏ Ngộ THẾ GIAN mà GIÁC. Qua: TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI cùng CẢNH GIỚI TỊNH ĐỘ, chẳng chấp nhiễm một GIỚI mà thọ lãnh. Vì sao?Vì Bậc ấy ĐÃ BIẾT: CẢNH GIỚI THẾ GIỚI đều là PHÁP GIỚI.

CHẲNG KHÁC NÀO: Bậc học trò kia vào trường Y KHOA để học, Bậc ấy có một sự quyết chí trở thành một ĐẠI LƯƠNG Y, DƯỢC SƯ, nên siêng năng khảo cứu các món thuốc tận từ hiểu biết từng món, có TÁNH DƯỢC khác nhau chuyên trị một bệnh. Sau khi tỏ biết tất cả các món thuốc rành mạch, họ có thể hợp thang. Năm bảy vị trở nên một MÔN THUỐC cứu chữa con bệnh, mà chính bậc ĐẠI LƯƠNG Y, DƯỢC SƯ không mắc phải một Bệnh hay một món thuốc vậy. Bậc tu hành dùng Phương Tiện xuất ly Pháp để Tỏ Pháp Giới lại khéo HÀNH THÂM BÁT NHÃ mà thâm nhập BẤT ĐỘNG.

Có nhiều bậc tu hành vì Tín Ngưỡng ưa muốn, nhưng chưa hiểu đặng phương thức tu, thì có đâu hiểu thấu PHÁP và PHÁP GIỚI, thành thử họ tu có nhiều Sở Cầu khác nhau. Tuy thế chung lại chỉ lấy THIỆN CĂN đặng cầu PHƯỚC BÁO, nên không có hại chi cả.

Vì sao? Vì các Bậc ấy trót lầm nơi Pháp Giới THÔ KHỔ, đến nay tu hành mong cho thoát sanh khỏi khổ, đặng đến Pháp Giới Thanh Nhàn hơn, nên chẳng có hại.

Duy chỉ có Bậc tu Phật đã hiểu biết đôi chút Phật Pháp mà quyết tâm tu thật dày công, nhưng có một cái: Nặng về Bản Ngã Chấp Thủ, gọi là tu theo Sở thích của mình. Do đó nên nặng về SẮC TƯỚNG sở cầu hơn là tìm sự Hiểu Biết phá mê lầm. Vì thế khó khăn hiểu Pháp hay Pháp Giới để mà tu.

Có Bậc khá công hơn, họ đem sự Hiểu Biết và sự làm để tu rất tinh tấn cầu tiến bộ, nên nhàm chán: SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ mà quyết tâm tu. Đến khi rõ biết: Bởi Tập nhiễm chìm đắm vào THAM SÂN SI, do sự ĐƯỢC MẤT TRANH GIÀNH mới có PHIỀN NÃO lộn vòng nơi NHÂN QUẢ.

Những sự hiểu biết đó nó lại có một trạng thái quyết TẬN DIỆT các Nghiệp tập nhiễm để kìm hãm TÂM, mà mong chờ ĐẠO QUẢ. Kể ra những bậc như vậy thật là đáng kính nể, nhưng tiếc rằng sự gặt hái chẳng đặng rốt ráo. Dù có thành tựu đến mức TẬN DIỆT ĐỊNH cũng vào PHÁP GIỚI Thánh Quả, chớ chưa hẳn Diệu Quả NIẾT BÀN.

Con đường tu Phật nó có nhiều then chốt lạ lùng do bởi: PHÁP GIỚI. Dù cho có nhiều Bậc niệm niệm một câu để Tỏ Biết cũng chẳng biết tí nào. Vì sao? Vì nằm trong Pháp Giới Bị Biết, chớ chẳng Viên Dung Tự Biết. Nó như thế nên Bậc tu hành khá họ vẫn biết rằng: SỰ TU là một Phương Tiện Cứu Cánh Giải Thoát. Nhưng đến lúc say tu: thời nhiều Bậc BẢO THỦ Món Tu mà giành giựt cho mình là CHƠN CHÁNH, kẻ khác là NGOẠI ĐẠO TÀ GIÁO để hơn thua nhau. Đôi bậc tự hào là: BỒ TÁT hoặc tự dựng là PHẬT mà khinh khi Bậc khác là CHÚNG SANH. Đó chính là điểm trọn lừa của PHÁP GIỚI, để cho Bậc tu chấp nhận mà Thọ Lãnh.

Nếu Bậc tu hành y như Pháp Môn nào cũng tốt, miễn là chớ vội chấp thủ Cố Định, nương vào VÔ NGÃ làm phương tiện Xuất Ly qua từng Pháp không nhiễm trước, để Tỏ Biết tất cả Pháp như HUYỂN HÓA HƯ DỐI KHÔNG THỰC mà rạng tỏ VÔ MINH PHÁP GIỚI. Đó chính là bậc khéo.

Bằng Bậc tu hành không CHẤP THỦ, liền đặng TRÍ TUỆ hiểu biết rộng rãi, nhờ chẳng nặng TỰ NGÃ, chịu khó học hỏi lối tu của các bậc nên tiến bộ.

Bậc ấy lại rõ biết Tự Tánh mê lầm Bản Năng thường Chấp nên Vọng Đảo mà nương theo lời PHẬT dạy: PHẬT và CHÚNG SANH KHÔNG SAI KHÁC, NHƯNG SAI KHÁC MÊ VÀ NGỘ. Do lời nói ấy nên đặng sự Hiểu Biết lìa đặng SẮC TƯỚNG, lập Chơn Tánh PHÁ CHẤP để tu, gọi là ĐỐN GIÁO CẤP TIẾN.

Khi đã đặng: ĐỐN GIÁO CẤP TIẾN để tu thì thật là qúy. Nhưng phải làm cho tròn HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH. Vì trong Hạnh Nguyện đó nó giúp cho Bậc tu được sự đứng đắn Chân Thật, rốt ráo, thông đạt các pháp không thiếu sót. Nó lại làm cho Bậc tu THẬT BIẾT nơi HÀNH DỤNG: CẤP TIẾN và CẤP THỦ làm đúng lúc, Phá Chấp đúng hồi không sai chạy hay mơ màng mà Tỏ rõ, gọi là CHÁNH GIÁC chẳng còn Tập Khí Sanh Tử vậy.

BẰNG PHÁ CHẤP QUÁ ĐÀ: MỘT: Phải vào chỗ KHÔNG mà Chấp Thủ. Nếu chẳng Chấp chăng cũng tìm nơi An Trụ lấy MỘT PHÁP thì lãnh đủ 8 vạn 4000 pháp? Phải vịn vào pháp BÌNH ĐẲNG, để thuyết giải hay Biện Luận suông làm VAI CHÁNH.

CHẲNG KHÁC NÀO: CON LƯƠN có sẵn tánh TRƠN VUỘT gọi đó là pháp phân hai như: Nó cũng có. Nó cũng không. Muốn Có liền Có. Muốn Không liền Không. Nó cũng thế. Nó cũng vậy. Nó không hai hay sai khác. Hay nó không có chỗ Chỉ. Chưa phải lời Quyết Định DUY NHẤT.

Có Bậc cũng đã biết lề lối phân hai trên là một Sở Thuyết nên dè dặt hơn, suy ngẫm thấu đặng PHÁP GIỚI: THUẬN- NGHỊCH đều là MỘT. Muốn dung hòa nhưng chẳng biết làm thế nào?

- Nếu lập THIÊN THỪA sợ khép vào hoàn cảnh quy luật hay trong vòng Chấp Thủ?

- Còn lập THIỆN CĂN thì rõ biết Thiện Ác không HAI? Nên hay dùng lối TỰ TÁNH nơi mình đương nhiên TỰ TẠI, xuôi chiều mát mái đến đâu hay đó.

Trong một thời gian, chưa có một căn bản Rốt Ráo tỉ mỉ nên: Buông lung vì Tự Tại. Bất Thiện bởi chưa Trọn Hạnh. Vị Kỷ vì Chưa Tỏ. Mạt Thị Khinh Khi từng lớp vì chưa Chu Đáo Chơn Như, nên những lối hành động cử chỉ tự chấp nhận là Hạnh Nguyện Độ Sanh. Khi gặp THUẬN, lúc gặp NGHỊCH PHÁP thảy đều ráng chịu. Tập Khí Sanh Tử vẫn mang, làm sao chối cãi?

CHỚ NÀO NGỜ: PHÁP GIỚI tuy là MỘT. Nhưng THỂ DỤNG của nó là HAI trở thành 8 vạn 4000 pháp Bình Đẳng BẤT ĐỘNG. Nơi Pháp Giới tương đối nó có hai lối sử dụng, gọi là: THUẬN HÀNH và NGHỊCH HÀNH. Bậc khéo biết thì dùng đúng lúc, đúng chỗ, còn Bậc chẳng Tỏ Biết lại dùng không đúng chỗ mà bị chống đối Tập Nhiễm chưa thỏa mãn vẫn chịu Tập Khí Sanh Tử vì chưa trọn CHÂN LÝ.

Nơi THUẬN HÀNH NGHỊCH HÀNH là một vấn đề trọng yếu giải quyết đến sự Viên Mãn hay chưa Viên Mãn. Vì sao? Vì Phá Chấp lầm mê đặng TRI KIẾN PHẬT. Nhưng Tỏ Rõ việc sử dụng THUẬN NGHỊCH vẹn vừa đứng đắn thì đặng: PHẬT TRI KIẾN. Bằng vì Phá Chấp quá lối, chẳng Tinh Tấn Đạo Tràng thì muôn kiếp vẫn còn Tập Khí Sanh Tử, gọi là HÀNH NGUYỆN. Đó là một lối giảng giải mật thiết cho Bậc GIẢI THOÁT, nên nhớ lấy.

Còn nói về THUẬN HÀNH pháp, là một đặc tánh thu nhiếp làm cho tất cả đều ưa thích mà tu hành, nó cũng là một lối dỗ dành nâng đỡ Bậc non kém. Khen tặng và giúp đỡ con đường tu, làm cho tất cả được Say Đạo để Hiểu Đạo cùng Tỏ Biết và VIÊN THÔNG CHÂN LÝ.

Bên NGHỊCH HÀNH duy chỉ là Pháp TRỢ DUYÊN cùng PHẨM TRỢ ĐẠO cho Bậc đã TIN PHẬT, TIN PHÁP MÔN tu, để lần đưa từng Pháp vì Bậc ấy đã chịu nỗi sự thử thách mà tiến bộ. Ngoài ra chẳng dùng. Vì dùng đến nó làm cho tất cả mọi người đều chẳng ưa thích mà xa lánh, hoặc Đoạn Duyên với mình.

Hai lối sử dụng của một PHÁP GIỚI. Nằm nơi Pháp, Tỏ Pháp, Thông Pháp, Bất Động với Pháp. Viên Tịch cùng Pháp. Trọn dùng đến Pháp, Không Tập Nhiễm một Pháp. Vì sao? VÌ QUÁ BIẾT nên chẳng dùng CÁI BIẾT. Chớ nên lìa nó. Chớ nên Bỏ và Diệt nó. Chớ nên Sợ Chấp, cứ Phương Tiện trọn HẠNH NGUYỆN, thì PHÁP GIỚI trở nên CHÂN NHƯ BẤT ĐỘNG.

Tất cả Chư Vị BỒ TÁT vẫn nương theo con đường ấy để mà cầu VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC. Nên mới TÁN THÁN PHÁP GIỚI mà gọi là: HÀNH DỤNG NHƯ LAI.

NAM MÔ HỒI HƯỚNG PHÁP ĐẢNH NHƯ LAI TẠNG
15-10-MẬU THÂN (1968)

21. TUYÊN RÕ VỀ NHẤT TÔN PHÁP TẠNG

NHẤT TÔN PHÁP TẠNG thời Bất Nhị Nhất Thể. Vô Thủy, Vô Chung liên tiếp duy nhất gồm có BA ĐỨC PHẬT đồng một chữ A như sau:

Đức Phật A ĐỀ, Đức Phật A DI ĐÀ, Đức Phật A DẬT ĐA (DI LẠC) Chủ Tọa Điều Ngự gọi là Giáo Chủ Nhất Tôn NHƯ LAI TẠNG.

Thừa Hành giữa thời nầy, Đức TỊNH VƯƠNG PHẬT đảm nhiệm làm GIÁO CHỦ Nhất Tôn Pháp Tạng. Hiện Thân TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG (DI LẠC) gọi là con đường BỒ TÁT ĐỘ, Duy Nhất từ Hành Dụng đến Diệu Dụng để cứu độ, đưa tất cả được Tri Kiến Giải Thoát hiện tại nên đồng thanh ứng hiện trọn dùng HỮU-VÔ trùm khắp trên dưới tự tại gọi là Ứng Thân BỒ TÁT PHẬT.

Từ Khi Nhất Tôn Pháp Tạng mở đầu Vô Thủy Vô Chung Vô Lượng Thọ Vô Lượng Nghĩa không thể đo lường đếm tính đặng. Thời tất cả NHƯ LAI cùng ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT và Chư PHẬT với các hàng Chư BỒ TÁT đặng độ, đặng Hóa Thân Vô Lượng Vô Số Vô Biên khó suy nghĩ khó đong lường. Nhưng mỗi hàng BỒ TÁT, mỗi Thứ Bậc thảy đều làm không ngừng nghĩ trong Nhất Tôn Pháp Tạng như sau:

NHẤT TÔN NHƯ LAI Chứng Minh.

ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT. Khi đồng Như Lai, lúc hòa cùng Chư Phật. Ngài dung hòa dung chứa Thị Hiện SẮC, KHÔNG SẮC. THINH, KHÔNG THINH. HƯƠNG, KHÔNG HƯƠNG. VỊ, KHÔNG VỊ cùng XÚC PHÁP, KHÔNG XÚC PHÁP và các TỊNH ĐỘ, QUỐC ĐỘ HỮU VÔ NIẾT BÀN đến ĐẠI NIẾT BÀN. Tất cả Bí Mật Kín Nhiệm di chuyển do Ngài nắm giữ. Từ Thần Thông đến các Tam Muội qua GIẢI THOÁT.

Khi nào NGÀI Ban Hành Thị Hiện?

Lúc Bồ Tát được sự Thọ Ký của Chư PHẬT. Khi NHƯ LAI NHẤT TÔN Chứng Minh rốt ráo. Từ Thần Thông đến Tam Muội qua các Hiện Thân đến Giải Thoát Viên Mãn BA THÂN Ngài thảy đều gìn giữ khó nói, khó bàn đặng.

Tất cả Thế Giới, Cảnh Giới mỗi một khẽ động di chuyển Ngài thảy đều cung cấp trường tồn bất diệt. Từ một nơi, một Thế giới hay Trăm Ngàn Vạn Ức Ô Trược Mạng Trược Ngài làm trở thành TỊNH ĐỘ hay QUỐC ĐỘ trong một Sát Na.

Ngài lại gìn giữ TÂM ẤN-MẬT ẤN, nên đối với NGÀI thật khó nói, khó nghĩ bàn.

Đức ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT tất cả đều khó nói, tất cả đều Tán Thán vô lượng vô biên xứ đều cung kính với Oai Thần Tối Thắng Diệu Âm của NGÀI.

CHƯ PHẬT có nhiệm vụ THỌ KÝ và DIỆU ĐỘ Chư BỒ TÁT.

CHƯ PHẬT chỉ dạy cho Chư Bồ Tát thành tựu Phật Quả đồng Thọ Ký cho Chư Bồ Tát trong đường Hạnh Nguyện đưa Chư Bồ Tát Ngũ Nhãn Lục Thông Tam Thân Tứ Trí đồng thành Phật.

Còn Chư Bồ Tát Tín Hạnh Nguyện để lãnh hội các Pháp và Chân Lý huấn từ của Chư Phật mà Sở Đắc.

Chư BỒ TÁT Độ Sanh với con đường Hạnh Nguyện Lục Ba La Mật Đa, thâm nhập Pháp Giới thành tựu Bát Nhã Trí, được Trí Tuệ Vô Ngại. Đức Hạnh ứng thân rốt ráo từ HỮU LẬU đến VÔ LẬU không Hai hoàn toàn Tri Kiến hoàn toàn Giải Thoát.

TRONG THỜI HÓA ĐỘ CỦA CHƯ PHẬT:

Thời kỳ nào PHẬT hóa độ tất cả Chúng Sanh và Bồ Tát?

Thời Đức Phật ra đời, chưa có Thể Hiện Bồ Tát, thì PHẬT phải Hành Dụng đến Diệu Dụng chung Một hai thứ gọi là : BỒ TÁT PHẬT. Khi Chúng Sanh Giác Ngộ hoặc Đắc Pháp thì Phật trở qua Đốn Pháp để cho chúng sanh Hiện Thể, thời nầy gọi là PHẬT hóa độ Bồ Tát. Qua thời Bồ Tát hiện thân đầy đủ hoặc chưa đầy đủ thì PHẬT mới thi hành Tịnh Bất Tịnh, Thuận Nghịch quyết đưa Chư Bồ Tát qua các trở lực ngăn ngại mắc miếu thân tâm tập nhiễm tập khởi trong LÝ SỰ chưa đồng đến Đồng,chưa đặng đến Đặng, chưa đắc đến Sở Đắc hoàn toàn mà thành PHẬT.

Nên PHẬT hóa độ khó nghĩ bàn, khó phê phán, vì sao?

Vì Phật diễn ra các Pháp chẳng thiếu sót. Từ Bồ Tát chưa bao giờ nhìn đặng, thời làm sao chúng sanh biết nổi việc hóa độ của Chư Phật? Làm cho Sức Lực công năng của Chư Bồ Tát chịu đựng tiến triển thọ lãnh đầy đủ của NHƯ LAI TẠNG mà rốt ráo ĐẠI NIẾT BÀN.

Sự hóa độ của Phật, chỉ có Phật với Phật biết, Phật đưa từng hàng Bồ Tát bởi Tịnh hay Thuận mà Thọ Chấp, Phật làm cho Bồ Tát ấy Tâm không phân biệt dị biệt, được suốt thông Tịnh, Bất Tịnh đến Thuận Nghịch thực thi rỗng rang trùm khắp thành PHẬT.

Lại vì hàng Bồ Tát hay hàng Đắc Pháp đứng yên nơi CHỮ KHÔNG cùng với Trí Tuệ Ngôn Ngữ Văn Tự làm Sở Chứng. Phật phải hóa độ phiên diễn các Pháp, làm cho Bồ Tát nghi chấp đến Phá Chấp, chẳng còn ngăn ngại trí tuệ suốt thông, không còn quái ngại nơi Thấy Nhãn Tịnh, đến Thật biết tỉ mỉ lìa ngôn ngữ Văn Tự Sở Đắc Bát Nhã Trí đồng song thành Phật.

Phật hóa độ, tất cả nghi Phật thật Ác, Phật hóa độ chư Bồ Tát phải nghi thật là Nghịch, dù có Ác hoặc Nghịch chăng thời khó nghĩ bàn, vô lượng hóa độ, vô lượng Diệu Dụng Bồ Tát nhìn chưa thấu, thì phàm phu lấy đâu để hiểu? Phật chỉ vì Bồ Tát đứng yên thọ chấp mà phải hóa độ như thế, để được Thọ Ký và Chứng Minh của NHƯ LAI.

Bậc Bồ Tát còn Nghi hay phân vân chưa chu đáo Hữu Lậu Vô Lậu, tác dụng, tác tạo các Pháp, cùng với Trí Tuệ chướng hay Tướng Pháp ngại ngùng, hoặc tự tại Trí Tuệ mà chưa thật tỏ tỉ mỉ Đúng Sai thường bị Chướng Đối, mơ mộng Niết Bàn khi thời Định Tưởng hoặc Thường Tưởng hay Ly Tưởng cứu cánh rốt ráo bằng Không Pháp. Hoặc Bồ Tát quán Tự Tại Vô Ngại phá nghi phá Tương Đối, phá Thân Khẩu Ý xuất ly đặng gìn giữ Tư Duy nên chưa tỏ rõ di chuyển Pháp Tánh, chưa biết được Thường Tánh thì làm sao chu đáo Diệu Tánh Niết Bàn? Bậc Bồ Tát như vậy mà bắt chước hóa độ nơi Phật làm hành dụng tác tạo Nghịch Hành, thật là nguy hại vô kể.

Đối với Phật, Phật nói ra những lời nói toàn là: KHAI THỊ. Chớ chẳng bao giờ lời nói nơi Phật là Thuyết Pháp. Phật vì Bồ Tát mà Khai Thị để đưa Bồ Tát thành Phật Quả. Bồ Tát biết lời Vàng nên tán thán Kim Thân Hoa Đàm khó gặp liền được Chứng Ngộ NHƯ LAI TẠNG. Bồ Tát lại biết lời Phật nói là Nhất Tôn Bất Nhị, dù cho Ngài phân biệt tỉ mỉ hoặc phương tiện đủ cách nhưng vẫn Nhất Tôn, liền Sở Đắc Nhất Thế Chủng Trí.

Khi Phật ra đời khó gặp, Nhất Tôn Pháp Tạng Tin thật khó bàn. Nếu bậc Bồ Tát Tin thời Bồ Tát ấy khó nói đến sự cúng dường Tam Thế Như Lai Tạng vô lượng vô kể.

Nếu có một vị Bồ Tát tu vạn hạnh bên ngoài, từ phương Đông đến phương Tây hay Nam Bắc chẳng hạn, cùng với Trí Tuệ suốt thông. Khi nghe Nhất Tôn Pháp Tạng chưa biết hoặc đã biết. Đương thời Diệu Dụng BỒ TÁT PHẬT cùng sau Thể Hiện BỒ TÁT với TỨ CHÚNG sẵn sàng.

Bậc ấy nói Ta Sở Đắc Chân lý và Ta đã thành Phật, dù cho Bậc nọ sở đắc hoặc thành Phật thật sự đi nữa mà chưa biết nơi Chứng Minh Nhất Tôn, chẳng Tin sự Chứng Minh có lòng Ngã Mạng Tự Mãn thì cũng chưa đến rốt ráo để nhập Đại Niết Bàn, vì sao? Vì chưa đặng Thọ Ký Nhất Tôn thì làm sao đến Như Lai Nhất Tôn Chứng Minh, đã chẳng đặng Chứng Minh thời làm gì có Đại Nhựt Như Lai Phật ban hành Thị Hiện cảnh Đại Niết Bàn, do lẻ ấy mà bậc kia phải dùng Định Tưởng đã Định Tưởng thời còn Sanh Diệt, đó chính là trọng yếu thứ nhứt.

Lại có Bồ Tát dùng lời lẽ thuyết pháp y như Phật, mà chính Bồ Tát ấy chẳng biết chỉ hướng cho Chúng Sanh hoặc chưa biết rõ sự nói năng lợi hại của Pháp, vì Chúng Sanh chưa giảm Nghiệp Lậu và Tham-Sân-Si nên thường chứa nhóm trụ chấp nên khi nghe đã không đem đến sự lợi ích cho Chúng Sanh còn làm cho Chúng Sanh tăng thêm tham vọng, thêm kiết sử đảo điên ham muốn, dù cho vô tình chưa rõ mối nguy hại, nhưng Bồ Tát đã lầm cho chúng sanh uống phải độc dược cuồng quay tăng thượng hay đoạn duyên Phật, thời Bồ Tát liền phải lạc hướng mất Hạnh vòng quanh theo Lục Đạo để cứu vớt sự lầm thuyết của mình, đó là điểm nguy hại thứ hai.

Bồ Tát nhìn thấy chúng sanh vì mê chấp lầm nhận ngăn ngại, Bồ Tát chỉ dạy cho Chúng Sanh tu tập Phá Chấp. Khi mà chúng sanh Tin lời giải thuyết của Bồ Tát để Phá Chấp liền khỏi sự lầm nhận nhiều ít, chúng sanh vui mừng nung đúc phá chấp tự nuôi Bản Ngã tăng thượng bên trong chắc chắn sẽ thành Phật nay mai, vì mê lầm làm chúng sanh đến Giác Ngộ là Phật, nên chi Chúng Sanh ấy xem việc Đức Hạnh công năng chịu đựng là Chấp pháp, học hỏi thâm nhập Pháp Giới là Chấp pháp, tất cả việc Hạnh Nguyện phát Bồ Đề Tâm đều Chấp pháp, đến một ngôn ngữ văn tự đều Chấp pháp, mà thật chính Chúng Sanh ấy chưa hiểu gì cả, dùng lời thuyết như cái máy nói nên bừa bãi Tăng Thượng, xem Chư Phật và Như Lai là môn sở thuyết, chớ không ngờ là Chánh Báo Viên Mãn Ba Thân rốt ráo Đại Niết Bàn Bất Nhị, đó là điểm nguy hại thứ ba.

Bồ Tát vừa hiểu vội chấp nhận biết, vừa biết vội chấp nhận đã Đắc. Khi mà Bồ Tát hiểu được Lý Vô Sanh, chớ chưa đến tỏ rõ Vô Sanh. Lúc Bồ Tát hiểu Tâm không có chổ chỉ cùng vạn pháp do Tâm Sanh. Nhưng chưa biết thật tỏ rõ Tâm là cái gì ? Bản Thể Tâm ra sao nên tu hành Hạnh Nguyện chê Pháp nầy, khen Pháp nọ, thờ ơ tối sáng được mừng mất buồn đảo điên theo Tâm Pháp. Bồ Tát có thể xem kinh hiểu câu rốt ráo là Niết Bàn hay Ba Thân Tứ Trí Ngũ Nhãn Lục Thông cùng Không Tâm Niết Bàn đến Viên Mãn, do đó nên vội chấp nhận Định Tưởng Giả Tưởng Kiêu mạng cho ta đã sở đắc, đó chính là điểm nguy hại thứ tư.

Bồ Tát lại đương dùng nơi hiểu biết của mình hiện tại hay Định Hướng nơi mình mà đem áp dụng thuyết giải nói năng các Cảnh Giới cho chúng sanh nghe, trái lại Bồ Tát chưa thấu đáo. Vì định tưởng tham muốn Thiên Tướng chính mình mà đem nói, các chúng sanh nghe thích khen tặng Bồ Tát hăng say nói quá trớn làm cho chúng sanh Cuồng Tín, chính Bồ Tát ấy cũng bị Thọ Giả Tướng. Khi mà chúng sanh ấy theo cuồng tín chẳng ích lợi, sinh tâm chán mà thối Bồ Đề đoạn duyên Phật, đó là điểm nguy hại thứ năm.

Bồ Tát lại vì chúng sanh nói cho chúng sanh lìa bỏ đố tật chướng nghiệp Tham Sân Si, nói Nhân Duyên, nói tất cả những ích lợi Tri Kiến, nói từng sự nguy hại của Tham Dục, tâm nhỏ nhen eo hẹp, làm cho chúng sanh nghe được, lãnh được mà Phát Bồ Đề Tâm cầu Tri Kiến Giải Thoát.

Bồ Tát trước khi nói pháp phải vì chúng sanh nương chìu xíu đỉnh, sau lần đưa cho chúng sanh vào con đường Tỏ Tánh, Đức Hạnh Ngôn Ngữ thanh duyên để cho khỏi đoạn duyên Phật, khỏi nghi Tam Bảo, chúng sanh ra đi được xóm làng quý mến trên dưới thuận hòa, đó chính là Bồ Tát khéo nói và khéo tu hạnh Bồ Tát vậy.

Bồ Tát nên y kinh để Liễu Nghĩa, nên dạy chúng sanh nghe Pháp cốt tỏ biết. Chớ chẳng nên y kinh Bất Liễu Nghĩa dạy chúng sanh nghe Pháp chớ nên thuộc lòng không hiểu nghĩa sau nầy sẽ Bị Biết, dạy chúng sanh thật biết Hữu Lậu, thật rõ Vô Lậu Hữu Vô đều tỏ rõ, chớ vì Hữu mà nặng, chớ vì Vô để chấp. Lại cũng chớ vì Hữu mà Đoạn, chớ nên Vô mà lìa, đó chính là Bồ Tát khéo cúng dường Tam Bảo, khéo đưa chúng sanh chẳng lấy cũng không bỏ.

Còn phần Chúng Sanh cầu Tri Kiến Giải Thoát thành tựu hiện Thân Bồ Tát thời phải tu thế nào?

Chúng Sanh nhất tâm tu cầu đến kết quả hữu hiệu thì nên căn bản Đạo Đức Ngôn Hạnh và BI TRÍ DŨNG. GIỚI ĐỊNH TUỆ, thi hành Lục Ba La Tứ Nhiếp Pháp, phát Bồ Đề Tâm Nguyện cho thù thắng để qua bờ ngăn chấp của BA LỐI là: ĐOẠN-DỊ-DIỆT.

THẾ NÀO LÀ: ĐOẠN?

Chúng Sanh thường Nghi, chấp nhận cái Nghi của mình mà bỏ tu. Chúng Sanh Tham Cầu, Tham Biết, Tham Cuồng Tín để thọ chấp mà bỏ tu. Chúng Sanh vừa hiểu biết chút ít cho là Sở Đắc bất tín lời Pháp cho là lý luận ngôn luận đặng bỏ tu, cùng tất cả trái với mơ ước điên đảo bỏ tu thảy đều gọi là: ĐOẠN.

THẾ NÀO GỌI LÀ: DỊ DIỆT?

Chúng Sanh bởi mê lầm nên thân tâm pháp giới đều thọ chấp ngăn ngại, tự sanh nhiều mong muốn đảo điên, nên đảo điên động vọng nó làm Chủ, do lẽ ấy gọi là Chúng Sanh, nếu rõ biết tỉ mỉ thật biết chẳng còn lề thói trên liền hiện thân BỒ TÁT hay PHẬT không hạn.

Khi tu cầu hiện thân thời hai Pháp DỊ và DIỆT nó làm cho Chúng Sanh khó nghe Phật Pháp, khó hiểu nổi Dụng Độ của Bậc Thiện Trí Thức, nó làm cho chúng sanh thường nghi để mà chấp nhận nơi mình là phải, đặng dắt dẫn chúng sanh vướng vào Dị Diệt. Nếu Chúng Sanh nhất tâm thù thắng TIN VÂNG KÍNH để nghe lời chỉ dạy, điều ngự phá nghi chấp lần tỏ biết đặng Giác Ngộ thì chẳng nói chi, bằng không qua nổi Đoạn Dị Diệt khó hiện thân đặng.

Ba pháp Đoạn Dị Diệt nó tùy theo chúng sanh Thọ Chấp mà trở ngại lối ngăn biệt. Bậc càng tu khá bao nhiêu thời nó lại càng khó gìn giữ Đoạn Dị Diệt bé nhỏ bấy nhiêu. Phần nhiều nó ở nơi tế nhị mà thọ chấp, nó ở nơi tinh vi mà vương phải, đó chính là điểm ngăn không lối thoát vậy.

NAM MÔ PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT
NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT
TỊNH VƯƠNG

20. PHÁP TÁNH VIÊN DUNG BÌNH ĐẲNG

TẤT cả PHÁP cùng PHÁP TÁNH vốn Bình Đẳng Viên Dung Bất Nhị. Vì Bất Nhị nên không chỗ chỉ hay thêm bớt, tăng giảm nó đặng. Duy dụng Tâm Thức nhận định nơi: NGHE THẤY BIẾT để quan sát Bản Năng nó THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN mà thôi.

Bởi Pháp tròn khắp viên dung và Bình Đẳng như vậy nên chi một chúng sanh đặng CÁI NGHE, thời vạn chúng sanh đồng có CÁI NGHE. Một chúng sanh đặng CÁI THẤY BIẾT, thời vạn chúng sanh đồng có CÁI THẤY BIẾT chẳng sai khác.

LẠI NỮA: TÁNH PHÁP thì Vô Ngại, Tùy Thuận không phân biệt. Nó CÓ SẴN từ lâu, nó vẫn: VÔ THỦY VÔ CHUNG VÔ LƯỢNG cùng VÔ BIÊN XỨ, nó BẤT ĐỘNG.

CHỚ NÊN CHỈ CÁC PHÁP LÀ: NĂM, THÁNG, NGÀY, GIỜ, hoặc HẠN LƯỢNG cho nó để kiểm điểm nó bao nhiêu. Vì sao? Vì nó VIÊN TỊCH, không thể dùng Văn Tự hay Ngôn Thuyết, hoặc Khởi hay Nói mà BIẾT nó đặng. Nó vượt tầm lý luận như vậy khó mà thấu. Dù cho có Bậc dùng ĐẠI TRÍ TUỆ cũng chẳng đặng chi, bất quá là PHƯƠNG TIỆN chơi thôi. Duy nhất SỞ ĐẮC rốt ráo tận cùng mới khen tặng tán thán nó đặng.

Các Pháp đã viên dung còn cung đốn cho tất cả bậc tu hành chẳng thiếu sót. Giữa thời nào cũng vậy, miễn là bậc ấy có Chí Nguyện cùng TIN vào Tu PHẬT là con đường TRI KIẾN GIẢI THOÁT liền đặng toại nguyện vẹn vừa. Vì sao? Vì Pháp Tánh nó bất chấp TỊNH hay BẤT TỊNH, nó không ngăn ngại tất cả các Tông Phái hay Pháp Môn nào, nó lại không phân biệt Tà Chánh, Nội Ngoại, chẳng kể Thời Gian và Không Gian. Nó chỉ nương theo SỞ NGUYỆN mà cung đốn vẹn vừa chẳng thiếu sót. Do vậy mà thời nào tu cũng đặng như ý nguyện.

Pháp Tánh nó có đặc điểm Tự đưa nhiều Bậc để TỎ BIẾT Tánh nó. Lại không từ chối nâng chiều từng ly từng tí theo ý muốn của mọi kẻ để họ đặng thích thú vẹn vừa. Vì vậy nên mới tự sanh ra nhiều Pháp chung và riêng, nên gọi là: PHÁP GIỚI.

Pháp Tánh rộng rãi cùng khắp tất cả TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, nó tùy theo mỗi Giới mà cung cấp mỗi Cảnh, gọi là CẢNH GIỚI. Nó cũng tùy theo sự nhu cầu lớn, nhỏ, thanh, thô, tế nhị mà THỊ HIỆN in tuồng CÓ để cho vẹn vừa theo sở cầu như thật. Tánh Pháp thật tuyệt mỹ sự Thị Hiện ban cho từng lớp, từng Trí Tuệ, từng Hiểu Biết, nó cứ theo trình độ mà cung đốn vừa theo ý muốn chẳng sai mảy may nào cả.

VÍ NHƯ: Kẻ muốn cầu lấy điạ vị hay danh giá thì tự học một thời gian đặng địa vị cùng danh giá tùy mức vẹn vừa. Nhưng kẻ ấy vì quá đà tham muốn, bị Pháp Tánh chướng đối để cho TỰ BIẾT nơi tham muốn ấy, dạy cho rõ Pháp mà kinh nghiệm Tỏ Tánh, đó là Tánh Pháp chịu cho soi biết. Nhưng kẻ ấy vì vô minh che mờ, lại than phiền khổ sở, trách móc số phận Trời Đất, Tánh Pháp vẫn nương chiều trong sự than phiền trách móc ấy in tuồng như thực. Đến khi kẻ ấy hết buồn phiền, tự cho đó là MA phiền não, Pháp Tánh liền chịu là MA phiền não.

NHƯ: Kẻ muốn cầu trong SÁT ĐẠO DÂM, trong một thời gian hành sự Sát Đạo Dâm cũng đặng thú vị vẹn vừa. Nhưng kẻ ấy chìm đắm quá tham muốn, bị Pháp Tánh chướng đối để cho vì Sát-Đạo-Dâm quá đà tham muốn ấy, dạy cho rõ Pháp mà kinh nghiệm Tỏ Tánh, đó là Pháp Tánh chịu cho Soi Biết. Nhưng kẻ ấy vì vô minh che, lại than phiền khổ sở trách móc số phận Trời Đất, Pháp Tánh vẫn nương chiều trong sự than phiền trách móc ấy in tuồng như thực, đến khi kẻ ấy hết buồn phiền tự cho là NGHIỆP Pháp Tánh liền chịu là NGHIỆP.

NHƯ: Có bậc muốn cầu ưa thích về THIỆN CĂN, lập Đạo Đức làm căn bản sửa đổi để tu hành, tùy theo Sở Nguyện tu tại gia hay xuất gia, hoặc xây cất AM-CHÙA-MIẾU-VÕ để cầu Phước hay cầu TRI KIẾN GIẢI THOÁT chẳng hạn, thời Pháp tánh thảy đều nương theo tất cả sở cầu mà cung đốn chẳng thiếu sót, vẹn vừa. Nhưng quá đà cũng vẫn bị chướng đối của Pháp tánh để cho tự biết vì tham muốn, dạy cho rõ Pháp mà kinh nghiệm Tỏ Tánh Tỏ Biết cùng Soi Biết. Nhưng vì vô minh che mờ chẳng hiểu biết, lại than phiền mơ màng trách móc, Pháp Tánh vẫn phải chịu và cũng in tuồng có thực. Đến khi bậc ấy hết phiền trách thì tùy theo các Bậc ấy nói chi, Pháp Tánh liền chịu như vậy chẳng sai.

Đó, Tánh Pháp nó như vậy, nên chi Bậc tu hành theo Pháp Môn TRI KIẾN thảy đều dung hòa chẳng nặng nhẹ trên đường đạo, gìn giữ mức quân bình mà tu. Chớ vì Thuận thương Nghịch ghét, chớ vì Thiện cảm Ác thù, nên bình đẳng TÁNH thời Trí Tuệ sáng soi tỏ tánh Giác Ngộ. Lại nên xuôi dòng bắt chước y theo Tánh Pháp để cầu Thậm Thâm Vi Diệu Pháp.

PHÁP TÁNH CÓ SẴN TÁNH NHƯ SAU:

- Pháp Tánh: Không bao giờ có Cái Muốn riêng cho nó. Ta nên tu học y như vậy.

- Pháp Tánh: Nương cái Muốn của trăm nghìn kẻ khác Muốn, liền sẵn sàng giúp đở theo cái muốn vẹn vừa của họ, ta nên tu học y như vậy.

- Pháp Tánh: Không nên phân biệt Tà Chánh, Nội Ngoại, Khinh Khi, Thương Ghét, Thuận Nghịch, Bỏ Lấy. Bình Đẳng Viên Dung. Ta nên tu học y như vậy.

Những lối tu như vậy là tu TỰ TÁNH soi biết để tỏ Pháp Tánh mà là Hạnh Nguyện Độ Sanh rốt ráo vậy. Bằng chẳng xuôi dòng cứ cố chấp tu theo TỰ MUỐN cho mình là phải, dù vô tình hay cố ý đã đi ngược lại TRI KIẾN, chạy theo SANH TỬ. Vì sao? Vì các Pháp Bình Đẳng, Phật Tánh Bình Đẳng, do không đảo vọng mà Bình Đẳng Tánh Trí. Đặng Bình Đẳng Tánh Trí thời mới đặng tỏ thông các pháp khỏi lầm lạc Sanh Tử. Nếu theo ý mê mờ của mình mà tu thì ý muốn bất Bình Đẳng, đã bất bình đẳng thời vọng loạn vậy.

Pháp tánh nó Bình Đẳng Viên Dung độ lượng thù thắng vô kể, nó có thể đưa từ phàm phu lên ngang hàng với BỒ TÁT, PHẬT. Cũng có thể đem BỒ TÁT, PHẬT vòng quanh theo Lục Đạo để TRÒN NGUYỆN ĐỘ SANH. Vì sao? Vì còn Tập Khí Sanh Tử, chưa rốt ráo.

Pháp Tánh nó rất tế nhị tuyệt mỹ, khả thượng, khả hạ. Nó có thể làm THẦY diễn hành xuôi ngược cho kẻ nhiều ước vọng xa xuôi ảo tưởng mà chìm đắm sanh tử, chịu làm chúng sanh nơi các Cảnh Giới gọi là Chúng Sanh Giới.

Khi nó làm TRÒ nhưng bậc tu biết bình tĩnh thuận dòng tìm hiểu dò xét tánh diễn hành của nó mà tỏ biết đặng Pháp Tánh rốt ráo CHÁNH GIÁC thời Điều Ngự nó, gọi là PHÁP VƯƠNG hay PHẬT chẳng hạn.

LẠI NỮA: CÁI MUỐN nó chẳng phải là không có hẵn đâu. Nó vẫn Sẵn Có Cái Muốn chung cùng tròn khắp Bất Nhị. Nhưng bởi do Lầm Muốn, cái muốn riêng biệt gọi là TỰ MUỐN, cho mình là phải. Nó cứ từ một đến vạn kẻ, mỗi người mỗi kẻ đều có TỪNG CÁI MUỐN của cá tánh nên trở thành ĐẢO MUỐN. Còn Pháp tánh vẫn tùy thuận Cái Muốn cho mỗi kẻ như: Một người Tự Muốn nhận là Phải, thời Pháp Tánh nương theo Sự Muốn ấy in tuồng có LẼ PHẢI. Đến vạn ức triệu kẻ đều dùng TỰ MUỐN cố chấp cho là PHẢI, thời Pháp Tánh đồng nương chiều tất cả, đồng cung cấp tất cả, thảy đều in tuồng có LẼ PHẢI. Do vậy nên dễ lầm mê mà TỰ NHẬN vậy.

Ban đầu khởi sanh cái TỰ MUỐN, sau tự sanh cái THAM MUỐN, rồi cố thủ tham muốn về phần mình mà sân hận lẫn nhau, si mê theo Dục Vọng gọi là NGHIỆP. Từ Nghiệp nầy sang nghiệp nọ mà Pháp Tánh bị Bất Bình Đẳng nên có thanh thô, cao thấp, hơn kém, thành thử cái NGHE-THẤY-BIẾT bất đồng, tạo ra muôn trùng giới hạn, gọi là PHÁP GIỚI, cùng CẢNH GIỚI đến THỤ BÁO hay CHÁNH BÁO vậy.

Khi kẻ Mê bị chìm đắm vào cảnh giới do cái muốn tạo để pháp tánh thị hiện gọi là TƯỚNG PHÁP. Lại đi phân biệt TƯỚNG và TÁNH không đồng mà sai chạy, chớ thật nào ngờ TƯỚNG-TÁNH đều Bất Nhị (không Hai), nó chẳng khác nào: Hạt giống kia có Sẵn cây và Lá cây nơi hạt giống, chớ chẳng phải đem cây và lá cây ở đâu đến.

Vì vậy nên chi Tướng Pháp nó vẫn viên dung đồng bình đẳng, nó cũng đặng sự nương chiều theo chúng sanh muốn mà thị hiện không phân biệt, y như Tánh Pháp cung đốn cho tất cả đặng vẹn vừa. Sự cung đốn nó có thể ban cho tất cả các vật dụng quý báu như: Lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu cùng mã não. Sự cung cấp của nó vô kể đặng. Vì từ trên đến dưới, từ trong ra ngoài, từ Địa Ngục đến Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cùng với QUỐC ĐỘ và PHẬT QUỐC không thiếu sót mảy may nào cả. Nó là một THÁP BẢO khó nghĩ bàn đặng. Nó lại tùy theo Trí Tuệ cùng với sự Hiểu Biết mà Thị Hiện thành hình. Vì vậy nên có Cảnh Giới phải làm mới có. Có Cảnh Giới phải Tọa Định hay Định mới thành. Vì do CĂN NGHIỆP nặng nhẹ thanh thô vậy.

Cái Ý Muốn mà đến hay cái Sự Làm mà đặng như: Có bậc muốn tu TIÊN THẦN hay THÁNH PHẬT thì phải làm theo phương pháp đúng theo vừa hợp mà thành tựu Sở Đắc TIÊN THẦN THÁNH PHẬT. Khi đã đặng thì Pháp Tướng liền Thị Hiện y như chỗ Sở Đắc mà có Cảnh Giới hay Quốc Độ vẹn vừa chẳng thiếu sót.

Bằng kẻ hung bạo tà dâm, vọng ngữ, chém giết, hận dành thảy thảy đều có Cảnh Giới mà phải Chịu Báo khổ đau như: Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục chẳng hạn, không thiếu sót vẫn vẹn vừa.

Có sự Thị Hiện của TÁNH TƯỚNG PHÁP đồng song như thế nên Chư Bồ Tát Ngài biết tỏ rõ sự nguy hại của CÁI MUỐN riêng biệt mà Thọ Báo cùng Chánh Báo, lại biết rõ sự tùy thuận của Tướng Tánh Pháp sự độ lượng dung thông của nó ích lợi vô kể mà các chúng sanh lại TỰ MUỐN tư riêng thành thử Sanh Tử.

NÊN CHƯ BỒ TÁT VĂN THÙ NGÀI NÓI:

“Tất cả nguồn gốc mê mờ do TỰ NGÃ của Tánh chấp nhận cho mình là PHẢI sinh đua vạy trong CÁI PHẢI hơn thua mà đảo loạn".

Vì như vậy CHƯ BỒ TÁT vì BI mà NGUYỆN ĐỘ SANH, dùng phương tiện VÔ NGÃ (tức là mình không có CÁI MUỐN), nương theo CÁI MUỐN của tất cả chúng sanh để cứu giúp làm cho chúng sanh tiêu giảm NGHIỆP MUỐN mà TRI KIẾN GIẢI THOÁT TỬ SANH, đoạt đến Tỏ Tánh Pháp Viên Dung Bình Đẳng, không dính mắc đặng nơi SỞ ĐẮC tận cùng rốt ráo Điều Ngự các Pháp vậy.

NAM MÔ PHÁP TẠNG
ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT MA HA TÁT
TỊNH VƯƠNG

19. CHÁNH BÁO

NẾU nói về CHÁNH BÁO, thời Chánh Báo SẴN CÓ tầm cao nhất của nó là tột đỉnh Bất Nhị. Còn quan sát từng phần Lớn Nhỏ hay Nhỏ hơn nữa thì ai ai cũng thấy đều có cả.

VÍ DỤ: Như Trưởng Giả kia có GIA TÀI giàu sang tột đỉnh lại đầy đủ Phước Đức. Đó chính là Chánh Báo của Trưởng Giả.

Trưởng Giả có một trăm người con, thường ngày gieo trồng sự tạo lấy Phước Đức cùng Hiểu Biết cho con, mong sau nầy làm nên y như Chí Nguyện của Trưởng Giả.

Khi Trưởng Giả lâm chung, Gia Tài kia chia ra mỗi người con một phần. Đến MỘT năm hay NĂM, MƯỜI năm chẳng hạn, các con ấy vẫn nương theo lời Huấn Từ của ÔNG CHA. Họ làm theo hoặc nhiều ít hay chẳng làm là tùy theo chí nguyện của mỗi con, mà trở nên Giàu hay không giàu, hoặc nghèo tự chia ra từng phần. Đó gọi là Chánh Báo Lớn Nhỏ tùy theo sự làm của Tài Đức Phước Trí đặng Thọ Hưởng lâu mau nhiều ít.

Chánh Báo nó lại tùy theo Chí Nguyện, tùy theo rộng hẹp khả năng cao thấp tầm mức. Nếu có kẻ gặp sự vẹn vừa theo sở thích thì họ hào hứng làm mà đặng, tạo lấy mà đến. Chớ không thể nào san sẻ cho nhau về phần Chánh Báo, mà san sẻ cho nhau bằng phần học hỏi hay tu tập, cốt đến mức Tỏ Thông hay Hiểu Biết mà thành tựu nơi Chánh Báo vậy.

Con đường tự tạo trở nên Chánh Báo nó có rất nhiều cái cực kỳ mâu thuẩn, cực kỳ quái lạ, khó mà nghĩ bàn đến nó đặng. Nên có nhiều người cho đó là một THẦN LINH phù hộ hay một THẦN QUYỀN ban cho mà trở nên cung kính van xin cầu khẩn, đó là một điểm rất thường của lắm kẻ phải làm và chịu làm, không còn gì hơn để cầu Chánh Báo.

LẠI VỀ LUẬN GIẢI: Thì phải có Tài-Trí- Đức cùng với Thời hợp chung với Chí Nguyện mới thành đạt đặng, nếu thiếu rất khó mà nên đặng. Bởi thế nên chi có kẻ làm biếng chẳng chịu làm vì chưa hợp theo Chí Nguyện hoặc Tài Năng của họ. Có người sinh sợ chẳng dám làm vì gặp việc quá tầm hiểu biết.

Có kẻ Chí Nguyện lớn nhưng chẳng có Tài, hay có Tài không có Đức, nếu bị thiếu khuyết như thế thì dù có Thời Cơ đưa đến chăng cũng không làm nên được Chánh Báo theo Chí Nguyện của mình, thành gọi nó là kẻ sống trong Ảo Vọng, nhiều hơn Thực Tại.

Về phần ĐỨC THÍCH CA, trước kia là Thái Tử TẤT ĐẠT ĐA, sống trong CUNG VÀNG ĐIỆN NGỌC, có TÀI ĐỨC vẹn toàn. Khi đi lấy vợ Ngài thí võ chẳng ai hơn, lúc ở trong Cung có một con chim non bị tên Ngài đem nuôi nấng lành mạnh thả chim về tổ cùng với Cha Mẹ anh em nó.

Chí Nguyện của Ngài lại Cao Cống hơn tất cả các Bậc VUA CHÚA thành thử mới nhìn thấy nếp sống ích kỷ eo hẹp của VUA CHÚA không vừa với Chí của Ngài. Ngài lại biết rõ cái CHÁNH BÁO ấy không tồn tại bị di chuyển đổi thay.

Còn Chí Nguyện của Ngài thì nếp sống Bình Đẳng có những cái chi để bảo đảm sự sống Bất Tận, làm cho SANH-TỬ-BỆNH-LÃO-KHỔ không xâm chiếm đặng Chánh Báo. Tất cả đều đặng Trường Tồn Bất Biến. Vì Chí Nguyện VÔ TẬN ấy Ngài bèn có ý lìa bỏ Cung Điện. Cũng chính Cung Điện đối với Ngài chẳng còn ý nghĩa chi cả, vì không vẹn vừa theo Sở Thích, theo Chí Nguyện.

Hôm sau THÁI TỬ ra đi. Ngài đi khắp nơi, nhưng không một nơi nào đúng theo Chí của Ngài cả, ngày kia Ngài ngồi dưới cây BỒ ĐỀ đoạt đặng VÔ THƯỢNG CHÁNH BÁO.

Khi Ngài Sở Đắc CHÁNH BÁO VÔ THƯỢNG. Ngài cũng bất ngờ. Vì sao? - Vì Chánh Báo Bất Nhị Trường Tồn Bất Biến Vô Tận, nó chẳng phải như Ngài đã nghĩ, nó vượt tầm lý luận, nó vượt tầm nói năng suy nghĩ, nó chẳng thể chỉ hay nghĩ bàn đặng.

Chính Ngài cũng tự nói:Lạ thay! Lạ thay! THÂN thì Giả Hợp. TÂM không chỗ chỉ. Vậy thì TÂM CHỨNG hay THÂN CHỨNG? - Té ra CHÁNH GIÁC từ lâu, CHÁNH BÁO sẵn có. Do Tự Tánh mê lầm nên riêng rẽ mỗi người một Chí Nguyện, mà chí ấy không đồng trở thành lớn nhỏ, Chánh Báo vẫn nguyên phải bị chia xẻ ra từng mảnh để phân phát cho mỗi một người (chẳng khác sự chia gia tài của Trưởng Giả trên đã nói) cho vẹn vừa theo Chí Nguyện.

Ngài lại quan sát trong thế gian ẤN ĐỘ và ngoài thế gian còn hằng hà sa số Thế Giới, từng lớp, từng lớp khó mà đếm các Thế Giới ấy. Mỗi một thế giới thảy đều có 100 vị VUA để trị vì, thì có 100 Chánh Báo của vị VUA ấy để thụ hưởng. Bằng mỗi một nước có 1.000 vị QUAN liền có 1.000 cái Chánh Báo của vị Quan ấy mà thụ hưởng.

VỀ THƯỜNG DÂN đều có Chánh Báo từng lớp, nhưng không đồng với nhau, có kẻ giàu người nghèo, kẻ sướng bậc khổ. Do thế nên gọi Chánh Báo và Thụ Báo (Chịu Báo) để chia giai cấp lớn nhỏ hay Trung Thượng cùng Hạ. Nhưng ngược lại : Bậc Chánh Báo của VUA QUAN thảy đều có Ba lớp như thường dân chớ không khác mấy. Đó nói về một Thế Giới như THẾ GIAN chẳng hạn.

Còn phỏng theo KINH SÁCH mà nói, thì nơi Chánh Báo VÔ THƯỢNG có vô lượng vô số TAM THIÊN ĐẠI THIÊN Thế Giới. Mỗi một Thế Giới có đầy đủ VUA QUAN và THƯỜNG DÂN.

Cứ tính 1.000 Thế Giới như vậy là: MỘT TIỂU THIÊN. Còn 1.000 Tiểu Thiên là: MỘT TRUNG THIÊN. 1.000 Trung Thiên là MỘT ĐẠI THIÊN. Ba lần Đại Thiên gọi là TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI.

Nếu như lấy Năng Lực cùng Chí Nguyện của Con Người mà suy ngẫm, để từ Thế Giới nầy qua Thế Giới nọ khó mà thâu đoạt đặng Một hay Hai Thế Giới, huống hồ đoạt tất cả TAM THIÊN.

Mà mỗi một nước như vậy có: VUA QUAN và DÂN. Những điểm đó làm cho Bậc tu hành khó TIN mình Làm đặng. Khó TIN mình Đến đặng mà sinh ra thờ ơ tu cho có chứng. Còn ngược lại cũng có những bậc tu hành lại quá tham học theo Kinh Sách ngỡ mình sẽ thành PHẬT nay mai mà sinh Tự Cao Tăng Thượng với tất cả kẻ lân cận mình. Đó là những điều khó nghĩ của các Bậc tu hành vậy.

Nên chi ĐỨC THÍCH CA khi Ngài đoạt đặng VÔ THƯỢNG CHÁNH BÁO thì đối với Vô Lượng Vô số Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới là một TRÒ CHƠI của Ngài, chớ chẳng phải là một Chánh Báo Trường Tồn Bất Biến. Vì sao? - Vì Ngài tận biết Chánh Báo mà lãnh lấy, thì đối với hư vọng là một trò đùa.

CŨNG NHƯ: Bậc kia thấy đặng viên NGỌC MA NI, bèn lấy VIÊN NGỌC, chớ chẳng thèm lấy ÁNH SÁNG của Ngọc vậy.

Ngài lại Tận Biết nguồn gốc mê lầm của tất cả chúng sanh vì bị nhiễm độc, có thể cứu được nếu là kẻ chịu uống thuốc giải độc. Ngài mới dùng tất cả các phương tiện để cứu độ.

CHẲNG KHÁC NÀO:VỊ LƯƠNG Y kia chửa bệnh cho Ông Trưởng Giả nọ. Giàu sang tột đỉnh, đang nằm trong tòa LÂU ĐÀI của Ông, mà miệng đòi giàu sang thèm khát. Bởi Tự Tánh điên loạn mê sảng. Đó chính là những điểm mà Đức THÍCH CA mong đưa chúng sanh từ mê mờ trở nên GIÁC NGỘ.

Phần Chúng Sanh lại ưa thích đòi hỏi Chánh Báo giàu sang Vua Chúa, lên cao từng lớp của Tam Thiên mà thọ hưởng. Ngài phải vì chúng sanh diễm nói các Thọ Báo của TIÊN THẦN, các Cõi TRỜI HỶ LẠC đầy Châu Ngọc, để lần hồi đưa sự hiểu biết cho chúng sanh thay đổi Tâm Chí, thay đổi Hạnh Kiểm. Từ nơi đảo loạn quay cuồng trở về bình tĩnh Nhất Tâm, từ chỗ thờ ơ trở thành cương quyết, từ nơi rụt rè sợ hãi trở nên thù thắng Kim Cang, làm cho chúng sanh dám lãnh Chánh Báo Bất Tận vậy.

Nếu giữa thời có PHẬT, nơi PHÁP HỘI Ngài chỉ bày tu tập không thiếu sót, Tuyệt Mỹ Thượng Thặng vẹn toàn, trong khi ấy mà Bậc nào TRỌN TÍN lãnh hội, thì Bậc đó đồng SỞ ĐẮC VÔ THƯỢNG CHÁNH BÁO y như Ngài không sai khác.

Ngài rất khéo tùy thuận theo căn cơ của Chúng Sanh mà thuyết pháp, khi tấn lúc thối, khi nâng lúc Phá Chấp. Khi làm cho chúng sanh trở thành THAM MUỐN, để trở lại KHÔNG THAM. Lúc nói thẳng TỰ TÁNH làm cho chúng sanh Tự Tín vào pháp môn tu tập của mình.... Bao nhiêu những sự khôn khéo chỉ bày, bao nhiêu những lời Báu Ngọc Dưỡng nuôi, làm cho Tự Tánh rực rỡ mở mang mà Giác Ngộ, làm cho Hòa Hợp Mình và mọi người Đồng Nhất. Làm cho Bốn loài thoát sanh, làm cho HỮU VÔ Bình Đẳng tỏ ngộ sự lầm lẫn Bờ Ngăn, làm cho Tự Biết tận cùng CHÁNH BÁO đặng thọ lãnh.

Ngài lại căn dặn sự tu hành đời sau trong Kinh VIÊN GIÁC như:“Đời sau nếu các Ông gặp đặng THIỆN TRÍ THỨC chỉ bày tu tập, Bậc ấy là PHẬT, mà các ông TRỌN TIN VÂNG lãnh hội thì các ông cũng đặng thành PHẬT. Các ông gặp BỒ TÁT, Tin Vâng lãnh hội liền đặng thành BỒ TÁT. Gặp LA HÁN hay BÍCH CHI Tin Vâng lãnh hội liền đặng thành LA HÁN BÍCH CHI. Hoặc giả gặp NGOẠI ĐẠO TÀ GIÁO đồng Tin Vâng lãnh hội liền thành TÀ GIÁO NGOẠI ĐẠO vậy.”

Sau lần lượt các TỔ theo DI TRUYỀN, TRỌN TIN tu sửa cấu tạo CHÍ NGUYỆN nung đúc lề lối, vẫn Thuyết Pháp Độ Sinh, vẫn làm theo các TÔN CHỈNH ĐẠO TRÀNG, Đồng Hợp với Chí Nguyện của THẾ TÔN chẳng sai khác, thảy đều thành tựu CHÁNH BÁO VÔ THƯỢNG đặng VIÊN MÃN nhập NIẾT BÀN in như PHẬT.

Con đường DUY NHẤT TRI KIẾN GIẢI THOÁT lãnh CHÁNH BÁO VÔ THƯỢNG chư PHẬT đã đặng, Chư TỔ đã chỉ bày liên tiếp không ngừng, thời nào cũng có, con đường ấy là BỔN NGUYỆN chung.

Nếu những Bậc tu hành lập CHÍ NGUYỆN mà tu sửa cầu lấy tiến bộ hiểu biết, nương theo HẠNH NGUYỆN của BỒ TÁT HẠNH mà tu đồng với CHÍ NGUYỆN BẤT BIẾN thời đặng Tri Kiến Giải Thoát đều đặng CHÁNH BÁO TRỌN VẸN VÔ THƯỢNG vậy.

NAM MÔ GIÁO CHỦ HIỆN TẠI
BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

18. PHI NHÂN DUYÊN

PHI NHÂN DUYÊN là một PHÁP mà Chư BỒ TÁT cùng Bậc CHÁNH GIÁC đã thấu tỏ. Các Bậc ấy thường thâm nhập PHI TỨC và TỨC PHI không lầm lấy một Pháp. Nên Vô Ngại Tự Tại Thân Tâm VIÊN TỊCH ra vào VIÊN GIÁC. Bởi vậy nên tất cả việc làm, cùng với cử chỉ đều vì HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH khó nghĩ bàn hay phê phán đặng.

Lúc vì Bổn Nguyện nên Chư BỒ TÁT Chơn Giác vẫn đồng nương theo Nhân Duyên Pháp, lại thường nói Pháp NHÂN DUYÊN làm cho Chúng Sanh không nhàm chán Đạo Tràng mà rời bỏ trên con đường TU PHẬT. Trong một thời gian đầy sự HIỂU BIẾT, tánh tình Bình Dị, nói năng thuần túy, Tâm rỗng rang, lại ý chí Kiên Dũng đầy đủ Đức TIN con đường TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Trong khi ấy các Nghiệp Đảo Vọng lần lần tiêu giảm. Chư CHÁNH GIÁC tùy thuận theo đó mà nói Pháp PHI NHÂN DUYÊN, để Chúng Sanh tự tỏ phá chấp NHÂN DUYÊN PHÁP. Đó chính là một phương tiện làm cho Chúng Sanh chẳng Chấp Pháp mà Rõ Biết sự tu hành là một Phương tiện Cứu Cánh Giải Thoát, chớ chẳng phải TU để vào mắc trong NGHIỆP TU vậy.

Do đường lối chỉ bày khéo của Bậc TRI ĐẠO và Khéo THUYẾT ĐẠO, nên từ MÊ LẦM tu đến KHÔNG LẦM, từ chấp pháp NHÂN DUYÊN tu đến PHI NHÂN DUYÊN cũng không. Biết thấu PHI TỨC liền lạc sự TỨC PHI hoàn toàn không Tập Khởi mà vào CHƠN GIÁC.

Sau đây là PHẨM PHƯƠNG TIỆN vì Tình Thương DUY NHẤT, vì HÀNH NGUYỆN ĐỘ SANH của Chư BỒ TÁT và Chư PHẬT, phơi bày tất cả sự PHI TỨC cùng TỨC PHI, NHÂN DUYÊN hay PHI NHÂN DUYÊN trong các Pháp vì sự lầm mê đảo loạn mà tùy thuận nương chìu để diễm nói làm cho Chúng Sanh tu hành đặng Chơn Giác. Chớ thật ra Chư BỒ TÁT cùng CHÁNH GIÁC chẳng có chi gọi là PHÁP PHẬT. Vì Chúng Sanh mà có PHẬT PHÁP vậy.

PHẨM PHƯƠNG TIỆN

Vào thời quá khứ A Tăng Kỳ Kiếp nọ. Có Trưởng Giả tên KIÊN ĐỀ NI bị sanh trong một nước. Nước ấy DÂN CƯ đông đảo, nhưng cực khổ vì MƯA không thuận, Gió chẳng hòa, thường bị Thiên Tai Thủy Ách. DÂN CƯ thì đa số nghèo cực ít kẻ giàu sang, nhọc nhằn hơn là Sung Túc. Mỗi một ngày chưa VUI trong một lúc, Mỗi một tháng chưa hưởng Sướng được một ngày. Mỗi một năm chưa đặng an vui trong một tháng. Phần nhiều yếu đau hơn lành mạnh, lo sợ hơn Sống Yên, Phiền Não hơn Sướng Vui. Vì lẽ ấy nên DÂN CƯ tranh giành bởi mong sao tấm thân Nhàn Hạ. Thù Hận vì món ăn manh áo, chém giết vì Được Mất Hơn Thua. Nhai nuốt vì thèm khát, Dâm dục bởi ước mơ. DÂN CƯ không ngừng sự đòi hỏi mà tự gây tạo Trả vay cùng Vay trả vậy.

Trưởng Giả KIÊN ĐỀ NI được một cái là Giàu Sang Sung Sướng hơn Dân Cư. Ý Chí và Tâm Tánh rộng rãi hơn Dân Cư. Biết thương đám Dân Cư vì bị nghèo. Nên chi Trưởng Giả thường giúp đở bằng mọi cách nhưng với mức độ có hạn, không thể cứu giúp theo Chí Nguyện của Trưởng Giả.

Trưởng Giả thường quan sát hay suy nghĩ nhận xét thấy Dân Cư các khía cạnh như: Lam lũ vì ý chí yếu hèn, Thấp thỏi trong các nghề nghiệp của mưu sanh. Trưởng Giả càng ngày lại càng tỏ tình thương hại.

Một hôm Trưởng Giả nghĩ thầm và quyết định tự nói: TA không thể ngồi yên mà suy nghĩ khi Dân Cư: SANH TỬ BỆNH KHỔ. TA phải làm và phải tìm phương thức cứu nguy. Chí nhất định xong bèn thu xếp hành trang tìm cho đặng Ngọc LƯU LY HOÀN CHÂU đem về giải ách. Trưởng Giả bước ra khỏi cửa: Bèn ngước mặt lên Hư Không tỏ bày sự cao cả chung cùng tròn khắp, êm ấm bất tận với mọi người có những gì đem lại Dân Cư.

Trưởng Giả mỗi một mình nhắm hướng Đông đi mãi. Ngày... Tháng... lần qua theo gót chân Trưởng Giả... Khi qua khỏi rừng lúc qua khỏi Núi, cùng với chim hót gió đưa trong BA NĂM ròng rã. Đến một con Sông rộng, choáng lối đi chẳng còn cách gì đi đặng nữa. Trưởng giả liền vào khu rừng bên cạnh lấy SÁU KHÚC CÂY đóng BÈ chắc chắn và một gậy Trúc làm sào lướt qua SÔNG CÁCH...

Thân Tâm Trưởng Giả êm dịu đến bãi cát vàng xinh xắn, gió mát cảnh vui, muôn màu tươi sáng. Trên bãi có một ngọn THÁP óng ánh mái vàng. Trưởng Giả từ từ đi đến, thấy có tấm Biển đề hai chữ BẢO CHÂU. Trưởng Giả lòng mừng bước vào có VỊ SƯ đã đón sẵn.

Hai bên chào hỏi đầy đủ nghi lễ và cùng nhau ngồi thứ lớp Trưởng Giả đứng lên nghiêng mình xá VỊ SƯ: Thưa gởi tất cả Ý Định của Mình và mong tìm LƯU LY HOÀN CHÂU về cứu giúp Dân Cư đang bị: SANH TỬ BỆNH và KHỔ, đặng lành mạnh an vui giàu sang bất tận. Vị SƯ bình dị lại thong thả nói: Nầy Trưởng Giả, ở đây chẳng thiếu chi châu báu, chẳng thiếu chi Ngọc Bích Trân Châu, chẳng thiếu chi Cành Vàng Hoa Ngọc, chớ chẳng riêng gì Lưu Ly Hoàn Châu của Trưởng Giả vừa nói. Nhưng các Châu Báu ấy nó có thể làm cho Vui Thích một hồi rồi cũng chán. Nó có thể làm cho Áo đẹp Nhà sang, rồi cũng không ngừng lòng Tham Muốn. Nó có thể cung cấp cho các món ăn ngon ngọt rồi cũng nhàm, chớ không tồn tại vì viễn vông, chớ không giải khổ đau vì Sanh Tử. Nó chẳng tận cùng của tập khởi não sanh, nó chỉ ĐỘ một đoạn đường vì Công Đức. Vì sao? -Vì nó còn SẮC VỌNG.

Trưởng Giả nên qua khỏi BIỂN CẢ NĂM MÀU không mắc miếu đến ĐÔNG ĐỘ DƯỢC SƯ mà thọ lãnh HOÀN CHÂN BẤT BIẾN. Nói xong vị SƯ chu cấp tất cả các vật dụng, đưa Trưởng Giả đến bờ biển NĂM MÀU, Trưởng Giả lòng không nghi kỵ, Vị SƯ lại lấy trong tay áo ra Chiếc Thuyền xinh xắn nhẹ nhàng đặt trên mặt biển.

Hai bên cáo biệt nhau và cầu chúc nhau xong, chiếc thuyền nọ trở thành to lớn đầy đủ tiện nghi cho Trưởng Giả. Thuyền xuôi dòng trên mặt nước, qua Năm Màu sắc lạ lùng như: NGHI, SỢ SỆT, NÔN NÓNG, MONG MUỐN cùng NGẪN NGƠ... Nhưng đối với Trưởng Giả vì tình DUY NHẤT chẳng riêng tư, không cầu cạnh, Nhất Tâm BI DŨNG, HẠNH NGUYỆN ĐỘ DÂN, nên không chán nản, chẳng hoài nghi, lướt qua các ngọn Sóng diễn từng MÀU thay đổi, Tâm không Sờn, Ý chẳng động vọng, trọn 49 ngày đêm qua BỜ BÊN KIA.

Khi Trưởng Giả vừa đặt chân lên bờ, Trưởng Giả tự nói: Lạ thay! Lạ thay! Không còn ngọn gió đảo điên, chẳng còn tối tăm mờ mịt. Không còn Thân Tâm động vọng. Chẳng còn Tập Khí Viễn Vông. Không còn nghi ngờ Hai Pháp. Chẳng còn phân đôi Thân Cảnh. Không còn để nói Duy Nhất CÓ-KHÔNG. Đâu là PHI? Đâu là TỨC? Đâu đâu trùm khắp Viên Dung , khó nói, khó bàn, khó biện minh ra đặng. Vì sao? Vì vượt tầm lý luận, vượt tầm hiểu biết nói năng, duy chỉ có SỞ ĐẮC mà thôi.

Trưởng Giả ngồi yên lặng, quan sát Dân Cư trong nước Bị Sanh, trong Cảnh Bị Giới, Trưởng Giả thật biết BỔN LAI nguồn gốc không đảo vọng, không tranh giành phân biệt, không chia rẽ thù hằn, không chém giết nuốt nhai, không chê khen phải quấy, không Ái Nịch gần xa, không đắm say Thiện Ác, không Đạo Đức cũng không lìa bỏ Đạo Đức. Tất cả thảy đều VIÊN TỊCH ĐẲNG MINH CHÁNH GIÁC, vẫn khó bàn, khó nói, vượt tầm biện luận, không Hai chẳng khác sai VÔ THƯỢNG.

Trưởng Giả lại chân biết: Dân Cư bị sanh trong nước. Nước ấy hiện hành có BỐN CON QUÁI. Bốn con ở bốn nơi Đông Tây Nam Bắc. Bốn con Quái ấy ngày đêm thi nhau phun hơi độc làm cho DÂN CƯ biến TÁNH CHÂN NHƯ trở thành NÓNG LẠNH LỘNG HÀNH. Bốn Tánh ấy nó cũng là CÁI MUỐN và NGHĨ làm theo ý nghĩ, trở thành tư riêng vị kỷ thành thử có muôn ngàn vạn pháp gọi là NGHIỆP, chớ Dân không có Nghiệp (do vậy PHẬT nói chúng sanh bị nhiễm độc mà mê lầm) lại lầm nhận là Mình. Bốn chất độc ấy nó cũng thành SÁT-ĐẠO-DÂM, chớ Dân Cư Bổn Lai không có Sát-Đạo-Dâm, nhưng nhận là Mình thành có Sát-Đạo-Dâm. Chất độc nó là một mối giềng đối đải không ngừng, chớ dân không có Đối Đải, vì trót Mê mà có đối đải. Vì Tập Khởi và Chấp nhận nên bị nhiễm SANH TỬ LUÂN HỒI.

Bốn con Quái ấy nó lại phun hơi độc lên Hư Không và Biển Cả. Nên trên Hư Không có từng đám mây buông tỏa, có Năm Màu Sắc chuyển xây, có gió lộng không ngừng, có đốm sao cùng khắp biến thể mặt Trời, mặt Trăng tiêu biểu cho TỐI SÁNG ĐÊM NGÀY.

Dưới nước có SÓNG NGHIỆP diễn thao tượng trưng cho Thế Gian lăn lộn các Nghiệp không ngừng, khổ sướng tranh nhau và vẫn có NĂM MÀU không khác với HƯ KHÔNG vậy.

Còn nơi đất liền nhà cửa Dân Cư vì điên loạn mê mờ trở thành SẮC THỤ TƯỞNG HÀNH THỨC, chung lại Ngũ Ấm Lục Trần hay còn hơn thế cũng vì Đảo Loạn thọ chấp nên hình quay cuồng tham muốn. Trưởng Giả lại biết tỏ rõ tận cùng nguồn gốc Tử Sanh thay phiên đổi lớp, diễn biến từng Cảnh, vì tập khởi mà thành, vì chấp vọng ái nịch trong Nhân Duyên mà bị, diễn nên tấm tuồng Vợ Chồng, Con Cái Lớn Nhỏ Bà Con Nội Ngoại quyến thuộc quay quần trong tình Đồng Nghiệp, Trưởng Giả chân biết tỉ mỉ cùng khắp tận từ không thiếu sót mảy may, bèn đứng dậy phủ áo đâu đấy xong xuôi lấy chiếc Thuyền thâu nhỏ bỏ vào tay áo, bước một bước về đến nhà.

Lúc bấy giờ Dân Cư hay tin Trưởng Giả đã về và đã tìm đặng nhiều báu vật bố thí cho Dân. Họ cùng nhau bàn tán, nào là cả gánh, cả khiêng, cả bao cả bọc, mỗi người được một viên thì giàu sang vô kể. Họ mới sắp đặt từng lời nói, từng cử chỉ để biện minh Gia Cảnh mong được sự cứu giúp nhiều hơn.

Khi bàn định xong đâu vào đó, họ bèn cùng nhau đến nhà Trưởng Giả. Kẻ nói chuyện nầy, người kể cảnh nọ, đua nhau mà bày tỏ.... Trưởng Giả bình tỉnh để cho Dân Cư bày tỏ đâu vào đó xong, Trưởng Giả bèn đem chuyện thật ra mà nói, Dân Cư thảy đều ngơ ngác nản chí nên chẳng hiểu đặng, nghe đặng mảy may nào, lại thêm buồn ngủ, kẻ ngáp dài, người thời ngứa ngáy bồn chồn, cùng nhau bỏ ra về chẳng còn lấy một người ở lại.

Trưởng Giả mới nghĩ: Lạ thật! Lạ thật! Tại sao Dân Cư chẳng nghe được lời TA nói? Chẳng TIN TA chân thật? Tại sao nói Thật Tướng không thọ lãnh đặng? Ta chỉ bày mối lợi vô kể mà không nhận, lại đòi hỏi cái điên cuồng nhỏ nhen không bền chắc? Tại sao vậy? Vì sao vậy?

Trưởng Giả lại quan sát: Từ trên đến dưới, từ trong ra ngoài, từ sơ nhiễm đến tập nhiễm, từ sơ khởi đến tập khởi, từ Khởi Tín đến TIN VÂNG, từ ưa muốn đến không muốn, từ không muốn đến đặng muốn, từ chưa nghe đến đặng nghe, từ chưa thấy đến đặng Thấy, từ chưa biết đến đặng biết. Từ một Pháp đến vạn pháp lầm chấp, nhận lãnh mà điên loạn, theo sự điên loạn mà Khởi Muốn cũng điên loạn nên BỊ SANH CHỊU TỬ phải xuôi dòng trong Di Chuyển mà luân hồi Sanh Tử.

Trưởng Giả soi khắp các CĂN NGHIỆP điên loạn ưa muốn không Đồng của DÂN CƯ vì tập nhiễm thanh thô nhiều ít, nên phát sanh khôn dại Tốt Xấu Giàu Nghèo mà tượng trưng cho Chánh Báo Y Báo cùng Phước Báo để trả vay. Mỗi mỗi không sai chạy vì Bốn CON QUÁI làm chủ ban cho nhiều ít. Phun hơi độc hóa sanh sanh hóa. Nó lại làm cho tất cả vật dụng cây lá biến thành muôn hình vạn cách cho Dân Cư ăn thôi ngoài ra chẳng có chi là khác cả.

Trưởng Giả đã quan sát tất cả chu đáo, bèn giả làm điên loạn cho phù hợp thích nghi từng lớp Dân Cư, làm cho Dân Cư ưa thích dùng phương tiện ấy để dìu dắt Dân Cư đặng qua Bờ BẾN GIÁC, thụ lãnh HOÀN CHÂN là mục đích chính của Trưởng Giả vậy.

Trưởng Giả mới hô hào: TA ĐẶNG HOÀN CHÂN, TA ĐÃ CHÁNH GIÁC. Các ông mê mờ vì Vô Minh che lấp Sanh Tử Luân Hồi. Muốn đặng như TA phải TIN TA chỉ bày Nhất Tâm Kiên Dũng đặng thụ lãnh HOÀN CHÂN THIỆN MỸ, Giải Thoát TỬ SANH, THƯỜNG CÒN BẤT TẬN.

Từ ấy Trưởng Giả chung cùng với đám DÂN CƯ tùy theo căn cơ mà diễm nói các pháp, lần lượt có kẻ nghe hơi được, có người Được cùng chưa Được. Trưởng Giả dùng Nhân Duyên làm một mối liên hệ cho Đạo Tràng. Lấy Nhân Duyên Sanh làm sự tăng trưởng Trí Tuệ. Lấy Pháp Tứ Đại làm cho chẳng chìm đắm và thân điên loạn. Lấy 36 Pháp Bất Tịnh giảng giải làm cho chung cùng Bình Đẳng. Lấy Vô Ngã làm pháp né tránh chỉ chỗ điên loạn Dân Cư. Trừ giảm Ái Nịch mà nói pháp Vô Thường. Giải hận thù mà nói pháp Đại Bi. Mở Tâm Bủn Sẻn nói pháp Bố Thí. Phá Tánh buông lung mà nói pháp Tinh Tấn Nhẫn Nhục. Trên con đường chỉ dạy cho DÂN CƯ khi Thuận lúc Nghịch, khi khen lúc chê, tùy tùy theo để diễm nói, miễn cho Dân Cư Trí Tuệ Tăng Trưởng Tâm Ý rỗng rang Tánh Bình Đẳng, sáng soi Nghiệp Thức cùng Vọng Khởi của Bốn CON QUÁI mà mình lại lầm nhận. Sau khi Tỏ Biết không còn lầm nó nữa gọi là Tỏ Tánh cũng gọi là GIẢI THOÁT của: CHỈ ĐỊNH DUY NHẤT vậy.

Khi ấy đặng Tự Tại Vô Ngại vì RÕ các Pháp. Cũng như kẻ rõ biết mình CÓ bệnh điên loạn vì bị nhiễm độc do bốn con Quái nên chữa đến KHÔNG còn bệnh. Chớ chẳng phải chính BẢN THÂN của mình không đâu. Chẳng khác KHÔNG TA trong thời điên loạn, CÓ TA Chánh Giác chung cùng trùm khắp Bất Nhị. Lắm Bậc CHẤP KHÔNG vì chưa Tỏ Tánh nên bị sa vào PHI PHI TƯỞNG.

Lúc ấy Trưởng Giả biết tầm hiểu biết DÂN CƯ bèn nói pháp PHI NHÂN DUYÊN và chỉ bày HẠNH NGUYỆN, để rõ lối Mê Lầm của mình, đặng SẠCH NGHI qua BỜ BẾN GIÁC vậy.

Bấy giờ NHÀ VUA nghe tin Trưởng Giả tìm đặng CHÂU QUÝ BÁU LẠ nhà Vua bèn nghị bàn với các QUAN. Qua ngày hôm sau cùng với Hoàng Hậu Thái Tử Cung Nga Mỹ Nữ và Quan Quân đem theo Ngựa xe Lọng Phướng và Voi Lạc Đà để chuyên chở Hành trang. Lại tất cả Nam Nữ trong Cung và ngoài Thành đồng đi theo Nhà Vua đến nơi Trưởng Giả để cầu hỏi.

Trưởng Giả đã biết Nhà Vua đến, nên Ngài bảo DÂN CƯ đâu đó ngồi êm bất động, Một khẻ không khua, duy chỉ có Gió vẫy cành cây, mây luồng theo gió.

Nhà Vua cùng tất cả đến nơi, để ngựa xe voi lạc đà mà đi bộ. Nhà Vua vừa đi vừa nghĩ thầm:TA chưa bao giờ đặng chốn êm lặng như thế nầy, chưa bao giờ để cho cây cỏ sống tự nhiên, chưa bao giờ để cho CUNG NGA yên giấc, chưa bao giờ để tiếng nhạc nghỉ ngơi, chỉ trừ khi Ta êm giấc. Nhà Vua lại nhìn xét các Quan Hầu, các quân lính cùng khắp mọi người chìu chuộng Nhà Vua, chăm sóc Nhà Vua từng ly từng tí, chẳng khác nào nuôi nấng trẻ thơ sinh, gìn giữ bảo vệ Nhà Vua chẳng hơn người bị canh gác trong một qui định của thiên nhiên bắt buộc. Nhà Vua nghĩ đến đó liền đưa tay khoát QUAN QUÂN HẦU CẬN dừng bước đi sau, để Nhà Vua tự do đi trước. Khi đi Nhà Vua thầm nghĩ nhận thấy khoan khoái lạ thường, thung dung vô kể. Nhà Vua lại tự cho là BÁU LẠ giúp ta chăng, liền có một sự vui vẻ cực kỳ làm cho Thân Tâm kính mến.

Nhà Vua đến trước Trưởng Giả cung kính vái chào, Trưởng Giả nghiêng mình đáp lễ, Vua Quan thứ lớp ngồi yên đâu vào đó. Nhà Vua bèn đứng dậy thưa hỏi: Tất cả các Châu Báu mà Trưởng Giả tìm đặng có vật nào là quý hơn cả? Vật ấy có phép lạ chi chăng? Trấn an thế nào? Bền bĩ đến đâu? Xin Trưởng Giả giải đáp.

Trưởng Giả nói: Kính thưa NHÀ VUA, các Báu tôi tìm đặng rất nhiều không thiếu sót, vật nào nếu hợp việc dùng thời quý hơn cả: Cũng pháp lạ vô cùng, cũng trấn an trộm cướp, cũng bền bỉ bất tận. Nhưng có một cách lạ lùng, cho mà không lấy được. Vì sao?

Vì tự hạ phàm phu. Tự tăng Thánh Sống
Gìn giữ CỦA MÌNH. Cho Ta là phải
Đuổi bắt Hư Danh. Theo toàn Vọng Ước
Bất Tín Hồ Nghi. Cản ngăn sự lành

Những cái ấy, nó làm cho KHÔNG THẤY đặng, KHÔNG NGHE đặng lại KHÔNG BIẾT đặng của CHÂU BÁU, thời làm sao mà thọ lảnh?

Nhà Vua thưa hỏi:
Làm thế nào đặng THẤY?
Làm thế nào đặng NGHE?
Làm thế nào đặng BIẾT?

Trưởng Giả nói:
Muốn THẤY vật lạ Phải làm SỰ lạ
Pháp lạ khó NGHE Nhà VUA phủ xả
Tất cả THIỆN ÁC TÂM Ý rỗng rang

Để nghe tôi nói:
Nhà Vua bèn ngồi yên Bất Động.
Trưởng Giả nói: Nầy NHÀ VUA:
Chỉ Quán Thân Ta. Như chết chưa chôn
Buông xuôi Thương Ghét. Quan Sát Thế Gian
Quá MUỐN thành Tham. Điên loạn Dọc ngang
Nên thành Thuận Nghịch. Luyến yêu Ái Nịch
Xoay chuyển mịt mù. Được Mừng, Mất giận
Riêng TA không hận. TÂM Ý rỗng rang
Tánh THẤY quân bình. Báu hết rung rinh
Gọi là NHÃN TỊNH. Đó là CÁI THẤY

CÁI NGHE:
Nghe pháp lạ không NGHI Cũng không nhàm chán
Cầu Tiến không ngừng. Ví người mài gươm báu
Miễn bén là hơn. Đặng CÁI NGHE Bất Nhị

CÁI BIẾT:
Biết nhỏ chẳng chê Biết lớn không mừng
Biết nhiều chẳng Phách. Biết lắm không thôi
Chừng nào CHÁNH BIẾT. Mà Đắc TẬN BIẾT
Thọ lãnh HOÀN CHÂN THIỆN MỸ

Nhà Vua nghe xong mừng rỡ liền đảnh lễ Trưởng Giả và nói: Chưa bao giờ được NGHE, nay đặng NGHE. Chưa bao giờ Thấy những cái khó làm, nay Quyết Làm. Chưa bao giờ muốn Biết những cái Khó Biết, nay Quyết Biết.

Nói xong Nhà Vua bèn hỏi các DÂN CƯ các Pháp nào đã đặng? Các món nào đã đến? DÂN CƯ đồng thưa với NHÀ VUA:

Cái ĐẶNG đều khó đem bày
Lần hồi được Biết mới hay kia mà
Nào đem Tỏ nói chỉ ra
Nhất Tâm BI TRÍ, rõ hòa CHÂN NHƯ.

NHÀ VUA nghe xong lại hỏi tất cả Hoàng Hậu Thái Tử cùng với Quan Quân và Cung Nữ, ai muốn về TRIỀU thì tự ý về. Tất cả đều thưa: Muôn tâu Bệ Hạ, Bệ Hạ cho chúng tôi đồng ở lại, một là gần Trưởng Giả để học NGHE THẤY BIẾT Bản Thân. Hai nữa gần Bệ Hạ để hôm sớm cùng nhau cho trọn nghĩa Quân Thần.

Nhà VUA nói: Ta khá khen cho các ông, biết chọn Bản Chân mà xa lìa Danh Lợi, Cầu GIÁC hơn cầu giàu sang hư Vọng. Vậy các ông cùng ở lại.

Từ đó ở lại tu tập Trưởng Giả chỉ bày không thiếu sót. Khi đặng TIN VÂNG KÍNH trọn vẹn thuần túy, Trưởng Giả và tất cả ra đi.

Vẫn qua các khu rừng và các dãy núi như trước, vẫn lướt khỏi SÔNG CÁCH... lên đến bãi cát Vàng, thời ngọn tháp BẢO CHÂU đương nhiên to lớn Mái Tháp trổ ánh vàng rực rỡ, cây cảnh tươi vui êm dịu, tiếng nhạc du dương, các loài chim như Khổng Tước, Oanh Võ kêu vang mừng rỡ, muôn màu sắc đều có Hào Quang soi sáng Dân Cư cùng tất cả nhẹ nhàng khoan khoái khó mà kể đặng.

Khi ấy có một số Dân Cư quá ư mừng rỡ mến tiếc phân vân, liền đến van xin Trưởng Giả cho được ở lại nơi đó mà tu. Trưởng Giả vừa đồng ý ưng chịu, tức thời cũng trong lúc đó trên ngọn Tháp bỗng tiếng chuông ngân vang dậy, mùi hương bay tỏa khắp nơi bãi cát vàng trở thành muôn Châu vạn Ngọc.

Nhà Vua cùng Dân Cư thưa hỏi: Kính thưa Trưởng Giả, vì nhân duyên gì mà nơi đây lại có các Châu hiện khắp, có hương và hào quang tô điểm muôn màu, khi Trưởng Giả ưng chịu cho một số xin ở lại. Trưởng Giả nói: Các Ông cũng nên biết rằng: Số xin ở lại là vì SẮC VỌNG chưa liền, TẬP KHỞI chưa hết, MONG MUỐN chẳng sạch, mến thương luyến tiếc, xin ở lại để mà tu, Khi các bậc ấy tu xong sẽ THẤY, sẽ BIẾT, sẽ gặp VỊ ĐẠI GIÁC đưa qua Bờ BÊN KIA vậy.

Trưởng Giả nói xong bèn với tất cả mọi Dân Cư, Nhà Vua đều ra đến Biển NĂM MÀU, lúc ấy tất cả thảy đều không còn lấy một Nghi Ngại nào cản ngăn hay xâm chiếm đặng. Vì nhờ như vậy nên rỗng rang bình dị. Trưởng Giả bèn lấy trong tay áo một chiếc thuyền, lại nhẹ nhàng đặt trên mặt nước. Thuyền bỗng trở thành to lớn đầy đủ tiện nghi chẳng thiếu sót. Tất cả vừa bước lên thuyền đâu đấy xong xuôi bỗng trên hư không có tiếng nhạc Trời các Hoa Đàm trải khắp mặt biển. Lại có tiếng tán thán không ngừng của các hạt Châu rơi sáng cả Biển.

Nhà Vua cùng Dân Cư đồng thưa hỏi: Trưởng Giả mới nói: Các Ông cũng nên biết rằng: Tiếng nhạc Châu rơi cùng những lời Tán Thán ấy là do BỐN VỊ HỘ PHÁP khi còn ở nơi đây mà nói thế. Đến lúc vào Bờ BÊN KIA, BỐN VỊ ấy chính là NHƯ LAI TẠNG, cũng gọi là PHÁP TẠNG trợ duyên cho các Ông. Khi còn mê mờ BỐN VỊ ấy giả đò làm BỐN CON QUÁI, đó chính là một BỔN NGUYỆN thôi, các Ông chớ nghi, chớ nghĩ bàn. Vì sao? -Vì việc làm của NHƯ LAI khó nói.

Các Bậc đều đảnh lễ ngồi im lặng.

Khi vừa đến bờ bên kia, đồng bước chân lên bờ đồng nhau thảy đều nở một nụ cười bất tận.

So vào PHẨM PHƯƠNG TIỆN trên đây đủ nhận thức mà rõ biết pháp PHI NHÂN DUYÊN đối với Chư BỒ TÁT cùng với Bậc ĐẠI GIÁC mà thôi. Còn ngoài ra phải nương theo Nhân Duyên Pháp tu hành, nếu trong sự PHI TỨC (Có Không) chưa đặng tỏ rõ tận cùng, chớ nên vì lối nhận lờ mờ phá chấp, tự sinh Tăng Thượng để phán phê tất cả việc làm của BỒ TÁT đồng xem Kinh chỉ vào việc làm của PHẬT hay lời nói của PHẬT vội cho mình đã biết mà bị lầm.

Đối với Chư BỒ TÁT trong thời Độ Sanh vì chúng sanh dùng tất cả Phương Tiện cùng nương theo Nhân Duyên mà chỉ bày dạy dỗ chúng sanh khi làm THUẬN lúc làm NGHỊCH HÀNH, hoặc giả có muôn ngàn Sở Chấp chăng cũng không có một Chấp. Vì sao? Vì Hạnh Nguyện mà in tuồng như vậy, chớ thật Chư BỒ TÁT trơn liền không mắc miếu TỨC PHI nên chẳng có PHI-TỨC.

Vì vậy cho nên Chư BỒ TÁT càng ngày càng Phước Điền Tăng Trưởng chớ không có tội, chỉ vì BỔN NGUYỆN mà thôi.

Tất cả các Bậc tu hành nên nương theo NHÂN DUYÊN mà tỏ biết PHI-TỨC cùng TỨC-PHI đặng vào CHƠN GIÁC vậy.

NAM MÔ ĐÔNG ĐỘ HIỆN GIÁC
DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI

17. PHÁP ĐẢNH ÁO ĐẠI GIÁP

PHÁP ĐẢNH ÁO ĐẠI GIÁP nương theo Công Đức của NHƯ LAI làm Hạnh Nguyện trong các Pháp đầy đủ THUẬN NGHỊCH Tâm không quái ngại mà thành tựu ÁO ĐẠI GIÁP liền Thọ Ký thành PHẬT.

Áo Đại Giáp như PHẬT đã đặng, chư BỒ TÁT cùng BỒ TÁT MA HA TÁT sắp đặng. BÍCH CHI, A LA HÁN sẽ đặng. THINH VĂN DUYÊN GIÁC đồng với Bậc ĐẠI TRÍ TUỆ đang làm. Bậc TIN PHẬT sắp làm, kẻ THIỆN CĂN muốn làm đều tu Hạnh Nguyện. Trước sau hay sau trước lần lượt thảy đều tạo nên Áo ĐẠI GIÁP được cả.

Đức THÍCH CA MÂU NI PHẬT khi Ngài đặng Thọ Ký thành PHẬT, Ngài vẫn đầy đủ 32 Áo Đại Giáp cùng 32 Tướng Tốt và Mười DANH HIỆU như: ỨNG CÚNG. CHÁNH BIẾN TRI. MINH HẠNH TÚC. THIỆN THỆ. THẾ GIAN GIẢI. VÔ THƯỢNG SĨ. ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU. THIÊN NHƠN SƯ. PHẬT. THẾ TÔN.

Ngài bèn dùng PHẬT NHÃN BẤT NHỊ soi khắp thấy Bình Đẳng, hằng hà sa số PHẬT, Vô Lượng Công Đức PHẬT. Vì Công Đức Vô Lượng ấy nên không thể đem đặng TƯỚNG PHẬT mà diễn tả hay nghĩ bàn đặng. Cũng không thể chỉ nơi chốn cùng việc làm của Chư PHẬT đặng. Vì Chư PHẬT không có Biên Giới Hạn Lượng nên được trùm khắp, thì Áo ĐẠI GIÁP cũng trùm khắp vậy.

Ngài lại dùng HUỆ NHÃN soi khắp TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, Ngài tỏ rõ từng Thế Giới, từng Bậc TU CHỨNG từ CÓ đến KHÔNG và cũng từ KHÔNG đến CÓ cùng KHÔNG KHÔNG của KHÔNG KHÔNG luôn. Trong TAM THIÊN và các THẾ GIỚI đâu đâu CŨNG MẮC MIẾU vào hạn lượng mong cầu đặng chút ít Áo Đại Giáp hữu hiệu nương nhờ thế mà vui mừng hoan hỷ Nhạc Phách ngày đêm nơi Hạn Lượng ĐÃ TẠO và ĐÃ ĐƯỢC HƯỞNG. Còn Bậc Đại Trí Nhất Tâm tạo nên Áo Đại Giáp thường chẳng kể lể, không mong cầu Công Đức ấy. Vì sao? Vì Sở Nguyện tạo Áo Đại Giáp để Cúng Dường cho NHƯ LAI thành thử không màng đến Thọ Hưởng hiện tại, mà cầu Thọ Ký thành PHẬT để Báo Ân NHƯ LAI cùng ỨNG CÚNG CHÁNH BIẾN TRI trong MƯỜI DANH HIỆU.

Đức THẾ TÔN Ngài lại dùng CHỦNG TRÍ không phân biệt đồng MỘT mà Ngài vì Chúng Sanh quan sát từ trên đến dưới, từ trong ra ngoài, trong muôn ngàn Thế giới cùng khắp. Tất cả các Cõi ấy và Cảnh Giới đang thuyên diễn ấy thảy đều SẴN CÓ đầy đủ CHỦNG TRÍ y như PHẬT không sai khác. Nhưng bởi mong cầu và Hạn Lượng phân chấp: CÓ KHÔNG. TRÊN DƯỚI. TRƯỚC SAU ngăn biệt nên Bị Biệt, thành thử Tâm Ý hẹp hòi, Trí Tuệ nông cạn, Hiểu biết nhỏ nhen. Do lẽ ấy nên thiếu khuyết sanh sợ sệt chẳng dám tạo đầy đủ 32 áo Đại Giáp, tự tạo phần nào chỉ mong cầu hưởng phần đó thôi. Vì sao? - Vì chấp nơi CÓ-KHÔNG-CÒN-MẤT mà sợ vậy.

NGÀI CHƠN BIẾT sự ĐỒNG CHỦNG TRÍ của chúng sanh chẳng thiếu với Ngài, nên Ngài bèn chỉ thẳng với chúng sanh rằng: “TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH. CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH” đặng làm cho chúng sanh mạnh dạn phát: ĐẠI BI TÂM. ĐẠI TRÍ TÂM và ĐẠI DŨNG TÂM làm cho Tâm không Quái Ngại mà tu hành Hạnh Nguyện trên đường LỤC BA LA MẬT ĐA, đặng tạo áo ĐẠI GIÁP kiên cố trùm khắp mà đặng thành PHẬT ĐẠO.

Đối với PHẬT Ngài chỉ bày chẳng thiếu sót trong TAM TẠNG Kinh và diễm nói còn nhiều hơn thế nữa. Từ Bậc chưa Độ đặng Độ, từ bậc chưa Tỏ đặng Tỏ Ngộ, từ chưa đặng Áo Đại Giáp mà tu tập đặng Áo Đại Giáp lần lượt đặng Thọ Ký thành PHẬT.

Ngài là Bậc TRI ĐẠO, Ngài là Bậc THUYẾT ĐẠO, tỏ nguồn gốc Mê chúng sanh nên chỉ bày tu học. Ngài lại QUYẾT ĐỊNH chúng sanh ĐẠI NGUYỆN sẽ THÀNH PHẬT. Nên Ngài mới nói trong kinh TÂM ĐỊA QUÁN, Phẩm THÀNH PHẬT như sau:

PHẨM: THÀNH PHẬT

( Trích Nguyên Văn )

Đức VĂN THÙ thưa gởi và Tán Thán rằng: NHƯ LAI ra đời hiếm có như HOA ĐÀM và GIẢ SỬ NGÀI ra Đời mà nói ra Pháp nầy cũng khó. Ba Pháp BÍ MẬT VÔ THƯỢNG PHÁP LUÂN của Tâm Địa Quán như thế, thực là lợi cho hết thảy Chúng Sanh, là đường Chính Chân Thật vào NHƯ LAI ĐỊA và BỒ TÁT ĐỊA. Nếu chúng sanh nào không tiếc Thân Mạng mà tu hành pháp ấy, sẽ chóng Chứng được BỒ ĐỀ.

BẤY GIỜ: Đức PHẬT bảo BỒ TÁT VĂN THÙ SƯ LỢI rằng:Nếu có Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn nào muốn tu tập được BA PHÁP MÔN BÍ MẬT, sớm đặng Thân Công Đức của NHƯ LAI, nên mặc 32 áo ĐẠI GIÁP KIM CƯƠNG của BỒ TÁT mà tu Diệu Quán ấy, thời quyết CHỨNG đặng PHÁP THÂN THANH TỊNH của NHƯ LAI.

Những gì là BA MƯƠI HAI thứ ÁO GIÁP ấy?

1.- Mặc áo Đại Giáp thụ khổ: Ở trong vô lượng kiếp vì chúng sanh chịu thay thế KHỔ cho chúng sanh mà không chán.

2.- Mặc áo Đại Giáp Bất Xả: (không ngừng bỏ) Thề độ vô lượng Hữu Tình cho đến con sâu, con kiến cũng không bỏ.

3.- Mặc áo Đại Giáp Bí Mật: Giác Ngộ chúng sanh trong giấc mộng dài Sanh Tử, an trí họ vào ba pháp Bí Mật (Tâm Bí Mật, Ngữ Bí Mật, Thân Bí Mật).

4.- Mặc áo Đại Giáp Hộ Pháp: Ủng hộ Phật Pháp trong hết thảy Thời, cũng như vang ứng tiếng.

5.- Mặc áo Kim Cương Đại Giáp: Diệt hẳn sự Khởi lên hai KIẾN: HỮU VÔ (Có Không) và hết thảy phiền não.

6.- Mặc áo Đại Giáp Năng Xã: Dù đầu, mắt, tủy, óc, vợ, con, ngọc báu.... có người xin đều xã cả.

7.- Mặc áo Đại Giáp Năng Thí: Hết thảy đồ vui trong nhà hưởng thụ, quyết không Tham Trước, đem cho tất cả.

8.- Mặc áo Đại Giáp Năng Trì: Hay giữ Tâm tu Tịnh Giới của BỒ TÁT và không rời Hạnh ĐẦU ĐÀ.

9.- Mặc áo Đại Giáp Nhẫn Nhục: Gặp các Duyên Trái Ngược như: Nhục mạ, đánh đập... vẫn không báo thù.

10.- Mặc áo Đại Giáp Hồi Tâm: Giáo hóa những bậc Duyên Giác Thinh văn khiến họ Hồi Tâm đi về Nhất Thừa.

11.- Mặc áo Đại Giáp Tinh Tiến: Tinh Tiến độ các Hữu Tình, ví như gió lớn ngày đêm không nghỉ.

12.- Mặc áo Đại Giáp tu hành Giải Thoát Tam Muội: Thân Tâm Tịch Tịnh, Miệng không phạm lỗi.

13.- Mặc áo Đại Giáp Bình Đẳng: Làm ích lợi cho chúng sanh, coi SANH TỬ và NIẾT BÀN không có Hai Kiến.

14.- Mặc áo Đại Giáp Dữ Lạc: (Cho vui)

Đem Duyên Đại Từ làm ích lợi cho mỗi loài, luôn luôn không chán bỏ.

15.- Mặc áo Đại Giáp Bạt Khổ (nhổ khổ) Đem Vô Ngại Đại Bi cứu nhiếp hết thảy không hạn lượng.

16.- Mặc áo Đại Giáp Đại Hỷ: Đối với chúng sanh không oán ghét, luôn luôn làm sự lợi ích.

17.- Mặc áo Đại Giáp Đại Xã: Tuy làm Hạnh Khổ không sợ nhọc mệt, luôn luôn không thoái chuyển.

18.- Mặc áo Đại Giáp Bất Yếm: (không chán) Chúng sanh có sự đau khổ lại nơi Bồ Tát, Bồ Tát chịu thay khổ cho chúng sanh kia mà không chán ngán.

19.- Mặc áo Đại Giáp Giải Thoát Năng Kiến: Sự xem xét trông rõ ràng như xem quả A Ma Lặc (quả Vô Cấu Thanh Tịnh) trong bàn tay, như vậy Giải Thoát được sự Thấy.

20.- Mặc áo Đại Giáp Vô Trước: (Không Chấp Trước) Thấy thân ngũ uẩn như bọn Chiên Đà La (đồ tể) tổn hại việc Thiện.

21.- Mặc áo Đại Giáp Yếm Xã: (Chán bỏ) Thấy mười hai nhập (6 căn, 6 trần) như làng xóm trống, thường mang lòng sợ hải.

22.- Mặc áo Đại Giáp Đại Trí: Thấy 18 giới cũng như huyển hóa (6 căn, 6 trần, 6 thức) không có chân thực.

23.- Mặc áo Đại Giáp Chứng Chân: (Chứng Lý Chân Như) Thấy biết hết thảy pháp đồng trong Pháp Giới.

24.- Mặc áo Đại Giáp Xuất Thế: Che điều ÁC của Người, không giấu lỗi Ác của mình, chán bỏ Ba Cõi.

25.- Mặc áo Đại Giáp Hóa Độ: Như Đại lương Y Vương hợp bệnh cho thuốc, Bồ Tát tùy nghi mà diễn hóa.

26.- Mặc áo Đại Giáp Quy Nhứt: (Về Một không Hai) Thấy Chân Thể của Tam Thừa kia vốn không khác cứu cánh đồng qui về nơi MỘT Chân Như Nhất Thừa PHẬT QỦA.

27.- Mặc áo Đại Giáp Độ Nhân: (Độ Người) Nối ngôi Tam Bảo Chủng khiến không đoạn tuyệt, quay xe Diệu Pháp độ người.

28.- Mặc áo Đại Giáp Tu Đạo: PHẬT đối với chúng sanh có ân đức lớn, vì muốn Báo Ân PHẬT nên cần phải tu PHẬT ĐẠO.

29.- Mặc áo Đại Giáp Vô Cấu: (Bất cấu không nhơ) Quán bản tánh hết thảy Pháp không tịch, không sanh, không diệt.

30.- Mặc áo Đại Giáp không ngăn ngại: Ngộ VÔ SANH PHÁP NHẪN, được Đà La Ni nhạo thuyết biện tài Vô Ngại.

31.- Mặc áo Đại Giáp rộng hóa Hữu Tình: Khiến cho họ đặng ngồi dưới cây Bồ Đề chứng PHẬT QỦA NHẤT VỊ.

32.- Mặc áo Đại Giáp trong một Sát Na: Tâm tương ứng với Bát Nhã, chứng ngộ Đại Pháp VÔ DƯ trong BA Đời.

Thế gọi là BA MƯƠI HAI thứ KIM CƯƠNG ĐẠI GIÁP của BỒ TÁT. Nầy BỒ TÁT VĂN THÙ SƯ LỢI! Nếu có Thiên Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn nào THÂN mặc áo giáp trụ Kim Cương như thế nên chăm tu tập BA pháp BÍ MẬT. Trong đời hiện tại đủ Phúc Trí lớn, mau chứng được VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG BỒ ĐỀ.

Trích theo Kinh TÂM ĐỊA QUÁN, Đức THÍCH CA Ngài chỉ bày diễm nói như vậy. Các Bậc tu hành cần phải chịu ĐẠI NGUYỆN tất cả trên đường tu, gặp duyên THUẬN NGHỊCH của các Pháp thời TÂM buông xuôi, NGỮ buông xuôi để cầu CHÁNH GIÁC.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

16. CHÁNH TÍN

CHÁNH TÍN là SỰ TIN Duy Nhất Không Hai. Gọi là NHẤT TÂM. Nhưng về quan niệm nhận thấy thì chẳng mấy AI được gọi là NHẤT TÂM và CHÁNH TÍN cả. Vì sao? -Vì tất cả đều đang nằm trong MÊ LẦM đảo loạn riêng cách nhau, thành thử cùng một Chánh Tín đó, mà khác biệt nhau, chỉ vì tầm Hiểu Biết rộng hẹp lớn nhỏ tùy theo mỗi Bậc Tự Tín riêng phần. Chớ thật ra Chánh Tín nó vốn một gốc Bình Đẵng Bất Nhị. CHẲNG KHÁC NÀO: NƯỚC kia vốn đồng một THỂ TÁNH là: NƯỚC. Nhưng NƯỚC VŨNG là nước Vũng, chớ chẳng phải là NƯỚC GIẾNG. Còn nước Giếng là nước giếng chớ chẳng phải là NƯỚC AO. Nước Ao là nước ao, chớ chẳng phải là NƯỚC SÔNG. Nước Sông là nước sông, chớ chẳng phải là NƯỚC BIỂN.

Đối với Chánh Tín nó vốn một THỂ chẳng khác, nhưng vì chia ra từng bậc mà nó khác ở nơi hiểu biết rộng hẹp không đồng như:Nước Vũng và Nước Giếng, như nước Ao và nước Sông cùng với nước Biển vậy.

Những Bậc tu hành từ khi khởi Tín đến TIN nó vẫn tùy theo mức độ và công phu đưa lần lên từng Bậc. Thì đến Bậc nào Chánh Tín nó vẫn có theo vẹn vừa với Bậc ấy thôi chớ chẳng hơn đặng.

VÍ NHƯ: Có Bậc chỉ hiểu biết CẦU PHƯỚC, hay TÍN NGƯỠNG LỄ BÁI cầu an. Hoặc giả Trai Đàn Trống Phách, Cúng Lạy, thời Chánh Tín trong phạm vi Hiểu Biết đó thôi. Ngoài ra chẳng còn làm thế nào hơn đặng.

NHƯ: Có Bậc phát tâm NIỆM PHẬT tu hành, hay Trường Trai Giới Hạnh, hoặc Khất Sĩ Tu Sĩ hay Xuất Gia Tại Gia, vẫn tùy theo từng Bậc ấy Chánh tín.

NHƯ: Có Bậc phát tâm Bồ Đề tu hành quyết định tìm đường TRI KIẾN GIẢI THOÁT, tùy theo sự TÍN mà tu, hoặc HIỂN GIÁO, TIỆM GIÁO, ĐỐN GIÁO hay Thiền Tông, TỊNH ĐỘ chẳng hạn. Thời Bậc ấy vẫn nương theo sự Hiểu Biết mà Chánh Tín, ngoài ra chẳng còn hơn nữa đặng.

Nói đến Chánh Tín thời chính nó BẤT NHỊ, nếu những Bậc tu hành nào, hay những Bậc THƯỢNG THẶNG hiểu biết nào đồng với Chánh Tín thời Bậc ấy gọi là VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC. Đó chính là Tận Gốc của Chánh Tín.

Ngoài ra tất cả đều có sẵn Chánh Tín, nhưng vì bị LẦM MÊ nên gốc Chánh Tín trở thành MÊ TÍN DỊ ĐOAN. Do chỗ Mê Tín mà Đảo Loạn. Do nơi Dị Đoan mà Tự Sanh ra ẢO TƯỞNG. Tức là: Những sự việc gì đồng với Ảo Tưởng của Kẻ ấy là: TIN THEO, bằng không đồng thì chẳng Tin Vậy.

Chánh Tín nó chẳng khác nào với Phật Tánh. Ai ai cũng Sẵn Có Phật Tánh, nhưng vì mê lầm mà trở thành Chúng Sanh. Nếu tu hành đến Giác Ngộ cùng đoạt Vô Thượng Chánh Giác thì là PHẬT. Mê Tín và Chánh Tín cũng thế.

ĐỨC THÍCH CA Ngài Thật Biết vì lầm lạc mà điên đảo, nhưng nguồn gốc vẫn còn SỰ TIN của Chánh Tín.

CŨNG NHƯ: Ông CHA kia có một người con bị điên loạn. Nhưng đứa con kia Miệng nó vẫn kêu CHA. Khóc Cười xin Cha cứu mạng. Đó tình trạng của Chư Phật cứu độ chúng sanh cũng thế.

Đức THẾ TÔN Ngài thật Biết nguồn TIN PHẬT vô kể của chúng sanh. Lại biết chúng sanh nó ưa muốn thoát ly Trần Cấu, nó đòi hỏi sự Tri Kiến Giải Thoát vô tận, nhưng chỉ vì ĐỘC NGHIỆP trót lầm bị nhiễm, vì Bờ Ngăn ảo tưởng muôn trùng. Nên Phật phải phương tiện làm theo Bờ Ngăn, theo ảo tưởng mà thuyết pháp 49 năm để giải Độc Nghiệp cho chúng sanh mà cứu vãng, đưa về Tri Kiến Giải Thoát.

PHẬT lại tùy nghi mà làm hình dáng để phá nghi, PHẬT lại tùy theo sự ưa thích mà phương tiện khen để nương theo chúng sanh đặng lần hồi cứu độ. PHẬT lại tỏ biết chúng sanh điên đảo không chừng hay Đoạn-Dị-Diệt trong thời tu tập mà Phật nói Pháp: TINH TIẾN, NHẪN NHỤC, THIỀN ĐỊNH, làm cho chúng sanh nương theo Đảo Loạn mà hết Đảo Loạn. PHẬT lại rõ biết chúng sanh vì loạn đảo mà tranh giành hơn thua trong cơn mê sảng, nên PHẬT nói pháp: TỪ BI HỶ XÃ, TRÍ TUỆ sáng soi làm cho chúng sanh hồi tĩnh. Phật lại tỏ biết chúng sanh vọng tưởng cho là Chơn Tưởng mà Ái Nịch chìm đắm theo Ngũ Dục mà PHẬT phải nói sự sa đọa: NGẠ QUỶ, SÚC SANH, ĐỊA NGỤC. Còn bày biện cõi TIÊN THẦN làm cho chúng sanh ưa thích mong cầu mà lần đem chúng sanh vào TỎ MINH các pháp diễn tuồng do Tâm Sanh biến hiện.

PHẬT cứ tùy nơi CĂN BỆNH mà cho thuốc. Tùy nơi Tánh QUẤY CỰA mà dỗ dành. Tùy nơi MONG CẦU mà giúp đỡ, miễn sao cho chúng sanh từ nơi MÊ TÍN đặng vào CHÁNH TÍN BẤT NHỊ thôi.

Tất cả trên con đường tu tập, hay sự chỉ bày của ĐỨC THẾ TÔN thảy đều then chốt để giải mê mờ đưa đến Giác Ngộ. Thành thử PHẬT PHÁP của Ngài diễn nói đó chẳng phải là PHÁP của PHẬT, mà là vì Chúng Sanh nên PHẬT mới dùng Phương Tiện tùy theo Chúng Sanh để nói PHÁP, làm cho chúng sanh Tỏ Pháp vì chúng sanh Lầm Pháp.

CŨNG NHƯ: LẤY HUYỄN ĐỂ TU HUYỄN, KHI HUYỄN HẾT GỌI LÀ GIÁC. Nơi Chánh Tín nó cũng thế. Nó bởi đi trong MÊ TÍN DỊ ĐOAN mà phải tu hành đến CHÁNH TÍN CHÂN THẬT.

PHẬT lại tỏ thấu tận cùng của nguồn gốc các Pháp mà chúng sanh Thọ Chấp thâm nhiễm mê mờ. Nên Ngài mới dùng các Pháp đó để ĐỐI TRỊ phá mê, đưa chúng sanh vào đường Trung Đạo như sau:

- MÊ MỜ Ngài nói GIÁC NGỘ
- MÊ TÍN Ngài nói CHÁNH TÍN
- ẢO TƯỞNG Ngài nói CHÂN THẬT
- ÁI NỊCH Ngài nói XUẤT LY
- BỦN SỈN Ngài nói BỐ THÍ
- BUÔNG LUNG Ngài nói TINH TẤN
- CHÉM GIẾT Ngài nói TỪ BI
- THÂM HIỂM Ngài nói THIỆN CĂN
- SÂN HẬN Ngài nói HỶ XÃ
- NGĂN PHÂN Ngài bảo PHÁ CHẤP
- VÔ THƯỜNG Ngài dạy THƯỜNG CÒN
- SANH TỬ Ngài chỉ VÔ SANH
- HỮU NGÃ Ngài nói VÔ NGÃ
- ĐOẠN-DỊ-DIỆT Ngài nói DUYÊN SANH.
- ƯA HỌC CHO THUỘC PHÁP Ngài nói ngón tay Ngài chỉ CHÂN LÝ, chớ chẳng phải ngón tay Ngài là Chân Lý. Và tận cùng Ngài nói là Ngài không Thuyết Pháp, mà chúng sanh cũng không nghe Pháp.

Đó chính là ngón TINH HOA tuyệt mỹ mà PHẬT đã làm và mong cho Bậc tu hành chớ LẦM PHÁP. Để từ Trí Tuệ thấp kém Chánh Tín nhỏ nhen eo hẹp, đặng vào ĐẠI TRÍ, Tâm rỗng rang tròn khắp mà đồng CHÁNH TÍN với TAM THẾ PHẬT vẹn vừa Bất Nhị vậy.

Những Bậc tu hành đời nầy và đời sau, nên chủ ý những Đặc Điểm Di Truyền trên. Và chớ vì sự Hiểu Biết nhỏ của kẻ khác mà phỉnh bán chê khen kẻ Tà người Chánh, kẻ Nội người Ngoại Đạo thành Tự Mình mua lấy Nội Ngoại Tà Chánh làm cho Đoạn Duyên PHẬT làm cho mất tất cả TÌNH DUY NHẤT mà NHƯ LAI đã nói Pháp LỤC HOÀ NHƯ LAI đã làm Hạnh NHẪN NHỤC. NHƯ LAI đã để PHẬT PHÁP TĂNG và tạo nên một Ngôi TAM BẢO cốt làm cho chúng sanh soi chung một TẤM GƯƠNG BẤT NHỊ vậy.

NAM MÔ ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN KINH

14. VẠN PHÁP ĐỒNG Y

Vạn pháp đồng y tức là vạn pháp đồng in Một. Tuy nhiên Tâm thay Tướng Pháp diễn tuồng có muôn ngàn vạn lối, từng Cảnh khác biệt chẳng hạn, nhưng chung gồm đến PHÁP thì có MỘT không Hai hay SAI KHÁC mảy may nào cả. Vì sao? Vì Pháp thời vốn sẵn tánh nó linh động, sự thuyên diễn của nó không ngừng. Tuy nó là Một, do Tập Khởi và Chấp Nhận nơi ngăn biệt, thành thử từ nơi Một Bị Biến ra 8 vạn 4000 pháp. Lại cũng từ 8 vạn 4000 pháp đó trở về Một Pháp.

Bậc tu hành đứng về Quân Bình nhận xét, thời nó chia ra làm hai pháp: THUẬN và NGHỊCH Pháp. Nơi bản tánh thuận nghịch nó có ẨN và HIỆN pháp. Do lầm nơi phân biệt đó mà Bị Biệt trong TƯƠNG ĐỐI nên BỊ ĐỐI.

Vì trót mê lầm chấp nhận nên in tuồng các pháp thực sai khác với nhau, nên đứng về bên nầy bỏ bên nọ, đứng về tốt là mình mà xấu là Họ. Phải là mình còn quấy là kẻ khác mà trở thành nghiệp TƯƠNG ĐỐI pháp, gây thành Thuận Thương Nghịch Ghét, thù hận vay trả không ngừng.

Nói đến NHẤT THỂ CHÂN NGUYÊN của pháp, thời nó Viên Dung cùng khắp Bất Nhị, không có chỗ chỉ hay nghĩ bàn nó đặng. Vì sao? Vì NÓ VIÊN TỊCH SẴN CÓ BẤT TĂNG BẤT GIẢM.

Nhưng vì CHÂN NGUYÊN ấy, BẢN TÁNH ấy, lại tự đem nó ra để đặt điều, hý luận chia xẻ nó, bàn tán nó, nên theo những lời chia xẻ bàn tán mà tin tưởng ngở là Chân Thật lầm mơ cho nơi ấy là Chân Thật trở thành muôn hình vạn tượng chạy theo động vọng đó mà cầu hưởng. Nên PHẬT nói nó là: HUYỄN PHÁP, chớ chẳng chi gọi nó là HUYỄN cả.

VÍ DỤ CÁC PHÁP HUYỂN NHƯ SAU: Có một Vị TRƯỞNG GIẢ giàu sang ở vào một khuôn vườn rộng lớn. Vị Trưởng Giả bèn đóng chiếc xe SONG MÃ cực kỳ lộng lẫy hơn những chiếc xe của dân giả dùng. Nào là bên trong của chiếc xe có ghế cùng màn che, bên ngoài có cửa lớn, cửa nhỏ, hai bên hông xe sơn son chạm trỗ như Rồng Phụng hay đính các quả Lê lóng lánh bốn phía xe thật là cực kỳ sang trọng. Chiếc xe ấy đem để trong vườn cho nó khô ráo nước sơn sẽ dùng đến.

Trong khi đó, có một nông dân đi ngoài khu vườn cách chiếc xe hơn hai trăm thước, trực nhìn thấy chiếc xe, liền lầm tưởng là CON RỒNG nằm trong khuôn vườn, hoảng sợ chạy về kêu các anh em trong xóm mà nói rằng: “Nầy các anh em, Chính mắt tôi đã nhìn thấy trong vườn Ông Trưởng Giả có một CON RỒNG VÀNG đang nằm cựa quậy cặp mắt thật to lóng lánh sáng ngời, tôi sợ quá về cho các anh em hay chớ nên ra sau khu vườn ấy.”

Các người lối xóm sinh lòng sợ sệt, cũng có một số tò mò lén lút đến xem thử, khi đến gần vườn một là sợ, hai là ở xa mà nhìn. Có người đứng sau xe nhìn thấy, có người đứng đầu chiếc xe mà nhìn thấy, nên có kẻ cho là con Phượng, có người cho là con Sấu, có bậc cho là con Rồng... rồi cùng nhau bàn tán trăm kia vạn nọ, nào là Trưởng Giả giàu có mua đặng con RỒNG, con PHƯỢNG...

Lại tất cả đồng tin theo việc bàn tán ấy tự sanh mơ ước ảo huyền của sự Đặt Điều mà lầm chấp. Câu chuyện trên đây chỉ vào pháp CHÂN NGUYÊN mà lầm HUYỂN cũng thế.

Tất cả các kẻ vì có lầm nên bị mê, lúc chưa rõ Vạn Pháp thảy đều bị từ một pháp, thời vạn pháp phải bị. Nếu một không lầm thì Vạn cũng không luôn. Có sự lầm mới động vọng suy nghĩ bàn tán bằng không vọng nào có loạn ?

CŨNG NHƯ: Kẻ lầm uống phải ĐỘC DƯỢC bị điên loạn, thì nhìn nơi nào cũng đảo loạn. Vì vậy nên sự: NGHE, THẤY, BIẾT và tất cả việc chi làm cũng còn trong vòng sai khác, không thể nào nói là TĨNH đặng. Nếu những bậc tu hành cứ so như thế để mà tu, thời tự mình đặt nền tảng đúng đắn trên việc tu học vậy.

Từ lúc KHỞI TÍN sau đến TIN vào sự TU PHẬT, nên bình tĩnh tùy nơi mức hiểu biết, tùy nơi công năng tu sửa để cầu tiến bộ. Lúc tự mình quan sát thấy bớt SÂN HẬN ấy là lòng Tham Muốn có phần Giảm, thì trí hiểu biết có phần Tiến Bộ. Vì thế kẻ tu hành căn bản là TÂM BUÔNG XUÔI không phiền trách và sân hận đó là một lối tu chánh đáng. Nên xa lìa ẢO TƯỞNG VỌNG LOẠN, nguồn gốc ảo tưởng vọng loạn là TÁNH TỰ CAO, mong pháp SIÊU HÌNH VIỄN ẢO, quá sự chân thật. Chính nó là Nghiệp THAM MUỐN của MA TÁNH lộng hành để đưa bậc tu hành tập nhiễm điên dại vậy.

Những bậc tu nên thận trọng lấy, một khi hiểu sơ sài chớ cho mình là Hiểu, vì cái mức hiểu biết rất có nhiều Bậc. Nên nhẫn nại gạt nó lại một bên cầu hiểu thêm nữa.

THEO LỜI PHẬT DẶN: CÁC ÔNG NÊN CẦM ĐUỐC TRÍ TUỆ, TÙY MỨC SOI SÁNG MÀ ĐI, CHỚ NÔN, CHỚ VỘI MÀ THỌ CHẤP CHO LÀ ĐƯỢC, LÀ ĐẾN MÀ NGUY HẠI.

Bậc tu hành càng thung dung bình dị bao nhiêu lại càng tiến bộ bấy nhiêu. Chẳng khác nào người đi súc chai cẩn thận không nôn đựng nước quý, chỉ cầu cho sạch sẽ không còn cặn bả. Khi đã sạch rồi thì đựng món chi cũng dùng đặng vậy. Bậc tu mà Sạch Nghiệp Đảo loạn thời VẠN PHÁP ĐỒNG Y sẽ tỏ ngời rực rỡ. Lại cần thâm nhập MƯỜI điểm sau để cầu Tỏ Biết:

MỘT LÀ: Nghe thuyết pháp để rõ vạn Pháp Đồng y.
HAI LÀ: Xem Kinh PHẬT để tìm CHƠN TÁNH cùng TINH HOA của PHẬT dạy để mà tu.
BA LÀ: Không vội Chấp Pháp, chẳng cho mình là PHẢI, khi chưa sạch lý hiểu biết mà sanh Tăng Thượng Mạng.
BỐN LÀ: Lấy việc tu hành Đạo Tràng làm quan hệ hơn lấy lề lối sống ở thế gian làm quan hệ, miễn là CHÂN THIỆN MỸ hoàn lại cho ta là đủ.
NĂM LÀ: Không vì tiền bạc hay Thiện Căn mà thuyết pháp. Không vì nghèo nàn hay Ác Căn mà không thuyết pháp. Nên thâm nhập Tâm Bình Đẳng, nương theo kẻ cầu pháp mà thuyết pháp.
SÁU LÀ: Gạt bỏ tâm tham cầu TÀI PHÉP DANH GIẢ nơi Thần Quyền, ước vọng xa xuôi, viễn ảo để mau thành PHẬT, thành TIÊN.
BẢY LÀ: Tánh tình vui vẻ, đồng kính các bậc tu, không phân biệt Tôn Giáo cùng Giáo Phái, nặng Đại Thừa chê bai Tiểu Thừa, khinh khi hoặc xăm xỉa lẫn nhau nào là NỘI NGOẠI, TÀ CHÁNH, CHAY MẶN, NÊN HƯ.
TÁM LÀ: Phát nguyện tu đến rốt ráo tận cùng, nương theo BỒ TÁT HẠNH mà tu, Độ sanh không ngừng nghỉ.
CHÍN LÀ: THÂN KHẨU Ý Kín nhiệm, Tâm buông xuôi, thực hành LỤC BA LA MẬT ĐA.
MƯỜI LÀ: Trí Tuệ Phá Chấp, Tướng Phẩm Hạnh tu PHẬT phải làm cho trọn vẹn, căn bản đi trong Đạo Đức để cho mọi kẻ ưa thích, khỏi làm hư Tác Phong mà Đoạn Duyên Phật Đạo. Nên lìa Tướng để Tri Kiến và Giải Thoát là Duy Nhất.

Những bậc có Chí mà tu như vậy mới gọi là: TU PHẬT. Bằng chẳng vậy gọi là: Học Pháp Phật. Vì sao? Vì duy nhất là cái duyên Độ sanh làm cho chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát nên PHẬT mới Thị Hiện. Vì vậy nên ĐỨC THÍCH CA Ngài mới nương theo sự mê chấp của chúng sanh phương tiện thuyết pháp để cỗi giải nghi chấp cho chúng sanh, dìu dắt đưa cho chúng sanh từ chưa hiểu đặng hiểu, từ lầm vạn pháp trở lại không lầm một pháp, nhờ tu tập tỏ biết sự Đồng Y của Vạn Pháp mà đặng cứu cánh Giải Thoát vậy.

PHẬT chẳng khác nào: Ông CHA kia cốt đến cứu bầy con ra khỏi nhà lửa TỬ SANH. Nhưng trái lại, bầy con nó chỉ vì mê nơi Ái Nịch muốn kéo Ông CHA nằm luôn nhà Lửa với mình. Do lẽ đó nên Ngài mới thuyết Pháp giảng giải đủ các phương pháp 49 năm để đem các con ra khỏi nhà Lửa.

Nếu bậc tu hành nào mà biết suy nghĩ như thế, thời chớ nên tu hành mà cầu lấy An, hoặc quan niệm Đạo Phật là một Đạo Vô Tư hay Tiêu Cực, hoặc chán đời mà đi Tu Phật. Dù vô tình hay cố ý mà sai biệt Bổn Nguyện, mất nền tảng Tôn Nghiêm Quốc Độ Phật nơi TÂM MÌNH.

Mặc dù trong lúc nầy đang bị mê mờ trong Giả Tạo, thành thử những bậc đang tu còn nhiều Giả Tưởng, nó làm cho ngăn lối tiến trên đường tu, lại làm cho việc tu hành biếng trễ, chớ có ai lại đã tu mà không cầu tiến đâu? Cũng như ai ai thảy đều gây tạo đường Thiện, chớ có ai lại cầu gây điều Ác để mà lãnh chịu sự đọa đày đâu? Nhưng chỉ duy Nghiệp kéo lôi thành thử cầu tốt không đặng, cầu tiến chẳng xong. Đó chính là Căn Nghiệp ở nơi Điên Đảo làm cho Tâm không quyết định, hay có quyết định vẫn phải nghi ngờ trong thời Mạt Pháp đảo điên vậy.

Nếu các Bậc tu hành, hoặc giả đang chực chờ để mà tu thì nên phá những lối suy nghĩ như sau, nó làm cho biếng trễ mà uổng phí một kiếp CON NGƯỜI đương thời Nhân Pháp là nơi tu hành rất tốt.

MỘT LÀ: Nghiệp chần chờ không dứt khoát, mà mong mỏi gặp tu mới đặng Giải Thoát còn hiện nay tu không đặng Giải Thoát. Chỉ cầu ích lợi là có Tu. Đó là GIẢ TƯỞNG MA NGHIỆP lôi kéo.

HAI LÀ: Tự mình dìm mình là ngu tối cho là nặng Nghiệp tự sanh buồn chán nên quan niệm tu cho có chừng để chờ kiếp sau. Có lúc cho lời PHẬT nói kinh sâu xa, Kín Nhiệm mà chẳng chịu coi Kinh. Do Giả Tưởng như vậy mà thờ ơ chẳng nghe thuyết pháp.

BA LÀ: Muốn tu nhưng tự so mình tuổi cao tu chẳng đến, hai nữa còn trẻ chưa vội gì tu, hay nghiệp phân chia kẻ tu lâu năm cùng người mới tu chẳng chịu học hỏi nhau, hay Xuất Gia không cầu Tại Gia.

BỐN LÀ: Cho mình có học lực, xem kinh khảo cứu dễ bị chấp trong Văn Tự mà tu. Cầu Sắc Tướng hơn cầu Tinh Hoa nơi Chân Lý. Cầu Danh Giả hơn cầu lìa Ngã Danh. Cầu tu cao hơn cầu Tỏ Biết. Nhận nơi Bị Biết học thuộc Kinh hơn cầu Tự Biết.

NĂM LÀ: Chấp nhận cho mình là tu Chánh, còn kẻ khác là tà, không tìm hiểu pháp Môn hay sự Hiểu Biết mọi kẻ học hỏi tu tập, năng chấp nhận phần mình mà tu, chia rẽ tranh giành Bổn Đạo cho là Xây Dựng Chánh Pháp, xâm xỉa soi bói các Tông.

SÁU LÀ: Biếng trễ tự cho mình là PHẢI, cho mình Hiền Lành Đạo Đức hơn kẻ tu. Còn có bậc chờ con cái lớn khôn thời dứt áo ra tu không mấy ngày thành Đạo. Họ tu thì lâu còn mình tu thời mau vì vậy không nôn chi tu vội.

BẢY LÀ: Vì quan niệm nơi Giả Tưởng nên tu hành ưa thích đọc tụng hơn nghe thuyết pháp hoặc xem nghĩa Kinh. Còn gặp đặng Thầy chỉ bày để tu, thời tu nhìn Thầy hơn là Tự sửa mình. Chẳng gạt bỏ đố tật tu lại sanh chán ghét bậc nọ kẻ kia trong Bổn Đạo.

TÁM LÀ: Tu cầu Phước giàu sang, miệng đọc tụng Sám Hối mà Tâm chẳng Cải Hối. Biết nói điều lành mà không làm lành. Lúc nghe Thuyết Pháp thì buồn ngủ thờ ơ biếng trễ.

CHÍN LÀ: Tu ưa thích mê tín dị đoan hơn là tìm hiểu để Tỏ Tín, Bê Tha hơn Tinh Tấn, nói Lý hơn Sự làm chỉ trích hơn Tự tiêu bỏ Nghiệp, Tự ái hơn là lìa dẹp Tự ái, muốn kẻ khác nghe mình hơn là mình đi nghe kẻ khác.

MƯỜI LÀ: Tự cao cho mình biết hơn ai hết, ngạo mạn chê Tăng, không Tin Phật. Khi gặp điều khổ thời kêu Trời than Phật, lúc ai động đến việc tu hành thì cho họ là mê tín, còn hay khoe khoang tài mình miệng nói Đạo Đức để lừa kẻ khác đặng cười chê lại cho là PHẬT ở trong Tâm Mình.

Mười điều trên nó chính là đảo loạn cùng phờ phỉnh, làm cho bậc muốn tu khó dứt ra để mà tu. Còn bậc đang tu bị ngăn cách vì Giả Tưởng. Đó cũng gọi là Nghiệp ngăn phân Ma Tánh đưa đón làm cho con đường Đạo xa cách. Vì vậy khuyên các Bậc tu hành nên có sự Quyết Định mà Tự PHÁT BỒ ĐỀ TÂM mà tu. Nếu tu đặng một ngày tức là một ngày có tu còn hơn không tu vậy, đặng làm cho các Giả Tưởng và Nghiệp mau giảm, mới cầu Tỏ Biết Vạn Pháp Đồng Y.

Bậc tu hành cần phải suy nghĩ rằng: Tất cả các Giả Tưởng cùng Nghiệp Thức cũng do mình tạo mà TỰ MÌNH mắc phải, chớ không AI bắt mình phải mắc cả.

Dù bậc trên trước là: THẦN TIÊN hay THÁNH PHẬT cũng chẳng thể bắt mình đặng thay, huống chi là NGHIỆP?

Đó chính là những điều đáng nghĩ để tự chọn lấy một lối tu hành vững chãi, Tâm Địa Chơn Chánh, nói năng ngay thẳng sẽ đến nơi chốn theo sự mong muốn và sở cầu vậy. Nên chi các bậc tu hành hiện đang ở Thế Gian nầy có đủ điều kiện cho sự lựa chọn mà tu. Muốn tu TIÊN THẦN liền đặng thành Tiên Thần. Muốn tu Tri Kiến Giải Thoát của THÁNH PHẬT liền được như Ý Nguyện. Vì lẽ đó nên Đức THÁNH MINH Ngài nói:Ai là kẻ bắt mình? Chính mình tự bắt lấy Mình. Ai đem mình vào Địa Ngục? Chính mình tự đem mình vào Địa Ngục vậy. Ai nâng mình lên ngang hàng với PHẬT THÁNH TIÊN? Cũng chính tự Mình đưa Mình. Đó chính là những điểm TỰ TÁNH trong con đường tu hành nên ghi nhớ.

Về đường tu PHẬT các bậc nên có chí PHÁT NGUYỆN là mục đích tu đến nơi Sở Nguyện và cũng cần Siêng Năng Kiên Dũng để tiêu dẹp các GIẢ TƯỞNG Vọng Loạn. Khi Giả Tưởng cùng Vọng Loạn tiêu giảm bao nhiêu thì Trí Tuệ lại tiến bấy nhiêu. Đó chính là Phá Bờ Ngăn Chấp. Bằng tu mà chẳng dẹp bỏ hay Phá Chấp thì không đặng chi cả. Vì sao? Vì mê lầm nó cứ bao trùm lớp lớp, cứ mỗi một Pháp thời có một Bờ Ngăn, từ Một đến Vạn Pháp thì cũng từ Một đến Vạn Bờ Ngăn. Khi đã tu nên đi ngược trở lại mà tiêu dẹp phá các bờ ngăn chấp ấy đặng trở lại một pháp cũng không, liền đặng Tri Kiến Giải Thoát.

LẠI NỮA: Nên thịnh trọng về sự hiểu biết, về trình độ tiến triển trong lúc tu hành. Nó chẳng khác nào kẻ nhồi Đất để nắn khuôn Tượng vậy. Càng mềm dẻo các pháp Tỏ Biết bao nhiêu lại càng quý bấy nhiêu, chớ vội cho được hay đắc mà mang họa.

Nên chi: Tu là một việc, Hiểu là một việc, Biết là một việc, Tri Kiến Giải Thoát là một việc, Viên Thông là một việc. Viên Mãn là một việc. Chớ chẳng phải tu là Giải Thoát. Chớ chẳng phải Tri Kiến Giải Thoát là Viên Thông. Chớ chẳng phải Viên Thông là Viên mãn.

Do những điểm trên nên mới có TU CHỨNG từng lớp, từng Bậc và cũng nương nhờ Khởi Tâm Phát Nguyện rộng lớn hay nhỏ hẹp mà thành tựu Thứ Lớp vậy.

CŨNG VÍ NHƯ: Một TRƯỜNG HỌC kia là nói chung. Nếu nói riêng thời nó chia ra nhiều lớp học. Từ lớp Năm lên đến lớp Nhất. Mà mỗi một lớp như vậy thì các môn học cũng như nhau, nhưng Toán của lớp Nhất không phải là của lớp Năm làm được. Còn mỗi một lớp như thế thì có nhiều trò sắp thành thứ lớp của trình độ học, như có trò lực học đứng Nhất, lại có trò trung bình và Thứ chót chẳng hạn.

Việc tu hành cũng vậy. Tuy rằng ở cùng nhau một Chùa hay cùng gặp nhau tu tập một Thầy, nhưng năng lực công phu thảy đều cao thấp thứ lớp. Đó là do tại ai? Do tại Nghiệp NGHI CHẤP mà thành.

Do lời PHÁT NGUYỆN rộng hẹp mà đến. D0 KHÔNG TIN vào đường TU PHẬT đặng Giải Thoát hiện tại. Nói chung lại do NGHIỆP THỨC Năng Phân và BỜ NGĂN Chấp Pháp.

-VÌ SAO GỌI LÀ BỜ NGĂN CHẤP PHÁP?

Vì BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, TINH TẤN, tự nhận tu như thế là pháp môn Giải Thoát, chớ nó chẳng phải là pháp môn Giải Thoát. Nó là: Bố Thí Trì Giới Tinh Tấn mà thôi.

-NHẪN NHỤC, TRÍ TUỆ, THIỀN ĐỊNH, tự nhận tu như thế là: pháp môn Giải Thoát, chớ nó chẳng phải là Pháp môn Giải Thoát. Chính nó là: Nhẫn Nhục Trí Tuệ Thiền Định thôi.

-BI CHÍ DŨNG, GIỚI HẠNH NGUYỆN hay ĐẠO TRÀNG HẠN LƯỢNG hoặc ĐẠO TRÀNG VÔ HẠN LƯỢNG, tự nhận tu như thế là Pháp Môn Giải Thoát. Chớ chính nó là: Bi Chí Dũng, Giới Hạnh Nguyện hoặc Đạo Tràng Hạn Lượng hay Đạo Tràng Vô Hạn Lượng mà thôi. Chớ chẳng phải là Pháp Môn Tri Kiến Giải Thoát vậy.

THẾ NÀO LÀ PHÁP MÔN TRI KIẾN GIẢI THOÁT?

Tu hành không thiếu PHẨM HẠNH trên, chẳng chấp nhận gìn giữ một HẠNH nào làm của mình. Đó chính là Pháp Môn Tri Kiến và Giải Thoát.

CHẲNG KHÁC NÀO: Kẻ kia đi mua sắm các phẩm vật nguyên liệu không thiếu sót để đóng CHIẾC TÀU. Các phẩm vật mua sắm đó là làm các HẠNH không thiếu sót. Khi đã mua xong, đóng thành một chiếc TÀU để đưa đến bên kia BỜ CHÁNH GIÁC, thời Chiếc Tàu nọ chính là TƯỚNG của GIẢI THOÁT và VẠN PHÁP ĐỒNG Y cũng thế.

NAM MÔ PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT