4. Chúa Giêsu và bà Maria đã tái sinh tại VN

4. Chúa Giêsu và bà Maria đã tái sinh tại VN

Bà Phạm-Thị-Ngọc-Anh, Pháp danh Diệu-Tuệ.

Bà Phạm Thị Ngọc Anh và con trai Võ Thiên Giao tại Thảo Cầm Viên, Sài Gòn năm 1986. Chính là bà Maria và Chuá Jesus nay lai sinh tại Việt Nam.

Bà Phạm Thị Ngọc Anh ở Phan Thiết cùng cha mẹ tập kết ra Bắc theo hiệp định Geneve năm 1954. Đến năm 1975 biến cố lịch sử ở Miền Nam Việt Nam, bà trở về Nam năm 1978, là một cán bộ Cộng Sản đang làm việc tại Sàigòn. Chồng bà tên là Võ Thịnh, cán bộ cao cấp ở sở Ngoại Vụ thành phố Sàigòn. Bà sanh được một người con gái ở Bắc, vào Nam sanh thêm một người con trai tên là Võ Thiên Giao. Gia đình ông bà nội của bà Anh tin Đạo Phật và xây chùa ở Phan Thiết để tu hành. Chính bà Anh mặc dù ở ngoài Bắc nhưng vẫn tin Đạo Phật. Do một nhân duyên bà vào tu trong Pháp Tạng, được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật ban cho pháp danh là Diệu Tuệ. Một hôm, bà thưa với Đức Di Lạc tại Trung Ương Hội Thượng Nha Trang sự nghi ngờ cái Thấy của bà chưa được rõ, nhờ Ngài giải.

• Đức Di Lạc Tôn Phật đã xác nhận mẹ con bà Diệu Tuệ là Maria và Chúa Jésus.

Đức Di Lạc Tôn Phật đã xác nhận chính bà Diệu Tuệ là bà Maria, mẹ Chúa Jésus ngày xưa. Sau đó, Đức Di Lạc hỏi bà Diệu Tuệ con trai bà nay bao nhiêu tuổi.

Bà Diệu Tuệ: – Thưa đang học lớp một.

Đức Di Lạc: – Còn nhỏ quá.

Ngài đã biết và chính bà Diệu Tuệ trước đó cũng nghi ngờ nay đã biết rõ con trai bà hiện tại tên Võ Thiên Giao chính là Chúa Giêsu hạ sanh trở lại, nhưng nay còn nhỏ quá chưa gặp Đức Di Lạc được.

• Bà Maria và Chúa Jésus là ai?

Cách đây 2538 năm Phật Lịch, Thái Tử Tất Đạt Đa ra đời, đến năm 19 tuổi cưới công chúa Da Du Đà La và sanh một con trai tên là La Hầu La. Sau Thái Tử bỏ cung vàng, điện ngọc vợ đẹp con thơ đi tìm Chân Lý Giải Thoát, sanh tử luân hồi cứu tứ loài. Ngài đã thành Phật hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau bà Da Du Đà La cũng tu theo Phật Đạo còn con trai La Hầu La lúc đó còn thiếu nhi được Đức Bổn Sư giao cho Tôn Giả Xá Lợi Phất nuôi Đạo và Tôn Giả Mục Kiền Liên chăm sóc Thiền Định cùng sinh hoạt đời sống thường ngày.

Kết quả La Hầu La chứng quả A La Hán được Đức Bổn Sư chứng minh cấp Tôn Giả giác ngộ Mật Môn. Tôn giả La Hầu La là một trong 10 Đại Đệ Tử của Phật thuộc hàng Thánh Chúng, còn rất thấp so với Chư Bồ Tát.

Khi tôi trực giác tiền kiếp biết được bà Diệu Tuệ chính là công chúa Da Du Đà La và cậu con trai Võ Thiên Giao chính là Tôn Giả La Hầu la ngày xưa, tôi đi Nha Trang thưa với Đức Di Lạc Tôn Phật, Ngài cũng xác nhận tôi thấy đúng. Chuyện này bà Diệu Tuệ (Maria) đã biết.

Từ khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Niết Bàn, 600 năm sau Chúa Jésus mới xuất hiện ở Tây Phương. Dù có thần thông Siêu Phàm nhưng Lậu Tận Thông chưa thấu đạt, nay lai sanh tu trong Pháp Tạng chỉ mới nhớ một kiếp thời Đức Thế Tôn là hết. Như vậy, thời Hạ Lai Mạt Pháp này đã giải mã chuyện nghìn xưa.

Đến lúc Đức Di Lạc nhập Bát Đại Niết Bàn, bà Diệu Tuệ chưa Giác Ngộ. Đường tu của bà hiện tại ở hàng học trò của Quán Thế Âm Bồ Tát cùng các vị Tôn Giả cũng là học trò của hàng Bồ Tát mà thôi. Vậy Chúa Jésus là con trai của Thái Tử Tất Đạt Đa là học trò của Phật rất đúng đắn.

• Bà Maria là nữ đồng-trinh? Nên Tu Trực-Giác để loại bỏ ảo vọng.

Chuyện bà Maria là nữ đồng trinh là chuyện hoàn toàn không có sự thật. Khi nghe nhắc lại chuyện này bà chỉ cười. Con người sống 100 năm là một kiếp nhưng thực tế tuổi trung bình chỉ khoảng 70 đến 80 tuổi là hết. Thế giới Cõi Trời của Chúa sống 2000 tuổi, nay thì thế kỷ 20 này Chúa đã mãn tuổi thọ ở Cõi Trời và hiện tại còn sanh tử nơi thế gian. Con người lầm Cõi Trời không chết, sự thật chỉ Bậc Chánh Giác như Chư Phật mới bất tử mà thôi.

Nay bà Diệu Tuệ (Maria) đã có chồng, con trai tức Chúa Jésus đang sống trong môi trường xã hội như vậy nay mai cũng không tránh khỏi phải lập gia đình. Vậy Chủ Chăn cùng Tín Hữu Kito sống tu ép xác để làm gì? Có gia đình thực tế mới giáp mặt với vui-buồn, sướng-khổ, được-mất, có-không. Bậc tu dù ở tôn giáo nào cũng cần Trực Giác mới sống thực tế theo chân lý được. Nay thì Chúa đã hạ sanh tại Sàigòn, Cõi Trời của Chúa đã tan rã, nếu cầu vái van xin về sống đời đời với Chúa là tu theo ảo vọng mong cầu không thực tế chút nào.

Bà Maria sau còn lai sanh một kiếp có tên Võ Tắc Thiên (Wu Zhao), hoàng hậu của Trung Hoa (624 – 705). Về câu chuyện này Ngài đã khuyên bà phải tu thiện căn và bà đã hứa từ đây về sau luôn giữ thiện căn.

Võ Tắc Thiên tiền kiếp của Phạm Thị Ngọc
Anh cũng là Maria.

Một khúc cây, một cục đất nếu ta làm ra hình ông Thánh, ông Phật mà cúng lạy, thì TÁNH THẤY VŨ TRỤ và TÁNH THẤY CỦA TA đồng ứng. Một thời gian hợp hóa, tự nó linh chớ không phải ai ban cho. Chỉ khi nào đến mức Trực Giác cao độ lúc đó mới được Mật Ấn Như Lai Phật hay Thượng Đế ban cho, nhưng chỉ bậc Siêu Thánh mới có được.

Nếu các phái đoàn Tôn Giáo cùng khoa học kiểm tra lại đúng Đức Di Lạc đã Hạ Lai trong thế kỷ 20 này thì các Chân Phật Tử quanh Ngài không thể là phàm phu được mà phải là Hàng Bồ Tát, Tôn Giả, Hộ Pháp gọi là Thánh Chúng, đều có mặt trong Long Hoa, thì bà Maria và Chúa Jésus hiện diện là chuyện thường tình. Đây là chuyện lịch sử có thật ghi chép đúng đắn để vén màn vô minh cho nhân sinh tu thực tế theo con đường Tri Kiến Giải Thoát, không cần cầu vái van xin nữa.

• Chủ Chăn John Paul II thiếu hiểu biết về Đạo Phật.

Qua quyển sách “Crossing The Threshold of Hope” của Chủ Chăn John Paul II, chỉ đề cập đạo Phật qua cấp Tiểu Thừa. Thực ra Phật Đạo còn Đại Thừa, Nhất Thừa, Tối Thượng Thừa siêu đẳng lắm. Tôn Giả La Hầu La chính là Chúa Jésus, Đức Di Lạc đã có ghi là một vị Thánh. Như vậy, cấp tu chứng A La Hán thuộc hàng Đại Thừa còn thấp xa với Chư Bồ Tát lắm./-

Lên đầu trang

PHẦN TRÍCH DẪN TỪ TÀI LIỆU VỀ ĐỀ TÀI “GIÊSU ĐÃ SỐNG, TU PHẬT TẠI ẤN ĐỘ.”

Ban Hộ Đạo chỉ trích dẫn một phần nhỏ cuốn sách “Jesus Lived In India” (GiêSu Đã Sống Tại Ấn Độ) của tác giả Holger Kersten, nhà nghiên cứu về thần học và giáo dục tại Đại Học Freiburg, Đức Quốc. Cuốn sách được xuất bản lần đầu năm 1994 tại Anh Quốc, Hoa Kỳ, Úc Châu. Và đã được tái bản năm 1995, 1996, 1997, 1998, 1999.

• Mục đích của trích dẫn này: Thời gian ở Ấn Độ, Giêsu đã học Phật Giáo với Vị Đại Sư Long Thọ cũng chính là Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật, thế danh Từ Thế Thọ kiếp này. Thời Mạt Pháp Mạt Kiếp, bà Phạm Thị Ngọc Anh (bà Maria) cùng Võ Thiên Giao (Giêsu) đã đến gặp Ngài Long Thọ, Vị Thầy từ tiền kiếp. Xin lưu ý là nội dung sự kiện này trong Kinh “Đức Di Lạc và Long Hoa” đã diễn ra vào thời điểm mà trong đất nước Việt Nam rất nghèo nàn về thông tin. Ngay cả thời điểm hiện nay cũng còn nhiều người chưa biết sự kiện này, trong khi phần khác của thế giới đã được thông tin đầy đủ. Đối với những Bậc có tinh thần cầu Đạo Thực Tiễn thì đây chính là một tiếng chuông thức tỉnh, quay về lối Tu Tự Tánh để đạt được Thiền Trí, Trực Giác. Chỉ có Trực Giác mới đạt cái Thấy, Biết vượt tầm giới hạn bởi Không Gian Thời gian của Chúng Sanh Giới, không còn ngăn cách quá khứ, tương lai. Nên chi “Có Tướng mới Thấy” thì dù là ông này bà kia cũng chỉ là chúng sanh mà thôi.

G I Ê S U
Đ Ã S Ố N G T Ạ I Ấ N Đ Ộ

Cuộc Đời Chưa Từng Được Biết Của Ông Ta Trước và Sau Ngày Bị Đóng Đinh

H O L G E R K E R S T E N

 

 

JESUS ĐÃ SỐNG TẠI ẤN ĐỘ (bìa sau cuốn sách)

Tại sao Tín Đồ Thiên Chúa đã phớt lờ sự nối kết với các tôn giáo Phương Đông, và nhiều lần gạt bỏ rằng Giêsu đã trải qua phần lớn cuộc đời tại Ấn Độ?

Cuốn sách này buộc phải đưa ra bằng chứng không thể chối cãi rằng Giêsu quả thực đã sống tại Ấn Độ và chết ở đó lúc tuổi già. Kết quả của nhiều năm nghiên cứu tỉ mỷ, “Giêsu Sống Tại Ấn Độ” dẫn người đọc đến tất cả các địa điểm lịch sử có quan hệ với Giêsu tại Do Thái, Trung Đông, A Phú Hãn và Ấn Độ. Nó cũng để lộ ra mối liên kết xa xưa giữa người Do Thái và Phương Đông, bằng chứng đó đã được tìm ra bởi Nhà Thần Học Holger Kersten chỉ ra những kết luận giật mình sau đây:

Trong thời trẻ của Giêsu đã đi theo Con Đường Tơ Lụa đến Ấn Độ. Thời gian đó ông đã nghiên cứu, lĩnh hội Giáo Lý Đạo Phật để trở thành một nhà Tâm Linh.

Giêsu đã sống sót khỏi sự kiện ‘bị đóng đinh’.

Sau sự kiện ‘sống lại’ Giêsu đã quay về Ấn Độ rồi chết tại đó lúc về già.

Giêsu được chôn cất tại Srinagar, thủ đô của Kashmir, nơi ông tiếp tục được tôn sùng như một thánh nhân.

Ngôi mộ của Giêsu hiện đang còn tại Kashmir.

HOLGER KERSTEN đã nghiên cứu về thần học và giáo dục tại Đại Học Freiburg, Đức Quốc. Ông còn là một tác giả đặc biệt về lịch sử tôn giáo và là đồng tác giả cuốn sách bán chạy nhất gây tranh cãi, “Mưu Tính Giêsu” với Elmar R. Gruber.

–Nhà xuất bản ELEMENT
Lên đầu trang
Dịch sang Việt ngữ trang 224 và 225 của cuốn sách.

 Trong thời gian Chúa Giêsu sống ở Kashmir, Thung Lũng Hạnh Phúc là một tụ điểm của các tôn giáo, văn hoá, trí thức và chính trị quan trọng đang trên đà phục hưng. Vương quốc Kashmir là địa bàn phần lớn là người của đế quốc Indo-Scythian(1) dưới sự cai trị của Đại Đế Kanishka Đệ Nhất (78 -103 sau Công Nguyên) thuộc triều đại Kushan. Là một người tài ba, nhân từ và độ lượng, nhà vua đã cố gắng liên kết các tập hợp chủng tộc trong vương quốc mình bằng chính sách khoan hồng và độ lượng. Sự phối hợp hài hoà của hai nền triết lý Ấn Độ và Hy Lạp đã đạt đến tột điểm trong nền văn hoá Gandhara. Tâm điểm văn học của điểm hội ngộ hai nền văn hoá này là trường đại học lâu đời tại Taxila, đã được vang tiếng khắp nơi.
Đối với Đạo Phật, vua Kanishka đã thấy rõ một cấu trúc vẹn toàn cho sự nhận thức trong những ý nghĩ của mình, vua đã thỉnh ý kiến chỉ đạo và giáo huấn từ Chư Tăng Phật Giáo. Vua đã bàng hoàng, sửng sốt nhận thấy những lời chỉ dạy của Phật đã vụn vỡ dần trong các trường học và Tông phái. Tuy nhiên, theo sự chỉ đạo của triết gia Parshwa, vua Kanishka đã triệu tập một Hội Đồng Kết Tập Kinh Điển Haran(2) (Harwan tên gọi tại Kashmir) với chủ ý hàn gắn và thống nhất những rạn nứt trong cộng đồng giáo hội bằng cách tiến hành một cuộc khảo sát và nghi thức hoá những kinh điển của Đạo Phật. Hơn 300 năm sau, một hội đồng kết tập kinh điển khác đã được khai mạc- Lần Thứ Tư- với sự tham dự hơn 1500 Vị học giả và Chư Tăng Phật Giáo. Lần kết tập kinh điển này nhằm phát huy một giáo phái mới và Đại Thừa được giữ vai trò là một tôn giáo quảng đại trong quần chúng. Chư tăng của phái Tiểu Thừa (Nguyên Thủy) phải chịu thiệt thòi mất mát những đặc quyền của mình và đã toan tính tìm một thế đứng cuối cùng với vai trò đối lập lại hội đồng kết tập, nhưng họ đã không còn đủ khả năng để cầm chân sự thoái bộ. Sau cùng thay vào đó, phái Đại Thừa đã được công bố chính thức như một tôn giáo độc lập khai mở con đường hoằng hóa cứu độ cho nhân sinh.

Với bản dịch thuật hiện thời của Lalitavistara – kinh điển Đạo Phật phơi bày những tương quan giống nhau so với Kinh Thánh Tân Ước – cũng cùng thời điểm đó.(3)

Địa thế của vùng Haran chỉ cách Srinagar 12 ki lô mét, theo dư luận cho thấy rằng Giêsu đã hiện diện trong kỳ kết tập kinh điển quan trọng này và ngay cả chính Giêsu đã đóng góp một phần quan trọng trong kỳ kết tập kinh điển đó.

Vua Kanishka rất cảm kích với thành quả của hội đồng kết tập, từ đó chính vua đã chuyển thành một Đạo Hữu Phật Giáo và thay đổi đường lối chính sách trị dân, nương theo chiều hướng của cộng đồng Chư Tăng Ni Phật Giáo mà người lãnh đạo tinh thần của giáo hội là Long Thọ(4) Đại Sư, nhà hiền triết lỗi lạc nhất của phái Đại Thừa Phật Giáo.

Lại thêm một dấu hiệu nữa có liên quan đến sự lưu trú của Giêsu tại xứ cổ Kashmir được cống hiến qua kinh sách của Rajah Tarangini, lịch sử xứ Kashmir đã được viết bằng những câu kệ Phạn Ngữ của Pandit Kalhana vào thế kỷ thứ 12 được ghi nhận như là một trong những chứng từ lịch sử chính xác lâu nhất trong văn chương Ấn Độ. Kinh Rajah Taragini hàm chứa đa phần những huyền thoại và được truyền khẩu trong nhân gian từ thời xa xưa. Phần lớn những văn chương truyền khẩu được tô điểm một cách hoành tráng. Tuy nhiên qua những tiến trình của thời gian làm cho bây giờ khó mà nhận chân được sự thật của lịch sử. Một sự việc có liên quan đến câu chuyện của một Thánh Nhân tên là Isana, người đã diễn đạt những phép mầu rất tương tự như những gì của Giêsu đã làm. Thêm vào đó được biết là Isana đã cứu mạng một vị lãnh đạo tài ba Vajir bị đóng đinh trên cây thập tự giá(5) và đã làm cho vị ấy sống trở lại. Sau đó Vajir trở thành một lãnh tụ của xứ Kashmir và trị vì được 47 năm. Theo lời của Kalhana thì Isana là người cải cách xã hội sau cùng của xứ Kashmir đã từng sống và dạy đạo vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Qua sự việc nêu trên giống như Isana người con của Thượng Đế không ai khác hơn chính là Chúa Issa- Giêsu.

– Phần chú thích dịch thuật:
(1) một xã hội lâu đời ở vùng Đông Nam Âu- Á.
(2) thời gian Giêsu có mặt.
(3) thời gian Hội Đồng Kết Tập Kinh Điển Haran, cùng sự có mặt của Giêsu.
(4) Long Thọ là Bồ Tát Di Lạc trao lại mối đạo cho Long Trí. Long Trí chính là Hoá Thân của Tôn Giả Mục Kiền Liên. Bà Maria và Giêsu đã thọ giáo hai vị trên.
(5) bị đóng đinh trên cây thập tự giá là một hình phạt được dùng vào thời đó.

Lên đầu trang
 
Vài hình ảnh từ cuốn sách:

Trang 230: Nhiều công trình học thuật cổ tại Kashmir minh chứng sự kiện rằng Yuz Asaf và Giêsu chỉ là một người.

5. Tượng Phật Di Lạc tại Mulbek

39. Dấu ấn ở Haran.

40. Ngôi mộ của bà Maria, mẹ của Giêsu, tại Mari, Pakistan.

41. Trong dấu chân đúc bằng khuôn, những vết sẹo do ‘Bị Đóng Đinh’ rất dễ nhận ra như hình lưỡi liềm phồng to cao hơn các ngón chân.

44. Bên trong lăng mộ dựng lên một phòng chứa ngôi mộ bằng gỗ.

45. Ngôi mộ được phủ bằng tấm vải dày.

46. Ngôi mộ là một loại đài hoặc bia kỷ niệm để làm dấu cho chính xác một quách đựng hài cốt được đặt ngay dưới hầm mộ.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến

CHƯƠNG III: THỊ HIỆN CƯ NHÂN
1. Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật
2. Đức Di Lạc xuất chánh Định gặp Đức Bổn Sư
3. Sự lầm chấp của Chúng Sinh đối với Đức Bổn Sư
4. Chúa Giêsu và bà Maria đã tái sinh tại VN
5. Vết Chân Người-Cư-Sĩ
6. Tuổi thọ con người thời mạt-kiếp giảm?
7. Kinh Di Lạc Hạ Sanh
8. Sấm kinh nói về Long-Hoa ra đời
9. Khai mở “Long Hoa Hội Thượng-Thời Hai”
10. Hịch Chứng Minh Vũ Trụ
11. Đức Di Lạc thành Phật Vương (Hịch CMVT phần 2)
12. Hịch CMVT, phần 3
13. Hịch CMVT, phần 4
14. Với đài phát thanh BBC
15. Mãi mãi là bài học nhớ đời
16. Sự tái sinh của chúng sanh

CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng

3. Sự lầm chấp của Chúng Sinh đối với Đức Bổn Sư

3. Sự lầm chấp của Chúng Sinh đối với Đức Bổn Sư

Đức Bổn Sư 41 tuổi, Purna
đã vẽ chân dung của Ngài.

Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 41 tuổi, một chân tử của Ngài tên Purna đã vẽ truyền thần chân dung của Ngài. Bức chân dung này được xem như một bảo vật và hiện đang được lưu trữ tại Bảo Tàng Viện Hoàng Gia Anh.

Suốt đời hành Đạo, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn để tóc ngắn gọn như chân dung ở bên cạnh chớ không có cạo sạch tóc như Tăng Ni hậu lai lầm tưởng. Nhắc lại buổi cơm cuối cùng của Ngài do ông Thuần Đà dâng cúng trong đó có một miếng thịt nướng. Điều này cho biết Ngài không có chuyên ròng ăn chay. Đức Di Lạc còn dạy rằng dù Đức Bổn Sư có quay về sống với vợ, con cũng không hề bị mất Chánh Báo của Ngài. Do lớp tu sau này nặng về Thiên Pháp nên phát sinh cạo đầu ăn chay, xa rời thế gian, sống theo trừu tượng dần dần làm xa lìa Chánh Pháp. Do đó, dẫn tới sự tu hành không còn y Tôn Chỉ của Phật, lại nặng Sắc Tướng Âm Thanh sa vào Mạt Pháp cho đến ngày nay.

Do sự lầm chấp trên nên khi Đức Di Lạc Hạ Lai khai đạo theo Cư Nhân Hạnh ngay giữa thành phố Nha Trang 37 năm mà không có một Tăng Ni nào theo tu con đường Giác Ngộ với ngài./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


2. Đức Di Lạc xuất chánh Định gặp Đức Bổn Sư

Đức Di Lạc xuất chánh Định gặp Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tôi nghe như vầy:

Trên đường hành Đạo, mỗi lần gặp pháp rối, trắc ẩn quá mức, Ngài nhớ lại những lúc gay cấn mà Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã gặp phải thì liền khi đó, luồng Huỳnh Quang xuất hiện và Đức Bổn Sư Thị Hiện trên căn gác gỗ của Đức Di Lạc ở Nha Trang. Ngài vui mừng thi lễ Đức Bổn Sư, thầy trò đàm đạo và Đức Bổn Sư chỉ giáo cho Ngài. Có lần khác Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật than với Đức Di Lạc cũng tại căn gác gỗ ở số 42 Hồng Bàng Nha Trang rằng:

...Họ đang gặp nạn!

“Tại Ấn Độ hiện nay, dưới chế độ cai trị của Bà Gandhi, Tăng Ni lớp con của Tôi, đang ở các chùa trong thành phố lại bị đuổi về thôn quê, về nơi núi rừng. Họ đang gặp nạn!”

Sau Bà Gandhi bị sụp đổ, con trai của bà lên thay làm Thủ Tướng cũng không đổi mới đường lối lại thực hiện y như mẹ. Sau ông này cũng bị chết vì bom. Hiện nay thể chế chính trị ở Ấn Độ đã đổi thay, kinh tế chuyển đổi theo thị trường.

Nhắc lại câu chuyện đặc biệt nữa của năm 1963 tại miền Nam Việt Nam, sau vụ tranh đấu của Phật Giáo đòi công bằng tự do tôn giáo thì một số Tăng Ni bị đàn em ông Diệm và Nhu đem bỏ vào bao bố cột lại rồi ném xuống sông. Còn số đông Tăng Ni Phật Tử khác bị dùng bàn chải đinh đập vào đầu chết thảm thiết.

Trong năm ấy, chế độ bị sụp đổ, ông Diệm và ông Nhu bị chết. Dưới mắt Thiền Sư, có cặp mắt Như Lai Nhãn Tạng nhìn xa về quá khứ, biết được kiếp trước của ông Ngô Đình Diệm là giám mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) người Pháp. Thời ấy, ông và một số nhân sĩ giúp dạy chữ Quốc Ngữ cho người Việt và cũng giúp dân về mặt xã hội. Do phước thiện này mà ông được cái quả làm Tổng Thống miền Nam nước Việt Nam mười năm./-

Anh em ông Nhu Diệm đàn áp dã man
Phật Giáo.

Thượng Tọa Thích Quảng Đức tự thiêu phản đối gia đình Ngô Đình Diệm đàn áp dã man Phật Giáo.

Ông Diệm (cả ông Nhu) bị lật đổ và bị giết. Đây là luật Nhân Quả.

Giáo Sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) chính là tiền kiếp của ông Ngô Đình Diệm.

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


1. Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật

 1. Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật

Chân dung Hoan Hỷ của Đức Di Lạc. Ở nhà Ngài mặc Bà Ba trắng.

Tượng cổ Phật A Di Đà từ Tây Tạng. * Trên bàn thờ.

Tôi nghe như vầy: Trước khi khai đạo, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc xuất Chánh Định gặp Đức A Di Đà Phật.

Đức A Di Đà liền hỏi:
– Thời Hạ kiếp này con dùng phương tiện gì để Đồng Độ chúng sinh?

Đức Di Lạc thưa:
– Bạch Đức Thế Tôn, thời này nhân sinh tác tạo quá mức, con phải Đồng Độ theo Cư Nhân Hạnh. Dụng sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp trong thế gian, dạy cho chúng sinh không nhiễm.

Đức A Di Đà Phật trả lời:
– Đúng, chính xác lắm. Thời Mạt Kiếp này con phải chuyển thế như vậy.

Đức Di Lạc :
– Bạch Đức Thế Tôn, thời này lắm bậc chứng tu, tu chứng dẫy đầy khó phân.

Đức A Di Đà :
– Con phải cố gắng, thời này Qủa Phật độc nhất vô nhị đó con. Ta sẽ theo dõi giúp đỡ cho con.

Đức Di Lạc bái biệt Đức Thế Tôn và trở về Tịnh Thất ở 42 Hồng Bàng Nha Trang./-

* Tượng cổ Phật A-Di-Đà từ Tây Tạng. Do một Cựu Sĩ Quan Mỹ gốc Việt cúng dường  cho Thiền Sư Bồ Tát Di Như đúng ngày Đại Lễ  Đông Độ năm 2008 tại Las Vegas, Hoa Kỳ.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA – Chương 2

Chương II: TỪ Đâu Ta Đến

Bối cảnh xã hội trên thế giới sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Bom nguyên tử tại Nagasaki, Nhật Bản thế chiến thứ hai.

Sau Đệ Nhất và Đệ Nhị Thế Chiến chỉ tính sơ qua những biến cố kinh tế, xã hội, chính trị của các quốc gia trên thế giới, dồn dập nghiêm trọng đến mức độ những nhà bác học, những nhà phát minh khoa học, những nhà xã hội học hoang mang và lo sợ.

Nhiều người bi quan cho rằng thế chiến thứ ba sẽ bùng nổ do những công trình phát minh của họ đồng thời cũng báo hiệu ngày tận thế sẽ xảy ra. Song song với việc con người tác tạo quá mức, còn có những trận cuồng phong bão tố tàn phá dữ dội, những trận động đất cực mạnh, nạn hạn hán kéo dài, nạn lụt lội tệ hại nhất thế kỷ, đã làm chết không biết bao nhiêu người mà kể cho hết được.

Đặc biệt nhất là nạn ô nhiễm môi trường sống thiên nhiên trong đất, trong nước ao, hồ, sông, biển. Khí độc thải ra phá tầng ozone của bầu khí quyển mỗi ngày một lớn dần. Trong khi những nhà lãnh đạo của các nước tiên tiến về công nghiệp chưa ý thức nhanh chóng làm chấm dứt những vấn nạn trên.

Chỉ bấy nhiêu tác hại trên cũng là nguyên nhân gây bệnh hiểm nghèo mỗi ngày một lan tràn cho nhân loại. Hậu quả thảm khốc và đau thương khủng khiếp hơn nữa trong trận Thế Chiến một và hai, những cuộc được gọi là cách mạng, đã để lại cho những người dân vô tội bị tan thương, mất mát không sao kể cho hết được.

Nhiều bậc có đạo đức, có trình độ hiểu biết về sự tồn vong của nhân loại, rất lo lắng. Họ tự hỏi, nhân loại cứ tiếp diễn bị sống bấp bênh quá mức chịu đựng, cuối đường sẽ đi về đâu? Có phải đây là triệu chứng của thời Mạt Kiếp?

Hủy diệt hay có Đấng Cứu Thế ra đời? Không một ai dám khẳng định cho nhân loại yên lòng được.

Riêng tại Việt Nam, kinh sấm đã lan truyền nhanh nhiều nơi trong nước: Tu mau kẻo trễ – sắp đến rồi – Đức Di Lạc đã ra đời. Hãy vững tin chờ đợi, nhưng không ai dám nói chính xác bao giờ Ngài ra đời. Cùng lúc, cũng có lắm kẻ cười chế diễu, vì họ cho là tin nhảm, ảo tưởng đối với những lời tiên tri trên. Họ hô hào hãy dùng hai bàn tay lao động để sống.

• Bối cảnh xã hội Việt Nam.

Hình ảnh chiến tranh VN

"Một nghìn năm bị đô hộ bởi người Tàu, một trăm năm bị đô hộ bởi giặc Tây, năm mươi năm nội chiến từng ngày”, bất cứ ai mới nghe qua cũng đủ biết từ thời ông Sơ, ông Cố của dân Việt Nam đã gánh chịu bao đau thương tang tóc, sự khốn cùng kéo dài lê thê qua nhiều thế hệ, đã chứng minh bao cảnh chém giết đầy man rợ, cảnh lầm than khốn khổ, cảnh chết vì đói, vì tù đày, vì gia đình ly tan quá đau buồn... Phải thán phục sức chịu đựng của ông cha ta đứng đầu trên thế giới.

Với tình hình xã hội vô cùng khắc nghiệt và vô cùng hỗn loạn như vậy, nhiều bậc hiểu biết càng ngày càng nhận định rõ: Con người đã và đang sụp đổ về tinh thần cùng sự suy đồi thường diễn hàng ngày khiến họ tin rằng Đức Di Lạc sắp ra đời vì Cùng Tất Biến là lẽ thường.

Để tán thán lời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cách đây đã hơn 2500 năm, Ngài đã khai thị hoàn toàn đúng với trăm ngàn chân thật. Đọc xong, quý vị Tăng Ni, Phật Tử, các nhà xã hội học, bác học, nhà phát minh khoa học hãy lập thành phái đoàn đến miền Nam Việt Nam, khảo sát và kiểm chứng lại. Qúy vị sẽ thấy bỗng nhiên ĐÊM hóa NGÀY của thế giới chúng ta đang sống đầy mầu nhiệm, đầy kỳ bí.

Nó thực tiễn lắm! Không một chút ảo tưởng, không hề viễn vông! Qúy vị còn tìm được nguồn sống mới an vui và tràn đầy hạnh phúc cho hiện tại và những kiếp tương lai nữa. Nếu không có luân hồi sao rất nhiều bậc tu nhớ kiếp trước của mình là ai? làm gì? ở đâu? rồi ghi chép lại rành mạch. Đối với các bậc Thánh Nhân, Thiền Sư nhớ quá khứ kiếp, đã ghi chép lại. Ngày nay các nhà khoa học cũng đã nghe, thấy, nhiều tài liệu đã để lại có chứng minh.

Các Nhà Khoa Học, Thực Nghiệm kiểm chứng các vật bên ngoài, còn các Thiền Sư Đông Phương kiểm soi khám phá ngay trong thân mạng mình để biết vũ trụ.

• Đức Tịnh Vương Nhất Tôn là ai? Ngài đã làm gì cho nhân loại?

Điều mà người tu hành lẫn người thế gian cần biết, Đức Trí của Chư Phật quá siêu đẳng, đã từng đem lại nguồn sống và hạnh phúc cho tứ loài mà tứ loài chẳng hay biết.

Bậc Chánh Giác chỉ sử dụng thần thông như một phương tiện khi cần thiết. Chư vị cũng không muốn những mầu nhiệm của vũ trụ được sử dụng để tiết lộ cho kẻ phàm tục đầy kiêu ngạo biết. Làm xong Ngài âm thầm ra đi, không cần chúng sanh tranh cãi đúng sai, không cần ở lại hưởng gì của thế gian, miễn sao tận độ chúng sanh an lành là đủ. Mùa Vu Lan năm 1969 tức năm 2513 Phật Lịch, nhờ một đại duyên lành, tôi theo tu học Đức Tịnh Vương Nhất Tôn. Một hôm Ngài gọi tôi và bảo:

- Này ông Pháp Khả, ông là Chân Phật Tử có căn cơ, quyết tâm cầu đạo giải thoát rốt ráo, trước Tam Thế chứng minh, Ta tuyên đọc bài kệ sau đây đặng ông cùng tất cả nhân sinh mai sau biết Ta hóa thân kiếp này, hiện tướng ở cõi Ta Bà Thế Giới làm tất cả những lợi ích gì để tận độ chúng sinh trong thời Mạt Pháp này.

TỪ Đâu Ta đến

THỊ Hiện cư nhân

DI truyền bảo pháp

LẠC quốc an khương

TÔN giả cúng dường

PHẬT Vương minh chứng

TỪ THỊ DI LẠC TÔN PHẬT thế danh Từ Thế Thọ Hạ Lai 1918–1993

Đọc xong, Đức Tịnh Vương im lặng, không khí trong căn nhà quanh chỗ Ngài ngồi bỗng nhiên có mùi trầm hương bay thơm ngát đầy vẻ trang nghiêm, ấm cúng lạ thường. Đem từng chữ đầu mỗi câu của bài kệ trên kết lại cho ta biết được:

 

" TỪ THỊ DI LẠC TÔN PHẬT "

Tôi đảnh lễ Ngài mà lòng hoang mang suy ngẫm, chẳng lẽ nay tôi gặp Đức Di Lạc hiện thân bằng xương bằng thịt, đang ngồi trước mặt tôi là thật chăng? Tôi cùng các bậc tu và bậc không tu đang ở tôn giáo nào cũng cần xem xét lại, Đức Di Lạc đã thị hiện đúng thời điểm, đúng hoàn cảnh, đúng thời Mạt Pháp. Ngài hoan hỷ lấy Đại Lực để gánh chịu. Ngài tận dụng Phật Lực chuyển hồn loạn của thời Mạt Kiếp đến Thượng Kiếp.

Lần Hạ Sanh này, Đức Di Lạc lấy danh hiệu Tịnh Vương Nhất Tôn, khai Đạo tại số nhà 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, những năm gần mãn đời, Ngài dời về ở số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng Nha Trang. Hôm nay thời điểm đã đến, khi ghi lại sự kiện lịch sử hi hữu này, tôi mong nhân sinh cùng quý vị chân tử nào nhận chân được Đời là bể khổ vô tận, là giả tạm, hãy dõng mãnh phát tâm cầu Đạo Giác Ngộ, thoát khỏi Sanh Tử Luân Hồi. Dù của cải giàu có chất đầy cả thế gian này, khi nhắm mắt cũng ra đi với hai bàn tay trắng. Lại không biết mình đi về đâu mới là điều sầu khổ không tả hết.

Căn nhà lá tại Bình Định, nơi Ngài Hạ Sanh.

Bình Định nơi Đức Di Lạc Hạ Sanh

Lúc 8 giờ sáng một ngày cuối mùa đông năm 1969 dương lịch, tại căn gác gỗ nhỏ số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, Đức Tịnh Vương Nhất Tôn khai thị, tôi nghe như vầy:

Từ Cung Trời Đâu Suất, Ngài mặc chiếc áo tràng dài, rộng, màu thanh thiên tức màu xanh da trời tươi đẹp, hai bên có Chư Thiên, Chư Long Thần Hộ Pháp, Chư Hộ Pháp Bồ Tát, Chư Bồ Tát cung nghinh theo tiễn. Ngài bước xuống thế giới Ta Bà này đến giáp ranh tầng khí quyển, Chư Thiên, Chư Long Thần Hộ Pháp nhìn thấy bụi hồng trần bao phủ dày đặc, đầy chất bẩn, tất cả đều dừng lại, cung kính chiêm bái Ngài và không dám đi theo nữa.

Chỉ một mình Ngài đi thẳng đến tỉnh Bình Định thuộc miền Trung nước Việt Nam. Ngài đứng trước cửa nhà, chờ bà mẹ tên là Nguyễn thị Phụng sắp sanh. Khi bà vừa hạ sanh ra một bé trai, Ngài liền nghiêng mình khẽ nhẹ bước vào thân chú bé. Lúc bấy giờ khoảng 9 giờ sáng ngày 24 tháng 12 âm lịch năm Kỷ Mùi (1918) tức năm 2462 Phật lịch. Ngày tháng này thời tiết đang chuyển mình sang ngày đầu Lập Xuân.

Cha Ngài là Từ Như Ý, gốc Hoa

Mẹ là Nguyễn Thị Phụng, người Việt. Chân dung trên bàn thờ.

Cha Ngài tên Từ Như Ý đặt tên cho Ngài là Từ Thế Thọ. Tứ Chúng Pháp Tạng tức chân tử của Ngài, hàng năm cứ đến ngày 24 tháng 12 Âm lịch đều sum vầy về nơi Tịnh Thất của Ngài làm Đại Lễ mừng Đản Sanh Ngài. Cũng ngày này năm Tân Hợi tức ngày 08-12-1972 Dương lịch, Ngài nhắn nhủ một lần nữa cho thế gian cùng chân tử của Ngài biết Di Lạc đã ra đời, qua bài thơ do chính Ngài ghi bút và cũng chính Ngài đánh máy:

TÌNH LỜI HẠ SANH
KỶ NIỆM NĂM KỶ MÙI (1918)

Giữa buổi trời xanh, nắng dịu hòa
Thuyền con, bườm trắng chạy xa xa,
Nha Trang bãi biển chiều thanh lịch,
Tôi kể thời xưa chuyện đã qua:

Năm ấy Đông đi, xuân sắp về,


Cánh đồng thịnh trị khắp thôn quê,
Lương dân vui hưởng ba ngày tết,
Giải sạch lo phiền chuyện gớm ghê.

Năm bốn năm qua... Tết những gì?


Nhà nhà vôi trắng, dựng Nêu Quy,
Có câu Liễn Đỏ hai bên cửa,
Có pháo huy hoàng mong chứng tri.

Trong lúc ấy, kẻ đi người lại,
Mua sắm đồ cầu vái Chư Thiên,
Huyền linh chung khắp các miền,
Thực hư, hư thực bởi duyên thanh bình.

Cùng ngày hai bốn viên minh,
Cũng trong tháng chạp, một mình Ta Thôi.
Phất phơ trên đảnh mây trời,
Đương Lai Sanh Hạ hợp thời Hạ Nguyên.

Ta có nói vẫn lời dư dả,
Ngày hôm nay thư thả như nhiên.
Phú cho mạt thế vẹn tuyền,
Của Như Lai Dụng, một phiên diễn tuồng.
Thiện Chân Tử chính nguồn an ủi,
Pháp Tạng nầy, chung tuổi ấm êm,
Miễn sao dưới mái gương thềm,
Chung vui hoàn giác, nỗi niềm Tôi mong.


–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Ngày Đản Sanh: 24-12 Tân Hợi
(08-02-1972)

 

Giải sạch lo phiền chuyện gớm ghê

Thế chiến thứ nhất năm 1914-1918 chấm dứt, nhân loại nhất là các nước kém mở mang đã giải thoát được thế chiến thứ hai 1939-1945. Hiệp định Geneve 1954 ra đời và nhiều người lo sợ nạn xâm lăng của chiến tranh. Trong bối cảnh khắc nghiệt báo hiệu cường độ hỗn loạn gia tăng, Ngài đã ra đời được một tuổi.

Huyền linh chung khắp các miền

Trong lúc dân chúng đi lại mua sắm vật dụng Tết thì cả một thể vô hình của Chư Long Thần, Địa Thần, Tứ Bộ Thần, Thượng Đẳng Thần quanh vùng Ngài thị hiện, đã có huyền cơ linh ứng chung khắp canh giữ Ngài.

Thực hư hư thực bởi duyên thanh bình

Nhìn gần, duyên thanh bình làm lương dân vui sắm Tết, nhưng nhìn xa, thế chiến thứ Ba đang âm ỉ không thực thanh bình, như thực hư hư thực vậy.

Cùng ngày hai bốn viên minh

Hai mươi bốn viên minh là ngày đặc biệt, rất hiếm có dịp đến. Vì sao? Vì ngày này năm ấy, theo lịch Trung Hoa là ngày Lập Xuân, tức ngày cuối đông thời tiết đang chuyển sang xuân tươi sáng.

Phất phơ trên đãnh mây trời
Đương Lai Sanh Hạ hợp thời Hạ Nguyên

Từ cõi Trời Đâu Suất, Ngài đi vào bầu khí quyển và các tầng mây đến thế gian. “Đương Lai Sanh Hạ”. Từ lâu Kinh Phật Giáo vẫn thường dùng để chờ đợi Đức Di Lạc, nay Ngài ghi bút cũng là nhắc cho thế gian biết hiện nay đã là Hạ Kiếp rất hợp thời cơ cứu đời của Ngài.

Ta có nói vẫn lời dư dã
Ngày hôm nay thư thả như nhiên

Ngài biết dù Ngài có nói thực, thời này vẫn là lời nói thừa, chúng sinh điên đảo chẳng tin. Phần Ngài vẫn bình thản theo lời đã nguyện.

Phú cho Mạt Thế vẹn tuyền”
Của Như Lai Dụng, một phiên diễn tuồng

Thời Mạt Kiếp thế giới muốn phát sinh độc hại như thế nào cũng mặc sức, còn Ngài đã biết được nó là diễn cảnh một thời của Như Lai để tiến đến Thượng Kiếp.

Thiện Chân Tử chính nguồn an ủi
... Chung vui hoàn giác, nổi niềm Tôi mong

Tuy thế gian diễn cảnh độc nhiễm tùy thích, nhưng Ngài vẫn còn niềm vui là số Chân Tử cầu giác ngộ đang theo Ngài. Long Hoa mà hầu hết những bậc tu trông chờ chính là:

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Còn Đức Di Lạc của quá khứ nay ẩn dưới danh hiệu TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN.

Lãnh đạo Pháp Tạng làm chủ mối đạo, Ngài lập danh xưng: TĂNG CHỦ NHẤT TÔN.

Khi mới sanh ra, thân hình Ngài đẹp, tướng hảo quang minh nhưng gia đình rất nghèo khổ, nhà vách bằng tre trét đất sét với rơm rạ, mái lợp tranh ở thôn quê. Chư Long Thần Hộ Pháp (vô hình) thấy vậy gỉa hiện mặt Qủy dữ tợn, bà mẹ nhìn thấy sợ quá bế con chạy sang nhà bà con sạch sẽ hơn, cao ráo hơn. Vì mới sanh được ba ngày nên ánh nắng chiếu vào mắt làm cho một con mắt Ngài phải bị tật.

Âu đó cũng do Như Lai báo trước, căn cơ của chúng sinh thời Mạt Kiếp, Phật ra đời mà chúng sinh không gặp được. Chỉ công đức Chư Tổ, tâm rỗng rang, lại có tâm tu cầu Giác Ngộ mới có Đại Duyên Lành đến được với Ngài mà thôi.

Ngài dạy tiếp: Tôi dùng thần thông hiện đầy đủ 32 tướng tốt giống Chư Phật rất dễ, nhưng thời Mạt Pháp chúng sinh đang ưa chuộng sắc tướng, âm thinh mà hiện thân như vậy, bá tánh chỉ vào cúng lạy, chớ không tu sửa tánh xấu thì đâu có ích lợi gì.

Thành Phố Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa nơi Đức Di Lạc Hành Đạo.

Nhà Ngài, 22/14 Sinh Trung

Tôi nghe như vầy: Trong Thế Chiến thứ hai 1939-1945 tình hình nước Việt Nam bấy giờ chiến tranh lan tràn khắp nơi. Lúc đang ở Bình Định, vì bị tình nghi, chính quyền Cộng Sản Việt Nam kết án Ngài 10 năm nhưng mới ở tù được 26 tháng thì Hiệp Định Geneve ra đời và Ngài được thả tự do. Lúc đó, Ngài được 36 tuổi và di chuyển về Nha Trang thuê mướn một căn nhà nhỏ lợp tranh vách đất ở Sinh Trung gần chợ Đầm bây giờ.

Đến năm 1956 Dương lịch tức năm 2500 Phật Lịch, Ngài đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Từ đó, Ngài dùng công năng trong vô lượng kiếp quá khứ, tận độ chúng sanh trải qua nhiều kiếp tích lũy công đức. Kiếp này Hiển Thị Phật Thân xây dựng Quốc Độ và tạo dựng thời Thượng Kiếp nơi cõi Ta Bà thế giới này. Từ nay, cứ mỗi giáp tức 12 năm, thế giới sẽ biến đổi dần dần đến thanh bình, con người sẽ thanh nhàn, thư thả và có đạo đức trở lại.

Kinh Phật tự chính Ngài ghi bút lưu lại hiện còn đầy đủ. Để chứng minh Ngài đã thị hiện, tôi xin ghi lại một số điểm chính nữa hầu quý vị nhận định đầy đủ hơn qua Ấn Chỉ 1-2-3-4*

* Ấn là ấn chứng vũ trụ nhân sinh.
* Chỉ là trực chỉ.

Mặc dầu không ai hiểu Ngài lúc này, nhưng Ngài vẫn âm thầm hóa giải thế gian qua Ấn Chỉ 1 cũng do Ngài đánh máy ra:

PHÁP ĐỘ THỜI ĐÔNG ĐỘ
Ngày: 20-01-Năm Đinh Tị
Giờ Ngọ 09-03-77


PHẦN KỆ:
Tây Phương cực lạc trổ huỳnh quang,
Đông Độ Đương Lai đã mở màn,
Diệu dụng tương song về nhất tướng,
Tứ loài đang diễn mộng chưa tan.

PHẦN GIẢI:
Ta đi Tây Độ tỏa huỳnh quang,
Ta lại Đông Phương vẹt bức màn,
Hòa hợp tương song đồng hiện tướng,
An khang lạc quốc trọn vinh quang.

PHẦN DIỄN:
Ai hiểu đến Ta giữa lúc nầy,
Ráp vần xoay vận hiệp Đông Tây,
Lời thề Vương Bảo tô nền tảng,
Cốt vãng hồi sanh thoát đọa đày.

PHẦN HÓA:
Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay,
Địa Tiên ngơ ngẩn châu mày thở than
Nhân sinh đi đứng ngỡ ngàng,
Các hàng Bồ Tát cười vang vui mừng.
Tam Giới rung chuyển chưa ngừng,
Ta ngồi Bửu Tọa vạn tuần xinh xinh.

PHẦN ẤN CHỈ:
Thế nhân cầu đạo chân thành,
Long Hoa nào rõ trở thành đảo điên.
Thân phàm Long Thọ vẹn tuyền,
Còn TÂM ÓC TRÍ của Tiên. Thánh. Thần.
Giác toàn chính thật là THÂN,
Tại sao chưa tỉnh phân vân nỗi gì?
Tìm đâu? Nhìn thẳng bài thi,
Lời Ta đã ngỏ những gì Phật ngôn.


TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Lúc giờ Ngọ (12) giờ trưa:
09-03-1977

Thời Đông Độ: Thời đồng hóa nhân sinh, hiện thân cư sĩ, dìu dắt bậc tu về với Chân Tôn Hiện Giác.

PHẦN KỆ:

Tây Phương ý nói Cõi Trời Đâu Suất đầy an vui, an lạc trong ánh Đạo vàng.

Đông Độ Đương Lai đã mở màn: Ngài Hạ Sanh tại Đông Phương, Đông Độ còn có nghĩa Cư Nhân Hạnh (cư sĩ). Đương Lai: Đức Di Lạc đã mở Đạo.

Ngài dụng đủ phương tiện tuyệt mỹ để chỉ ĐỜI LÀ ĐẠO LUÔN SONG HÀNH, luôn hiện như hình với bóng, tuy hai nhưng chỉ có một Tướng, Ngài tùy thuận cốt đưa nhân sinh về một lối tu duy nhất là Giác Ngộ.

Khi Ngài mở màn khai đạo, tứ loài đang gia tăng cường độ, đua tranh sát phạt nhau hỗn loạn, triền miên sống trong cơn mê.

PHẦN GIẢI:

“Ta đi Tây Độ... Ta lại Đông Phương”... Hóa thân Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hiện nay chính là Đức Di Lạc từ Thiên Thừa Hạnh (xuất gia) thuở trước, nay hiện Cư Nhân Hạnh (tại gia), mở màng vô minh cho lối tu sai lạc của thời Mạt Pháp. Ngài hòa hợp cho nhân sinh dụng nghe, thấy, biết trong đời để tu hành, chuyển cái Nghe, Thấy, Biết trở thành vạn pháp không mắc miếu. Thực hiện được con người sống an lành, hạnh phúc, gia đình ổn định, đất nước an lạc.

PHẦN DIỄN:

Ngài thường đi Khai Đạo nơi có Chân Tử như Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn. Cũng có một số tu sĩ xuất gia đến gặp Ngài, đọc kinh sách giải thoát của Ngài. Họ chỉ biết Ngài là ông Thầy Tịnh Vương. Suốt lộ trình Ngài không hề có một tu sĩ nào tìm hiểu pháp môn giải thoát, cũng không quan tâm, lại còn xem lối tu này không cần thiết và hoàn toàn xa lạ.

Song song với việc dạy đạo cho Tứ Chúng chung quanh, Ngài còn một Đại Nguyện khó khăn nữa, đó là quyết đem Bảo Pháp của Chư Phật xây đắp cho thế gian, chuyển từ Phương Đông sang Phương Tây, cho họ có lối tu thực tiễn sửa tánh, giải bỏ đố tật xấu, hóa giải hoàn cảnh đến minh tâm thoát khỏi khổ ải, ngay trong mỗi mỗi gia đình. Việc làm chuyển thế giữa lúc này, không một bậc lãnh đạo tôn giáo nào hiểu gì cả.

PHẦN HÓA:

“Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay”

Vì sao? Ở Cõi Tiên, Chư vị Thiên Tiên đang quan sát theo dõi chuyến Hạ Lai của Ngài. Thiên Tiên là những bậc ở ngoài trái đất của chúng ta, họ rất nhạy cảm. Từ quá khứ cho đến vị lai rất giao cảm, tất cả sự di chuyển điều động vạn pháp xuất hiện hay lưu hoàn thảy đều tỏ thông liễu ngộ, chỉ sút kém với hàng Bồ Tát chưa biết thân mạng mình đổi thay, thay đổi như thế nào để giải quyết sanh, tử, lão, khổ.

Bậc Thiên Tiên nhìn thấy vũ trụ, nhân sinh an lành, đến thời Hạ Lai Mạt Kiếp địa ngục phát sinh, nghiệp đau khổ tràn đầy liền nhìn thấy được có Đại Lực cứu độ tứ loài nên Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay.

“Địa Tiên ngơ ngẩn châu mày thở than”

Vì sao? Vì Địa Tiên luôn hướng về thời Trung Kiếp còn gọi Hiền Kiếp, thời này tu hành trọng Đạo Đức, Thánh Hiền. Đến khi thấy hỏa ngục phất, Đại Lực Di Lạc tận dụng nương theo thời Hạ Lai cứu độ, hàng Địa Tiên không hay biết khi thấy Thánh Hiền, Bồ Tát bị khổ như thân trâu ngựa nên cho là Phật Đạo suy đồi, Mạt Pháp mà khóc than. Còn hàng Thánh Hiền, hàng Bồ Tát đều đi trong “Phổ Môn Phẩm” tức đi trong HỎA NGỤC, chịu đắng cay, chịu nhục nhã, chịu cực hình để độ KHỔ cứu độ chúng sinh.

“Nhân sinh đi đứng ngỡ ngàng”

Vì sao? Vì nhân sinh bị cuộc sống đảo loạn,từ có hóa không, từ an ổn đến hỗn loạn, từ sum họp đến ly tan, từ nơi mát mẻ hóa nóng bức, từ nơi êm ấm hóa không nhà cửa sống lang thang. Nhân sinh cho đến bậc tu mất thăng bằng, không còn định hướng, không còn tin Phật đúng đắn, chạy theo Hỏa Ngục, chạy đến chân trời mới... ai ai cũng kinh ngạc, lo lắng, bỡ ngỡ, liều lĩnh.

“Các hàng Bồ Tát cười vang vui mừng”

Hàng Thánh Hiền, Bồ Tát nguyện đi trong “Phổ Môn Phẩm” nên đứng trước hoàn cảnh khắc nghiệt thân tâm vẫn ghi nhận và rỗng rang vui mừng. Độ khổ là món ăn của hàng Bồ Tát nên vui mừng chịu tận theo vết chân Chư Phật.

“Tam giới rung chuyển chưa ngừng”

Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Các Cõi Trời này thấy thế gian bị Hỏa Ngục phất cũng lo âu, bàng hoàng, toàn thân chư vị ở các Cõi này rung chuyển đau đớn theo.

“Ta ngồi Bửu Tọa vạn tuần xinh xinh”

Ngài biết chẳng qua chỉ là diễn ảo của thế gian và lần Nhất Sanh Bổn Xứ này, Ngài thành Phật Quả mãi mãi xinh tươi bất diệt.

PHẦN ẤN CHỈ:

“Thế nhân cầu đạo chân thành”

Ngài đã biết thế nhân hiện nay tu theo Đạo Phật số lượng rất đông, hầu hết đều nương tựa vào Tăng Ni ở chùa, cốc núi rừng, lòng rất thành tâm cầu Đạo vì ngao ngán cuộc đời. Riêng Ngài vẫn than:

“Long Hoa nào rõ trở thành đảo điên”

Câu thơ này cho biết quá rõ Đức Di Lạc đã ra đời, khai mở Long Hoa, dạy Đạo Đức cho chúng sinh đang sống trầm luân trong bể khổ đến Bờ Giác. Không một ai ở các tôn giáo chờ đợi Ngài, nhận được lối tu thực tiễn của thời Mạt Kiếp: Tự tánh tỏ tánh, hóa giải hoa pháp tánh. Trái lại, đảo điên, ảo tưởng chờ núi Thất Sơn nổ.

“Thân phàm Long Thọ vẹn tuyền”

Đến đây Ngài chỉ thẳng, thân Tịnh Vương kiếp này chính là thân phàm Long Thọ thật đúng đắn. Thân Long Thọ ngày xưa của một kiếp, chính là thân Di Lạc đây đang hiện tướng ở Ta Bà thế giới này.

“Còn tâm óc trí của Tiên, Thánh, Thần”

Tiên, Thánh, Thần là những bậc có cái nhìn nhạy cảm hơn thế gian, lời nói đây còn sáng suốt tỉnh táo như óc trí của Tiên, Thánh, Thần vậy. Ngài chỉ thẳng, giác ngộ chính nơi thân tâm của mình sao lại không nhận còn vọng cầu bên ngoài làm chi. Lời này là của Chư Phật thật sự.

“Thời này Ta đến chỉnh trang”

Chư Phật ra đời duy nhất đem đến nhân sinh trực chỉ hoàn giác. Đó cũng là Ấn Chỉ của Ba đời Phật. Theo lời Khai thị của Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân của Đức Di Lạc, thời này là thời Hạ Kiếp, Chánh Pháp bị Mạt Pháp ngự trị lan tràn. Bậc tu chuộng cái học, chuộng nghiên cứu kinh Phật, chuộng sắc tướng âm thanh cầu đạo trở thành Bị Giác.

Ngài không tạo ra mối Đạo mới mà chỉnh trang, sửa đổi lại tu theo con đường Tri Kiến Giải Thoát, con đường Tự Giác theo Y Tôn Y Chỉ Ba đời Phật.

“Thị hiện Cư Nhân *Chỉ-Ấn-Hoàn”

Ngài cho thế nhân biết rõ ràng: Ra đời với Hạnh Cư Sĩ tại gia còn gọi là Cư Nhân Hạnh.

*Chỉ: Trực chỉ
*Ấn: Ấn Chứng vũ trụ nhân sinh.
*Hoàn: Giác hoàn, hoàn tất ba đời Phật hiện thân.

Ngày nay, đa số bậc tu không theo Ấn Chỉ trên làm cho Đạo Phật mang tiếng tiêu cực hay lớp tu ngoại giáo tế lễ đưa con người tín tâm vào nơi tu hành cuồng tín, cầu vái van xin hơn là chính bản thân sửa tánh, lập Thiện Căn hóa giải Ma Lực.

“Phật ra đời có hai lối dụng”

Một lối không, có nghĩa xuất gia ở chùa, cốc không có vợ, chồng, con cái nên tách khỏi ràng buộc của gia đình. Miễn tâm dung thông, không nhiễm trước ngoại cảnh vẫn hoàn giác.

Một lối có, tức Cư Nhân Hạnh, ở gia đình có chồng, vợ, con cái, trăm chiều ngược xuôi của bối cảnh gia đình, khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ... vạn pháp diễn cảnh muôn ngàn lối trong đời sống. Miễn tâm vào ra giới không nhiễm trước vẫn giác ngộ.

Dù tại gia hay xuất gia, tu đúng con đường trực giác vẫn giác ngộ. Phần Ngài chọn tại gia, sống có gia đình vợ và 6 người con. Giới tu xuất gia ở chùa gặp Ngài bỡ ngỡ không tin.

Bậc tu xuất gia còn gọi Thiên Thừa Hạnh tiêu biểu cho phái tu Tịnh, chủ về Tịnh để Độ nhưng cũng phải Tín Hạnh Nguyện nơi NGHE THẤY BIẾT tức vạn pháp, cốt sống động mà hóa giải, dần dần tỏ vô minh không còn nhiễm trở về Tịnh Hoàn Giác.

Bằng sống yên ổn, tránh đụng chạm dù có Tịnh cũng là Tịnh Biệt, một lối tu nguy hại, không bao giờ đến bờ bến Giác. Lối tu xuất ly tránh dơ chọn sạch của bậc xuất gia vô tình trở thành Tiên, Thần Trí không có hoàn giác bao giờ. /-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA – Chương 1

Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc

Tượng Đức Bổn Sư tại thiền viện Pháp Tạng.

Theo lời thọ ký của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn, sau này vào thời Mạt Pháp, Bồ Tát Di Lạc vì Đại Bi nguyện mà Hạ Sanh xuống thế gian, tận độ chúng sanh. Ngài sẽ thành Chánh Qủa, là một vị Phật nối tiếp Đức Phật Thích Ca, chỉnh trang Phật Đạo, giữ gìn Chánh Pháp của Như Lai Phật trường tồn được 5000 năm.

Chiếu theo Phật Lịch, nay đã hơn 2500 năm, được ghi nhận ba lần Đức Di Lạc Hạ Lai khai đạo tại Ta Bà thế giới này, được số đông người tu theo Phật biết tiếng. Ba lần lai trần nữa nhưng Ngài im lặng nên không mấy ai biết đến. Một lần làm Quốc Sư, một lần làm vua đều ở nước Tàu, một lần dạy đạo ở Tây Tạng sẽ được trình bày chương sau.

• Phó Đại Sĩ. Có một kiếp Bồ Tát Di Lạc lai trần ở nước Trung Hoa, Ngài lấy tên Phó Đại Sĩ đến lúc nhập diệt, người thế gian mới được biết Phó Đại Sĩ là hóa thân của Đức Di Lạc.

• Bố Đại Hòa Thượng. Đến đời nhà Lương cũng ở nước Tàu, Bồ Tát Di Lạc lai trần lấy tên Bố Đại Hòa Thượng. Thân hình Ngài khác thường hơn người thế tục, trán thì nhăn, bụng thì lớn và thân người mập mạp. Đến lúc nhập diệt, Ngài ngồi thiền tọa, không tật bệnh gì cả. Lúc đó người thế gian mới được biết Bố Đại Hòa Thượng là Bồ Tát Di Lạc hiện tướng ở Ta Bà thế giới này.

Bố Đại Hoà Thượng

Long Thọ. Lại một kiếp khác, khi Bồ Tát Di Lạc lai trần ở Ấn Độ, Ngài lấy tên Long Thọ, đến lúc ra đi người thế gian mới được biết Ngài Long Thọ chính là hóa thân Đức Di Lạc. Mỗi lần thị hiện ở cõi ta bà thế giới này, Ngài đều vì bổn nguyện làm những việc lợi ích cho chúng sinh.

Sau thế chiến thứ hai cho đến bây giờ, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni đều cho rằng thời này chưa đến lúc Đức Di Lạc xuất thế. Ngài còn ở trên cung trời Đâu Suất, nhiều kiếp nữa mới thị hiện ra đời để tiếp nối Chánh Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trái lại trong lúc đó biết bao lời tiên tri của các đạo giáo như Cơ Đốc Giáo, Phật Giáo, Cao Đài Giáo, Phật Thầy Tây An, Phật Giáo Hòa Hảo lại có cả nhà Bác Học cùng các bậc Dị Nhân ở miền Nam nước Việt Nam cùng các kinh sấm cho biết, Đức Di Lạc đã Hạ Lai tại Việt Nam nhưng còn ẩn.

Họ hoàn toàn tin vững vàng rằng Đức Di Lạc đã ra đời tại Việt Nam. Thực tại vẫn yên lặng, ngày tháng vẫn trôi, nhưng không ai nghe, không ai thấy, những hiện tượng kỳ lạ của kinh sấm xuất hiện để diện kiến Ngài. Dần dần khiến nhiều người bâng khuâng, lo lắng sanh ra nghi ngờ. Theo Đại Tập Kinh, sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, 2500 năm sau là thời Mạt Pháp, Đức Di Lạc Hạ Sanh. Nay đã đến 2538 năm Phật Lịch mà vẫn chưa có Đức Di Lạc ra đời, càng làm cho nhiều bậc học giả cùng những bậc tín tâm tu Phật hoài nghi hơn nữa.

• Đức Di Lạc chính là Khổng Minh. Gần ngày nhập Bát Đại Niết Bàn, Ngài viếng thăm Đà Lạt và mua một tượng Khổng Minh đem về Nha Trang, Ngài ghi chú dưới tượng câu:

Tượng Khổng Minh, Ngài mua ở Đà Lạt

“Đời là BIỂN KHỔ, không mấy ai tránh được cái khổ của đời.
Còn vũ trụ không bao giờ giúp ta, chỉ có tâm ta mới cứu ta mà thôi.
Kẻ VÔ TÂM là độc ác nhất”
–T.V.

Đường đạo Ngài xác định thật rõ ràng: Bậc tu không thể nương tựa chỉ biết cầu vái van xin mà phải chính mình tinh tấn sửa đổi tánh tình cho thật tốt, vạn pháp diễn cảnh phải chịu đựng và tự hóa giải cho sạch nghiệp. Sau khi chánh giác, bỗng tự phát lòng đại bi thương chúng sinh như thương thân mạng mình, không thể ngồi yên thấy chúng sinh đang trầm luân trong biển lửa.

Một hôm Ngài dạy tôi nghe như vầy: Tôi với ông nhiều kiếp luôn ở bên nhau, có một kiếp Tôi làm Quốc Sư ở bên Tàu, thấy người dân bị rên siết trong đau khổ không thể làm ngơ được, Tôi phải đem trí tuệ làm phương thức cứu đời. Ngày nay tu hành tuy không có binh hùng tướng mạnh, không có quyền hành, một người lính canh cũng không có, lại không có một loại vũ khí thô sơ nào ở bên cạnh, nhưng với sự quyết chí tu hành, Tôi lấy Phật Lực đầy quyền uy gấp vạn lần hơn thời trước cứu đời rất hữu hiệu.

Rồi Ngài cho vẽ tượng Quan Công treo trong Tịnh Thất của Ngài. Khi vào phòng, tôi thấy hình Quan Công treo ở tư thế hộ giá, bỗng nhiên tôi trực giác nhớ tiền kiếp của tôi và của Đức Ngài. Tôi ngạc nhiên khi biết Ngài là Khổng Minh đời nhà Hán làm Quốc Sư thời Lưu Bị còn được gọi Lưu Huyền Đức. Lạ thật! rất nhiều ngạc nhiên đối với tôi khi nhìn được từ quá khứ xa xôi vào khoảng năm 191 Lưu Bị-Quan Công-Trương Phi sau khi bàn luận, hẹn nhau hôm sau kết nghĩa trong vườn đào phía sau nhà Trương Phi, bày lễ vật cáo tế Thiên Địa.

Lúc đó Khổng Minh chính là hóa thân của Bồ Tát Di Lạc. Dưới mắt Thiền Sư, nhìn biết tình nghĩa đã trở nên nhân duyên cao dày, tan hợp, hợp tan với bao phong ba, nay ở bên nhau trong thời đại nguyên tử của thế kỷ 20 này! Hai câu thơ của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cũng là Khổng Minh của thuở trước nhắn nhủ sự luân hồi quay tròn không dừng của kiếp người, có tình nghĩa vẫn tái hợp!

–Tịnh Vương

Từ ngàn xưa nay là thế kỷ 20, trình độ, sự tiến bộ của văn minh nhân loại, Ngài Khổng Minh nay lại với cái tên Tịnh Vương Nhất Tôn cũng chuyển mình theo sự tiến bộ ấy và Ngài đã thành công trên khoa học và trên cả những chính trị gia thế giới mới là vi diệu. Ngài thị hiện ở cõi Ta Bà thế giới này, trình độ học vấn chỉ mới lớp ba, chưa hết bậc tiểu học mà biết bao nhà khoa học gia với bằng cấp tiến sĩ, bác học đã phát minh bao điều dù cho tối tân cũng không qua nổi sự chỉ đạo kín nhiệm của Ngài từ xa rất xa. Kinh sách Ngài nhập Chánh Định Tam Muội ghi chép lại những nhân vật trình độ Đại học đọc đã phải thán phục và chưa hiểu hết nổi. Thế mới biết cái học không qua được Chánh Giác.

Tranh Quan Công,
bàn thờ Hộ Pháp

Trong thời Đức Tịnh Vương tận độ chúng sinh, có Quan Công ở cấp Thần thuộc hàng Hộ Pháp vô hình, nguyện ứng trực hộ trì chánh pháp. Quan Công đã tinh tấn dùng thần lực đi đến những nơi cần trên các nước Cộng Sản, giải tỏa chùa chiền bị đóng cửa được mở cửa lại cho các bậc tín tâm vào lễ bái, chiêm ngưỡng Phật và tu hành theo ý nguyện.

Tăng Ni các nước Cộng Sản được tiếp tục ở chùa tu hành cho đến khi nước nhà đổi mới phải kể đến nguyện độ sinh của Chư Thiên, Chư Thần, Chư Long Thần Hộ Pháp...và nhất là của Quan Công. Quan Công thường đến Trung Hoa và Đài Loan giúp giữ gìn dân hai nơi sống trong hòa bình, nhiều lúc gay cấn chính Quan Công nhận mệnh lệnh của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc, đi hóa giải thật là khó diễn tả ra hết được. Cũng chính Quan Công đến nhiều lần ở Liên Xô trong những thời gian Liên Xô và Trung Hoa căng thẳng ở vùng biên giới để ngăn không cho Cộng Sản Liên Xô xua quân tràn sang nước Cộng Sản Trung Hoa.

Quan Công thật có công lớn cùng với Chư Thiên, Chư Thần, Chư Hộ Pháp, Chư Long Thần Hộ Pháp... góp phần xây dựng hòa bình trên thế giới và hộ trì Chánh Pháp do Đức Tịnh Vương điều động và lãnh đạo. Thật không thể tưởng nổi ngày xưa là Khổng Minh ngày nay cũng chính là Khổng Minh trở lại với cái tên Tịnh Vương ẩn dưới bao điều huyền diệu mà giới khoa học Tây Phương đành chịu! Ngày nay Hộ Pháp Quan Công ở đẳng cấp Thần, theo Đức Tịnh Vương lập công đức tu hành, nhóm Ngũ Hổ cùng các cận thần đời Lưu Bị của Hán Triều cũng đều phát tâm tu hành trong Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam tức trong Long Hoa Hội Thượng.

Ảnh Ngũ Hổ, Ngài cho treo
tại Trung-Ương-Hội-
Thượng số 6 Huỳnh Thúc
Kháng, Nha Trang.

Các vua, quan thời đại Đinh-Lê-Lý-Trần cũng lai sinh theo tu quanh Ngài với xác thân mới tên tuổi mới của kiếp này. Không có gì lạ vì nhân duyên đã gieo từ trước, ta thấy lịch sử ghi chép lại những triều đại này đều sùng ái đạo Phật, nay họ cầu Tri Kiến Giải Thoát nên gặp lại. Thời này Lưu Bị cùng những cận thần xưa lai sinh làm người theo tu hành con đường Giác Ngộ.

Quan Công còn gọi Quan Vân Trường không lai sinh làm người mà vẫn giữ vị trí cấp Thần vô hình theo hộ trì chánh pháp, ông cũng thường đi Hoa Kỳ và nhiều nơi của thế giới tự do. Còn Trương Phi ngày xưa nay chính là Tổng Thống Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan. Gần ngày nhập Bát Đại Niết Bàn Đức Tịnh Vương chứng minh cho Quan Công là Hộ Pháp và căn dặn:

“Sau này ông truyền cho các chùa nên thờ Quan Công vì ổng đi giúp mở cửa các chùa cho chúng sinh tu hành!”

Ngày xưa pháp tánh như thế nào thì nay cũng diễn y thời Ngài Khổng Minh thật khó nghĩ bàn. Nhóm Ngũ Hổ cũng nằm Bộ Trung Ương điều hành suốt lộ trình hành đạo của Ngài cho chúng sinh được tu hành. Đặc biệt chân tử Ngài đông và bên cạnh có khá nhiều con cháu Đề Bà Đạt Đa cũng tu nhưng lòng dạ đầy trắc ẩn, đầy tỵ hiềm, luôn tìm cách quấy nhiễu.

Đức Tịnh Vương còn cho ghi bốn câu thơ thể hiện chữ hiếu của Quan Công:

“Bất hiếu tử nạn tai khiên
Khổ hình sài giải bệnh tương truyền.
Oan hình lao ngục oai xiên phối
(đem ngục hình tới)
Thủy hỏa chi tai mạt khải liên.” (liên tục chuyện dữ mang tới)
–Quan Công

Về phương diện thần bí, dưới mắt Thiền Sư giải đáp thì khoa học, không chấp nhận vì họ đòi hỏi phải có hiện vật thí nghiệm cụ thể chứng minh nhưng dù cho có cụ thể chứng minh để giải đáp mà họ chưa có cặp mắt Thiền Định, chưa có trình độ Thiền Sư khó mà nhận được để chấp nhận.

Ví như khi Đức Tịnh Vương Chánh Giác Ngài nhớ tiền kiếp quá khứ, rất nhiều kiếp cả trăm ngàn năm về trước nay thấy đủ chuyện tương lai của nhân loại trên quả địa cầu này cùng của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, giờ này có nói ra càng thêm cải vả. Vài năm mới đây chuyện bảy hành tinh cùng hiện một lúc mà báo chí đã đăng tin, thế giới đâu có biết chính Đức Di Lạc đã thực hiện, dù có biết cũng không thỏa mãn cho họ được. Chỉ trừ họ quay về Việt Nam nguyên cứu, theo học Đông Phương, khám phá ngay chính thân mạng họ, may ra mới thỏa mản được mà giao cảm đồng thể với vũ trụ, với Thượng Đế như trong Hịch chứng minh, Ngài quả quyết có thế giới vô hình hằng hà sa số trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giơi trong khi đó khoa học tìm có vô số hành tinh nhưng lại không tìm ra được sự sống của các sinh vật mà chỉ mắt Thiền Sư mới thấy.

Vì sao? Vì Thiền Sư luôn hướng thượng nhờ ý thức thi hành trong cuộc sống điều ngự tánh tình, kết quả trở thành Siêu Nhân, Thánh Triết, nhận thấy cái gì cũng chân thật, ngoài ra còn cá tánh lấy cái học để nghiên cứu khó mà thấy đặng.

Vua Lý Thế Dân. Đời nhà Đường ở Trung Hoa Vua Lý Thế Dân chính là Bồ Tát Di Lạc trong lúc đó hóa thân Tôn Giả Mục Kiền Liên chính là Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh từ Trung Hoa đến Ấn Độ. Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di lạc khai thị tôi nghe như vầy:

Vua Lý Thế Dân

“Bồ Tát được đích Bất thối tuyệt đỉnh, bậc này an nhiên không còn ái nhiễm, bước ra đi dạo khắp các cảnh giới. Lễ bái Đức A Di Đà Phật, một là an trú tịnh độ hai là phát Đại nguyện lai trần.
Nếu lai trần xuống đặng làm Vua minh chánh, làm lãnh tụ cứu nước, cứu an dân lành, giải khổ ách nô lệ. Bậc này dù tái sanh nơi nào trong lục đạo cũng đặng làm thủ lãnh cứu nguy, chớ không bao giờ làm thường dân cả. Vì sao phải làm vua hoặc làm lãnh tụ? Vì có làm vua hay làm lãnh tụ sau này mới có trang nghiêm quốc độ thành Phật, trước tiên làm chủ giúp dân, sau làm chủ vũ trụ, đó chính là lẽ đương nhiên nó phải như thế.”
–T.V.

Ngài còn dạy: Làm vua để đào tạo tài có Tài mới có Trí. Đức do tu tập nhiều kiếp đã có sẵn. Nay có trí được Đức trí tương song. Bậc tu thực hiện được Siêu Thiện mới có đức lớn như biển cả. Trí Vô Thượng Đẳng là trí không ai địch nổi. Đức trí siêu việt như vậy là Phật.

Cho nên bậc này không hiền mà cũng chẳng dữ. Không thiện mà cũng chẳng ác. Chỉ thực hiện đúng pháp vô sanh trở thành bất tử, nó phải như vậy.

Bậc Thánh Hiền chỉ đi có một mặt phải, còn mặt trái của đời không đủ tài nên dể bị chết mà không oán, lại đem tình thương ban cho họ nữa. Pháp này không có Chánh Giác cũng không có Vô Thượng Đẳng Trí, chỉ có trí Thánh Hiền đến giác ngộ là cùng. Bậc giác ngộ rốt ráo tức Chánh Giác, bậc này phải chờ diện kiến Đức Đại Lực Di Lạc thành Phật thử thách, kiểm tra rồi chứng minh mới được nhập thể.

Như Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã từng chứng minh Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Di Lạc Bồ Tát... Thời hạ kiếp này cũng vậy, Đức Di Lạc đã khai mở Long Hoa 37 năm mà những vị tự xưng Chánh Giác không vào diện kiến để chứng minh, dù có xưng Phật cũng không phải Phật thật vì chưa đủ công năng công đức mà xưng bị kẹt ở Phật Giới thật tai hại vô lượng kiếp. Bởi vậy bậc tín tâm biết rằng, mỗi khi Đức Di Lạc lai trần đều có tất cả các vị Tổ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật theo tu học ở quanh Ngài.

Vua Thế Dân và
Ngài Huyền Trang.

Như đời nhà Đường ở bên Tàu, vua Lý Thế Dân ra đời chính là Bồ Tát Di Lạc thì có Tôn giả Mục Kiền Liên hóa thân là Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh. Một điểm đặc biệt mà bậc tín tâm cần lưu tâm là trước khi viên tịch, chân tử của Pháp sư Huyền Trang tên là Phổ Quang và những người khác có hỏi “Thầy có chắc được tái sinh lên cõi Trời Đâu Suất không?

– Pháp sư trả lời: “Chắc chắn như vậy” Rồi Pháp sư nói “Nhục thân độc địa này của Huyền Trang thật đáng nhàm chán. Nay công việc đã xong, tôi quả không nên lưu lại ở đây nữa. Tôi xin hồi hướng tất cả công đức và tri thức của tôi cho tất cả chúng sinh, cầu mong tất cả chúng ta sẽ được sinh lên cõi trời Đâu Suất theo học Bồ Tát Di Lạc và phụng sự Ngài. Khi Đức Phật lại xuống trần, chúng ta cầu mong sẽ được xuống lại cùng với Ngài để tiến hành Phật sự cho đến khi chúng ta đạt được mục đích Tối Thượng”

Sau khi nói lời từ biệt ấy, Pháp Sư lại Thiền định. Đoạn Ngài đọc lên một bài kệ tán Phật Di Lạc và lập nguyện được tái sinh lên cõi Trời Đâu Suất. Nói xong hơi thở Ngài yếu dần và Ngài tịch một cách bình an. Da Ngài vẫn hồng hào và sắc mặt Ngài hoan hỷ. Trong bảy ngày nét mặt của Ngài vẫn không đổi và nhục thân không thoát ra mùi gì khó chịu. Lúc bây giờ là năm 664 tức là thế kỷ thứ bảy.

Lời thệ nguyện này, nay là thế kỷ thứ 20, đã được trả lời hùng hồn nhất, chân thật nhất được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã chứng minh. Thế mới xác minh sanh tử luân hồi là có thật. Đức Di Lạc Hạ Lai kỳ này ở vào hậu bán thế kỷ thứ 20. Ngài hiện cư sĩ. Trần Huyền Trang cũng hiện cư sĩ. Chư Tổ thời Đức Phật Thích Ca cũng hiện diện đầy đủ với hạnh cư sĩ tại gia. Tất cả đều có gia đình, vợ, con làm tất cả các ngành nghề trong xã hội miền nam Việt Nam.

Nay đã hội tề đông đủ, theo tu học Đức Di Lạc. Trong đó Trần Huyền Trang với hóa thân mới, tên mới của kiếp này đã được Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc chọn đứng đầu Bộ Trung Ương, tiến hành Phật sự suốt lộ trình hành đạo của Ngài ở thế giới này. Ông cũng chịu muôn vàn gian nan, khắc nghiệt của thời mạt kiếp còn hơn thời đi thỉnh kinh nữa. Có rất nhiều chân tử Ngài Tịnh Vương đồng tu với Huyền Trang đã tìm đủ cách xô, lật, đập đổ... đủ hình thức nhưng họ không đủ trí bát nhả nên đã nhiều đợt bị thất bại.

Thật hy hữu thay lời nguyện xưa ở thế kỷ thứ bảy đã được thể hiện đúng vẹn vừa ở thế kỷ 20 này, thế kỷ nguyên tử mà Đức Di Lạc đã hiện thân. Ngày nay đã được giải có đáp số đúng.

Một lần nữa: “Khi Đức Di Lạc xuống trần chúng ta cầu mong sẽ được xuống lại cùng với Ngài để tiến hành Phật sự cho đến khi chúng ta đã đạt được mục đích Tối Thượng” đã được thực hiện và đã đạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, duy nhất được Đức Di Lạc ban hành Hịch vào hàng Bồ Tát Ma Ha Tát trong Đại lễ 30 tháng 9 năm 1989.

Thế mới biết bậc tu hành thành thật tâm và thiết tha tâm đều được Chư Phật mười phương gia hộ chứng minh không có sai chạy. Giả sử nếu thời pháp sư Huyền Trang không được sanh về cõi Trời Đâu Suất như đã hạnh nguyện, sao ta thấy kỳ hạ lai này Đức Di Lạc hiện cư sĩ ở tại gia, Huyền Trang cũng hiện cư sĩ tại gia và gặp nhau kiếp cuối thành Phật của Đức Di Lạc. Huyền Trang cũng đã phụng sự đúng nguyện và đã thành công. Kiếp nào Chư Tổ cũng xuất gia nhưng khi Đức Di Lạc sống tại gia là tất cả cũng tại gia. Do đó chúng ta phải biết rằng đã có sắp xếp của Ngài trước khi lai trần và đã hội tề với nhau trước là chuyện chắc chắn.

Vào hậu bán thế kỷ thứ 11, Tôn giả Mục Kiền Liên lai sinh ở Tây Tạng là một La Ma Milarepa có lịch sử ghi chép cuốn "Milarepa Con Người Siêu Việt". Lúc đó Đức Di Lạc là Thầy dạy đạo cho Milarepa. Bao nhiêu kiếp hạnh nguyện năng động thuộc phẩm Bất Khả Tư Nghì, chờ đến thời Hạ Lai này mới được chứng minh là cả một chuổi dài qua nhiều kiếp tinh tấn không ngừng, không mệt mỏi, cùng sự chịu đựng vạn pháp diễn hành có lắm lúc kiệt sức. Nhiều bậc chạy dài trong thời mạt pháp này, không chịu đựng nổi phải quay lại vào chùa, vào cốc, trốn không gặp vạn pháp diễn hành ở thế gian!

Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị: Chân tử của Ngài hàng hàng lớp lớp hiện nay, người nào thấp nhất cũng làm quan ở triều đình còn thì Đại Thần của Ngài thời Khổng Minh và thời vua Lý Thế Dân đời Đường nay đều phát tâm tu hành. Thế mới xác nhận được nhân duyên đã cao dày nay mới tái hợp được./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA – GIỚI THIỆU

Giới Thiệu

Hoá thân ĐỨC TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
chính là ĐỨC VÔ THƯỢNG DI LẠC TÔN PHẬT
Hạ Lai trần thế 1918 – 1993
Thế danh TỪ THẾ THỌ
CHỨNG MINH VŨ TRỤ THỜI MẠT KIẾP
 
 

Kinh ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

Lộ trình chỉnh trang Phật Đạo của
Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật thời Mạt Kiếp
 
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: TỪ Đâu Ta Đến
Chương III: THỊ Hiện Cư Nhân
Chương IV: DI Truyền Bảo Pháp
Chương V: LẠC Quốc An Khương
Chương VI: TÔN Giả Cúng Dường
Chương VII: PHẬT Vương Minh Chứng

 Chúng con thành kính nguyện cầu Đức Thế Tôn Di Lạc cùng Như Lai Phật Mười Phương minh chứng.

 Chúng con nguyện cầu Nhân Sinh cùng các Cõi Chí Dũng phát tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát, Giải thoát rốt ráo để thoát khỏi sanh tử luân hồi, vì có về cõi Trời, cõi Thiên hay Thần vẫn còn sanh tử luân hồi.

 Chúng con nguyện cầu Chư Phật Mười Phương tiếp dẫn Cứu Độ song thân con cùng Cửu Huyền Thất Tổ kiếp này trở về sau phát tâm tu hành theo con đường Tri Kiến Giải Thoát đặng thoát sanh tử luân hồi.

Phần Tác Giả

Thiền Sư Bồ Tát Di Như Chân Phật Tử Truyền Thừa

* Trong quyển Đức Di Lạc và Long Hoa này, tôi không đủ phương tiện để diễn đạt hết những gì mà ĐỨC THẾ TÔN DI LẠC đã khai thị trong suốt lộ trình Chỉnh Trang Phật Đạo, Tận Độ Hạ Lai của Ngài tính đến năm 1993. Chỉ hóa giải tự mãn lý chướng, nghi chấp để diện kiến may ra mới có thể thỏa mãn được phần nào về Chân Nguyên, Tâm Ấn Như Lai Thiền mà thôi.

* Tứ Chúng Pháp Tạng Phật Giáo Hải ngoại Hoa Kỳ và Vương Quốc Anh, Ấn Hành Phổ Truyền. Nguyện Hồi Hướng Công Đức tu hành TRI KIẾN GIẢI THOÁT cho tất cả Chúng Sanh cùng Thánh Chúng được sống trong Ân Đức TỪ THỊ của Phật Nhãn Phổ Chiếu giữa thời ĐƯƠNG SANH HẠ LAI.

 

 Hỡi Người Chân tử Phật Đà
 Nghìn năm Pháp Tạng trổ hoa một lần

–Tịnh Vương 

NAM MÔ DI LẠC TÔN PHẬT
HẠ LAI TẬN ĐỘ

Phụng ghi tại Sài Gòn Mùa Vu Lan năm 1995
Tức ngày 14 tháng 7 Âm lịch năm Ất Hợi

Hóa Thân DI NHƯ
Đại Hiếu Đại Trung
Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát
HẠ SANH ĐỒNG ĐỘ

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến

CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng

VẾT CHÂN NGƯỜI CƯ SĨ

Người Cư Sĩ, vết chân người Cư Sĩ
Đạo hay đời tê tỉ sắt son,
Hiên ngang đâu há mỏi mòn,
Bên trong Bảo Pháp, ngoài choàng cư nhân.

Người Cư sĩ, nào cầu danh giả,
Lòng nhủ lòng,đồng hóa nhân sinh,
Dụng đời để chỉ viên minh,
Biết chăng,chăng biết lộ trình thế thôi.Người Cư Sĩ, khúc nôi tường tận,
Đâu nào đâu vướng bận non sông,
Tình chung vui sống nhịp đồng
Đạo tràng khắp khắp, nói không bến bờ.Người Cư Sĩ, lời thơ êm ả,
Nhiên như nhiên hồn thả muôn phương,
Cùng thế nhân đồng diễn tấm tuồng,
Đứng chung một cảnh không vương thế tình.

Người Cư Sĩ, xây nền Chánh Pháp,
Nguyền thề nguyền đền đáp ơn sâu,
Nên chi chẳng có danh cầu,
Miễn sao chân lý trước sau giải bày.

Người Cư Sĩ, vết chân người Cư Sĩ,
Bổn nguyện nầy chung thủy tình son,
Hai vai, một gánh không mòn,
Đạo Đời hộp nhất, trường tồn Phật Tôn.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Ngày 21-01- năm Tân Hợi ( l97l )

KHAI THỊ NGỘ NHẬP: BỐN TƯỚNG GIẢI THOÁT

BỐN BẬC THỌ LÃNH BẢO PHÁP NGỘ NHẬP

Khi bấy giờ TA nhập CHÁNH ĐỊNH, quán sát các bậc tu chứng thọ lãnh Bảo Pháp bất đồng, cho nên nơi hiểu biết chia ra từng thứ bậc, thứ lớp cạn sâu khác nhau, thường bị thối chuyển.

Nay TA tuyên đọc lời KHAI THỊ nơi NGỘ, NHẬP của Tứ Chúng thiếu khuyết, để Tứ Chúng tùy khả năng, tùy Hạnh Nguyện nơi mình cố vươn mình cầu nơi TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NƠI NGỘ NHẬP, BỐN TƯỚNG GIẢI THOÁT?

- Từ Phàm Phu thọ lãnh Bảo Pháp chưa thực hành Hạnh Nguyện nên Phàm Phu NGỘ NHẬP Giải Thoát nơi Phàm Phu, chớ chưa vào hàng Tiên Thần Giải Thoát.

- Hàng Tiên Thần thọ lãnh Bảo Pháp chưa thực hành nơi Hạnh Nguyện Hóa Giải dù cho có NGỘ NHẬP GIẢI THOÁT nơi Tiên Thần chớ chưa đứng vào hàng A LA HÁN GIẢI THOÁT.

- Từ A La Hán thọ lãnh Bảo Pháp NGỘ NHẬP, thực chứng GIẢI THOÁT nơi A La Hán chớ chưa đứng vào hàng BỒ TÁT.

- Từ Bồ Tát thọ lãnh Bảo Pháp NGỘ NHẬP liền tu chứng nơi Bồ Tát chớ chưa hoàn toàn GIẢI THOÁT nên chưa thể đứng vào hàng của CHƯ PHẬT.

1. THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NGỘ NHẬP CỦA PHÀM PHU?

Khi Phàm Phu đặng nghe lời KHAI THỊ của Bậc CHÁNH GIÁC, dù cho có NGỘ NHẬP hiện tại của hàng Phàm Phu chăng nữa, vẫn là nơi Chứng Tri Ngộ Nhập Tâm Hồn thư thái của Phàm Phu chớ chưa đứng vào TIÊN THẦN GIẢI THOÁT. Vì sao? Vì thiếu kém Đạo Hạnh sa sút Hướng Thượng Thanh Cao, Tâm đang còn dưới vặt mắc tham vọng. Lúc nghe Bảo Pháp dùng lý trí trình độ Kiến Thức Thọ Lãnh, nên lời Pháp kia chưa hẵn Phật Pháp lại là Phàm Phu Pháp nên chi có Giải Thoát chăng vẫn Giải Thoát của Phàm Phu chớ chưa đứng vào hàng TIÊN THẦN GIẢI THOÁT.

2. THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NGỘ NHẬP CỦA TIÊN THẦN?

Bậc tu Tiên Thần, hay bản chất Tiên Thần hoặc bậc Tiên Thần. Lúc nghe đặng thọ lãnh Bảo Pháp của Bậc CHÁNH GIÁC, cho đến nơi NGỘ NHẬP hiện tại vẫn là sự Chứng Tri Tâm Hồn Thanh Tịnh của Tiên Thần chớ chưa bước nơi THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG của Bồ Tát hoặc Hải Chúng Thanh Tịnh hàng A La Hán Chứng Tri thành thử chưa vào đặng hàng A La Hán có đâu đến THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT?

Thế nào gọi là THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT?

Bồ Tát thọ lãnh nơi Đại Hải Chúng của Pháp Giới Chúng Sanh mà tỏ ngộ nên chi gọi là Đại Hãi Chúng. Bồ Tát tu trì ra vào các Pháp Giới để Hành Thâm, ra vào chung sống với từng lớp con người từ TỊNH BẤT TỊNH mà Sở Đắc ĐẠI THANH TỊNH nên mới gọi là THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT.

Thế nào gọi là HẢI CHÚNG THANH TỊNH nơi A LA HÁN?

Bậc A La Hán chịu không nổi với Pháp Giới Chúng Sanh, do đó nhìn nhận nơi vọng loạn trước Vạn Pháp Tâm nương nơi Vạn Pháp mà trở thành Đảo Điên liền Nhiếp Tâm Thanh Tịnh, Diệt Vọng Loạn đặng Thanh Tịnh Tâm, đối với Tiên Thần công dụng Thanh Khiết Tâm mà an trụ nơi Tâm Thanh Tịnh nên chi chưa vào A LA Hán Giải Thoát chỉ đứng nơi cương vị Tiên Thần Giải Thoát.

3. THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NƠI NGỘ NHẬP CỦA A LA HÁN ?

Bậc A LA Hán đặng nghe lời KHAI THỊ của Bậc Chánh Giác cho đến Thọ Lãnh NGỘ NHẬP hiện tại của A La Hán chăng vẫn A La Hán Giải Thoát của A La Hán chớ chưa đứng vào hàng BỒ TÁT GIẢI THOÁT. Vì sao?

Vì A La Hán tu trì nơi hàng Nhị Thừa cố định NIẾT BÀN GIẢI THOÁT chớ chưa nhận TỐI THƯỢNG NHẤT TÔN GIẢI THOÁT, nên chi NGỘ NHẬP tùy nơi rộng hẹp mà thành tựu HỮU VÔ NIẾT BÀN nơi hàng nhị thừa tu chứng. Do đó nên chi lời khai thị đến Ngộ Nhập chốn Giải Thoát A La Hán chớ chưa đứng vào hàng Bồ Tát đặng.

Thời xưa Tổ BỒ ĐỀ ĐẠT MA hóa giải lời Khai Thị của Ngài mong cho hàng Nhị Thừa đặng tu chứng vào hàng Bồ Tát Thượng Thừa, Ngài mới đem lời nói quyết định ĐỘNG-GIÁC còn TỊNH để ĐỘ, vì hàng Nhị Thừa gìn giữ Thanh Tịnh Tâm chớ chưa trọn hưởng TỊNH GIÁC.

4. THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NƠI NGỘ NHẬP CỦA BỒ TÁT ?

Bồ Tát nghe đặng lời KHAI THỊ đến NGỘ NHẬP của Bồ Tát vẫn Chứng Tri Giải Thoát từng cơn từng thứ lớp nơi Bồ Tát chớ chưa đứng vào hàng của CHƯ PHẬT hoàn toàn Giải Thoát. Vì sao? –Vì Bồ Tát đang Hành Thâm Pháp Giới để nhiếp thu lần tỏ Pháp Giới, chớ Bồ Tát chưa thực hành Đánh Đổi Pháp Giới đặng TỰ SANH. Lại nữa: Bồ Tát còn nương nơi NHƯ LAI tu trì Bát Nhã, chớ chưa hoàn toàn HỶ XẢ Cúng Dường Như Lai để Thành Tựu Như Lai. Bồ Tát tu tập Hóa Giải Pháp Giới Độ Sanh chớ chưa TRỌN GIẢI để HÓA THÂN PHẬT. Do lẽ ấy nên chi Bồ Tát thường trú nơi Pháp của Bồ Tát chớ chưa đúng với trọn vẹn là Phật Pháp, vì chưa đúng với Phật Pháp nên chi Bồ Tát mới Đại Nguyện đem tất cả thân mình, Đầu Óc, Tai Lưỡi, Mũi Họng Cúng Dường Như Lai, cầu thành tựu đặng NHƯ LAI NHÃN TẠNG THỰC TƯỚNG VÔ TƯỚNG TAM MUỘI PHÁP MÔN đặng nói lên tỏ rõ đúng với Phật Pháp, khi Phật Pháp nọ chính là lời của Phật Khai Thị, thời Bồ Tát nọ nhìn xa, thấy rộng đầu óc sáng suốt khỏi lầm mê, lưỡi họng nơi Bồ Tát đem những Mật Ngữ ích lợi cứu giúp Chúng Sanh, đem lời nói ban trải khắp nơi, Bồ Tát thành tựu TƯỚNG PHẬT Chánh Báo Lời Vàng, thân mình trở nên KIM THÂN, trọn vẹn NHƯ LAI cùng PHẬT TƯỚNG. Đó chính là Bồ Tát thực hành Chứng Tri Phật Quả.

Bằng Bồ Tát gìn giữ nơi NGỘ NHẬP nơi Hiểu Biết trong cương vị Trí Tuệ, chưa thực hành CÔNG ĐỨC CÚNG DƯỜNG NHƯ LAI, chưa đánh đổi Pháp Giới để TỰ SANH, chưa Phát Đại Nguyện đem Thân Mạng Đầu Óc Tai Lưỡi Mũi Họng Cúng Dường thời Bồ Tát dù cho có NGỘ NHẬP Bá Thiên Vạn Pháp chăng nữa vẫn là Ngộ Nhập của Bồ Tát chớ chưa THÀNH PHẬT. Đây chính là lời nói Chân Thật nhất.

THẾ NÀO LÀ KHAI - THỊ - NGỘ - NHẬP GIẢI THOÁT?

Nầy các Chân Tử:

Nơi thực hành Tu Chứng nó phải có từng thứ bậc, chẳng khác nào tạo ra giống gì thời nó thành tựu ngay giống ấy vì nó như thế nên chi lời KHAI THỊ nơi NGỘ NHẬP nó vốn tùy theo Công Qủa cùng Đức Hạnh mà Chứng Tri, tùy nơi trình độ Công Năng mà Thọ Lãnh Bảo Pháp, lúc thọ lãnh đặng Bảo Pháp nơi Khai Thị, nó liền tùy theo TƯ TƯỞNG NGỘ NHẬN Đúng Sai của từng Bậc mà diễn hóa, Hành Gỉa vẫn ngỡ chính mình Ngộ Nhập đúng với lời Khai Thị của Bậc Chánh Giác, nào ngờ nó tùy thuận Sở Chứng của mình mà Ngộ Nhận. Đối với chân lý chỉ có một, đối với lời Khai Thị của Bậc Chánh Giác Không Hai. Nhưng trình độ Công Năng và Chí Dũng thiết tha tu hành chia ra từng lớp, từng bậc vì như thế nên chi Phật nói: “DUY NHẤT CHỈ CÓ PHẬT THỪA CHỚ CHẲNG CÓ TAM THỪA, TAM THỪA DO CÔNG NĂNG SỞ HỮU NƠI CHÂN TỬ NÊN MỚI CÓ NƠI BẤT ĐỒNG NGỘ NHẬP”

Hỡi các Chân Tử:

Pháp Môn KHAI THỊ NGỘ NHẬP GIẢI THOÁT, các Chân Tử phải lướt qua từng lớp, từ nơi Phàm Phu tu trì cần phát Bồ Đề Tâm Nguyện, từ nơi Tâm Nguyện phải Hành Sự Công Phu Công Đức cùng công phu tu tập Sửa Tánh cho trí tuệ mở mang, giúp đỡ cho người cùng qua các hoàn cảnh Tâm không nhàm chán, Tâm Khẩu Ý phải tu sửa cao đẹp, Trí Tuệ cần Hướng Thượng. Khi các Chân Tử tu hành đúng với hàng Tiên Thần đương nhiên qủa vị nơi mình đang đứng chung với Tiên Thần. Khi các Chân Tử tinh thần Chí Dũng đúng với A La Hán cùng Chư Bồ Tát thời đương nhiên đứng vào hàng La Hán hoặc Bồ Tát. Đó chính là lẽ dĩ nhiên nó phải như thế.

Bằng Trí Tuệ Hóa Giải mê chấp Ngộ Nhập Thông Thái, nhưng hành vi thấp kém, Lý Chí mưu sinh quá ư chênh lệch với Trí Tuệ thời nó vẫn chưa có nơi đúng đắn mà ngang hàng với Bồ Tát hoặc La Hán.

Nầy các Chân Tử:

Chân Lý Phật Pháp duy nhất chỉ có một. Nhưng trót mê lầm sa đọa nơi Thân Tâm thời Chân Lý trở thành BA yếu tố tu đạt trọn vẹn mới Thành PHẬT. Bằng công dụng Trí tuệ Sở Đắc lấy Chân lý thời đương nhiên mới có Trí Tuệ Thông Đạt PHÁP THÂN SỞ ĐẮC CHÂN LÝ chớ ỨNG THÂN chưa đạt đến Chân Lý. Nếu công dụng Đạo Hạnh Tu Trì kiên cố thời ỨNG THÂN SỞ ĐẮC CHÂN LÝ chớ PHÁP THÂN chưa Sở Đắc Chân Lý.

Sự sai lệch nó làm cho các Chân Tử từ nơi hiểu biết Ngộ Nhập thảy đều trôi qua như dòng nước chảy, nhìn lại đến mình thì thấy chính mình hiểu biết, nhưng sự kết qủa hiện tại chưa thấu đáo, đó chính là một mối lo nghĩ không nhỏ của các Chân Tử nơi thời Mạt Pháp nầy vậy.

Các Chân Tử nên tu hành nhịp nhàng bước qua BỐN TƯỚNG KHAI THỊ NGỘ NHẬP nầy cho đặng đầy đủ ỨNG THÂN ĐẮC CHÂN LÝ. PHÁP THÂN ĐẮC CHÂN LÝ liền Sở Đắc BÁ THIÊN VIÊN MÃN HOÀN TẤT. Đó chính là lẽ dĩ nhiên phải như vậy.

Hỡi các Chân Tử:

Thời Hiền Kiếp ĐỨC BỔN SƯ Hiện Thể ra đời. Ngài công dụng sự Tu Chứng Đạo Hạnh và Trí Tuệ song tu, khi thành tựu ĐỨC TRÍ TƯƠNG SONG CHÂN NGUYÊN TRỰC GIÁC, Bậc Sở Đắc Chân Lý liền Chánh Báo hiện tiền. Thời bấy giờ các bậc tu thường gặp gỡ các Tiên Thần nơi Chánh Định Tam Muội giao cảm tất cả Tam Thiên tùy Công Năng lớn nhỏ rộng hẹp giao cảm. Qua thời Hạ Kiếp Đương Lai dân tình khốn khổ, Lý Trí lại phát sanh mỗi con người có một ý nghĩ nơi bản thân TỰ TU hơn là nghe theo lời Phật dạy trong Kinh Điển, dù rằng có nhiều bậc đem Kinh Điển nghiên cứu để tu nhưng chính thật ra Tu nơi Lý Trí của mình hơn là tu theo Giáo Lý Kinh Điển, do lẽ ấy trở thành lạc hướng Giáo Lý nơi PHẬT TÔN sai lệch nơi Chánh Báo Chân Lý nên chi con người hiện tại, tu thì thật nhiều người tu, nhưng kết qủa hữu hiệu chưa nhận ra được nơi Tu Chứng của mình để làm Kim Chỉ Nam đi đến hoàn tất.

Nầy các Chân Tử:

Nói đến hàng tu hành chuyên chính ở kiếp Hạ Lai nầy đối với Phật Đạo, có Bậc công dụng Đạo Hạnh quá nhiều, Tu Thân từ cử chỉ đến lễ bái cúng dường Hữu Tướng xây chùa, dựng Tháp hành lễ không ngừng, trường trai tinh tấn. Khi Ứng Thân Sở Đắc nơi Chân Lý được tất cả Nhân Sinh cung kính hầu hạ lễ bái nơi lòng hoài mong dục vọng của con người chưa đem đến lợi ích chi nơi PHÁP THÂN Trí Tuệ Hóa Giải cho con người Hóa Sanh Sở Đắc Chân Lý, mà chính bậc Tu Thân vẫn mơ màng đường đi lối về nơi Chánh Báo tình trạng nầy Bậc tu hành phải Công Dụng Chiêm Ngưỡng để được thoát sanh nơi TỊNH ĐỘ.

Hỡi các Chân Phật Tử:

Nói đến Bậc thứ Hai của Thời Hạ Lai tu hành chuyên chính nầy đối với Đạo Phật. Bậc nầy vẫn PHÁT BỒ ĐỀ TÂM NGUYỆN Công Dụng lời ĐẠI NGUYỆN phát sanh chuyên ròng về Tự Tánh Tỏ Tánh sáng soi từng Pháp Giới nên nơi hiểu biết khá nhiều về Trí Tuệ, sở Đắc CHÂN KHÔNG ngang hàng với Ông TU BỒ ĐỀ trong kinh Kim Cang thưa hỏi.

Nhưng tại sao chưa đến Chánh Báo như Ông Tu Bồ Đề thuở nọ? Chưa đặng Đức Hạnh như ông Tu Bồ Đề thuở xưa. Đó chính là một câu hỏi để các Chân Tử thức tỉnh trong sự việc tu hành thiếu Đạo Hạnh, thiếu kém Công Năng trên con đường Hạnh Nguyện Bổ sung cho Trí Tuệ Giải Thoát.

Nầy các Chân Tử:

Bậc thứ Hai Sở Đắc Trí Tuệ thụ hưởng Pháp Thân nên chi hiểu biết Trực Giác chỉ thanh thoát về Trí Tuệ thụ hưởng nơi Trí Tuệ chớ chưa thọ hưởng được ỨNG THÂN CHÁNH BÁO. Bậc nầy nếu là Bậc căn bản nơi Giác Ngộ Tu Trì thời gian Bất Thối mới trọn tin Phật Đạo, mới công nhận Đạo Phật Chân Lý nơi PHẬT chính là một tài liệu Cứu cánh con người rất tế nhị bền vững đời đời, bằng Bậc nầy chưa đến căn bản Trí Tuệ liền sa đọa nơi Kiến Dục, công dụng sự khôn ngoan nơi mình để tạo cuộc đời sung sướng trên Nhân Loại, đó chính là bọn người làm cho Đạo Phật phải suy đồi Mạt Pháp, thật ra Phật Pháp không Mạt, chỉ vì bọn tu sai lạc nên Pháp nơi PHẬT bị lạc gọi là LẠC PHÁP.

Con đường tu duy nhất nó chỉ có MỘT, vì vậy nên chi vị Phật sau phải nhìn vào vết chân của vị Phật trước đã đi cùng đã thực hành mới kết qủa Thành Phật. Vị Bồ Tát cùng Chư Bồ Tát thi hành Hạnh Nguyện tu trì phải nương theo vết chân của Chư Bồ Tát đã từng Hạnh Nguyện, nay Chư Bồ Tát Hạnh đồng nương theo để Tròn Nguyện.

Đối với các Chân Tử, sự tu hành nó vốn phải như thế không sai chạy, cho nên Chư Bồ Tát Tâm Nguyện những gì KHÓ LÀM mà LÀM ĐẶNG, những chuyện KHÓ NGHE mà NGHE ĐẶNG, những thời gian KHÓ TU mà TU ĐẶNG mới mong thành tựu.

Cho nên:

Sông sâu Ta vẫn cố chèo
Núi cao, rừng thẳm ngặt nghèo phải qua.
Bồ Tát cho đến Phật Đà
Cùng chung một ngỏ, trải qua một đường.
Dù cho vạn nẻo, muôn phương
Bản Năng Trực Giác Chân Thường Giác Chân.

Đứng thời LẠC PHÁP Thất Chân Truyền Ta tuyên đọc, từ đời nầy đến đời sau nhớ lấy
BỐN BẬC THỌ LÃNH BẢO PHÁP KHAI THỊ NGỘ NHẬP HOÀN MỸ GIẢI THOÁT.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

 

CÁI MÊ CHÍNH NÓ KHÔNG GỐC

Tôi về Trung Ương Hội Thượng lúc 21 giờ ngày 24 tháng 7 năm Giáp Dần, tức ngày 10-9-1974, theo như thường lệ mỗi tối, tôi thảy đều về Trung Ương đặng gần Đạo Hữu, Đạo Tràng làm nguồn an vui duy nhất của đời tôi. Khi tôi về đến nơi nhận thấy có sự khác lạ khó nghĩ bàn hơn các buổi trước, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tỉnh tọa trang nghiêm, hiện diện gồm có ông Tạng Bữu, Tạng Nguyên, Tạng Tích, Pháp Bách, Bà Pháp Tùng, Bà Tạng Trình cùng một số Tín Chúng đang ngồi quanh Ngài lặng lẽ, Tôi bước vào lễ bái xong ngồi lại một bên, Ngài bảo tôi đem bút chỉ ghi chép Giáo Ngôn.

Ngài dạy:

Các Ông cũng nên biết: “CÁI MÊ CHÍNH NÓ KHÔNG GỐC”, Nếu Mê nó có gốc thì chẳng bao giờ tu Giác Ngộ. Ngài nói xong trầm ngâm chốc lát rồi Ngài dạy tiếp: Nhưng kẻ đã trót Mê thì cái Mê nó liền có nguồn Mê của nó để mà Mê.

THẾ NÀO LÀ NGUỒN MÊ?

DUYÊN KHỞI SANH TÂM đó là Nguồn Mê. Khi đã có Tâm Sanh, Tâm nó liền có TÁNH, đó là Nguồn Mê. Tánh ấy phải có THỨC, đó là Nguồn Mê. Thức thì linh động di chuyển không ngừng, bởi bậc tu hay kẽ chưa tu mong cho Thức ngừng an trụ mà trở thành NGHIỆP. Đó chính là nguồn Mê trong TỨ THỜI lầm lẫn từ trên xuống dưới để Thọ Chấp làm Chúng Sanh Giới vậy.

Hôm nay Tôi ra thời Giáo Ngôn này chủ yếu dạy, đồng chỉ rõ sự mê lầm của Tứ Thời để cho các Ông nhận định rõ biết khỏi Thọ Chấp, khỏi an trụ để mà tu, đồng thời lưu lại cho đời nầy, đời sau làm một hướng Chỉ Đạo, tu Tứ Thời trở thành mục tiêu tu chứng, từng cấp bậc cao, thấp khác nhau, rốt ráo hoặc chưa rốt ráo mà thành tựu vậy. Đó là thời Giáo Ngôn tùy nghi xử dụng tín dùng.

Các Ông cũng nên biết: Buổi ban đầu bậc tu hành bước vào ngưỡng cửa nhà Phật, phát Bồ Đề Tâm thì trước tiên phải thi hành GIẢI NGHIỆP, Nói đến Nghiệp, mỗi bậc tu đều có Nghiệp, kẻ chưa tu vẫn có Nghiệp, Nghiệp nó sai khác nhau tùy theo tư tưởng Thần Thức năng chấp trụ, tùy theo lớn nhỏ rộng hẹp của Ý THỨC mà trở thành Nghiệp, tùy theo Nghiệp Thức Thọ Chấp, nhưng cốt yếu muốn tu, phải giải Nghiệp mới tu.

Nghiệp thì thật nhiều vô kể, nó có đủ khía cạnh mà Thọ Nghiệp. Do lẽ ấy, nên bậc tu dùng đủ phương tiện, đủ phương pháp, tiêu trừ Giải Nghiệp. Sự Giải Nghiệp tùy theo trí tuệ lướt qua hoàn cảnh, tạo công năng Giải Nghiệp, cứ giải bớt Nghiệp bao nhiêu thì Trí Tuệ tăng trưởng Thọ Lãnh Bảo Pháp bấy nhiêu. Công Năng Giải Nghiệp giúp cho bậc tu mau đến Sở Cầu, Sở Nguyện thành tựu, dù tu hành chưa có kết quả chi cho lắm, nhưng có thật hành giải Nghiệp, đặng Phước Báo Nhân Thiên, khỏi sa ba đường ác Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục. Nếu tu hành quyết tâm trừ giải, đánh đổi lề lối nhỏ nhen của đời, để tiến đến con đường Đạo rộng rãi thanh thoát chứng quả, thì rất cần đến Pháp Môn Giải Nghiệp. Khi Giãi Nghiệp rạng rỡ liền đặng chứng tri Tiên Thần hay sanh về Cõi Trời nơi Tam Giới. Bậc tu thường tự soi lấy mình về Nghiệp còn nhiều hay ít thì hãy soi trên bước đường tu tập, trên con đường Đạo, nếu Duyên tròn không thiếu sót ấy là Nghiệp vơi. Bằng lơ là biếng trể cho rằng gặp chuyện nọ thế kia trốn tránh, đó chính Nghiệp đầy. Tôi có câu:

“DUYÊN TRÒN NGHIỆP VƠI
DUYÊN LƠI NGHIỆP ĐẦY”

Các Ông cũng nên biết, Tôi nói Tứ Thời của Nguồn Mê, Lý Sự Giải Nghiệp, mới thi hành phần nhất mà đã kết quả đáng kể là: MÌNH TỰ NÂNG LẤY MÌNH, PHƯỚC BÁO NHÂN THIÊN, hưởng các cõi Trời. Nếu bậc tu Nhất Tâm THẬT HÀNH, THẬT TU trong thời hai thì có lợi vô kể, một là đắc quả A LA HÁN, hai là BỒ TÁT HẠNH tu rốt ráo Tứ Thời thành PHẬT. Đây chính là lời tuyên rõ giữa thời HẠ LAI CHỈ ĐẠO, các Ông nên nghe rõ Thời Hai Tôi nói. Ngài dạy tiếp:

Thời Hai có hai lối tu, hai bậc tu. Một là Bậc NHIẾP THÂU THỨC, hai là Bậc KHÔNG NHIẾP THÂU THỨC.

THẾ NÀO LÀ BẬC TU NHIẾP THÂU THỨC?

Bậc tu thấy Thức thường di chuyển, tư tưởng động vọng quá nhiều mà trái lại sự mong mỏi của bậc tu đến Thanh Tịnh. Vì lẽ ấy nên NHIẾP THÂU bằng cách kềm chế động vọng, huân tập Tịnh Tâm, lìa bỏ Nghiệp Thức, Ý Thức dung dưỡng Thần Thức gọi là Tu Tịnh, chủ quán Định Thần Tưởng Thức, sau khi luyện Thần ép Thức đắc quả A LA HÁN là Bậc Nhất trong lối tu Nhiếp Thâu Thức nầy. Ngoài ra thiếu công năng được thành Tiên Thần. Đó là một lối Giải Nguồn Mê Thời Hai thu nhiếp, lại dùng Tư Duy Thức Tịnh thành tựu vậy.

THẾ NÀO LÀ BẬC TU KHÔNG NHIẾP THÂU THỨC?

Bậc tu hành KHÔNG NHIẾP THÂU vẫn nhận thấy Thức thường di chuyển, Tư Tưởng động vọng, Tịnh Bất Tịnh trăm phương vạn thức không đáng sợ , bậc ấy không nhiếp thâu Thức, vẫn nương theo Thức di chuyển, cốt yếu khi Nghi Chấp để Phá Chấp đưa về sự rõ biết Nghiệp Căn Chủng Tánh các Pháp di chuyển của Thần Thức Ý Thức, gọi là Trụ vào Thức mà không trụ Thọ Chấp. Phật thường căn dặn Bồ Tát: TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ cũng thế.

Các Ông nên nhớ, Bậc Tu biết giải Nguồn Mê của Thức, chính là Bậc biết nương theo Thức, cốt soi biết rốt ráo mạch lạc Bổn Lai của Thức, chuyên tu đoạt đến TỰ TÁNH TỎ TÁNH, chớ chẳng phải nương theo Thức mà an trụ thọ chấp nơi Thức. Nếu thọ chấp thì đương nhiên bị Chứng Tu của mình chỉ tu đến đó mà thôi. Nên Tôi thường dặn: NGHI CHẤP ĐỂ PHÁ CHẤP chính là tiến bộ chớ chẳng phải NGHI CHẤP ĐỂ CHẤP LẤY NGHI dừng trụ. Cũng như nương theo Vô Ngã tìm Chân Ngã cũng thế.

Đối với Thức nó chỉ có một ở trong Tứ Thời Nguồn Mê, nhưng linh động trên dưới, ngoài trong trở thành thanh thô, rộng hẹp, nặng nhẹ, phân toán. Do đó, nó phải làm ba lối khác nhau, để tiêu biểu cho sự Tu Chứng khác biệt, từ Phàm Phu đến Trí Thức qua Đại Thức Tiên Thần.

THẾ NÀO LÀ BA LỐI?

Lối thứ nhất THẦN THỨC, lối thứ hai Ý THỨC, lối thứ ba NGHIỆP THỨC.

– Lối THẦN THỨC suy tưởng thanh thoát, tìm hiểu rỗng rang, dị thoát cao siêu, soi khắp vũ trụ nhân sinh, Tiên Thần, Tam Giới. Nếu là bậc Tu Thiền thời Thần Thức di chuyển cùng khắp mười phương, qua từng Cảnh Giới cốt để tỏ ngộ, Thần Thức chính là một Nguồn Mê, dễ dàng đưa cho bậc tu hành lầm tưởng mà Thọ Chấp, ngỡ mình thành Phật, thành Tiên cao cống Tự Ngã. Do lẽ ấy nên Phật căn dặn: “Nếu chấp nhận mình Sở Đắc thì chẳng Đắc”. Vì sao? Vì Sở Đắc Định Tưởng đương nhiên bị lầm từ THẦN THỨC trở thành NGHIỆP THỨC chấp trụ. Các Ông thấy Ngộ là yếu tố nguy hại của sự lầm nhận chưa? Chúng tôi đồng thưa:

Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, thật nguy hại, nếu trong thời Chuyển Thức, chẳng có Bậc CHỈ ĐẠO thì chúng con rất dễ lầm nhận. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ gật đầu dạy tiếp:

Nói về THẦN THỨC nó có Bổn Tánh rổng rang lung lạc tùy thuận theo ưa thích nó liền đưa đến suy tưởng như ý nguyện. Nó lại di chuyển Đồng Ứng làm cho bậc tu thích thú vui vẻ hỷ lạc mà lầm nhận, vì Bổn Tánh nó như vậy, nên Bồ Tát thường dùng Thần Thức làm nơi an vui trong chốc lát Đạo tràng, Bồ Tát không Thọ Chấp.

Bậc Thiền Tọa gặp lúc Thần Thức dồi dào thường khi xuất thần đi vào các Cảnh Giới du hành. Lối xuất Thần này có hai lối khác nhau. Thế nào là khác nhau?

Bậc nương theo Thức, lúc Xuất Thần vào Cảnh Giới BIẾT ĐÓ CHÍNH LÀ NGUỒN MÊ CỦA DIỄN CẢNH, nên KHÔNG CỐ ĐỊNH CHẤP TRỤ để thụ thai vướng vào Nghiệp Thức Cảnh Giới. Còn bậc tu NHIẾP THU THỨC thường dung dưỡng Thần Thức, lúc Xuất Thần liền huân tập Nhiếp Thâu để THỤ THAI NƠI ĐỊNH TƯỞNG MÀ CHẤP TRỤ, tu đến thành tựu liền bị an trụ.

Các Ông nên nhớ kỹ, Thần Thức nếu nương theo để tỏ ngộ Sở Đắc PHÁP THÂN, thật yếu tố quan trọng, bằng Sở Chấp, Sở Trụ liền bị Tu Chứng đến mức trụ mà thôi, theo như lời Tôi đã nói trên.

– Còn về phần Ý THỨC, Ý Thức bổn lai của Ý Thức năng phân, nếu chấp thì bị biệt, lại năng tách, nếu thụ thì bị biết. Nó đo lường tỉ mỉ từng môn, từng tướng, từng hạt cát đến Vũ Trụ không thiếu sót. Bậc tu biết nó như thế, phải nương theo nó lập Đạo Hạnh, xem xét tỉ mỉ thật biết, nó chính là một cơ bản Tướng Phần Hạnh Nguyện thành tựu SẮC THÂN TƯỚNG PHẬT, Tịnh Độ Niết Bàn, Trang Nghiêm Cõi Phật, không thiếu sót Cảnh Giới, Từ Chư Thiên an hưởng hoan lạc, đến Phàm Phu tu cầu Phước Báo giàu sang. Cái giá trị kiểm kê của Ý Thức đối với Bậc Giác Ngộ nó như vậy, Bậc tu phải nương theo để thành tựu, bằng chưa biết dụng nó làm một quan điểm duy nhất để tu như nghiên cứu từng văn tự, ép xác, Đạo Hạnh cố định, tỉ mỉ Thọ Chấp thật khó tu. Đối với Ý Thức, mang nặng thì Phàm Phu nhỏ nhen eo hẹp, mà bỏ nó ra thì Phi Đạo buông lung Tà Kiến. Vì sự hệ trọng và ích lợi của nó như thế nên Phật căn dặn ĐỨC TRÍ TƯƠNG SONG. Vì sao?

Vì Ý Thức tạo Đức, Thần-Thức phát HUỆ. Ý Thức là PHÁP ĐỊNH, Thần Thức là PHÁP HUỆ, Ý Thức là ỨNG THÂN, Thần Thức PHÁP THÂN, các Ông nên nhớ kỹ. Ngài dạy đến đây, hớp một chung trà của Tín Chúng vừa dâng. Ngài dạy tiếp:

– Còn đối với NGHIỆP THỨC,
là một Nguồn Mê Thọ Chấp dừng trụ, Nghiệp Thức cũng gọi là Chấp Pháp, nếu một bên tu Đạo Hạnh hay một bên tu Trí Tuệ phá chấp để mà chấp, hai bên vẫn nằm nơi Nghiệp Thức, và Tọa Thiền Xuất Định để an trụ nơi Thiền Định, vẫn là Nghiệp Thức. Nói ra đây để các Ông nhận lãnh hiểu biết làm gương đo lường soi biết chớ không thể diễn giãi cho hết Nghiệp Thức trong giai đoạn Chấp Thủ.

Các Ông nên thịnh trọng nhớ kỹ thời Giáo Ngôn này, đồng lưu ý chú niệm TỨ THỜI NGUỒN MÊ, nó quan hệ nhất là thời hai về THỨC, làm cho các Bậc tu lẫn lộn, tự sanh hồ nghi bất tín trước Thần Thức buông lung, Ý Thức phân biệt hai đường một lối nan giãi, phải bị Nghiệp Thức chấp thủ mà sanh lòng ngạo mạn, Tâm sanh khinh mạn Chân Truyền Bảo Pháp cho rằng CHÂN LÝ NÓ CŨNG THIỆT MÀ NÓ CŨNG GIẢ. Do đó lúc tu sanh tâm Bất Tín tự hào, trở thành bừa bãi, tăng thượng đối với Bậc Chỉ Đạo, mất Tôn Kính. Chính chẳng phải do các Ông, do tu chưa chu đáo, giai đoạn Thức Nguồn Mê chưa hiểu biết tí nào, nên Thức chuyển đảo điên, lầm ngỡ rằng mình nhận đúng Chánh Đạo.

Đối với giai đoạn thời hai Nguồn Mê thuộc về THỨC, nó có lợi cho bậc nương theo VÔ NGÃ để rốt ráo nguồn Sanh Tử, tận tận Chủng Tánh Khởi Sanh, thật biết Pháp Giới Thọ Chấp, tỏ rõ TAM THẾ NHƯ LAI cung kính nghiêng mình Hạnh Nguyện, tránh né Thọ Chấp Tiên Thần, nó chẳng khác:

NGỌN ĐUỐC SÁNG SOI, NẾU VÔ TÌNH THỌ CHẤP MỪNG RỠ NÉM ĐUỐC BỊ CHÁY RỪNG, TẮT ĐUỐC TẠO VÔ MINH, THÌ PHẢI CHỊU CHÁY, CHỊU KẸT TRONG HANG SÂU RỪNG THẲM VẬY.

Khi bậc tu đi qua hai giai đoạn giải Nguồn Mê NGHIỆP và THỨC, thì bắt đầu Thanh Tịnh Tỏ Ngộ, Tự Tại Vô Ngại Dung Thông, biết lượng theo Thời Nghi mà Giải nói, biết từng Khởi Sanh của kẻ tu mà chỉ bày, trên Cung Kính CHÍ TÔN, dưới kiểm soi giúp đỡ, không còn lề lối ngạo mạn bừa bãi, đem Thời Pháp diễn giải đúng chổ phá Mê Lầm, chẳng Tự Ngã khoe khoang, thường Xuất Định giao du các cõi, lúc trả về chẳng vướng mắc vương mang. Lúc bấy giờ mới xét soi TỰ TÁNH để HÀNH THÂM BÁT NHÃ soi từng bậc, từng Cảnh Giới, từng Tam Thiên, từng Lý Sự di chuyển kết hợp diễn hóa tạo thành Cảnh Giới, tạo thành Quốc Độ Tịnh Độ muôn phương. Bậc này biết tỏ rõ, biết tỉ mỉ Nghiệp Sanh, Nghiệp Khởi, Nghiệp Trụ, Nghiệp Chấp, Thức chuyển, Thức Xuất, Thức Sanh, Thức Báo, Tự Tại ra vào VIÊN GIÁC như kẻ nguyện trú TAM BẢO để THỀ NGUYỆN HỌC. Bằng Thức chưa thông đạt, thân tâm liền chưa thoải mái, Lý hãy còn Chướng, Sự thì ngăn ngại cho nó thế nọ, nó thế kia, Trí vẫn vơ, lòng nghi ngại ngớ ngẫn tìm lối giải trong vòng lẩn quẩn áy náy. Như thế bậc tu hành cần phải tu nữa chớ vội thọ chấp rất nguy hại vô cùng. Khi Bồ Tát rốt ráo về Giai đoạn này mới thưa gởi ĐỨC THẾ TÔN rằng: CON KHÔNG CÒN LẤY MỘT NGHI. ĐỨC THẾ TÔN nói: Phải phải, lúc vọng động đảo điên sạch sẽ rốt ráo nó đâu còn Nghi để mà Nghi.

Khi trưởng thành trọn vẹn, giải trọn vẹn Nguồn Mê về TÁNH trong Thời Ba thì đương nhiên TỰ TÁNH PHỔ CHIẾU Sở Đắc các Pháp Thần Thông Tam Muội như Du Hí Thần Thông Tam Muội, Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, Chánh Định Tam Muội, cùng các Pháp Thần Thông Tam Muội khác vô kể, vô kể. Vì sao? Vì Bổn Tánh Tự Tại Vô Ngại Đại Bi của Bồ Tát hành dụng. Do lẽ ấy Phật nói: Con mắt Phật không thể nào soi khắp Hành Dụng của các Chư Bồ Tát đặng nên không thể diễn nói hết trong thời Giáo Ngôn này.

Lúc bấy giờ Bồ Tát trưởng thành Đại Bồ Tát thường dùng THƯỜNG TỊCH QUANG để cung kính NHƯ LAI, thường dùng DIỆU ÂM QUANG để đãnh lễ Chư PHẬT, thường dùng KIM SẮC QUANG đặng trang chỉnh QUỐC ĐỘ, thường dùng DIỆU SANH QUANG để CỨU ĐỘ CHÚNG SANH, làm cho tất cả Thường An, Thường Lạc. Đó chính là Bổn Nguyện Tự Tánh.

Đến giai đoạn thời tư tức là Tứ Thời Nguồn Mê, giai đoạn này thật là giai đoạn quá kể, nhưng vì mở màn để giải Nguồn Mê nên Tôi diễn nói để các Ông tự liệu từ đời này làm một CHỈ ĐẠO CHÂN TÂM để mà tu cho khỏi sai lạc, làm cho Chánh Pháp trường cửu chẳng suy đồi. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài dạy đến đây, bảo Tứ Chúng đãnh lễ nơi Chánh Điện, đâu đó xong, ngồi lại một bên. Ngài dạy tiếp:

Khi ba thời đã hoàn tất Nguồn Mê, đến thời thứ tư thuộc về TÂM, bước qua giai đoạn Tâm, thì CHÂN TÂM CHÁNH GIÁC Thị Hiện Viên Tịch, Viên Dung. Chỉ mỗi một gật đầu chấp thuận thì thay đổi Tam Thiên Ô Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sanh Trược thảy đều trở thành Tịnh Độ Trang Nghiêm. Một lời nói một nụ cười, Chân Đệ Tử Thọ Lãnh thì liền TRI KIẾN GIẢI THOÁT, Tự Tại Vô Ngại Muôn phương. "Mỗi một khơi móng tay, mỗi một lần xét đến thì dù cho Chân Đệ Tử bị Ma Ba Tuần nhiễm hại cũng phải rời rã tay chân, không còn quấy nhiễu. Thật quá kể quá kể, bậc Tứ Thời rốt ráo CHÂN TÂM CHÁNH GIÁC VIÊN MINH, không thể nào Tán Thán hết. Chỉ có Công Đức Phụng Hành, Tin Vâng trọn là Cúng Dường BẢO PHẨM thôi”.

Khi ghi chép xong, chúng tôi không biết nói gì hơn trong thời Giáo Ngôn này để tỏ Chân Thành xưng tán ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ cho vừa, không ai bảo ai đồng quỳ trước Ngài Chiêm Ngưỡng Lễ Bái thưa thỉnh:

“Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, Ngài đã vì lòng thương chúng con từ đời này đến đời sau làm một CẨM NANG CHỈ ĐẠO CHÂN TÔN để tu. Vậy chúng con xin Phụng Hành trước Ngài để Phụng Thỉnh từ Chân Tâm Chí Thành của các con lưu truyền đến Chân Tâm Chí Thành của các Bậc khác, gìn giữ Phụng Hành bất diệt.
Chúng con xin Ngài dủ lòng thương cho chúng con đặng tỏ rõ Thời Pháp này là thời hiệu chi để cho tất cả Phụng Trì?”

ĐỨC TĂNG CHỦ dạy: “Thời Giáo Ngôn này gọi là CẨM NANG CHỈ ĐẠO CHÂN TÔN. Nói lên cái MÊ nó không gốc.”

Chúng tôi đảnh lễ Phụng Hành.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Long Hoa hội Thượng ngày 24 tháng 7 năm Giáp Dần
Di Như “Phụng ghi để phổ truyền”