34. Chí Tâm Đảnh Lễ (Ý nghĩa xác thực Lời Nguyện A-Di-Đà)

Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Lượng Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Vô Lượng.

Pháp môn vô lượng là nghe thấy biết tức vạn pháp. Nếu y Tam Tạng Kinh trong sách của Đức Phật cũng không phải vô lượng mà hữu lượng. Chính bộ kinh ngoài thế gian mà Đức Bổn Sư 49 năm hành đạo khai thị cũng chưa đủ thời gian giải hết nên phải học Tam Tạng kinh ngoài đời, cùng Tam tạng kinh của Đức Bổn Sư mới gọi là vô lượng. Bậc tu chỉ cần sở đắc một vi trần nhỏ nhất liền thị chứng vô lượng.

Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Biên Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn vô biên.

Pháp môn vô biên là tu không có giới hạn, ở chùa, ở nhà, ở nơi làm việc, ở khắp mọi nơi chỗ nào cũng nhận diện được vạn pháp qua nghe thấy biết, chứ không phải vào chùa xuất gia mới là tu, quan niệm lầm lẫn như vậy là tu hữu biên. Bậc tu chỉ cần sở đắc một diện tích cực nhỏ liền thị chứng Vô Biên.

Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Đối Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai và pháp môn “Vô Đối” tức không đối chướng. Đối diện vạn pháp cần hỷ xả không để cái chướng làm chủ sai khiến bậc tu. Như vậy hiện tại tâm được thảnh thơi đâu có phiền não. Chính sự đối chướng che Chơn Tâm. Sự đối chướng là vọng tâm. Thì chơn tâm ẩn trong vọng tâm. Vọng tâm bao che chơn tâm. Mây mù tan ắt mặt trời ló dạng quang đãng. Không đối chướng Chơn Tâm như nhiên hiện.

Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Diệm Vương Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn Diệm Vương.

Diệm Vương có nghĩa hòn núi vua của các núi Hỏa Diệm Sơn, ý nói không có hòn núi nào cao, to, lớn bằng, nó thuộc loại núi khó vượt qua thứ nhất lại phun lửa cực nóng. Pháp môn Diệm Vương là pháp môn bằng trí tuệ, bằng thân mạng phải qua khỏi núi lửa đầy bất trắc đứng thứ nhất này.

Tỷ như vợ chồng một gia đình kia lâu nay tu ăn chay, tụng kinh, niệm Phật đi chùa, lễ bái cầu vái chư Phật quen thuộc nhiều năm. Bỗng hôm nay bà vợ thấy ông chồng không theo lối tu như trước nữa. Lại thấy chồng ngồi Thiền, đi nghe thuyết pháp, tu sửa tánh theo một Thiền Sư khác chứ không còn theo thầy ở chùa như trước nữa. Bà vợ thấy chồng như vậy, tức giận, quát to ầm ỹ cả nhà, buộc chồng phải bỏ tu theo lối này. Chồng không nghe vẫn cố giải thích lối tu này là của Đại Thừa rất tự tánh sẽ tiến bộ hơn lối tu trước. Bà vợ chướng đối bỏ nhà ra đi, con cái không người chăm sóc, gia đình đỗ vỡ và bị đảo lộn. Chồng thấy vợ không hiểu mà sanh tâm chướng đối làm tan cả nhà hoảng sợ quá, do nghiệp thức cản nên bỏ tu, bà vợ trở về. Bà vợ biện minh cho hòn núi Diệm Vương.

Ông chồng hóa giải qua khỏi nghiệp chủng bà vợ là vượt qua núi Diệm Vương sẽ được quang minh. Bằng không, chỉ cầu vái van xin khi tụng niệm thì chẳng bao giờ vào được cảnh giới Tịnh Độ của Đức A Di Đà Phật. Pháp môn của Đại Thừa là pháp môn hóa giải vạn pháp chứ không ngồi tịnh, cầu xin. Phải đi mới đến. Phải hành mới tỏ thông. Tận Thấu pháp là tận Thành. Trong kinh Phật thường dùng núi Tu Di để chỉ sự cản trở to lớn không cho bậc tu thù thắng nổi.

Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Ngại Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Vô Ngại. Vô ngại có nghĩa vào pháp quái ngại để biết, Tâm vẫn trơn liền không ngại ngùng lo âu. Tâm được quang minh khi không còn pháp nào quái ngại. Hàng ngoại giáo, Nhị Thừa vô ngại có nghĩa diệt, né tránh để không nghe thấy nên vô ngại này không có tỏ pháp.

Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Thanh Tịnh Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Thanh Tịnh.

Giải sạch Hoa Pháp Tánh của chính mình nghiêm túc mới có thanh tịnh. Pháp bất sanh bất diệt tỏ tường vạn pháp chính pháp thanh tịnh. Tinh thần ổn định chính là nơi an lạc, là chân hạnh phúc thật sự. Đó là thanh tịnh. Bậc tu chưa ổn định tư tưởng thì chưa có thanh tịnh. Nếu chưa thanh tịnh thì làm sao dạy người khác thanh tịnh được. Bậc phải đắc an lạc mới quân minh, lúc bấy giờ hóa giải vạn pháp đều vào tuyệt đối. Không một quyết định nào sánh kịp bậc đã vào tuyệt đối pháp. Nhiều bậc cho rằng tu như vậy là ích kỷ cá nhân. Thử hỏi một người bệnh, không phải bác sĩ mà lại chỉ cho người khác uống thuốc. Có phải không đúng chút nào không? Học ra trường đậu bác sĩ rồi cho thuốc con bệnh mới an tâm.

Bậc tu hành sống trong gia đình, hàng ngày làm việc kiếm sống dễ va chạm nhau, sướng khổ, vui buồn, được mất, có không làm cho bậc thật biết tu hóa giải, sau giỏi hóa giải sẽ được an lạc ngay trong đời. Đó là pháp thanh tịnh đầy hạnh phúc quí báu không gì bằng. Dần dần vào vạn pháp sâu thêm, năng động hơn, sẽ đến Đại Thanh Tịnh. Cho nên thanh tịnh cũng phải có nhiều cấp bực tùy theo công năng, công đức cao dày hay mỏng. Có bậc tu suốt đời không một phút giây thấy biết loạn tưởng, tối tưởng vẫn ngồi mong tưởng sẽ đắc đạo. Dù ở pháp môn nào cũng phải tu cho thanh tịnh mới đạt đạo được.

Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Hoan Hỷ Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Hoan Hỷ.

Hoan có nghĩa là hoan lạc. Hỷ tức hỷ xả những gay cấn, bậc tu hóa giải sẽ quen dần chịu đựng vạn pháp. Trái ý vẫn hỷ xả không hờn giận, không oán ghét kẻ đã gây cho mình đau khổ. Hoa Pháp Tánh giải được sẽ thoải mái. Bậc tu như vậy thực hành đúng đạo đức, con đường chư Bồ Tát đang đi, Chư Thánh đang tu.

Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Trí Huệ Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn trí huệ.

Pháp môn trí huệ có nghĩa cái biết sâu đậm, trước chưa biết mà nay được biết, trước chưa nghe mà nay được nghe. Trước cái biết có bờ ngăn nhỏ nhen nay cái biết rộng lớn. Trước tu tập lầm lẫn nay nhờ Đạo Tràng lần hiểu biết gọi là trí huệ. Tùy theo mức hiểu biết của bậc tu mà thuyết pháp giúp đỡ đúng tầm cỡ, không cao quá cũng không thấp quá gọi là trí huệ.

Bậc tu tìm được cái biết viên dung trùm khắp được quang minh, gọi là pháp của Như Lai Nhãn Tạng.

Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Nan Tư Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Nan Tư.

Nan có nghĩa là nan giải khó khăn. Tư là tư riêng của cá nhân, cá tánh. Pháp môn Nan Tư bậc tu gặp pháp nan giải gay cấn đến với cá nhân mình phải hóa giải cho được mới quang minh. Đó là pháp của Như Lai. Bậc thiết tha tâm, thành thật tâm cần phải biết nhận định đúng đắn đường tu hóa giải vạn pháp qua những khúc eo gay cấn làm bế tắc đời mình. Nếu không, dù cho thành thật tâm, thiết tha tâm đến đâu chăng cũng không đem lại kết quả Tri Kiến. Bậc chỉ cầu vái van xin, chay trường, thành tâm, thiết tha cũng không làm sao tháo gỡ hoàn cảnh được.

Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Bất Đoạn Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn bất đoạn.

Bất đoạn có nghĩa không gián đoạn, bậc tu gặp bối cảnh, khó khăn nếu không tỏ được giá trị bảo pháp dễ bỏ dở. Sự chán nản làm cho bậc tu đoạn, dị, diệt. Vượt qua được sáng tỏ. Đó là pháp của Như Lai. Trong cuộc sống bậc tu gặp vật chất thiếu thốn, liền gia tăng xả thân vào cuộc đời tìm kiếm cốt thỏa mãn, trong trường hợp như vậy phải bậc trí dũng mới không bỏ tu. Bậc tu tầm thường không nhận giá trị, quyền lợi của đường tu cứu mình thoát khỏi trầm luân trong biển khổ, dù cho bậc chỉ đạo có ở cạnh cũng không đem lại kết quả cho được.

Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Vô Xưng Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Vô Xưng.

Vô xưng có nghĩa không xưng danh chứng đắc. Nó vốn vô ngã. Chúng sanh bị hữu ngã nên xưng danh làm thêm tăng thượng. Tu hành như vậy vẫn còn lầm lẫn bị vô minh che mờ. Bậc tu sở đắc, biết nhận chân được pháp vô ngã không hề xưng danh liền vãng sanh Tịnh Độ.

Phật nói pháp vô ngã là ý nói không có cái Ta nơi đảo loạn để chúng sanh nương theo tu tập khỏi lầm nhận. Nhờ không xưng danh mà tìm được CHƠN NGÃ đặng Tri Kiến Giải Thoát. Do chúng sanh bảo vệ danh xưng cùng tướng ngã mà sanh tham. Từ tham bị vướng mắc tranh giành sanh ra sân hận, phải bị si mê. Đó chính là con đường sanh tử. Danh xưng nó vốn như huyễn lầm nhận cái ta hư dối làm mình, nó chính là thị danh, danh giả. Từ Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng tu hành nhận định kỹ khi thực hành vạn pháp tìm xem cái nào là của ta. Nó là cái dụng của Như Lai.

Tỷ như, từ nơi lúa làm ra gạo đem ra làm bột, từ bột làm đủ thứ bánh, mỗi kiểu có một tên riêng chứ thật ra nó cũng chính là lúa. Nó bị biến mang danh ngã, tướng ngã.

Tỷ như gỗ người thợ đem làm bàn, ghế, tủ, giường, cửa sổ, cửa chính. Nó vốn từ cây. Người thợ cưa, đục, đẽo làm thành. Nó đã bị biến và mang danh ngã, tướng ngã: cái bàn, cái ghế, tủ, giường, cửa sổ, cửa chính mỗi thứ có một công dụng khác nhau. Như cái ghế để ngồi, cái bàn để viết, để vật dụng, cái giường để nằm, chẳng ai đem cái ghế để vật dụng, chẳng ai đem cái bàn để ngồi. Gọi là cái dụng thành hình thì dùng đúng theo nó.

Tất cả đều mang danh ngã, tướng ngã. Do đó bậc tu chân chính không hề xưng danh để được quang minh. Đó là pháp môn vô xưng của Như Lai. Cái ta thường còn bất biến, không còn nhận huyễn là mình. Bậc tu hành cần phải chủ quán vô xưng, tức tỏ được vô ngã làm cho nghiệp tiêu giảm, không còn nhận lầm huyễn làm chân. Đó chính là pháp môn Đại Thừa tu Tri Kiến Giải Thoát. Tất cả chúng sanh vốn nguyên một thể đồng với NHƯ LAI mười phương chẳng sai khác.

Nam Mô An Dưỡng Quốc, Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội, Siêu Nhựt Nguyệt Quang Như Lai.

Muốn về an hưởng hạnh phúc nơi cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà được mãi mãi an lạc thì phải tu pháp môn của Như Lai là pháp môn Siêu Nhựt Nguyệt.

Nhựt là mặt trời, Nguyệt là mặt trăng. Siêu Nhựt Nguyệt có ý nói ngày đêm đều sáng rỡ, không hề có tối tăm. Bậc tu giữ gìn tự tánh không lúc nào quên lãng, chẳng suy tính hạn lượng cùng biên giới. Chớ nên gặp khó khăn, gặp hồi gay cấn mà chướng đối ắt bị tối tăm. Hóa giải siêu đạo đức, tâm được thanh tịnh, vạn pháp được quân minh thành đạt viên thông, kết chung viên dung liền vào An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội.

Bậc tu phải chí tâm đảnh lễ, nhất tâm thiết tha mới thọ lãnh đầy đủ. Đó chính là lời ấn chỉ của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Bậc tu thành thật tâm, thiết tha tâm nhưng không cổi giải để hóa giải vạn pháp, chỉ cầu vái linh thiên vẫn bị lạc hướng khác với con đường Chư Bồ Tát quá khứ đã đi, chư Bồ Tát hiện tại đang hạnh nguyện. Tu hành chủ yếu thực hiện 12 câu nguyện trên, chính là tu theo con đường Chân Tôn hướng đi của Bồ Tát hạnh. Vì vậy bậc tu không nên kể tu lâu năm hay mới tu. Chỉ cần đúng theo tinh thần trên liền cũng được vào dòng Bồ Tát Hạnh./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


33. Diệu Pháp

“Các ông nên nhớ. Cứ mỗi một thời có một Đức Phật thị hiện, chính lời Phật đều là lời Pháp Hoa Chánh Giác, được coi là Diệu Pháp Liên Hoa kinh để ghi nhớ đọc tụng. Chớ chưa mấy ai nói, gọi là Kinh Pháp Hoa hay tự nhận là giải Kinh pháp Hoa cả.” –T.V.

Thời Đức Bổn Sư cách đây 2538 năm Phật Lịch, xã hội trọng đạo đức, đa phần con người sống hiền lương. Phật tận thấu mới chuyên khai ngộ Hoa Pháp Tánh hợp theo thời đó, Ngài lại dụng nghe thấy biết trong đời hóa giải hoa pháp cho Tứ chúng tu tập, tu hành rất tuyệt mỹ gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

Đến thời Hạ Lai Đức Di Lạc ra đời trong bối cảnh Mạt Pháp, Ngài cũng đã tường tận Hoa Pháp Tánh độc nhiễm theo thời này bộc phát quá mức mà khai ngộ cho tứ chúng rất tuyệt mỹ, chẳng thiếu sót nên cũng có Diệu Pháp Liên Hoa Kinh của thời Mạt Pháp này. Do đó nhiều bậc tu không thấy, biết được sự nhịp nhàng di chuyển Hoa Pháp Tánh thời Mạt Pháp quá lộng hành, lại đem kinh Pháp Hoa của Phật thuyết giảng theo nghiên cứu trở thành không thực tế, không phải pháp sống hiện hành. Y kinh bất liễu nghĩa làm cho Tam Thế Phật oan. Mỗi thời Phật có một bộ Diệu Pháp Liên Hoa thích ứng theo đời gọi là không ly kinh mà cũng chẳng y kinh.

“Ta áp dụng chỉ đạo, con đường tu tập tuần tự theo Bi Hoa Kinh Tối Thượng. Bi Hoa Kinh là mỗi một bước đi của Chư Bồ Tát cùng Chư Phật đã đi, đến các hàng Tứ Thánh đang đi, tất cả sự tu trì chứng minh đều nơi Kinh Bi Hoa thọ ký.” –T.V.

Bi Hoa Kinh là bộ kinh Đức Bổn Sư dạy chư Bồ Tát Tổng Trì. Nay Đức Di Lạc đã dắt dẫn Chư Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Hạnh vào trong thể Phư Phật. Bậc tinh tấn đều được nghe tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng và tiếng Tịch Tịnh, tiếng Vô Sở Hữu, tiếng Ba La Mật Đa, tiếng Vô Sở Đắc cùng tiếng Không Sanh Diệt, tiếng Đại Từ, Đại Bi cùng tiếng Thọ Ký đầy Diệu Âm.

Đức Ngài đang sử dụng máy chữ Royal để viết Kinh.

Thời Mạt Pháp này Đức Tịnh Vương, Long Hoa Tăng Chủ đã khai thị cho Tứ Chúng không thiếu sót con đường tu tập theo Bi Hoa Kinh Tối Thượng mà Đức Bổn Sư đã từng khai thị cho Tứ Thánh của Ngài. Thời này, Tứ Thánh cũng được dứt phiền não, tâm yên vui, tâm vắng lặng xa rời sanh tử, không còn những điều ràng buộc mà không xa rời tất cả các pháp động loạn.

Nay dù Đức Di Lạc đã nhập Bát Đại Niết Bàn mà Phật Lực đầy Đại Bi - Đại Chí - Đại Dũng của Ngài vẫn còn đầy khắp, làm cho Tứ Thánh đang đi được sức chuyên tâm, được sức quan sát tất cả pháp thiện, siêu thiện, được sức các Tam Muội, được sức Thiền Định, được sức Trí Tuệ Bát Nhã.

“Còn bậc thành thật, thiết tha tâm, trí tuệ kém, khó thực tiễn hóa giải chấp mê, Ngài liền chỉ thẳng, nói thẳng kinh: Phật thuyết Di Đà Kinh cốt các bậc tu hành chuyên trì Niệm Phật Di Đà liền vãng sanh Tịnh Độ, như thế đủ chứng tỏ tùy thuận căn cơ chỉ giáo, chứng tri nơi Bi Hoa Kinh thành đạt.” –T.V.

Còn bậc vẫn tin Phật nhưng không tu hóa giải vạn pháp, gặp việc trái ý vẫn chấp, chướng gọi là chấp mê. Đức Bổn Sư dạy trì niệm Phật A Di Đà để tùy công năng công đức mà vãng sanh Tịnh Độ. Tỷ như bậc tu chuyên tụng kinh, cầu vái van xin trước tượng giấy, tượng đất… Đức Phật A Di Đà nhưng không tu sửa tánh, không hóa giải vạn pháp, sau khi lâm chung nghiệp quả trả xong, được sinh trở lại vùng có chùa thờ tượng giấy, tượng đất A Di Đà để đến tuổi vào tu y như trước. Đó là tùy căn cơ tu hành pháp tánh như thế nào nó liền cung đốn như ý nguyện chứ không phải về tịnh độ là gặp được Đức A Di Đà Phật.

Chừng nào tu thành Phật mới gặp Đức A Di Đà thật. Đây là điểm bậc tu cần quan tâm. Có bậc tu ở chùa lâu, gần ngày lâm chung thấy chiêm bao gặp Đức A Di Đà chỉ cho tòa sen tưởng mình đã thành Phật như Đức A Di Đà là không đúng.

“Nơi Kinh Di Đà Phật thuyết, Ngài khéo léo nói thẳng tự tánh thành lập, tự tâm kiến tạo, tự nguyện tu trì thành đạt như sau: Kinh A Di Đà Phật vẫn dành cho bậc tu Đại Thừa hóa giải vạn pháp để tu Tự Tánh Tỏ Tánh kiến tạo tâm rộng rãi bao dung, quyết tâm tự tu hóa giải cũng giữ gìn Chánh Pháp trường tồn.” –T.V

 

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


32. Ba lối phát hiện Pháp-Giới

“MỘT LÀ: TƯỞNG TƯỞNG PHÁT HIỆN PHÁP GIỚI.” –T.V.

• Khởi điểm là tư tưởng. Mỗi tư tưởng là một pháp giới. Ngồi Thiền dễ phát hiện tư tưởng tới lui trong thân, lúc ban đầu phải như vậy. Tư tưởng độc là tối tưởng, tư tưởng lành mạnh không gây cấn là sáng tưởng. Khá tiến dần đến quán xét các tư tưởng gọi là quán chúng liền tỏ thấy tư tưởng ra vào trong thân rõ hơn.

Tư tưởng thay đổi không ngừng, gọi là khởi sanh khởi diệt, cho nên mỗi giờ, mỗi phút trong một ngày nó ra vào không biết bao nhiêu pháp giới. Khi tu hành đạt đến chẳng còn sanh diệt nơi tư tưởng nữa. Khi đó nghe, thấy hết khởi loạn, mà đúng vị trí nó là thường tưởng. Khi chăm chú, quan sát để soi nó, gọi là Định Tưởng. Định Tưởng để quán xét nếu bậc tu chăm nó tạo thần thông thì bị giả tạo, sống trong pháp giới.

Thần, Tiên đều kẹt nơi Định Tưởng này mà bị sa vào pháp giới không sao thoát sinh, không sao giải quyết sanh tử được.

“Lại có Tam Giới Chư Thiên trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cho đến Rồng Người. Mười Tám Cõi Trời quản lý thế gian. Mỗi giới, mỗi cõi nói chung đều là tư tưởng, về Chánh Báo thọ báo bất đồng nên cao thấp khác nhau về lý tưởng mà thụ sanh lớp lớp không ngoài trong Như Lai Tạng Giới.” –T.V.

• Mỗi chúng sanh, cao thấp khác nhau nhiều lớp, mỗi lớp là một giới còn gọi là mỗi cõi. Mỗi cõi đều do tư tưởng mà thành. Từ cõi Trời cho đến thế gian, cho đến tất cả đều tạo thành giới đóng khung. Do thanh cao, thô kệch, do rộng hẹp mà có thọ báo đủ cỡ, phát tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo có Chánh Báo Thân Phật. Chánh Báo, Thọ Báo đều do chúng sanh gây tạo, mong muốn mà thành, nó chính là Như Lai Pháp, từ Như Lai Pháp không phân biệt chủng tử nào chính là Như Lai Tạng. Mỗi Tạng có một pháp giới mới gọi là Như Lai Nhãn Tạng hay Như Lai Tạng Giới.

Hàng ngày không lấy Như Lai Pháp để tu, chỉ nặng học Phật pháp, y kinh, thật khó khăn vô kể để tu đạt kết quả. Thật khó khăn thay cho con đường tu cầu giải thoát sanh tử.

Tu hành khởi điểm ban đầu như thế nào thì kết chung như cái khởi điểm nó đến như thế. Cần lìa sắc tướng, không còn khởi vọng, được Bậc Thiện Trí Thức khai cho về Như Tướng đoạt Giải Thoát. Khởi điểm rất quan hệ, do tưởng như thế nào mà không có bậc Chánh Giác chỉ theo đường Chư Phật, Chư Bồ Tát đã đi, đến cuối, lúc lâm chung toại nguyện như thế ấy.

“HAI LÀ: HÀNH ĐỘNG THUẬN NGHỊCH TẠO PHÁP GIỚI.” –T.V.

• Hành động tiêu biểu cho giai cấp cao, thấp, mỗi hành động cũng chính là pháp giới. Mỗi lớp có một số hành động tư cách không sai chạy nơi nó.

Hành động tốt và xấu mà có pháp giới thuận nghịch. Có nhiều bậc cố giúp đỡ cho chúng sanh qua hành động tốt nhưng tánh tình không chịu sửa làm cho những người mình giúp còn nhiễm tánh xấu của mình. Tỷ như lạy Phật, ăn chay, chiêm ngưỡng tướng Phật nhưng gặp chuyện khó liền nóng nảy làm những người chung quanh thấy được sanh tâm bất bình.

Có rất nhiều bậc thuyết pháp như Phật nói nhưng gặp chuyện liền mưu sĩ đem lợi về cho mình âm thầm hành động điều ác. Lý và sự trái nghịch nhau mà không hề quan tâm sửa đổi cũng tạo pháp giới, khó mà Giác Ngộ được đó là Tánh và Tướng khác biệt nhau chưa đồng nhất là một.

“Tạng Thức cùng Đạo Hạnh chưa hợp hóa làm sao chứng tri nơi thành đạt.”
–T.V.

• Tạng thức chính là chủng tánh thiện ác nó thuộc tánh. Còn Đạo Hạnh thuộc tướng pháp. Tướng hợp với tánh làm một duy nhất thì tu hành mới thực chứng. Tướng và Tánh chưa hợp nhất bậc tu vẫn phải thọ báo theo hành động nào quen thuộc tập nhiễm của mình. Do đó mà có Ma Tằng, Quỉ Quái rồi đến Phật Quỉ.

Có nhiều bậc Phật Pháp thông suốt nhưng chấp vô ngại củng cố hành động nóng nảy, hành động mưu sĩ hại bạn đồng môn, hại người thật thà, chất phác tin theo mình tu học mà không sợ quả xấu. Phật Tiên cũng giỏi Phật Pháp nhưng hành động thanh bai, tránh thô, tránh dơ củng cố thọ chấp, không sao thoát được pháp giới nên chẳng bao giờ đến Chánh Giác đúng như Chư Phật.

“Hành động là một biểu tượng quá khứ tiền kiếp gần nhất, hiện kiếp này lai sinh.” –T.V.

• Tánh tình tập nhiễm do hành động quen thuộc trong nghề nghiệp, trong bạn bè, trong gia đình. Những bậc tu thật có kết quả nhìn qua cử chỉ, ngôn ngữ của chúng sanh mà biết được tiền kiếp trong tứ thời: đi, đứng, nằm, ngồi rất rõ ràng.

Do đó, một là bậc Thiện Tri Thức chỉ bày cho bậc đã tín tâm hóa giải pháp giới là điều cần thiết. Hai là làm cho những bậc tín tâm chung quanh mình ái kính để tạo pháp giới thiện căn cho họ được phước báo nhân thiên khỏi phải đọa nơi Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục.

Bậc biết lần hồi tập hóa giải vạn pháp, thiện căn nhẫn nại, đừng bộc khởi một ngày nào công năng công đức đầy đủ sẽ sở đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn mà nhiếp thu được tường tận pháp giới, tỏ rõ vô sanh pháp giới, đem đến chân hạnh phúc cho bậc biết tu an lạc vô kể.

Dù cho một bậc Giác Ngộ chăng nữa mà không tỏ tường pháp giới tức chưa tỏ được Bổn Lai Diện Mục pháp giới vẫn không đầy đủ ba thân viên mãn.

“BA LÀ: NGUYÊN TƯỚNG BẤT DIỆT PHÁP GIỚI.” –T.V.

• Hằng hà sa số tứ loài mỗi loài có một hình dáng riêng không giống nhau, loài nào hình dáng nhất định như thế từ bao thế hệ vẫn không thay hình đổi dạng. Tỷ như loài người, dù Đông, Tây, Nam, Bắc thì nguyên tướng xưa nay vẫn không thay đổi. Con bò, con trâu, con ngựa... mỗi loài sinh ra đều có hình dạng nhất định dù trải qua bao thế hệ vẫn thế gọi là bất diệt pháp giới.

Bậc tu hành đoạt đến viên dung thoát khỏi vòng đai pháp giới rất hiếm có. Bậc này đã từng thực hành đầy đủ chẳng thiếu sót Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa, Bi Chí Dũng, Giới Định Huệ. Nhiều bậc cho những điều này quá thường, quen thuộc nhưng thực tế am tường thực hành rất khó.

Do lầm mê mà nói tướng diệt mất, thật ra tứ loài trải qua triệu triệu năm vẫn còn nguyên. Sanh rồi lại diệt, diệt rồi lại sanh nối nhau bất tận. Bậc Đại Thừa phải nương theo pháp giới tu hành, hóa giải pháp giới, thoát vòng đai pháp giới, tường tận pháp giới.

Thời Đức Bổn Sư, Ngài vẫn dạy hàng Bồ Tát Vòng Đai Pháp Giới, nhưng khi hành đạo có một tăng hoặc ni nào sai phạm Ngài mới cho một giới luật để khỏi phải tái lầm lỗi. Do vậy cuối thời Ngài tính lại giới Tỳ Kheo có 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới. Tu tập, tu trì các điều giới răn này để khỏi sa ba đường ác, được Phước Báo Nhân Thiên, chờ Chư Bồ Tát, Chư Phật ra đời chỉ dạy Vòng Đai Pháp Giới./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


31. Công Năng

“Bậc tu hành cần đến công năng, công năng từ nơi tâm chí thiết tha cầu đạo, cốt lướt qua từng trở lực nơi Ma Nghiệp ngoại lai ngăn cách và lừa gạt, mới mong đoạt đến sở cầu hoàn lai chân thiện.” –T.V.

Bậc tu hành khi gặp hoàn cảnh cần có tâm chí dũng mãnh lướt qua cho được gọi là công năng. Thiết tha tâm vững mới đủ sức nhận vạn pháp như huyễn được. Do quan niệm mà tạo nghiệp nên hạnh nguyện tu hành đều bị cản ngăn không qua được hoàn cảnh gọi là Ma Nghiệp. Phải bền chí mới đạt được Chân Thiện Mỹ theo vết chân chư Bồ Tát đã đi. Loạn tưởng là ngoại lai, dù có hiểu biết Tam Tạng Kinh vẫn bị mê lầm ngăn cách không đến chân giác được.

“Bằng những bậc tu biết sáng soi rõ đó là nghiệp thức nơi tư tưởng, nghiệp lực nơi nghiệp căn thời chính nó là ngoại lai khôn khéo đi đứng nơi khái niệm văn từ, diễn biến theo tư tưởng, có lúc ngỡ mình giác, liền bị ngoại lai lừa dối, tu như thế rất phí phạm công phu, chưa hoàn giác lầm lạc ngoại lai đi vào tà kiến.” –T.V.

Nghiệp thức chính là tư tưởng còn gọi là ý niệm lưu trữ và chuyển động trong tứ loài. Nó tạo một lực vô minh mà hàng chúng sanh, Tiên, Thần, Thánh không thể nào thoát khỏi. Từ đó nó tạo nghiệp lực.

Nghiệp lực: Thật khôn, tinh vi, nó nghe, thấy và biết trước rất xa dù xa đến đâu nó cũng đến trước ngăn chận, cản trở chúng sanh, hàng nhị thừa, nó không cho phát Bồ Đề Tâm tu hành. Nếu chúng sanh gặïp phàm tăng nó để yên, nếu chuyển động gặp Thánh Tăng, Bồ Tát, Chư Phật nó quá ư khôn khéo, tinh vi nhập vào thân mình cản ngăn, chận cho tê liệt mà chúng sanh không hề hay biết, dù bậc giỏi biết được, nó liền chận không cho hạnh nguyện. Kinh nghiệm chỉ gặp bậc Thiện Tri Thức Tin Vâng Kính mà cứu độ cho để thực hiện mà thôi. Khi đã đóng khuôn nghiệp lực nó liền thành căn tánh cố thủ gọi là nghiệp căn. Dù có tu A Tăng kỳ kiếp cũng không tháo gỡ nghiệp căn sâu dày này được.

Tỷ như một bậc tu quen tụng kinh vái cầu van xin. Nó đã có tư tưởng quen thuộc gọi là nghiệp thức. Có dịp gặp được bậc bảo phải tu sửa tánh xấu, giải đố tật, cải tạo bản thân, kẻ này chướng, đó chính tư tưởng tự phát ra chướng vì khác ý niệm với thói quen tụng kinh, tu cầu. Đến khi thấy sửa tánh có lợi, liền có sự cản trở không cho đi nghe giảng, không cho ngồi tọa thiền. Đây chính là nghiệp lực. Bậc tu xuôi theo bỏ dở để trở lại tụng kinh cầu xin. Nghiệp căn đã kết thành hình.

Thời còn Ngài hàng Tiểu Thừa chuyển Tu Đại Thừa bị rớt nhiều. Tổng số chân tử theo Ngài tu hành có đơn xin, có sổ sách ban chấp sự lưu giữ được 3000 bậc tu. Tính đến năm 1975 đến thời Đại Thừa còn lại khoảng 200 chân tử lui tới chịu nghe tiếp, số kia ở nhà tụng kinh, lâu lâu ghé thăm Ngài. Họ tránh những giờ Ngài khai thị Phật Pháp. Ngài khuyên bảo gì họ cũng lơ là. Nghiệp căn không tự chuyển dù Ngài có giúp cũng đành chịu an bài. Không tự tạo công năng không ai cứu nổi dù Phật có ra đời định nghiệp đã đóng cứng cũng đành chịu.

“Đường tu Phật ít nhất bậc tu cũng phải có công năng vun trồng hành nguyện độ sanh đặng tạo nhân duyên sanh trưởng mà thấu tỏ các pháp thâm diệu.” –T.V.

Tỷ như người học trò đi học ở trường biết chăm chỉ lắng nghe thầy giáo giảng bài về nhà phải làm bài, gặp bài toán… khó phải nhờ bạn bè hay thầy chỉ dẫn giải cho được. Sau thi đậu ra trường có việc làm tương xứng. Người học trò thành người và mãn nguyện. Việc tu hành cầu Tri Kiến Giải Thoát nó cũng vậy, không mấy khác.

Có bậc không thực hành, suy nghĩ, gặp việc đến đúng ý mình rồi cho là Giác. Thật tai hại vì bị Ma Lực gọi là ngoại lai xâm chiếm toàn thân mình, làm chủ mình mà không hay biết. Phải hành nguyện cho sạch chúng sanh tánh của mình gọi là Độ Sanh mới thoát được ngoại lai độc nhiễm. Đừng nên ngồi tưởng, suy nghĩ nữa. Tự tạo công năng vững chắc mới mong sở đắc chân lý. Tu như vậy là con đường nương theo Bồ Tát Hạnh.

“Đến ngày hôm nay nghiệp sát tiêu giảm đối với các bậc tu hành về Đạo Phật, nhưng lại quá ư lệ thuộc ngoại lai Ma Đạo quấy nhiễm, từ nơi tâm trạng ý thức quan niệm, nên chi nơi Chùa Tháp các chư Tăng tu trì cổ võ, từ bên ngoài hình thức tu Phật, kỳ thật chưa thấu ngoại lai dung dưỡng Ma Lực, tự sống nơi hình sắc bên ngoài có sắc thái tu tập theo giáo điều của kinh điển đầy đủ hình thức.” –T.V.

Khi Đức Bổn Sư ra đời ở Ấn Độ, Thần Đạo đang thịnh hành, họ giết súc vật tế thần, còn con người nghèo khổ bị xem là kẻ nô lệ. Ngài đã dạy dỗ về luật nhân quả. Đến nay nghiệp sát đã giảm nhiều. Còn những Phật tử chân chánh đã không sát sanh nữa. Nhưng sự tu hành không chú tâm hóa giải vô minh, chỉ chú tâm tổ chức hình thức tu hành đủ màu sắc, vì vậy không thấy quan niệm lạc hướng trở thành tu hành bị ngoại lai phủ kín. Ma Lực quá khôn khéo làm cho bậc tu không nhận diện được Thực Tướng của nó. Ma Lực làm cho các bậc tu tạo phe phái đồ chúng không còn cốt tủy của Đạo Phật nữa.

“Bậc tu hành phần nhiều chưa hay biết, miễn sao mình chiếm được chức vị Cao Tăng, Đại Đức, lại cùng nhau dung túng ngoại lai trở thành tu hành phe phái đồ chúng khắp nơi làm cho Đạo Phật càng ngày càng giảm giá trị, tỏ tánh Kiến Tri Phật Đạo.” –T.V.

Sự tu hành thời Mạt Pháp Đức Long Hoa Tăng Chủ chứng kiến phần nhiều bậc tu không hay biết gì lối tu tự tánh tỏ tánh để hóa giải ma nghiệp đang xâm chiếm, chỉ lo tổ chức về chức vị làm cho ngoại lai ngự trị, nó chia bậc tu thành nhiều nhóm phe phái tương tranh nhau làm mất hết ý nghĩa chân chính của Phật Đạo lại cho là cầu Tri Kiến Giải Thoát.

“Tôi nói ra đây với tinh thần trách nhiệm sự tu hành bị lầm lạc ngoại lai nên đa phần, bị tình trạng nơi đây chưa phát triển.” –T.V.

Thời Hạ Lai Mạt Pháp Ngài muốn nói lên để bậc thật tu cầu giác ngộ tránh nặng tổ chức hình thức mà lo phát triển cải tạo bản thân để cho xã hội, quốc gia được sống trong hạnh phúc thật sự. Lời nói của Ngài Đại Diện Tam Thế, từng đã được sự thọ ký của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

“Cũng có bậc tu cầu tích cực, tu hành nghiêm túc đoan trang, tự sửa mình tu giải nghiệp nương theo kinh điển làm tài liệu lời vàng. Nhưng tiếc thay chỉ tầm cỡ hiểu biết phần nào, tựa như chỉ một miếng mồi tạm tu, tạm tỏ, liền tự cho mình Tri Đạo, cho đến bậc Tỏ Tánh Chân Không đã cho chính mình sở đắc.” –T.V.

Thời Mạt Pháp Đạo Phật không những mất chân truyền mà còn bị mang tiếng tiêu cực. Thật ra đạo Phật rất tích cực, giúp cho chúng sinh có cái sống thực tiễn, sống động. Chức vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức chỉ là thị danh không nên ngồi an hưởng mà phải giải tỏa cho được ma lực đang xâm chiếm toàn thân. Không phải chức vị là sở đắc. Phải kiến tạo công năng dẹp tan Ma Lực mới tri đạo. Chân không chẳng phải là sở đắc. Nó còn rất xa, quá xa con đường đi đến Giác Ngộ.

“Chân không nó có rất nhiều tu chứng bị chứng đến thực chứng. Từ phàm phu Triết Học đến Tiên Thánh Chân Không, chung lại vẫn còn lớp lang ngoại lai diễn đạt, do nơi diễn đạt của ngoại lai mà chư Bồ Tát phải tu trải qua nhiều kiếp, hành thâm pháp giới, thi hành hạnh nguyện, kiểm điểm nội tâm trực chứng ngoại cảnh, cốt tỏ ngộ theo căn cơ, để khỏi lầm ngoại lai đề đạt thấp cao của cấp bậc tu chứng, hóa sanh hay bị sanh hoặc đặng sanh cùng tự sanh Cứu Cánh Giải Thoát.” –T.V.

Một hôm Ngài khai thị về các tần số chân không của hàng tu chứng tôi nghe tóm lược như vầy: Hàng chúng sanh tu diệt pháp để Không, cái không này không nghe, không thấy đến không biết rất tai hại.

Bậc Tiên chọn chốn thanh vắng núi non, tránh dơ chọn sạch lập Thiên Pháp. Cái không này còn Thọ Sanh Pháp Giới vì tu luyện bảo vệ thân thu nhiếp tinh chất thanh khiết bồi dưỡng thân, trong một thời gian được tráng kiện sống lâu hơn người thường nhưng đến một hạn định sau vẫn phải chịu với luật sống chết.

Thật ra chúng sanh bị lầm tưởng, nương theo để sống tưởng là thật, nó do ảo tưởng thành hình thôi. Phải chí tâm chí thành tạo công năng thù thắng cùng được sự khai thị của Thiện Tri Thức Bồ Tát cùng Chư Phật mới thoát cái KHÔNG này.

Ví như Pháp sư Trần Huyền Trang không ngồi yên trong chùa chờ tu hết kiếp mà bôn ba đi tha phương cầu đạo, chịu muôn chiều cay đắng, khổ cực cùng ngọt bùi. Chừng sạch chúng sanh tánh mới yên ngồi dịch kinh. Vì sát thực tế nên tâm ý rộng rãi rỗng rang nên việc dịch kinh được sát nghĩa theo đường Chư Phật.

Bậc tu hành chủ yếu là phát nguyện rộng rãi tạo công năng, bằng tự lợi không tha lợi gò bó chật hẹp, lo sợ thì khó có đủ năng lực thành tựu. Không hành, chẳng nguyện, công năng không có, đích đến cũng không. Muốn đến giác ngộ không chịu đi! không tạo công năng hành nguyện, chẳng cựa quậy lại ngồi im dù có tu cho mấy đi nữa vẫn là cái không tịnh biệt.

Ví như La Ma Milarepa ở Tây Tạng, chịu đựng bao gian nan cho nát nhừ chúng sanh tánh sau nhập lưu đóng cốc ngồi yên mới ra Chân Nguyên, chứ đâu phải còn nhỏ tu xuất gia đến già, yên tịnh ở nơi hoang vắng mà sau giác ngộ đâu.

Tu không phải là giải thoát, Hiểu không phải là giải thoát, Biết không phải là giải thoát, Tri Kiến không phải là giải thoát. Giải Thoát nó có đặc điểm của giải thoát. Do đó có nhiều cấp tu chứng. Bậc thiên tiên hóa sanh. Chúng sanh bị nghiệp lực sanh gọi là bị sanh, sống thanh cao, hướng thượng tâm rộng rãi được sanh Thiên Giới. Bậc chánh giác tự sanh vì không còn bị nghiệp thức, nghiệp lậu, nghiệp căn điều động.

Khi còn điên loạn, chư Phật mới dạy không ta, tùy công năng công đức cạn sâu. Có ta chung cùng trùm khắp giác ngộ đến chánh giác. Tu chưa tỏ tánh chưa tự tánh, lắm bậc chấp không nên bị sa vào phi phi tưởng. Tiên, bậc Chân Không vẫn còn ngoại lai diễn hóa thành đạt chưa phải cứu cánh giải thoát.

“Thân mạng các ông đã từng chứa hàng vạn Thầy từng giai đoạn dạy các ông, cốt ngăn cách lời chỉ giáo nơi Ta, không chấp nhận Ta. Do nơi ấy mà các ông chưa lãnh hội lời chỉ giáo. Nếu các ông có lập trường công năng tiêu giảm các ngăn cản, qua các trở lực từng giai đoạn, các vị Thầy lần lượt ra đi, lần lượt giảm, thời các ông lần lượt lãnh hội nghe đặng, thấy đặng lời Ta đã từng nói, ngày nay mới nhận lãnh, dặn dò xong Ngài quay lại nhìn Di Lạc Tôn Phật chứng minh thừa kế gọi là Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc Tôn Phật.” –T.V.

Hàng vạn, triệu, vô số tư tưởng, nó nói tới nói lui, nó tính tới tính lui, nó dùng Ma Lực rất mạnh làm thầy bậc tu nên không nghe được lời khai thị của Đức Bổn Sư.

Nó khôn khéo đủ cách ngăn chận đường tu, nếu qua được trở lực này nó thừa cơ tạo ngăn cản khác, phải thật biết nó mới giám đánh đổi thắng ma lực ngoại lai được. Khi nào trong thân không còn hay giảm nhiều ma lực chừng đó mới nghe được lời khai thị của bậc Thiện Tri Thức. Vì khó khăn vô kể nên Đức Bổn Sư mới thọ ký Đức Di Lạc Tôn Phật Hạ Lai này gánh chịu ngoại lai, vận chuyển qua từng cơn thù thắng mà dạy cho tứ chúng tu hành trong thời Mạt Pháp này, làm cho hàng vạn, triệu bậc thầy mê lầm trong ta lần lượt ra đi, y như thời Đức Bổn Sư đã từng khai thị cho Tứ Chúng tu hành thời quá khứ vậy.

Khi không còn ngoại lai ma lực bủa vây bậc tu mới trực giác thật nghe, thật thấy, thật biết, tỏ tường thấu đạt ma lực. Lúc đó chỉ cần: Nhất ngôn liền Tri Kiến Phật, liền Phật Tri Kiến.

“Tuyệt tác thay! Đức Bổn Sư, Ngài chu đáo đến đời sau, Ngài tận tường duy nhất chỉ có Đại Lực mới kiêm nhiệm đủ toàn năng đối với ngoại lai xâm chiếm.” –T.V.

Đức Bổn Sư đã biết, thời Mạt Pháp chỉ có Đại Lực Di Lạc Tôn Phật là bậc duy nhất tháo gỡ được ngoại lai. Chỉ có Ngài đủ toàn năng. So như vậy đủ biết đã có lắm bậc lầm xưng hô Thiền Sư, xưng danh Phật nhưng nào có ra khỏi ma lực được đâu! Mà thật vậy, có gặp Ngài trong kiếp Hạ Lai này mới thấy tháo gỡ ngoại lai độc nhiễm, tự lực không đủ công năng, tất cả nó đều phủ kín. Bằng chứng là Ngài đã ở trong Hỏa Ngục mà toàn thắng Ma Vương.

“Lúc bấy giờ Đức Đại Lực mới công dụng sắc, thinh, hương, vị mà không nhiễm cốt nương theo tường tận ngoại lai Chánh Giác.” –T.V.

Pháp môn của Đức Di Lạc là đi trong Sắc - Thinh - Hương - Vị - Xúc - Pháp mà không nhiễm, để tận thấu tất cả tập khí sanh tử của ngoại lai. Sắc thinh hương vị xúc pháp ở trong thế gian, tiếp xúc tỏ tường hóa giải đó là lối tu đầy đủ công năng của Đại Thừa.

“Đối với Đại Lực không riêng chi nhân sanh tứ loài vũ trụ tam thiên, vì sao? Vì Đại Lực viên đạt huyền cơ đã từng nằm trong bao đãy, có quyền tháo gỡ ngoại lai độc nhiễm cho những bậc tín tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V.

Thời này Ngài đã hạ lai! 37 năm Ngài chỉ bày: Ấn Chỉ cho số Chân Phật Tử tín thành đã từng gặp Ngài. Họ phát tâm đều được Ngài tháo gỡ ngoại lai độc nhiễm, nhưng con số này quá ít chỉ đếm được trên đầu ngón tay so với 3000 chân tử theo tu trong Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam

Trên thực tế chính tôi đã chứng kiến, bậc tu gặp được bậc Thiện Tri Thức mà không quyết chí phát tâm cầu giải thoát cũng không tháo gỡ được cho, gặp rồi mà không nhận được giá trị chỉ lo cầu phước báo nhân thiên vẫn còn sanh tử. Không phải ai cũng được tháo gỡ ngoại lai độc nhiễm. Một hôm Ngài dạy:

Đức Thế Tôn căn dặn Ngài rằng chúng sanh thời Mạt Pháp tâm ý như nồi đất mỏng, ông phải ráng nương chiều, đừng đụng mạnh nếu không sẽ rất dễ vỡ tan.

“Ngài ấn truyền cho tất cả những bậc tu hành thời lạc pháp đặng tỏ tường và biết: Ngoại lai xâm nhập nó là: Nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu cùng nghiệp chướng, thâm nhập gọi là kiết sử.

 • Khi chưa rõ chưa tận nó là vô minh.

 • Chưa thông nó là tánh di chuyển là Pháp Tánh.

 • Chưa tu đạt nó là Pháp Thân.

 • Chưa tháo gỡ còn mắc miếu nó là Pháp Giới.” –T.V.

Nghiệp Lậu: Là chủng tánh thọ nhiễm nhiều đời kiếp tạo thành nghiệp gắn chặt vào chúng sinh không tự tháo gỡ được.

Tỷ như một người quen bủn xỉn, keo kiệt lại muốn giàu có. Phật dạy cần bố thì mở rộng tâm đương nhiên tánh bủn xỉn, keo kiệt kia tiêu dẹp. Kẻ không tin sợ hao tốn của nên tâm không rộng rãi được, giữ mãi tánh keo kiệt từ đời này đến những đời sau nó cũng y như vậy, gọi là Nghiệp Lậu. Dù tu mắt thấy, tai nghe hiểu biết mà tâm không rộng mở cũng không được ích lợi thực tiễn. Nghiệp Chướng: Gặp pháp nghịch trái ý chê bai, ghét. Những mê lầm không hay biết cũng tạo vô minh gọi là nghiệp chướng. Nghiệp thức, nghiệp căn đã giải ở phần trước.

• “Khi chưa rõ chưa tận nó là vô minh.”

Bậc tu chưa rõ, chưa tận thì tự lực không biết hết được vô minh, cần Tin Vâng Kính nhờ bậc Thiện Tri Thức khai mở thuận, nghịch sẽ rõ được. Chư Phật tận hết vô minh. Tu thế nào để hết vô minh. Nếu tìm cái sáng, cái minh, nó là thần thức minh chưa phải thật sự minh. Phải lần hồi tỏ cái lầm, cái sai, cái chướng. Hằng ngày tu vô minh như vậy đến một thời điểm ý thức được đầy đủ vô minh bỗng nhiên Trực Ngộ Vô Minh. Trực ngộ vô minh tức không còn vô minh, như nhiên minh.

Những Chân Tử Tin Vâng Kính trọn Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc khai thị rất nghiêm túc. Tối trước khi đi ngủ, ngồi kiểm kê lại ban ngày đã nói câu gì sai, câu gì nóng nảy với ai, hành động nào không đúng kiểm kê hết, dần dần loại bớt tánh xấu, tánh hiểm độc sau đó Ngài thử thách kiểm tra. Do đó có số chân tử không thực hiện bỏ tu rất nhiều.

 – Chúng sinh có vô minh của chúng sinh.

 – Thinh văn có vô minh của thinh văn.

 – Duyên giác có vô minh của duyên giác.

 – Hộ pháp có vô minh của hộ pháp.

Tỏ minh mà được minh cũng mức độ không đồng, sâu cạn khác nhau nhiều lớp nên trực giác cũng có mức độ không đồng, kể không sao hết được. Còn Ngài khai thị vô minh của hàng Bồ Tát chư vị mà nghe thấy được phải hoảng sợ, bỏ trốn, không thể hiểu nổi. Thật khó khăn vô kể.

Ngài diệu dụng không thể nghĩ bàn. Mở vô minh cho Chân Tử tín thành Ngài la rầy, đuổi, đánh đập. Bậc chịu được sẽ thông, còn bậc đứng ngoài diễn cảnh mà hỷ xả, không chướng kẻ đang bị rầy la, bị đánh đập sẽ thấy biết gọi là Tri Kiến. Nhưng phần nhiều bậc tu trong đạo mà ở ngoài diễn cảnh chưa tỏ thường chê, ghét, xa lánh kẻ đang bị khai vô minh, lỗi lầm. Bậc này chê lỗi lầm sẽ còn lầm lỗi mãi mãi, chưa bao giờ trực giác vô minh nên chẳng thể nào trông chờ minh cũng như lấy sạn đá đem nấu chờ mong thành cơm ! Khi trực giác được một môn, nhờ nó làm đà tiến quay vào nội tâm, soi xét sẽ mở hết, cuối cùng cái gì đúng mức nó cứ tiếp tục trực giác thật không gì hạnh phúc bằng!

Ngài thường bảo sửa tánh, hỷ xả cho Tâm không, đến lúc thật tin, Ngài la chỉ cái sai, tức giận bỏ đi sau nhớ lời hỷ xả, hồi hướng bỗng trực giác được tánh xấu này bị la là đúng, tự nhiên quay về. Ngài lựa thế diệu dụng tiếp tùy sở cầu của Chân Phật Tử.

• “Chưa thông nó là tánh di chuyển là pháp tánh.”

Khi bậc tu chướng một việc gì liền có tánh ghét hiện. Tánh lưu lại trong thân khi gặp phải, nó là Pháp Tánh. Pháp tánh viễn dung bình đẳng. Tánh như thế nào Pháp Tánh như thế ấy không sai chạy vì nó vốn vô ngại. Dùng văn tự để diễn nói, không biết hết được. Pháp tánh không ngăn ngại Tịnh Bất Tịnh, Tà Chánh, nó cũng bất chấp lúc nào và ở đâu, chỉ tùy theo ý muốn của tứ loài mà cung đốn như ý. Do đó mà tu thế nào cũng được Như Ý Nguyện. Bậc tu biết pháp tánh chính lầm mê, nhưng nếu mong cầu nó nương chìu làm cho bậc tu tưởng thật và thích thú.

Mỗi pháp giới có một cảnh di chuyển tạo thành cảnh giới. Tỷ như một người sống khổ, quen dùng đồ đạc trong nhà toàn hàng thường, khi có tiền họ không dám ném bỏ các thứ để mua sắm loại cao cấp. Đó là cảnh giới của họ tạo pháp tánh y như vậy. Mỗi loài sống trong môi trường đó, bắt sang môi trường khác không ưa vì pháp tánh di chuyển y như nó quen thuộc mới được. Người bị vô minh che thường than phiền trách móc chớ đâu có biết chính pháp tánh cung đốn vẹn vừa.

Tự mình thấy tánh mình gọi là Tự Tánh Tỏ Tánh sẽ biết được di chuyển của Pháp Tánh. Bậc tu không có cái muốn, không có cá tánh sẽ tìm được, nhận diện được sự di chuyển của pháp tánh. Vì vậy bậc tu cần hạnh nguyện độ sanh, bằng cố chấp cứ tạo cái muốn sẽ không Tri Kiến Pháp Tánh, chạy theo sanh tử, gọi là chạy theo mê lầm vọng loạn.

Khi không còn vọng loạn liền thấy giới nào tánh đó, không than phiền trách móc liền sở đắc Bình Đẳng Tánh Trí. Lúc đó mới tỏ thông vạn pháp khỏi lầm, biết rõ không còn chạy theo sanh tử. Không lìa cái muốn là vọng loạn, đã vọng loạn liền bất bình đẳng thì làm sao tu kết quả lớp lớp Bình Đẳng Tánh Trí cho được.

Bậc Thiện Tri Thức, thật biết nó dắt chúng sanh, hàng nhị thừa, chạy vòng quanh trong lục đạo không có lúc dừng biết, nó làm cho bậc tu ở mãi trong giới chúng sanh mà chìm đắm trong sanh tử. Vì vậy muốn độ chúng sanh phải nương cái muốn để đưa chúng sanh tỏ muốn khỏi vọng. Nếu bảo diệt sẽ không còn biết gì để tu. Nương theo hóa giải là thượng sách nhất để tỏ tường Pháp Tánh.

“Như kẻ hung bạo chuyên chém giết, nó liền có pháp tánh tạo cảnh giới phải chịu thọ báo đau khổ ở địa ngục không thiếu sót vẫn vẹn vừa.” –T.V.

Như vậy từ người thiện căn cho đến kẻ ác căn pháp tánh cung đốn đủ theo cái muốn của nó.

• “Chưa tu đạt nó là pháp thân.”

Tất cả vạn pháp chính là Như Lai nhưng chưa tu đạt mới phân biệt riêng rẽ Pháp Thân. Nghe-thấy-biết là vạn pháp. Pháp vốn là Tâm. Thân là hình tướng khuôn khổ, hình tướng nhận sắc bị nhiễm mới có vô minh mà sinh khởi loạn.

Do khởi liền hóa thân bị sinh ra muôn trùng tướng pháp, lại mê lầm cho đó là chân thật rồi nương theo cái muốn mong cầu mà có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Phước báo nhân thiên, thọ báo ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, quốc độ, tịnh độ... Từ đó mới có từng Ứng Thân và Pháp Thân. Ứng Thân còn gọi là Hóa Thân chính là Pháp Giới. Mê lầm gọi là chúng sanh giới. Nếu bậc biết hạnh nguyện tu tự tìm Chơn Tánh được giác ngộ thì chúng sanh giới đồng thể với Pháp Thân gọi là sở đắc Pháp Thân.

Tỷ như một giọt nước biển đem phân chất nó cũng có đủ các chất như biển cả mênh mông. Nếu đem giọt nước biển bỏ vào biển cả nó liền tan, hòa vào biển không còn riêng rẽ nữa. Một chúng sanh biết chung cùng không cá nhân, cá tánh thì liền giao cảm vũ trụ tức giao cảm Mười Phương Phật, hòa cùng Như Lai Phật là một duy nhất. Vì vậy tu hành rất cần cải tạo bản thân, giải tật, hóa giải tập nhiễm kiết sử cho sạch. Có độ được mình mới dạy đạo độ chúng sanh. Nếu mình chưa độ được chúng sanh tánh của mình thì làm sao dạy đạo độ kẻ khác được. Cùng lắm thuyết pháp cho vui chơi mà thôi.

Nếu bậc tu lấy cái học, cái nghiên cứu lâu năm để dạy đạo, để tu hành thì một nhà học giả, một kỹ sư, một bác sĩ, một giáo sư có học, có trình độ họ cũng nghiên cứu và cũng hiểu biết. Vậy có hơn ở điểm nào mà làm thầy chúng sanh được, làm sao biết được Đạo Phật siêu đẳng trên chúng sanh, trên khoa học...

Sửa tánh, giải đố tật nói nghe dễ nhưng chưa chắc một vị Đại Đức, Hòa Thượng 70 tuổi đã làm nỗi, nếu không biết lối tu của chư Tổ, chư Bồ Tát đến Chư Phật. Thời Hạ Lai đã tàn canh, Chánh Pháp của Chư Phật ló dạng cần nói thẳng để tìm con đường giải quyết sanh tử luân hồi là cốt yếu. Bỏ qua một kiếp người đương thời rất uổng phí vì trên thực tế còn vô minh không dễ lai sinh trở lại làm người! Phải trả nợ miệng xong mới tái sanh.

• “Chưa tháo gỡ còn mắc miếu nó là pháp giới.”

Từ nơi nghe thấy biết sinh ra tự ngã riêng của ta gọi là dị biệt tạo thành pháp giới. Vô số pháp giới không tính đếm hết được, phải chịu một đặc điểm mắc miếu như nhau trong sanh tử. Pháp giới là một hạn định khuôn khổ thọ chấp còn gọi là chúng sanh giới.

“Phật nói Phật nghe.Chúng sanh chỉ nghe, Chúng sanh lại tự ý nói. Thiền sư viết xong cười xòa, Ngài tiếp: Chưa bao giờ chúng sanh lãnh hội đặng lời Phật nói, vì chúng sanh quan điểm Phật nói đều là lời Phật Giới. Chúng sanh đang nghe chỗ nghe kia đều là nơi nghe giới sanh, làm thế nào nhận lãnh để nghe lời Phật nói.” –T.V.

Chúng sanh còn thọ nghiệp nhiều tánh xấu lại loạn tưởng. Sự lầm mê chưa thấy biết nên không nghe nổi lời Phật khai thị. Chỉ cần lãnh hội một lời liền Giác Ngộ. Vì chúng sanh có quan điểm riêng của cá tánh nên khi nghe nó hóa ra tâm chúng sanh nghe. Chư Phật lúc nào cũng giải giới, hóa giải những gút mắc đủ hình thức, còn chúng sanh thêm phát khởi không ngừng. Nếu chúng sanh chịu học hỏi, thi hành sự khai thị của Chư Bồ Tát, Chư Phật hàng giờ phút đều giải giới ắt nghe được lời Phật. Chúng sanh thường nhiễm khen hoặc chê, tốt hoặc xấu, sạch hoặc dơ mãi từ pháp giới này thay đổi giới khác không lúc nào dứt, chỉ khi nào trơn liền gút mắc, tánh tình dịu mới nghe được lời Phật. Sự lầm mê mà chịu lầm trong vòng đai pháp giới. Chỉ có Chư Phật, Chư Bồ Tát mới khai thị, dìu dắt chúng sanh biết được pháp giới đầy nguy hại để họ tự hóa giải tháo gỡ.

“Thiền sư nói đến đây, Ngài nhìn vùng mây trải, nhìn lại lá vàng rơi, nhìn đời sau tận thế, Ngài bèn vỗ vế đứng dậy xoa tay, châu mày nghĩ ngợi, Ngài đến chiếc chõng nằm dài chưa dám nói”
–T.V.

Đối với Ngài khai ngộ cho Chân Phật Tử, Ngài còn là một Thiền Sư biết tỉ mỉ chuyện quá khứ, vị lai trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, thời Mạt Kiếp này nếu Ngài nói rõ, chỉ thẳng chẳng những họ không nghe mà còn có thái độ ngạo mạn nữa nên Ngài bảo: Việc gì chưa đến mà nói sẽ bị kết tội phản động còn việc xảy ra rồi mà nói cho là nói hùa, tốt hơn hết là làm thinh.

Thật ra pháp giới của kẻ ác là pháp giới diệt vong. Vì giới cấp có đạo đức rất trọng và lắng nghe để biết đâu là đúng đâu là sai, ắt gặp được Chư Phật, Chư Bồ Tát ra đời rất có lợi cho chúng sinh.

Phật, Thánh Hiền ra đời mà còn thọ khổ chính là Pháp cùng cuối đời Mạt Kiếp. Tận thế có nghĩa như vậy. Khoa học càng văn minh con người sống thoải mái nhưng cuối cùng của khoa học là tận thế. Vì sao? Vì pháp giới kẻ có học chạy theo lợi nhuận, khi chế ra bao nhiêu loại vũ khí giết người hàng loạt. Nạn ô nhiễm bầu khí quyển ảnh hưởng thời tiết khí hậu cũng là nạn tận thế... Chấp nhận cho ra luật giới đồng tình luyến ái cưới nhau là báo hiệu tận thế.

Giới Trí Thức này không biết hoặc biết rất ít Như Trí của Thiền Sư. Khoa học chạy theo trí thức phát triển trong triền miên của sanh tử. Thiền Sư chăm chỉ cải tạo bản thân, lời nói toàn sự thật, sống động, cải tạo chúng sanh thật hữu hiệu đem hạnh phúc thật sự Chân Thiện Mỹ cho chúng sinh.

“Bỗng bên ngoài con bướm bay thẳng vào nhà, bướm chưa biết lối ra, còn đang bay qua bay lại. Thiền sư nhìn nó, nở nụ cười tươi, Ngài nói: Này bướm, chính mày là pháp giới, mày có giới hai cánh bay, có giới đôi lông mày, sáu chân mày đều là giới. Bổn lai diện mục bay lên, đáp xuống thực dụng những mật hoa. Vì kiếp mi đậm đà xinh xắn, do hoa nở sinh ra, Ngài đứng lên cầm chiếc quạt giấy, đưa bướm bay bỗng ra ngoài.” –T.V.

Mỗi tư tưởng là một pháp giới, mỗi lời nói tạo pháp giới, mỗi hành động tạo pháp giới. Thành hình tướng bất diệt pháp giới. Nói đến con bướm là pháp giới, từng bộ phận phân chia có vô số giới nơi nó. Đôi cánh là pháp giới, râu dài là pháp giới. Pháp tánh của bướm xinh, nhiều người ưa ngắm nhìn cũng là pháp giới... Từ trứng hóa sinh ra trên cành hoa cũng là pháp giới. Pháp tánh cố định của bướm chính là bổn lai diện mục của nó, hành động, lối sống thời nào nó cũng không khác được, bậc tu cầu Tri Kiến Giải Thoát cần biết hết mà không nhiễm pháp giới quả là khó. Phải cần bậc thật thấu đạt mới chỉ bày giải giới được, mới mong ra khỏi hố sâu pháp giới.

“Pháp giới vốn thị danh nhưng thị danh chung kết đều giới. Đến giai đoạn tỏ giới thời nhận chân là: nó chẳng phải pháp giới, thị danh là pháp giới, chính thật pháp giới.” –T.V.

Khi con bướm bay chập chờn đủ bộ phận gọi là bướm, nhưng 6 chân không phải tên là con bướm, đôi râu cũng không gọi là bướm, đôi cánh không gọi là bướm. Bướm chính là thị danh do đầy đủ bộ phận gọi là giới thành hình. Bậc hiểu biết tỏ rõ gọi bướm là thị danh là pháp giới nhưng phân chia chẳng phải gọi là pháp giới bướm được. Từ tỷ dụ bướm ta biết được hằng hà sa số pháp giới chỉ là thị danh mà chúng sanh hơn thua, tranh giành, sống chết theo nó nên triền miên trong sanh tử.

“Cũng như nó chẳng phải là thế giới, nhưng thị danh thế giới, thật là thế giới.” –T.V.

Tỷ như quả địa cầu có, núi, sông, nhà cửa, vườn... gọi là thế giới nó là thị danh thôi. Vì khi nói nhà không phải là thế giới, núi đứng riêng không gọi thế giới, sông cũng không gọi là thế giới, rừng cũng không gọi thế giới. Những thứ đó đầy đủ gọi là thế giới. Đó chính nó chẳng phải thế giới nhưng thị danh nó thật là thế giới. Pháp giới muôn trùng là một vòng đai chung gồm tất cả tứ loài, Nhân Sinh, Tiên, Thần, Thánh... Không ai ra khỏi sự bao vây của nó, khiến cho tất cả tứ loài bị sống trong sanh tử.

“Chỉ có Chư Phật Chánh Giác mới làm chủ động pháp giới mà thôi. Có bị vòng đai như thế mới có làm chúng sanh giới, đã chúng sanh giới là mê chưa hẳn đã ngộ.

Chư Phật diệu dụng ra vào pháp giới, còn chúng sanh đến Thinh Văn khó qua nổi pháp giới. Thường bị chìm đắm trong pháp giới. Hàng Duyên Giác, A La Hán tỏ pháp giới nhưng chưa sạch. Bồ Tát sạch pháp giới, riêng chư Phật Tận biết pháp giới ra vào tự tại vô ngại. Còn một giới chưa sạch, còn mê lầm.

Bằng còn một giới chưa giải quyết xong vẫn lâm nơi qui chế Phật giới.” –T.V.

Trong vũ trụ hàm chứa vòng đai pháp giới bậc tu còn một pháp giới chưa làm xong mà xưng Phật đó là Phật giới. Tỷ như Đề Bà Đạt Đa tâm tánh Đại Cường cho dù ra vào khắp pháp giới nhưng sở trường của ông mỗi khi giải quyết pháp giới ông thường dùng tánh đại cường. Nếu có thành Phật cũng là Phật giới, gọi là Phật Danh Hiệu dạy con cháu hàng Đại Cường. Chẳng phải Phật Chánh Đẳng Chánh Giác cho dù có đắc pháp Vô Thượng Đẳng Chánh Giác mà hóa giải vạn pháp theo Tâm Đại Cường vẫn là Phật Giới còn gọi là Bích Chi Phật.

Có bậc sở đắc Pháp Vô Thượng nhưng gặp pháp dễ hạnh nguyện, pháp khó khăn bỏ, có thành Phật cũng là Phật Giới. Có bậc đắc pháp Vô Thượng không hạnh nguyện đầy đủ tròn pháp giới cũng là Phật Giới.

Đương thời Ngài bảo khó khăn vô kể: Một triệu vị đắc pháp Vô Thượng chỉ có một là viên dung ra vào pháp giới, thành Diệu Quả Bồ Đề mà thôi. Thời Hạ Kiếp thật chỉ có một Đức Di Lạc Tôn Phật chớ không có hai: Ngài sống trong lửa hỏa ngục, gánh chịu, vượt qua tất cả để chúng sanh thoải mái tu hành đến giác ngộ.

“Thiền Sư đã từng qua khúc eo pháp giới, từ nơi tâm chí quán chúng của Ngài, tạng thức sáng soi ý thức, trưởng thành pháp giới.” –T.V.

* Số đông bậc tu gặp thuận pháp vui mừng, sống yên ổn nhưng khi có nghịch pháp không sáng soi các chủng tử đang lăn tăn quấy động. Đa phần gặp khó bỏ, không qua nổi khúc eo của nghịch pháp. Tạng thức hàm chứa tất cả chủng tử thiện ác, tốt xấu, tịnh bất tịnh. Ý thức rõ các pháp, biết phân biệt sáng soi đúng sai, thiện ác. Một lối giải hợp lý nhất, đúng đắn nhất, nhờ ý thức quán xét các chúng sanh tánh, sâu hơn quán xét các tư tưởng, phát hiện nó tạo thành pháp giới thích hợp trong từng trường hợp.

Tỷ như khi Ngài mới ra đời hành đạo, hoàn cảnh gia đình rất túng thiếu khó khăn. Đối với Ngài, bậc Vô Thượng Chân Tôn mà không có một chỗ dạy đạo, không có một cái bàn để ghi chép kinh sách, việc làm ăn sinh sống phải ngừng lại. Thật là khúc eo nan giải, Ngài phải xem xét, quan sát tất cả chủng tánh trong người, có lúc nó nói tới có lúc nó bảo thối lui , nản chí (tạng thức). Sau Ngài chọn một con đường đúng nhất thời điểm đó, quyết chí hóa giải (ý thức) cho đến khi thông, bằng cách giảng giải Phật Pháp cho người thân, sau đến người quen biết, nhẫn nhục, nhẫn nại dần dần ngày tháng qua, có một bậc tin theo tu, rồi hai, rồi ba... Như thế hàng ngày đã có một số công việc Phật sự nảy nở, trưởng thành pháp giới, không từ bỏ hoặc đảo ngược, từ đó hình thành Đạo Tràng tại gia...

Ở chùa rất dễ, pháp giới không khó vì tất cả nhân gian đều tin chùa là nơi tu hành nên thường viếng thăm. Còn tu cư nhân hạnh như mở đường, phá rừng cho quang đãng, lập xóm làng an ổn là cả một công trình!

“Bằng ý thức không thủ thời như nhiên vạn pháp diễn hành từ pháp này đến pháp kia, chẳng có chi gọi là pháp giới.” –T.V.

Khi đã tạo xong đạo tràng nếu có hoàn cảnh tùy thuận hóa giải, khi chìu chuộng nương chìu, khi hóa giải đúng đắn, khôn khéo gọi là ý thức không thủ, không y giáo điều. Từng pháp diễn hành đều dung thông giải quyết nên đâu còn cố định. Đã không bảo thủ, không thủ chấp, không đứng yên rập khuôn, không bị biết lúc đầy đủ trực giác, tự tánh hóa giải, từ pháp này sang pháp kia viên dung thì chẳng còn chi là pháp giới nữa, gọi là không y kinh mà cũng chẳng ly kinh đường đi của Chư Phật.

“Trường hợp này Thiền Sư đã từng trải qua, chỉ vì nương nhờ tâm chí mà soi tỏ đặng, bằng chưa đến mức độ công dụng tâm chí thì chưa bao giờ tỏ rõ pháp giới cùng nghiệp do đâu mà phát sanh.” –T.V.

Ngài đã từng rất nhiều lượt vượt qua những khúc eo pháp giới, tháo gỡ độc nhiễm nơi thân mạng. Ngài dụng tâm bền chí, nhẫn nại sáng soi pháp giới để giải quyết khúc eo cho hợp tình hợp lý. Nếu lơ là, chểnh mảng, nản chí thì chưa đúng mức sâu sắc hóa giải, sẽ không giải giới đầy đủ. Còn một vi trần pháp giới là còn nghiệp vì phải sạch pháp giới mới thoát nghiệp.

Pháp giới mà không tháo gỡ, hóa giải, nghiệp sẽ phát sanh. Khi hóa giải hết nghiệp, pháp giới hết mê lầm, hết lầm đâu còn mê. Tu hóa giải cái mê sẽ hết mê. Tu lầm lẫn lấy trí tuệ hóa giải lầm lẫn sẽ hết lầm.

“Những bậc tu Đại Tín Thành, chưa có chí dũng thời toàn nương nơi tâm thức để tu.” –T.V.

* Dù cho bậc tu có thành thật tâm, thiết tha tâm đến đâu chăng mà gặp hoàn cảnh vạn pháp khó khăn, đứng trước khúc eo không chú tâm hóa giải, chỉ cầu vái van xin sẽ không ý thức được vạn pháp. Tâm thần hỗn loạn, tư tưởng loạn động không còn định hướng đúng đắn. Bậc tu như vậy khó tỏ tường pháp giới nên thường sống theo tư tưởng thay đổi không chừng tức mê mờ trong thần thức điên loạn vậy. Bậc có trí tuệ dù khó khăn cũng dũng mãnh hóa giải trong đạo đức, nương theo tư tưởng diễn đạt để hóa giải hoàn mỹ.

Tỷ như một người bị bệnh lở loét ung nhọt, hàng ngày bị đau nhức khổ sở, bậc biết liền đến bác sĩ chữa trị. Bác sĩ xem xét bảo phải giải phẫu lấy hết ung nhọt ra và làm thuốc, uống thuốc. Bệnh nhân nương theo ý mình sợ mổ đến da thịt sẽ đau thêm không chịu. Sau bị nặng phải chết còn có người hiểu biết cố chịu đau để bác sĩ mổ, khoét làm thuốc cho tiêu hết chất độc, uống thuốc theo lời chỉ bày của bác sĩ sau khỏi hẳn bệnh, bậc này nương theo tư tưởng của tâm thức hóa giải được thông, khỏe. Tu hành cũng như vậy nương theo tâm thức, những tiếng nói trong thân mình rồi nhận định đúng đắn để Thiện Tri Thức chỉ bày cho tự khai thông mới mong Tri Kiến Giải Thoát.

“Bậc được dùng Tạng Thức để soi nghiệp thức chính là những bậc sẵn có chí dũng, chí dũng nương nhờ công đức mà có, chưa có công đức chưa phát sanh chí dũng.” –T.V.

Bậc tu tự biết sáng soi các tư tưởng thiện ác là bậc biết sự diễn hành của nghiệp thức. Bậc có chí bền quyết tâm chịu nương theo hóa giải nó là bậc hiếm có, thấy biết từ khởi động ngay trong tâm mình, thật là chí dũng mãnh, quật lại ngoại lai ma lực. Bậc tu như vậy rất quí con đường Tri Kiến Giải Thoát.

Nhờ nương vào hồi hướng hỷ xả thân tâm mà có Công Đức Như Lai, vạn pháp mở rộng tâm không keo kiệt, bủn xỉn, dám cúng dường việc đáng công đức không do dự, không liều lĩnh, không sợ ngày mai sẽ ra sao bỗng nhiên Trực Giác Trí Dũng, từ đó mới lần hồi quyết tâm theo bậc Thiện Tri Thức cầu Chánh Giác. Do đó không có công đức, không có hy sinh không hề có chí dũng. Ai nói suông cũng được nhưng thực sự tu có mở tâm liền có Chí Dũng. Chí dũng rất cần thiết đến vô ngại, tự tại nó là chính yếu để tiến bộ, giải pháp giới trên đường tu theo Chư Bồ Tát, Chư Phật. Bằng không có chí dũng không sao chứng đắc.

“Thiền Sư nghĩ lại. Vạn pháp như huyễn, lướt qua khỏi nhìn lại mới nhận chân nơi huyễn của nó. Bằng đứng yên làm sao Kiến Tri cho đến chỗ huyễn thành chân.” –T.V.

* Tu cầu mong đạt đến chân lý, không bao giờ tìm ra chân lý. Trước hết phải xem vạn pháp như huyển, xem nó là giả tạm có đó rồi mất đó, không thật ở mãi, nó là vô thường, khi có lúc không, luân chuyển vần xây, thay đổi biến dời. Tất cả từ hữu tri đến vô tri đều hứng chịu vô thường pháp. Vì vậy tất cả đều nhịp nhàng qui định nơi sanh - diệt do lầm mà cho cái gì cũng tồn tại mãi.

Từ lức khởi sanh cho đến lúc bị diệt nó luôn nhịp nhàng theo thứ tự bốn pháp: Thành -Trụ - Hoại - Không trong vô thường. Cố lướt qua pháp huyễn khỏi tiếc thì mới đến nơi thường còn bất biến, tránh được lầm lẫn được mừng, mất buồn của vô thường pháp thuyên diễn, đó mới gọi là Kiến Tri Huyễn, đạt đến Chân Lý Vô Sanh.

Tỷ như một người được làm quan, chức trọng quyền cao đứng trên thiên hạ, được đầy đủ sung sướng bên cạnh lại có kẻ hầu hạ, kẻ này cùng bà con giòng họ rất hãnh diện vui mừng, sung sướng, thích thú cho chức vụ của con cháu mình. Đến lúc sa cơ thất thế bị mất chức quan quyền thì người kia cùng bà con giòng họ đều buồn phiền, trách cứ, khóc than thật khổ sở cho là bạc phước.

Từ câu chuyện trên cho biết chúng sanh thường sống trong vô thường pháp được mừng, mất buồn. Hợp rồi tan, gần rồi ly biệt là thường diễn từ vô thủy cho đến hiện tại và mãi mãi về tương lai. Nó vốn thường còn bất biến nào có sanh diệt đâu. Do lầm nhận mà chúng sanh không thấy nó thuyên diễn từng hồi, từng lúc rồi cho là thật, phải bị thọ chấp sống trong sanh tử. Nếu biết nó là huyễn, lại cho huyễn là mình liền bị nó điều động vướng mắc, đến khi không bị nó điều động sai khiến thì huyễn trở thành chân.

“Thiền sư rất cần bổ sung những điểm chi thiếu khuyết trên bước đường tu hơn là tu cầu tiến thân trong quả vị. Vì sao? Vì chưa Bi Chí Dũng, chưa Tín Hạnh Nguyện thời làm thế nào? Kết quả đặng chỗ Chánh Tín Chân Tôn hay đạo hạnh cao dày chỉnh trang Tịnh Độ.” –T.V.

* Một hôm Ngài khai thị tôi nghe như vầy: Bổ sung những điều chi thiếu khuyết có nghĩa xem xét lại những chủng tánh nào chưa hoàn mỹ phải sửa chữa chỉnh trang lại. Nói thì đơn giản nhưng khi va chạm vạn pháp mà tánh tình trơn liền không còn bị ma lực chủ động là cả một ý chí dũng mãnh mới vượt qua nổi. Nếu tự mình chưa tín thành hóa giải trong đạo hạnh, chưa có quyết chí, nguyện giải giới li ti trong thân mạng thì khó mà trực ngộ được đường đi chánh tín của Chư Phật mười phương ba đời.

Nếu chưa sạch sẽ, chưa trơn liền tức mình chưa độ được mình sao độ được người! Làm sao tránh khỏi ma thuyết. Hóa giải vạn pháp trong đạo hạnh, hợp mình lợi người là đạo hạnh cao dày đưa đến an ổn thanh tịnh. Chính là tịnh độ vậy.

“Thiền Sư rất biết, thật biết. Trí Bát Nhã viên dung, trên con đường tu hành nghiêm túc là một điều tối quan hệ cho tất cả những vị đại chí, đại bi nương theo đại nguyện mới thật thâu đạt phá vỡ vòng đai pháp giới.” –T.V.

* Bậc thực hiện hóa giải vạn pháp quân minh nên việc gì cũng viên dung. Đó là Trí Bát Nhã. Bậc thật tu luôn nghiêm chỉnh quay vào trong xem xét mình, không hề có tự mãn với chính mình mà thành tâm tìm kiếm Thiện Tri Thức để bổ sung. Chỉ một lời, một diệu dụng liền vào biển cả, tương thông Chư Phật, Chư Bồ Tát mười phương. Bậc này ở trong đời mà tất cả đều dồn cho đường tu, xem nó là món ăn thường ngày rất quan trọng nên có đủ Đại Chí - Đại Bi nhờ thề nguyện thực hành cho đạt viên dung. Bậc như vậy không tiếc chi nên gọi là Đại Bi. Dù khó khăn cay đắng đến mức nào cũng không bỏ đạo là Đại Chí. Thiếu sót quyết thực hiện cốt lợi mình rồi đến lợi người, không còn lăn tăn chủng tánh nào gọi là Đại Nguyện.

Chú tâm thực hiện chứ không nói suông, có pháp liền kiểm điểm, sáng soi hóa giải là đường tu căn bản của Đại Thừa mới phá vỡ vòng đai pháp giới chằng chịt phủ kín./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


30. Công Đức Phẩm

Lời Ta nói đều là bánh vẽ, các ông hãy nương vào Công Đức sung mãn, đương nhiên bánh thật sẽ đến các ông.
Bằng các ông nhận nuốt lời Ta chẳng chịu nương vào Công Đức sung mãn, thì các ông tự ăn bánh vẽ mà thôi chớ chẳng đem được cái hữu hiệu cho các ông.

–Vô sư kinh

Công Đức Phẩm

“Công đức hữu lậu là y áo cúng dường phẩm vật, cúng dường hương đăng hoa qủa, xây chùa nuôi Tăng. Còn vô lậu tín tâm phụng hành Công Đức, đa phần bậc sơ khởi tu hành còn quan niệm về nơi Phước Báo Nhân Thiên hay tu hành thoát sinh về Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc. Căn cứ nơi Công Đức Phẩm thì tùy theo sở nguyện mà thành.” –T.V.

Ngài rất chú tâm đến phẩm công đức và khai thị cho Tứ Chúng, tôi nghe như vầy: muốn xây căn nhà vững chắc, móng nhà phải làm kỹ. Càng xây cao, nhà càng nặng, móng nhà cần phải chắc chắn tương xứng mới chịu đựng và đứng vững. Lấy đời để so với đạo công đức phẩm rất cần cho con đường tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

Lúc còn nhỏ, một hôm Ngài muốn cúng dường Phật mà không có phẩm vật gì, Ngài lấy cái ly rửa thật sạch đi ra cái giếng nước, nhẹ nhàng thả gàu xuống múc nước để nước không bị vẩn đục, khi kéo lên Ngài tránh không cho cái bóng của thân thể che gàu nước. Múc xong ly nước, Ngài lấy hai tay đội trên đầu đi nhẹ nhàng không cho đổ một giọt. Dâng lên bàn Phật xong Ngài chiêm ngưỡng hình Phật. Ngài dạy tiếp,

"Nghèo mà thành tâm vẫn cúng dường được, vẫn có công đức. Chư Phật đều có đầy đủ vô lượng công đức mới thành Phật."

Kinh nghiệm trên đường tu chỉ có phẩm công đức mà thành tựu Cửu Phẩm Liên Hoa. Cứ mỗi phẩm công đức hữu lậu lớn, đầy ý nghĩa, đúng lúc là sở đắc một phẩm. Suốt lộ trình gặp được Đức Long Hoa Tăng Chủ, chỉ lập phẩm công đức cần mẫn mà được kết quả Đạo. Nếu chỉ nói mà không hành chẳng khác nào cái bánh vẽ không có bánh thật.

Bậc tu giữa lúc Đức Tăng Chủ khổ, thiếu vật chất, không thể nói bằng hơi được. Có nhiều bậc tu, thấy Ngài khổ, thiếu thốn, họ làm lơ mặc dầu họ sống khá. Một hôm Ngài bảo: "Tôi phải ra đời nghèo, chân tử cúng dường cho tôi mới có giá trị. Công đức hữu lậu sung mãn mới thực tiễn bước sang công đức vô lậu. Công Đức hữu lậu rộng mở tâm đồng ứng theo đầy đủ, mới thực tế có công đức vô lậu."

“Bằng có bậc tu công đức phẩm, kiến tạo công năng cơ bản tu cầu Tri Kiến Giải Thoát. Nương nhờ kiến tạo công năng, nên bảo trì công quả, phục vụ Công Đức không kể lễ. Gặp kẻ ngoại giáo dèm pha bậc này gìn giữ thân tâm không hờn giận, chủ yếu chuyên trì công quả.” –T.V.

Bậc tu kiến tạo công năng chính là sự chịu đựng. Nếu có lập phẩm công đức mà bị chê trách cũng không tức giận, gọi là bảo trì công đức. Đó là công đức vô lậu cúng dường Như Lai, tu hành theo con đường giác ngộ.

“Từ nơi bố thí không kể lể đến trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục thảy đều nhất tâm cố giúp, càng giúp mọi người chu đáo bao nhiêu vẹn toàn không cầu tri ân trả nghĩa, gọi là trí tuệ thiền định.” –T.V.

Khi thực hiện bố thí biết nói lời ôn tồn không ỷ mình là người cho mà hách dịch. Đó chính trong pháp bố thí đã có trì giới. Khi bố thí đem tình thương đặt vào kẻ đang khốn khổ. Đó chính trong pháp bố thí đã có nhẫn nhục. Gặp đúng pháp liền thực hiện bố thí. Đó chính trong pháp bố thí đã có tinh tấn. Bố thí đúng lúc chúng sanh cần giúp đỡ. Đó chính trong pháp bố thí đã có trí tuệ. Bố thí làm tròn duyên, xong an nhiên không còn bàn luận. Đó chính trong pháp bố thí đã có thiền định.

Bậc tu cần trực giác được trong một pháp bố thí đã sẵn có trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, tiền định gọi là lục ba la. Bố thí vô uý thí mới gọi là mật đa. Vậy trong một pháp bố thí đã có lục ba la mật đa. Pháp của Đại thừa phải tu Bát nhã ba la mật đa như vậy.

“Từ đó mới bước vào con đường tu Bồ Tát Hạnh mà đặng sáng soi tất cả tánh của nhân sanh tánh, tạo thành pháp giới nên gọi là chúng sanh giới.”
–T.V.

Pháp môn của Phật dạy cho Bồ Tát phải hạnh nguyện chính là: Lục Ba La Mật Đa, Tứ Nhiếp Pháp (đồng sự nhiếp, ái ngữ nhiếp, tự lợi nhiếp, tha lợi nhiếp), Tham Sân Si.

Hàng Đại Thừa phá mê chấp để sạch lý tham, trong khi Tiểu Thừa sợ tham khởi vọng nên không dám nghe, không dám thấy, không dám biết để tận diệt tham. Còn nghi ngờ, còn vọng đảo là chưa sạch lý tham. Hàng ngày quay vào bên trong soi lại tánh của mình sau biết rõ chúng sanh tánh của mình và của mọi chúng sanh khác đều có đủ. Mình có bao nhiêu chúng sanh tánh là tứ loài cũng có bấy nhiêu chỉ khác mỗi người nặng một tánh, như có người rất nóng nảy, có người ít nóng nhưng lại keo kiệt, có người khác rộng rãi... Mỗi tánh tạo một pháp giới sống từ kiếp này sang kiếp khác. Biết rõ pháp giới sẽ sở đắc pháp tánh. Bậc sở đắc pháp tánh viên dung bình đẳng, nhớ được tiền kiếp quá khứ. Nhớ nhiều hay vô số tiền kiếp quá khứ là do sở đắc pháp tánh sâu hay cạn. Có bậc nhớ được một kiếp quá khứ thời tu tập theo Đức Bổn Sư cách đây 2538 năm PL, số này rất đông trong Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam.

Có bậc đạt được thiên nhãn, thiên nhĩ biết rõ tiền kiếp quá khứ, cùng tất cả chuyện trong đời cũng không hoàn mỹ bằng bậc đã tu đạt Pháp Tánh.

“Nơi chúng sanh giới này chưa hẳn riêng loài người, nó chung gồm tất cả đều thọ chấp mà hóa sanh ra đủ loài. Từ các sanh vật đến vạn vật cùng con người, Tiên, Thần, Thánh hóa thảy đều bị giới sanh, luân chuyển nơi kiếp luân hồi sanh tử.” –T.V.

◊ Mỗi chúng sanh giới từ một tánh mà thọ chấp nên sanh một thân đầy khắp muôn hình tướng trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới.

◊ Như con chó pháp tánh của nó là giữ nhà. Bậc biết pháp tánh của nó hễ vào nhà lạ có chó là phải canh chừng. Chủng tánh giữ của trong nhà đã tập nhiễm nên ai đụng đồ là nó cắn. Bậc không biết gọi là lầm chớ không phải lỗi ở con chó.

◊ Tỷ như con mèo pháp tánh của nó là ăn vụng bậc biết phải đậy kỹ thức ăn. Nếu lơ là nó ăn vụng, người không biết la, đánh nó là mình sai chớ không phải con mèo sai.

◊ Chư Thiên pháp tánh sạch sẽ, đi đứng thanh bai, nói năng dịu dàng, nhà cửa ngăn nắp vào ở chỗ lộn xộn, dơ dáy không chịu nổi.

◊ Thần tánh thương người hay giúp đỡ người nhưng tánh còn nóng giận. Trái ý liền giết...

Do đó ta biết rằng mỗi chúng sanh thọ chấp, ôm giữ một tánh độc nhất của mình nên kiếp nào cũng bị nó dẫn dắt. Dù cho tu đến đâu chăng mà không rõ bổn lai của pháp tánh vẫn chỉ nói, thuyết giảng chớ chưa thực hiện đúng Hạnh Bồ Tát được, phải bị sanh tử, tử sanh vô cùng tận. Do đó mà bậc thực tu phải cầu Thiện Tri Thức đã được Phật thọ ký mới mong kết quả giác ngộ được.

“Bậc này nhìn khắp thế giới vũ trụ gọi là THỂ. Bằng lớp lớp chúng sanh giới được gọi là Pháp Thân Sở Đắc, Pháp Thân Phật.”
–T.V.

Mỗi một tánh tạo một chúng sanh giới, vô số chúng sanh giới chính là Pháp Thân Chư Phật. Muốn tu sở đắc pháp thân cũng phải lần hồi tu đúng đường cho sạch hết pháp tánh chúng sanh, mới mong đến nơi chốn Chư Phật được, mới vào thể vũ trụ khắp khắp.

“Nhờ công đức phẩm, nhìn nhận thị chứng pháp thân nên chi tỏ ngộ đặng pháp và tâm đều duy nhất, liền vui mừng nói: Tâm tiêu biểu cho tánh, còn tướng vốn là pháp thảy đều là một không hai, thật kỳ diệu thay.” –T.V.

Nghe thấy biết là vạn pháp. Giải xong pháp liền hồi tâm nên pháp và tâm là một. Tỷ như gặp hoàn cảnh buồn tôi thấy khổ, hóa giải cho không còn buồn. Cái buồn đã hồi Tâm. Pháp cũng do Tánh thành Pháp Tánh. Lầm mê nhận tánh không trụ tánh hồi tâm nên Pháp - Tánh - Tâm đều duy nhất chứ không có hai, ba.

Nhìn hình tướng biết tánh. Tỷ như một người đi, nói năng lộn xộn. Tướng này lộn xộn thì tánh không có nghiêm chỉnh. Tướng chính Tánh cũng là một.

Pháp - Tánh - Tâm - Tướng đều duy nhất đồng thể tuy thị danh có khác nhưng gốc do Tâm tạo. Bậc thực hiện biết rõ thật tuyệt diệu, không còn phân chia nên trực giác Chơn Tâm ẩn trong vọng tâm, vọng tâm sạch, như nhiên Chơn Tâm hiện. Tuyệt diệu ở chỗ Chơn Tâm không ở đâu nhưng ở đâu cũng có. Cũng tướng, cũng tánh, cũng pháp còn lầm thọ chấp nó là vọng tâm. Sạch vọng hoàn lai Chơn Tâm vậy. Do đó bậc Đại Thừa tu đạt chơn tâm từ nơi Nghe Thấy Biết chứ không y kinh lý luận hiểu biết. Kỳ diệu thay chư Phật đã tận thành. Chư Bồ Tát đã thấu đạt.

“Khi bấy giờ công đức phẩm hạnh này, chỉ thực hành tròn duyên, tròn nguyện gọi là công đức cúng dường Như Lai. Nhờ Như Lai, nương vào Như Lai mà dung thông pháp giới thị chứng vô sanh pháp nhẫn. Đó phải chăng bảo pháp cao quý giá trị, khó nghĩ bàn chăng?” –T.V.

Gặp hoàn cảnh khó khăn, an vui hóa giải không phiền trách, không sân hận, luôn hóa giải trong tinh thần đạo đức, hướng thượng. Đó là công đức to lớn cúng dường Như Lai. Nương vạn pháp hóa giải là nương vào Như Lai, không sanh, không diệt hoàn cảnh chỉ nương vạn pháp gọi là dung thông pháp giới.

Nhẫn nhục nếu cứ làm thinh sẽ không có trí, con người dần dần đến chỗ ngu đần. Nương pháp hóa giải đạo hạnh gọi là nhẫn nhục. Nhẫn xem xét để hóa giải gọi là nhẫn nại. Cố tinh tấn không nóng tánh mà vẫn hóa giải chứ không phải cứ làm thinh gọi là nhẫn nhịn. Mỗi pháp mỗi hóa giải gọi là niệm pháp, niệm niệm Pháp chính là niệm Phật. Đến lúc này sở đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Phẩm này là bước đầu rất cần thiết để thành đạt Pháp Thân Phật.

Chưa tỏ tường con đường Vô Sanh Pháp Nhẫn tu bao lâu cũng chưa vào thể của vũ trụ được.

“Mỗi một Phẩm Hạnh diễn tiến giá trị cao qúy như thế, đã có bậc thực hành kết quả đi trước. Kẻ tu trì đi sau phải cố gắng thi hành. Chính ra như Tôi hiện nay hoàn mỹ vẫn nương nhờ Công Đức Phẩm, nảy nở công năng, từ thấp trưởng thành Tối Thượng Chánh Giác, đoạt đến Vô Thượng Phẩm khó nghĩ bàn.” –T.V.

Đức Tịnh Vương, Long Hoa Tăng Chủ, hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật trước giờ phút Bát Đại Niết Bàn, lời cuối cùng của Ngài với Tôi như sau.

“Chỉ có phẩm công đức mà thành Diệu Quả Bồ Đề nghe không ông!” –T.V.

Đời Ngài tất cả đều hồi hướng Công Đức Như Lai mà nên sự nghiệp, được Muời Phương Chư Phật tán thán!./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


29. Thời Kỳ Chân Như Hoá Độ Đại Thừa

- Kẻ vào đường tu mà chẳng chịu tu sửa, đó chính là kẻ đi đòi nợ.
- Kẻ vào đường tu mà chẳng chịu tu sửa, mộng tưởng điên đảo, đó chính là kẻ Ma dân.
- Kẻ vào đường tu mà chẳng chịu tu sửa, ganh tỵ đòi hỏi, đó là Chưởng Quỷ.
- Kẻ vào đường tu chịu phá chấp, chịu tròn Duyên, tròn Nguyện, lấy mục đích Chân Thiện Mỹ hoàn lai, đó là Bậc xây dựng Chánh Pháp, Bậc Hộ Pháp đã nhiều lần gặp Phật, thề nguyện cúng dường Như Lai.

–Vô Sư Kinh

Một hôm Ngài thắp bảy cây nhang và tuyên bố trước chánh điện:
–“Kính bạch Đức Thế Tôn kể từ nay con không chiều học trò nữa.”
–T.V.

Ngài bắt đầu từ tiểu thừa lần khai mở cho Tứ Chúng tu hành, tập quan sát hóa giải vạn pháp, dũng mãnh tâm đặng vào đại thừa. Không chiều học trò có nghĩa chỉ thẳng nghiệp chủng thọ chấp, thuộc môn thử thách của ĐỐN GIÁO.

“Khi bậc tu có tâm thù thắng cầu Tri Kiến Giải Thoát thì liền có nhiều thử thách để tiến bộ. Từ thử thách tiến bộ ấy bậc tu vẫn một mực kiên trì xây dựng Đạo Đức, chẳng tổn thương Đạo Đức chính là pháp môn Tiệm Giáo.

Đốn giáo tức là một môn để phát sanh trí tuệ. Vì vậy nên Phật thường nói: Bậc tu gìn giữ Định mãi, tự tạo căn bản Đạo Đức cố định cố thủ thì đương nhiên bậc ấy tạo vô minh chớ chẳng ích chi với con đường Tri Kiến Giải Thoát, chỉ được Phước Báo Nhân Thiên.” –T.V.

Hàng tiểu thừa quen tu Phước Báo Nhân Thiên chuyển sang Đại Thừa thật quá khó khăn. Đúng nghĩa hai chữ Đại Thừa do Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai mở thật không dễ thọ lãnh. Nhiều bậc đã từng nghiên cứu, đọc tụng kinh Đại Thừa mà nặng hình thức, nghi lễ, cầu vái van xin vẫn bị thọ chủng tiểu thừa.

“Bằng phá mê chấp nương theo Đốn Giáo mãi thì vô tình hay cố ý vẫn có trí tuệ nhưng phải sai lạc vào tà kiến chịu thọ chủng ba đường ác.” –TV

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật có Đề Bà Đạt Đa tâm trí Đại Cường, đến thời Hạ Lai Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật khai mở Đạo cũng không tránh khỏi nạn tai do Đề Bà Đạt Đa gieo rắc, còn đám con cháu Đề Bà Đạt Đa cũng vào tu trong Chánh Pháp Pháp Tạng chung cùng với các vị Tổ, Thánh Chúng thời Đức Bổn Sư. Bọn họ cũng tâm chí đại cường chuyên đánh đập, bày mưu hiểm ác không kém thời quá khứ, cố tạo hỗn loạn trong đạo, bước đi của họ lầm lẫn phải sa vào Địa Ngục chịu cảnh sống Tà Kiến không ngừng.

“Do lẽ trên nên Bậc tu cần lấy Trí - Đức. Định - Tuệ. Tướng - Tánh đồng song mới chánh báo chân lý. Đó là pháp môn tối diệu Cứu Cánh Giải Thoát hiện tại. Cũng như biết dùng thuốc thì chữa được bệnh mê lầm. Bằng chưa biết mà dùng bừa bãi thì lại càng tu càng bệnh, càng làm càng đến những chỗ sa đọa vô kể. Vì như thế cho nên Chư Tổ mới kiềm hãm, củng cố đạo tràng để bậc tu lần bước nhiều kiếp mà Sở Đắc chân lý.” –T.V.

Chư Tổ kiềm hãm bậc tu không đi ác căn mà phải giữ gìn thiện căn. Nhờ đạo tràng làm nơi nhắc nhở chỉ bày tu hành giữ gìn đạo hạnh, thiền định để ổn định tư tưởng, nhắc nhở không cho Tối Tưởng mà thường Sáng Tưởng, lần bước nhiều kiếp đặng sở đắc chân lý.

“Do như thế nên các pháp môn niệm Phật. Tu Tịnh Tâm, tạo phước điền cẩn thận để chờ bậc Thiện Tri Thức chỉ dẫn đúng với tinh thần, đúng với pháp môn, đúng với sự cầu báo chánh báo. Vị ấy tùy năng sở sắp theo thứ lớp cho tứ chúng được chánh báo phước điền, được chánh báo nhân thiên, được chánh báo Tu-Đà-Hoàn, Tư-Đa-Hàm, A-Na-Hàm, A La Hán mà thành tựu chánh giác vậy.” –T.V.

 Thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị thật tỏ rõ, thật tỷ mỉ về sự tu chứng của Chư Tổ thời quá khứ và thời vị lai cũng không khác, tôi nghe như vầy: Chỉ có chư vị Bồ Tát Phổ Hiền, Văn Thù, Quán Thế Âm, Địa Tạng, Di Lạc... được Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký đã sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, còn Chư Tổ tu chứng ngộ từ mức Giác Ngộ hoặc Đại Ngộ đến Liễu Ngộ là cao nhất, thuộc đẳng cấp Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán.

Chư Tổ có giảng Phật pháp, có viết sách về Nhất Thừa về Tối Thượng Thừa ở tầng số Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, dù có tuyên ngôn, minh thuyết như thế nào cũng chưa được Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng minh, phải đợi thời Hạ Lai Mạt Pháp này sự thị hiện của Đức Di Lạc Tôn Phật kiểm tra, thị chứng, minh chứng nhưng quá trình hành đạo 37 năm của Ngài vẫn chưa ghi nhận được vị nào vào được Nhất Thừa chớ đừng nói Tối Thượng Thừa, chỉ trừ một vị duy nhất Tôn Giả Mục Kiền Liên mà hậu thân là pháp sư Trần Huyền Trang chuyến đi thỉnh kinh thuộc phẩm Bất Khả Tư Nghì.

Chư vị Tổ thuộc hàng Hộ Pháp đến Tôn Giả dạy cho bậc tín tâm tu hành thiện căn, tự tánh tỏ tánh sở đắc chân lý chờ bậc Thiện Tri Thức từ hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát hoặc Phật Di Lạc mới khai thị cho Chánh Giác, mới tận dụng Phật lực vốn sẵn có chứng minh cấp bậc tu chứng. Chừng đó bậc tín tâm mới được nhập thể tùy sự cao thấp tu chứng mà được hiệu lực, hiệu nghiệm không thể nghĩ bàn.

Cũng như trong một nước vua hay vị lãnh đạo tối cao bổ nhiệm Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Tổng Giám Đốc, Tỉnh Trưởng... thời mới có quyền hành, quyền lực thi hành nhiệm vụ an cư lạc nghiệp cho dân theo sự bổ nhiệm cao thấp vậy. Còn vị nào có giỏi chưa được bổ nhiệm mà tự xưng đều không có thực quyền hiệu nghiệm. Do vậy mà quá khó gặp bậc Thiện Tri Thức theo tinh thần trên, dù có ở một bên mà bậc tu thọ ngã cũng không nhận ra.

“Bậc Thiện Tri Thức là bậc chỉ đạo thông đạt tận biết tỷ mỉ nghiệp chủng của chúng sanh giới, thật biết năng sở cầu từng bệnh tật của bậc chứng tu để lần lượt xếp thành sự tu chứng trường cửu bất diệt.” –T.V.

Do thời Mạt Pháp này sự tu hành y theo kinh Phật, nghiên cứu học hỏi có bằng cấp cao, viết nhiều tác phẩm về Phật Pháp nếu thật cầu giác ngộ cần lìa ngã, vô sở hữu đặng suy nghiệm lại lời khai thị trên của Đức Di Lạc Tôn Phật, sẽ rất có lợi quá ư thực tiễn không có dùng trí suy nghĩ viết lách, thuyết giảng trong chiêm bao nữa.

Từ hàng Đại Thừa trở lên Ngài đều nghiêm túc khép vào một hướng tu, được dạy dỗ chưa có chân tử nào dám tự phát sinh. Nếu có đều để yên mức Tiểu Thừa mà thọ hưởng như ý nguyện.

“Khi đã trót lầm lẫn vô minh, bị nơi chiêm bao vô định, các ông hãy nương theo vết chân của Bồ Tát, nhận lãnh TIN VÂNG KÍNH lời bảo truyền của chư Phật để lại mà tu, bằng mất ba chữ ấy, phải vướng vào tự ngã lạc loài nơi sanh tử. Lời Tôi nói ra không phải lợi cho Tôi mà chính ra lợi cho các ông từ nay đến hậu thế.” –T.V.

Tu hành thời mạt pháp chưa nhận được thế nào là trực giác, chưa giác ngộ, dù cho lý trí giỏi đến đâu, đều bị lầm nơi chiêm bao không có ngày thoát sinh, lại tạo tác sanh tử. Hãy tu vào pháp môn chủ quán. “đời là chiêm bao” để tránh lỗi lầm tự ngã của vô minh.

“Các ông áp dụng thế nào đúng với tinh thần TIN VÂNG KÍNH.”

 * NƠI TIN: Các ông tin lời huấn từ chỉ dạy để sửa tánh, giải mê lầm, tin pháp môn dưới sự chỉ đạo đặng Tri Kiến Giải Thoát.

 * VÂNG: Khi TIN nghe được hiểu được nhiều ít, phải thi hành tu tập, phát tâm Hạnh - Nguyện thực thi lời chỉ giáo của bậc chỉ đạo mới gọi là Vâng.

Bậc tu nếu Tin Vâng trọn, trí tuệ liền tăng trưởng, tâm thức mở mang, lúc bấy giờ càng tỏ rạng bao nhiêu thì sự Tôn Kính tăng trưởng bấy nhiêu. Áp dụng như thế mới đúng với tinh thần của một chân Phật Tử tu cầu Tri Kiến Giải Thoát trong thời Hạ Lai Mạt Pháp, đúng với đường tu Pháp Tạng.

“Bằng Tin bậc Thiện Tri Thức là Phật để tôn sùng kính lạy cầu xin những chuyện bá vơ trong tư tưởng mong cầu của mình là hơn cả, ngoài ra chưa chịu thọ lãnh giáo ngôn, chẳng xem bài vở để sửa tánh tu thân thì chưa đến chốn Tin Vâng Kính thực thể, thời khó đến chân tướng Tri Kiến Giải Thoát. Tôi mong những bậc đã từng tu hãy đọc kỹ thời kinh này, chép nhiều phổ truyền rộng rãi, nó chính là một trọng yếu kim chỉ nam, làm cho bậc tu hành hết suy tư ảo-ảnh đến tri Kiến Giải Thoát vậy.” –T.V.

Thời còn Ngài, Ngài vẫn thường khai thị, phổ truyền rộng rãi kinh sách nhưng rất hiếm có bậc tu hành chịu khó hiểu. Vì vô minh mà ma lực chẳng cho bậc tu nhận chân được nó, nếu nhận được đương nhiên biết được giá trị vô kể. Bậc nhận chân được chẳng còn tiếc chi chuyện thế gian, liền quyết định đánh đổi lối sống mong cầu đầy dục vọng đặng tìm cách gặp gỡ bậc Thiện Tri Thức tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

Chư vị học giả, trí thức đã từng giảng dạy, viết Đại Thừa, Nhất Thừa xin hãy xem xét lối dạy chân lý Đại Thừa của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật có đúng như Chư Vị chăng?

Thời Pháp quan trọng Ngài Khai thị về Đại Thừa, chính tôi nghe và chứng kiến tại Trung Ương Hội Thượng số 42 Hồng Bàng Nha Trang như vầy:

• Cải Cách Bản Thân

Khi bấy giờ nơi Chánh Điện, Tứ Chúng ngồi yên đàm luận, bàn bạc về môi sinh hiện tại khó tu. Bổng có tiếng chuông reo, báo hiệu Đức Long Hoa Tăng Chủ giáng lâm chứng minh Đại Lễ, Tứ Chúng đứng lên trang nghiêm chờ lễ.

Ngài từ tịnh thất bước xuống, đi tháp tùng có hàng Thị Giả, Tôn Giả và Hộ Pháp đồng ra chánh điện. Khi bấy giờ Ngài lại đến ngồi tĩnh tọa trên chiếc ghế vải, thường ngày để sẵn, lúc Ngài nghỉ ngơi hoặc xem kinh điển. Vì khác hơn thường lệ làm cho tứ chúng bở ngỡ nhưng ai nấy đều tự giác xếp thứ tự trang nghiêm đồng lễ bái. Ngài đưa tay ra hiệu cho tứ chúng ngồi đâu đó xong xuôi Ngài khai thị rằng:

“Tôi khá khen các ông, từ nơi rộng rãi tu hành cho đến thời tu eo hẹp, mà các ông vẫn một lòng một mức kiên trì, kiên nhẫn công phu tinh tấn không nhàm chán lễ nghi, mức Tin Vâng đối với giáo môn không đâu bằng, chỉ vì các ông đang sanh hạ trong thời Lạc Pháp, con người đang cải cách mà các ông không điên loạn theo đồ chúng. Còn đối với tôi cùng Giáo Hội vẫn gìn giữ tôn chỉ hành lễ cổ truyền ngày mồng 8 tháng tư, đúng ngày Đản Sanh Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của các thế kỷ nghìn xưa lưu lại.

Thật ra con đường tu Phật, sự cải cách bản thân quan trọng hơn cải cách hình thức lễ bái chiêm ngưỡng, nó tự sanh ra nhiều mâu thuẫn, tự sanh nhiều lý sự khó khăn làm cho bậc tu chạy theo đồ chúng hư vị, do đó mà làm cho tâm ý bị phản đối, tinh thần lạc lỏng giữa ngày Đản Sanh của Phật còn vướng bị cải cách thời làm sao Kinh Pháp không sai lạc, thật vô lối.” –T.V.

Đối với Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc Ngài đã nhập Chánh Định Tam Muội thấy biết rất rõ sự việc từ trăm ngàn năm về trước. Ngài xác nhận do chấp ngày trăng rằm tròn trịa mà đổi ngày Đản Sanh của Đức Thế Tôn thật sự là sai. Ngài xác nhận ngày Đản Sanh vẫn là ngày mồng 8 tháng 4 hằng năm.

“Đối với Đức Thế Tôn, Ngài phải xa lìa đánh đổi cung vàng điện ngọc để cải cách bản thân. Ngài chấp nhận cảnh khổ, sự khổ tìm chân đế về giúp cho nhân loại. Hiện nay đó chính là tài liệu cải cách bản thân hơn là cải cách hình thức.” –T.V.

Bậc tu Đại thừa rất cần cải cách bản thân. Nó cần thiết vì từ chỗ eo hẹp, nhỏ nhen cải cách đến tâm chí rộng rãi biết thương người, giúp người theo con đường cải cách bản thân cùng với mình tu cầu Tri Kiến Giải Thoát làm cho bản thân sự sống thoải mái tự do không còn bị trói buộc bởi ma lực.

“Đối với Đức Thế Tôn, Ngài vẫn nhờ nơi bảo pháp như nhiên hiểu biết khỏi ép nơi khổ hạnh bị biết... Ngài bèn ra đi đến cội Bồ Đề tọa thiền Chánh Giác. Ngài tự nói: ta chớ giam mình nơi khổ cầu đạo Bồ Đề. Ta chớ hủy hoại thân mạng cầu lấy Diệu Quả khó tu, khó chứng.” –T.V.

Có trực giác mới có bảo pháp như nhiên hiểu biết. Khi bậc tu thường ngày sửa tánh, giải tật xấu, đó chính là cải cách bản thân, đến một thời điểm chuyên cần không xao lãng, xem nó là món ăn của Bồ Tát nguyện bỗng nhiên đầy đủ, như nhiên liền hiện hiểu biết. Không phải suy nghĩ, suy luận. Đó là trực giác, tự mình biết pháp đúng, sai, tự mình thấy lỗi lầm. Khi không còn lỗi lầm liền tỏ rõ, thông đạt vạn pháp trước mặt mình, chung quanh mình.

“Từ đó cho đến ngày nay Ngài lưu lại những điều Ngài tu trì, tu tập, tu hành trải qua từng thứ lớp trở thành Tam Tạng Kinh. Ngài cứu giúp giải tỏa buông lung đau buồn nơi cảnh khổ, Ngài hóa giải chẳng biết bao nhiêu sự mê lầm ngăn chấp. Từ nơi bị giác, bị tu an nhiên tự tại đến trực giác.” –T.V.

Cải cách bản thân có kết quả Đức Thế Tôn luôn gìn giữ gọi là tu trì. Từng pháp Ngài không xao lãng gọi là tu tập. Từng pháp Ngài đều lưu tâm thực hiện cho được gọi là tu hành. Những kinh nghiệm quý báu này Ngài đều khai thị cho Tứ Chúng giữ gìn tu tập trở thành Tam Tạng Kinh.

Sống trong thời đại khoa học phát triển, con người không sao tránh khỏi nhu cầu mức sống quá khả năng hiện có. Từ đó sanh tâm buông lung, sau không thỏa mãn trở nên thất vọng, đau khổ, oán trách đời. Cái muốn quá mức dắt bậc tu tham, liền có mê lầm ngăn tâm eo hẹp không còn như nhiên, dù có tu tinh tấn đến bao lâu cũng vẫn bị giác, bị tu. Giải sạch như nhiên hóa tự biết thoải mái, an lành.

“Từ thứ bậc tu thân đạo hạnh đến hóa giải trở thành hạnh nguyện độ sanh đứng vào hàng Bồ Tát nguyện. Nay ta nói ra để nhắc các ông nên nhớ, chớ vì khổ nản lòng, chớ vì mức sống eo hẹp trễ nải công phu, nếu các ông đem quan niệm ấy vào lòng, thì tâm chí của các ông tự mang cái khổ.” –T.V.

Mãi giữ gìn Đạo Hạnh bậc tu không linh động, trí tuệ khó phát triển, không mở mang dung thông vạn pháp diễn cảnh nó hóa cho tâm bị nóng giận, buồn, kéo thân khổ lụy. Bậc biết giải gọi là hóa giải pháp cốt độ chúng sanh tánh của chính mình, quyết thề nguyện hóa giải cho thân tâm thoải mái, đó là nguyện tu theo Bồ Tát. Không phải bỏ đạo hạnh nhưng có pháp cần giải sạch để tăng trưởng trí tuệ mới có đức trí tương song. Đức Di Lạc Tôn Phật thời mạt kiếp có nhắc nhở Tứ Chúng:

"ĐỨC TRÍ TƯƠNG SONG
CHÂN NGUYÊN TRỰC GIÁC"

Đó chính là Bồ Tát nguyện. Bậc tu theo như nhiên trực giác đều được chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai hộ trì, giúp đỡ sau chắc chắn gặp Phật.

“Các ông hóa giải bằng bộ óc giải thoát thì các ông noi gương Đức Chí Tôn cốt đánh đổi nơi eo hẹp làm cho tâm chí rộng rãi bao la, từ chỗ đương thời eo hẹp khó khăn tu đoạt quả vị phát triển. Những điều ấy nên nhớ lấy.” –T.V.

Bậc tu có tinh thần cầu giải thoát để một ngày kia đầy đủ công năng, công đức liền được giác ngộ, giải được sanh tử luân hồi. Như Đức Bổn Sư bền chí hy sinh tất cả để cầu Đạo. Của cải châu báu ngọc ngà, Ngài đánh đổi ra đi không tiếc nên được từ nơi nhỏ nhen eo hẹp đến tâm chí rộng rãi. Thật có một không hai.

“Ngày nay các ông đặng gặp Tôi, tỏ lòng ái kính do nơi đâu, phải chăng Tôi thường đem lời chuyên chính ấy là Tôi vẫn thường cải cách bản thân nên có công năng quyết định đưa các ông chân giác giúp các ông thoát khỏi vòng sanh tử, vì Tôi rất tỏ tường, thế nào là chân pháp hướng dẫn đến Giác Chân.” –T.V.

Một hôm tại trung ương hội thượng, Ngài khai thị tôi nghe Ngài hỏi Thế nào là chân pháp? Trong anh em chúng tôi không ai trả lời được nên Ngài chỉ một chân tử và bảo biết thế nào cứ trả lời theo cái biết.

– Chân tử nói: Tất cả Tam Tạng Kinh cùng lời khai thị của Đức Thế Tôn đều là chân pháp. Đức Long Hoa Tăng Chủ ôn tồn bảo.

– Tam Tạng Kinh cùng lời vàng ngọc của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đều là chân pháp nhưng sang đến ông nó không còn là chân pháp nữa. Vì sao?

– Vì sự tu hành từ ý nghĩ, lời nói, hành động đều do quan niệm của ông còn lầm lẫn, kinh của Đức Bổn Sư ông học, nghiên cứu, viết sách trở thành bị giác, thực hành theo nhận định gọi là bị tu, kết chung bị biết.

Các ông cần cải cách bản thân nghiêm túc mới có tự tánh thì kinh của Đức Bổn Sư đến với các ông trở thành chân truyền bảo pháp. Vậy các ông hãy lắng nghe:

Chân pháp là pháp không chấp

Cho nên bậc tu Đại Thừa chân truyền thề nguyện: Không Lấy cái sai làm cái đúng, mà cũng không lấy cái đúng làm cái đúng. Tu như vậy đầy đủ công năng, công đức, liền đến Giác Chân.

“Tôi cũng đã sống nơi đắng cay cam khổ, cố gắng kiến tạo công năng nương nhờ Như Nhiên Trực Giác mới khỏi sự lý lạc lầm thành thử lời chỉ dạy toàn lời hoàn mỹ, lời ấy nó chẳng y kinh mà cũng chẳng ly kinh, viên thông hướng dẫn, như thế gọi là lời Chân Truyền Chân Giác.” –T.V.

Đương thời Đức Long Hoa Tăng Chủ còn tại thế, Ngài không cho hàng Hộ Pháp, Tôn Giả rập khuôn theo kinh thuyết pháp mà phải dùng tự tánh.

Suốt lộ trình khai đạo ở thế giới ta bà này Ngài luôn chỉ đạo tu hành phải thề nguyện hóa giải khi gặp vạn pháp đắng cay cam khổ. Hóa giải được quân minh, tài liệu này không có trong kinh Phật gọi là không y kinh. Giải quyết vạn pháp quân minh không còn một kẻ hở nào có thể chê trách được, bậc đi trước cũng như bậc đi sau đều giống nhau, đó chính là Chân Truyền nên được gọi không ly kinh. Vì nghe thấy biết đều là vạn pháp, cái gì trong thế gian này cũng không ngoài vạn pháp, bậc tu giải quyết được quân minh, tròn sáng thì lúc xem kinh Phật như nhiên Trực Giác rất sâu thẳm, khó có bộ óc thế gian nào sánh kịp.

Một bậc tu đạt được quân minh thật không gì quý bằng, chân hạnh phúc thật sự trong 24 giờ mỗi ngày, hiện tại cũng như vị lai không thể nghĩ bàn. Gặp hoàn cảnh (vạn pháp) giải quyết quân minh, đó mới là của TA, là chơn tâm, là chân truyền. Bậc này thị hiện ở đâu, nơi đó đều an lạc, dù kiếp nào cũng vậy. Văn tự không thể diễn tả đầy đủ Chân Giác được.

"Các ông tự than phiền cuộc sống, thế tình điên đảo, đương nhiên các ông mang vào pháp giới khắc khao (khắc nghiệt, khao khát) có phải chăng các ông tự đặt mình thành ngăn cách, lại cầu Tri Kiến Giải Thoát. Chẳng khác nào tự mang lấy gánh nặng, chưa chịu vứt đi, cho nó nhẹ nhàng, chỉ đa mang rồi mong ước nhẹ nhàng không bao giờ có đặng.” –T.V.

Khi bậc tu có tinh thần cầu giác ngộ, giải thoát sinh tử luân hồi, đương nhiên phải hóa giải pháp giới cay đắng, khắc nghiệt, không thể than thở cầu vái van xin cho hết khắc nghiệt. Dù cho có tu theo pháp môn nào cũng đều chung một lối, qua một đường hóa giải vạn pháp diễn cảnh mới gọi là Đại Thừa theo chân truyền.

“Ta nói đây các ông chưa hiểu nổi, vì công năng còn kém. Các ông cứ tu, chớ trễ nải công phu rồi một ngày nào đầy đủ công năng như nhiên, tâm các ông không cấu tạo thời dù cho hoàn cảnh chi chăng nữa vẫn là món ăn Tri Kiến Giải Thoát thân tặng các ông.” –T.V.

Tâm cấu là tâm còn loạn động ắt thường tạo tác những sự mê lầm, nếu bậc tu tinh tấn bền chí hóa giải vạn pháp là đi đúng đường chư Bồ Tát quá khứ. Kết quả đạo lâu mau đều do nơi chúng sanh có cải tạo được nơi bản thân sớm hay muộn mà thôi./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


28. Thời Kỳ Trừu Tượng Hoá Độ Tiểu Thừa

Bậc tu tin Phật phải là bậc biết Pháp. Bậc tin Phật phải là bậc hiểu Pháp. Bậc tin Phật phải là bậc tỏ Pháp mới gọi là tin Phật. Bằng chưa biết, chưa hiểu, chưa tỏ thì dù có tin Phật đến mấy chăng nữa cũng chưa phải là tin Phật.
–Vô Sư Kinh

Sự hoá độ của Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hoá thân Đức Di Lạc thị hiện tại thế giới ta bà Ngài hành đạo 37 năm, chia làm bốn thời kỳ.

 • Thời kỳ Trừu tượng: Hóa độ tiểu thừa 1957 – 1965.

 • Thời kỳ Chân Như: Hóa độ Đại thừa 1966 – 1983.

 • Thời kỳ Nhất Tôn: Hóa độ Nhứt thừa 1984 – 1989.

 • Thời kỳ Biệt tôn Vô Thượng: Hóa độ Tối Thượng thừa 1990 – 1993.

THỜI KỲ TRỪU TƯỢNG HOÁ ĐỘ TIỂU THỪA.

Năm 2500 Phật Lịch tức năm 1956 DL khi Chánh Giác, Ngài nhận thấy chân lý quá khó, làm sao chúng sanh lại có thể tu hành nhận lãnh được? Ngài không muốn kham lãnh khai đạo, cứ đi lang thang qua ngày. Sau Trời Phạm Thiên, đến Chư Thiên, Chư Long Thần Hộ Pháp xuống thưa thỉnh, Ngài cũng chưa chịu hành đạo. Lúc sau này khi tôi tìm đạo gặp được Ngài, Ngài khai thị tôi nghe như vầy:

Chúng sinh thời Mạt Pháp dùng lý trí suy luận Phật Pháp, không trọng ý trí nên kinh Tạng Đức Thế Tôn để lại họ thuộc lòng, Tôi có đối diện với Tăng Ni mà khai thị cho, họ cũng không nhận được. Định nghiệp đầy, khiến Tôi thấy vô cùng khó. Thời Đức Thế Tôn: tất cả còn trong trắng nên dễ dạy. Chẳng khác nào bây giờ tờ giấy trắng đã vẽ hình muôn kiểu lộn xộn. Khai mở, trước tiên Tôi phải cho họ tẩy sạch tờ giấy cho trắng không còn vết bẩn, sau đó chỉ cho họ vẽ ra cảnh thứ lớp trông nhìn được là cả một công trình! Do đó Tôi muốn chờ hết kiếp đến lúc thân tứ đại rã, âm thầm ra đi.

Sau Đức Tịnh Vương Phật tức Như Lai đến ban hành chứng minh vào ngày 12 tháng giêng âm lịch năm 1957 dương lịch, Ngài mới nhận lãnh khai đạo.

Người chân tử đầu tiên của Ngài già nhất, tóc đã bạc trắng, râu dài cũng bạc trắng ở thôn Phú Hữu xã Vĩnh Ích, hướng Nha Trang đi Ninh Hòa cách thành phố Nha Trang 20 km. Ngài ban cho pháp danh Pháp Đạo. Sau đó Chư Thiên, Chư Địa Thần, Chư Long Thần lần lượt đi tìm 1250 Chân Phật Tử thời Đức Thế Tôn, nhắc nhở dẫn dắt họ về với Đức Di Lạc Tôn Phật.

Trước tiên Ngài hóa độ hàng Tiểu Thừa để chờ hàng Thánh Chúng thời Đức Thế Tôn trong đó có 33 vị tổ cùng có một số chân tử trong những kiếp sau này lai trần hành đạo Ngài đã gieo trồng.

Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam nơi 42 Hồng Bàng Nha Trang Ngài chính thức khai đạo năm 1957. Ở đường Sinh Trung năm 1956 DL năm 2500 PL là năm Ngài đánh dấu Pháp Tạng Phật Lịch (PTPL) năm thứ nhất – 1957 DL tức năm 2501 PL được gọi là PTPL năm thứ 2.

Thời kỳ này Ngài cho Tứ Chúng dùng chuông mõ tụng kinh “A Di Đà” và “Quán Thế Âm Bồ Tát, Phổ Môn Phẩm trong Diệu pháp Liên Hoa kinh”. Nghi thức y theo cổ truyền của chùa.

Kinh A Di Đà để cầu siêu. Phổ Môn Phẩm để cầu an. Ngài thường diễn hóa thần thông.

◊ Tỷ như khi đi phố với chân tử, trời đổ mưa Ngài nhìn lên trời nói: Ông trời ngừng mưa giúp Tôi đi phố cho xong việc đã. Tức thì trời ngưng mưa, mây tan, nắng ấm đến.

◊ Có lần ở phi trường Nha Trang, lúc máy bay sắp cất cánh trời đã âm u bỗng gió to mưa nặng hạt. Phi trường thông báo thời tiết xấu phải ngưng chuyến bay yêu cầu hành khách ra về chờ thông báo sau. Ngài liền nói với chân tử Ngài đừng trở về, rồi Ngài đưa tay chỉ lên trời, bỗng trên không trung có những tia sáng xẹt tung ra, chỉ không đầy một phút gió ngừng, mây tan, mưa tạnh. Hành khách nhận hành lý ra về chưa kịp thì phi trường thông báo lại máy bay sẽ cất cánh. Ngày hôm đó trời nắng ấm.

◊ Một hôm tôi tháp tùng theo Ngài đi từ Nha Trang đến Thiền Viện Rừng A Đề ở thôn Phú Hữu xã Vĩnh Ích huyện Ninh Hòa đến lượt về Ngài và tôi đứng đợi xe bên lề đường. Trời đổ mưa chung quanh đồng trống trên đầu không có cái gì để che, không có chỗ nào núp mưa nhưng chung quanh chỗ Ngài và tôi đứng đường kính 1m50 không có một giọt mưa nào, mưa thành hình một vòng tròn trên mặt đường nhựa nước chảy bên ngoài vòng tròn, còn bên trong vòng tròn khô ráo không có một giọt nước. Khi xe đến Ngài và tôi lên xe, mưa bắt đầu nhỏ giọt trong vòng tròn.

◊ Ngài ở Nha Trang đã giúp tỉnh Khánh Hòa nhiều lần làm tan bão tránh khổ ải cho dân, trong khi đó công an thành phố Nha Trang dẹp bảng, cấm Ngài dạy đạo! và luôn chờ cơ hội để bắt giam.

Ngài cũng dùng Thiền để trị nhiều bệnh cho chân tử, cho thân nhân của bậc tín tâm rất hiệu nghiệm. Trong rất nhiều trường hợp nhưng tôi chỉ ghi một vài việc đặc biệt sau đây: Ông Diệp Ngọc Châu, người miền Nam ra Nha Trang làm việc. Ông có một đứa con trai 4 tuổi mà chưa ngồi và đứng được, thân hình nó mềm, bộ xương thân thể rất yếu. Ông không tin trời, đất, không tin đạo giáo nào và đặt tên cho thằng con là Diệp Ngọc Hoàng. Nhà cũng có tiền mà các Bác sĩ đành chịu không chữa trị cho thằng bé được. Một hôm được người quen mách, ông đến xin Ngài chữa trị giùm đứa con ông.

Ngài dùng Thiền Định giúp đứa bé đi lại như thường và bảo ông Châu lập tức đổi tên Ngọc Hoàng lấy tên khác. Sau đứa bé đến tuổi đi học được thông minh. Ông Châu mới hồi hướng tin tu theo Phật Đạo.

◊ Mỗi lần Ngài giáng lâm viếng thăm tỉnh nào thì tối hôm trước mưa lớn, sáng hôm sau xe chạy đường xá sạch trơn, không khí mát mẻ lạ thường. Còn biết bao nhiêu là sự sự mà Ngài đã hành nguyện nếu kể ra không bút mực nào ghi chép hết.

◊ Bà Tạng Hiếu ở Qui Nhơn là chân tử tín thành của Ngài. Bà có mẹ chồng hay bệnh, người yếu muốn chờ gặp con. Bà mẹ chồng của bà Tạng Hiếu đi gặp Ngài xin. Ngài cho sống thêm một giáp nữa (12 năm). Sau đó bà hết bệnh, người bình thường, đúng 12 năm sau được toại ước bà vào chào Ngài rồi về quê để chết. Ngài khen, sao bà không xin thêm mà chỉ chào rồi đi. Chồng bà Tạng Hiếu là Phó Trưởng Ty Lương Thực của Cộng Sản ở tỉnh Bình Định.

◊ Một hôm bà Phương Thảo ở đường Ngô Thời Nhiệm Sài Gòn thỉnh Đức Tăng Chủ chiều đến nhà để bà cúng dường một buổi cơm. Sáng tôi ghé thăm trước để quan sát, khi vào cửa phòng khách tôi thấy mẹ bà chết đã trên 10 năm với vẻ bực tức ra chào tôi (bà thành ma). Tôi hỏi (bằng tư tưởng) bà trả lời chết vì bệnh tim ở nhà thương Grall Sài Gòn. Trong lúc đó bà Phương Thảo đi cạnh tôi mà bà không thấy mẹ bà.

Tôi kể cho bà Phương Thảo nghe. Bà nghi ngờ và nói. Tòa Thánh Tây Ninh đã nói siêu độ mẹ tôi về cõi Tiên rồi mà. Tôi bảo mẹ bà chết hiện còn trong nhà chưa đi đầu thai được.

Chiều Đức Tăng Chủ đến cũng thấy mẹ bà còn ở trong nhà. Ngài bảo bà thắp ba cây nhang để Ngài kêu gọi 2 Hộ Pháp (vô hình) ở quanh Ngài hướng dẫn đưa mẹ bà Phương Thảo về Tòa Thánh Tây Ninh để sớm hôm nghe kinh kệ. Sau đó bà Phương Thảo khóc và hỏi, Ngài dạy rằng: Khi nào sạch chúng sanh tánh có đủ đức độ từ Bồ Tát trở lên mới siêu độ được. Còn đang tu sửa tánh độc nhiễm chưa hết, chưa siêu độ được tánh của mình tức chưa đủ lực tha độ chỉ tự độ chưa xong thì không sao siêu độ cho ai được.

Có thể nhiều vị hợp lại thành tâm siêu độ nhưng lên cõi Tiên ở một thời gian ngắn cũng bị trở về cõi nhân gian hay âm cảnh chờ đi thọ thai. Hàng Tôn Giả phải nhiều vị cùng nhiều Hộ Pháp mới hy vọng siêu độ được. Nhưng thế gian làm sao gặp nhiều vị này được, chỉ đương thời có Phật Thích Ca và Phật Di Lạc mới có thể hiện đầy đủ. Dù có đủ đức độ nhưng chưa được chư Phật hay chư Bồ Tát chứng minh nhập thể cũng phải chờ một hay nhiều kiếp được chứng minh mới thừa hành Đại Lực của chư Phật được.

Cũng như nhiều bác sĩ ra trường chưa được bổ nhiệm làm trưởng ty y tế, giám đốc, bộ trưởng thì chữ ký không có quyền rộng lớn để mọi người phải thi hành. Tu tập nhiều năm với Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc giữa thời Hạ Lai Mạt Pháp mới nhận được sự kiện này một cách thực tiễn.

◊ Phần đông nhân sinh quan niệm tu là phải xuất gia ở chùa mới là bậc tu, Ngài phải tùy phương tiện cho chân tử Ngài tụng kinh, nghi thức y như chùa nhưng Ngài luôn chú tâm khuyên phải sửa tánh xấu hằng ngày cho tốt tụng kinh mới linh ứng. Cũng như chai nước để lâu ngày bị cặn cáu rong rêu bám bị dơ bẩn nếu đổ nước tinh khiết vào uống sẽ bị sanh bệnh. Phải súc cho thật sạch, đổ nước vào uống mới khỏi bệnh.

Tối trước khi đi ngủ ngồi niệm Phật ngay chỗ ngủ không cần ngồi trước bàn Phật, trừ khi tụng kinh phải chỉnh tề y áo trước bàn Phật. Chân tử nào từ trước đã ăn chay trường hay ăn chay kỳ mỗi tháng vài ngày, Ngài bảo phải giữ không nên phá giới. Nếu ai từ trước ăn uống theo tập quán tự do vẫn giữ nhưng cấm sát sanh. Ngài thường dạy rằng ăn chay quý nhưng tâm chay quý hơn. Có nghĩa miệng ăn chay mà tánh còn xấu, độc không bằng bậc ăn sao cũng được mà sửa tánh xấu, tánh độc trở lại tốt vẫn hơn.

◊ Người già không nghe được khai thị Phật Pháp. Ngài dạy cần bố thí, nhẫn nhục, ngồi niệm Phật, tụng kinh A Di Đà, Phổ Môn. Nhiều người quan niệm tu luyện cho mau đắc thần thông Ngài cho thực hiện Tứ nhiếp pháp: Ái ngữ nhiếp, Đồng sự nhiếp, Bố thí nhiếp, Lợi hành nhiếp. Tất cả chân tử khá dẫn dắt người đi sau. Ngoài giờ làm việc thường gặp gỡ nhau đồng hành, đồng sự để cùng tu cùng có lợi, nói năng phải hòa nhã, ai không thực hiện Ngài ôn tồn khuyên giải chí tình.

• Ngài thường bảo thi hành Lục Ba La. Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, thiền định. Tôi nghe như vầy:

 √ Bố Thí độ Địa Ngục. Bố thí người nghèo khó, cúng dường Tam Bảo sẽ được phước báo sung sướng. Nếu gặp Thánh Tăng cúng dường với lòng thành sẽ có kết quả tốt ngay hiện tại và mai sau. Nếu Bố Thí Pháp, biết nói lời ích lợi của thiện căn để kẻ đang gặp hoàn cảnh khổ thoát khỏi lo âu, khổ sở. Đó là cúng dường Như Lai, cúng dường Chư Phật. Nếu tinh tấn như vậy sẽ độ được chúng sanh tánh của mình và độ được chúng sanh tánh kẻ khác. Kết quả bậc này sẽ thoát nơi địa ngục, thoát trần lao khổ ải. Bố thí không bao giờ khoe khoang kể lể nên gọi là bố thí Ba La Mật sẽ được hoàn mỹ cứu độ xong Địa Ngục. Xây dựng chùa tháp cho chúng sanh có nơi tu hành cũng là hình thức bố thí để cúng dường Chư Phật.

 √ Trì Giới độ Ngạ Quỷ. Đối với Ngài, thường dạy Tứ Chúng phải nhớ giữ giới. “Tất cả việc ác nhỏ phải bỏ, tất cả việc thiện nhỏ đều làm.” Chủng tánh ngạ quỷ thường buông lung, nói năng bừa bãi, tiêu xài không đúng cách, hoặc keo kiệt, thường ưa thích kẻ nịnh bợ để có tiền của. Ai trái ý thường sanh tâm thù ghét. Đó là cảnh giới ngạ quỷ. Ngài dạy phải trì giới tự sửa tánh buông lung, dùng trang nghiêm để tự độ không còn bừa bãi, thoát khỏi ngạ qủy. Thành thật tâm để giải vọng ngữ, thường giúp đỡ cho những người chung quanh mình được sửa đổi, nhờ như thế mới thoát khỏi ngạ quỷ căn. Đó chính là Trì Giới.

 √ Tinh Tấn độ Súc Sanh. Tinh tấn là pháp môn giải độc nhiễm rất hữu hiệu. Tinh tấn độ được súc sanh pháp. Súc sanh tức là dục vọng thèm muốn, thèm khát, ước mơ, đòi hỏi nơi ái dục. Nguồn gốc từ nơi sắc như danh vọng, vật chất tiền bạc... tình yêu... Từ nơi sắc, thấy thích sanh ra ái rồi đến ái dục nên không bao giờ chịu rời xa gọi là ái nịch cột chặt. Từ ái nịch sinh ái tình mà bị nhiễm. Chẳng hạn như mong muốn danh giả bị lầm nơi địa vị danh vọng cho thỏa mãn gọi là căn của súc sanh. Từ nơi sắc thành tựu thì vui mừng, lúc bị thất bại địa vị, danh giả không còn sắc liền sanh tâm buồn khổ, oán hận đời sa vào súc sanh cận kề địa ngục. Đau khổ, oán trách đời liền sanh tâm gây tạo việc ác bị thọ báo cực hình ở Địa Ngục.

 √ Nhẫn Nhục độ A Tu La. Lúc tức giận, nóng nảy thường tạo vô minh đốt hết công đức. Do tánh nóng giận mà tạo nghiệp gây gỗ, giận hờn, oán thù gây nhân quả sanh tử, tử sanh. Nhẫn nhục chính độ được nóng giận gọi là độ A Tu La. A Tu La tàn phá phước điền. Bậc biết nhẫn nhục mới độ được A Tu La nóng nảy thôi. Hiện tại bậc tu dù tụng kinh vài chục năm, dù ăn chay trường mà không chú tâm sửa tánh nóng giận thời nghiệp quả càng lúc càng tăng. Nếu dứt được chủng tánh nóng giận, nghịêp quả khổ không còn phát sinh được, không còn sa ba đường ác ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. A Tu La đạo làm che khuất Phật Tánh, làm lu mờ Phật Tánh không lộ diện được. Do đó bậc tu cần nhẫn nhục để nhiếp độ.

 √ Trí Tuệ độ Nhân. Trong lục đạo thì cõi Nhân chấp đứng thứ nhất. Cõi nhân trọng Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, thấy khác ý liền chướng, nghe khó chịu liền ghét, chê bai trở thành chấp trụ. Do đó càng học cao càng cho mình đúng trở thành thọ ngã, trở thành càng chấp trụ bấy nhiêu. Cõi nhân dụng trí tuệ học hỏi trở thành trí thức liền có lý lẽ nơi mình làm lối sống, khác lý lẽ liền chấp nên đóng khuôn gọi là pháp giới. Đã chấp đương nhiên trụ, rất khó giải, nó là căn bệnh trầm trọng làm cho bậc này thường nghi, thường bày tỏ trong nhân sinh làm điên đảo không tu hành kết quả được.

Nói đến cái chấp, nghi của cõi nhân không kể ra hết được. Bậc tu phải dùng trí tuệ giải nghi, phá chấp để độ chúng sinh mới có trí tuệ căn bản để đi con đường tri kiến được. Biết nhận được cá tánh bị chấp trụ sẽ không còn vọng đảo. Tu hành không còn xa lìa Thể Tánh, được tu thực tiễn sát thực. Nếu dùng trí tuệ trí thức do học hỏi chỉ giúp cho tu theo Phước Thiện thôi.

 √ Thiền Định độ Thiên. Là môn nhiếp độ Thiên Đạo. Tu cầu vái van xin là của Tiểu Thừa. Thường thì tùy căn cơ của mỗi chân tử mà Ngài cho ngồi bán già niệm Phật một năm mới dạy Thiền song song hàng tuần được dạy Giáo Lý làm cho bậc tu ý thức được Thiền là để ổn định tư tưởng, ổn định tánh tình, ý thức được Thiền lúc gặp hoàn cảnh tự soi sáng giải quyết việc nhà, việc sở trong cuộc sống trở nên hợp lý, chứ không phải Thiền để trông chờ phép lạ.

Nếu chưa ý thức rõ ràng chủ đích của Thiền là trực giác thì dễ bị Tẩu Hỏa Nhập Ma. Dễ bị điên vì Thiền rất nguy hại. Nếu đúng đường Thiền rất có lợi vô kể, nên Thiền cần theo bậc đã được Tâm Truyền. Thời Hạ Lai Mạt Pháp từ nay đã có Tâm Ấn không lo sợ bị lạc vì suốt 37 năm hành đạo Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đại diện Tam Thế, Ngài đã lưu lại hậu thế rất cặn kẽ tỏ tường và rất tỉ mỉ. Đường đi đã vạch, mục đích đã rõ, chỉ chờ hành trang bậc tu thành thật tâm, thiết tha tâm ắt được gặp Bồ Tát độ hữu hiệu. Sau một năm Ngài quan sát được mới Truyền Thiền. Người chân tử nào ngồi niệm Phật và Thiền do Ngài truyền đều lay chuyển thân, đó là Mật Tôn chứ không phải cô, bà nhập.

Sau này có người không còn tín tâm cũng đem Thiền của Ngài dạy bừa bãi, ai ngồi cũng lay chuyển nhưng không phải Tâm Truyền Tâm Ấn, chưa rõ sự di chuyển của Mật Tôn, không rõ bản đồ tu Thiền phần kế tiếp cũng không tiến lên cao được. Phật đạo không hề có tu luyện. Tu Thiền mà luyện sẽ tạo pháp giới an hưởng thuộc ngoại giáo. Tỷ như dùng tư tưởng định (định tưởng) cho tan mây, cho có một vị Phật, Thánh trước mặt. Đó là tạo một pháp giới. Sau khi thành tựu sẽ làm trời mưa, gió, tiên đoán đúng việc đời, việc gia đình... làm cho chúng sinh tưởng là chân lý cao siêu. Tu Thiền như vậy gọi là chấp pháp là dừng trụ không biết pháp giải sinh tử luân hồi, không biết Tri Kiến Giải Thoát là gì? Không hề có Đắc Đạo bao giờ. Vì sao?

Vì không thấy, không biết được thế nào là vô minh nên không giải trừ được vô minh. Chỉ sống lầm lạc trong một pháp giới, mãn kiếp bị diệt gọi là sanh rồi diệt. Đương thời hạ kiếp này Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc Ngài dạy rất cặn kẽ cho chân tử Ngài không hề có một ai hàng Hộ Pháp đến Tôn Giả hay cao hơn tu luyện bao giờ.

Bậc tu niệm Phật buồn ngủ, xem kinh, ngồi thiền tọa uể oải nên, cúng dường chư Bồ Tát. Nhờ nương công đức này mà nghiệp thức được hóa giải sau phát tâm Đại Nguyện tu tập theo Pháp Môn Tri Kiến Giải Thoát.

Bậc biết tu tâm là bậc biết sửa tánh xấu, tánh độc, biết hóa giải vạn pháp nơi Nghe - Thấy - Biết một ngày nào sung mãn trở nên thanh tịnh đến nhãn tịnh, nhĩ tịnh. Còn bậc chưa biết tu tâm hay chê pháp không hợp ý mình, hay khinh người đang độ khổ, hay căm ghét người đi vào đủ vạn pháp để độ sinh, thích tránh xa pháp gì mình không ưa, không muốn. Đó là pháp của Tiểu Thừa, êm êm tịnh tịnh, đè ép tâm tịnh.

Bậc biết tu tâm và bậc chưa biết tu tâm, hai bậc này khác xa nhau, cách biệt nhau, chẳng khác nào một người ở Nam bán cầu còn kẻ kia ở Bắc bán cầu, hai người không bao giờ gặp được nhau. Tu như vậy chẳng khi nào tiến lên Đại Thừa cho được. Vì sao? Vì một bên diệt pháp ép tâm để Tịnh Tâm tức nhiên tâm bị Tịnh. Tâm bị tịnh này phải xa lìa tiếng động trái tai bên ngoài, gạt bỏ cái nghe chướng ngại làm không chịu nổi, làm toàn thân khi nghe phải sống trong u buồn đau đớn y như bị tra khảo. Còn cái thấy né sợ động tâm, toàn thân tê liệt chỉ vì tâm không ưa chịu mà phải thọ thân khổ không sao tháo gỡ ra cho được. Tu như vậy khó đến thành tựu.

Bậc biết nhiếp tâm là bậc dung thông được cái nghe, cái thấy. Nghe gì cũng được, thấy gì cũng biết nhận chân, đã từng chịu đi trong chướng ngại, chịu đi trong ngăn cách để nhiếp độ chướng ngại, ngăn cách. Từ nơi cái thấy, cái nghe vạn pháp: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, không còn chướng đối cách ngăn giữa hai tướng Nghe - Thấy kết chung về một tướng trực giác Nhãn Tịnh - Nhĩ Tịnh.

• Tham – Sân – Si

Chư Phật rất quan tâm vấn đề THAM - SÂN - SI, dùng đủ phương tiện khai cho chúng sinh thị để hóa giải sạch Tham Sân Si. Thời Đức Tăng Chủ Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cũng vậy. Một hôm tại căn gác gỗ số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang tức Trung Ương Hội Thượng, tôi nghe Ngài khai thị như vầy: làm thế nào để hết Tham Sân Si mới giác ngộ?

“Hàng Tiểu Thừa sợ tham khởi vọng nên tận diệt tham. Càng diệt nó càng sinh. Khi nào tánh còn nghi ngờ, còn vọng đảo thì chính vẫn còn tham vọng chưa tỏ hết tận gốc tham. Tham không phải diệt nó, nó mới hết tham, chỉ tận giác thì nó không còn một cái tham.” –T.V.

• Sao Gọi Là Càng Diệt Nó Càng Sinh?

Tỷ như cái lò xo nếu ta lấy tay ép nó xuống, nó nằm im nhưng nếu ta lơ là vô ý nhích bàn tay lên lò xo bung theo lên vì thể tánh của nó là nhún do lầm mê mới đè ép nó, không thể đè ép mãi, mà phải nương theo tự nhiên của nó. Cũng như thèm ăn, cứ nhịn sợ ăn bị tội lỗi, do lầm nên khi gặp món mình ưa thích cứ thèm không sao dẹp tư tưởng động loạn được. Nếu thèm cứ ăn, ăn đã hôm sau thấy hết thèm. Vì đã ăn rồi, đã biết rồi nên tự nó không còn thèm nữa. Đó là tâm đã tịnh được một pháp.

Thời hạ lai xã hội phát sinh đủ thứ, phức tạp hỗn loạn quá nhiều so với thời Đức Thế Tôn xã hội đơn giản. Nếu diệt, chúng sanh không tỏ pháp, phải tinh tấn phá mê chấp để sạch lý tham. Khi đã không có tham thì nào có sân hận. Lúc đã không có sân hận thì nào có si mê.

Câu chuyện Đức Tăng Chủ Tịnh Vương kể dưới đây để chỉ tham sân si: “Một Trưởng Giả kia có một cây cam trái sum sê tươi đẹp ngay trước cổng lâu đài. Một Đạo Sư nhìn thấy cây cam tươi đẹp, thích thú đến thưa với trưởng giả để xin cây cam ấy về trồng trước sân chùa. Vị trưởng giả trầm ngâm nói với Đạo Sư. Tôi không thể cho Đạo Sư một cây cam mà Đạo Sư cũng không thể bứng lấy cây cam này đem về trồng trước sân chùa mà nó sống được.

Nếu Đạo Sư muốn có cam thì tôi tặng cho một quả để đạo sư gieo trồng sẽ đặng 20 cây cam. Đạo sư không hiểu sanh tâm sân hận rồi oán trách trưởng giả nhỏ nhen không cho mình một cây cam mà cho một trái cam. Đó cũng gọi là si. Từ chỗ si mê mà có tâm sân hận. Đó cũng gọi là sân, bởi chỗ lầm mà vướng chịu tham lam.

Sư cũng nên biết, được một quả cam có thể ươm trồng thành 20 cây cam thì đạo sư có sử dụng 20 lần tham nhưng biết đúng, hợp lý không có phải là tham. Tham không, sân cũng không có chỗ nương tựa mà phát sinh nên không còn si mê điên loạn.” –T.V.

Bậc tu hành nhận biết được thế nào là tham sân si thật khó khăn vô kể. Nó không đơn thuần như chúng sanh nghĩ. Khi không có vọng đảo thì liền chẳng tham. Cho nên khi dạy đạo cho Tứ Chúng tu hành Ngài thường chú tâm nhắc nhở: “Các ông tham vọng điên đảo, si mê chướng đối trở thành vạn pháp muôn trùng hóa thành vô minh pháp giới. Ta thật biết tỉ mỉ mà còn biết hơn thế nữa. Ta trơn liền chẳng có tập khí, khi không có tập khí thì nào có khởi sanh, khởi diệt. Đã không khởi sanh, khởi diệt thì Tâm bình đẳng dung thông. Gốc của Tham Sân Si do bởi vọng đảo mà thành gọi là tham vọng.” –T.V.

Vị Đạo Sư mừng rỡ tán thán Đức Di Lạc Tôn Phật, Phật pháp Ngài trao thật vi diệu, thật khó nghĩ bàn. Đạo sư cùng tứ chúng đồng đứng lên đảnh lễ Đức Tăng Chủ vì đã được Ngài khai thị về tham sân si nguồn gốc của mê lầm chưa giác ngộ được.

Về tham sân si Ngài dạy cho chân tử có nhiều lớp với nhiều phương tiện không thể nghĩ bàn. Những chân tử ở xa, cả đời mới về gặp Ngài vài lần, Ngài thường dùng Ái ngữ để nhiếp độ cốt cho chúng sinh đó biết tin, ái kính Ngài để có đi xa cũng nhớ tình mà lo tu theo kinh sách và lời Ngài. Còn chân tử ở gần thường gặp Ngài, nếu phát tâm tu cầu giác ngộ, Ngài thường phương tiện dùng Vi Diệu Pháp, không lường được.

Pháp Nghịch Ngài dụng cho chân tử tham tiền, của, danh, tình… vào cuộc làm ăn kinh doanh có chức phận đến khi bị kẹt thua lỗ, nợ nần, mất chức, mất danh bậc tu như chơi vơi giữa dòng tiến cũng không được, mà thối lui cũng không xong. Gào thét, tức tối, đâm ra chán bỏ tu, sau trực giác được cái tham về sám hối tu tiếp dần dần tỉnh cái tham./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


27. Giác Tướng

Đã đắc Chân Lý cũng chỉ là Lý Chân thôi, chớ chưa phải là Chân Lý. Các người hãy nương vào Chân Lý để thành tựu sung mãn. Bằng chấp lấy cái Chân Lý vừa đến cho là Chân Lý sung mãn thì thật là vô lý không bao giờ đến.
Cũng như kẻ hiểu được bên kia có hồ sen, nhưng chưa đến hồ sen. Đối với Chân lý cũng vậy.

Vô Sư Kinh

 

Ngài không viết Kinh. Sau Đức Bảo Tạng Phật khuyên Ngài nên viết Kinh để đời này không hiểu những đời sau tu tự tánh sẽ hiểu.

* * * * * * *

Thế nào gọi là Giác Tướng?

B
ỐN NHIỆM VỤ TRỌNG YẾU XÂY ĐẮP THỜI MẠT PHÁP.

Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc, bậc Vô Thượng Chân Tôn có bốn nhiệm vụ trọng yếu xây đắp nhân sinh tứ loài thời Mạt Pháp.

• "Nhiệm vụ thứ nhất : Mang hạt giống Như Lai Giác Tướng để chứng minh tứ loài Thọ Ngã Giả Tướng về nơi Giác Tướng."

Hạt giống Như Lai vốn sẵn bao trùm tứ loài là noãn-sinh, thấp-sinh, hóa-sinh, thai-sinh. Noãn-sinh thuộc loài sinh ra từ trứng. Thấp-sinh thuộc loài sinh từ nơi ẩm ướt hay từ nước. Tiên, Thần thuộc hóa-sinh. Loài người thuộc thai-sinh. Hạt giống Như Lai khắp trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


26. Đạo Đức

Muốn đoạt đến Thánh Trí sự Nghe, Thấy, Biết được viên thông, các chân Phật tử hãy Chánh Tín vào lời GIÁO NGÔN của Ta. Thời bậc ấy sẽ bước vào nơi Thánh Trí mới nhận đặng Ta.
Bằng phàm phu tự Ngã, tự kiêu, tự cho mình là đúng đắn chỉ phê, nghi kỵ không lãnh được Giáo Ngôn thì dù tu đến vạn kiếp còn vòng trong Lục Đạo biến diễn không ngừng.
–Vô Sư Kinh

Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng, trên căn gác gỗ số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc nhập chánh định, quán xét chùm khắp tầng lớp chúng sinh tu hành lầm lạc, Ngài trịnh trọng tự gài lại nút ở cổ áo bà ba trắng, thắp bảy cây nhang trên chánh điện ở gác gỗ, Ngài ngồi nghiêm trang khai thị tôi nghe như vầy:

"Trước tiên bậc tín tâm làm phẩm công đức hữu lậu: Cúng dường như mua sắm lễ vật, hương đăng hoa quả, lễ bái dâng hương, cúng dường chiêm ngưỡng. Công đức này tạo Phước Báo Nhân Thiên. Khoảng 100 kiếp cúng dường, chiêm ngưỡng mới đủ chuyển đường tu sang giai đoạn hai, nhưng chưa nghe được giáo lý.

Đến giai đoạn hai bậc tín tâm mới phát tâm cúng dường như xây chùa, lập tháp cho Chư Tăng tu tập, mình cũng tu hành, lễ bái trai đàn, cung kính lập thiện căn, làm phước thiện, cầu Tam Thế chứng minh. Công đức cúng dường này vẫn phải trên 100 kiếp, cũng chưa thích nghe giáo lý.

Đến giai đoạn ba, bậc tín tâm vẫn dùng phẩm công đức cúng dường Tam Thế, vẫn phải trên 100 kiếp. Như vậy bậc tín tâm phải tu 300 kiếp mới sung mãn Công Đức Hữu Lậu mà bước sang công đức Vô Lậu. Giai đoạn công đức hữu lậu có thể kéo dài hơn nữa nếu bậc tu bê trễ, tánh tình bủn xỉn, keo kiệt, tâm không rộng mở, tu cho có tu." –T.V.

Chân tử đang dâng hoa quả lên bàn thờ Tam Thế tại Las Vegas, Hoa Kỳ

Công đức Hữu lậu chưa sung mãn, công đức vô lậu không bao giờ có kết quả. Công đức hữu lậu sung mãn như nhiên chuyển đường tu đến công đức vô lậu được vững vàng. Được Chư Thiên, Long Thần Hộ Pháp, Địa Thần giúp đỡ, dẫn dắt cho gặp Chư Bồ Tát, Chư Tôn Giả, Chư Hộ Pháp để tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

Do vậy, nhiều bậc tu không thích nghe giáo lý trên con đường giải thoát là vì chưa đủ công đức cần có để tu lên lớp, họ chỉ thích tụng kinh, ăn chay, chiêm ngưỡng tướng Phật, nếu có nghe giáo lý thì buồn ngủ, uể oải, có việc cản trở không cho nghe. Nghe bậc giác lại khó hơn.

Tỷ như một người xây một căn nhà, trước tiên việc phải làm là cái móng nhà phải vững chắc. Càng lên cao tầng chừng nào sức nặng càng lớn, móng nền nhà phải vững chắc đến mức tương xứng mới giữ cho căn nhà bền lâu vững chắc. Nếu móng nhà không tương xứng, nhà sẽ bị đổ. Bậc tu cầu tri kiến, tri kiến giải thoát, giác ngộ rốt ráo cũng tạo công đức hữu lậu sung mãn hiện kiếp mới thọ lãnh công đức vô lậu và tùy từng lớp lớp bậc tu mà đạo đức mỏng, thấp, dày, cao, để thọ lãnh Bảo Pháp ở bậc Thiện Tri Thức rất là bình đẳng.

Tỷ như trời mưa, nếu có người đem cái ly hứng nước đầy ly, nếu cứ hứng nước tiếp, nước sẽ tràn ra đất. Có hứng mãi cũng vô ích. Nếu có người đem cái chén, cái tô, cái lu... nó cũng đầy từng cái. Nếu hứng nước nữa, nó sẽ tràn ra ngoài. Bậc Thiện Tri Thức rất biết, rất tường tận Bình Đẳng Tánh Trí nên tùy chân tử mà ban cho lớp lớp. Nó phải vậy. Đạo đức Chư Phật đã tạo được trong vô lượng vô biên.

Tạo công đức nếu có ai chê, trách móc cần hỷ xả mới có đạo đức. Nếu tạo công đức mà không hỷ xả chỉ lãnh phước thiện được thọ báo sung sướng là cùng...

• Hỷ Xả Là Đạo Đức

Qua ba giai đoạn trên, bậc tu đã tín tâm thù thắng lập Bồ Tát Hạnh như: Bố Thí – Trì Giới – Tinh Tấn – Nhẫn Nhục – Trí Tuệ – Thiền Định gọi là Lục Ba La. Lại dùng Bi – Chí – Dũng, Giới – Định – Tuệ để tu Tín Hạnh Nguyện. Sự tu hành Lý Sự đều nằm trong phẩm công đức, Đạo Hạnh cúng dường Ba La Mật Đa. Bậc tu phải nguyện vượt mọi trở lực cản ngăn gọi là Bồ Tát Nguyện. Đến lúc sở đắc Chân Không mới có Áo Giáp Bền để tu vào con đường Hành Thâm Pháp Giới, cố thâm nhập mà đoạt đến Bát Nhã Trí.

Đến Bát Nhã Trí như nhiên công đức hữu lậu trở thành công đức cúng dường vô lậu. Tức cúng dường Như Lai, thành tựu sung mãn Quốc Độ Bồ Tát. Đến đây Ngài dừng lại, uống một hớp trà rồi khai thị tiếp:

Nếu bậc tu hành tạo được đạo đức, ít nghe hoặc không chịu nghe giáo lý, về sau chỉ được hưởng Phước Báo Nhân Thiên chứ không đạt được Tri Kiến Giải Thoát.

Nếu bậc tu tin Phật, thường khảo cứu kinh sách, thường nghe giáo lý, phá bờ ngăn chấp, tâm rỗng rang, được tự tại, vô ngại mà không cố tạo đạo đức, đương nhiên trí tuệ phát sinh tự ngã, sẽ sa vào đại cường hay bất tịnh rồi trở nên ngông nghênh.

Nếu bậc tu tinh tấn làm tròn được đạo đức – giáo lý nhưng công phu thiền kém thì lúc thành tựu chưa tròn. Vì sao? Vì thiền kém nên không biết sự di chuyển Như Lai Tạng, không biết vũ trụ và con người vốn là một, nó nhịp nhàng giao cảm. Lại nghi ngờ các cảnh giới trong tam thiên như địa ngục, tiên, thần...lại cho là không có. Thiếu điều kiện như vậy cũng không bao giờ Tri Kiến Giải Thoát.

Nếu bậc tu chưa hiểu biết gì về giáo lý chẳng tạo đạo đức, chỉ biết tọa thiền, quan niệm thiền là pháp môn giải thoát, thật nguy hại to lớn. Vì thiền nó vốn thấy thường diễn cảnh, thường biến hóa, nó tùy theo trí tuệ, theo nơi tham muốn mà diễn biến. Nếu bậc tu thiền chấp nhận liền trụ chấp dễ vấp phải cuồng tín. Khi chánh giác mới xác thật.

• Bậc tu thiền có thể mắt thấy, tai nghe cõi trời, nhạc trời cùng các tiếng nói của tiên, thần, qủy quái giống như xem vô tuyến truyền hình. Đó là Tâm Sanh Cảnh không phải thật lại lầm xưng mình tu thành Phật–Thánh–Tiên hóa ra điên khùng, bậy bạ thật có hại vô kể vậy. Thời pháp thật quý cho tất cả." –T.V.

Tỷ như thời Đức Tịnh Vương đang còn tại thế, Ngài dạy và truyền thiền cho tất cả chân tử Ngài. Tỉnh nào có chân tử Pháp Tạng tu hành đều có tổ chức thành lập đạo tràng gọi là Pháp Bảo Tỉnh Hội, Pháp Bảo Quận Hội do Ngài chứng minh. Hàng Hộ Pháp hay Tôn Giả được Ngài tuyển chọn làm đại diện được hướng dẫn tín chúng tu hành.

Đối với Đức Tăng Chủ Tịnh Vương, hàng Hộ Pháp hay Tôn Giả do Ngài đào tạo, họ rất tín thành và Tin Vâng Kính. Họ chỉ bày cho các chân tử nào tu tập cũng đều đem về Trung Ương trình diện Ngài để được khai mở chân lý và truyền Như Lai Thiền. Ngài nghiêm nên không một Hộ Pháp hay Tôn Giả nào dám tự ý làm sai Tôn Chỉ và mục đích Tri Kiến Giải Thoát. Nếu có, người ấy liền bị loại vì thiếu Tín Hạnh Nguyện. Tu cầu giác ngộ nó phải vậy, nếu không trăm kiếp cũng không đạt kết quả. Tu tự ý muốn thì sao cũng được nhưng thiền dễ gặp nguy hiểm.

Bậc tu thiền chủ yếu rất cần Thiện Tri Thức nếu không, như kẻ không biết lại lấy sạn đá đem nấu để mong thành cơm. Thật tai hại vô kể. Những chân tử tín thành, tùy công đức, tùy trí tuệ, Ngài đều dắt đi Tri Kiến Giải Thoát, không hề cho ai tu luyện thần thông bao giờ.

* Một hôm sư Quân ở Nha Trang đến thăm Tịnh Thất của Đức Tịnh Vương, đang nằm chung với Ngài sư Quân nói: Thầy truyền Thiền cho tôi. Ngài trả lời: Tín Hạnh Nguyện Ta truyền Thiền cho. Sư Quân không đảnh lễ, không bái Ngài để thọ pháp. Dù Ngài có truyền thiền thì sau này cũng bị lạc nên Ngài làm thinh.

Thời nào cũng vậy, dù thượng cổ cho đến thời văn minh khoa học, Đức Di Lạc luôn y tôn, y chỉ theo chư Phật mười phương ba đời khi hành đạo, chỉ dạy cho các chân tử.

Thiền lại rất có lợi vô kể nếu bậc tu đã hiểu biết chân lý Phật pháp. Thiền giúp cho bậc tu trực giác vạn pháp, những hoàn cảnh dù rắc rối đến đâu trong cuộc sống phức tạp đối diện hàng ngày, nó giúp cho tâm trí hiểu biết tự giải quyết thích hợp thỏa đáng mà chúng sinh phải ngạc nhiên. Nó rất thích hợp trong gia đình, trong sở làm việc, trong trường học, trong các ngành, nghề...

Thiền giúp con người trầm tĩnh, dần dần hết vọng tưởng, hết ảo tưởng, không ảnh hưởng đến thực tế, không còn lầm mê, về Nhất Tướng mà Tri Kiến Giải Thoát. Nhất Tôn Pháp Tạng luôn tri ân TAM THẾ PHẬT, thành kính cung thỉnh ba đời Phật chứng minh đầy đủ phẩm công đức, công năng tu hành của chân tử giữa thời Đông Độ được kết quả Tri Kiến Giải Thoát. Đức Tăng Chủ Tịnh Vương Nhất Tôn đại diện Tam Thế Phật giữa thời Hạ Lai Đồng Độ chỉ dạy tu hành trọn hết tứ thừa: Tiểu, Đại, Nhất, Tối Thượng Thừa, nên chi:

– PHỤNG THỜ: Đức Phật Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tiêu biểu Hiện Giác.

– GIÁO HIỆU: Pháp Tạng Tỳ Kheo A Di Đà Phật tiêu biểu Duy Nhất Tối Thượng.

– GIÁO LÝ: Vô Thượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Do lẽ đó mà bậc tu phải Tin Vâng Kính bậc đã Chánh Giác để chỉ đạo đầy đủ ba yếu tố: Đạo Đức, Giáo Lý, Thiền Tọa đặng tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát. Buổi ban đầu phải công phu Thiền Tọa đều đặn, cỗi giải ngăn chấp, sửa đố tật, sửa tánh luôn hỷ xả gây tạo đạo đức. Đó chính là phá vô minh. Nghe bậc Thiện Tri Thức đã giác ngộ giảng giáo lý Phật pháp, xem kinh Phật cần đầy đủ ba yếu tố trên, không nặng môn nào cũng không nhẹ môn nào. Đều đặn điều hòa dung thông đầy đủ sẽ được Tri Kiến Giải Thoát, giải thoát rốt ráo.

Tôn giáo PHÁP TẠNG y chỉ y tôn ba đời Phật, về phần giáo lý giảng giải đầy đủ tất cả KINH LUẬT LUẬN cốt khai thông Đạo Pháp, giải chấp phá mê, thân, khẩu, ý hướng thượng tu đến Tri - Kiến - Giải - Thoát./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


25. Pháp Môn Thực Tiễn Theo Vết Chân Chư Phật

Đức Tăng Chủ Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc quyết định giúp các chân tử tín tâm cầu đạo, phải thi hành ba điều cần thiết để đạt mục đích Tri Kiến Giải Thoát:

ĐẠO ĐỨC + GIÁO LÝ + TOẠ THIỀN = TRI KIẾN GIẢI THOÁT

Bậc tu cần tăng trưởng điều hòa sẽ đến Tri Kiến Giải Thoát./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng