Chương V: LẠC Quốc An Khương

Năm 1956, Ngài mở màn chuyển Pháp Luân Khai Đạo ở tại gia đường Sinh Trung gần chợ Đầm Nha Trang. Đến năm 1965, Ngài tổ chức thành lập Tứ Chúng Pháp Tạng và dời Đạo Tràng về số 42 đường Hồng Bàng, Nha Trang. Những năm sau dời về số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang.

Đến năm 1988 Ngài tuyên ngôn đã đào tạo được một Bồ Tát, một số Tôn Giả và Hộ Pháp, hàng Thánh Chúng này sẽ tuyên dương Chánh Pháp cho đến năm ngàn (5000) năm mới trở lại Mạt Pháp. Mối đạo làm an lành tốt đẹp cho nhân loại và Tam Thiên đã ổn. Ngài hội tề Chư Bồ Tát, Chư Thiên Thần, Nhân Thần, Địa Thần, Tứ Bộ Thần, Long Thần Hộ Pháp cùng Thượng Đẳng Chánh Thần chứng minh nước nhà đổi mới cho dân ấm no và kêu gọi Chư Thiên, Địa Thần dọn sạch sẽ các thành phố.

Đầu năm 1989, nhà nước bắt đầu đổi mới, dần dần theo qui chế thị trường đặc biệt không khắc khe theo lối Vô Sản làm cho Đảng Viên CS được tư hữu, được quyền hưởng sung sướng, quyền có của, quyền chỉnh trang tiện nghi cuộc sống thoải mái mà không lo sợ và nhờ đó người dân cũng được không khí làm ăn dễ thở một phần.

Thành phố cả nước dân được cho xây cất nhà đẹp, nghĩa địa đã được đưa ra khỏi thành phố. Cho đầu tư làm ăn với nước ngoài. Chỉ còn mối Đạo mà Đức Di Lạc quyết đem cho nhân loại thoát khỏi sanh tử luân hồi đem lại yên bình cho dân là chưa được tháo gỡ, Thiền Viện Rừng A Đề ở Phú Hữu tỉnh Khánh Hòa còn bị hiến trả. Âu đó cũng là nghiệp chủng chúng sanh buổi giao thời Mạt Pháp và Chánh Pháp vậy.

Ta chẳng phải vì vua trong một nước.

Cũng không làm Bá tước Hầu vương.

Quyền uy siêu đẳng bất nhường.

Trang nghiêm Quốc độ Phật thường tới lui.

–T.V.

Tôi nghe như vầy: Tuy Ngài đã nhập Bát Đại Niết Bàn nhưng Ngài vẫn còn Hiện Thể và Chư Long Thần Hộ Pháp vô hình đang ở tại thế gian. Ngài vẫn còn tới lui Ta Bà Thế Giới này chỉ đạo tận độ chúng sanh. Ngài là một người dân như muôn người công dân khác mà không khác vì Ngài đã thật có Quyền Uy Chánh Báo Siêu Đẳng Bất Nhường, có một chứ không hai trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này.

Thế giới với muôn ngàn vạn diễn cảnh, vạn lối cách ngăn nhưng Khoa học gia, chuyên gia nghiên cứu mới thấy Ngài đã tạm sắp đặt an bài không để bấm nút sát phạt nhau bằng vũ khí giết nhân loại hàng loạt.

 

Quan Âm không th bt cu

Ngón tay Ta ch Chư Hu đu vâng.

–T.V

Những câu thơ tuyên minh của Ngài không thể lấy lý trí thế gian tỏ biết đầy đủ được. Cái thế chân vạt ngày xưa, hóa thân Ngài là Khổng-Minh đã sắp đặt thì nay thế kỷ 20 này thế giới hình thành khối Thứ ba Trung Quốc từ Cộng sản đổi mới với hình thái riêng không tự do mà cũng chẳng bảo thủ, cho thấy hòa nhập Tây phương mà không mất bản chất truyền thống dân tộc. Cộng Sản Việt Nam ngày nay được thừa hưởng cũng không ngoài qui trình trên. Tôi cam đoan người CS không làm ra nổi mà chính bàn tay Vô Hình Hữu Tình Siêu Đẳng Bất Nhường của Đức Thế Tôn Di Lạc.

Lịch sử là một quá trình tiếp diễn, có đắng cay, có khắc nghiệt cũng là gieo mầm cho một tương lai tốt đẹp hơn để Đức Thế Tôn Di Lạc thị hiện, Bồ Tát tiếp nối độ sinh, Chư Tôn Giả, Hộ Pháp lập Phẩm Công Đức cúng dường Như Lai.

Ai cũng có cái phải, cái đúng của riêng mình. Người đứng bên này cho mình là đúng và kết tội kẻ bên kia là sai cần diệt, còn người đứng bên kia cũng cho mình là đúng và kết tội kẻ bên này là sai. Do đó sắp xếp an lành là đường lối Trung Đạo Tôn đúng nhất, ít ra cũng một thời gian.

Trung Đạo Tôn không bao giờ thay đổi nó viên dung bất biến tròn sáng. Chỉ Bậc thành tựu Diệu Quả Phật như Đức Thế Tôn Di Lạc mới tận tường chốn Hạ Lai Đồng Độ mà vận chuyển cho nước Việt Nam và nhân loại trên thế giới được AN LÀNH, sống hạnh phúc khó nghĩ bàn.

Ngày nay Việt Nam có mặt vị trí trong cộng đồng các Quốc gia ASEAN và thu hút được đầu tư các nước khác nữa là điểm đáng mừng cho dân tộc chuyển mình./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


74. Tứ Cấp Thiền

Về Thiền Trí vốn có Tứ Cấp nhận thức cùng khai hoang nơi chân lý thực tiễn đến toàn diện sở đắc như sau:

1. Sơ Thiền:

“Những Bậc Sơ Thiền cấp nương nơi công năng đức độ hóa giải hay dùng Lý Trí mà nhận Chân nơi: Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác, biết rõ, thấy rõ, nghe rõ những điều mà nhân sinh chưa nhận chân đặng thế gian, Bậc Sơ Thiền nhìn nhận chu đáo hơn. Như ta bị Nghiệp kéo lôi biếng trễ. Tu vướng vào hoàn cảnh trói buộc mong thoát sanh. Ta mong thoát nó ra nó mãi đeo đuổi. Ta bị vạn pháp hữu hóa trăm phương nghìn cách. Ta phải vươn mình để khỏi bị sanh, tu qua các trở lực điều ngự vạn pháp mà chứng tri Phật Đạo. Ngược lại lúc công năng đức độ Sơ Thiền tiến hóa hơn, liền nhận chu đáo hơn Nhưng: Chính thân tâm mình hữu hóa vạn pháp, tất cả các nghiệp chính mình tự tạo còn phiền trách ai. Mình trói buộc mình lại kêu nài thoát sanh. Những Bậc biết nhìn nhận như thế, tiến qua cấp Bậc Nhị Thừa khỏi sai lạc Thiền Tông.” –T.V.

2. Nhị Thiền:

“Mục điều ngự là một giới Thiền quan trọng, điều ngự cho thân kín nhiệm, khẩu kín nhiệm cùng ý kín nhiệm. Thân khẩu ý có kín nhiệm thời Thiền mới có thể điều ngự vạn pháp di chuyển. Vì sao? Vì thân đang tọa Thiền, di chuyển biến hóa, khi thân nhỏ, lúc thân to. Mắt nhìn thấy cây cảnh núi sông, tai nghe tiếng nhạc trời, ý chẳng mừng rỡ, khẩu không nói ra khi mình tọa Thiền diễn biến mà vướng nơi Năng Sở chấp.” –T.V.

Khi tọa thiền thường thấy trước mắt nhiều cảnh vật đẹp. Có khi thấy yến sáng, thấy mây bay, có lúc thân to dần to dần trùm khắp, cũng có lúc thân thu nhỏ như một cái chấm, có khi nghe nhạc trời. Những diễn biến như vậy đừng mừng, đừng mong đợi, vì đó là diễn cảnh của Thiền. Lắm Bậc không gặp Thiền Sư Chân truyền bị trụ chấp mà sanh ra một trong sáu thứ Thiền đã nêu phần trước bị lạc Như Lai Thiền. Khi thấy diễn biến đủ hình thức lúc Thiền cũng đừng nói ra mà phải Thân Khẩu Ý kín nhiệm vì người nghe mong đợi: Mỗi hành giả tùy căn Nghiệp mà diễn cảnh khác nhau. Có Bậc trong lúc Thiền đánh võ, nếu trụ chấp thành Võ đạo Thần thông Thiền. Có Bậc tự nhiên biết bắt Ấn đủ kiểu hãy cẩn thận đừng nên mừng quá, phải bị thụ Thiền.

“Những Bậc Nhị Thiền đều nhìn nhận: Đa số bị lầm nhau, do nơi cảnh sanh tình, bất đồng nên gây ra hoàn cảnh, mỗi con người bảo thủ nhận lấy cái phải nơi mình mà tự sanh lắm nỗi bất hòa nhau, dù muốn hay không muốn chăng, nông nổi bất hòa luôn xảy đến. Hàng Nhị Thiền thật tỏ rõ đó chính là tai nạn hữu hóa mà ra, nơi hữu hóa này tự nơi tâm ý của mỗi người ấy, hai nữa trình độ giai cấp thứ vị ấy mà hữu hóa, có từng phần ảnh hưởng nghề nghiệp từng lớp con người hữu hóa. Hữu hóa nó có hai cơ sở: Thuận Hữu hóa mến thương, hai là Nghịch Hữu hóa thù ghét, chỉ vì Hữu hóa từng con người cho đến lớp người mới phát sanh cạnh tranh hơn thiệt nhau, thành ra mới có:

Đời trăm mặt. Đất trăm phương
Phật Vương, Chư Phật một nguồn Giác Nguyên.
Diễn hành hữu hóa Chân thường
Lòng không chìm đắm, đâu vương mạch sầu?
–T.V.

Bậc Nhị Thiền tọa đạt Thiền Tánh, do tâm ý mong cầu mà Thiền Pháp ứng hiện. Tâm ý mong Thần, cầu Thánh, Thiền pháp đồng hiện Thần Thánh, có khi không mong cầu vẫn gặp nơi ứng hiện. Hành giả nào hay biết hữu hóa lầm nhận ngưỡng vọng. Đối với Bậc Nhị Thiền cho đó là Thiền Tánh ứng hiện, không lầm lạc. Vì sao? Vì Thiền là môn Chân Lý thực tiễn tu đạt Thiền Trí, ngoài Thiền Trí thảy đều danh ngã dã tưởng. Do đó không lầm. Từ hàng nghìn xưa cho đến nay. Đương lai nơi thời này. Lạc pháp chỉ vì: Nó muốn như thế nào nó tu theo nó muốn, không còn cơ bản Ấn quyết hướng dẫn. Vì sao? Vì theo Ấn quyết bị Giáo điều, theo cái muốn lạc hướng, hiếm Bậc thực hiện đúng theo thời Thiền Tọa để tu đạt đến hàng Tứ Không Thiền đặng. Dù có Bậc tu đạt đến Tứ Không Thiền vẫn trực thuộc về Tiên Đạo Thiền, chớ chưa hoàn mỹ mức Như Lai Thiền đặng.

Hôm nay ta minh thuyết, con đường trọng yếu về Thiền môn là một Long Mạch Chân Lý Thực Tiễn Thiền Trí. Còn phương diện Thiền tọa là kiến tạo công năng đức độ, bồi dưỡng Thiền Trí phát huy. Không hẳn dùng Sắc Thiền mà Giác, chẳng phải dụng âm thanh nơi các cõi Trời mà Ngộ, duy nhất có Thiền Trí, Giác Trí về Như Trí nơi Nhất Thiết Trí, tỏ rõ từng Chủng Trí hoàn chân Chánh Giác.

Sự việc nơi thời Hạ Lai đối với Thiền Tông thảy đều là con số không căn bản Liễu Ngộ, toàn diện hay đa số Hành giả tu Thiền thảy đều công dụng Thiền Quán Sắc Thinh ứng hiện cho đó là mục tiêu chính trở thành sai lệch với Chính Tông nên chi mới có, phát huy Thiền Thần Giao Cách Cảm. Thiền Xuất Hồn, Thiền Chữa Bệnh, Thiền Nghiên Cứu tu đạt Thánh Thần. Những điều này đối với hàng Nhị Thiền thảy đều tỏ rõ. Vì sao? Vì Thiền tánh di chuyển hữu hóa tùy thuận theo vọng tâm, ý muốn tu cầu, rất hiếm Bậc chủ đích về trí tuệ, thâm nhập trưởng thành Thiền Trí.

Bậc Nhị Thiền nhờ điều ngự Thân Khẩu ý, từ nơi ý thức kiểm chứng nhỏ nhen trở thành chốn hỷ xả viên đạt rộng rãi. Từ nơi khẩu kín nhiệm lúc nào cần diễn đạt mới diễn đạt, khi nào chưa phải lúc diễn nói liền lặng thinh sáng soi thực tế đúng lúc, đúng hồi mới diễn nói. Tâm trưởng thành bình dị mà tận thấu tu đạt Thiền Tánh, được như thế, đỉnh đạt như vậy mới vẹn tuyền pháp giới mà thâm nhập từng pháp giới, được gọi là Điều Ngự Trượng Phu, tiến qua Bậc cấp Tam Thiền khỏi sai lạc.” –T.V.

3. Tam Thiền:

“Mục Đề Thiên Nhân Sư. Hàng Tam thiền không nhiễm trước. Trí tuệ đã từng qua giai đoạn cứu cánh, nên chi không ngưỡng vọng quá khứ, không hoài vọng vị lai, duy nhất hiện tại làm mức tiến, do như thế nên chi tỏ rõ Thiền Tánh, thấy rõ tất cả chúng sanh, sanh sanh hóa hóa từng lúc từng khi, họ chỉ sống đồng từ nội tâm đến ngoại cảnh, thân nhau rồi xa nhau. Thân hình sắc mặt thay đổi, đổi thay, trong cơn vui buồn sướng khổ, sự thay đổi này do lầm nên hữu hóa.

Bậc Tam Thiền nói: Tâm Tánh Nó Như Thế Nào Nó Hay Hóa Như Thế Ấy. Tất cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới mỗi nơi, mỗi cảnh giới từng hàng Chư Thiên đến Rồng Người, cho đến Ma Vương, quái tặc, loài chim chốc thượng cầm hạ thú, mỗi một cho đến bá thiên vạn triệu vô số, vô biên không thể nói, không thể nào kể hết. Tất cả đều có tâm tánh duy nhất nơi nó, một là nó hành động đi đứng, nằm ngồi, cử chỉ của mỗi một giống nòi, thảy đều đến cử chỉ giống nòi nó mà hành sự nói năng, hay gầm thét, hoặc giả ầm ừ dùng làm hiểu biết nhau, thân cận nhau, cảm mến nhau, sống với nhau thỏa thích ưa chuộng, không khác nào thế giới loài người sống chung trong đô thị, vui vẻ nhảy múa ca hát cùng nhau hưởng thụ, cùng nhau xô xát, cùng nhau tranh cãi, khi hòa cho là phải, lúc bất hòa cho là quấy. Sự nghe thấy của từng các cõi, các cảnh giới đồng với bất đồng, đối với Bậc Thiền Trí thảy đều trái ngược nhau, do nơi hàng Tam Thiền dùng Giác mà thấy Tướng, còn tất cả dùng Tướng thấy Tướng nên chi khó nhận được Giác Tướng vậy.

Hàng Tam Thiền, thật chứng cùng kiểm chứng thân mạng nơi cơ sở bồi dưỡng Thiền Trí, trau dồi sáng soi tâm tánh lầm lạc nơi chốn Hữu hóa mới nói: Hay thay đức độ lầm mê thật tuyệt tác thay, giờ đây Ta mới thấu. Nếu đem thân mạng Ta, đứng trước con người, đứng nơi quần chúng họ thảy đều tán thán ta gọi ta là vị tu. Nhưng nào tận thấu tâm tánh Ta, đang lúc ấy, đang khi ấy toàn thân tâm Ta đang hóa ra hung thần, đang diễn tuồng Qủy tặc Ma vương, hay Càng cát nào ai đặng thấy, mấy ai đã hay biết để mà tường tận?

Bậc Tam Thiền tiếp nói: Ta nói thật Hữu hóa đã tường tận. Khi Ta làm Phật hóa Ta không mừng, giai đoạn làm Qủy Ma hóa Ta nào có sợ, Ta thường hóa hay hóa tâm tánh nơi Ta thuần túy, cho nơi hóa là một món ăn đầy đủ phương thức, thành thử tâm không quái ngại, ý chẳng vương mang, thức đặng tự tại mà tận thấu tất cả, vì chính Ta đã từng hóa tất cả.

Ta chưa bao giờ ưa thích xuất định. Nhưng Ta thường hóa thành thử xuất định. Ta không thừa nhận nơi chốn Nhập định nhưng Ta sáng soi Thường Tịch Quang trở thành Nhập Định. Ta chưa hề có nơi chốn nào là Chánh hay Tà, vì đã từng ra vào các cõi, nơi này có thì nơi nọ không, chốn này đồng thời chốn kia thiếu, thành ra chỗ này một môn chỗ kia một khóa. Do đó mà tất cả Ta chưa hề nghĩ đến tu cầu, Ta chỉ tu sợ vấp chấp. Bậc Tam Thiền chính Bậc đã gần như hoàn tất Bát Nhã Trí qua tần số siêu đẳng Thiền Trí, nương nhờ cung kính Như lai thề nguyện sự là trọn lành như thế, nên được gọi là Thiên Nhân Sư.” –T.V.

4. Tứ Không Thiền:

“Thứ Bậc Tứ Không Thiền này đương thời Đức Bổn Sư còn tại thế, tất cả những vị tu Thiền Tọa hiếm Bậc đã tu đạt. Chỉ trừ ra Đức Thế Tôn tu đạt mà thôi, do đó nên chi có một số tu sai lạc phải qua nơi Phi Phi tưởng, chỉ lầm nơi chốn Không mà tai hại.

Chốn KHÔNG nầy là chốn Viên Minh Thiền Tịch, sạch sẽ từ Sơ Thiền đến Tứ Không Viên Minh Chánh Giác, được gọi là TỨ KHÔNG."

Thiền Sư vừa nói đến đây, đôi mắt in tuồng thưa gởi, tất cả Bậc khai môn, Ngài gật đầu, đứng lên thở một hơi dài, miệng đọc:

Người Cư Sĩ, nào cầu danh giả,
Lòng nhủ lòng, đồng hóa nhân sinh,
Dụng đời để chỉ viên minh,
Biết chăng, chăng biết lộ trình thế thôi.

Người Cư Sĩ, khúc nôi tường tận,
Đâu nào đâu vướng bận non sông,
Tình chung vui sống nhịp đồng
Đạo tràng khắp khắp, nói không bến bờ .


–T.V.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


73. Về Mật Tôn

• Tọa Thiền Mật Tôn hay còn gọi là Mật Pháp. Khi Tọa Thiền Mật Tôn thì căn cơ ứng hiện, khi Bậc tu được truyền Thiền mỗi tối trước khi đi ngủ hoặc sáng trước khi đi làm ngồi tọa Thiền từ 30 đến 45 phút. Đặc biệt Thiền Pháp Tạng, khi hành giả đang công phu tọa Thiền, dù người căn cơ chậm lụt nhất cũng đến đêm thứ bảy thân mình chuyển động tựa như dòng điện mạnh chạy toàn thân, đầu cổ rung chuyển, thân mình quay cuồng chuyển động. Đó là Mật Tôn còn gọi là Mật Pháp hóa giải các Nghiệp cho Bậc tu, nên bình tĩnh.

• Chỉ có Mật Pháp mới có thể sửa tánh. Nhờ Mật Pháp hành giả mới sửa tánh, xem xét các đố tật ngăn ngại mà cổi giải tâm chớ nên thọ chấp nữa. Mật Tôn lần lượt thay đổi từng giai đoạn tùy căn tánh hành giả của quá khứ nay ứng hiện: Khi thì bắt Ấn, lúc đi quyền thảo... Nên cẩn thận đừng để bên ngoài thấy họ không biết Mật Pháp chuyển phê phán khó tu, nên giữ gìn: Thân-kín-nhiệm, Khẩu-kín-nhiệm, Ý-kín-nhiệm. Tọa Thiền cốt có trí tuệ để giải mê lầm. Thiền là một pháp môn trợ giúp con đường Tri Kiến Giải Thoát.

• Thiền Mật Pháp cùng Giáo Lý mà Chánh Giác. Khi Bậc biết tu, biết nghe Giáo Lý cũng không phải bỏ tu Thiền, bằng tu Thiền cũng không thể xa lìa Giáo Lý mà Chánh Giác được.

• Tôn Giả, Hộ Pháp phải được Ngài chứng minh. Chỉ một số ít được Ngài chứng minh Tôn Giả, Hộ Pháp là tu thiền tọa còn có trật tự kỷ cương theo cách A La Hán, Duyên Giác, Thinh Văn và một Bồ Tát chỉ đạo truyền thừa do Ngài Ấn-Truyền. Còn có đông tín chúng Pháp Tạng cũng có Mật Tôn nhưng tu chưa được Ngài chứng minh.

Thời Đức Thế Tôn Bổn Sư cũng vậy, 1250 Chân Phật tử chỉ có 10 Tôn giả và vài vị Bồ Tát ở thế giới Ta Bà này, chớ đâu phải ai cũng truyền Mật Pháp có kết quả đâu.

• Một chân tử bị vô minh che đã tự xưng Phật ngang với Ngài. Ngay khi Đức Thế Tôn Di Lạc còn tại thế, có một chân tử tu lơ-là lại tự mãn xưng mình là Phật Hoan-Lạc ngang vói Đức Ngài. Ngài đã làm thinh bắt tay, lấy ghế mời ngồi. Vì bị vô minh che nên Bậc này không hề hay biết. Ngài cũng không có Bút Ký chứng minh Hộ Pháp bao giờ vậy kiếp nào người chân tử này mới được vào dòng Thánh?./- 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


72. Phương Thức Chư Tổ Lập Thiền Tông

"Các Tổ về Thiền Tông có 28 Vị, còn ngoài ra các Bậc Giác Ngộ khác chưa kể được. Thiền Tông thời các Vua Chúa Đinh, Lê, Lý, Trần ở Việt Nam rất thịnh hành.
Theo tinh thần của Thiền Tông các Tổ chỉ đạo cho hành giả phải Tín Hạnh Nguyện cùng với Định Tuệ là nòng cốt Thiền Tông. Nếu chưa có hai Bổn Nguyện đó xem như bất thành Thiền Giả.”
–T.V. 

Hai mươi tám vị đây là các vị Tổ từ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật truyền từ thời Tổ Ma Ha Ca Diếp đến tổ thứ 28.

Đến thời Hạ Lai Mạt Pháp năm 1956 Đức Di Lạc Tôn Phật chú trọng về Thiền Tôn. Đến năm 1965 theo sự đòi hỏi của nhiều Chân Phật Tử, Ngài mới quyết định thành lập Pháp Tạng Thiền Tôn. Sau được hợp thức hóa lấy danh hiệu Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam. Tính đến năm 1975, có 3.000 Chân Phật Tử nhưng cơ sở Thiền Đường chưa có, những Chân Phật Tử có nhà được mượn tạm làm nơi Đạo Tràng từ Trung Ương đến các Tỉnh trong miền Nam. Khi hành lễ mặc áo màu vàng như Thiên Thừa, ngày thường vẫn ăn mặc như thế gian để sinh sống làm ăn.

Ngài dụng Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác. Và thành lập Tứ Chúng như sau:

Tín đồ Đạo Chúng: Là những vị mới vào Nhập Đạo, sau đó được xem xét thích hợp với chúng nào thì xác nhập vào chúng đó.

Trưởng Giả Chúng: Chăm sóc Đạo Tràng, hương đăng cúng dường, xây dựng.

Hộ Pháp Chúng: Thuyết pháp, chăm lo việc hành Đạo.

Thị Giả Chúng: Hầu cận bên Đức Tăng Chủ./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


70. Thể Tánh

Thể tánh vốn sẵn có viên tịch, sáng suốt nơi con người, nhưng tại nhân sinh khởi vọng chạy theo sự hoài vọng, khát vọng từng giới hạn này đến giới hạn nọ, vì lẽ đó mà Thể Tánh trở thành chủng tánh riêng biệt chia bốn trình độ cao thấp biệt lập nhau gọi là chủng tánh Chúng Sanh, chủng tánh Bồ Tát, chủng tánh Phật, chủng tánh Như Lai Tánh.

“Chủng tánh Phật lúc còn đang Ẩn mê ngộ chưa phân gọi là Phật Tánh, lúc giác ngộ gọi là Tánh Phật.

Như Lai bất động không chỗ chỉ, Bồ Tát quán Như Lai phải dụng tánh Bất Động trùm khắp để quán sát Như Lai gọi là Như Lai Tánh hoặc Như Lai Nhãn Tạng.

Những gì Thể Tánh cũng làm được, cũng đến được khỏi cầu ai, chỉ cần biết khai thác thể tánh là dùng được tất cả. Vì vậy nhân sinh tu Phật biết nương nơi thể tánh giải mê lầm được Giác ngộ. Nhân sinh tu Thiền Tọa nương nơi thể tánh tỏ Thiền tức là tỏ Thiền Tánh. Nhờ Thiền tánh mà viễn thông tam giới tỏ rõ tam thiên khỏi lầm hết mê. Chớ nên khởi vọng để thấy Tam Thiên, chớ nên hoài mong xuất hồn nhập cảnh mà đoạt Tam Giới. Dù cho hành giả có đoạt Tam Giới, tỏ rõ Tam Thiên bằng khởi vọng bằng ảo tưởng xa lìa thể tánh mà đoạt đến thì nơi chốn đến kia thảy đều nằm nơi vọng tưởng đảo điên thành tựu. Nó không bền chi cả.” –T.V.

Bậc trí khi tu Thiền tọa cần nhất tự kiểm điểm lấy mình từ tinh thần cầu đạo đến Nghiệp chướng, nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu, nghiệp kiết sử làm trở ngại sự tu tập như thế nào phải tự hóa giải, phải thù thắng tìm Bậc chỉ hóa giải nếu tự mình không giải toả nổi, nếu thấy tánh nào xấu làm tổn hại đường tu bất tín, thiếu hạnh nguyện nên hóa giải, nên chỉnh trang lại để cho thể tánh được dung thông sẽ kết quả vô biên xứ.

Từ đó nhận biết được thể tánh đồng hợp với Thể tánh chân nguyên vũ trụ.

Chủng tánh chúng sanh có bốn đặc điểm: Tăng-Giảm-Cấu-Tịnh như đã giải ở phần trước.

Đối với chúng sanh tánh hay lấy thanh tịnh để an phận tuổi già nó chẳng khác nào viên thuốc ngủ dùng lúc cứu con bệnh đang đau nhức. Buổi ban đầu Bậc tu Thiền tọa bị vọng loạn giao động điên đảo mới dùng Tịnh cốt độ vọng loạn điên đảo, sáng soi tỏ rõ sự điên đảo vọng loạn gọi là TỊNH GIÁC. Phải tu nơi Giác Tịnh mới tỏ Thiền Tánh hay Pháp Tánh vốn là một. Bằng chẳng Giác Tịnh dụng Tịnh tu tịnh như hầu hết Bậc tu thời Hạ lai bị CẤU TỊNH lần đưa hành giả vào nơi Tịnh Biệt.

Giác tịnh sống động, linh hoạt, dung thông vì biết nương vạn pháp. Còn Tịnh biệt bị thọ giới chúng sanh thành cấu tịnh là như thế. Bậc rơi vào tịnh biệt Thiền môn thì hành giả tối tăm mơ màng sinh căn bệnh rỗng nơi đỉnh đầu rất khó chịu, có thể khùng dại nữa. Khi Bậc tu Thiền tu sai lạc thì càng xa Chân Thể, còn biết điều hành ngự chế thì Tăng Giảm Cấu Tịnh là bốn Bảo châu. Nếu tu tự ý muốn, tự sanh khởi vọng đảo điên, chưa biết sử dụng, điều hành ngự chế Thiền môn thì nó đem hành giả càng tu đến đâu, càng bị Ngộ Độc đến đó.

Bậc tu lần tỏ Thể Tánh viên dung Thiền Tánh thì con đường tu hành rất sống động viên thông. Phật đạo đối với chân lý không có pháp nào là pháp thiện ác, tốt xấu, lành hoặc dữ cả. Chỉ Bậc tu hành chưa am tường vạn pháp sống động linh hoạt, chỉ biết xem Kinh không hóa giải thực hành chính là tu BỊ BIẾT nên khó liễu nghĩa Kinh.

Thể tánh luôn luôn sống, hành giả tọa Thiền khởi vọng thế nào, nguyện vọng ra sao, Đức Trí tới đâu thì Thiền biểu lộ ra theo Tánh của hành giả. Hành giả tưởng là Thiền Ứng nên thọ chấp Thiền mà chìm đắm.

Đức Thế Tôn Di Lạc căn dặn:

“Nó muốn thế nào, thì Thiền Tánh thảy đều đồng nương, đồng ứng theo cái muốn của nó mà thuyên diễn y như thật. Nó ngỡ là xuất nhập mong mỏi thụ chấp nơi Thiền Tánh.” –T.V.

Tâm Phật và tâm chúng sanh không khác mà khác vì chúng sanh chưa hợp với Tâm Phật nên chưa thành Phật. Bởi vậy Bậc tu phải nương theo Thiền Tánh để biết rõ nó không bị lầm. Vì thế Chư Bồ Tát biết Thiền Tánh phiên diễn do cái muốn nên Chư Bồ Tát biết được mới đại nguyện Bi Chí Dũng cho được làm chủ Thể Tánh Thiền mà hóa thể cùng Như Lai Phật.

Đối với vũ trụ bao la, nhân sinh cùng khắp các cõi được gọi là Như Lai Thể. Còn đối Bậc tu từ nơi thể mà hiện tánh tư riêng nên gọi là Thể Tánh. Lúc tọa Thiền gọi là Thiền Tánh, Thiền Tánh có lúc làm xấu gọi là tánh xấu, lúc làm được an lành gọi là tánh tốt. Nó không ngoài thể tánh. Bậc biết nương theo thể tánh tu tập đầy đủ công năng công đức Như Nhiên Tự Giác, nhờ như thế nên hợp hóa với vũ trụ gọi là Như Lai Thể. Hành giả tu Thiền nên nương nơi vết chân Chư Bồ Tát đã đi thực hành tu học. Chư Phật thời trước cũng đã từng Bi Nguyện tận độ chúng sanh nay Chư Bồ Tát cũng noi theo đồng Bổn nguyện cho đặng thông giác rốt ráo cùng cứu độ chúng sanh.

“Tại sao Thiền Tông lại Tâm Truyền Tâm Liễu Ngộ đến Chánh Giác?” –T.V.

Vì Thiền Tông chỉ chuyên Thể Tánh Tự Giác nên Thiền Tông không dùng văn tự dù cho có dùng văn tự chăng cũng là ngón tay chỉ cốt Trực Giác. Vì vậy nương Thiền Tánh để tỏ tánh chớ chẳng phải THỤ THIỀN mà Giác Ngộ. Do đó mới gọi là Thể Tâm. Tâm Truyền Tâm Liễu Ngộ. Bậc rốt ráo đến Chánh Giác.

Bậc tu Thiền xa lìa Thể Tánh ắt không rõ Thiền Tánh lại tự lập Định Tưởng, thường tưởng hay nghiên cứu suy nghĩ dự đoán đều sai lạc Như Lai Thiền./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


69. Sáu Cửa Thiền Môn

Sáu cửa Thiền do ưa muốn sở thích mà thành. Đức Thế Tôn Di Lạc khai thị:

• Võ Đạo Thần Thông Thiền

Lấy Linh Thiêng dưỡng Thần Thức lập TÔNG
Lấy điện Pháp, Thiên Điện lập CHỈ
Lấy võ công Thiền Tọa nhiếp thâu lập THỂ
Lấy Thanh Tịnh dụng hoa quả trường trai lập DỤNG

Khi Bậc tu ưa thích môn Thiền này, thời cho nó là Chân lý tuyệt đối cao cống nhất chưa có môn Thiền nào bằng. Vị nào Thiền cao nhất phủ bảy chiếc khăn ướt chồng lên thân làm khô bảy chiếc khăn, còn có nơi dụng Thiền luyện Gồng, luyện Ngãi xâm nơi mình, tu đánh Võ Đạo Thiền, còn ở Việt Nam tại núi Thất Sơn nhiếp thu Tinh Khí Thần.

• Ứng Khẩu Thiền

Lấy Trai Đàn, lễ bái tín tâm lập TÔNG
Lấy Bút Cơ nhập xác ứng Thi thơ lập CHỈ
Lấy Thanh Tịnh Thiền tọa Linh Thánh lập THỂ
Lấy trống phách, tế lễ, xác lập DỤNG

Bậc tu ưa thích Ứng Khẩu Thiền, khi đang hành ứng khẩu thường không nhận thấy bên ngoài liền công nhận là chân lý tuyệt đối cao cống nhất chưa có Thiền môn nào bằng. Phái này có quá nhiều hình thức do trình độ mê tín như cầu Phật Mẫu, cầu Đại Thánh, cầu Thiên Tiên hay lên Đồng, nhập xác... Tất cả không ngoài ứng khẩu cơ bút mà trụ xứ.

• Thần Quyền Thiền

Lấy Linh Thần hiển hách thiêng liêng lập TÔNG
Lấy chiêm ngưỡng thành tâm lập CHỈ
Lấy công phu Thiền tọa tín tâm lập THỂ
Lấy tinh khiết Thần Miếu trống phách lập DỤNG

Môn Thiền này thuộc phái Thần Thánh, chủ yếu linh thiêng huyền phép, tiên tri đúng làm Bậc tu thành tâm cầu khẩn mong Thần Thánh phò hộ cho được phước mà trụ xứ và cho chân chánh tuyệt đối cao cống nhất chưa có Thiền nào bằng.

Nhân Thiên Thiền

Lấy hướng Thượng cõi Trời lập TÔNG
Lấy suy tưởng luyện Tinh Khí Thần lập CHỈ
Lấy Thanh Tịnh nghiên cứu tọa Thiền lập THỂ
Lấy thanh thoát ngôn từ cao đẹp lập DỤNG

Phái Thiền này hiện nay nhiều nước ưa chuộng, đang nghiên cứu. Người trí thức ưa tìm, một là Dưỡng Thần, nuôi thân chữa bệnh, dùng Thiền Tọa tiếp nhận Thiên Điện, xuất hồn, lấy Tinh Khí Thần làm cho thần thức giao cảm với Cõi Trời sáng soi vũ trụ, hai là dùng Thiền Tọa nghiên cứu Đạo Phật cốt yếu tri kiến Siêu Hình. Hiện nay Nhật Bản dùng Thiền ZEN và YOGA, còn ở miền Nam Việt Nam có phái Thông Thiên Học.

• Tịch Tịnh Thiền

Lấy nghiêm Luật Giới Luật lập TÔNG
Lấy tu Tịnh lìa Ái xuất ly lập CHỈ
Lấy Thiền tọa khất thực lập THỂ
Lấy công đức Công quả lập DỤNG

Phái này thành lập tổ chức giống như Thiền Tông của Chư Tổ, y áo đắp y như thời Phật còn tại thế, tay bưng bình bát, đi đứng trang nghiêm, chủ yếu xuất thế. Nhưng vì lạc hướng không đúng thời, vì tất cả các ngành trong xã hội phát triển thịnh hành nên chi các sư không thể nào gìn giữ đúng nghiêm luật cùng giới luật, do đó mà Tông không thành tựu. Do Chỉ, Thể, Dụng bị sai lạc trở thành tu Tịnh gọi là Tịch Tịnh Thiền cốt Tịnh Giác, Tịnh Giác phải lìa Sở Ngã cùng Ngã Sở mới thành tựu Giác Tịnh. Đã không lìa để tỏ ngộ lại mang thêm sắc tướng âm thanh gọi là Tướng Pháp Sắc Pháp nên đường tu trở nên ảo tưởng Tướng Phật bị tịnh biệt đen tối, chân lý mơ màng.

Có phái vẫn y tông chỉ trên nhưng tìm phương thức giải mê chấp, nghiêm luật giữ gìn tùy theo trình độ gọi là phái Nguyên Thủy.

• Tiên Đạo Thiền

Lấy sơn lâm xuất thế lập TÔNG
Lấy thanh khiết thanh tịnh tâm lập CHỈ
Lấy Tọa Thiền ly dục ly ái lập THỂ
Lấy ép xác trường trai ẩm thực lập DỤNG

Tiên Đạo thường Định Tưởng, suy tưởng do căn tánh, trình độ mà có thanh, thô, tế nhị để tu Thiền tọa. Tiên Đạo Thiền thích pháp đẹp, thanh cao, chọn lọc, thanh lọc rồi mới tu luyện, ưa nơi sơn lâm cùng cốc, có Bậc chán đời lên non cao xa lánh trần tục tu Thiền luyện phép. Thời này cũng hiếm, chỉ nhũng Bậc tu Phật chưa chu đáo hiểu lối tu nên dù tín thành tin Phật bao nhiêu mà sai đường vẫn thành phước báo nhân thiên sa vào Tiên Đạo.

√ Bốn tướng lầm tưởng. Sự lầm tưởng sáu môn Thiền trên bị an trụ trong bốn tướng: Thiên Tướng, Nhân Tướng, Chúng Sanh Tướng, Thọ Giả Tướng. Thời xưa và thời này đều lầm.

1. Thiên Tướng. Chính là tướng an trụ Định Tưởng, thanh lọc tốt xấu, tránh né thiện ác, chọn lọc lấy bỏ thành tu luyện lâm vào Tiên Đạo.

2. Nhân Tướng. Thường bảo thủ cá nhân cá tánh nên thường chấp, thương ghét không chừng dù tin Phật vẫn bị lạc hướng lầm lạc.

3. Chúng Sanh Tướng. Tu không đều, khi thích tu thật nhiều, lúc buồn chán bỏ tu. Phật khai Kinh bất tăng bất giảm để cứu chúng sanh tu Trung Đạo Tôn đặng trở về Bất Thối. Vì thối sa Địa ngục còn tăng lạc Tiên đạo.

4. Thọ Giả Tướng. Thường cho mình là phải là đúng nên Phật dạy lìa Ngã tu đến Chánh Ngã.

Chư Phật lưu lại Kinh sách rất rõ ràng lời khai thị không thiếu cần tu hành đầy đủ công năng công đức nương bốn tướng tỏ thông Không Trụ Xứ khỏi bị sai lạc./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


68. Như Lai Thiền

“Về Như Lai Thiền duy chỉ có Đức Đại Nhựt Như Lai Phật mới chủ trì trọn mà thôi, còn kỳ dư những vị hiện thể như Phật chẳng hạn vẫn Thừa Hành Tôn để mà chỉ đạo môn Như Lai Thiền, vị ấy dùng phương thức tùy thời đưa Bồ Tát tu hạnh, lập môn đến chừng Bồ Tát sở đắc Nhất Tôn Như Lai Thiền. Vì vậy nên đời này hoặc đời sau, nếu Bậc tín tâm gặp đặng Phật, vị Phật thừa hành chỉ đạo theo môn Như Lai Thiền thì Thiền ấy mới đúng Như Lai Thiền, bằng chẳng như thế khó mà tu đặng Như Lai Thiền.” –T.V.

Cách đây 2538 năm, Đức Bổn Sư đã thừa hành Đức Đại Nhựt Như Lai Phật chỉ dạy môn Như Lai Thiền. Đến thời Hạ lai Đức Di Lạc Tôn Phật cũng Thừa Hành Tôn chỉ đạo môn Như Lai Thiền. Chư Phật tùy căn cơ Bồ Tát chỉ dạy đủ phương thức cốt cho Bồ Tát sở đắc Như Lai Thiền, nếu chưa sở đắc khó mà tu được Như Lai Thiền. Từ A La Hán đến chúng sanh tu Thiền có sở đắc cũng không phải Như Lai Thiền.

“Ngoài ra Bậc tín tâm gặp Bồ Tát, vị Bồ Tát ấy, một là sáng tác danh nghĩa Như Lai Thiền, hai là y theo Tôn Chỉ Như Lai Thiền này, dụng tất cả phương cách chỉ dạy cho tín chúng, sau tín chúng sở đắc Thiền Môn, thì môn Thiền ấy chẳng phải sở chứng Như Lai Thiền, chính là Bồ Tát Thiền. Đến A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác, Thinh Văn, Phàm phu hoặc ngoại giáo gặp đặng tập Như Lai Thiền này đem ra chỉ dạy cho tín chúng, Đạo hữu y theo Tôn Chỉ đến nơi kết quả, thì sự kết quả tùy theo sở chứng mức độ A La Hán, Bích Chi, Thinh Văn, Duyên Giác Phàm phu hay ngoại giáo mà thôi.” –T.V.

Từ hàng Bồ Tát đến Ma Ha Tát còn gần Như Lai Thiền vì đã được Chư Phật khai ấn. Còn chư vị A La Hán, Bích Chi, Thinh Văn, Duyên Giác cũng đã từng gặp Phật dạy Như Lai Thiền nhưng trình độ tu chứng chưa đến mức thọ lãnh Như Lai Thiền nên có chỉ dạy cho Phật tử cũng tùy theo sở chứng Giác Ngộ đến Liễu Ngộ của Bậc này mà Phật tử được kết quả một phần nào.

Đối với Phàm Tăng hay ngoại giáo Thiền còn xa, quá xa Chân lý nên Thiền cho có Thiền nhưng dễ bị lạc hướng. Dù có theo cuốn Như Lai Thiền tu hành nhưng do Tâm Thức điều động vạn pháp diễn hành Thiền không phát triển đúng tinh thần của Chân Tôn được. Bởi thế nên Chư Phật mới cần truyền Tâm Ấn Thiền lưu lại cho hậu thế có cơ sở tin vững để Thiền khỏi lạc lối.

Như Lai Thiền là môn Tối Diệu Tâm Truyền Tâm. Ấn Chứng mật thiết đến Vô Thượng bất nhị viên dung trùm khắp. Chư Phật Chánh Giác thừa hành Đức Đại Nhựt Như Lai Phật mới Tâm Ấn Chư Bồ Tát, còn ở cấp Thánh chúng nương theo Bồ Tát điều hành. Thời Hạ Lai Đức Thế Tôn Di Lạc đã từng điều khiển mối đạo theo tôn ty trật tự như vậy. Chân Phật tử nào nhập đạo ở các tỉnh hay Trung Ương cũng được đích thân Ngài truyền Như Lai Thiền sau đó Bồ Tát nuôi dưỡng và theo dõi, chăm sóc bổ sung những diễn biến về Thiền cho họ. Hàng Bồ Tát cũng đã được lệnh Ngài cho truyền Thiền, viết Kinh và dạy đạo khi Ngài còn tại thế.

Như Lai Thiền không dụng Lý Trí bằng văn tự luận giải hoặc nghiên cứu mà Trực giác Như Lai Nhãn Tạng được, cũng như Bậc chưa Giác Ngộ khó nhận lãnh được vì tâm còn vọng chạy theo Tâm Thức, Tâm Thức phát sinh Nghiệp thức nên lấy cái vọng loạn làm đường đi khiến Bậc tu không nhận được Như Lai Pháp. Do đó, càng dùng trí suy nghĩ để luận đoán, càng dùng luận gọi là Thiền luận để giải bao nhiêu càng xa với Như nhiên bấy nhiêu. Còn Bậc tu Định Tưởng bị thọ giới tận cùng Phật Giới không trở về Như Lai mà càng lạc lõng bấy nhiêu. Bậc tu Thiền cần chú ý, thể tánh vốn sẵn an nhiên tịch tịnh viên dung bình đẳng nên phải tu cho sở đắc Pháp Tánh, soi xét Thể Tánh mới đi đúng Như Lai Thiền. Tu như vậy có Thiền Trí, nhờ Thiền Trí mời thấy được Nghiệp chủng của mỗi vị tu Thiền thọ chấp Nghiệp Thức gì mà nương theo tháo gỡ. Nói đến Nghiệp nó vô cùng tận làm cho chúng sanh không thoát sinh A Tăng Kỳ kiếp. Cũng chính Nghiệp Thức mà tu chứng có thấp cao đủ trình độ.

Thời Đức Thế Tôn Di Lạc Ngài dụng Chân truyền nơi Đức Thế Tôn Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nên Ngài lập lại kim chỉ nam cho Chân Phật tử nương Như Lai Thiền tu khỏi lạc. Tôi nghe như vầy:

Hành dụng Như Lai lập TÔNG
Lấy Không Trụ lập CHỈ
Lấy Giác lập THỂ
Lấy Hạnh Nguyện lập DỤNG
–T.V.

Còn Chư Tổ thừa kế từ A La Hán, Bích Chi Phật, Duyên Giác, Thinh Văn gọi là Tổ truyền Thiền như sau:

Không Tà Niệm lập TÔNG
Lấy chẳng khởi vọng lập CHỈ
Lấy Thanh tịnh tâm lập THỂ
Lấy Trí Tuệ lập DỤNG
–T.V.

Chư vị Tổ đưa Bậc tu tọa Thiền kết quả Thanh Tịnh Tâm từ cấp ngang với Tôn Giả Thánh Hiền tức từ Giác Ngộ, Đại Ngộ đến Liễu Ngộ là cao nhất.

Hàng Bồ Tát được Phật thừa sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác vào chánh Định Tam Muội khai mở Chư Tổ và Bậc tín tâm tiếp đến Chánh Giác được mới đi sát thể Như Lai Thiền của Chư Phật.

Như Lai Thiền của Đức Thế Tôn Bổn Sư truyền tâm ấn đến nay Đức Thế Tôn Di Lạc vừa ra đời cũng dạy rõ Thể Tánh, tu Thiền cốt tỏ Thiền Tánh, tức là Pháp Tánh. Thể Tánh Thiền nương chiều theo từng ý muốn tức TÀ NIỆM, từng khởi vọng của các Hành giả mà nó từ Như Lai Thiền chia ra sáu môn Thiền ngoại giáo, gọi là sáu cửa Thiền Môn.

Vì do vọng khởi mà có sáu môn Thiền. Nay Đức Thế Tôn Di Lạc dạy cho các hành giả tọa Thiền KHÔNG TRỤ XỨ, nhiếp độ trùm khắp Như Lai Tạng để đoạt đến Như Lai Thiền. Bằng trụ xứ hay chìm đắm nơi Thiền chưa tỏ lầm lẫn sáu Tông bị sai lạc nơi Tiên Đạo, Thần Đạo chưa có rốt ráo giải thoát./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


67. Thiền Viện Rừng A Đề

• Năm 1972, lập Thiền Viện Rừng A Đề ở thôn Phú Hữu. Năm 1972 tôi tìm một đồi núi ở thôn Phú Hữu xã Vĩnh Ích quận Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa, sau khi trình Ngài ra xem và rất vừa ý. Tôi lập hồ sơ xin chính quyền xã Vĩnh Ích chấp thuận và mang lên Ty Điền Địa tỉnh Khánh Hòa cũng được chấp thuận đo đạc cấp giấy phép để lập Thiền Viện. Cũng năm đó Ngài cho lập một căn nhà nhỏ vách bằng cây rừng mái lợp tranh trên triền đồi núi, dân địa phương thường quen gọi rẫy Pháp Tạng, cứ sáng chủ nhật Ngài thường ra thăm, nghỉ ngơi, dạy giáo pháp và truyền Thiền ở đấy. Ngài cử hành Đại Lễ đặt tên Thiền Viện Rừng A Đề.

• Sau 1975, huỷ bỏ thiền viện bị truy thu thuế. Đến năm 1975 cuộc thế nước Việt Nam đảo lộn. Vợ Ngài và hai Chân Phật tử làm rẫy ở đấy. Đến năm 1979, chính quyền Cộng Sản đánh thuế truy thu nông nghiệp. Đất núi chỉ trồng khoai và bắp không đủ nuôi sống gia đình, ngoài ra không trồng hoa mầu khác được. Ngài không tiền đủ để đóng thuế và biết ý họ nên làm văn thơ hiến lại chính quyền, địa phương họ nói chia cho dân làm rẫy nhưng chỉ chia đồi núi Pháp Tạng cho ba ông: Bí thư xã, Chủ tịch xã, Trưởng công an xã từ đó đến nay.

• Ngài Khai Thị nên lập Thiền Viện và mở khoá Thiền. Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, Ngài khai thị cho tôi như vầy: Sau này có Bậc tín tâm ông nên lập Thiền Viện, cách tổ chức cho xuất gia 3 tháng hay 6 tháng một khóa. Tùy Bậc muốn 3 tháng hay 6 tháng cũng được. Cứ chiều thứ bảy đến chiều chủ nhật cho về sinh hoạt với gia đình. Tối chủ nhật trình diện tại Thiền Viện học giáo pháp tu Thiền ôn lại Đạo Đức. Sau mỗi khóa Chân Phật tử trở về gia đình sẽ biết lối tu thực tế Như Lai Pháp ngay trong gia đình.

Ông nhớ đừng cho xuất gia ở mãi trong Thiền Viện. Vì sao? Thời khoa học hiện đại cần cho họ giáp mặt với xã hội, với gia đình để thâm nhập vui buồn, sướng khổ, được mất, có không. Trong công tư sở, trong gia đình họ thực hiện được, thâm nhập được vạn pháp, con người sẽ trở nên trầm tĩnh, thông minh hơn, giải quyết việc nước việc nhà hợp tình hợp lý hơn. Một người ý thức sửa tánh không còn tánh xấu, nóng giận, tranh giành, cãi cọ... Nhờ Thiền mà Trực Giác, nếu không Thiền Định rất khó kềm giữ tánh xấu, tánh độc bộc phát. Người không thanh tịnh giải quyết một việc gì nơi đâu cũng không sáng suốt bằng Bậc bình tĩnh chẳng còn tánh nóng giận, tánh lo lắng, tánh sầu khổ...

• Tôn Phái Thiền: Bậc Thiện Tri Thức phải biết tùy theo Tâm Thức của mỗi hành giả mà hướng giáo, không tùy thuộc Bậc giỏi văn tự mới tu Thiền. Vì Thiền môn không tự. Bậc Thiền Sư phải là Bậc thấu đạt tâm thức di chuyển nên tùy Chân Phật tử mà lựa thế chỉ dạy tu Thiền. Thiền đi sâu bản năng, tiềm lực chủ trì Phổ Chiếu làm con đường Giác ngộ mới trực giác vạn pháp duy tâm: Vũ trụ và thân tâm vốn một Bản Thể duy nhất không hai./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


66. Thánh-Hiền Phật-Giác

“Thiền Sư tĩnh tọa xong, Ngài lẩm bẩm hai chữ Thánh Hiền! Phật Giác! Hồn nhiên đôi mắt Thiền Sư in tuồng giao cảm mười phương sáng ngời tỏ vẻ vui tươi gật đầu nói: Thánh bổn tánh hiền! Phật đại diện Toàn Chân Chánh Giác nên gọi Thánh Hiền! Phật Giác! Hai cấp Thánh và Phật. Có chí dũng công năng tự thành Phật Thánh, nào phải mong cầu xin mà đặng? Về Thánh xuất thời chẳng thiếu chi, như hoàn toàn xuất Thánh rất hiếm. Vì sao?

Vì con người chưa vẹn mười điều toàn mỹ “Nhân Vô Thập Toàn”, dù con người kết nạp bản năng toàn chân chăng năm, ba, bảy điều vẫn phục diện học làm Thánh vươn mình khai hoang làm Thánh Xuất. Thánh Xuất có nghĩa giải nghiệp Xuất Thánh, sạch nghiệp viên minh liền tự xuất, khi thành đạt không học vẫn Xuất Thánh.” –T.V.

Tôi nghe như vầy: Thánh xuất là Bậc sở đắc Chân lý, mỗi Bậc sở đắc một môn, mỗi môn khi thâm nhập ích lợi vô kể cho nhiều ngành. Cũng như một pháp sanh vạn pháp, vạn pháp hồi một pháp.

Bậc Thánh xuất tùy theo chuyên môn của mình mà triển khai cho từng lớp giải nghiệp, sau lớp này được Thánh xuất. Thánh xuất do nơi Chí Dũng, đức tánh thanh cao, bao dung thành hiền hòa. Bậc Thánh Xuất không còn tự mãn, tự cao, không còn tam độc nơi chúng sanh tánh, không còn tự mãn củng cố học hỏi tăng thượng có Hiền hậu mới Thánh Xuất.

Bậc Thánh Xuất Thánh Nhân như Khổng Tử, Thánh Thiên như Lão Tử. Bậc Thánh Xuất nhiều thường hiện nơi thế gian, Bậc hoàn toàn Xuất Thánh rất hiếm. Vì chưa vẹn toàn mười danh hiệu như Đức Bổn Sư, như Đức Di Lạc thời Hạ lai đã hiện thể.

Có Bậc thực hiện được Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri thuộc Hành Dụng Phẩm, có Bậc được Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Điều Ngự Trượng Phu một phần của Diệu Dụng Phẩm. Không vị nào đủ mười danh hiệu Xuất Thánh.

Bậc Xuất Thánh nếu ai có Đại căn gặp được đã khó, mà biết hưởng được Như Lai Phật nơi Ngài càng khó hơn. Biết được Ngài quá ư khó. Biết rồi mới y tôn, y chỉ không còn lầm lạc xuất Thánh.

Bậc Xuất Thánh siêu đẳng hạnh Thế Gian Giải, khó nghĩ bàn. Bậc này giải nghiệp, sạch nghiệp được viên minh nên được tự xuất không cần học. Có tự xuất làm gì cũng được nên Ngài mới ban hành Hịch Chứng Minh Vũ Trụ theo ý Ngài tự xuất. Ai có quyền uy cũng chỉ là “Con Nộm” Ngài điều khiển từ xa nếu cần làm an lành chúng sanh. Dù có một rừng vũ khí tối tân, vi trùng học, nguyên tử hóa học, vũ khí bấm nút từ xa cũng không qua được “Quyền uy siêu đẳng bất nhường” này. Thật lắm, trăm ngàn chân thật, còn vĩ đại gấp triệu lần, văn tự không kể hết Bậc Xuất Thánh. Bậc Thánh Xuất không biết nổi Bậc Xuất Thánh.

“Thiền Sư vừa giải đến đây, hai bàn tay Ngài đặt trên mặt bàn nhỏ, nhìn mười ngón tay, trầm lặng tiếp nói: Chánh Biến Tri là một danh hiệu Phật, bao la rộng rãi vô cùng, yếu tố sáng soi quân minh vô tận. Vì sao? Vì trí hóa tâm thức biến tri, nghề nghiệp biến trí, cải cách biến trí, biến trí tùy thuộc nghiệp, còn Chánh Biến Tri thuộc Giác Tướng về Như Tướng Kiến tri mà Tri Kiến Phật.

Thiền Sư hai bàn tay đưa thẳng ngang tai rộng rãi mỉm cười tiếp nói: Chánh Biến Tri sai lạc thì Tà Biến Tri làm thế nào phân biệt? Như nhà Thông thái, gắng tạo thành thông thái chỉ là một con người tạo thành làm thuê cho thông thái. Phải có căn bản nơi chủ thể chủ tánh cao đẹp vững vàng gọi là đức tánh bao dung đến thành công thông thái. Đó mới thật chính thật mình thông thái.” –T.V.

Bậc thông thái cần tạo cho mình có Chủ Thể Chủ Tánh để tự điều động sự thông thái. Bằng không có Đức tánh tự chủ bao dung thì sự thông thái này lại đi làm nô lệ cho một người nào cũng đem đến tai họa cho nhân sinh. Vì vậy Bậc thông thái còn tạo mối nguy hiểm bên cạnh cái lợi cho đời vẫn bị trí hóa sanh mạng lai sanh làm loài súc vật theo luật luân hồi thật tai hại lắm!

“Đứng trước tinh thần hóa giải vô minh ngăn cách, đứng trước tinh thần lướt qua các trở ngại phân chia trở nên lành lẽ, đứng trước tinh thần chống trả bản thân lười trễ thật là trí dũng vô cùng, khó nghĩ bàn những Bậc Đại Hùng từ mê lẫn đến Ngộ. Từ thế gian đến xuất thế gian tinh thần xây dựng nên sự việc tất cả, thiếu tinh thần bị tê liệt tất cả thì thử hỏi tinh thần là cái gì? Lợi hại như thế? Tinh thần chẳng là cái gì mà cái gì cũng đoạt đến.

Tinh thần Bất Khả Tư Nghì, khó nghĩ bàn đặng. Tinh thần là chủ thể năng lực Như Lai. Vì sao? Vì Phật Ấn Chỉ Như Lai vô sở tùng lai, Diệt vô sở trú, Cố danh Như Lai. Hàng Bồ Tát đại nguyện Như Lai vô biên thề nguyện sự. Bồ Tát hành dụng phụng sự cứu giúp chúng sanh, chúng sanh là hành dụng theo thể dụng vận chuyển Như Lai, nên Bồ Tát đem hết tinh thần phụng sự thành tựu Chánh Biến Tri, Kiến diện Như Lai Chủ thể Năng lực Như Lai thọ ký.” –T.V.

Bậc trí đều công nhận tu hành thành hay không thành đều do tinh thần. Tinh thần thù thắng cái gì cũng đoạt được. Chư Phật Chư Bồ Tát cũng theo con đường này, nó rất thực tiễn. Tinh thần là Chủ thể có năng lực vô biên từ nơi Như Lai, làm chúng sanh và Như Lai là một không thể nghĩ bàn. Bồ Tát nhập thể mới xác thật Như Lai không lui tới, không chỗ trú. Đâu đâu chủng tử Như lai cũng sẵn vô thủy vô chung thường còn bất biến lại sống động viên dung vô cùng tận. Tinh thần chí dũng là chính yếu cho tu cầu Tri Kiến Giải Thoát. Dù tinh thần thiết tha, thành thật chưa trí tuệ vẫn lâm nơi tinh thần cuồng tín nên rất cần Bậc Thiện Tri Thức chỉ đạo mới đi đúng đường Tri Kiến Giải Thoát được. Nếu chưa gặp nên có tinh thần thiện căn, thiện chí, cúng dường công đức, cúng dường ngôi Tam Bảo, tinh thần như thế rất an lành rất đáng qúy.

“Bậc tu đọc tụng Kinh Pháp, dùng sắc Kinh, chưa tụng ý Thánh nghĩa Kinh làm thế nào Tri Kiến. Hai là nghe thuyết pháp chưa thọ lãnh an toàn, nhận định khiếm diện, chưa đúng với tinh thần pháp, làm thế nào kiến tri Thánh Pháp?” –T.V.

Chúng sanh sống không rời Tâm Thức. Bậc có học hoặc nhà thông thái cũng không thoát khỏi tâm thức dù cho có ý thức cũng ý thức của tâm thức cá nhân mình. Bậc tu Phật xem Kinh Pháp, nghiên cứu, học hỏi Kinh điển có ý thức cũng không ngoài tâm thức hiểu biết theo Bị Biết cùng Bị Tu. Ba điểm trên đều lầm lạc. Tâm Thức giờ phút điều hành tất cả làm Bậc nào cũng sống trong quanh co do nó nuôi dưỡng hỗn loạn, hỗn độn. Tâm thức như tia chớp sấm sét, như ánh trăng dưới nước, lay động không ngừng... Thật khó khăn giải giới tận thấu cho sạch sẽ chu toàn được. Vì quy chế chúng sanh tu chúng sanh chưa thực hành trí tuệ căn bản, trí tuệ cứu cánh, trí tuệ Bát Nhã làm thế nào đến Thánh ý Chánh Giác.

Giác theo học thuyết, giả thiết cũng nhiều nhưng đó là Bị Tu Bị Chứng còn tạo Thánh ý Chánh Giác đến Xuất Thánh thật khó khăn. Chỉ một quan niệm còn là Thọ Ngã, Ngã Sở. Nó như bụi vi trần rất dễ lầm nhận. Bởi vậy Bậc tu chí dũng cần Bồ Tát, Bồ Tát nương Như Lai Phật cứu độ mới kết quả./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


65. Thể Dụng

“Bồ Tát phát tâm dũng mãnh, tu nơi tâm dũng mãnh, Tối Thắng vạn cảnh cách ngăn, chí không nhàm chán, năng lực bồi dưỡng thêm đến giai đoạn Trí Lực. Trí Lực là một trí chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Trí này chịu đựng tất cả, tùy thuận tất cả, dung hòa tất cả, nhiếp thâu tất cả trưởng thành Nhất Thiết Trí.

Lại nữa: Trí Lực Công Đức Phẩm cúng dường Như Lai Phật, Trí Lực trải qua vô tận thế giới Đại Hải Trí thành đạt Nhất Thiết Trí. Trí Lực khó giải hết đặng, dù mang tất cả Tam Tạng Kinh để tán thán Công Đức Phẩm, Bồ Tát độ sanh trải qua hằng hà sa số kiếp, mỗi kiếp có vô lượng công đức, thời công đức ấy nhiếp trí, nhiếp tuệ, sáng soi khắp Diệu Quang, Phổ Quang, hằng hà sa số Quang, thành đạt Năng Lực, Tiềm Lực, Chủ Lực, Nhẫn Nại Lực, Bất Thối Chuyển Lực, tận tận vượt tầm bên kia lực mới có Nhất Thiết Lực tận tận hoàn Chánh Giác. Thiền Sư nhìn hư không tận tận cũng thế.” –T.V.

Chúng sanh Vô Biên Thề Nguyện Độ có nghĩa vô biên Chúng Sanh Tánh, vô biên vọng tưởng phải nhận định độ cho sạch chẳng còn một chủng nào chưa độ mới có Trí Lực. Trí Lực gọi là Đại Hải Trí đã thành tựu Nhất Thiết Trí. Bồ Tát phải dũng mãnh tối thắng vạn diễn cảnh, không còn ngăn cách dừng trụ, xem diễn cảnh là món ăn của Bồ Tát nên chí bền không còn khởi nhàm chán, chịu đựng độ khổ, hóa giải tùy thuận, dung thông tất cả trí nơi chúng sanh thành tựu Nhất Thiết Trí. Nhất Thiết Trí không còn tăng hay giảm, không vứt bỏ cũng không giữ lấy. Thiếu kém công đức thì phải bổ sung, còn tăng lên phải giảm xuống mới thông con đường lui tới, tới lui nơi vạn pháp được Trực Giác quân minh thông suốt Bát Nhã Tâm Kinh.

“Trí dụng phân phối vô lượng vô biên vô số Trí, chung gồm tất cả Tam Thiên từ Nhân Sanh Trí, Thiên Sanh Trí, Tiên Thần Thánh Hóa Trí, Bồ Tát Trí cùng Phật Trí, đã nơi dụng hệ thống Trí Dụng, dù cho Thiền Trí, Giác Trí vẫn chưa thoát khỏi Dụng. Vì sao? Vì Thiền Trí vẫn Thiền Dụng, Giác Trí không ngoài Giác Dụng. Có như thế nên tu lìa Ngã, Ngã sở chính lìa Dụng, không Trụ, không chứng pháp Bất khả đắc lìa Dụng nhiếp thâu bá thiên vạn trí, trở thành Bát Nhã Trí, tỏ rõ các chủng trí không thiếu sót, sở đắc Nhất Thiết Chủng Trí, sạch Dụng Nhất Tâm Đảnh lễ thành Phật.” –T.V.

Tánh là cái Dụng của Như Lai, Trí cũng là cái Dụng của Như Lai, cho đến Pháp Thân, Pháp Giới, Pháp Tánh, Như Lai Tạng, Chân Như cũng là cái Dụng.

Trí Dụng có vô số lớp lớp như Nhân Sanh Trí, Thiên Sanh Trí, Tiên Thần Thánh Hóa Trí, Bồ Tát Trí cùng Phật Trí bao gồm tất cả Tam Thiên. Dù cho Thiền Trí, Giác Trí cũng là Dụng của Như Lai.

Bậc tu Giác Trí cũng cần lìa Ngã, Ngã Sở không trụ, không đắc mới thoát khỏi Dụng. Vì còn Dụng là còn Giới.

Cần nhiếp thâu bá thiên vạn trí dung thông trở thành Bát Nhã Trí tỏ rõ từng chủng trí chẳng còn thiếu sót chủng trí nào mà sở đắc Nhất Thiết Chủng Trí.

Bậc tỏ thông Nhất Thiết Chủng Trí phải hành đầy đủ Tịnh, Bất–Tịnh, Hữu–Tướng, Phi–Tướng thuộc hàng Đại Bồ Tát mới biết tận tường thực hiện viên dung.

Nói thì dễ, đọc hiểu nhưng tâm trạng thực hiện thoát Dụng Trí là cả vấn đề, tùy Chí Dũng giải tâm làm cho tâm thông. Bằng chấp trụ, tâm đứng yên bị sa vào Tịnh Biệt Tâm. Cần vượt chướng ngại cần nương nhờ Dụng đưa tâm thoát khỏi Dụng gọi là Giải–Thoát chớ không có chi Giải–Thoát.

“Thiện tai! Thiện tai! Sơn hà đại địa cho đến toàn thể Chân Như đều lầm nơi Trí Dụng, mơ màng Giác Dụng. Hàng Bồ Tát, trụ mà không trụ lìa Dụng, viên thông, không đắc mà vượt tầm Trí Dụng, cho đến Kim Cang Kinh. Như Lai không thuyết pháp, Tu Bồ Đề không nghe pháp, cốt sạch Dụng chứng tri. Bằng Như Lai thuyết pháp, Tu Bồ Đề nghe pháp chứng tri, thì chứng tri nơi Trí Dụng? Khéo thay Chí Tôn vi diệu!” –T.V.

Khi lầm mê Trí Hóa không sao kể hết, phải bị Dụng điều động Tâm. Bồ Tát phải giải dụng, tận thấu Dụng mà hóa cho sạch sẽ trơn liền Dụng. Bồ Tát tỏ thấu dừng trụ mà không trụ viên dung lìa Dụng. Không đắc mà đắc thoát Dụng. Tôn giả Tu Bồ Đề nghe pháp nhưng không chấp hiểu biết nơi-nghe được tự-biết cốt Trực Giác Trí Dụng. Bằng Như Lai thuyết pháp Tu Bồ Đề nghe pháp chứng tri thì chứng tri nơi pháp của Như Lai chứ chưa có tự-biết vẫn còn bị-biết nơi Trí Dụng. Không y Kinh cũng chẳng ly Kinh thoát Trí Dụng, không còn mơ màng Giác Dụng.

“Trí Dụng là tấm tuồng Vật Hóa, vạn vật thảy đều hóa sanh sanh hóa, từ cây cảnh núi sông chung cùng nơi Dụng cho đến kiếp nhân loài chịu chung cuộc của Vật Hóa Sanh qua từng kiếp kiếp sanh hóa, muôn hình vạn tướng. Từ một nhân sanh, trải qua cho đến Chánh Giác đã từng làm vật hóa sanh theo Trí Dụng, nhiều lớp Dụng như: thú vật, hình thể vật, thượng cầm hạ thú, nhà giàu, nhà sướng, nhà khổ đủ mùi vị, có nghĩ Nhãn Quang nhìn thấy bao nhiêu loài thời chính mình đã từng vướng bị vật hóa sanh ra loài ấy. Gọi là Luật Nhân Quả không cùng. Do nơi đâu mà có như thế, do nơi Dụng mà Vật Hóa Dụng Sanh.” –T.V.

Tất cả núi sông, cây cảnh, các loài súc vật cho đến Nhân sinh cũng không thoát khỏi cái Dụng của Như Lai. Do Trí Hóa mà bị Dụng sanh muôn trùng. Nếu một nhân sinh đã từng nghĩ, đã từng thấy con vật gì là đã từng bị Dụng sanh làm con vật đó nhiều lần. Đức Di Lạc Tôn Phật Ngài đã từng thấu tận tận nên ghi lại. Thế mới biết Luật Nhân Quả không chừa một ai. Chủng tánh nó thế nào đầu thai làm giống đó không sai chạy. Diễn tả không hết được.

Khi Đức Bổn Sư Chánh Đẳng Chánh Giác thành Phật, Ngài cũng đã từng bảo: Nhìn cát sông Hằng nhiều vô lượng vô biên, vô kể nhưng một hạt cát là một kiếp sanh tử của Ngài. Biết sự vật hóa sanh như vậy Chư Phật mới chí tình hướng đạo để Bậc tu sửa tánh không bị lộn vòng súc vật. Bậc tu cầu vái van xin không tu sửa tánh, còn bị Dụng sanh làm cầm thú là lẽ thường. Dụng này vừa dứt sanh Dụng khác gọi là sanh tử luân hồi. Con đường sanh diệt, diệt sanh nhiều kiếp đổi thay do tùy thói quen tập nhiễm kiến tạo thành hình. Nó muốn khởi ác, làm nhiều điều độc ác, nó phải vào nơi ác thọ nghiệp qủy, súc vật hạ cấp. Nó muốn thiện căn, thiện chí, nó về thượng sanh mà Chánh Báo Người, Tiên, Thần do nơi tánh tình cùng nơi hành sự của nó tạo thành.

Thời Hạ Lai tàn canh, Đức Di Lạc Tôn Phật đã tận thấu nơi lầm lẫn của chúng sanh nên minh thuyết cho nhân sanh tứ loài nương theo y tôn, y chỉ đã vạch tu đến kết quả thành đạt mà thôi. Nếu hiện tại nhân sanh không tu sai lầm, còn giữ y chỉ của Đức Thế Tôn thì Đức Di Lạc Tôn Phật hạ sanh làm chi! Bồ Tát phát Đại nguyện tận độ chúng sanh từ nay vẫn nối truyền cứu độ tiếp chúng sanh cốt đánh thức chúng sanh. Lại còn dụng công ra vào sanh tử không nhàm chán tử sanh, trưởng thành Ma Ha Tát. Bậc Bồ Tát Ma Ha Tát sạch sẽ, thấu đáo không còn khởi Ngã Sở, thật tỏ Ngã Sở thảy đều Ngã Dụng vào biển pháp vi diệu thật tuyệt mỹ, lại trọn hưởng Bát Nhã, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng