64. Tối Thượng Công Đức Phẩm

"Tinh thần cao cả, do nơi tinh thần hồi hướng tâm nguyện giải mê, phá nghi chấp, khai hoang lần tiến những gì chưa hiểu đặng hiểu, chưa thông đặng thông làm chốn an nhàn nguồn vui bất tận. Bậc đang sống biết sống như thế chưa phải lối sống tầm thường. Vì sao? Vì chỗ sống của mỗi địa giới như: thế gian có thường tình phục diện thế gian. Cõi Trời (Thiên) củng cố địa giới thường tình của Thiên. Dưới sự nhận định nhãn quan đâu đâu cũng thảy đều thường tình chung khắp các cõi, các cảnh giới cho đến các Quốc Độ, Tịnh Độ đều thường tình mỗi nơi mỗi chốn. Vì sao? Vì còn giới vẫn thường tình, chỉ có Hồi Hướng Công Đức, bao nhiêu công năng tu hành, bao nhiêu chủ lực sung mãn thảy đều cúng dường Như Lai mới cao cống vô lượng Công Đức, vô biên vô tận Chánh Giác là Tối Thượng Phẩm." –T.V.

Dù Bậc tu lâu đến đâu mà còn Giới chưa thoát khỏi vòng đai Pháp Giới vẫn thường tình. Cho nên cõi Thiên, Tiên bỏ thế gian nơi Địa giới lên đến Thiên giới, Tiên giới cũng không thoát sanh pháp giới, vẫn bị sanh tử luân hồi, nên ông Trời, ông Thiên Tiên dù cho thần thông tài phép đến đâu mà còn Giới là còn sanh diệt, diệt sanh.

Chỉ hồi hướng công đức Như Lai, chung cùng với Như Lai nơi Tối Thượng Phẩm cao cống khó nghĩ bàn. Bậc biết khai sáng những bí ẩn của Vô Minh, biết khai hoang vô minh là không thường tình. Vì Bậc này dám đánh đổi tất cả cốt dung thông đến viên dung pháp giới dù ở địa giới thế gian này hay còn ở thiên giới nơi cõi trời cũng bản năng cúng dường công đức Như Lai là tối cần để cầu Diệu Quả Bồ Đề. Đó là vô lượng vô biên công đức là Tối Thượng Phẩm Công Đức.

"Thiền Sư đưa tay hái cành lá, Ngài ngồi lại tảng đá, nét mặt cảm mến như nhiên. Ngài nói: Tướng giải thoát từ lâu. Cây cỏ, núi sông, hoa quả vẫn làm tròn bổn phận dung dưỡng nhân loài. Nay ta nói lên tâm hồn Giải Thoát. Thế nhân mấy ai biết đặng Ta? Họ chỉ nhìn nhau bằng đôi mắt tầm thường. Ta chỉ biết ta là đủ, vì sao? Vì nó như thế. Khi Đức Thế Tôn đang còn tại thế, chưa chắc nhân sinh nhìn đặng Ngài Vô Thượng, Ngài đã từng công bố: chưa hẳn có Bậc đã tin Ngài. Lúc bấy giờ tinh thần Tối Thượng Quả Vị Đẳng Đẳng Giác. Chỉ Ngài thấu Ngài mà thôi. Ngài nhập Niết Bàn lời Ngài sáng rạng, ngôn từ trở lại Bảo Châu. Cao quí thay! Vô Lượng Công Đức Phẩm thành Xá Lợi." –T.V.

Đức Chí Tôn đã tận tình làm tròn bổn phận. Nay Đức Thế Tôn Di Lạc tiếp tục phải làm tròn miễn nhân sanh ưa chuộng với Tâm hồn Giải Thoát vẫn được toại nguyện không khác, vẫn được sống trong Chân Lý Hải miễn sao Bậc tu thời Hạ Lai biết đồng nguyện rộng rãi phát tâm Hồi Hướng Công Đức Phẩm:
“
"Ta tuyên minh cho tất cả các Bậc tu cầu Diệu Quả phải Hồi Hướng Công Đức Cúng Dường Như Lai chính lời này Tối Thượng.”" –T.V.

Đây là lời chí tình của Đức Thế Tôn Di Lạc nhắn nhủ Nhân Sinh thời Hạ Lai./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


63. Mười Danh Hiệu Chia Ba Phẩm

"Từ phẩm thứ nhất đến phẩm thứ ba. Bậc nầy quán Như Lai, chỉ cho tất cả tâm quán Như Lai, hành sự Như Lai ấn chỉ cho tất cả hành dụng nương Như Lai, cứu độ bình đẳng, từ hàng Tiểu Căn đến Đại Căn thảy đều tận độ. Đạo hạnh trí tuệ không hai. Cúng dường Như Lai Thề Nguyện Sự. Sở đắc Chánh Biến Tri, chung cùng với tất cả chúng sanh hóa độ, Nghiêm Túc Độ, thực hiện Chứng Tri Độ, Phổ Độ cứu khổ phiền não độ nên xưng tán: Như-Lai, Ứng-Cúng, Chánh-Biến-Tri. Đó là Hành Dụng Phẩm." –T.V.

Quán Như Lai có nghĩa là quán sát, soi xét tất cả nơi Nghe Thấy Biết. Vì đâu đâu tứ loài không thể rời Nghe Thấy Biết để sống. Bồ Tát quán Như Lai hành sự không Diệt, không sanh nơi Nghe Thấy Biết, điểm chính yếu để tu đến sở đắc là nương Như Lai hành dụng nơi Nghe Thấy Biết. Do đó Bồ Tát cần thâm nhập sâu Như Lai nên mới cứu độ tất cả chúng sanh tùy duyên, khéo thuyết, khéo chiều đưa chúng sanh và nâng dần đến phát tâm cầu Tri Kiến Giải Thoát như Bồ Tát.

Chúng sanh gặp Đại Bồ Tát xây đắp Tối Thượng Căn được lợi vô kể. Vì sao? Vì tu không đắc đạo cũng được Phước Báo Nhân Thiên. Bởi vậy gặp Bồ Tát chúng sanh được cho học Làm Thánh, có rớt Thánh cũng được làm người Nhân Thiên Hạnh. Còn học làm người không bao giờ làm người đặng, chính chủng tánh Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ đưa chúng sanh đi thọ báo trả nợ miệng phải bị sinh làm loài súc vật thật khổ biết bao!

Chúng sanh có được nhân duyên tu hành theo vết chân chư Bồ Tát khi sở đắc liền được Bồ Tát Ấn Chứng trực chỉ để nhập thể bình đẳng tùy tần số tu chứng gọi là được chứng minh nhập thể vũ trụ. Hàng Đại Bồ Tát biết từ nơi Chánh Biến Tri có ba lối thuyết pháp độ sanh:

 • Một là Ấn Chỉ nói gọi là quyết định nói thẳng chỉ thẳng cho trực giác sự lầm mê.

 • Hai là phương tiện nói cho bậc tu quanh co nhận định được quay về tu Tự Tánh Trực Giác.

 • Ba là tùy thuận nói vì bậc này nặng sắc tướng âm thanh, nặng tổ chức cầu đạo, để bậc tu vừa ý vì Bồ Tát thực biết không thể nói Trực Chỉ cứu độ, chủ yếu giữ Đạo Hạnh trí tuệ nơi Bồ Tát .

Nơi hành dụng là phẩm giá trị vô kể của Đại Bồ Tát sau trực giác đầy đủ Chánh Biến tri tối cần cho Hành Dụng Phẩm.

• "Phẩm thứ hai: Vì nhìn nhận tất cả chúng sanh đang lẫn lộn nơi luân hồi sanh tử, sự tường tận đường đi của cái Mê, lối về Chánh Giác, do căn tánh tập nhiễm, tập ái trưởng thành tập khí sanh tử, từ nơi sanh mạng phải thọ mạng theo pháp giới, chia ra từng phần, từng các cõi, nó không ngoài ngũ trược ác trược nơi kiếp trược, phiền não trược, kiến trược cùng mạng trược, nên thề nguyện khai thị làm cho chúng sanh Kiến Thị (Tri Kiến) lại ấn chỉ cốt Trực Thị (Thị Chứng) sở đắc Tam Miệu Tam Bồ Đề, nên mới xưng tán là Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải. Đây là phẩm thứ hai Diệu Dụng Phẩm." –T.V.

Thế nào là tập khí sanh tử? Chúng sanh mê lầm pháp giới, phải thọ sanh theo tánh tập nhiễm nơi chúng sanh tánh, bậc tu hành dụng cho đến khi đạt được con đường Giác Ngộ đến Đại Ngộ, Liễu Ngộ nhưng con đường nầy chưa rốt ráo còn sanh tử. Nhiều bậc A LA HÁN còn lầm cho là đã hết sanh tử, phải thi hành Tịnh, Bất–Tịnh, Hữu–Tướng, Phi–Tướng mới biết đã trơn liền chưa, nếu thấy biết còn loạn tưởng do nghịch hành mà khởi sanh là còn vi tế sanh tử, gọi là Tập Khí Sanh Tử.

Phần này nếu sở đắc hoàn toàn Chánh Đẳng Chánh Giác cũng phải hành thâm nhiều kiếp mới thấu đạt tỷ mỷ tập khí mới hết bệnh, hết bệnh chớ chưa phải khỏe mạnh còn phải đợi thời gian phục hồi nữa. Cho nên nhiều vị tu đến Liễu Ngộ là đã khá còn phải từ A La Hán bước qua khúc eo vĩnh cửu sang Nhất Thừa vào dòng Bồ Tát là cả một vấn đề nên mới có vô lượng kiếp. Sớm lìa Ngã, Ngã sở may ra kịp rút ngắn thời gian thọ giới tăng thượng mạng mới chu đáo gặp Đại Bồ Tát khai ngộ sâu thêm nữa.

Khi được chư Phật chứng minh cho lập chi tiết nguyện bậc này phải trải qua khắp xứ cốt thâm nhập đặng tỏ rõ sâu đậm ngũ dục, ác căn, phiền não, mắt thấy đầy đủ các tướng pháp giới làm cho thân mạng bị sa vào nơi sanh tử vi tế. Từ đó Đại Bồ Tát thề Đại Nguyện diệu dụng làm cho chúng sanh thấy biết tại chỗ sự lầm mê mà tri kiến pháp giới bị thọ khổ hiện tại sau chúng sanh sở đắc.

Đại Bồ Tát diệu dụng thông suốt đúng đắn toàn chân sáng tươi bình dị gọi là Minh Hạnh Túc. Dù khó khăn thề vượt qua Thiện Ác tận độ chúng sanh mới thấu đáo Toàn Thiện gọi là Thiện Thệ. Lại diệu dụng Tam Muội điều động Tam Muội ra vào viên thông làm rung chuyển Tam Thiên mà Tiên Thần Thánh cũng không biết cốt cứu an chúng sanh trên quả Địa Cầu này cùng Tam Thiên Thế Giới hoàn tất cứu an chúng sanh gọi là Thế Gian Giải. Đó là phẩm thứ hai Diệu Dụng Phẩm.

• "Phẩm thứ ba: Bậc này chưa bao giờ suy tưởng thời quá khứ hay mong mỏi đến vị lai. Nhất Ngôn Tri Kiến Phật nên tận dụng hiện tại thể tánh hiện tại mà hóa giải Phật Pháp bất ly thế gian giác. Tất cả nơi lầm lạc của chúng sanh thuận nghịch đều khai hóa, lại vì Đại Bi Đại Trí mà xây đắp tất cả có thiện căn thiện chí, khai hoang vô minh đặng Trực Giác. Vì sao? Vì bậc này cương vị Giác Tướng Chân Như, còn tất cả từ Thiên đến Tiên nơi tứ loài đang còn hư vọng, bị Thọ Ngã Giả Tướng, đang còn suy tưởng quá khứ, mộng tưởng vị lai nơi ba thừa Chánh Báo Phước Điền, do nơi thực tại hiện tại ấn chỉ mới gọi là Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thế Tôn, Phật." –T.V.

Bậc thật tu ban đầu chăm lo sửa tánh xấu, giải đố tật xấu là hơn hết, sau trực giác được vô minh. Từ mỗi lời nói, mỗi hành động dù nhỏ nhặt cũng không biết đúng sai dễ sanh chướng đối gọi là vô minh. Bậc không nhận định được chân pháp dễ phát sinh nghi chấp cũng gọi là vô minh. Bậc không tu chỉnh hiện tại lại hoài vọng viễn ảo xa xôi cũng gọi là vô minh. Tỏ được nguồn mê nơi vô minh từ Trực Giác bước vào Giác Tướng, đến lúc mỗi mỗi đều giác tướng chủng nghiệp đầy đủ gọi là Giác Tướng Chân Như. Chư Thiên, Chư Tiên đến chúng sanh tứ loài đều còn khởi vọng huân tập thành định tưởng bị thọ giới rất khó tu thực tiễn nên không trực giác. Do đó bị thọ ngã giả tướng, lấy suy tưởng lấy lý trí tu hành trở thành hư vọng.

Đến phần sửa tánh xấu xong phải xem xét kỹ tánh tốt: Tỷ như tốt, tốt quá thành dại dễ bị kẻ mưu sĩ hại. Đến giai đoạn trực giác xấu tốt, thiện ác, đúng sai mới bước sang Giác Tướng toàn diện Chân Như. Lúc bấy giờ mới khéo thuyết đạo đúng căn cơ tứ loài lại biết nương nơi Trực Tâm mà đặng Trực Thọ, nương nơi Giác Tướng mà tỏ Thực Tướng nên Bồ Tát Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội mỗi mỗi đều vẹn vừa không dư cũng chẳng thiếu, thực sự quân minh. Hằng ngày ra vào nơi nghe thấy biết viên dung được đầy đủ uy nghi, đầy đủ uy lực bước vào Đại Bồ Tát chờ thời cơ làm tiếp một kiếp Nhất Sanh Bổ Xứ thành Phật thấu đạt được Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thế Tôn, Phật.

Với Hịch Chứng Minh Vũ Trụ được ban hành làm ổn định chúng sanh, làm an lành chúng sanh. Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc còn lưu lại mối đạo qua việc ban hành Hịch Bồ Tát Ma Ha Tát cho một vị được thọ lãnh nắm giữ ở hiện tại và vị lai khai ngộ chư tổ kế tiếp lưu truyền mối đạo 5.000 năm theo tôn chỉ Đức Thế Tôn DI LẠC. Ngài đã thực hiện xong THẾ TÔN HẠNH vậy.

"Đối với bậc thực hiện Mười Danh Hiệu thật khó gặp khó biết. Vì sao? Vì bậc này Đồng Ứng nơi bổn nguyện Tam Thế mà thị hiện, từ ngôn ngữ hành động không khác với nhân sanh do đó nên Thánh Tăng Bồ Tát đều chưa biết làm sao thiểu căn kém trí hay đặng sự hành dụng Như Lai Tánh, nơi diệu dụng đều trưởng thành Như Lai Diệu Dụng thì sao?

Vì Năng Sở Vô Ngã, Đại Ngã phát huy đồng đẳng Tam Thế mà Hành Dụng Diệu Dụng. Chỉ trừ Bồ Tát Hạnh Nguyện Bát Nhã Trí, dùng Giác Tướng mới nhìn nhận đặng phần nào thôi, nên mới gọi là khó gặp.

Đến nỗi cận thuộc, sống chung hay thân cận không hề hay biết, làm sao nhân sanh quần chúng nhìn nhận đặng? Trừ ra những bậc tin vâng thực tiễn tu cầu. Nhờ sự tu cầu kết quả cạn sâu thâm nhập nhiều ít mà ái kính giáo ngôn, chớ nào ái kính tin vào nơi Bậc Tối Thượng để ái kính?" –T.V.

Như vợ Ngài là chân Phật tử sống chung thân cận cũng không hề hay biết sự Diệu Dụng của Ngài thật là đúng. Chỉ tới mức thi hành Hạnh nguyện Bát Nhã Trí thấu đạt Giác Tướng mới nhận đặng phần nào thôi. Do đó nhân sinh cùng Bậc tu chưa tới mức Bồ Tát Ma Ha Tát không sao hiểu Ngài được một tí gì. Ngài sống rất bình dị, cũng đi phố khi cần, cũng đi dạo không một cử chỉ cầu kỳ. Ngài sống rất bình dị nhưng đầy lòng Đại Bi Chân Phật Tử đều ái kính, khi đăng đàn khai thị rất trang nghiêm.

"Hoặc giả hàng Bồ Tát, tu hạnh Bồ Tát, Bồ Tát chứng tri có thể nhận thức Bậc chỉ giáo Thiện Tri Thức này chính là Bậc Tối Thượng Tôn. Nhưng vẫn ngờ vực chỗ Diệu Dụng, do đó nên còn phải tu, đến trình độ mức độ Chứng Thị, thời vạn sự nó đã qua, thời xây đắp của Vô Thượng Sĩ đã hoàn toàn Bát Đại, thử hỏi làm như thế nào để nhìn nhận đến Nhất Tâm Như Tướng Tận Giác Chân Tôn." –T.V.

Dù cho nơi hội trường có vị tu chứng tri Bồ Tát cũng chỉ biết Ngài Diệu Dụng rất ít. Bậc này vẫn tin Ngài là Phật Tối Thượng Đẳng nhưng sau này khi Ngài nhập Bát Đại mới Hồi Chân Tôn, lúc đó lời nói cử chỉ của Ngài hồi trước nay được thấu hiểu, nhưng khi trí đã hiểu, đã tới mức nhận được Ngài thì Ngài đã Bát Đại. Bậc này chỉ còn nương vào Như Lai dụng Tam Muội gặp Ngài cùng Chư Phật mười phương mà thôi. Thật khó khăn thay!

"Con đường tu Phật, tu cầu Tri Kiến Giải Thoát khó khăn. Chưa phải Chân Lý nhà Phật khó khăn hay Đạo Phật khó khăn, chỉ Bậc tu thiếu khuyết lầm nhận khó khăn vì bước tu sai lệch tăng giảm, đúng cũng chưa đúng với tinh thần CHƠN THỂ, trở thành biểu tượng nhiều phương diện, định hướng khác nhau, cho đến nguyện vọng tu cầu hình thể lòng tín ngưỡng khoảng cách xa nhau. Bậc xuất gia cho đến Bậc tu hành tại gia có một tự tâm Minh–Đạt. Tự tánh Di Đà nơi quan niệm sai khác nhau không thể nào diễn giải hết đặng.

Phật tử tu rất đông. Bậc tỏ Chơn Thể pháp lại hiếm. Bậc sở đắc càng hiếm hơn. Kể ra thống kê từ mười ngàn vị, chỉ có một vị Chứng Tri Chơn Thể Pháp, biết đường lối Đạo Phật tu Phật. Từ một vị đến mười ngàn vị biết tu Phật chứng tri đường lối Đạo Phật, chỉ còn một Bậc Đắc Chân Lý. Từ một Bậc đắc Chân Lý cho đến trăm triệu đắc Chân Lý, chỉ còn lại một Bậc Chánh Tín Thành Phật." –T.V.

Vì do Bậc tu vừa sở đắc vội tự mãn, tự tôn nên dừng trụ tu chứng. Vì Tín Hạnh Nguyện chưa đủ lại chấp Thánh Tăng lơ là Hạnh Nguyện, bị dừng trụ tu chứng. Vì Giới Định Tuệ chưa suốt lại vội cho đã tận thấu, bị chủng tánh tự mãn dừng trụ tu chứng. Vì Tứ Nhiếp Pháp chưa thực hành đúng mức, Lục Ba La chưa đồng sự nhiếp thu nên Mật Đa chưa rốt ráo, bị dừng trụ tu chứng. Vì chưa tận trơn liền Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thường bị Tịnh Biệt tu chứng chứ chưa đúng Giác Tịnh. Tự Tại Vô Ngại trong thích muốn gọi là Kiến Dục. Bất Tịnh, Phi Pháp, Phi Tướng theo dục vọng cũng bị dừng trụ tu chứng. Thật vô kể chứng bệnh dừng trụ tu chứng. Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật phải ghi lại để nhắc nhở dù cho có hàng trăm triệu Bậc đắc Chân Lý kết chung thời Hạ Lai này chỉ còn mỗi một Bậc Chánh Tín thành Phật!

Tốt nhất là Bậc tu chứng nên lìa Ngã, Ngã Sở theo vết chân Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nay tiếp nối Đức Di Lạc Tôn Phật để khỏi dừng trụ tu chứng.

"Đạo Phật đứng trước thời Hạ Lai, Bậc tu hành kém yếu năng lực tinh thần, con đường tu suy giảm, đa dạng thường chấp hay chấp, tự mãn lý chướng thêm lười trễ hiếm Bậc đánh đổi tu cầu giải thoát nên khó tin giải thoát, chỉ tu cầu liễu sanh qua từng cảnh giới tu cầu Phước Báo Nhân Thiên thì làm sao tin đặng Bậc hoàn toàn chánh tín giải thoát?

"Nói đến Chánh Tín Phật Đạo thì vô lượng vô biên công đức giải thoát. Vô lượng vô số vô xứ cảnh giới Giải Thoát. Vô lượng vô biên vô cùng tận Pháp Giới Giải Thoát. Vô lượng thọ vô lượng nghĩa Liễu đạt giải thoát. Vô lượng vô tận sanh diệt diệt sanh giải thoát. Vì sao? Vì Phật Pháp vô biên thề nguyện học không trụ một Pháp, thấu tận vạn pháp giải thoát. Sự sự Như Lai thề nguyện sự vẹn, diện kiến Như Lai giải thoát." –T.V. 

Bậc tu đi đúng Chánh Tín không trụ tu chứng, mỗi khi giải thoát được một pháp thì vô lượng vô biên vô cùng tận cũng được giải thoát. Theo vết chân Phật thị hiện lần phát hiện ra thì dễ, không gặp, không biết vết chân Phật thì thật là khó. Vì Phật Pháp vô biên thề nguyện học nên Bậc không đủ Chánh Tín mỗi vị một trụ chấp tu chứng mà không tận thấu vạn pháp Giải Thoát. Đa phần thoát sanh cảnh giới này lại bị vào cảnh giới khác vẫn bị Giới, bị Cảnh không ra khỏi vòng đai Pháp Giới nổi.

"Bậc tu tín ngưỡng Tâm trơn liền vẫn giải thoát. CHÍ Bất Biến giải thoát. DŨNG Bất Thối giải thoát. Nương vạn pháp tu Bát Nhã trọn Trí Bát Nhã giải thoát. Cảnh không nhiễm trước, tình không oán hận giải thoát. Không ái nịch, ái dục, không tập khí giải thoát. Diệt sanh không nhàm chán giải thoát. Sự không chê, Lý không trụ chứng giải thoát. Giải thoát từ điểm nhỏ cho đến trùm khắp vô biên cùng cùng tận giải thoát. Chớ nên lựa chọn kén lường điên đảo vọng cầu nơi việc lớn mà bỏ những việc nhỏ, nếu dừng trụ không bao giờ giải thoát." –T.V.

Đối với Bậc đang còn tu Phật Thừa, mỗi bước đi, mỗi lời nói, mỗi tư tưởng đều vào thể giải thoát rốt ráo liền lạc ngay trong cảnh sống hiện tại không còn tập khí. Bi Chí Dũng giải thoát, Bất Thối giải thoát, ý thức từng khởi điểm giải thoát, từng pháp nhỏ giải thoát trùm khắp vô tận vô biên giải thoát.

Đối với Bậc tu hành Tối Thượng Thừa đã tận thấu chúng sanh bất thường, tánh tình thường thay đổi, từ lời nói, cử chỉ thường chấp, nhập tâm chỉ một pháp nhỏ, khi xuất tâm thì lớn lao như lửa bùng phát vô cùng tận. Còn hành động cũng bất thường, khi nhập vào phát tâm rộng lớn tưởng chừng như Chúng Sanh và Như Lai - Phật là một, nhưng lúc xuất thì tánh chi ly nhỏ nhen đến mức như không có gì. Do như thế nên chi dễ nghi chấp mà dừng trụ phải giải nghi giải thoát - đến Tối Thượng Đẳng Chánh Giác.

"Nói về TƯỚNG và TÂM, thì Tướng đã giải thoát từ lâu. Tâm chưa giải thoát. Khi Đức Thế Tôn Ngài đạt Vô Thượng Chánh Giác, Ngài nói: Lạ thay! Tướng đã giải thoát từ lâu, ngày nay ta mới giải thoát." –T.V.

Tướng do hợp như thế nào liền hóa như thế ấy, tự nó dung thông không ngăn ngại. Còn Tâm không chịu hợp chê khen, tốt xấu, thiện ác... còn ở tương đối không hợp hóa được. Vì vậy Tâm bị vướng mắc Thiên Ngã, Nhân Ngã, Thọ Ngã giả tướng trở thành Chúng Sanh Giới nên có trọng lượng và giới hạn, mỗi mỗi tự tạo các nghiệp chủng, từ nghiệp chủng tạo thành các cõi, các cảnh giới không ngoài Thượng Sanh, Hạ Kiếp, Chánh Báo, Thọ Báo qua từng kiếp sống không ngừng. Tùy mức giới sanh Hợp Hóa, giải trừ tâm vướng mắc thực hiện Tứ Nhiếp, nhiếp thâu vạn hạnh trở về Nhất Hạnh. Bồ Tát tự nguyện Hành Dụng giải giới không còn là Chúng Sanh Giới, thoát sanh Pháp Giới vào Tối Thượng Thừa tức Bồ Tát Ma Ha Tát diệu dụng tận độ sanh, giới hạnh viên dung thấu đạt tận thành Chánh Giác.

"Khi được tu, biết tu là con đường xây dựng Hóa rồi mới Sanh, chưa biết tu sửa, chưa biết xây dựng thù hận tranh giành gây hấn là diệt tồi phá đều bị hóa, bị cộng nghiệp, phải lâm nơi diệt rồi mới sanh Hạ Kiếp hay các loài cầm thú. Vì sao? Vì cho chúng sanh bình đẳng tứ loài sanh hóa bằng noãn–sanh, thai–sanh, thấp–sanh cùng hóa–sanh, thành thử hạ sanh diệt sanh hạ liệt sanh nơi hạ tiện người và súc vật." –T.V.

Bậc Tối Thượng Đẳng vào Tối Thượng Thừa thật biết bình đẳng Thượng Sanh Hạ Kiếp của chúng sanh tất chi ly, nếu hành động tồi phá bị sanh nơi loài cầm thú chứ không làm người lại được. Vì nó làm như thế nào nó lãnh như thế ấy chớ chẳng ai bắt nó phải như vậy cũng không ai cho nó lên thiên đàng được.

Thật khó giảng giải cho hết được, duy nhất chúng sanh cùng bậc tu đã cống hiến đời mình cho Đạo cầu Diệu Quả hãy Chí Dũng phát tâm Đại Bi, Đại Nguyện, Thề Nguyện Đại Thành, phải Đồng Năng, Đồng Lực, Đồng Hóa với Phật mới trưởng thành Đồng Đẳng Tối Thượng Đẳng Giác.

Bậc Thiền Trí còn xa với Bậc Giác Trí, Bậc Giác Trí còn quá xa, chưa nhận được Phật Nhãn của Bậc Tối Thượng Đẳng đã Đồng Đẳng, Đẳng Giác sạch sẽ Chánh Giác. Bậc Thiên Nhãn Thiên Nhĩ chớ vội dừng trụ, còn phải thâm nhập giới tận, tận tận giới chánh tín gọi là thậm thâm Bát Nhã Giới./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


62. Tối Thượng Xây Đắp

“Bậc xây đắp căn là bậc đã từng trải qua từ Vô Lượng Kiếp, đặng Vô Lượng Thọ, tỏ Vô Lượng Nghĩa, thấu đạt Pháp Giới, thấu rõ tường tận Bản Thể Tâm, sự diễn hành nơi Pháp Tánh. Bậc nầy trọng lượng về tánh chất hơn về căn cơ. Vì sao? Vì hàng phục đặng tánh chất diễn hóa lầm mê xong thì căn cơ liền đầy đủ Chánh Giác.

Chẳng khác mấy Vị Đại Lương Y đã từng chữa các con bệnh, đã từng thật tỏ vị thuốc nào công dụng chữa trị con bệnh ra sao, không còn quái ngại nghi ngờ, rụt rè đối với con bệnh.

Bậc xây đắp tận giác chu vi pháp giới do nơi căn tánh diễn hóa thụ sanh thành hình, đã từng nương nơi pháp giới nhiếp độ tận tường thị chứng mới thực hành mười danh hiệu, chia ba phẩm, Diệu Dụng Hành Dụng đồng với Tam Thế Phật ba đời.” –T.V.

• Phái Tiểu Thừa dùng tâm thành thật, tâm thiết tha, tâm thành kính nhưng chưa biết dùng ba tâm năm nguyện tu cầu Chánh Báo.

• Phái Đại Thừa vẫn thành thật tâm, thiết tha tâm, thành kính tâm nhưng biết Nương Nơi Tánh Tỏ Tâm, tỏ rõ lý sự của tâm di chuyển mà phát hiện được sự di chuyển vạn pháp kia đều do tâm sanh ta. Sau lần theo phát minh được Hiện Sanh: Ta sanh Tâm mà sở đắc thật sâu Bản Thể Chân Tâm, Pháp Thân Chân Lý.

Đương thời Đức Di Lạc Tôn Phật tùy căn Tiểu Đại mà khai thị. Cùng nơi Đạo tràng mà giờ nầy dạy tiểu thừa, giờ khác khai Đại Thừa lần nâng và tuyển chọn bậc tu Nhất Thừa. Đắc Bản Thể Chân Tâm Tối Thượng bắt đầu hướng đạo cho xây đắp căn cơ Tối Thượng ,mới khai riêng cho bậc này tu tập Mười danh hiệu, chia ba phẩm. Có chia ba phẩm phân định căn cơ chúng sanh ở phẩm nào mới thấu đạt Tam Muội phần Tối Thượng Thừa.

Ngài khai thị tôi còn nhớ rõ: Bồ Tát tùy duyên mà thuyết pháp cứu độ chúng sanh. Vì chúng sanh như nồi đất mỏng phải nương chìu, phải lai trần độ sanh cho đến khi Nhất Sanh Bổ Xứ là kiếp chót Thành Phật mới quyết định chọn căn Xây Đắp Tối Thượng khai thị cho thành tựu Đại Bồ Tát nối tiếp Chánh Pháp mới Bát Đại Niết Bàn được.

Hai phái Tiểu Thừa và Đại Thừa chưa hiểu biết thấu đáo căn cơ, thường phân tách đúng sai mà chướng đối vạn pháp. Bậc tu theo Pháp Thân không còn lựa chọn pháp cùng tu Ứng Thân hiện sanh không chướng thì được song tu gọi là bậc Xây Đắp Căn Tối Thượng vào con đường Tôn Chỉ duy nhất Viên Giác.

• Bậc Đại Thừa phải trải qua vô số kiếp vào Nhất Thừa. Từ Nhất Thừa cũng phải trải qua Vô Lượng kiếp đặng Vô Lượng Thọ pháp giới, tỏ vô Lượng Nghĩa Pháp Giới đến Bồ Tát thấu đạt tận tường tánh chất pháp giới gọi là pháp tánh diễn hóa làm bậc tu mê lầm. Bậc xây đắp căn cơ không còn tùy duyên mà quyết định xây đắp con đường tu sao cho đến Chánh Giác thành Phật gọi là Tối Thượng Xây Đắp Căn Cơ. Bậc nầy đã vào Bất Thối Chuyển, đã đạt Bất Khả Tư Nghì Bồ Tát vào Đại Bồ Tát .

• Bậc Xây Đắp Tối Thượng là bậc tu con đường đến tận giác pháp Giới, chung quanh pháp giới đều tận thấu tỷ mỷ chẳng thiếu sót sự diễn hóa của nó thành tựu Không Tướng mà thấy đến tận Giác Tướng Đại từ đó mới minh định thực hành mười danh hiệu chia ba phẩm./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


61. Vô Thượng Chân Tôn

Lục Đạo khi đã hóa giải Nhiếp Độ tường tận Chánh Giác thì liền tỏ biết tường tận tất cả, trọng lượng hóa diễn nơi nó, lúc bấy giờ mới phơi bày để cho Tín Chúng, từ hàng Bồ Tát tu tập đến Bất Thối Chuyển, tâm không quái ngại từ Hữu Lậu đến Vô Lậu tường tận, bằng chưa phải là Hàng thật tu, thật chứng khó mà lãnh hội đặng Pháp Bảo Vô Thượng Chân Tôn nầy.

“Các hàng hãy nghe đây:

Lục Đạo đã xóa mờ, duy nhất chỉ còn có con đường SÚC SANH GIỚI, làm một con đường vào Pháp Thân Quốc Độ tận rốt ráo Bát Đại Niết Bàn.

Vì sao? Vì Súc Sanh Giới chính là một giới kết nạp huân tập hóa thành Chúng Sanh Giới. Chúng Sanh Giới nó chính là Pháp Thân Phật, tận độ Pháp Thân rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Đây chính là lời nói Vô Thượng Chân Tôn riêng dành Chư Bồ Tát Nhãn Tạng Viên Thông.

Còn đứng về trọng lượng diễn hóa của Lục Đạo nó như thế nào, tôi giúp cho các hàng hãy còn yếu kém chưa thọ lãnh được VÔ THƯỢNG CHÂN TÔN hãy nghe đây:

 • Đứng về Thiên Giới: Định Tưởng Dục Tưởng.
 • Đứng về Nhân Giới: Thường trụ thường chấp.
 • Đứng về A Tu La Giới: Thường chấp thường hoại.
 • Đứng về Súc Sanh Giới: Kết nạp hóa sinh.
 • Đứng về Ngạ Quỷ: Tham lam giành xé.
 • Đứng về Địa Ngục: Chủ thủ diệt vong.

“Khi Lục Đạo tận tường mới hay Súc Sanh kết nạp hóa sanh thành tựu Sơn Hà Đại Địa Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, giúp đỡ cho các hàng không nhiễm, không trụ nơi SẮC –THINH –HƯƠNG –VỊ thảy đều trơn liền Chánh Giác.

Bằng dục vọng dâm dục chìm đắm nơi Sắc –Thinh –Hương –Vị –Xúc –Pháp lầm lẫn theo Kiến Dục tự tạo lấy Hai Tướng thỏa mãn đều nằm nơi Bị Sanh Pháp Giới.

Các Bậc Nhị Thừa Tiên Thần trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chỉ vì Dục Vọng Kiến Tưởng mà sa ngã tu chứng Tiên Thần. Nhân loại nơi ba đường ác chỉ vì dâm dục mà sa đọa vọng đảo tham lam, kiến tạo rất nhiều điều quá đáng. Các Bậc tu chứng qua các Pháp Giới tỏ thông nhiếp độ Lục Đạo không vướng mắc, lấy nơi Sắc –Thinh –Hương –Vị –Xúc –Pháp làm phẩm trợ đạo, liền đắc Đạo như lời ta đã nói.”

Ngày mùng năm tháng Giêng, năm Đinh Tỵ
Nhằm ngày 22-07-1977 Dương lịch
Lúc 11 giờ 45 phút

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Chính là Hóa Thân Đức Di Lạc Tôn Phật
ẤN CHỨNG

Súc Sanh Giới là một giới kết nạp, kết hợp liền hóa thành. Nó chính là Pháp Thân Phật. Giống cái kết nạp huân tập hóa thành chúng sanh. Tỷ như người đàn bà có gia đình sanh ra con. Ai cũng công nhận giống cái sanh...

Vậy giống đực thì sao? Tôi nghe như vầy:

Như người đàn ông sống ở môi trường thích hợp cũng tự nơi thân sinh ra con rận, con chí. Khi thân người đàn ông sinh ra một con đực, một con cái là đã xong nhiện vụ hóa sanh, sau con đực và con cái tiếp tục sanh ra vô số... Vậy là giống đực cũng sanh.

Vô tri cũng sanh: Một cái cây hạ xuống đến một lúc tự nó sanh ra con mọt cây. Gạo để một thời gian cũng tự sanh ra con mọt gạo. Trên mặt và trong lòng đất cũng sanh vô số chủng loài biết đi đứng, sinh hoạt... Trong không khí cũng tự sanh các loài vi khuẩn...

Như vậy Súc Sanh Giới: Giống đực, giống cái, vô tri đều sanh ra hữu tri. Từ đó mới hay súc sanh kết nạp hóa sanh thành tựu sơn hà đại địa Tam Thiên Đại Thiên Thế giới.

Vậy vô tri sanh ra hữu tri, quả địa cầu, cỏ cây, sông núi, biển cả, mây nước, động vật, sinh vật, hư không thảy đều có từ mầm chủng tử hữu tri của mỗi mỗi loài. Tất cả chính là vũ trụ, là Như Lai Phật, là Thượng Đế là đấng A La tùy xứ sở đặt tên cho vũ trụ.

Do đó Như Lai hay vũ trụ cũng là hữu tri, cũng có cái biết chứ không phải vũ trụ là vô tri. Do đồng hợp đồng hóa, bất hợp bất hóa, nó là định luật như nhiên vô thủy vô chung thường còn bất biến. Cho nên cục đất đem làm thành ông Táo, ông Địa, ông Thần Tài... cúng lạy mãi là có linh do tánh thấy của VŨ TRỤ và tánh thấy của TA hợp liền hóa linh. Không tin không linh do không hợp nên không hóa. Nếu cục đất, khúc cây... làm ra ông Phật, Bậc tu thờ cúng tin tưởng cũng do hợp hóa thành linh. Tùy trình độ tánh tình rộng hẹp, thiện ác mà nó linh, tùy trường hợp cho đúng với nó.

Chính vì vũ trụ có cái biết tức là Hữu Tri nên chư Phật đã đi trước, đã thành quả Phật mới chỉ dạy cho con người biết Niệm Phật để giữ gìn Thiện Căn được hợp hóa thiện căn mà sống an lành đỡ khổ không còn tai ương. Còn Bậc tu khá, Niệm Pháp tức niệm nghe thấy biết, sửa tánh, sửa tật xấu sau sở đắc Bản Thể Tâm tỏ tâm hòa tâm mình vào tâm vũ trụ tức hòa vào Như Lai mà chung cùng với Như Lai để đặng cái biết của Như Lai Phật.

Cũng như một giọt nước biển nhỏ bé không thấm vào đâu so với biển cả bao la vô tận nhưng khi ta cho vào biển cả, giọt nước biển liền hòa tan vì nó đồng chất. Nếu đem một giọt nước biển phân chất cũng có Calci, Natri, chất sắt... nó giống y như nước biển cũng có đủ chất. Chính điểm nầy mà một giọt nước biển và biển cả bao la Tương Thông, Giao Cảm nhau như cha và con. Từ đó kết luận có cơ sở tin được một con người nhỏ bé so với vũ trụ bao la cũng hòa hợp tương thông, giao cảm được. Như Chư Phật rất thương mến, cảm mến, chí tình cùng chúng sanh. Chúng sanh biết liền được tỏ thông như Thánh, thấu đạt như Bồ Tát, tận thành như Chư Phật. Đó cũng chính là Súc Sanh giới hợp hóa. Cho nên Đức Bổn Sư đã khai thị: Tất cả Chúng Sanh đều có Phật Tánh.

Nếu chúng sanh biết lìa Ngã, Ngã sở mới cảm thấu Như Lai hay cảm thấu vũ trụ chừng đó mới biết vũ trụ sống động tuyệt mỹ, là kho tàng vô tận khó nghĩ bàn. Rõ ràng Ta và vũ trụ là hai mà một. Một mà hai như hình với bóng, thấu đạt sanh tử, tử sanh đâu còn sanh tử. Đã không còn sanh tử chính là bất tử. Khi đã bất tử được chủ quyền biết lúc nào tự ý lai sanh trở lại như thay cái áo bị mặc dơ phải giặt cho sạch thôi. Dù có lai trần Bồ Tát cũng không mất công năng công đức quá khứ, con đường xưa đã thấu vũ trụ lại cung ứng trả lại cho chẳng thiếu chút nào. Thật tuyệt mỹ thay cho súc sanh giới. Đâu đâu thời quá khứ, hiện tại cho đến vị lai cũng do súc sanh giới kết nạp hóa sinh bất tận vậy.

Tỷ như một lời nói, một hành động của quá khứ, hiện tại hay vị lai nó đều được cất giữ trong cái kho Như Lai Tạng không hề mất đến một thời nào đủ điều kiện nó tái hiện. Do đó Thiền Sư nhìn nơi pháp tánh diễn mà biết được tiền kiếp quá khứ rất thực tiễn lại biết nó chết sẽ đi về đâu không sai chạy.

Hàng Bồ Tát Diệu Quan Sát, hóa giải không nhiễm, không trụ nơi Sắc – Thinh – Hương – Vị được trơn liền thấu đạt súc sanh giới Chánh Giác. Lục đạo khi hóa giải xong, duy nhất chỉ còn có con đường súc sanh giới kết nạp thành Pháp Thân Phật Cũng Chính Là Quốc Độ tận thành rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Do đó Bồ Tát nương theo sự diễn hóa súc sanh giới đặng thâm nhập sạch sẽ Pháp Giới. Còn chúng sanh chưa sở đắc chân lý, chưa được Chư Phật chứng minh, còn bị chìm đắm sắc dục, dục vọng thì hãy tu hóa giải, đạo hạnh cho hoàn tất Thánh Hiền sau mới tiếp tục tu Phật Giác. Chúng sanh cùng bậc tu Nhị Thừa không nên tự ý đi Phi Tướng vì sẽ bị sa đọïa vọng đảo, tham lam, kiến tạo dâm dục thật tai họa nơi súc sanh phải bị sa đọa cận kề Địa Ngục.

Năm 1990, Ngài thị hiện bệnh tai biến mạch máu não. Ngài cho con cháu Đề Bà Đạt Đa đánh đập và xua đuổi các Chân Phật Tử ở quanh Ngài đang lo phục vụ cho Ngài. Càng lúc cường độ lộng hành càng gia tăng, mỗi lần nhóm Trung Ương vào chăm lo Ngài, đều bị đánh đuổi do nhóm con cháu Đề Bà Đạt Đa căm ghét gây ra. Bậc tu mới biết Hữu–Tướng, Phi–Tướng rất khó qua, phải chú tâm chịu đựng quan sát tỷ mỷ, phải dung thông pháp giới mới biết lúc nào vào nuôi bệnh, lúc nào cần tránh. Nếu thấy khó, ngại ngùng đi luôn là diệt pháp, mà vào không đúng lúc bị đánh đuổi là sanh pháp. Tự giác cao độ mới sở đắc vô sanh. Thật kín nhiệm, thật quá ư khó khăn. Sau này có Chân Phật Tử thưa hỏi Ngài gây ra chi cảnh hỗn loạn như vậy. Ngài trả lời:

Nếu không làm vậy, sao tôi minh định được ai là giòng ác căn thuộc con cháu Đề Bà Đạt Đa, ai là giòng thiện căn sau giác ngộ nối truyền làm Tổ. Liền khi đó Ngài cho hai câu thơ:

Hiện tình nay đã an bài
Đông phương suốt thấu chẳng cần nói chi.
–T.V. 

Sau khi diệu dụng bệnh mở khoa thi, Ngài liền thọ ký Bồ Tát, chư Thánh Hiền sau tiếp tục tu nối truyền Tổ. Con cháu Đề Bà Đạt Đa đã được an bài trở về nơi ác căn đồng chủng thọ hưởng phân minh. Đó là kỳ thi lần thứ ba.

Kết chung Ngài bảo Tối Thượng Thừa chỉ có một sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác được khai thị vào giòng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát sau thành Phật nối truyền Chánh Pháp. Chỉ có một duy nhất chớ không có hai và Ngài dạy: “Tôi không đủ thời giờ đào tạo ra hai Bồ Tát được.”

Các Chân Phật Tử vòng ngoài không hay biết gì và cả vòng trong cũng không mấy ai tỏ rõ Diệu Dụng Phi Tướng của Ngài để tận độ rốt ráo chúng sanh tánh, cũng không nhận được sự thọ ký kín nhiệm của Ngài. Thế mới biết Bồ Tát và A La Hán còn cách xa nhau hàng triệu triệu do tuần. Hàng Bồ Tát nói ra một lời hàng A La Hán vòng trong cũng cả kiếp suy ngẫm không ra.

Ai tu hành nhận chân được một cử chỉ, một hành động nhẹ khẽ, một lời nói đơn sơ mới hiểu được phần nào Diệu Dụng của Chư Phật, mới thấu đạt ý Phật . Thật khó khăn thay!./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


60. Thời Kỳ Biệt Tôn Vô Thượng Hoá Độ Tối Thượng Thừa

 

Đối với Bảo Phẩm Kinh Pháp. Đại Bồ Tát thời quá khứ đồng nguyện hộ trì nên chi có một linh động Tối Diệu đáng kể.
Linh động Tối Diệu ấy thường ứng trực trước giờ phút để giúp đỡ các Bậc tu thiện chí Nhất Tâm tu cầu được như ý nguyện.
Kinh pháp lại có những nỗi khó khăn nan giải đối với Bậc tu.
Khi sở đắc Tri Kiến Phật liền diễn giải chủ quán Tam Muội Pháp Môn đến hành thâm đoạt Bát Nhã mà được Phật Tri Kiến.
Nếu chưa rốt ráo còn mỗi một khởi điểm nào vội thọ Ngã thành Phật liền vương vào Phật Giới Quốc Độ.


–Bảo Phẩm Xuất Thế Chơn Kinh

Phật Đạo chỉ có Phật Thừa chứ chẳng có Tam Thừa chi cả. Do tại trình độ nhận lãnh tu chứng không đồng mới có Tam Thừa. –T.V.

Thời Hạ lai này Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật chia Phật Thừa ra hai phần là:

 • Nhất Thừa.
 • Tối Thượng Thừa.

Chủ yếu của Ngài là minh định Chư vị Tổ cấp A La Hán tu đến Phật Thừa phải sở đắc xong vô Thượng Đẳng Chánh Giác còn phải được Phật Hiện Thể chứng minh trở thành Bồ Tát.

Khi đã được chứng minh là Bồ Tát lúc đó mới đúng tinh thần tu tập, tu hành Tối Thượng Thừa.

Do vậy Chư Tổ cấp Tôn Giả, A La Hán đang tu Nhất Thừa tức Phật Thừa chưa hoàn tất tu chứng cũng phải chờ một hay nhiều kiếp được chứng minh mới nhập thể Bồ Tát được, chứ không phải tu Phật Thừa là đã tỏ thông.

Đức Di Lạc Tôn Phật nhắc nhở Chư Tổ tinh tấn tu hành tiếp chứ không dừng trụ Phật trở thành Phật Giới. Vì thời Hạ Kiếp Ngài đã chứng kiến nhiều vị xưng Phật bị an dưỡng Phật Giới thật khó gỡ, uổng phí kiếp tu cho hiện tại và mãi mãi ở vị lai./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


59. KHAI–THỊ–NGỘ–NHẬP, Bốn Tướng Giải Thoát

“Khi bấy giờ Ta nhập Chánh Định quan sát các Bậc tu chứng thọ lãnh Bảo Pháp bất đồng, cho nên nơi hiểu biết chia ra từng thứ bậc, thứ lớp cạn sâu khác nhau, thường bị thối chuyển.

Nay Ta tuyên đọc lời Khai Thị nơi Ngộ Nhập của Tứ chúng thiếu khuyết, để Tứ chúng tùy khả năng, tùy hạnh nguyện nơi mình cố vươn mình cầu nơi Tri Kiến Giải Thoát.

Thế nào lời khai thị nơi ngộ nhập bốn tướng giải thoát?

 – Từ phàm phu thọ lãnh Bảo pháp chưa thực hành Hạnh nguyện nên phàm phu Ngộ Nhập Giải Thoát nơi phàm phu, chớ chưa vào hàng Tiên Thần Giải Thoát.

 – Hàng Tiên Thần thọ lãnh Bảo pháp chưa thực hành nơi Hạnh Nguyện Hóa Giải dù cho có Ngộ Nhập Giải Thoát nơi Tiên Thần chớ chưa đứng vào hàng A La Hán Giải Thoát.

 – Từ A La Hán thọ lãnh Bảo pháp Ngộ Nhập Thực Chứng Giải Thoát nơi A La Hán chớ chưa đứng vào hàng Bồ Tát.

 – Từ Bồ Tát thọ lãnh Bảo pháp Ngộ Nhập liền tu chứng nơi Bồ Tát chớ chưa hoàn toàn Giải Thoát nên chưa thể đứng vào hàng Chư Phật.” –T.V.

Một hôm tại Long Hoa Hội Thượng, tôi nghe Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị như vầy:

"Bậc tu phàm phu, Tiên Thần đến A La Hán nghe đặng lời khai thị của Bậc Chánh Giác, dù cho có Ngộ Nhập hiện tại vẫn là sự chứng tri thanh tịnh chớ chưa vào sâu nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng của Bồ Tát. Mỗi cấp thanh tịnh mỗi cấp không hề ngang tầm mức với nhau do thâm nhập pháp cạn sâu.

Thế nào gọi là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát? Bồ Tát thọ lãnh pháp giới chúng sanh mà tỏ ngộ. Hàng Ma Ha Tát thấu đạt tất cả pháp giới chúng sanh chẳng thiếu sót, ra vào pháp giới để Hành Thâm, chung sống với từng lớp con người từ Thuận–Nghịch, Hữu–Tướng, Phi–Tướng, Tịnh, Bất–Tịnh mà sở đắc Đại Thanh Tịnh nên mới gọi là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

Ngài tiếp: Bồ Tát nghe đặng lời Khai Thị Ngộ Nhập liền trực giác giải thoát từng pháp từng thứ lớp. Bồ Tát còn phải hành thâm pháp giới, nhiếp thu hy sinh đánh đổi pháp giới để lần tỏ thông pháp giới. Đến giai đoạn Bồ Tát còn phải nương Như Lai pháp tu trì Bát Nhã chủ yếu làm mát mẻ Như Lai, cúng dường Như Lai để thành tựu Ma Ha Tát vào Đại Hải Như Lai. Bồ Tát Ma Ha Tát còn phải tu hành hóa giải, vận chuyển tỷ mỷ pháp giới độ sanh sạch sẽ trơn liền, không còn vướng động một pháp giới để Nhứt Sanh Bổ Xứ chờ hóa thân Phật."

Do lẽ ấy, Bồ Tát Ma Ha Tát thường trú nơi Tam Muội ở cấp Đại Bồ Tát chớ chưa đúng trọn thành Phật. Còn phải phát Đại Nguyện đem tất cả thân mình, đầu óc, tai lưỡi cúng dường Như Lai cầu thành tựu Như Lai Nhãn Tạng đặng sáng suốt khỏi lầm mê. Từ đó Đại Bồ Tát đem Mật Ngữ ích lợi tận độ chúng sanh, đem lòng Đại Bi ban rải khắp nơi thành tựu Phật Tướng. Đó chính là Bồ Tát thực hành đầy đủ Như Lai chờ ngày thành Phật Quả.

Nếu Bồ Tát vui mừng dừng trụ nơi Ngộ Nhập, không tiếp tục thực hiện công đức cúng dường Như Lai, chưa đánh đổi vật chất, danh vọng, tình là pháp giới bao vậy, Bồ Tát không tiến đến Ma Ha Tát được để tự sanh thoát khỏi rốt ráo sanh tử. Chưa biết đánh đổi thân mạng, đầu óc, tai lưỡi dù cho Bồ Tát có ngộ nhập hàng vạn pháp Thần Thông Tam Muội chăng nữa vẫn chưa tròn Ma Ha Tát, đã chưa tròn làm thế nào đến đích Chư Phật thọ ký được. Đây là lộ trình tu tập, tu hành chân thật nhất.

Nơi Khai Thị Ngộ Nhập nó có từng đẳng cấp, chẳng khác nào hạt giống gì trồng, vun, bón nó thành tựu hoa quả ngay giống ấy. Do như vậy khi Chư Phật Khai Thị Chư Bồ Tát, A La Hán, Tiên Thần, chúng sanh ngộ nhập tùy theo Công Năng Công Đức Mà Thọ Lãnh Bảo pháp thật bình đẳng mà Bất bình đẳng. Nó tùy theo tư tưởng thọ lãnh đúng sai của từng Bậc, ai cũng ngỡ chính mình đã Ngộ Nhập đúng lời Khai Thị của Phật nào ngờ nó tùy thuận sở chứng của từng Bậc mà Ngộ Nhận.

Đối với Chân Lý chỉ có Một, đối với lời khai thị của Phật Chánh Giác không Hai, nhưng trình độ, công năng cùng Chí Dũng tu hành thiết tha đến mức nào nó chia ra từng lớp, từng bậc. Do đó Phật Ấn chỉ:

“Duy nhất chỉ có Phật Thừa chớ chẳng có Tam Thừa, Tam Thừa do công năng sở hữu nơi chân tử nên mới có nơi bất đồng ngộ nhập.” –T.V.

Trí tuệ hóa giải nghi chấp được Ngộ Nhập thông thái nhưng hành động thấp kém lại chênh lệch với trí tuệ thì chưa đứng ngang hàng với Bồ Tát được. Bậc tu có trí tuệ sở đắc Chân Lý Pháp Thân chớ Ứng Thân chưa đạt Chân Lý. Còn Bậc tu củng cố Đạo Hạnh tu trì được Ứng Thân đắc Chân Lý chớ chưa có Pháp Thân đắc Chân Lý. Nhiều Bậc lầm nhận nơi hiểu biết Ngộ Nhập không biết chính mình kết quả hiện tại chưa thấu đáo. Đó là điều đáng quan tâm không nhỏ nơi thời Mạt Pháp nầy vậy.

Bậc tu thời Mạt Pháp này cần bước vào Bốn Tướng Khai–Thị–Ngộ–Nhập nầy cho đặng đầy đủ Ứng Thân cùng Pháp Thân đắc Chân Lý mới viên mãn hoàn tất. Thời hiền kiếp Đức Bổn Sư thể hiện ra đời, Ngài Khai Thị:

"Đạo Hạnh và Trí Tuệ song tu, bậc tu thành tựu."

Bậc sở đắc Chân Lý liền Chánh Báo hiện tiền. Thời bấy giờ Bậc tu thường nhập Chánh Định Tam Muội gặp gỡ các Tiên Thần, cùng nhau giao cảm tùy cấp tu chứng. Đến thời Hạ Kiếp Đương Lai dân tình lầm than khổ sở, Bậc tu theo lý trí phát sanh nơi mỗi Bậc tự tu hơn nghe lời Phật trong Kinh điển mà thực hành, dù cho có nhiều Bậc đem Kinh điển nghiên cứu để tu nhưng tu nơi lý trí bị nghiệp thức điều động, do lẽ ấy trở thành lạc hướng nơi Phật Tôn sai lệch nơi Chánh Báo Chân Lý, nên chi hiện tại tu thì thật là nhiều người, còn kết quả tu chứng thật chứng lại quá hiếm hoi.

Con đường tu duy nhất có một, vì vậy Chư Bồ Tát Ma Ha Tát phải nhìn vào vết chân đi trước của Chư Phật đã từng đi mà Hạnh Nguyện đồng nương theo để tròn nguyện. Chư Bồ Tát tâm nguyện những gì khó làm mà làm đặng, những chuyện khó nghe mà nghe đặng, những thời gian khắc nghiệt đóng kín khó tu mà tu đặng mới mong thành tựu.

Những câu thơ kỷ niệm thời Mạt Pháp ở thế kỷ 20 này, qua bao chông gai sắt thép, qua bao khổ hải, khổ ải, Ngài Hiện thể tại thành phố Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa với lòng Đại Bi, Đại Chí, Đại Dũng vẫn tận độ chúng sanh.

Sông sâu ta vẫn cố chèo
Núi cao rừng thẳm ngặt nghèo phải qua.
Bồ Tát cho đến Phật Đà
Cùng chung một ngõ, trải qua một đường.
Dù cho vạn nẻo muôn phương
Bản năng Trực Giác Chân Thường Giác Chân.

–T.V.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


58. Bát Nhã Tâm Kinh Ấn Chỉ

Bậc tu Phật sở đắc chân lý đến giai đoạn rốt ráo thành tựu chân lý là một vấn đề khó khăn vô kể. Phải thực hành tu Bát Nhã cốt đạt đến Bát Nhã Trí.
Bát Nhã Trí vốn là thể tánh Như Lai chung khắp trang nghiêm bất nhị mới không mang khai tướng Phật. Bằng sở đắc chân lý vội tự mãn chấp nhận chân lý là nơi trụ xứ phải lâm vào Tướng Phật mang khai.
Phật không có tướng Chánh Giác là Tướng Phật.

–Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh

Phật đạo có trọng trách cứu độ con người, nhân sanh tứ loài nên mới khai hóa con người và tứ loài đặng rõ biết, sự ràng buộc sanh tử, lần hồi tu hành, cốt thoát sanh khỏi vũ trụ, làm chủ vạn pháp nên mới nói “Tâm Kinh Bát Nhã” cứu giúp các bậc tu hành thị chứng như sau:

“Thấy tự tại Bồ Tát, thời pháp giới tự tại Bồ Tát, chớ chưa phải Bồ Tát. Bằng cho mình Bồ Tát, phải hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa trong một thời. Sáng thấy ngũ uẩn giai không, chỉ thị chứng vạn pháp, pháp giới khổ ách, liền độ tất cả khổ ách.

Xá Lợi Tử! Nơi sắc chớ nên bác bỏ dị không, nơi không chớ nên bác bỏ lại sắc. Vì sắc thị chứng nên mới không, thị chứng quân minh đều là sắc. Từ Thọ Tưởng Hành Thức thảy đều nằm nơi thị chứng.

Xá Lợi Tử! Thị chứng pháp liền không tướng mà giác tướng. Nơi giác tướng nó bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, thị cố tựa như không trung. Vào nơi Sắc, nơi Thọ Tưởng Hành Thức, cho đến vào Nhãn Nhĩ Tỷ Thiệt Thân Ý, vào Sắc Thinh Hương Vị Xúc Pháp: Vào nhãn là giới, nãi chí vào ý thức đều giới, cứ vào vô minh vô minh diệt, vào vô minh cốt tận vô minh, có chí vào Lão hoặc Tử, chưa diệt lão hay tử vẫn tận, vào khổ tập diệt đạo, vào trí diệt trí, vào đắc giải đắc, tất cả không nên cố trụ. Bồ đề tát đõa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố (tâm đừng quái ngại, nếu quái ngại liền củng cố, bị vạn pháp khủng bố). Hãy dẹp mộng tưởng Niết Bàn, điên đảo cứu cánh niết bàn đến quân minh thị chứng, Pháp giới chính niết bàn. Tam thế Chư phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa, sở đắc Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Những bậc cố tri thực hiện Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị chứng Đại Thần Chú đến Đại Minh Chú vào Thượng Chú liền thị chứng Đồng Đẳng, chú trừ tất cả khổ. Lời chân thiết không dối.

Lành thay! Lành thay Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là cố tri duyên lành cẩm nang chỉ đạo quân minh cho các bậc tu hành thọ trì tận giác.

Đến nay ta chỉ thẳng cái thấy quân minh đồng đẳng được gọi Vô Thượng Đẳng. Tất cả các bậc tu hành phải nương nơi Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa mới hoàn mỹ.” –T.V.

Thấy pháp giới, bậc tu hành có trình độ trí hóa liền nhận biết rõ Bổn Lai của pháp giới đó, phải nói năng, hành dụng không quái ngại sao cho đặng tỏ rõ, sạch sẽ gọi là thấy Tự Tại. Nhưng tự tại là pháp giới tự tại chớ chưa phải pháp giới tự tại là Bồ Tát.

Muốn trở thành Bồ Tát đúng lộ trình chư Phật, phải tự nguyện hành thâm pháp giới hàng bá thiên vạn lần cốt cúng dường Như Lai cho đến bao giờ được quân minh mới thực chứng tự tại. Lúc bấy giờ hành dụng pháp giới nào cũng đúng đặng tỏ tường pháp thân không còn trụ chấp pháp giới, không còn chướng đối pháp giới, thấu đạt tự độ cùng tha độ. Chừng đó được sáng tưởng thấy ngũ uẩn tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức vốn không.

 • SẮC UẨN: Chỉ chung mọi thứ vật chất hữu hình như thân.

 • THỌ UẨN: Chỉ tác dụng cảm nhận sự vật có cảnh liền sanh tình.

 • TƯỞNG UẨN: Chỉ tác dụng tưởng tượng sự vật của cảnh tâm liền sanh.

 • HÀNH UẨN: Tác dụng về tất cả hành động như thiện ác, tốt xấu của cảnh tâm liền sanh.

 • THỨC UẨN: Biết phân biệt sự vật của cảnh tình liền sanh.

Năm uẩn cũng chỉ là hai pháp Thân và Tâm, vốn sẵn thường còn nhưng chúng sanh vọng đảo mê lầm mà có khổ, không, vô thường. Tỷ như bong bóng nước do gió mà thành có rồi mất ngay không thực. Vui buồn, sướng khổ, được mất, có không của chúng sanh cũng như vậy, nó như trò huyễn ảo không thực thể, tất cả đều nằm trong hố sâu pháp giới: Có cảnh sanh tình. Chừng nào hành thâm pháp giới thấu đạt ngũ uẩn giai không mới thị chứng được do hợp hóa mà nó có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức trở thành vô lượng pháp làm chúng sanh thọ nhận khổ. Trực giác thấy biết thời nào nó vẫn thường diễn liền tâm hết khổ, đi đến cuối đường khổ, độ được tất cả khổ ách.

– XÁ LỢI TỬ: Nơi không do đồng hợp đồng hóa mà có sắc tướng. Nơi sắc tướng liền có tuổi thọ hợp tan lâu hay mau rồi trở về không. Vạn pháp như nhiên hợp hóa diễn mãi từ không đến có rồi từ có đến không.

Do đó, nơi Sắc chớ thọ chấp bác bỏ Không. Nơi Không chẳng nên bác bỏ Sắc. Vì từ hợp hóa mà có Sắc tức vốn Không - Không tức vốn Sắc. Cần biết hóa giải đúng, hợp tình hợp lý gọi là quân minh. Đấy chính là pháp đồng đẳng liền thị chứng Vô Thượng Đẳng nên không còn chỗ chấp KHÔNG. Pháp Vô Thượng Đẳng như nhiên vận chuyển được vũ trụ với con người vốn từ nơi không mà hợp hóa thành có. Thọ Tưởng Hành Thức cũng như vậy. Hóa giải pháp giới quân minh chính là Không Tướng mà Giác Tướng. Đã Giác Tướng các pháp liền không sanh cũng chẳng diệt, chẳng dùng con mắt giới hạn để thấy mà không tướng vẫn thấy, chẳng dơ cũng chẳng tịnh, chẳng thêm cũng chẳng bớt. Cứ vào pháp giới để tỏ biết đừng nản chí, dù cho có ý thức được vạn pháp vẫn pháp giới ý thức thôi chứ chưa giải được sanh tử.

Cứ vào vô minh tỏ vô minh sẽ hết vô minh, vào vô minh sâu thêm nữa như Phi Tướng thuộc pháp Bất Tịnh cốt yếu biết tận tường vô minh, sạch sẽ vô minh. Cần có chí bền biết sống trong tuổi già hoặc chết tuy chưa già chết vẫn tỏ tường già chết. Vậy có trí cần đào sâu vạn pháp, từ tỏ thông đến thấu đạt, đến tận tường trí, đừng có tăng thượng cho mình cao cống, cần vào sâu pháp giới nữa, có đắc pháp cũng đừng nên trụ đắc. Tất cả pháp giới không nên thọ chấp sẽ bị dừng trụ. Đừng cố ý quái ngại khi gặp pháp giới khó khăn hóa giải, phải tìm phương thức hóa giải cho được quân minh mới thông đặng vượt qua trở lực khó khăn. Nếu rụt rè quái ngại bị vương mang cái sợ mà củng cố, dừng trụ đứng yên cố thủ liền bị các pháp khủng bố càng tăng thêm khó khăn, không thoát sinh qua nổi pháp giới.

Phải thực hiện hóa giải pháp giới cho thông suốt chứ đừng dừng trụ, đừng suy nghĩ, đừng ảo tưởng trở thành điên đảo rồi cho hiểu biết của mình là pháp Cứu Cánh Niết Bàn. Biết sạch tận tường Bổn Lai Pháp Giới chính bất tử là Niết Bàn.

Tam Thế Chư Phật mười phương đều thực hiện Bát Nhã Ba La Mật Đa như vậy không sai chạy mà tận tường Chánh Biến Trí, sở đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những bậc tu thực hiện Bát Nhã như vậy thời nào cũng được Tương Thông Phật Lực là thành qủa, cố tri cùng Chư Phật.

Thật khó khăn vô kể, 100 vị sở đắc chân lý duy nhất chỉ có một vị thực hiện đạt quân minh thành tựu chân lý gọi là Diệu Quả Phật. Thường 100 vị sở đắc chân lý chưa hành thâm tận tường chân lý vội xưng danh Phật gọi là mang khai tướng Phật dễ bị lầm lẫn.

Bởi sở đắc chân lý tiếp tục thực hiện cốt tạo công năng công đức sung mãn thì mỗi tư tưởng, mỗi lời tuyên ngôn, mỗi hơi thở, mỗi nhẹ khẻ hành động đều tự phát Vi Diệu Pháp gọi là Thị Đại Thần Chú, mức tu chứng Đại thừa phá tan vô minh, đến Thị Đại Minh Chú, mức tu chứng Nhứt Thừa thông suốt Vô Minh, đến Vô Thượng Chú mức tu chứng Tối Thượng Thừa luôn nhứt thiết tận trừ khổ. Diệu âm nầy vi diệu tận độ chúng sanh không thể nghĩ bàn rất chân thật.

Tuyệt mỹ thay! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là đại duyên lành mật thiết, làm kim chỉ nam đúng đắn, tuyệt đối cho tất cả bậc tu cần thực hiện giữ gìn đừng xao lãng mà đến hoàn toàn Giác Ngộ. Bậc Chánh Giác phải nương theo vạn pháp hóa giải quân minh lớp lớp mới Tận Thành Chánh Quả.

ĐẠI ĐỨC: Tôi nghe Đức Long Hoa Tăng Chủ khai thị tại Trung Ương Hội Thượng số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng Nha Trang như vầy: Bậc Tăng có đầy đủ công năng trực giác thấy biết (Trực Thị) vạn pháp trong tứ thời. Công đức luôn hỷ xả cao dày gặp hoàn cảnh tâm chí hướng thượng hóa giải bờ ngăn, lấy tự tánh làm cơ bản tự độ tha độ. Tâm chí bao dung được xưng tán Đại Đức.

– HÒA THƯỢNG: Bậc tu từ lý cho đến trí dung hòa chẳng xa lìa thể tánh, không còn Ngã và Ngã Sở. Bậc này tự biết nương theo Chư Bồ Tát, Chư Phật đưa cho tất cả bậc tín tâm tu được Giác Ngộ. Nếu có bậc tu cầu giác ngộ rốt ráo bậc Hòa Thượng phải biết hành dụng đến diệu dụng Hữu Tướng Phi Tướng viên dung cốt tận độ cho bậc tín tâm đến toàn thiện toàn chân. Hòa thượng phải là bậc độ được Đại Đức mỗi ngày thêm công năng công đức càng cao dày.

Trình độ tu chứng Đại Thừa từ Giác Ngộ, Đại Ngộ đến Liễu Ngộ là cao nhất. Những bậc đắc chân lý này thường là vị Tổ có trình độ trực giác được nghiệp thức phiên diễn của chúng sanh, chỉ đạo cứu độ chúng sanh trong chân tình bất diệt làm cho chúng sanh tỏ thông nhận chân được chân lý mà Giác Ngộ./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


57. Trung Đạo Tôn

“Kẻ ngu xuẩn nhất chính Ta, kẻ hư vọng tham cầu mang Phật Đạo vào con đường lệch lạc mà công nhận tu cầu giải thoát môn. Ta hiếu kỳ lựa chọn một trong hai điểm Thanh–Thô, Thiện–Ác. Ta ngỡ rằng Thanh là Phật Đạo. Thiện tạo giác chân tu lấy một chiều, còn một hướng Ta đành vứt bỏ, may mắn thay nếu Ta huân tập nung đúc thiện căn, Ta phải lầm tu nơi phước báo. Bằng thâu nhận thanh hương có lẽ lúc hình thành sa vào Tiên Đạo thì sao?” –T.V.

Ngài tự xét mình để nhắc nhở căn bệnh lầm lẫn của bậc tu cầu Tri Kiến Giải Thoát có quan niệm chọn Thanh là điều tốt lành, hành động dịu dàng ai cũng ưa thích. Bậc chọn Thanh phải bỏ Thô tức cái không ưa thích, cái xấu. Cũng có bậc quan niệm chọn thiện, ghét ác rồi cho thanh, thiện là Phật Đạo. Tất cả quan niệm trên của đa số bậc tu đều không tỏ rỏ được con đường Trung Đạo vì bị lệch một chiều theo ý muốn đã qui định sẵn nên không sao đi đúng Giải Thoát Môn, lạc vào Tiên Đạo.

“Tuyệt tác thay. Hôm nay Ta mới thâu nhận con đường Trung Đạo Tôn chính một con đường duy nhất, thâu nhận tất cả hai bên Thiện Ác, Có Không mới tu đạt tuyệt đối thoát khỏi tương sanh mới điều hòa không chênh lệch. Té ra Phật Đạo tâm chí dung thông, tương đối chốn lầm than, tuyệt đối nơi giải thoát lành mạnh khỏi dị phân nào ngăn cách dị biệt.” –T.V.

Con đường Trung Đạo rất cần thiết để bậc thật tâm tu giải quyết vạn pháp đúng nhất, hợp lý nhất, thích đáng nhất trong đời sống hiện tại, tỏ thông Đạo Đời hợp nhất. Nó là con đường tuyệt đối đưa đến hoàn mỹ thành đạt quả vị tu chứng.

Hóa giải vạn pháp một chiều, còn mắc miếu ở tương đối, sẽ không thông. Câu chuyện sau đây chỉ rõ con đường Trung Đạo đáng ghi nhớ cho việc hóa giải vạn pháp.

Một hôm Đức Long Hoa Tăng Chủ muốn có bức tranh “Đức Di Lạc đang tháo đãy”. Ngài bảo tôi thực hiện. Khi vào Sài Gòn tôi tìm họa sĩ nói ý nghĩa, họa sĩ vẽ rất công phu cả tháng mới xong. Tôi mang ra Nha Trang lòng vui mừng vì đã thực hiện được một công đức làm cho Ngài thích, chủ yếu tỏ tâm nhiệt thành đạo. Bức tranh đã được treo lên ai cũng khen đẹp. Chừng 30 phút sau ông Pháp Dung cũng mang ra một bức tranh “Đức Di Lạc đang tháo đãy”. Thì ra cùng một lúc Ngài bảo tôi lại cũng bảo ông Pháp Dung vẽ nữa. Khi treo lên Ngài bảo:

"Tranh ông Pháp Dung vẽ đẹp hơn. Vậy làm sao đây Pháp Khả?"

Tôi liền kiểm soi có buồn, có tức giận, có khổ tâm không. Nhưng những chủng tánh này không còn hiện trong tôi nên tôi thưa: Bức tranh Pháp Dung đẹp nên giữ, còn tranh con nên đốt.

Ngài làm thinh, chừng 15 phút sau Ngài hỏi lại –Tôi thưa nên đốt vì để hai bức tranh cùng một nội dung tại Trung Ương mai sau không nhất trí. Khoảng một giờ sau từ tịnh thất Ngài vào chánh điện hỏi tôi một lần nữa. Tôi vẫn thưa với lòng trong sạch không có một khởi vọng giận hờn. Ngài cho đốt. Tôi hoan hỷ mừng vì còn một bức duy nhất làm mẫu.

Đốt xong Ngài bảo: “Tôi chứng minh cho ông vào được con đường Trung Đạo Tôn.”

“Nơi kinh điển đường Trung Đạo mà Đức Thế Tôn đã ấn chỉ trong thời hiền kiếp, đường hướng chỉ đạo cho thính chúng phải thực hiện hai bên, phải hòa đồng tương đối mà sở đắc tuyệt đối mới mong Giác Ngộ. Nó cách xa bá thiên vạn triệu thế kỷ trước, nó gần nhất đối với thế kỷ hai mươi nầy, thế mà chính ta đã lầm lẫn, thời làm sao các bậc tu hành tránh khỏi sự lầm lẫn như ta.” –T.V.

Tỷ dụ trên cho thấy phải xem xét không thiên lệch bên nào, phải hòa đồng hai bên gọi là tương đối. Sau chọn một bức tranh tốt nhất bỏ cái kia đi gọi là tuyệt đối. Có vậy mới hợp lý, đúng đắn nhất. Lối giải quyết như vậy gọi là Trung Đạo Tôn, con đường đi đến Tri Kiến Giải Thoát.

Nếu không hóa giải đúng tức còn lầm lẫn. Trước khi Chánh Giác bậc nào cũng không tránh khỏi lầm lạc nhưng những bậc thiện chí cầu đạo đều hỷ xả không vì cá nhân cá tánh mới thông suốt hết lầm lạc. Rất ít bậc thật tâm cầu đạo Giác Ngộ nên cũng không tránh khỏi lạc lầm con đường Trung Đạo Tôn nhiều đời nhiều kiếp.

“Hay thay! Cao quí thay Chí Tôn Vô Thượng. Ngài chỉ đạo Trung Tôn, chớ nên bỏ lấy chung khắp sự lầm lạc tương đối, phải tương tranh, thiếu thừa sa đọa cùng điều đau khổ do nơi dị biệt cho nên bất đồng, do chỗ Có Không sanh ra tham vọng, do ganh tị phải hồ nghi, sự đen trắng trắng đen hai con đường sanh tử.” –T.V.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Ngài vẫn dạy con đường Trung Đạo Tôn, tương đối là pháp lầm lạc. Phải hòa đồng tương đối mà đi đến tuyệt đối. Đó là con đường Giác Ngộ. Bỏ–lấy, có–không, thiếu–thừa là tương đối sanh ra bất đồng, sanh ra tham vọng, hồ nghi. Đó là con đường sanh tử. Trong cuộc sống hằng ngày nếu chú tâm thực hành con đường Trung Đạo Tôn sẽ kết quả hoàn mỹ.

“Ta phải tu từng bước một, từ giai đoạn nầy đến giai đoạn nọ phải gìn giữ cho tròn, khi gặp bất tịnh lòng nơi ta hỷ xả. Đến một ngày nào chính Ta mới hay lời Chí Tôn nói: Từ Bi Hỷ Xả là mục tiêu nầy lòng Ta tự sanh Bác Ái đồng hóa nhân sinh.” –T.V.

Thực hiện được cho tròn chính là Trung Đạo Tôn. Từng pháp, từng pháp một bậc tu cần nhận định thực hiện đúng. Tịnh thường ưa thích, bất tịnh chê bai không hỷ xả sinh chướng đối thì làm sao có Từ Bi. Muốn có lòng Đại Từ Bi cứu chúng sanh, trước tiên: Từ là từ bỏ những tánh xấu, đố tật xấu. Bi có nghĩa là tròn, chỗ nào nó cũng lăn tới được. Khi con người sạch sẽ trơn liền chúng sanh tánh thì độ chúng sanh lúc đó mới hiệu quả. Đó là Từ Bi, Từ Bi có sẽ ý thức được Hỷ Xả. Từ đó tự phát sanh Bác Ái. Còn vướng mắc, còn chướng đối chưa có Từ Bi-Hỷ Xả được. Tịnh-Bất Tịnh dung thông nếu chưa thực hiện cũng chưa tỏ thấu Từ Bi Hỷ Xả.

“Tỏ thấu tánh chất mình mới thâu nhận được vũ trụ hư không Như Lai Nhãn Tạng, hòa hợp chung khắp tận tận ngọn ngành mà Chánh Giác.” –T.V.

Trong đời thiện ác đầy dẫy, hữu tướng cùng phi tướng khắp nơi, phải hòa hợp tỏ thấu đầy đủ chi tiết toàn chân toàn thiện hai nơi thuận nghịch, điều ngự khỏi lầm mê. Không chấp pháp mà tỏ thấu pháp đó là vào hư không, vào Như Lai Tạng thấy biết chung cùng gọi là Như Lai Nhãn Tạng thuộc không tướng vẫn thấy.

“Thiền sư suy ngẫm đến đây, Ngài bèn chỉnh đốn y áo, quay mặt hướng đông lễ bái bảy lần, Ngài âm thầm thưa gởi: Bạch Thế Tôn Vô Thượng, Ngài chính bậc Chí Tôn vuông tròn chung khắp, đồng đẳng bá thiên vạn triệu, bá thiên vạn hạnh, Vô Lượng Vô Biên Công Đức Phật về với Đẳng Đẳng Tôn Chánh Giác. Do đó, cho nên dưới mắt Phật thảy đều đồng đẳng Như Lai, vô phân biệt tính, vô thọ chủng lai, vô hoàn thể giác, vô xứ xứ trụ. Nay con xin kiểm chứng thừa lệnh thuyết minh, giúp đời này, đời sau nương Trung Đạo Tôn tu đoạt giác chân trùm khắp.” –T.V.

Sau khi thành Phật Quả, Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật hồi hướng cùng Chư Phật. Ngài thấu hiểu phải vô lượng công năng công đức sung mãn mới Chánh Giác. Dưới mắt Chư Phật đều là Như Lai Tối Thượng không còn một vi trần phân đối, cũng không còn tập nhiễm một chủng tử nào, cũng không còn thọ chấp Chánh Giác, lìa Chánh Định không trụ xứ nhưng đâu đâu cũng thị hiện Trung Đạo Tôn trùm khắp./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


56. Tư Tưởng Đại Diện Linh Hồn

“Do thế nào mà Tư Tưởng Đại Diện Linh Hồn. Vì tất cả nhân sinh tứ loài sống không ngoài tư tưởng. Tư tưởng là bá chủ hoàn cầu, cho đến Tam Thiên Đại Thiên thế giới chung khắp vũ trụ, nếu không nương theo tư tưởng thời không thể nào có cái sống. Tuy nhiên tư tưởng nó có sẵn sự lý vui buồn, sướng khổ, được mất, không thể nào mất hẳn tư tưởng làm nơi sống cho con người đặng.” –T.V.

Nhân sinh tứ loài sống trong tư tưởng không lúc nào dừng, nguời tu chú ý mới thấy nó di chuyển linh động, không ai làm chủ nó mới bị nó dắt đi sanh tử.

Tư tưởng do con người theo tập nhiễm mà thanh thô, rộng hẹp, thiện ác nên mới tiêu biểu cho sự tu chứng khác nhau như phàm nhân, trí thức qua Tiên Thần. Tư tưởng tạo ra vui buồn, sướng khổ chung khắp Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Bậc tu Thiền thấy rõ tư tưởng di chuyển khắp mười phương qua từng lớp lớp cốt để tỏ ngộ. Nó cũng dễ dàng làm cho Bậc tu lầm tưởng mà thọ chấp, rồi tưởng mình thành ông nầy bà nọ. Rất nhiều trường hợp xảy ra bị lầm nhận không được gặp Bậc thật biết khai ngộ cho nên cứ lấy cái tưởng sống trong Loạn tưởng tu đến thành tựu liền bị An Trụ.

“Nói đến dòng tư tưởng, thường tư tưởng là tư tưởng, còn linh hồn là linh hồn, chớ chẳng có thể nói tư tưởng là linh hồn đặng. Khi dòng tư tưởng phát huy có hệ thống, sáng suốt gọi nó là trí tuệ, chập chờn đen tối, lầm lẫn cho nó là ngu xuẩn thành thử mới có trình độ, chia ra giai cấp, cấp nào dùng tư tưởng theo giai cấp đó, trình độ đạo đức hay phi đạo đức thảy đều sử dụng, tuân hành tư tưởng của mình mà phát hiện, thật khó mang tư tưởng của giai cấp này sang trình độ kia mà sử dụng, chỉ trừ ra tâm chí bản năng của mỗi người, tự chính mình phải cấu tạo, huân tập một thời gian làm cho tư tưởng lành mạnh mới sử dụng được mà thôi, bằng cố ép giúp đỡ trong khuôn khổ nào chăng vẫn đều là kém phần kết quả như ý đặng.

Vì sao? Vì mỗi một tư tưởng, nó có một bản chất độc lập nơi nó, duy chỉ có con người đang mang chỗ cố định tự giải tỏa là xong.” –T.V.

Tư tưởng tạo nghiệp thức, ai là chúng sanh không sao thoát khỏi nó, nó là nguồn mê đưa nhân sinh tứ loài thọ chấp dừng trụ. Nếu Bậc tu hành Đạo hạnh vẫn bị chấp, nếu tu trí tuệ phá chấp vẫn bị chấp. Hai lối vẫn không thoát sinh được Nghiệp Thức. Nếu Tọa Thiền Xuất Định để an trụ nơi Thiền Định, vẫn không thoát khỏi Nghiệp Thức. Nhiều Bậc lầm nơi an trụ không biết làm sao phá vô minh. Thực tế khi Đức Long Hoa Tăng Chủ chỉ đạo hàng Tôn Giả, A La Hán, Tiên Thần đang hiện diện trong Long Hoa Hội Thượng, tất cả đều thấy, đều nhận định được tu phải giải nghiệp nhưng đến phần thực hành giải nghiệp ai ai cũng thấy khó khăn, quá ư khó khăn thoát sinh nơi hữu hoá của tư tưởng.

Từ đó mới có tu chứng cao thấp khác nhau, mới có sự chứng minh, không chứng minh cho nhiều Bậc tu quanh Ngài. Vì sự hệ trọng và ích lợi của tư tưởng như thế nên Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật căn dặn Đức Trí Tương Song. Tư tưởng có ý thức tạo được đạo đức là Pháp Định. Còn tư tưởng ở vị trí Thần Thức phát Huệ chính Pháp Thân. Gặp Ngài chỉ rành mạch như vậy nên khi bước từ Đại Thừa vào Nhất Thừa đa số hiểu nhưng không thực hành được. Do tư tưởng chứa nhóm tạo thành TÁNH. Cùng lắm là sửa Tánh nơi Đại Thừa chớ vào tư tưởng đi quan sát tỷ mỷ Long Mạch Pháp Thân thuộc Nhất Thừa đa số không theo kịp nên Ngài dừng cho họ. Một đời Phật nay lại một đời Phật ở thế kỷ này thật dài. Hàng Thánh Chúng hầu hết tỏ Đại Thừa còn thành tựu Phật Thừa thì còn xa, như vậy thử hỏi lấy lý trí nhận định làm sao tỏ tường được.

Vì vậy khó mang tư tưởng an trụ của giai cấp này sang giai cấp khác được là như vậy. Do đó mà gặp Phật, bậc tu hàng Thánh Chúng không tự nguyện cao độ cũng không ép được dù lòng Đại Bi, Đại Chí, Đại Dũng của Chư Phật đã sẵn.

“Phật đạo không công nhận Linh Hồn, chỉ chấp nhận tư tưởng lầm lạc, vọng khởi đảo điên, nếu tư tưởng trừ tưởng buông lung gọi là Loạn Tưởng. Từ nơi toàn diện lầm lạc, đảo điên không kiểm chứng tư tưởng của bản thân mình, mong cầu loạn tưởng trở thành nơi chân thật, chẳng bao giờ đến chân thật, thành thử mới có chỗ giả tạo. Nếu tư tưởng giả tạo thì sự việc phải thay đổi, đổi thay theo nhịp nhàng tư tưởng khẳng định, trở thành nơi mức sống tạm bợ của tứ loài nói chung, nhân sinh nói riêng từng cảnh giới đều sanh tử luân hồi thay đổi. Do Phật nói vạn pháp như huyễn hóa. Đời là một giấc mơ, phải tu cầu giải thoát nơi mơ vọng về với Chân Tôn chứng trụ.” –T.V.

Chư Phật viên minh trùm khắp tư tưởng lầm lạc của Chúng Sanh. Chúng sanh lầm theo vọng tưởng làm tâm sống trong vọng tưởng cô động. Thật tuyệt diệu thay, Đấng Chí Tôn A Di Đà ban hành Vãng Sanh tư tưởng, làm cho chúng sanh từ nơi tư tưởng động vọng tối đen, trở thành sáng tưởng về Tịnh Độ. Đúng đường Tịnh Độ của Chư Phật cũng không phải dễ, đừng nên quan niệm tu Tịnh Độ dễ nhất, vì lầm cho là dễ dàng, bị tưởng không tỏ rõ đuợc vòng đai sanh tử nơi tư tưởng.

Bậc tu trên con đường giải thoát phải nhận được tư tưởng nó có hàng hàng lớp lớp diễn mãi không ngừng, nhiều vô tận vô biên như cát sông Hằng, mỗi hạt cát là một khởi tư tưởng, một tư tưởng là một chủng tử khác nhau. Nếu Bậc tu an trụ quan niệm mình phải lãnh lấy một hạt cát mà hưởng. Đại Bồ Tát, Bồ Tát biết sử dụng từng chủng chủng làm pháp giới cơ bản tu hành nên nó biến thành hạt giống Như Lai vô cùng hữu dụng, thấu đạt được thì nó trực thuộc Đại Ngã kiến diện Như Lai phá tan lầm lạc đưa về Siêu Đẳng Chánh Giác. Do đó hàng Đại Bồ Tát rất thận trọng thệ nguyện Như Lai vô biên thề nguyện sự. Phật Pháp vô biên thề nguyện học. Còn Bậc tu phát nguyện cho có là chuyện khác vì câu này nghe thường quá!

Vì lầm lạc nơi tư tưởng thành loạn tưởng, vọng tưởng nên chúng sanh phải bị sống giả tạm gọi là Vạn Pháp Như Huyễn trở thành đời là giấc mơ. Do đó Chư Phật mới khai ngộ con đường Giải Thoát Sanh Tử. Vậy Bậc tu sao lại không cầu Giải Thoát! Bất kể tôn giáo nào cũng cần Giải thoát sanh tử, có về cõi Trời hết kiếp cũng chết rồi lại bị sanh tử không vĩnh cửu thoải mái an lành đuợc.

“Bản Ngã giả tưởng chính nó là Đại Diện Linh Hồn của chúng sanh Âm u theo giả tưởng mà phải lìa bỏ Chân Giác chưa về nơi Bát Đại. Bát Đại Linh Hồn bất biến thường còn vậy.

Sự thừa nhận làm cho chúng sanh giai thành Phật đạo, nên chi Chư Phật mới khuyến khích Chư Vị Bồ Tát Hạnh-nguyện độ sanh, Hành-nguyện thâm nhập pháp giới cùng tu cầu Bát Nhã, đặng trọn lãnh thừa hưởng Bát Nhã Trí an vui Cực Lạc, khỏi vòng tư tưởng giả tưởng, làm chủ thân mạng, làm chủ vạn pháp, tường tận Chánh Giác.” –T.V.

Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác như Ngài đã tận từ chỉ đạo Bồ Tát nên chi Bậc này tận dụng ngôn ngữ thuyết giải theo Bậc tu sao cho phù hợp mà dìu dắt chúng sanh. Hàng Bồ Tát nương tư tưởng nhiếp thâu từng lớp lớp tư tưởng giả tưởng của chúng sanh lầm lạc sanh tử mà thấu đạt Bát Nhã Trí thoát khỏi vòng đai tư tưởng giả tưởng làm chủ thân mạng, làm chủ vạn pháp, thấu đạt Chánh Giác. Chừng đó mới tiếp tục hành nguyện hạnh nguyện thâm nhập cho đến khi tận thành Bát Đại Linh Hồn bất biến thường còn mới thành Phật.

Khó khăn như vậy mà nhiều vị Phật giới lầm chấp cho mình đã thành Phật như thời Hạ Kiếp Ngài đã chứng kiến thật không sao kể và tính đếm cho hết được.

“Khi Bồ Tát tận dụng Đạo Hạnh Không, cũng chưa đủ trên con đường tu cầu giải thoát vọng mơ. Đạo hạnh phải kèm theo Chí nguyện, mới gọi là Bồ Tát trọn vẹn Hạnh Nguyện. Bằng đạo Hạnh đứng yên, Đạo Hạnh gìn giữ củng cố thời trở thành tượng gỗ chồi khô, sống trong tư tưởng thọ Ngã rỗng không khoảng cách. Bồ Tát có chí nguyện chính là Bồ Tát Hạnh đã từng hướng thượng. Bồ Tát Hạnh chưa chí nguyện là hàng Bồ Tát giả danh củng cố tư tưởng, chưa bao giờ khai thác tư tưởng nơi mình để sáng soi chung khắp mà tự ngộ.” –T.V.

Thường thường Bồ Tát Hạnh củng cố Đạo hạnh được tất cả ưa thích nên khi gặp pháp bất tịnh, gay cấn khó khăn phải qua khúc eo, Bậc này thường nản chí. Vì vậy cần phát Đại Nguyện bền chí để thấu đạt sâu con đường giải thoát rốt ráo. Có như vậy mới hạnh nguyện được trọn vẹn, thấu đạt từng lớp lớp chúng sanh, đuợc Tịnh Bất Tịnh dung thông với mục đích thề nguyện sự cúng dường Như Lai. Bồ Tát được sạch sẽ không còn tập nhiễm, được Vô Ngại Tự Tại, Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo. Đại Bồ Tát được tự tại không còn mảy may ô nhiễm sự việc mình đang hành thâm pháp giới, duy nhất cầu sở đắc thấu suốt chung khắp dù cho hàng Nhị Thừa không chứng tri được Bồ Tát cũng hành sự, kiến sự đặng Tổng Trì Đà La Ni Tạng mà chung cùng Như Lai, nhập nơi Chánh Định Tam Muội đặng chờ đến dịp Chư Phật thọ ký thành PHẬT.

Khi thâm nhập Pháp giới có bị nguyền rủa Bồ Tát vẫn hướng thượng vì đó là Bồ Tát Tánh rất cần thiết phải thực hiện.

“Vì lầm mê chung khắp thọ Ngã nhận lãnh, mỗi một khía cạnh tư tưởng làm chốn an trụ trở thành chúng sanh giới hạn. Phần Đại Diện phải linh động dung thông từ Tịnh đến Bất Tịnh đâu đâu vốn thuyên diễn chẳng thiếu sót, cho nên tư tưởng mới làm chủ động Tam Thiên và Tam Thế Phật.

Nơi Tam Thế Chư Phật đồng nương bổn nguyện, tận độ chúng sanh rốt ráo mà Chánh Giác. Do đó mới có Chư Phật thị hiện, chúng sanh gặp Phật. Nơi thị hiện này là cương vị Hiện Thể của Chư Phật. Còn Hàng Bồ Tát lai trần nương thể mà hiện thời đặc trách qui chế thể hiện. Chư Phật Hiện Thể có thẩm quyền độc lập, chứng minh vũ trụ. Bồ Tát thể hiện cứu độ chúng sanh chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng. Vì vậy nên chi Chư Phật toàn chân toàn thiện Chánh Giác.” –T.V.

Tư tưởng Đại Diện Linh Hồn nên vốn sẵn linh động lại dung thông, đâu đâu nó cũng có từ nơi Tịnh-Bất Tịnh, nó làm chủ Tam Thiên Đại Thiên Thế giới và cả Tam Thế Phật. Chư Phật luôn Đại Từ Đại Bi, lúc nào cũng đồng bổn nguyện tận độ chúng sanh đến Chánh Giác như các Ngài. Vì vậy Chư Phật nương chúng sanh làm chủ khai đạo mới thấy biết từng Bổn lai pháp mà hiện thân tận độ chúng sanh thành Phật.

Còn Bồ Tát lai trần phải nương thể của Như Lai Phật đặc trách nhiệm vụ độ sanh theo đường lối Phật y Tôn chỉ không y Kinh cũng chẳng ly Kinh. Chư Phật làm chủ tất cả tư tưởng nên Chư Phật mới đủ quyền Phật Lực vô lượng vô biên, vô ngại, tư tại hiện đại phương tiện, đường lối an lạc cho chúng sanh. Như Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đã sắp đặt ổn định cho hai khối chung sống hòa bình. Dẹp nạn nguyên tử đe dọa nhân loại, chiến tranh hết đe dọa giữa hai khối làm nhân loại sống an ổn. Cuộc thế Ngài chứng minh an bài phân minh.

Nói không hết muôn ngàn ý, chính cái thế hiện nay của Trung Quốc và Việt Nam là Ngài đã an bài đổi mới nó là giao điểm cho Đông Phương và Tây Phương. Đừng nên nghĩ mình đã làm ra, sáng tạo ra vì đối với chúng sanh lãnh đạo, Chư Phật dùng Tam Muội Định đem đến quân minh thật khó nghĩ bàn. Lời nói kín nhiệm này trăm ngàn chân thật. Nếu ai am tường Tam Muội chỉ một nhẹ khẽ đã phải biết sự thật đúng đắn.

Nhìn đời Ngài đã ban hành Hịch Chứng Minh vũ trụ. Về Đạo Ngài lập lại tu có tôn ty trật tự theo y Tôn Chỉ Tam Thế Phật. Chư Bồ Tát, A La Hán được Chư Phật ban hành lệnh ấn ký, cứ theo thể của Chư Phật mà cứu độ chúng sanh. Bồ Tát không có làm gì ra khỏi quốc độ của Chư Phật được. Nhờ có hạnh nguyện mới tiến dần đến Phật Chánh Giác. Đạo Đời song toàn mới thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Khuyên ai xưng Phật hãy xem xét lại.

“Tư tưởng không lầm, thì Tạng thức nào đâu có lạc? Không lầm lạc thì viên minh Như Lai Kiến Diện, Kiến Diện Như Lai đồng một. Làm như thế, tu như vậy vẫn chưa đủ bổ sung, hiện thể tướng Bát Đại Niết Bàn. Vì sao? Vì Bát Đại phải trải qua Đại Bát, nhiếp thu tám đại tận tận rốt ráo hoàn toàn Chánh Giác. Thế nào là tám Đại?

  1. Địa Đại.
 2. Thủy Đại.

 3. Phong Đại.

 4. Hỏa Đại.

 5. Hư Không.

 6. Tạng Thức.

Trong 6 Đại này, Vũ Trụ chỉ có Tứ Đại: Đất Nước Gió Lửa. Ngoài Đất Nước Gió Lửa ra thì tứ loài có thêm hai Đại: Hư Không và Tạng Thức, thành thử tứ loài lai sanh làm chủ vũ trụ. Sự thừa hưởng của tứ loài nó không ngoài Chánh Báo và Thọ Báo nhịp nhàng nơi tư tưởng, vì như thế nên chi từ hàng Nhân Thiên dụng tư tưởng làm nơi tiến bộ, cho đến hàng Nhị Thừa phải tận dùng Định Tưởng mà sáng tạo Cõi Trời hay thành công các cơ sở chủ đích. Ngoài ra chỉ có ba cõi như Dục Giới – Sắc Giới và Vô Sắc Giới cùng các cõi Thiên Tiên thì ứng dụng Hư Không Tạng Thức được gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Phẩm lượng và chất độ nó tùy theo hàng hàng lớp lớp mà huân tập thành tựu.

Còn lại hai Đại, vượt tầm gọi là Như Lai Đại cùng Giác Tướng Đại, nên chi lúc không lầm, không lạc Kiến Diện Như Lai hay Như Lai Kiến Diện chớ chưa thành đạt Như Lai thì phải thấu đáo Hư Không tận tận thấu Đại Giác Tướng Phật.” –T.V.

Tư tưởng không lầm lạc thì Bồ Tát vào thể Như Lai gọi là Kiến Diện Như Lai, thấu đạt được Như Lai vốn dung thông viên minh. Hàng Bồ Tát đối diện nhận định được đâu đâu cũng Như Lai Kiến Diện trong tứ thời. Hàng Ma Ha Tát còn phải nhập thể sâu vào tám Đại của Như Lai mới rốt ráo hoàn toàn Chánh Giác. Chỉ Đức Bổn Sư nay là Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật mới hoàn tất Bát Đại mà vào Hư Không tận tận thấu Giác Tướng Phật.

Tứ loài bị tư tưởng điều hành, sáng tưởng được phước báo Nhân Thiên. Tối tưởng nó đưa đi Thọ Báo A Tu La, Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục. Biết dụng tư tưởng làm chủ thân tâm, làm chủ Tam Thiên thì được Chánh Báo. Hàng Bồ Tát thấu đạt biết dụng tư tưởng. Còn cấp dưới dù tu gì cũng bị nó điều động. Cho nên Chư Phật mới cho niệm Phật để sáng tưởng không còn bị thọ báo nhưng chúng sanh chưa Nhất Tâm vẫn bị sanh tử.

Hàng Bồ Tát Kiến Diện Như Lai nên lấy Như Lai Đại làm chỗ nương thân tu hành cho rốt ráo Giác Tướng Đại chờ Chư Phật thọ ký thành Phật.

Hàng Nhị Thừa cho đến hàng tu cầu phước báo Nhân Thiên thảy đều dụng tư tưởng làm nơi Định Tưởng. Nơi Định Tưởng nó có đầy đủ từng lớp mà thọ báo cảnh giới như Tiên Thần thì an trụ nơi thanh thoát thành hữu vi Niết bàn nhận lãnh Hư Không làm Có. Còn Bậc không tu cầu Chánh Báo sa vào Vô Dư Niết Bàn không Tri Kiến Phật hiện tại, không Giác Tướng Đại.

Chỉ Chư Phật được đầy đủ Bát Đại mới chu đáo khai thị cho Hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát nhận diện được Bát Đại. Hàng A La Hán chỉ khi nào không còn an trụ Phật Giới mới Kiến Diện Như Lai vào sâu Giác Tướng Đại. Thật khó khăn vô kể tất cả Tam Tạng Kinh, cho đến diệu dụng từ nơi lời nói, cử chỉ của Chư Phật đều là Khai Thị làm cho Tứ Chúng Ngộ Nhập, nhưng Tứ Chúng vì chủng tánh chủng nghiệp ngăn cản đủ hình thức tạo thành vô minh che khuất mà khó nhận lãnh được nên mới gọi là khó khăn.

Do nơi chúng sanh thờ ơ chưa Nhất Tâm nghiêm túc, chưa đầy đủ chí hướng ngang hàng với Bồ Tát thành chưa hợp hóa trưởng thành quả vị tu chứng.

Tự bản thân phải tự nâng mình cốt giải quyết thân mạng, giải quyết tư tưởng dụng nơi Hướng Thượng làm nơi sáng tưởng, viên minh khám phá Tạng Thức về với Chân Như. Tu như vậy, thực hiện như vậy làm gì có Nghiệp ngăn cản, kéo lôi.

Từ đó nhận được: Chính Như Lai không thuyết pháp mà chúng sanh cũng không nghe pháp. Chí Tôn giải: Phải chính ông không nghe pháp mà ta cũng không thuyết pháp. Tuyệt tác thay! Vi diệu thay! Đấng Chí Tôn Vô Thượng thị. Bằng Như Lai thuyết pháp, Tôn Giả tu Bồ Đề nghe pháp thời các pháp này thảy đều là các pháp hư dối, nhận lãnh tư tưởng giả tưởng làm thế nào, thọ trì Giác Tướng để tận tận hư không, qua bên kia Không Không tận Chánh Giác./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


55. Do Lầm Nên Hữu Hoá

“Bậc Đại Giác Chí Tôn, Ngài đã tường tận, cái MÊ không gốc mà trái lại có nguồn, vì chúng sanh Hữu Ngã mà gây ra, nên Ấn chỉ chúng sanh lìa Ngã, nương Vô Ngã tầm Đại Chơn, nương theo trăm sông lần về biển cả. Thiền Sư Ngài nói đến đây ra chìu suy gẫm liền tự thán: Khó khăn thay trên con đường vào Chánh Giác. Ta đã từng trải qua bao nỗi khúc eo vô cùng vô tận, nay đạt đến biển cả khó phân như thế nào cho tất cả đang vật vờ nơi cơn mơ chưa hồi tỉnh. Sức nơi Ta là sức Đại Dương, còn công năng chúng sanh khác nào bọt trôi theo cơn sóng gió.” –T.V.

Cái mê nó không có gốc vì nếu mê có gốc thì chẳng bao giờ tu Giác Ngộ. Trái lại cái mê nó có nguồn. Vì sao?

Vì duyên khởi sanh tâm đó là nguồn mê. Khi đã có TÂM SANH, Tâm nó liền có TÁNH đó là nguồn mê. Tánh ấy phải có THỨC đó là nguồn mê. Thức thì linh động di chuyển không ngừng, bởi Bậc tu hay kẻ chưa tu mong cho Thức ngừng an trụ mà trở thành Nghiệp. Đó chính là nguồn mê trong tứ thời lầm lẫn để thọ chấp làm chúng sanh giới. Bậc tu tỏ biết không thọ chấp, không an trụ sẽ được tu chứng từng cấp bậc cao thấp khác nhau rốt ráo hoặc chưa rốt ráo mà tỏ rõ được nguồn mê. Khi đã thấu đạt do nghiệp tạo nguồn Mê, phải hành thâm pháp giới cho đến thật chứng liền hết nguồn Mê. Thức đây là Thần Thức, Thần Thức là tư tưởng năng trụ chấp theo cái Ngã Sở của Ý Thức tạo thành Nghiệp.

Do đó mà Bậc tu cần tìm phương thức giải nghiệp hay tìm Bậc thấu đạt Bồ Tát Đạo chỉ bày Giải Nghiệp mới tu. Nghiệp thì nhiều vô kể gọi là trăm sông, nó có đủ chiều hướng, đủ khía cạnh quá ư khôn khéo, quá ư tinh vi. Nhiều Bậc tu còn Nghiệp thức lại không biết Nghiệp thức là gì nó liền gạt nói mình ông nọ bà kia thật lầm độc hại truyền kiếp. Giải Nghiệp sạch sẽ được về Chân Tôn gọi là về biển cả.

Khúc eo gọi là qua được hoàn cảnh khắc nghiệt, cứ giải bớt được Nghiệp bao nhiêu thì Trí Tuệ tăng trưởng thọ lãnh Bảo Pháp bấy nhiêu. Còn chúng sanh dụng công năng học từ chương, nghiên cứu mà không biết tu Giải Nghiệp cũng chẳng khác bọt nước trôi theo con sóng không đến đích Giác Ngộ được. Chịu đựng vượt qua vô số khúc eo gay cấn quá ư khó khăn gọi là sức Đại Dương thành Phật. Thấu đạt là Chư Bồ Tát.

“Ngài tự thán xong, Thiền Sư đưa Chánh Niệm giao cảm Chư Phật mười phương rung chuyển Tam Thế Chư Phật đồng thọ ký lời huyết tâm Thiền Sư cảm ứng. Đâu đó xong xuôi Thiền Sư giải nói: Nầy các Bậc Cố Tri Vĩ Nhân Đại Chí, tu cầu con đường song tu Hiện Giác, những vị này chưa bao giờ được gặp nay gặp với Ta, bất cứ một nơi nào đáng kể, miễn nhận chân minh thuyết thực hành đó chính là cố tri nay gặp gỡ. Bằng gặp gỡ đương thời, sống chung một mái, bê trễ ương hèn dù cho đọc tụng chăng vẫn chưa nhìn đặng Ta một ít nào cả. Thật phí thay, thật uổng thay trong một đời chưa gây tạo.” –T.V.

Bậc giải sạch nghiệp, một tư tưởng vừa khởi liền giao cảm mười phương Chư Phật. Đối với Bậc Chánh Giác như Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật, một khởi là một Chánh Niệm liền rung chuyển Tam Thế cảm ứng cùng Chư Phật.

Các Bậc Cố Tri Vĩ Nhân Đại Chí chính là các bậc Đại Bồ Tát đã từng thực hành, đã từng nương theo Thức di chuyển tức là Pháp di chuyển của Thần Thức. Bậc cao đạo Ý Thức có nghĩa là trụ vào Thức mà không thọ chấp. Đó chính là Bồ Tát Trụ mà Không Trụ. Có như vậy mới biết giải nguồn mê của Thức, Bậc sâu hơn như Đại Bồ Tát biết rốt ráo mạch lạc bổn lai của Thức tu đoạt thật sâu Tự Tánh Tỏ Tánh, chớ chẳng phải nương theo Thức mà an trụ thọ chấp nơi Thức. Nếu thọ chấp thì đương nhiên bị Chứng tu nơi mình chỉ tu đến đó mà thôi. Cần nương nơi Vô Ngã tìm Chân Ngã, đó là Bậc Cố Tri quá khứ nay gặp gỡ nơi Long Hoa nhận được lời minh thuyết thực hành.

Nơi Long Hoa đã hội tề đầy đủ Chư Tổ, Chư Tổ của Tiên Thần trong thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, nay lai sinh tại Việt Nam, đa số cấp A La Hán, Thinh Văn, Duyên Giác đang bị khúc eo khó gỡ của Thức, nếu thực hành Ngài mở tiếp, còn chỉ đọc tụng sẽ bị đứng yên dừng trụ bị lầm nên hữu hóa.

“Nầy các ông, các Bậc Cố Tri nay ta kể: Các vị cùng ta hãy nhìn nơi Hư Không Vô Tận, nhìn đến sơn hà sông núi đang chung sống cùng ta. Bản thân ta tìm phương Giác Ngộ, Tự Tánh nơi ta hóa giải chấp mê, diệt trừ Bản Ngã trên Lý Sự tu hành ta cùng các ông dẫm nát, nó mãi kéo dài, có từng vạn triệu kiếp người, kiếp Thiên Tiên hay thọ sanh vào các nơi cầm thú, thăng trầm làm quỉ làm ma không dứt. Do đó nên chi mới có Phật Thánh thường còn. Chúng sanh thường diễn, đến bao giờ chấm dứt giữa Phật với chúng sanh, tìm Ngộ bị Mê, ở nơi Mê thấy Ngộ. Lạ thay, đứng Thánh tự tăng, ở vào phàm sa đọa. Khó khăn thay tu Tịnh vướng Động tâm. Sửa sai lầm, sanh chứng tật.” –T.V.

Ngài nói với Bậc Cố Tri cốt để tâm sự với Bậc quyết tu cầu Chánh Giác thuộc hàng Bồ Tát. Hãy nhìn nơi Hư Không vô tận là nhìn nơi vạn pháp diễn cảnh đến đâu cũng không chấp, không chướng tâm trong sáng tỏ rõ pháp cũng như nhìn nơi sông núi bao la hùng vĩ để tâm rộng rãi bao dung không nên lấy một pháp mà thọ chấp. Lý và Sự cần thực hành thường ngày mới dẫm nát pháp giới, nếu không tu hình thức nào vẫn bị kéo dài hàng triệu triệu kiếp. Nếu giỏi Lý mà không biết rõ tác hại của thọ chủng nghiệp xấu dù là ông gì vừa tắt hơi thở liền thọ báo làm loài trâu, bò, ngựa… quá ư tai hại. Còn độc địa bị hiện thân ma, qủy, quái là đúng đường của họ. Cho nên Phật và chúng sanh xa cách nghìn trùng. Chúng sanh tu Tịnh bị sa vào Tịnh Biệt vẫn là Động tâm trụ nơi KHÔNG tai hại. Còn sửa sai lầm mà không tỏ Bổn Lai Nghiệp Thức vẫn mang chứng tật Tự Ngã quá lớn cũng còn cấu tịnh chưa phân minh. Nếu Bậc tu chưa giải sạch Nghiệp mà cho mình là Thánh bị Tăng thượng còn nhận mình là phàm phu không nhận biết được đang thọ nghiệp bị sa đọa là lẽ đương nhiên.

“Ngài nói: Tuyệt tác thay! Thiên nhiên sơn hà, cỏ cây, trời mây với Ta là một. Hợp hóa đồng thanh tương ứng hiện Giác. Thế mà con người ngỡ con người với cây cỏ núi sông là hai, thật sai lầm vô hạn.

Đức A Đề Cổ Phật lúc bấy giờ Ngài có sẵn thể tánh đồng đẳng với sơn hà vũ trụ nên chi thường nhập Chánh Định kiểm chứng bao quản cùng khắp. Ngài nói: Mắt nhìn thấy hư không, ta đặt thân mình vào tận Hư Không. Ta không còn thấy Hư Không mà tận thấu Hư Không là Giác Tướng. Ta ra vào vạn pháp, Ta không nhiễm trước, Ta chưa thấy vạn pháp diễn hóa ra sao, mà ta nhận thấy vạn pháp như nhiên diễn hóa, đó là ta thị chứng như nhiên thể tánh vạn pháp.” –T.V.

Một hôm, sau buổi vào Chánh Định Thiền Sư đã Trực Ngộ được những bí ẩn của vũ trụ. Viết về những điều này thấy nó đơn sơ nhưng xem xét kỹ thật thâm sâu, đầy vi diệu: Con người và tứ loài gồm Tứ Đại: Đất, Nước, Gió, Lửa kết hợp thành. Các loài thực vật, khoáng vật... cũng do Tứ Đại hợp hóa thành.

  Thực vật như cây cỏ... hàm chứa Tứ Đại.
 • Đất: Thân cây, cành, lá.
 • Nước: Bẻ cành hay vò lá thấy ướt.
 • Gió: Sự vận chuyển dưỡng chất chạy theo thân cành lá nuôi cây.
 • Lửa : nhiệt độ nóng lạnh của cây.

  Khoáng vật như đất đá... hàm chứa Tứ Đại.
 • Đất: chất đặc của tảng đá, viên đất.
 • Nước: khi nhúng vào nước nó ướt tức là có hàm chứa nước.
 • Gió: khi đập nó bể ra chứng tỏ nó có hàm chứa gió.
 • Lửa: khi ta đun nóng lên chứng tỏ nó hàm chứa lửa.

Sơn hà đại địa thuộc vật chất hàm chứa tinh thần: nếu ta lấy khúc cây, cục đất, đá tạo thành ông Phật, Thánh, Thần... cúng lạy, cầu xin sau thời gian cũng có linh ứng. Như vậy sơn hà đại địa cũng hàm chứa tinh thần, tánh linh. Điều này linh ứng tùy tánh và lòng thành của bậc cầu xin.

Do đó, dưới mắt Thiền Sư con người với sơn hà đại địa trời mây... tức vũ trụ là Một.

Con ngưòi có Cái Biết sau khi đủ cơ quan hợp hóa hình thành. Thảo mộc cũng có Cái Biết nó nuôi cây lớn lên, biết ra hoa, lá, quả. Nó cũng có tuổi thọ cao thấp tùy loài. Con người tuổi thọ cũng 70 hay 80 đến 100 tuổi là một kiếp. Còn đất đá nó cũng có Cái Biết tùy môi trường, tùy nhiệt độ mà nó sinh ra các sinh vật côn trùng đủ chủng loại trên trái đất. Trong nước cũng sinh ra vô số loài cá, sinh vật. Trong không khí cũng sinh ra vô số vi khuẩn. Tuyệt mỹ thay, thiên nhiên sơn hà, cây cỏ trời mây với ta là Một, hợp hóa đồng chất kết nạp mà hiện tương ứng.

Mắt nhìn thấy hư không có nghĩa nhìn thấy vạn pháp như nhiên diễn hóa chứ không phải do bàn tay ai tạo ra sơn hà đại địa. Ta hòa thân mình vào tận hư không có nghĩa ta đem hết thân tâm vào soi xét kỹ sự diễn hóa của sơn hà đại địa, cỏ cây, mây nước. Ta không còn thấy hư không mà tận thấu hư không. Có nghĩa tuy vào sơn hà đại địa biết như nhiên vạn pháp hợp hóa mà ta không thấy có ta, lại được tận thấu sự hợp hóa sinh ra vạn vật.

Đó là Giác Tướng vạn pháp, bổn lai của mỗi mỗi do hợp như thế nào nó hóa như thế ấy. Đến thật tận biết thì ta cũng chẳng có ta. Ta với thiên nhiên sơn hà, cây cỏ, trời mây là một. Từ đó ta chứng thị thể tánh vạn pháp như nhiên diễn hóa.

Sơn hà đại địa quả đất cỏ cây toàn diện như nhiên diễn hóa, sự diễn hóa này thuộc thể tánh như nhiên hóa, hồn nhiên tự hóa, nó hòa hợp với tất cả chúng sanh tứ loài cũng như nhiên diễn hóa không sai chạy./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng