30. HÀNH THÂM PHÁP GIỚI

HÀNH THÂM PHÁP GIỚI là một MÔN chính yếu tu cốt để giải mê lầm, khi đặng thâm nhập các Pháp tỏ biết tỉ mỉ thời liền Trọn Giác, như vậy gọi là BÁT NHÃ TRÍ.

Hành Thâm Pháp Giới lại dành cho những Bậc tu hành có Thiện Chí đồng với Nhất Tâm, bậc ấy phát Đại Nguyện hay tìm đặng Chơn Tánh tu cầu TỎ TÁNH lướt qua các Nghịch Cảnh chẳng bao giờ vướng phải ba Pháp ĐOẠN-DỊ-DIỆT cốt nương theo TƯỚNG PHÁP đặng sở đắc CHÂN TƯỚNG nhờ vậy mà Trí Tuệ dung thông, Thân Tâm Tự Tại chiếm đặng Đại Bi thi hành Hạnh Nguyện trong Hành Thâm Pháp Giới cỗi giải tất cả Mê Lầm đặng Không Lầm trọn biết Tổng Trì Đà La Ni Tạng hoàn toàn Giải Thoát.

PHÁP GIỚI là một Pháp tất cả đều phải lầm nhận Thọ Chấp, nên tự mình đem buộc lấy mình mà chẳng hay biết đành chịu làm Chúng Sanh Giới.

PHÁP GIỚI là một Pháp do Khởi thọ chấp trở thành lòng THAM CẦU mong muốn, đến lúc tu hành lại trở qua đường tu luyện nên chi mới có Cảnh Giới TIÊN THẦN mà phát sinh TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI lại cùng nhau canh giữ cho đó là của mình an trụ , nên nó trở thành ĐỘC TÔN CAI QUẢN. Do như thế nên đương nhiên nó lại là Bờ Ngăn Kiên Cố, nó làm cho tất cả khó Tri Kiến Giải Thoát.

Bậc tu hành cầu Tri Kiến Giải Thoát nên lìa Tướng Thọ Chấp, chẳng vì PHƯỚC LỢI Hữu Vi nhỏ nhen để mong an trụ. Bậc ấy vì Tri Kiến nên Phát Bồ Đề Tâm cùng Năm Nguyện, cốt nương theo Vạn Pháp thấu tỏ thật biết chu đáo Vạn Pháp đặng khỏi lầm mà Giác Ngộ, lối đó gọi là HÀNH THÂM PHÁP GIỚI.

Khi thật biết Pháp Giới nó có từng giai đoạn, do sở chấp của mỗi Bậc tu chứng mà thành hình trong Pháp Giới, hay Chúng Sanh sở chấp thành hình Bản Ngã, hoặc Tiên Thần do năng chấp nó thành hình Cảnh Giới, từ thấp đến cao, từ nơi Tịnh đến Bất Tịnh trong Tam Thiên Lục Đạo. Lúc biết tỏ rõ như vậy liền sở đắc TAM THÂN, TỨ TRÍ, NGŨ NHÃN, LỤC THÔNG. Đó chính là một quyết định Không Hai đối với bậc tu Chứng Ngộ Thâm Nhập Pháp Giới vậy.

Thật ra PHÁP vốn nó không có Giới Hạn gút mắc, bởi phân biệt thọ chấp nên trở thành giới hạn vướng mắc, khi đã vướng gút mắc đương nhiên có PHÁP GIỚI. Từ Pháp Giới cố thủ để nhận chịu liền sinh Cảnh Giới an trụ.

PHẬT NÓI:Chúng Sanh duy chỉ lầm nhận một pháp liền có Vạn Pháp quay quần ràng buộc, nên phải chạy theo Vạn Pháp diễn biến Sanh Tử Luân Hồi.

Bồ Tát khi biết các Pháp di chuyển vì Thể Tánh nên xuôi dòng Hành Thâm đặng Tỏ Biết đến rốt ráo chân thật, gọi là Hành Nguyện Độ Sanh vậy.

PHÁP. Ví như một cuộn dây suôn sẻ, từ đầu đến cuối không có phân đoạn hay gút mắc.

Khi nó có Gút Mắc. Bởi kẻ kia đem nó thắt, thành gút để mắc nơi gút, lại thắt nên hình Con Hạt, Con Rít, Con Rồng hay Con Phượng cùng các con khác. Tùy theo sở thích của mỗi người, mỗi bậc, mỗi kẻ tự thắt lấy thọ chấp trở nên BẢN NGÃ, từ Bản Ngã nung đúc trở nên Cảnh Giới, chui vào Cảnh Giới Hình của mình thắt nhận là mình mà Sanh Tử.

Vì lầm PHÁP nay tu cốt thật biết đặng khỏi lầm. Nên Pháp Môn HÀNH TƯỚNG Pháp đặng thâm nhập các Pháp đến không lầm, gọi là Hành Thâm Pháp Giới. Bậc Hành Thâm để tỏ rõ mối giềng của mình trước kia đã lầm, cùng tất cả đang sai lầm phải bị đặt mình trong Pháp Giới đến Cảnh Giới.

Bậc tu rất cần thật biết các Pháp, đến biết THỂ TÁNH Pháp và biết sự di chuyển tác dụng ích lợi, không ích lợi mỗi Pháp. Lúc chấp nhận Pháp thì nó sẽ ra sao? Bằng không chấp nhận. Bị chấp nhận nó thế nào? Qua các Pháp cầu tu học Hành Thâm nó lợi ra sao? Nếu Pháp nó đứng về HỮU khi nó di chuyển thành TƯỚNG, nó trả nơi KHÔNG TƯỚNG thì nó về đâu? Bằng Pháp đang ở nơi VÔ thời nó yên trụ hay diễn hành nên Tướng, mà Tướng nó diễn những gì? Bậc ấy lại biết dùng đúng lúc, nói Pháp đúng chiều. Đó chính là những điểm tối cần đưa Bậc thi hành thâm nhập Pháp Giới đến Viên Thông BÁT NHÃ TRÍ vậy.

Bậc tu nên tìm hiểu sâu rộng, nghi chấp mà phá chấp, chớ vì BẢN NGÃ tu có một chiều. Cũng như: TỊNH thời gìn giữ có Tịnh thôi, ngoài ra chẳng dám nghĩ để hiểu biết thêm bên ngoài vì sợ Động thì thật khó Tỏ Thông các Pháp? Do đó thường bị Chướng Ngại đến DỊ DIỆT đâm ngỡ mình cao cống hay mơ màng.

Bởi lầm Pháp. Trở thành PHÁP GIỚI chịu làm trong Giới Hạn Chúng Sanh. Đến nay chủ đích tu đặng Tri Kiến Giải Thoát thì không ngoài phải HÀNH THÂM PHÁP GIỚI để phá mê mờ lầm chấp. Như có một người lầm uống Độc Dược thì phải uống thuốc Giải Độc. Lúc hết lầm tức là Khỏi Mê, do đó tu hành phải nương theo Vạn Pháp Vạn Hạnh cốt Tỏ Biết đoạt đến Giác Ngộ. Đó là một quyết định trọng yếu mà tất cả các Thánh Tăng từ ngàn xưa đến nay đã tu đến Sở Đắc CHÂN LÝ TRI KIẾN PHẬT.

Nhưng khi đến TRI KIẾN PHẬT chưa hẳn đã thành PHẬT. Còn Đắc CHÂN LÝ cũng chưa hẳn tận hưởng Chân Lý, Vì sao? Vì chưa tận dụng Chân Lý rốt ráo thời chưa thể nào Tận Hưởng. Cũng như: TRI KIẾN PHẬT chưa Hành Thâm PHẬT TRI KIẾN do đó mà chưa thành PHẬT.

Bậc Tri Kiến Phật tỏ rõ Phật Pháp, rất cần sự thu nhiếp các pháp cho được rõ thấu tỉ mỉ các Pháp thi hành Tròn Nguyện mà đoạt đến Phật Quả. Bằng nhìn các Pháp vốn KHÔNG vội Chấp Không an trụ vẫn vướng vào Pháp Giới, hay nó cũng Không mà cũng Có mơ màng chẳng quyết định tỏ rõ thời vẫn Pháp Giới Vô Minh che tủ.

CŨNG NHƯ: Một Vị Vua lên ngôi chẳng biết chi cả, các Nịnh Thần cai quản chủ trị, bảo sao nhà Vua kia cũng nghe theo thì có hơn chi Dân Giả chăng? Vì sao? Vì chưa thấu tận.

Bậc TRI KIẾN PHẬT Thâm Nhập Pháp Giới trọn vẹn Bát Nhã Trí trên đường tu PHẬT TRI KIẾN chu đáo thì CHẲNG KHÁC NÀO: VỊ TÂN VƯƠNG kia lên ngôi Cữu Ngũ, chưa được biết việc Bình Trị và chưa rõ tánh tình của các hàng Quan Chức Trung hay Bất Trung, lại chưa thật rõ chu đáo lòng Dân cùng công việc Quốc Nội và Đối Ngoại. Nên cần xem xét hay nhờ Quan Cận Thần Nhiếp Chánh dạy dỗ chỉ bày rành mạch, trong một thời gian biết rõ tỉ mỉ đúng đắn khỏi lầm mới Ngự Trị. Bậc Tri Kiến Phật nên Hành Thâm Pháp Giới gọi là Phật Tri Kiến cũng thế.

Hành Thâm Pháp Giới chính là một Pháp tối cần trong con đường tu BỒ TÁT HẠNH, khiến cho Tâm Thù Thắng biết giá trị Tự Tánh Tỏ Pháp. Nên chi Bồ Tát thường phát Đại Nguyện để vững vàng đến Tròn Nguyện, mỗi một Bậc tu có thể lập Vạn Hạnh, thực thi Vạn Nguyện, khi thanh tịnh, lúc chẳng thanh tịnh, khi thuận hành, lúc nghịch hành, cùng nơi ăn chốn ở với Chúng Sanh các cấp không chướng ngại phân biệt Thánh Phàm. Bậc ấy vào Phàm Phu nhưng không xa Thánh Ý, từ một có thể hóa ra vạn ức bậc trở về một bậc, mà chẳng mấy ai hay biết, từ yên tịch bậc ấy, qua muôn ngàn Cảnh Giới, vạn ức Cảnh Giới, vô lượng Cảnh Giới khi trở về yên tịch không một ai hay biết.

Lại có thể làm Bồ Tát Đạo trang nghiêm, đến Bồ Tát Hạnh Tinh Tấn, qua Bồ Tát Hải nói năng thông đạt cùng Bồ Tát Hùng, Bồ Tát Lực, Bồ Tát Nhẫn chẳng kiên sợ các chướng đối, nhẫn nhịn các nhỏ nhen Tâm không phiền trách, đến Bồ Tát Tuệ, Bồ Tát Dũng, Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Bất Thối, Bồ Tát Diệu Thắng, Bồ Tát Diệu Âm, và Bồ Tát Hành Thâm Tối Thắng, do đó mới đầy đủ sự Kiên dũng nghị lực qua từng lớp lang PHÁP GIỚI NGĂN BIỆT. Bậc ấy đối với các Pháp Giới như món đồ dùng, món ẩm thực, món y áo, món nhà cửa anh em mật thiết, vườn tược không còn chướng ngại, lại khỏi vui thú vì đặng trọn biết PHÁP GIỚI LÀ PHẨM TRỢ ĐẠO. Nhờ thế mà Sở Đắc NHÃN TỊNH thấu tỏ sự Kín Nhiệm của NHƯ LAI TẠNG cung kính, Cúng Dường Tán Thán NHƯ LAI chẳng ngớt.

Lúc bấy giờ thật biết vô số, vô lượng, vô biên Pháp Giới, từ LÝ Pháp Giới đến SỰ Pháp Giới thành Pháp Giới Bờ Ngăn lớp lang tỉ mỉ như Cát Sông Hằng. Nếu kẻ tu hành củng cố thọ chấp thời thật khó thành tựu, phải bị trong Pháp Giới đóng khuôn gọi là Chồi Khô Mộng Lép vậy. Nơi hàng Bồ Tát Hành Thâm Pháp Giới mới biết ích lợi đi trong các Pháp tỏ biết đến Chánh Giác, do đó nên chi:

THUỞ CÒN PHẬT. PHẬT BẢO VỊ BỒ TÁT RẰNG:

Ông nên đến xứ sở nọ đặng giúp cho dân xứ sở ấy đặng an lành. Lúc bấy giờ Vị Bồ Tát vâng lãnh.

PHẬT NÓI: Ông đến xứ sở thì dân xứ sở ấy họ hay cãi vã mắng nhiếc thịnh nộ, thì Ông nghĩ thế nào?

Vị Bồ Tát thưa: Bạch Thế Tôn. Con thích lắm, con còn biết ơn xứ sở ấy, vì sao? Vì họ cãi vã mắng nhiếc thịnh nộ con, con liền được tịch tịnh tâm không thù oán, do đó con biết ơn họ, vì họ chẳng đánh con.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn Ngài hỏi: Nếu xứ sở ấy họ đánh Ông thì Ông nghĩ thế nào? Bồ Tát thưa: Họ đánh con thì họ giúp cho con mau tiêu rỗi nghiệp, con còn biết ơn họ vì họ chưa giết con.

Phật hỏi: Bằng họ giết Ông thì Ông nghĩ thế nào? Bồ Tát thưa: Nếu họ giết con thời con vẫn biết ơn, vì nhờ họ mà con đặng tròn nguyện Nhập Niết Bàn.

Khi ấy Phật khen và nói: Phải, phải, Ông thật là có tâm chí căn bản cầu pháp để tỏ pháp, thêm Đại Nguyện rộng rãi vào các Pháp khó khăn chẳng sinh tâm nhàm chán thật là Tối Thượng, kẻ chửi mình sanh tâm Đại Hỷ, kẽ đánh mình sanh tâm Đại Bi, kẻ giết mình sanh tâm Đại xã thật là quý vô kể. Nầy Bồ Tát: Hạnh Nguyện Thù Thắng của Ông như vậy, thì dù cho PHÁP GIỚI nọ, có tăng lên gấp trăm lần cũng không thể nào cản ngăn Ông được, vì sao? Vì với đích Ông được biết mối lợi ích của sự tu tập HÀNH THÂM PHÁP GIỚI, thì các Giới kia chính là PHẨM TRỢ ĐẠO BỒ ĐỀ. TA khuyên từ đời nầy, đến đời sau nên noi gương Ông mà tu tập.

TA chỉ tiếc cho những bậc kém căn thiểu trí thường trụ vội chấp mà đã lầm lẫn bởi Pháp, khi tu lại nhận Pháp để Sa lụy Pháp Giới cho là ĐẶNG hay ĐẮC. Bậc như thế chẳng phải do họ, nhưng do tại Tâm nhỏ nhen eo hẹp mà đến nơi củng cố tu cầu mong muốn riêng biệt. Họ tự đem THỂ GIÁC bao la rộng rãi chẳng khác đem BIỂN kia để vào LỔ CHÂN TRÂU cho là GIÁC Chứng Đắc.

Ông nên biết có BA điểm lầm tai hại cho Bậc tu đáng kể:

THỨ NHẤT LÀ: Tránh né Pháp đòi xuất ly Thế Gian để thọ chấp nơi tu luyện PHÁP GIỚI thành tựu Pháp Giới Ảnh.

THỨ HAI LÀ: Máng danh cho PHÁP là Ô NHIỄM TRẦN CẤU ÁC THẾ nên thường bị Ô Nhiễm Trần Cấu Ác Thế trói buộc thân tâm
mà không hay biết.

THỨ BA LÀ: Gia Công Trừ Diệt các Pháp, chẳng chịu hiểu biết nên phải chịu Diệt. Những Bậc cố chấp như thế khó tìm Pháp sâu đậm vi diệu, chỉ diễn nói Thiện Căn cầu phước gieo duyên mà thôi, vì sao? Vì họ tu theo cái Muốn nên hay NGHI NGỜ cùng xa lánh yếu hèn, Ông nên nhớ lấy.

SO ĐOẠN TRÊN CỦA BỒ TÁT. HÀNH TƯỚNG TỎ PHÁP

Chứng tỏ con đường tu rất cần đến sự hiểu biết các Pháp ngăn biệt hay chẳng ngăn biệt, giới hạn của nó làm cho tất cả đều phải lầm nhận. Tuy nhiên ta hiểu biết các Pháp nó như thế, nhưng nó vẫn đứng trên mặt LÝ PHÁP GIỚI mà thọ chấp, khi ta thi hành Hạnh Nguyện đến nơi, đến chốn, tận từ thực thi SỰ SỰ PHÁP GIỚI, chừng ấy sự biết của ta có một giá trị Thật Biết vô kể. Nên Bồ Tát thường qua tất cả pháp ĐỘNG để GIÁC, còn về TỊNH của ĐỘ thôi.

Sự tu nó phải có công năng mới đem đến Cái Biết vững chãi, có Hạnh Nguyện Độ Sanh mới đưa đến LÝ SỰ diệu thâm. Bằng tu dùng sức TƯỞNG hay ĐỊNH hoặc ĐỊNH TƯỞNG để an trụ thì vẫn vướng vào SANH DIỆT PHÁP GIỚI, vì sao? Vì ĐỊNH hay ĐỊNH TƯỞNG SANH thì có ĐỊNH TƯỞNG DIỆT, đó cũng là sự lầm lẫn không nhỏ của các Bậc tu thường vấp phải. Chỉ có HÀNH THÂM PHÁP GIỚI Lý Sự Đồng Song Tự Tánh Tỏ Biết chân thật thì rốt ráo.

Khi chưa có sự biết tận từ, thân tâm chưa rốt ráo hãy còn nghi, thời nên nhớ vẫn còn Sở Chấp, mặc dù là không chấp, nhưng nó vẫn chấp. Do sự rốt cùng tỉ mỉ khó nhận của TÁNH PHÁP năng chấp của NGHIỆP SỞ TRI bậc tu phải vướng vào Pháp Giới, nên Bồ Tát mới nhất tâm tu mãi không ngừng, còn một hơi thở của ỨNG THÂN là còn phải hiểu biết, còn phải nương theo BỔN NGUYỆN chẳng dừng vậy.

PHÁP GIỚI thời nó muôn trùng vạn ức Na Do Tha, khó kể nổi. Từ khởi nghĩ hiểu biết LÝ PHÁP GIỚI trong Vũ Trụ trùm khắp gọi là PHÁP THÂN. Khi Bậc tu hành hiểu biết viên thông Đắc CHÂN LÝ PHÁP THÂN thì đối với tinh thần tự tại diễn nói vô ngại Thân Tâm tịch tịnh. Nhưng đối với hoàn cảnh hiện tại hãy còn mắc miếu gay cấn nó làm cho tự mình hồ nghi với sự SỞ ĐẮC của mình thành thử không công nhận được nơi TU CHỨNG PHÁP THÂN mơ màng vì NHỊ THỪA Chướng Đối.

Vì vậy mà ỨNG THÂN phải ĐẮC CHÂN LÝ: Nếu Ứng Thân Đắc Chân Lý thời phải làm thế nào thi hành Vạn Hạnh đi trong Vạn Pháp SỰ SỰ PHÁP GIỚI để THÂM NHẬP PHÁP GIỚI tỉ mỉ, lại làm cho tất cả chúng sanh có lợi, đồng với mình được lợi, đưa chúng sanh TRI KIẾN mình đặng TRI KIẾN, đem chúng sanh GIẢI THOÁT mình đặng Trọn GIẢI THOÁT, chừng ấy BA THÂN VIÊN MÃN mới rốt ráo ĐẠI NIẾT BÀN, đó chính là một điểm cần ghi nhớ.

Từ Ba ĐỜI PHẬT đến Chư Bồ Tát tất cả thảy đều đi nơi Hành Thâm Pháp Giới đến rốt ráo Chánh Giác Bất Nhị, nên chi Hành Thâm Pháp Giới chính là một Pháp Tối Thượng Vi Diệu khó nghĩ bàn một khi Bậc tu Đắc Pháp, ngộ chân từ Bậc, tỏ Lý diệu thâm qua Bờ Bỉ Ngạn rốt đến Bát Nhã Trí, thời đối với Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới bậc ấy chỉ khẻ đầu ngón tay thôi.

Bậc THÂM NHẬP PHÁP GIỚI có thể từ một cái ĐẦU hóa ra trăm ngàn vạn ức cái Đầu, từ hai tay có thể hóa ra muôn triệu cánh tay mà chẳng mấy ai hay biết, họ đều ngỡ là Bậc ấy ngồi yên tịch tịnh đi đứng ăn nằm như họ.

Bậc Thâm Nhập Pháp Giới tỉ mỉ rốt ráo, có thể đi trăm ngàn vạn ức triệu Thế Giới trong một Sát Na, có thể phân thân đi Cúng Dường TAM THẾ PHẬT trong một chốc lát đầy đủ các QUỐC ĐỘ, lúc trở về không mấy ai được hay biết, họ chỉ ngỡ bậc ấy ngồi yên Tĩnh Tọa như họ.

Bậc HÀNH THÂM PHÁP GIỚI Sở Đắc trọn vẹn các Pháp không thiếu sót. Bậc ấy chỉ đưa qua tầm mắt quan sát có thể nhìn thấy các Cảnh Giới đua chen, giành giựt dưng bông, lễ bái, hát xướng ca nhạc từ cõi Trời đến các từng Trời, từ Cõi Tiên đến các Chư Tiên, Sắc Giới đến Vô Sắc trùm khắp tỉ mỉ không thiếu một khẻ động Tam Giới vậy.

HÀNH THÂM PHÁP GIỚI nó có lợi tột đỉnh, nó có ích khó nghĩ bàn. Nó đưa bậc tu đến VÔ THƯỢNG, nó lại lừa kẻ thọ chấp đóng thành khuông đến Tỷ Kiếp khó thoát sanh, nó chính là tối diệu thậm thâm của Chư PHẬT tán thán, Chư BỒ TÁT Cúng Dường, Đảnh Lễ Chiêm Ngưỡng thật vô kể vô kể vậy.

NAM MÔ ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT

29. TRÒN DUYÊN

TRÒN DUYÊN chính là một Pháp của TỐI THẮNG DIỆU ÂM PHẬT. Ngài đã từng chỉ bày nói năng cho tất cả TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI. Nhưng mấy ai nghe, làm đặng. Vì sao?

Vì tất cả chỉ mong muốn đòi hỏi: TĂNG.

Bởi TĂNG nên CẤU, Vì Cấu mà tạo thành Nghiệp để mê mờ, đồng nương theo mê ấy, đòi hỏi CHÂN THIỆN MỸ?

CHẲNG KHÁC NÀO: Có vị Trưởng Giả kia, giàu sang tột đỉnh của cải tiền bạc dinh dư vô số. Trưởng Giả có một đứa con tuổi còn thơ nên khờ khạo.

Một hôm Cậu Bé nghe ngoài thành có đám Hát, Cậu liền mon men đi xem. Khi xem xong Cậu trở về liền phát sinh mơ ước: Phải chi mình có được Bộ Áo và Cân Đai hay khuôn mặt HỒNG TÁO thời thích biết là bao. Cậu có ngờ đâu là Mặt Hồng Táo họ vẽ. Cậu có biết đâu Áo Giáp đóng tuồng, nên ngỡ thật Cậu ước ao đòi hỏi.

Thế rồi Cậu bỏ nhà ra đi để tìm cho được Mặt Hồng Táo và Áo Giáp Cân Đai. Cậu đi mãi ngày kia đến một Thành Phố Chợ Quán. Cậu nhìn thấy có bán Áo Giáp sặc sỡ, Cậu nào có biết nên Cậu nghĩ thầm... Ta đã tìm đặng Áo Giáp, chỉ còn cái mặt của Ta thay đổi là xong.

Cậu bèn vào xem, lúc xem xong theo ý nghĩ của Cậu, nên lấy Áo Giáp ra đi. Kẻ bán hàng đuổi theo bắt lấy lại bộ Áo Giáp. Cậu đâm ra phiền trách kẻ bán hàng đã ỷ thế cướp giật Áo Giáp của Cậu đã tìm ra, nhưng không được hưởng. Thế rồi Cậu nghĩ phải chi mình lớn mạnh thì người kia làm gì dám cướp đoạt Áo Giáp mình đã tìm ra. Từ đấy Cậu nuôi hy vọng lớn khôn tìm Áo Giáp và làm sao trở thành mặt HỒNG TÁO.

Ngày qua ngày.... Cậu quên mình là con của một vị Trưởng Giả. Cậu phải đi lang thang cầu thực, từ nơi nầy đến chốn nọ, khi ở Đình lúc nằm Chợ. Nhưng nào có quên sự mơ ước Áo Giáp Cân Đai mặt mày trở thành khác Chúng?

ĐÓ CHÍNH LÀ:

-Tất cả mong muốn đòi hỏi TĂNG gốc mê lầm sai biệt, nên từ BẢN THỂ CHÂN NHƯ Thường Còn Bất Biến, lại vọng khởi lần mơ theo mơ, tưởng thật, đòi thật chốn mơ. Chẳng khác câu chuyện Cậu Bé.

Nên Phật nói là Hư Vọng Điên đảo. Lầm nhận Huyển Hóa làm Chân Thật. Còn nơi Chân Thật không nhận, cho là Huyển Hóa.

VỀ PHẦN TRƯỞNG GIẢ:

Từ lúc cậu bé ra đi. Trưởng Giả cho tất cả những người hầu cận thân cận tìm khắp nơi không gặp. Ngày đêm năm tháng trôi... Trưởng Giả mong đợi, vì tuổi cao già đến, lại thêm phần giao Tài Sản cho Cậu Bé. Nhưng không gặp...

Thế rồi một hôm. Các người hầu cận và thân cận, tin cho Trưởng Giả biết đã gặp Cậu Bé. Trưởng Giả mừng rỡ sắp sửa đón con. Nhưng các hầu cận thân cận đồng thưa: Kính thưa Trưởng Giả chúng tôi gặp đặng Cậu, cùng nhau đến gần Cậu, thời Cậu sợ hãi xem chúng tôi như là bọn ĐỒ TỂ đến ví bắt con lợn. Cậu lẫn trốn la hét, không còn nhớ ra chúng tôi nữa, do đó không đem về được.

Trưởng Giả suy nghĩ và nói với các người. Phải rồi, phải rồi! Có lẽ, có lẽ: Con của Ta, vì xa cách Ta lâu ngày nên quên hẳn. Vậy Ta cùng các Ông đến gặp nó. Sau sẽ dùng phương Pháp đưa nó về. Nói xong Trưởng Giả cùng các Hầu Cận thân cận đồng đi...

Đến Làng Nhỏ xa Đô Thị, có một Chợ lá chòi tranh. Khi ấy các Hầu Cận mới thưa chỉ cùng Trưởng Giả nơi Cậu Bé ẩn náu. Trưởng Giả lần bước đến nhìn thấy Con thân thể tiều tụy. Trưởng Giả vội bước đến để nắm tay, thời Cậu Bé sợ hãi lùi bước, nét mặt xanh nhợt thất thanh hét và chạy lẫn trốn. Chẳng khác nào Trẻ thơ bị Voi rượt vậy. Trưởng Giả nhìn theo Con thương hại.

Sau khi ấy bèn nói với các Hầu Cận và Thân Cận: Con của Ta, nó lầm bị NGŨ ĐỘC nên chi sự NGHE THẤY BIẾT sai biệt mà quên hẳn Ta, quên hẳn các Ông, quên hẳn vườn tược đất đai của cải tài sản của nó. Vậy các ông nên vì Ta mà tìm tất cả phương pháp tùy thuận theo sự lầm lẫn của nó mà dìu dắt nó trở lại BỔN LAI cũ.

Các Ông cũng nên nhớ: TA chỉ vì con, nên lúc nó thơ ấu Ta sợ nó sai lạc, nên TA có khâu vào trong chéo áo của nó một tấm ngọc LƯU LY. Trên tấm ngọc có khắc bốn chữ: BỔN LAI HOÀN CHÂN. Lúc các Ông xem xét nếu con Ta bớt sự lầm mà nhận được TA, thời các Ông tháo tấm khảm ngọc để con TA TIN NHẬN cùng về với Ta. Dặn dò đâu đấy xong, Trưởng Giả bèn từ biệt Thân Cận Hầu Cận mà trở lại Gia Trang.

Còn phần các Thân Hầu Cận cùng nhau nghĩ bàn, sắp đặt lề lối ăn mặt cùng cử chỉ nghèo khổ hay đi lang thang, và tập nói năng thèm muốn, y như Cậu Bé để gần Cậu. Cậu khỏi sợ.

Đến ngày được gần, thời gian tìm hiểu, biết đích Cậu bị vọng đảo sai lạc mà mộng ước, ÁO GIÁP CÂN ĐAI với khuôn Mặt trở nên HỒNG TÁO. Khi ấy các Thân Hầu Cận mới bàn tính, đồng thời lập ra một GÁNH HÁT cốt cho vừa vẹn với sự mơ của Cậu để gần hoặc dạy dỗ Cậu cho thoát khỏi nơi lầm về chung cùng với Trưởng Giả.

Từ ngày CẬU BÉ được vào GÁNH HÁT, Cậu rất thích cố công tập HẠNH cùng các ĐIỆU BỘ như: Đi Đứng Nằm Ngồi uy nghi phải lối. Cậu nuôi tất cả niềm TIN để đoạt đến MẶT HỒNG ÁO GIÁP cùng là Phướng Lọng Tràng Phan sung sướng giàu sang theo chí nguyện của Cậu. Lúc Cậu đặng vui, là lúc các Thân Hầu Cận khen hay bày cho Bài Hát, hoặc đã thuộc được bài, khi Cậu buồn vì mộng ước chưa thành hay nôn nóng chưa cho mình có ĐỊA VỊ trong tuồng hát.

Những trạng thái ấy, làm cho Thân Hầu Cận phải tùy lúc dạy dỗ, tùy khi nói năng, lại tùy theo kiểu cách để lần đưa hiểu biết cho Cậu được giải mê lầm. Nhưng Cậu nào có biết sự nhọc nhằn của Thân Hầu Cận, nên đôi lúc oán thương lẫn cùng thương oán, sự nghi ngờ ấy có hàng vạn lần triệu lớp, cứ thế mãi đến khi Cậu được hiểu biết rằng:

ÁO GIÁP MẶT HỒNG. Chính là thứ lớp diễn tuồng chẳng phải là Mục Đích. Từ đó Cậu sinh ra suy nghĩ: TA SẼ VỀ ĐÂU? Với bao suy nghĩ khác. Nhưng lạ thay! Cậu muốn xa lìa GÁNH HÁT, khỏi chỗ đóng tuồng mà chẳng đặng. Vì nó cứ lãng vãng khuôn mặt HỒNG TÁO ở chốn CÂN ĐAI. Cậu in tuồng đứng giữa cảnh phân vân. Chính Cậu thời Cậu cũng khó mà hiểu Cậu. Thế rồi một ngày Quyết Định của Cậu...

Mới đến Thân Hầu Cận kính thưa: Tôi không còn ưa thích MẶT HỒNG hay ÁO GIÁP. Tôi chỉ mong sao được như Quý Ông. Ngày dạo chơi thư thả, sắc mặt dung thông bình dị. Khi đóng tuồng lại thực hay, thực khéo chẳng cần học ai mà biết Hát, không cần hỏi ai lại đặng sự tỏ thông chỉ bày thêm cặn kẽ.

Lúc bấy giờ các Thân Hầu Cận mới thử thách và vặn hỏi: Cậu có TIN Ta không? Cậu thích ÁO GIÁP hay MẶT HỒNG Ta sẽ cho Cậu? Khi ấy Cậu Bé kính thưa: Tôi rất Tin các Ông. Nhưng đối với chiếc Áo hay khuôn Mặt vẽ kia, nó không thực, nó là tấm tuồng hư vọng, nếu nói nó là thực chăng cũng thực trong Sân Khấu HÁT CA mà thôi. Bởi tại tôi một thời lầm nó để nuôi ảo mộng mà sống theo KỲ VỌNG ĐẢO ĐIÊN. Tôi đến xin các ông giúp cho tôi được yên hay bình dị y như các ông, ấy mới là Chí Nguyện ngày nay.

Khi bấy giờ các Thân Hầu Cận xem xét đâu đó mới lần lượt đem sự thật ra nói cặn kẻ tỉ mỉ cho Cậu Bé biết và lấy trong chéo áo của Cậu Bé một tấm KHÁNH NGỌC. Cậu Bé nghe đâu nhớ đó chẳng thiếu sót và được xem tấm ngọc LƯU LY: BỔN LAI HOÀN CHÂN Cậu ta mừng rỡ cảm tạ Thân Hầu Cận đồng cùng với các ông về với Trưởng Giả.

Đó chính là một sự lầm TĂNG. Để chỉ nơi mê mờ sai biệt thành thử CẤU TẠO nghiệp VỌNG ĐẢO gọi là Chúng Sanh. Cùng để chứng tỏ sự sáng suốt không lầm của Chư BỒ TÁT, PHẬT.

CHẲNG KHÁC: Cậu Bé lầm mơ MẶT HỒNG ÁO GIÁP. Còn Thân Hầu Cận và TRƯỞNG GIẢ. Biểu Dương cho BỒ TÁT, PHẬT. Nên chi làm Chúng Sanh thường theo KỲ VỌNG mà Bị Biến Đảo Điên trở thành THAM MUỐN, chỉ vì Sự Muốn không phải lối, để mà Muốn, nó cũng gọi là ngược chiều nên có THAM SÂN SI. Trong Tham Sân Si có BỐN TƯỚNG quan trọng nên trở thành TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, lại làm cho tất cả Tam Thiên khó thoát TRẦN LAO hoàn toàn Giải Thoát.

BỐN TƯỚNG ẤY LÀ:

THỨ NHẤT: THIÊN TƯỚNG:

Nơi Thiên Tướng là một Tướng ưa thích CẦU KỲ NGƯỢC CHIỀU. Cũng như: CẬU BÉ nói trên mơ MẶT của TUỒNG HÁT trở thành Mặt mình. Hay kẻ xem ẢO THUẬT lầm cho là thật, mà mong muốn Ảo Thuật trở thành Chơn Thật.

Vì THIÊN TƯỚNG mà có các Cõi: THIÊN TIÊN-THẦN THÁNH. Vì Thiên Tướng mà có tất cả ưa thích THẦN THÔNG TÀI PHÉP. Còn Chư Bậc GIÁC NGỘ đối với trên là một TRÒ ĐỂ DIỄN, cũng gọi là DỤNG ĐỘ chớ chẳng phải là CHÂN LÝ.

THỨ HAI: NHÂN TƯỚNG:

Nơi Nhân Tướng là một Tướng Ưa Khen Thích Tặng, Nhận phải, cho Đúng về phần mình, hay được kẻ nói theo nâng muốn hợp mình như : Ông Đạo Đức, Nhơn Từ, Qúi Phái, Hạnh Tốt và Khôn Ngoan liền sinh Tâm mừng rỡ. Bằng ngược lại thời giận hờn ghét bỏ. Nơi Nhân Tướng lại Cố Thủ, Năng Chấp Thường Trụ, nó là một Pháp CẤU TẠO Ghét Thương Phải Quấy năng phân biệt Giai Cấp. Nếu chẳng hiểu đặng sự nguy hại của Nhân Tướng vội chấp nhận mình Đúng, hơn ai cả thì khó tu, khó đoạt đến CHÂN LÝ vậy.

THỨ BA: CHÚNG SANH TƯỚNG:

Nơi Chúng Sanh Tướng là một Tướng THƯỜNG TĂNG HAY GIẢM. Khi Tăng thời TỰ CAO KIÊU MẠNG nhận mình là: THÁNH. TÀI ĐỨC Tập Quán cố thủ thành BẢN NGÃ CẦU KỲ.

Lúc GIẢM thì cho mình là: NGU DỐT NGHIỆP NẶNG PHÀM PHU hay CHÚNG SANH MỜ MỊT. Chúng Sanh Tướng nó có trạng thái lạ lùng không chừng chẳng đổi. Vì lẽ ấy mới thành hình TAM GIỚI và SƠN HÀ ĐẠI ĐỊA

CŨNG NHƯ:

TỰ CAO thích lớn thành SƠN (Núi)

TỰ HẠ cho thấp thỏi thành HÀ (Sông)

TỰ RỘNG RÃI nghêng ngang thành ĐẠI (Lớn)

XẤU XA GANH TỴ phân biệt thành ĐỊA (Đất)

Từ Sơn Hà Đại Địa Giới Hạn phân chia mà có TIỂU ĐỊA. Nơi Tiểu Địa tức là THÂN Giả Hợp, lầm nhận Thân chịu làm CHÚNG SANH sống trong Giới Hạn gọi là Chúng sanh Giới. Nếu chẳng hiểu thì nguy hại Sanh Tử. Bằng hiểu biết nương nhờ nó mà tu đặng cứu cánh Giải Thoát vậy.

THỨ TƯ: THỌ GIẢ TƯỚNG:

Nơi Tướng Thọ Giả là một Tướng. Khi lầm thì nó dễ lầm. Lúc Giác thời nó dễ Giác. Vì nó linh động tùy thuận thường tưởng nó là THẬT. Lại thường cho nó là GIẢ. Nó chính là VÔ MINH, mà nó cũng là ĐẠI GIÁC. Kẻ mê nếu sơ xuất một khởi chẳng suy nghĩ kịp nhận trong cái Mê tưởng Ngộ. Còn Bậc tu hành khá ngỡ NGỘ chấp nhận thành MÊ. Nó là một Pháp phải rốt ráo thời, nó rốt ráo. Còn mê lầm thời, nó vẫn mê lầm. Bằng đứng trong BỐN TƯỚNG thì nó là GIẢ TƯỚNG. Nếu thoát Trần Lao vượt BỐN TƯỚNG thời nó lại là THẬT TƯỚNG vậy.

BỐN TƯỚNG hiện sanh không ngoài một KHỞI TĂNG buổi ban đầu. Còn CẤU TẠO thành NGHIỆP là hậu quả TĂNG SAI. Do đó ngày nay mới mắc miếu mê lầm. Nếu không KHỞI TĂNG, nào bị GIẢM? Bằng không Cấu Nghiệp nào nó ĐỘNG? Đã không Động đâu có TỊNH? Do Tăng mà Cấu, bởi Cấu thành Nghiệp, có Nghiệp có Động, đã Động phải TỊNH. CŨNG NHƯ: Có LỬA thời có KHÓI, mà KHÓI cũng do LỬA. Nếu không Lửa cũng không Khói.

Vì lầm nên bị Bốn Tướng. Nay tu hành để Tỏ Biết chu đáo, đặng chốn KHÔNG LẦM. Chớ chẳng phải tu mà đến chỗ Không của VÔ VI hay PHI PHI TƯỞNG.

Theo bài nầy để chỉ: Từ cái TĂNG mê lầm của CẬU BÉ, nên có gánh hát. Nếu cậu không sai lầm thời chẳng có Gánh Hát làm chi. Đó chính là một Biện Minh CHỮ KHÔNG sai lạc và nơi KHÔNG vì hết Vọng, gọi là không còn Vọng, may ra có phần giúp cho Bậc tu tránh chỗ lầm KHÔNG mà KINH BÁT NHÃ bị oan.

TRÒN DUYÊN:

Tròn Duyên là một Pháp Tối Diệu Trùm Khắp, nó có đầy đủ từng lớp, nếu Bậc tu hành Tích Cực công dụng Pháp Tròn Duyên, thời nó lại cung đốn vẹn vừa từng sự Hiểu Biết Toàn Mỹ Tuyệt Đích. Nhờ nó mà đặng TRÒN NGUYỆN cùng rốt BA THÂN VIÊN MÃN.

Tròn duyên chính là một Pháp, không đòi hỏi sự lặng lẽ của TĂNG GIẢM CẤU TỊNH hay CỘNG, BẤT CỘNG. Vì sao? -Vì nó không có dùng CÁI MUỐN của nó, nó chỉ duy nhất Tròn Duyên là đặng.

Tròn Duyên là một Pháp dung thông bình đẳng bất nhị, ai có Tâm Chí cố gắng thảy đều làm đặng. Từ ĐỜI thi hành Tròn Duyên thì trong Nước được Âu Ca Thái Bình, mỗi gia đình mà lập Pháp Tròn Duyên thì đặng Hạnh Phúc, xóm làng gìn giữ Tròn Duyên thời chẳng có Trộm Cướp. Về ĐẠO lập Pháp Tròn Duyên Thân Tâm thanh bình đoạt đến Chân Lý hoặc vào Tịnh Độ. Nếu một Người biết, một Nhà biết, một Nước biết. Cứ thế chuyền nhau cùng khắp TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI để thi hành Pháp Tròn Duyên thời tất cả liền biến thành TỊNH ĐỘ

Tròn Duyên bảo tồn từng giai đoạn PhẨm NguyỆn, từng Pháp soi biết, từng mỗi NHÂN VỊ cùng THỂ CÁCH của mỗi Bậc, mỗi Người đã lập chí làm, hay tu học mà thực hiện nó.

Từ Bậc TÍN HẠNH NGUYỆN biết giữ vẹn. Bậc thi hành BI TRÍ DŨNG hoặc LỤC BA LA hay BA LA MẬT ĐA, cùng với Bậc lìa NGÃ, SỞ NGÃ đặng tu với mục tiêu Tròn Duyên không chán thì tỏ đặng PHÁP MÔN KHÔNG HAI mà rõ Pháp TỐI THƯỢNG đến SỞ ĐẮC gọi là GIÁC NGỘ.

Cho đến Bậc GIÁC, Bậc ấy: vì tất cả còn lầm mê nên mới phát sinh BỔN NGUYỆN, do lẽ đó nên đem BẢN GIÁC cung đốn cho tất cả. Vì vậy Bậc GIÁC NGỘ mới nương theo mê để Tận Độ thành thử chỉ dạy giảng nói, làm cho tất cả được TRI KIẾN GIẢI THOÁT, như thế gọi là: CHƠN SƯ.

Còn Bậc tu hành lìa NGÃ, NGÃ SỞ đồng nương theo VÔ NGÃ đặng khỏi Cấu Nghiệp, mắc miếu mà cầu nhận BẢN GIÁC của THIỆN TRÍ THỨC được Tròn Duyên cùng TIN VÂNG KÍNH gọi là: CHÂN TỬ. Bằng chưa phải, hay chưa đặng như trên thời nên cố gắng cho được một CHƠN SƯ, cho đồng một CHÂN TỬ.

Pháp Tròn Duyên là một Pháp trùm khắp dung thông vượt tầm Bất Tăng Giảm, lại tạo nên ĐỨC HẠNH song toàn. Nếu tu hành cùng chung ĐẠO HỮU, mỗi Bậc đều lấy đích Tròn Duyên đối xử hay giúp đỡ với nhau, thời hiện tại chốn Đạo Tràng ấy trở nên LỤC HÒA CHÁNH PHÁP. Từ hàng THÁNH TĂNG xưa và Chư BỒ TÁT vẫn gìn giữ Thể Cách Tròn Duyên đặng Tròn Nguyện... nên mỗi lần nói ra một lời thì phải CUỐN LƯỞI BẢY LẦN mới nói. Vì sao? -Vì Khơi Duyên phải thi hành cho Tròn Duyên. Nhờ thế mà đi trong Vạn Hạnh HÀNH THÂM BÁT NHÃ, đến LỤC BA LA MẬT ĐA không thọ chấp sự vui- buồn-mừng-phiền-được-mất-phải-quấy,chỉ mục tiêu Tròn Nguyện. So như ĐỨC DUY MA cùng với ĐỨC DI LẠC các Ngài vẫn nhắm Tròn Duyên trên với ĐỨC THẾ TÔN dưới với Bậc lãnh Pháp do lẽ ấy mà ĐỨC DUY MA Ngài nói: (nơi mục Xuất Gia) như: Các Ngươi nay ở trong Chánh Pháp, nên cùng nhau Xuất Gia. Vì sao? -VÌ PHẬT RA ĐỜI KHÓ GẶP.

Lúc bấy giờ Trưởng Giả Tử nói: Thưa Cư Sĩ, Chúng tôi nghe PHẬT dạy. CHA MẸ KHÔNG CHO -KHÔNG ĐƯỢC XUẤT GIA.

Ngài nói: Phải. Các Ngươi Phát Tâm Vô Thượng BỒ ĐỀ đó chính là Xuất Gia, đó chính là đầy đủ GIỚI PHÁP.

Thật là lời nói vẹn toàn, kính trên nâng dưới của Ngài DUY MA. Còn về thời Hiện Kiếp của Họ Lý. BỐ ĐẠO HÒA THƯỢNG (Di Lạc) trong quyển Nhì TỪ BI ÂM trang 21, Ngài cho Ông họ TRẦN CƯ SĨ tám câu THI, nơi câu thứ tư trở xuống rằng:

Nếu Người Tri kỷ nên an phận

Dẫu kẻ Oan Gia cũng Cộng Hòa

Miễn tấm lòng nầy không Quái Ngại.

Mười Phương chứng đặng Lục Ba La.

So lời Đức Duy Ma và Hòa Thượng Bố Đạo hai Ngài dạy thật là Tấm Gương đầy đủ khó bàn. Nhưng dù có trích dịch ra đây chỗ Đúng Sai chăng, cũng là lời Tinh Hoa đẹp.

Bậc mà đã cố tâm thi hành lập Pháp Tròn Duyên, Bậc ấy không thể nào dùng TĂNG GIẢM chênh lệch gọi là Tròn Duyên đặng. Vì sao? Vì nếu TĂNG có quy định Hạnh Nguyện là: GIEO DUYÊN. Bằng quá tầm thời TĂNG DUYÊN, Nếu Tăng theo CÁI MUỐN của mình buộc kẻ khác phải tu thì SI MÊ. Còn Giảm trong lúc bị Tăng dùng Giảm để ngự chế cho đặng viên dung, đó chính là khéo tu Tròn Duyên. Nếu Giảm đi quá mức liền đến VÔ VI PHÁP hoặc buông trôi tự sinh ra biếng trễ.

Cùng Bậc tu dùng BI TRÍ DŨNG, tuy Bi Trí Dũng như thế nhưng nó có BA BẬC. Từ Sơ Khởi dùng lòng TỪ BI. Bậc khá hơn thì TẬP sự BI TRÍ DŨNG. Bậc Hạnh Nguyện thi hành BI TRÍ DŨNG. Bậc đã từng thi hành mới nhận thấy BI phải có TRÍ mà TRÍ cần DŨNG nó rất liên kết nhau, bằng thiếu sót một trong ba hay Nặng Nhẹ sự TĂNG GIẢM cũng không thành tựu Tròn Duyên vậy.

Về phần LỤC BA LA MẬT ĐA không thể nào mà chẳng soi biết sự dung thông vẹn vừa ở nơi BẤT TĂNG GIẢM đặng thi hành Pháp Tròn Duyên mà tiêu CẤU NGHIỆP. Nếu TĂNG bị CẤU, còn GIẢM mắc phải VÔ đó là điễm Tối Thắng nhứt của Pháp Tròn Duyên. So như sau để biết:

BỐ THÍ: NGHE THẤY BIẾT người khổ. Nếu cần TIỀN, nên TÀI THÍ. Không quá BA LẦN, thì dùng Trí Tuệ xét soi, lại tùy nơi sự trợ giúp. Chớ nên quá lắm nó trở thành NGHIỆP để THÍ.

PHÁP THÍ: Có Bậc đến cầu pháp hay cầu tu. Tùy thuận cầu của họ, hay Bậc tu thời chỉ dạy. Họ cần bao nhiêu nói bấy nhiêu. Chớ nên vì mình mà ép, cũng chẳng nên biếng GIẢM nơi chỉ bày. Họ càng gieo duyên bao nhiêu thời chỉ bày bấy nhiêu. Đôi lúc vì Nghiệp Đảo hay các Pháp thử thách của Ngoại Cảnh làm cho họ chẳng biết để gieo duyên. Thì nên nâng họ quá BA LẦN bằng chẳng nghe thì để yên, chớ nên dùng Tăng Quá mà chẳng Tròn Duyên.

TRÌ GIỚI: Trì Giới Tròn Duyên thời Bậc ĐẠI TRÍ mới dùng để QUÁN CHUNG đồng SOI BIẾT RIÊNG. Khi CHUNG QUÁN nó thuộc về Bình Đẳng. Còn soi biết thuộc phần kiểm điểm riêng từng lớp, từng Bậc tỉ mỉ rành rẽ đặng Trọn Biết viên dung Tròn Duyên Rốt Nguyện.

VÍ NHƯ: QUÁN CHUNG thì NHẤT THỂ, mà SOI RIÊNG thời từng PHÁP GIỚI. Bằng QUÁN CHUNG thì VŨ TRỤ , mà SOI RIÊNG thời gọi là Chúng Sanh hay BỐN LOÀI, mà soi riêng từng Loài, từng Vật, từng Người đều có một BẢN NGÃ. Tuy nhiên Bản Ngã nói chung, nhưng Soi Biết đến nó thì mỗi Người, mỗi Bậc riêng khác không đồng từ Tánh Tình đến Cử Chỉ cùng sự Hiểu Biết ít nhiều nặng nhẹ trở thành nhiều thứ bậc. Đó chính là những ưu điểm cho Bậc Trì Giới, sau nầy làm Tròn Duyên mới Tỏ Thấu : CHUNG mà RIÊNG, RIÊNG mà CHUNG đến CHẲNG CHUNG CŨNG KHÔNG RIÊNG.

TRÌ GIỚI: Đặng thật biết Mình và CHƠN BIẾT Người để CHUNG QUÁN, thời tất cả Sẵn Có Chủ Quyền Tự Tin nơi Chủ Quyền đó họ có một căn bản để Tin cùng Chưa Tin là quyền của họ, dù cho một ĐỨC PHẬT hay THÁNH TIÊN, lúc họ chưa TIN cũng đành chịu.

NHƯNG NGƯỢC LẠI: Khi họ ĐÃ TIN thời làm cách nào họ VẪN TIN. Đó chính là một then chốt Bình Đẳng của Muôn Loài Vạn Vật như nhau. Nếu Bậc tu TRÌ GIỚI mà biết QUÁN và biết SOI như thế mới gọi là: TRÌ GIỚI MÌNH, cùng TÔN TRỌNG GIỚI HẠN KẺ KHÁC, để thi hành Tròn Duyên đặng Tròn Nguyện mà SỞ ĐẮC: TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG.

Bằng Chưa Biết cố ép họ làm, ép tu, ép để đồng hiểu một chủ đích như mình. Dù rằng: THIỆN, BẤT THIỆN đều ép buộc. Nếu họ chưa TIN, chưa theo mình thì liền giận giữ chê bai hay phỉnh báng. Hoặc giả những Người ấy là: Bà-Con Giòng-Họ Con-Cái hay Cha-Mẹ cũng thế. Vì sao? Vì Mình chưa Tròn Duyên, chưa Trì Giới đúng đắn, chỉ dùng CÁI MUỐN ÁI NỊCH ràng buộc làm sao cỗi giải cho kẻ khác?

Pháp Trì Giới Tròn Duyên là một trọng yếu để thi hành đầy đủ LỤC BA LA MẬT ĐA. Nếu Bậc biết dùng thời bậc ấy đi trong Vạn Pháp chẳng chướng ngại, không xâm phạm, lìa hẵn BỐN TƯỚNG mà đặng Trọn Biết Bốn Tướng. Không bỏ chỗ ĐỘNG vì thật Biết ĐỘNG của DỤNG, chẳng thích nơi TỊNH thật Biết TỊNH của ĐỘNG để xây dựng TỊNH mà ĐỘ, trọn dùng ĐỘNG mà DỤNG GIÁC.

NAM MÔ HIỆN GIÁC TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT

28. CÁC PHÁP

CÁC PHÁP khó giảng giải tận từ hay nói năng hết đặng. Vì sao lại khó giảng nói tận hết? Vì so như:

Có một thuở ĐỨC THẾ TÔN, Ngài thuyết pháp tại khu rừng Ngài đồng hỏi: TA nói Pháp với các Ông có nhiều chăng? Lúc bấy giờ Chư Đệ Tử kính thưa: BẠCH THẾ TÔN thật nhiều.

Ngài gật đầu và nói. Pháp TA nói, nếu đem suy với tầm hiểu biết của các ông, thì nó thật có nhiều. Nhưng đối với NHƯ LAI chẳng thấm vào đâu cả. Vì sao vậy? Vì nó chẳng khác mấy CÂY LÁ trong rừng nầy. Nếu đem kiểm điểm từng Cây Lá thì thật khó kể hết, khó đếm đặng, các Pháp của NHƯ LAI cũng thế.

Lời TA đang thuyết, hay đã từng thuyết, với các ông chẳng khác nào số lá TA đang nắm nơi tay đây. Chớ không thể nói tận từ hay hết đặng. Đó chính là lời chân thật. Vậy các ông cần phải TU CẦU, để mong lãnh các Pháp của NHƯ LAI mới tận hết. Trước tiên cầu Pháp thì các ông phải: TÍN-HẠNH- NGUYỆN. Bằng không Tín Hạnh Nguyện hay thiếu sót khó thành tựu. Vì sao? Vì Tín để nghe trọn lãnh Pháp. Vì HẠNH được Ngộ mà nhận Pháp. Còn NGUYỆN thâm nhập các Pháp mà vào BIỂN PHÁP, các ông nhớ lấy đặng thọ lãnh Pháp của NHƯ LAI.

PHẬT nói trên, thì đủ chứng tỏ các Pháp nó vô biên khó mà nói hết. Còn Bậc cầu Pháp để lãnh hội cũng không dể gì, duy chỉ TÍN TÂM Thề Nguyện Học, gọi là PHẬT PHÁP VÔ BIÊN THỀ NGUYỆN HỌC, nếu không TÍN khó mà nghe để thâm nhập các Pháp.

CHẲNG KHÁC NÀO: Kẻ TÍN vị LƯƠNG Y, vị ấy hái Cây Lá trước mặt làm thành món thuốc cho bệnh nhân uống. Kẻ bệnh TÍN mà uống không ngăn ngại nghi ngờ, bệnh liền khỏi.

Bằng không Tín thời chẳng uống, làm sao được khỏi bệnh? Bậc cầu nghe Pháp cũng vậy. Mà các Pháp nó vẫn ở ngay trước mặt, không Tin khó nghe, khó lãnh.

Nếu Bậc Tu mà nghe cho đặng Pháp là một sự khó. Còn nhận lãnh hay thâm nhập lại càng khó hơn. Bậc như vậy phải là Bậc TÍN TÂM bằng chẳng Tín Tâm thời khó mà nghe đồng khó lãnh.

Do đó nên Thời HIỀN KIẾP các Bậc tu chuyên chính mới rộng phát BA TÂM NĂM NGUYỆN đặng có TỰ LỰC để tu tập VẠN HẠNH làm cho say mến Đạo Tràng và Thân Tâm thuần túy, để TÍN TÂM BẤT THỐI mà kiên cố nhận nghe lời chỉ giáo của THIỆN TRI THỨC lãnh lấy một Pháp, liền Sở Đắc các Pháp. Đó chính là Tấm Gương không ngoài Tín Hạnh Nguyện.

Đến ngày nay vẫn có nhiều Bậc y Tôn chỉ ấy lần đến nơi NHỨT NGUYỆN TÍN TÂM để tiêu dẹp Nghiệp Đảo tu tập, chẳng còn nghi ngờ được trọn lãnh Pháp TRI KIẾN.

Các Pháp nó có nhiều trạng thái lạ lùng, đối với những kẻ mê lầm. Nó lại rõ rệt đối với Bậc ĐÃ BIẾT nó, Bởi khác lạ vì mơ màng chưa chu đáo, nên dễ bị thường ngăn mà chấp, trở thành căn bản GIỚI HẠN. Nếu tu hành không dùng đến TÍN TÂM thì làm thế nào Phá nổi các Bờ Ngăn Chấp ấy? Vì vậy Tín Tâm chính là một lợi khí lần tỏ thông các Pháp. Còn không Tín Tâm chẳng nghe được Pháp? Nên gọi là CHẤP PHÁP. Vì lầm nơi BỜ NGĂN CỦNG CỐ nên chẳng thoát Trần Lao, mà phải trở thành TAM GIỚI SƠN HÀ ĐẠI ĐỊA

Đứng tầm Quan Sát các BỜ NGĂN nơi PHÁP GIỚI từng lớp Người trong THẾ GIAN và các Bậc tu hành. Nếu cầu Tín đặng thì nó trợ giúp cho Bậc tu hành hay Thế Gian tiến bộ lần biết. Bằng Củng Cố thời bị trong vòng PHÁP GIỚI mà an trụ.

Từ THẾ GIAN GIỚI: Nếu có NGƯỜI ẤN TƯỢNG hay QUAN NIỆM trong SÁT-ĐẠO-DÂM cùng HỶ NỘ ÁI Ố và DANH GIẢ hay THƯỜNG LẠC và NGÃ TỊNH đều các thú vui Hạnh Phúc của mỗi NGƯỜI. Theo nguyện vọng của họ mà Thọ Chấp thì làm thế nào?

BẰNG TỪNG BẬC TU: Nếu nói Pháp. XUẤT LY THẾ GIAN hay các Pháp đều Huyển Hóa. Thì sẵn có nhiều Bậc chấp nhận Xuất Ly Thế Gian, các Pháp đều Huyển Hóa?

Bằng nói các Pháp nó: KHÔNG DỪNG TRỤ. VÔ LAI KHỨ hay VIÊN TỊCH. Thì sẵn có nhiều bậc chấp nhận như thế thì làm sao?

Nếu nói Pháp không thể chỉ, chẳng thể bàn, Bình Đẳng Bất Nhị, không hai hay sai khác mà LẶNG THINH cũng không Hình chẳng TƯỚNG mà LY hẵn gọi là rốt ráo thì thế nào?

Các Pháp rất Tinh Nhuệ chỉ vì CHƯA BIẾT vội chấp nhận nó. Nên mới có từng BỜ NGĂN GIỚI HẠN sự hiểu biết khác nhau, thành nơi TU CHỨNG cao thấp.

Khi chưa tu, hãy còn ở nơi THẾ GIAN GIỚI thì mỗi Người họ vẫn có mỗi cách Tự Hào, là Khôn ngoan chánh đáng hiền lành. Lúc đặng tu thì đã có sẵn Tánh cho mình là CHƠN CHÁNH Hiểu Biết. Đó chính là BỜ NGĂN GIỚI HẠN để thường chấp pháp.

Bằng nương theo TÍN HẠNH NGUYỆN thuần túy, có một ĐỨC TIN vững vàng nơi TAM THẾ hay Bậc THIỆN TRÍ THỨC để lãnh hội lời chỉ giáo tu hành, thì các Nghiệp TỰ NHẬN bờ ngăn trên tan dẹp đặng LÝ SỰ KHÔNG CHƯỚNG để tu, lần đến TỎ PHÁP ĐẮC PHÁP viên dung Toàn Giác. Chừng ấy mới CHƠN BIẾT các Pháp nó sẵn có mạch lạc thứ tự, liền khỏi chỗ NGHI lại tránh được nơi nói năng bừa bãi.

CHẲNG KHÁC NÀO: Buổi ban đầu, mới vào Trường Học, thời học chữ A. chữ B. chữ C phải học cho thuộc 24 chữ . Xong tập ráp vần, đến biết đọc và biết viết. Khi đã học giỏi thật biết sắp xếp đúng sai trong 24 chữ. Không còn nghi ngờ có thể làm THƠ hay viết văn trôi chảy. Các Pháp nó cũng là BÀI VĂN chung gồm 24 CHỮ thay qua đổi lại mà thôi. Nó cũng là một BÀI TOÁN chưa giải đặng trong 10 con số. Khi đã làm được THI

THƠ hay viết qua Cốt Truyện, thời khỏi lầm nhận sống trong tưởng tượng mê mờ. Lúc đã giải xong một BÀI TOÁN VŨ TRỤ, thời Sở Đắc Chân Lý Hiện Tiền.

ĐẾN CHƠN BIẾT CÁC PHÁP THÌ NÓ:

Từng giai đoạn nào gọi là: HUYỂN. Lúc nào KHÔNG HUYỂN. Quán thế nào? KHÔNG DỪNG TRỤ. Không Quán thế nào? NÓ DỪNG TRỤ. Sao gọi KHÔNG TRỤ MÀ TRỤ. Thời nào VÔ KHỨ LAI. Lúc nào CÓ LAI KHỨ, Lối nào KHÔNG THỂ CHỈ, Việc gì CÓ NƠI CHỈ, Khúc nào nó KHÔNG HAI, tận chi là KHÔNG PHÁP, Lúc nào là lúc LẶNG THINH, Khi nào là khi PHẢI NÓI, Thời nào là thời VIÊN TỊCH. Các Pháp nó không bỏ, cũng chẳng lấy TOÀN GIÁC mà ĐẮC.

Các pháp tu học không ngoài ra CHỮ TÍN để lãnh pháp. HẠNH NGUYỆN ĐỘ SINH đi trong VẠN PHÁP không ngoài TRÒN DUYÊN-TRÒN NGUYỆN. Nếu không thi hành Tròn Duyên và Tròn Nguyện để Tỏ Pháp thời thua kẻ Phàm Nhơn họ biết làm TRÒN BỔN PHẬN?

Sự TÍN HẠNH NGUYỆN Tròn Duyên và Tròn Nguyện, chính là con đường của Chư TỔ cùng BỒ TÁT, PHẬT dùng để độ sinh lại tỏ rõ tuần tự và các đường tu ngăn chấp của các Bậc TU CHỨNG.

Khi đã biết tác dụng các Pháp, vì TRI ĐẠO mà THUYẾT ĐẠO. Nếu gặp phải từng Bậc Tu Chướng: mình không chướng, lại có thể dùng đủ phương tiện giúp họ được TRI KIẾN, miễn là Bậc đó KHỞI TÍN. Nếu chẳng KHỞI TÍN gọi là: VÔ DUYÊN thì không nói năng bàn cãi. Vì sao? VÌ PHẬT BẤT HÓA ĐỘ VÔ DUYÊN, nên bậc TRI ĐẠO chẳng THUYẾT ĐẠO.

Những lời ƯU TÚ TRÒN DUYÊN không ngoài TÍN HẠNH NGUYỆN đặng tu đến TRỌN BIẾT từng lớp của các Pháp. Khi ĐẮC các Pháp thời không còn Nghi Sợ Pháp, dùng đúng lúc, nói đúng chiều, KHÔNG BỎ CHẲNG LẤY. Nhưng hoàn toàn sử dụng.

CHẲNG KHÁC NÀO: Rừng kia có nhiều CÂY LÁ, Cây Lá ấy đều là vị thuốc. BIỂN PHÁP cũng thế. Mỗi cây và lá đều sẵn có một TÁNH DƯỢC, nên có thể hái hết đem về làm thuốc. Các Pháp cũng thế, mỗi Pháp có một ĐẶC TÁNH cứu mê lầm đặng TRI KIẾN.

NÊN VĂN THÙ NGÀI NÓI: Các hương vị ngọt bùi, nơi rừng cây Biển Pháp, của NHƯ LAI mà tất cả CHÚNG SANH chẳng chịu dùng. Lại đi tìm xa xuôi ảo vọng cao siêu huyền bí thật là lạ.

Các Pháp hiện hữu đoạt đến khỏi lầm gọi là: CHÂN LÝ chớ chẳng chi là Chân Lý. Đối với Bậc ĐÃ BIẾT tỏ rõ Biển Pháp gọi là ĐẠI LƯƠNG Y. Biết chữa các ngăn chấp gọi là ĐIỀU NGỰ. HẠNH NGUYỆN TRỌN gọi là THIÊN NHƠN SƯ, làm cho tất cả tăng trưởng trí tuệ phá mê lầm, đó chính là điểm các Bậc Tu Chứng TÔN SÙNG. Bằng Bậc chưa Tỏ Biết hay lưng chừng biết, nếu chẳng cẩn thận dùng phải mà thọ chấp, thời nó chính là ĐỘC DƯỢC.

Đối với ĐỨC THẾ TÔN. Ngài thật biết chỗ nguy hại của các hàng tu chứng, khi chưa hết các NGHIỆP ĐẢO ĐIÊN vội chấp Pháp, hay sợ không chấp, để mà chấp của hàng: PHI PHI TƯỞNG hoặc ở hàng TAM THỪA, TẬN DIỆT để đến NHỊ THỪA Thọ Chấp TU CHỨNG.

NÊN NGÀI NÓI: Thà chưa Tu, khi có lỗi lầm ở nơi ĐỊA NGỤC còn có ngày gặp PHẬT. Bằng tu mà ĐOẠN DỊ DIỆT để lầm chấp sa nơi PHI PHI TƯỞNG thật nguy hại vô kể.

Theo lời dặn ấy. Đến thời sau có nhiều Bậc tu y PHÁP MÔN TIỆM GIÁO CẤP THỦ. Có nghĩa là: Tự sữa Tánh để tìm hiểu các Pháp trên căn bản lìa THAM SÂN SI đặng tỏ biết đến mức nào thì tu theo với trình độ nấy. Mục tiêu tạo ĐỨC HẠNH mà thôi. Tuy nhiên có một đôi phần chậm tiến, nhưng được đa số vào hàng HIỀN NHÂN hoặc THÁNH TĂNG.

Giữa thời ấy vẫn còn trong Tôn Chỉ nương theo CẤP THỦ để mà TIẾN, dùng sự THỦ TIẾN làm mực thước, lấy TRÍ TUỆ xét soi cẩn thận, nên đường tu hành ít bừa bãi. Lại tự nêu ĐẠO TRÀNG là mục đích GƯƠNG MẪU lấy nền GIÁO HÓA hòa hợp để độ sanh lập DI TRUYỀN CỔ ĐIỂN làm ĐẠO HẠNH, nhờ vậy mà THÂN TÂM thuần túy tham muốn ít vọng khởi hưởng được nơi tu tập Bất thối, thọ lãnh các Pháp rõ ràng TỎ TÁNH ĐẮC PHÁP vững chãi. Nên ngày nay vẫn còn TÔN CHỈ chép ghi.

SAU NỮA: PHÁP MÔN TIỆM GIÁO CẤP TIẾN và CẤP THỦ không thiếu. Nhưng lạc hướng trở thành KHÔNG THỦ ĐỂ MÀ THỦ. Có nghĩa là: CŨNG CỐ Y KINH ĐỂ TU. Nhưng: Trong đoạn kinh nào của bậc tu thích hợp thời theo đó mà tu, gọi là: TU THEO CÁI MUỐN. HAI NỮA: Nếu nhìn bên ngoài thì TÔN CHỈNH ĐẠO TRÀNG Y CỔ CỰU. Hạnh kiểm tốt. Nhưng thâm tâm vọng khởi mong mõi mau thành. Vì sao? Vì muốn THẦN THÔNG TÀI PHÉP, vì chỉ lấy đó làm mục tiêu mức tiến. Chớ chẳng kiểm điểm tan dẹp NGHIỆP CĂN cầu TỎ TÁNH đặng rốt ráo các Pháp.

Lắm Bậc chăm chỉ Khảo Cứu KINH để tu, hay cốt PHÁ CHẤP gọi là KHÔNG CHẤP, dùng chuyên Luận Giải thì được phần TRÍ TUỆ khá. Nhưng thiếu về mọi mặt GIỚI HẠNH ĐẠO TRÀNG để Dung Hòa các Pháp xuôi dòng đến Toàn Giác. Do lẻ thiếu khuyết mà dễ sa vào BA ĐƯỜNG ÁC thành thử có hiểu biết nhưng vẫn mơ màng nơi CHÂN LÝ.

Một trong hai điểm sai lạc lầm tưởng chẳng rõ biết nơi: KHÔNG CHẤP, để mà CHẤP LẤY PHI ĐẠO. Chớ chưa hẳn: TRỌN BIẾT PHI ĐẠO LÀ SUỐT ĐẠO. Vì sao ? Vì CẤP TIẾN Phá Chấp thì duy chỉ BIẾT có mỗi một phần Mình, nên thường vào các Pháp BẤT TỊNH nói năng Bất Tín, liền bị chướng đối ngỡ ngàng mà chẳng Trọn Biết Suốt Đạo, phải đi Ba Đường Ác. Bằng Cố Thủ để tu chăng, thì chỉ biết một Pháp Môn mà thôi.

Nếu y Tôn Chỉ TÍN HẠNH NGUYỆN để lần tiến lãnh hội các Pháp rành rẽ. ĐẠO HẠNH thâm nhập chung tròn Tỏ Biết Toàn Mỹ Pháp Giới đoạt đến Chánh Giác.

Chừng ấy mới BIẾT đặng nơi RỪNG CÂY BIỂN PHÁP chính là NHƯ LAI PHÁP TẠNG chân thiện PHÁP THÂN. Thì thử hỏi: Nó có DƯ THIẾU TĂNG GIẢM được không? Lúc tu chẳng tu cho trọn thì sự lãnh pháp cũng thế, nào vẹn đâu? Do lẻ ấy nên ĐỨC THẾ TÔN Ngài mới chỉ bày TÍN TÂM HẠNH NGUYỆN đặng nương theo các Pháp THỀ NGUYỆN HỌC .

Đối với ĐẠO TRÀNG GIÁO PHÁP, thời trước của THẾ TÔN và hiện nay không khác mấy. Vì sao? Vì ở nơi Mực Thước TÍN TÂM. Cầu lãnh các pháp.

ĐỨC THÍCH CA đương thời, Ngài chỉ giáo 1.200 vị đệ tử, tuy rằng có một ĐỨC THẾ TÔN CHƠN SƯ. Nhưng các hàng đệ tử nào có mấy vị được TÍN đầy đủ. Bậc thì tin Ngài TÀI PHÉP, Bậc thì tin 32 tướng tốt. Bậc Tin Giáo Pháp hay, trong muôn ngàn vạn ức lối Tin sai biệt. Trở thành: Muôn ngàn vạn ức Chơn Sư. Do đó mỗi lần Ngài thuyết Pháp, có then chốt Quyết Định thì Ngài nói: CÁC ÔNG HÃY TIN TA. LỜI TA NÓI RẤT CHÂN THẬT. Đến nay cũng thế. Nếu Bậc nào TÍN TÂM sẽ đặng TỎ PHÁP, chớ nên vọng đảo. Thời xưa và hiện nay mà uổng phí đường tu, trong cơ hội có Chí Nguyện TRI KIẾN GIẢI THOÁT, khi mà gặp đặng Bậc THIỆN TRI THỨC trọn dùng các Pháp mà diễm nói được TRÍ TUỆ TĂNG TRƯỞNG không mắc vào một Pháp. Đó chính là: PHÁP MÔN TỐI THƯỢNG không bỏ chẳng lấy vậy.

Đoạn trên nói về TÍN HẠNH NGUYỆN cầu lãnh pháp. Đoạn dưới đây nói về Giáo Pháp: Không ngoài làm cho kẻ nghe pháp Khởi Tín.

Bước đường GIÁO PHÁP chỉ dạy, nói năng Thuyết Giải làm cho kẻ nghe Pháp hào hứng TIN VÂNG mà tránh nổi sai lạc thật là KHÓ. Do khó nên mới vừa tu lại vừa HẠNH NGUYỆN ĐỘ SINH để cho Chúng Sinh BỜ NGĂN PHÁP CHẤP của mình và của kẻ khác được giải tỏa. Từ lúc Bậc GIÁO PHÁP đã TRI ĐẠO đến tỏ rõ các Pháp khỏi lầm lẫn theo nó thì phải HẠNH NGUYỆN tỉ mỉ đặng thâm nhập PHÁP GIỚI mới thông đạt thứ lớp tuần tự mà THUYẾT ĐẠO.

Trong GIÁO PHÁP chia ra nhiều Bậc. Bậc vừa tu gọi là Bậc HẠNH NGUYỆN ĐỘ MÌNH và GIÚP NGƯỜI, bậc ấy chưa có một quyết định nương vào VÔ NGÃ để Giáo Pháp, cho mình hiểu và kẻ được nghe hiểu. Đó chính là GIÁO PHÁP để TỰ LỢI LỢI THA vậy. Bậc nầy khi Giáo Pháp chưa thể nhận định rành rẽ chỗ Đúng Sai. Nhưng nhắm đích là mong kẻ nghe được tu hành như mình. Nên HẠNH NGUYỆN rất thù thắng hơn cả.

Nhờ thế mà ưa Thuyết Pháp, thích giúp đỡ cho kẻ tu, chỉ vì Say Đạo, Mến Đạo để Biết Đạo gọi là : NƯƠNG VÀO HẠNH NGUYỆN CÔNG ĐỨC, CẦU PHÁP NHƯ LAI Tỏ Tánh. Do đó nên đối với Bậc nầy. Trên thì đặng CHỮ TÍN dưới thì đặng HẠNH NGUYỆN ĐỘ SINH. Thành thử khi Giáo Pháp chính Bậc nói ra các Pháp cốt cho kẻ nghe, nhưng mình lại được nghe trước thật nó có lợi vô kể đối với Bậc Tín Hạnh Nguyện trọn.

Nhưng cũng có cái hại, vì trường hợp lầm tưởng mình Sở Đắc. Vì sao? Vì đôi lúc Bộc Thuyết thật hay chưa bao giờ có y như lời PHẬT rồi ngỡ mình là PHẬT mà tự sanh Bản Ngã Tăng Thượng thật nguy hại, điểm ấy nên chú ý.

Nếu Bậc tu hành mà tạo đặng ĐỨC HẠNH cho vững, thì qua những giai đoạn trên, lại được sự học hỏi tiến bộ mà lần đến nơi TRI ĐẠO TRỌN BIẾT mà THUYẾT ĐẠO.

BẬC TRI ĐẠO GIÁO PHÁP:

CÓ NGHĨA LÀ: Biết các Pháp, hay Pháp Môn tu tập chốn ĐẠO TRÀNG thảy đều là phương tiện cứu cánh đến GIẢI THOÁT, do đó đối với sự tu hành không mắc miếu. Nên chẳng sợ sệt nơi ĐÚNG SAI. Nhưng phải HẠNH NGUYỆN. Tròn Nguyện mà hoàn toàn Giải Thoát, thâm nhập rành mạch THUYẾT ĐẠO.

CŨNG NHƯ: Bậc biết rằng: Sắm THUYỀN để qua BỜ GIÁC, khi đặng đến bờ giác thì bỏ thuyền lại. Đến Thật Biết như thế cũng là khó chớ chẳng dễ gì.

Tuy lắm Bậc biết thế, nhưng nào ai có rành rẻ mối giềng chỗ Sở Đắc các Pháp mà TRI ĐẠO? Thành thử nơi Tri Đạo Giáo Pháp có nhiều Bậc, ở chổ mới Tri Đạo, hay đã Tri Đạo hoặc Trọn Tri Đạo Giáo Pháp.

BẬC TRI ĐẠO GIÁO PHÁP có tự lượng theo kẻ nghe Pháp mà thuyết. Bậc ấy có một căn bản diễn nói chỉ giáo cho kẻ nghe Pháp được cỗi giải các Nghiệp bằng phương tiện TÌM CHƠN TÁNH để tu. Sau mới lần lượt đưa các Pháp đặng hiểu biết để phá mê lầm ngăn chấp, từ Tín Hạnh Nguyện đến Lục Ba La và Tứ Nhiếp Pháp thảy đều chỉ bày tu tập đúng lúc chẳng thiếu sót, vì biết mối nguy hại là:CHỈ THẲNG SAU BỊ QUANH. THÀ TU QUANH SAU ĐẶNG ĐẾN THẲNG. Nên mới Giáo Pháp căn bản chẳng sợ lớn nhỏ đúng sai của chấp Pháp, vì chu đáo tỏ biết các Pháp mà TRI ĐẠO GIÁO PHÁP. Đó chính là Bậc Giáo Pháp khá.

CÒN BẬC: TRI ĐẠO GIÁO PHÁP vẫn biết các Pháp và các môn tu tập đều là phương tiện cứu cánh đến Giải Thoát. Nhưng lại có một Quyết Định GIÁO PHÁP TỎ TÁNH quá sớm. Nên Bậc ấy thuyết giải chuyên ròng PHÁ CHẤP. Làm cho kẻ nghe lãnh hội thiếu căn bản ĐẠO TRÀNG ĐỨC HẠNH. Khi tu tập Phá Chấp đến Tri Đạo thường lâm vào NGHỊCH HÀNH PHÁP khó chỉnh cho vẹn để thọ lãnh Chân Lý mà tỏ biết rốt ráo, phải hồ nghi bất tín. Đó gọi là chỉ thẳng mà bị quanh. Còn Bậc trên chỉ quanh nhưng sau đến thẳng.

BẬC TRI ĐẠO THUYẾT ĐẠO:

Bậc nầy không vội nói chỗ Đúng Sai hay Mau Chậm. Chỉ làm cho kẻ nghe được chỗ: KHỞI TÍN. Nếu kẻ nghe chưa đến lúc Khởi Tín thời vẫn vui vẻ để yên. Do lẽ ấy nên Bậc Tri Đạo khéo Thuyết mới nương chìu đủ cách đối với tất cả mọi người. Khi HÀNH lúc DỤNG cốt làm cho họ được thân cận kính mến. Gọi là: DIỆU DỤNG. Bậc như thế đủ phương giúp: Trong TÌNH THẦY, lúc TÌNH BẠN, hoặc giả tình BÀ CON XÓM LÀNG. Nếu đa số được KHỞI TÍN. Bậc Thuyết Đạo mới GIÁO PHÁP chỉ dạy. Nói đến sự Giáo Pháp của Bậc ấy khó nghĩ bàn. Vì sao? Vì tùy thuận mỗi kẻ mà nói. tùy theo sự điều động dắt dẫn. Làm cho tất cả kẻ nghe Pháp đặng hào hứng tranh nhau để tu, ngó nhau cùng tiến bộ, nhìn nhau mà phát Đại Nguyện. Lại có một THỂ CÁCH chung hưởng Tình Duy Nhứt Đạo Tràng, để Tỏ Biết Pháp Môn KHÔNG HAI mà Tu Chứng.

CÁC PHÁP DUY CHỈ CÓ:

ĐỨC VĂN THÙ SƯ LỢI PHÁP VƯƠNG TỬ mới nói tận .

ĐỨC ĐẠI LỰC DI LẶC TÔN PHẬT mới chịu tận.

Còn kỳ dư khó mà nói tận từ hay giảng giải hết đặng.

DUY CHỈ: TÍN HẠNH NGUYỆN mà lãnh các Pháp.

DUY CHỈ: Làm cho tất cả được: KHỞI TÍN, mà Thuyết Pháp.

NAM MÔ PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT
BỒ TÁT MA HA TÁT

27. TU CHỨNG hay CHỨNG TU?

VẤN ĐỀ TU CHỨNG không nên giảng giải đối với những Bậc Tâm Chí hẹp hòi, sự Tham Cầu động vọng chưa GIẢM. Mà TƯƠNG SANH trạng thái XIỂM ĐỀ, mắc phải TĂNG THƯỢNG CHỨNG TU.

TU CHỨNG khi đem giảng nói hay áp dụng, đối với Bậc tu đã thuần túy ĐẠO TRÀNG, chung gồm ĐỨC HẠNH lẫn TRÍ TUỆ. Vì Bậc ấy đã từng thi hành LÝ SỰ dung hòa tu tập không chướng ngại, nên được biết rõ mối quan hệ NẶNG NHẸ đường tu và các SỞ TRI để thọ lãnh Pháp rốt ráo hoặc chưa rốt ráo.

Do đó Thân Tâm rổng rang điều hòa. Chí Nguyện thù thắng phù hợp Chơn Như Tánh mà nương theo BẤT TĂNG GIẢM. Lại cùng con đường BI TRÍ DŨNG. GIỚI ĐỊNH TUỆ HÀNH NGUYỆN cho được TRÒN DUYÊN không nhàm chán. Bậc như thế có một trạng thái hiểu biết chẳng tham để xét soi lần tiến, thì TU CHỨNG kia là: MỤC TIÊU đến đích vậy.

Giữa thời nầy Bậc TU CHỨNG vẫn có nhưng hiếm hoi. Còn Bậc CHỨNG TU lại nhiều, vì còn thiếu sót vội chấp nhận.

NẾU BẬC TU HÀNH MÀ ĐƯỢC BIẾT: TU PHẬT ĐẠO là một việc. Còn TU CHỨNG là một việc. Nó là Hai nhưng gồm không BỎ LẤY. Vì sao? -Vì TU CHỨNG vượt tầm Lý Luận, Ngôn Thuyết, Đạo Đức cùng Hạnh Nguyện.

NHƯNG NGƯỢC LẠI: Phải TU cho đầy đủ các MÔN: LÝ LUẬN, NGÔN THUYẾT, ĐẠO ĐỨC và HẠNH NGUYỆN cho vẹn mà SỞ ĐẮC lấy TU CHỨNG. Bằng thiếu sót, ngăn ngại cũng chẳng đến. Hay vội chấp nhận trong lúc mơ màng lý bí cùng với ròng biết trong một MÔN cũng chẳng đặng nó liền sanh in tuồng mình SỞ ĐẮC để nhận lãnh phải vướng vào CHỨNG TU.

Do lẽ ấy các Bậc tu thường lầm nhận, mặc dù không muốn, nhưng vì Nghiệp động vọng chưa sạch nên làm cho Bậc Tu phải lầm nơi Sở Tri của nó, để nhận lãnh là mình mà chưa trọn đến rốt ráo vậy.

Nếu nhận định xét soi hay kiểm điểm, thời mới thấy rõ ĐƯỜNG TU LÀ PHƯƠNG TIỆN, bởi phương tiện như thế nên chưa có Quyết Định. Bậc đang tu dù vô tình hay cố ý mà nói hay nhận có Quyết Định liền bị trong vòng Pháp Chấp.

Trước kia PHẬT vẫn thường nhắc cho các

Bậc đang tu hành mong chấp trước như câu: “NẾU CÁC ÔNG NGHĨ HAY NÓI ĐẾN SỰ: TU-CHỨNG LÀ KHÔNG CHỨNG.” Vì sao? -Vì nó vượt tầm Ngôn Thuyết tu cho trọn vẹn chẳng thiếu sót mà SỞ ĐẮC. Lúc ĐÃ ĐẮC thì chẳng còn NÓI ĐẮC.

Đó chính là lời chỉ minh bạch đối với Bậc đang tu. Cũng có sự Minh Định cho Bậc đến Đích. Bậc đã TU CHỨNG, thời BẬC ấy rất Trọn Biết tỏ rỏ tỉ mỉ không thiếu sót. Do đó có một Quyết Định CHƠN CHÁNH không lầm, để đưa các bậc đang tu tập vào TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Đối với Bậc đã Sở ĐẮc, thì Thâm Nhập thấu đáo các PHÁP MÔN tu hành, đồng biết sự NẶNG NHẸ ngăn chấp chỗ ĐÚNG-SAI do nghiệp đảo của các Bậc đang tu. Lại tỏ thấu HÀNH DỤNG của NHƯ LAI TẠNG nên mới ĐỒNG ỨNG lúc ẨN, khi THỊ HIỆN các TÁNH THUẬN và NGHỊCH, TỊNH cùng BẤT TỊNH, THIỆN hay BẤT THIỆN để gánh chịu cho tất cả chúng sanh. Miễn duy nhất đưa Chúng Sanh đến TRI KIẾN GIẢI THOÁT mà các CHÚNG không hay biết ngỡ Mình tu đặng.

Đối với Bậc như thế khó nghĩ bàn, khó biết đặng. Nếu Bậc đang tu mà biết đặng, hay bàn đặng, việc làm của BẬc CHƠN GIÁC, thì Bậc ấy cần gì phải tu?

Điểm ấy Bậc đang tu nhớ để cầu lấy BIẾT. Nên chi lúc gặp đặng Bậc THIỆN TRÍ THỨC chỉ dạy tu tập, thời nghe theo lời Giáo Pháp Huấn Từ để mà tu. Chớ đem sự nghe đó mà hòa chung chỗ phê phán nghi ngờ từng Hành Vi của THIỆN TRÍ THỨC thì nó làm cho LÝ CHƯỚNG. Khi LÝ đã Chướng, SỰ cũng cản ngăn, không Tu lấy đâu để TỎ NGỘ? Gọi là LÝ SỰ Đồng Chướng vậy.

Bằng Bậc Thượng Thặng cầu Chơn Giác hiện tại có một trạng thái đánh đổi để lướt qua các Chướng Ngại của Hành vi TƯỚNG PHÁP. Bậc ấy không lấy đó làm quan hệ đường tu. Mà chỉ cầu lấy GIÁC NGỘ TU CHỨNG làm đích căn bản nên chẳng chỉ trích, trọn TIN VÂNG KÍNH THIỆN TRÍ THỨC, thời đối với TU CHỨNG không xa mấy của Bậc thượng thặng.

Trong thời nầy nói đến tu hành thì chẳng thiếu. Nhưng đối với Bậc tu TRÒN DUYÊN chu đáo hay Biết Tu. Từ Trí Tuệ lẫn Đức Hạnh và Ngôn Ngữ thì rất sút kém. Chỉ NẶNG NHẸ có một bên, lại khi Tiến lúc Thủ không rõ ràng nên chẳng Quân Bình lối tu mà phải chênh lệch thiếu sót. Thành thử TU CHỨNG hiếm hoi, còn thành tâm tu thì vượt mức trở nên tình trạng MÊ TÍN.

NHỮNG ĐIỂM NẶNG NHẸ VÀ THIẾU SÓT NHƯ SAU:

NẶNG NGHỊCH HÀNH: Nếu Bậc tu dùng TRÍ TUỆ Phá Chấp chuyên ròng. Thì vẫn thiếu CĂN BẢN ĐẠO TRÀNG, kém về ĐỨC HẠNH. Nên sanh lối lung lạc hay TĂNG MẠNG mà đánh giá tu hành trở thành Dễ Dãi. Liền có sự NGHI nơi TU CHỨNG là một Lý Luận Thông Giải. Mà lâm vào NGHỊCH HÀNH BẤT TỊNH sa nơi ÁC CĂN Dụng Độ.

NẶNG THUẬN HÀNH: Còn Bậc dùng CÔNG PHU tu tập căn bản ĐẠO TRÀNG, và ĐỨC HẠNH chuyên ròng về THIÊN PHÁP. Vẫn thiếu đường TRÍ TUỆ phá chấp VÔ MINH, nên tu lâu phải nhàm chán. Do đó liền đánh giá tu hành KHÓ KHĂN, nghi TU CHỨNG chẳng đến hiện tại phải chờ kiếp sau mới thành tựu. Mà lâm vào yếu mềm thờ ơ chỉ đặng có THANH TỊNH THUẬN HÀNH, sa nơi THIỆN CĂN Dụng Độ.

Lại có Bậc hiểu biết thêm tí nữa, thời Bậc ấy tu chung gồm CÔNG NĂNG ĐỨC HẠNH lẫn TRÍ TUỆ, thuận nghịch đều tu, nên xem KINH học hỏi luận giải chuyên ròng theo ý muốn phù hợp của mình quanh quẩn nơi TU LUYỆN, mà lâm vào TIÊN ĐẠO Dụng Độ.

MỘT trong BA điểm trên về sự tu hành NẶNG NHẸ. Tu theo Sở Thích phù hợp với mình trở thành thiếu sót và dư dả, chẳng có một căn bản nào để tiến đến trọn vẹn SỞ ĐẮC rốt ráo nơi TU CHỨNG. Vì sao? Vì thiếu sự chỉ dạy đường tu, thiếu sự đưa đón khai thông từng lớp, Đó chính là lời nói chân thật vậy.

Trong bài nầy. TÔI và các BẠN so vào KINH SÁCH. Nơi thời GIÁO CHỦ THẾ TÔN, Ngài dùng đủ phương dìu dắt các Bậc tu hành, có căn bản khi TIẾN lúc THỦ mực thước và tôn chỉnh, vì Ngài là Bậc Tri ĐẠo THUYẾT ĐẠO khéo nên: TÙY NGHI THUYẾT PHÁP. TÙY NGĂN CHẤP mà PHÁ CHẤP. TÙY SỰ ĐƯA. TÙY NƠI ĐÓN. Làm cho thuần túy BẤT TĂNG GIẢM trong LÝ SỰ Đồng Song.

NGÀI CHẲNG KHÁC NÀO: ĐẠI LƯƠNG Y cứu chữa bệnh TOÀN THÂN, chỉ vì Tham mà TĂNG, ưa GIẢM mà Mê Lầm thọ chấp. Ngài là Bậc ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU cùng THIÊN NHƠN SƯ hay ỨNG CÚNG và CHÁNH BIẾN TRI hoặc NHƯ LAI, PHẬT và THẾ TÔN có đầy đủ 10 DANH HIỆU do trọn vẹn Hoàn tất mà đặng như thế.

Giữa thời ĐỨC THÍCH CA Ngài KHAI ĐẠO. Tất cả Chư vị Bồ Tát đang tu, hoặc TU CHỨNG. Từ trên đến dưới trong HỘI TRƯỜNG đồng theo đồng học hỏi tu tập không thiếu sót. Ngài lại thường nhắc nhở: CÁC PHÁP KHÔNG BỎ và cũng CHẲNG LẤY CHỈ CẦN THÂM NHẬP RỐT RÁO LÀ SỞ ĐẮC.

NẾU CÓ: Bậc nặng về PHẨM HẠNH ĐẠO TRÀNG công phu tu tập không chán. Nhưng thiếu về đường TRÍ TUỆ xét suy để phá chấp.

NGÀI LIỀN NÓI: TRÍ TUỆ là Cứu Cánh cuả TU CHỨNG. Nếu các Ông dùng Công Năng củng cố để mà tu thì chẳng thành tựu đặng. Vì sao? -Vì VÔ MINH không thể lấy sức mà phá nó, bằng dùng sức mà phá VÔ MINH thì chẳng khác nào CON KIẾN kia cố đục xuyên qua núi TU DI, núi ấy không lay chuyển mà lại phí công. Nếu dùng TRÍ TUỆ phá VÔ MINH. Ví như: GƯƠM BÁU chém thủng THẠCH XOA vậy.

BẰNG CÓ: Bậc tu THIỀN ĐỊNH chuyên Trí Tuệ xét suy. Nhưng thiếu sót PHẨM HẠNH NGÔN NGỮ ĐẠO TRÀNG CÔNG PHU tu tập.

NGÀI LIỀN NÓI: Chớ ngồi yên mà suy nghĩ. Có bao giờ không làm mà đặng tỏ thấu chu đáo? Cũng như kẻ kia không chịu đi qua BỜ GIÁC mà bảo Bờ Giác kia đến? Nếu không đi mà bảo đến, thì chẳng khác nào Xây Cất TÒA LÂU ĐÀI trên hư không. Nếu tu mà ngồi yên để TƯỞNG, thì không hơn mấy KẺ XÂY MỘNG ĐỂ VÀO MỘNG.

So trên con đường TU PHẬT, có một hệ thống không thiếu sót nếu NƠI nào cùng PHÁP nào bê trể thiếu sót thảy đều QUAN TRỌNG cả. Nó lại vẹn vừa chẳng NẶNG NHẸ nên gọi là VIÊN DUNG để đến TU CHỨNG. Bằng chênh lệch Nặng Nhẹ thì gọi là CHỨNG TU vậy.

TU CHỨNG hay CHỨNG TU chính là TRỌN GIÁC cùng chưa TRỌN GIÁC.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT Kỷ niệm: ngày 8 tháng 4 KỶ DẬU
1969

26. TỰ TÁNH

TỰ TÁNH là Bậc VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC, Bậc ấy Trọn Biết chân thật trong TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI rất rõ ràng tỉ mỉ không thiếu sót nghi ngờ gì cả.

KHÁC NÀO: TRƯỞNG GIẢ kia biết rõ từng món đồ dùng trong LÂU ĐÀI của mình, khi cần đến chẳng chút ái ngại. Lúc hết dùng đem sắp xếp không nghi ngờ. Thân Tâm đã biết nên trơn liền chẳng vướng đọng ĐÚNG-SAI.

Đối với Bậc Toàn Giác thật biết các Pháp chân thật cũng thế. Nên dù các trường hợp Hành Dụng THUẬN-NGHỊCH, TỊNH BẤT TỊNH chăng vẫn vẹn vừa đúng lúc. Lại có một Quyết Định đưa các Bậc nằm trong BẢN NGÃ thoát khỏi TRẦN LAO mà đặng TRI KIẾN hoàn toàn GIẢI THOÁT, không còn Tập Khí Sanh Tử. Lại Bậc ấy chẳng có lấy một NGHI.

Nói đến Bậc như thế thật khó nghĩ bàn, thì làm sao đem so tính với Bậc hiện hữu mê mờ lầm lẫn? Hay các hàng TU CHỨNG từ thấp đến cao, hoặc trong lúc còn tu, hay Bậc đã ĐẮC PHÁP nhưng chưa rốt ráo? Cùng HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH hãy còn lý bí, sự hiểu biết lưng chừng như:

- Chưa tỏ rõ phân định thế nào là CÓ? Thế nào lại KHÔNG? Đó gọi là Bậc NỬA CÓ NỬA KHÔNG. Còn Bậc đã TỎ PHÁP TRI KIẾN nhưng chưa rành mạch thật biết sự dùn-thẳng, chung-riêng đường lối TỐI THƯỢNG? Khi đi lúc về các Pháp. Dù cho những Bậc ấy có đem Luận Giải in tuồng Thật Biết Thông Đạt chăng, nhưng chưa thể nào sắp xếp các Pháp như: MÓN ĐỒ DÙNG của mình để HIỆN GIÁC an trụ rốt ráo. Nên mơ màng dùng TƯỞNG hay KHÔNG TƯỞNG. Nghi ngờ CHƠN GIẢ GIẢ CHƠN?

- Bằng có Bậc Tỏ Biết nơi chốn TÂM SANH PHÁP. Chính mình tạo chốn CHÁNH BÁO hay CHỊU BÁO. Các lý giải in tuồng thật biết chốn ĐIỀU NGỰ Pháp, nhưng lúc thi hành bị Pháp Điều Khiển nó Tương Phản nhau làm cho rời rợt ngẩn ngơ Không lối thoát. Vì sao?

Vì BẢN NGÃ còn chứa đọng chưa trơn liền rốt ráo. Lại tự lầm nâng mình Trọn Biết Chơn Như Tự Tánh. Vô Tình hay cố ý tu PHÁ CHẤP, lại tạo Pháp để mà CHẤP.

BẢN NGÃ và TỰ TÁNH khi chưa biết cho nó không sai khác. Đến lúc biết thời mới nhận định đặng nó sai khác muôn trùng. Vì sao? -Vì Bậc trong khi mê mờ đến thời tu tập lần biết ĐANG BIẾT là BẢN NGÃ. Còn Bậc GIÁC NGỘ THẬT BIẾT hoàn toàn là TỰ TÁNH. Đó chính điểm sai khác.

Khi ĐỨC A DI ĐÀ Ngài đã trọn vẹn TỰ TÁNH Ngài nói: TỰ TÁNH DI ĐÀ. MUÔN PHƯƠNG TỊNH ĐỘ. Chính thực đối với Đức A DI ĐÀ mới đặng như thế. Bằng những Bậc nằm nơi BẢN NGÃ, nếu vang nói câu trên hoặc lầm tưởng mình đã trọn đến Tự Tánh, thì Bậc ấy phải đành chịu: BẢN NGÃ QÚA ĐÀ -MUÔN PHƯƠNG PHÁP GIỚI.

ĐỨC THÍCH CA MÂU NI PHẬT. Khi Ngài đoạt VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC. Ngài cũng nói: THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ. DUY NGÃ ĐỘC TÔN.

Tuy hai lời nói của Hai VỊ PHẬT khác nhau, nhưng chung gồm một chỗ chỉ: CHƠN NGÃ TỰ TÁNH, thật hoàn toàn rốt ráo vậy.

BẢN NGÃ nếu dùng đến QUÁN chung cùng và trùm khắp, thì nó lại có sẵn nơi BỐN LOÀI (Thấp-Noản-Thai và Hóa Sinh) không thiếu. Mà quán riêng từng Bậc thì MỖI BẬC MỖI LOÀI, từ Hạ đến Thượng từng trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Lục Đạo hay Tinh Trùng thảy đều có Bản Ngã.

BẢN NGÃ lại vốn có Đặc Tánh của nó là: THƯỜNG TRÚ THƯỜNG ĐI gọi là VÃNG LAI DI CHUYỂN. Nên bậc soi biết thì mới nhận thấy nó: CÓ ĐI, CÓ LẠI. Khi tu hành đoạt đến Viên Tịch thì không thấy nó ĐI-LẠI

Do lẽ ấy nên Bậc TỰ TÁNH CHƠN NHƯ nói với Bậc nằm trong BẢN NGÃ để quyết định lìa nó, bậc ấy chỉ thẳng nó là: KHÁCH chẳng thật, chớ nên chấp nhận lấy nó mà lầm mê. Hãy nương vào VÔ NGÃ lìa BẢN NGÃ Trần Lao đặng tu tập mà đoạt Chánh Giác vậy.

BẢN NGÃ thường trú như thế, nên không có chổ nào mà chẳng đến, lại chẳng có nơi nào mà không đi. Nó liên tục thay đổi nên dễ bị lầm nhận nó là: MÌNH. Còn BỔN LAI TỰ TÁNH của mình lại chẳng nhận, trở nên lầm lẫn. PHẬT gọi là Mê lẦm Điên Đảo vậy.

Khi đã trót theo BẢN NGÃ, tưởng nó chính Mình, thời rất khó biết được sự lầm nhận để mà soi nó, nên ngỡ Tự Tánh Bổn Lai, vì vậy phải cuồng quay sai biệt, ý nguyện của mình bị Tương Phản. KHÁC NÀO: CÂY MONG LẶNG. GIÓ CỨ THỔI.

Chính Bậc tu hành nào cũng vậy. Họ rất mong cải tạo trừ mê, nhất tâm cầu TRI KIẾN đến chốn THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN. Nhưng nào có đặng toại nguyện đâu? Vì sao? -Vì đã bị lầm lấy KHÁCH làm CHỦ còn CHỦ làm TÔI TỚ thì làm sao có một chủ quyền lập Pháp? -Có một chân chánh để trọn lãnh PHÁP ĐẢNH NHƯ LAI TẠNG? Mà đặng THỌ KÝ. BỔN LAI TOÀN MỸ? Đó cũng là một sự sai lầm của TRUYỀN KIẾP. Một sự tu tập ĐÚNG-SAI vậy.

Bậc tu hành cần nhất TỎ PHÁP cùng ĐẮC PHÁP gọi là THẬT THẤY Rõ Chân cũng là TRI KIẾN. Điểm thứ hai lại cần đến sáng soi Sự LƯU HÀNH BẢN NGÃ đặng khỏi lầm vì nó mà đoạt đến GIẢI THOÁT. Điểm thứ Ba cần đến HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH mà đến CHÁNH GIÁC TỰ TÁNH.

BẰNG CHƯA BIẾT. HOẶC KHÔNG CHỊU BIẾT HAY CHẲNG CẦU BIẾT thì dù có tu gấp mấy chăng cũng không ngoài BẢN NGÃ để tu vậy.

Càng HÀNH mà không chịu Tỏ Biết, thì lại càng dung túng nuôi dưỡng Bản Ngã thật lớn to. Nếu hiểu biết mà không Làm lại đúc nung BẢN NGÃ cho thật chắc cứng. Đó là lời ưu tú Di Truyền của Chư PHẬT, đem lại sự TRÒN DUYÊN TRỌN NGUYỆN để Thật Biết tỉ mỉ chẳng còn Tập Khí Sanh Tử mà hoàn toàn Giải Thoát. Nên nhớ lấy.

BẢN NGÃ là nguồn gốc phát sanh Cõi Trời và Người lại tạo thành LỤC ĐẠO, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới do chấp nhận lầm lẫn mà thành.

NÊN PHẬT NÓI: Nó muốn thế nào, nó đặng thế ấy. Do BẢN NGÃ hương vị ngọt bùi Thường Chấp thành tựu các Cảnh giới. Chính nó tự tạo Cảnh Giới, rồi cũng chính nó mong van cầu khẩn cho đặng Cảnh Giới của nó tạo mà an trụ. NHƯ LAI thật biết và biết hơn thế nữa, nhưng NHƯ LAI không Tập Nhiễm Thụ Chấp, nên hoàn toàn Giải Thoát chẳng còn Tập Khí Sanh Tử vậy.

Bậc tu hành nên so lời nói trên để hiểu. Nhưng khi chưa biết đến BẢN NGẢ nó là: KHÁCH, thì dù có đem hết toàn lực để tu hay chiêm ngưởng củng cố đánh đổi mong nhận đặng sự TRI KIẾN GIẢI THOÁT chăng, thì nó cũng là Tri Kiến, cũng là Giải Thoát. Nhưng chẳng đặng hoàn toàn. VÌ sao? Vì nó còn mộng đảo Tập Nhiễm thanh thô hương vị Tập khí Sanh tử.

Bằng THẾ GIAN GIỚI, BẢN NGÃ nó chính là NGHIỆP. Nghiệp nặng nhẹ do nơi Ngăn Chấp nhiều ít mà thành ra muôn trùng vạn lối trở nên Nghiệp Tương Phản và Tương ứng, Đồng Nghiệp và Biệt Nghiệp nên có THƯƠNG GHÉT, PHẢI QUẤY, RIÊNG TƯ cùng HỶ NỘ ÁI Ố đến THƯỜNG LẠC NGÃ TỊNH. Đều là Thế Gian Pháp để vay trả, trả vay nơi Sanh Tử Luân Hồi không ngừng nghỉ.

BẢN NGÃ NÓ CÓ HAI ĐƯỜNG LỐI:

Một là: Xa lià, củng cố, Tận Diệt, TẬN DIỆT ĐỊNH. Đó thuộc về hàng NHỊ THỪA TU CHỨNG.

Hai là: Nương theo VẠN PHÁP VIÊN THÔNG. Dùng phương tiện Hạnh Nguyện Độ Sanh như: BI CHÍ DŨNG, GIỚI ĐỊNH TUỆ cùng LỤC BA LA MẬT ĐA, TỨ NHIẾP PHÁP và BÁT NHÃ để thâm nhập Pháp Giới. Bậc ấy cần tỏ biết BẢN NGÃ là: KHÁCH LƯU HÀNH để Trọn Biết tỉ mỉ khỏi lầm hết MÊ. Khi hết mê đặng CHÁNH GIÁC, gọi là HIỆN GIÁC của hàng TU CHỨNG TỐI THƯỢNG vậy.

CŨNG NHƯ: Có Hai TRƯỞNG GIẢ nọ, thảy đều trọn quyền làm CHỦ tòa LÂU ĐÀI. Nhưng cả Hai ông đều một cảnh LẦM. Do sự lầm nhận KHÁCH là CHỦ của tòa Lâu Đài, còn mình làm TÔI TỚ. Nên phải chịu tất cả quyền điều khiển của VẠN KHÁCH. Đó Vạn Cảnh của Luân Hồi cũng thế.

Sau chỉ vì sự nhọc nhằn khổ cực, sự đòi hỏi không ngừng của KHÁCH mà hai vị Trưởng Giả đồng chán nản, lòng hằng mong ước thoát sanh ra khỏi nơi ao tù TỨ KHỔ. NĂM ẤM -TRẦN LAO. MƯỜI ĐIỀU RÀNG BUỘC.

- Một ông thì quyết chí diệt ly, xa lìa bọn KHÁCH chẳng nói năng với chúng, không để chúng đụng đến Thân Tâm. Bọn KHÁCH bèn để yên cho TRƯỞNG GIẢ vài Căn Phòng AN TRỤ. Đó là hàng NHỊ THỪA đến chốn HỮU hoặc VÔ mà an trụ lấy Một.

Còn TRƯỞNG GIẢ kia cũng có một chí mong ước thoát khỏi chỗ khổ cực nhọc nhằn, chẳng khác với TRƯỞNG GIẢ trên. Nhưng thường Nghi Hoặc và cũng thường TỰ hỏi lấy mình, tại sao bọn CHỦ lại đông thế? Nếu là CHỦ sao lại chẳng ở mà cứ đi về thay đổi? Lâu ngày liền TỰ BIẾT MÌNH LẦM. Cũng nhờ có Nghi Chấp mà rõ biết sự lầm nhận của Mình.

Nhưng TRƯỞNG GIẢ còn bình tĩnh và rộng rãi hơn, không vội gì đuổi KHÁCH, để nhìn xem và rõ biết từ cử chỉ đến Hành Động ngôn ngữ từng mỗi một KHÁCH đến trăm nghìn vạn ức triệu, đồng rõ biết tận cùng toàn bộ của KHÁCH không thiếu sót.

Khi đã THẬT BIẾT thì chẳng còn sợ hãi rụt rè và không còn lấy MỘT NGHI, nên Trưởng Giả làm vẹn vừa đúng đắn và có một Quyết Định quá ư Thù Thắng. Trưởng Giả bèn ăn mặc y áo chỉnh tề, tựa ngồi nơi Toà SƯ TỬ. Trưởng Giả cho mời tất cả KHÁCH không thiếu sót một ai, Trưởng Giả tuyên đọc tỏ rõ tỉ mỉ tuần tự theo thứ lớp làm cho tất cả Khách đều kính nể tôn trọng CÔNG ĐỨC cao dày của Trưởng Giả.

Đồng thời KHÁCH cũng Nhất Nguyện thân cận gần gủi bên TRƯỞNG GIẢ đặng tạo lập chung hưởng sự giàu có, do dưới quyền của Trưởng Giả điều khiển. Từ đó Trưởng Giả trọn quyền làm chỦ TÒA LÂU ĐÀI, lại trọn quyền sai khiến tất cả KHÁCH, thật là TOÀN VẸN DUY NHẤT.

Một LẦM NHẬN của Hai vị TRƯỞNG GIẢ, và các Bậc TU CHỨNG cùng khắp trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, trở thành có trạng thái TU HÀNH trong hai lối TRI KIẾN và GIẢI THOÁT khác nhau.

MỘT BÊN: -TẬN DIỆT thì rốt cùng vào VÔ DƯ NIẾT BÀN.

-Còn TẬN DIỆT ĐỊNH thời đến HỮU DƯ NIẾT BÀN.

MỘT LỐI NỮA: -HIỆN GIÁC TỎ BIẾT SỞ ĐẮC TỰ TÁNH VIÊN MINH MUÔN PHƯƠNG TỊNH ĐỘ RỐT RÁO ĐẠI NIẾT BÀN vậy.

NAM MÔ ĐÔNG ĐỘ HIỆN GIÁC
DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI

25. TÁNH TƯỚNG

TÁNH VỐN VIÊN MINH TỊCH TỊNH BÌNH ĐẲNG TƯỚNG thời sai khác, vì sao? Vì TƯỚNG chính TÂM. Do Tâm năng KHỞI năng BIẾN nên BỊ BIẾN. Tâm vốn chẳng Dừng Trụ trở thành không nhứt định bởi nơi mong cầu Điên Đảo. Khi thì Thích muốn, lúc lại không.

Nó có nhiều chứng tật, vì hay Năng Biệt nên Bị Biệt phải vướng mắc vào Pháp TƯƠNG ĐỐI, lại dành chịu tư riêng ĐƯỢC MỪNG, MẤT BUỒN. Việc THÍCH thì HỢP, CHẲNG THÍCH không HỢP. Chung gọi nó là DUYÊN KHỞI, bởi Khởi mà Tự Sanh PHÁP. Nhận lầm từng Sở Thích, lìa bỏ từng Không Thích, Mong từng sự Muốn, chẳng chờ những gì không Muốn. Trở thành: CÓ-KHÔNG, KHÔNG và CÓ. Nơi CÓ chính là TƯỚNG. Chỗ KHÔNG đó lại TÂM.

Khi đã CỐ THỦ lầm lẫn bên TRONG là TÂM, còn bên NGOÀI thì TƯỚNG. Chớ nào ngờ TRONG NGOÀI là nơi phân biệt của VỌNG trở nên Ngăn cách.

Khi có Công Năng tu tập, tìm hiểu sâu đậm đặng Tỏ Biết BẢN THỂ CHƠN TÂM vốn có Một, thì TƯỚNG chính TÂM mình.

TÂM Khởi bên trong: Tiêu Biểu cho Vô Tướng. TƯỚNG Hiện Diện: Đó chính Thực Thể của THỰC TƯỚNG.

Từ VÔ TƯỚNG đến THỰC TƯỚNG tuy rằng một THỂ TÂM nhưng Hai TÁC DỤNG khác nhau. Đó chính là điểm Tuyệt Mỹ Viên Dung Tự Tại Vô Ngại Hành Dụng cho Bậc GIÁC NGỘ. Bậc ấy thật Sở Đắc không sai của TƯỚNG. Vì sao? Vì đã thực hành TỨ NHIẾP PHÁP cùng LỤC BA LA MẬT ĐA, trên những LÝ SỰ ĐỒNG SONG mà đặng Tỏ Ngộ NHẤT TƯỚNG. Còn kỳ dư lầm lẫn TƯỚNG, thời TƯỚNG sai khác vậy.

TÁNH vốn Viên Minh Tịch Tịnh, Bất Biến do Bình Đẳng. Thường Còn bởi Bất Nhị. Gọi là THỂ TÁNH CHÂN NHƯ. Không Tập Nhiễm vọng khởi thanh thô phân biệt, nên gọi là TÁNH PHẬT.

NGƯỢC LẠI: Lầm mê mờ tối vọng loạn năng phân thời gọi là PHẬT TÁNH. Vì sao? -Vì TÁNH ấy vốn đứng yên. Nhưng kẻ lầm mê tưởng TÁNH hay Nhiễm, hoặc Thường Nhiễm, cùng bị Nhiễm. Chớ thật ra TÁNH vẫn y nguyên.

Do một Khởi của TÂM, trở thành muôn trùng vạn pháp, lại chấp nhận những Pháp ấy mà bị Nhiễm Pháp, rồi tự sanh các chứng nghiệp hoài mong vọng đảo, lầm tưởng là TÁNH nhiễm, chớ kỳ thật TÂM nhiễm mà đảo, phải chịu làm chúng sanh theo Giới Hạn của Sanh Tử Luân Hồi thuyên diễn.

Đứng nơi trạng thái của kẻ TƯỚNG TÂM thường nhiễm hay bị nhiễm nơi phân biệt Bản Năng cùng Sở Ngã, thời rất khó biết được Bậc THÂN TÂM Viên tịch, TÁNH TƯỚNG Đồng Song. Vì sao? Vì VÔ MINH che lấp, làm sao rõ biết được TỰ TẠI CHÁNH GIÁC?

NÊN PHẬT NÓI: Cái Hiểu Biết đặng TƯỚNG TÂM thật là khó vô vạn, còn sự tập nhiễm hay không tập nhiễm lại còn khó hơn thế nữa. Vì vậy: PHẬT chỉ biết PHẬT, BỒ TÁT biết BỒ TÁT. A LA HÁN biết A LA HÁN. Do đó Bồ Tát nói một câu thời Bậc A La Hán ngồi suy nghĩ để biết, đến hàng kiếp chưa thấu hiểu đặng. Thì làm sao chúng sanh Tâm thường nhiễm, bị nhiễm, mà biết đặng TƯỚNG TÂM của bậc Viên Giác.

Ngoài ra Bậc phát Bồ Đề Tâm tu hành cầu Đạo. Bậc ấy lìa hẳn CÁI BIẾT của mình, mà cầu lấy cái Tỏ Biết của bậc khác. Đó chính là: CẦu ĐẠo Chánh Tâm.

Còn bậc THÂN TÂM Viên Tịch, TÁNH TƯỚNG Viên Minh Chánh Giác, Bậc ấy đứng trước mọi hoàn cảnh thật CHƠN BIẾT tỉ mỉ tận cùng, lại soi khắp các Giới chẳng thiếu sót mảy may nào cả. Nhưng chẳng nhiễm, vẫn trơn liền tỏ rõ.

CHẲNG KHÁC NÀO: Ngọc Ma Ni kia, có Sẵn sự soi sáng của Ngọc, lại thu nhiếp được tất cả Cảnh Giới Tam Thiên, nó rất tinh vi tỉ mỉ, từ một khẽ động đến muôn ngàn khẽ động, chỉ nhiếp thâu không đầy nửa Sát na, liền có đầy đủ hình bóng chẳng sai khác. Nhưng trái lại: Ngọc Ma Ni không bao giờ nhiễm các Cảnh Giới. Vì chính nó trơn liền sáng soi Viên Tịch.

VÍ NHƯ: Tấm GƯƠNG Thủy Tinh kia, nó vẫn Sẵn sự soi và thu nhiếp các Cảnh vật bên ngoài một cách chu đáo tỉ mỉ từ sự di chuyển như: Gió đẩy đưa các cành lá, hay loài vật bay ngang qua nó liền nhiếp thâu không thiếu sót. Nhưng vẫn không tập nhiễm tí nào cả. Bậc CHÁNH GIÁC cũng thế.

Bậc Tịch Tịnh Viên Minh đã tỏ rõ tận biết các Pháp, thì TƯỚNG cũng tận biết. TƯỚNG tận biết thời TÂM nào quái ngại mà nhiễm với không nhiễm?

Nhờ chẳng nhiễm nên đoạt đến THƯỜNG CHÂN Trọn Biết, lại chỉ bày cho các Bậc tu tập rành mạch từng chi tiết của các Pháp không thiếu sót. Khi Thuận, lúc Nghịch cùng đến giai đoạn QUYẾT ĐỊNH, chỉ thẳng rõ ràng từng hành vi và sự liên hệ tương quan của nó. Khiến cho Bậc tu được nhiều ích lợi, làm cho Trí Tuệ TĂNG TRƯỞNG Tri Kiến Giải Thoát.

Những điểm trên Bậc CHÂN THIỆN có thể giúp được cả. Nhưng đối với Tự Nhiễm cùng Chấp Thủ, thật là khó khăn. Chính Bậc dưới lãnh hội TIN VÂNG để nghe lìa bỏ KHÔNG NHIỄM thì đặng đấy, nhưng một thời gian TÂM-Ý rỗng rang, nếu chẳng chịu y theo HẠNH NGUYỆN mà làm, thời lọt vào TƯ DUY nhiễm TỊNH, sinh thờ ơ các Pháp, buông xuôi các TƯỚNG mà chẳng tròn HẠNH NGUYỆN.

DO LẼ ẤY NÊN: ĐỨC THÍCH CA, Ngài mới nói cùng Chư BỒ TÁT: nếu các ông: -Vì Tịnh mà nhiễm, -Vì Không Tịnh Không Nhiễm, -hay vì một Pháp để Tỏ Chân, mà Thật Biết, đều là mơ màng để biết. Bằng HẠNH NGUYỆN không tròn thời chẳng bao giờ đoạt đến VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC. Vì sao? Vì sự nhiễm của Nội Tâm và Ngoại Cảnh chưa đặng Tỏ Biết chu đáo, thì làm thế nào Viên Tịch mà dừng trụ?

Ngài mới chỉ lên MẶT TRĂNG mà nói: MẶT TRĂNG kia nó ở xa đám MÂY muôn trùng dặm. Nhưng các ông ở dưới nhìn lên, ngỡ Mây nọ sát liền với Trăng. Bằng có trăm ông ở vào trăm xứ sở cách nhau, đồng nhìn lên Mặt Trăng, thì mỗi ông một xứ sở sự nhìn thấy đều khác nhau giữa TRĂNG và Mây. Có ông nói Mây dính liền với Trăng. Có ông nói Mây xa hơn Trăng. Có ông nói xa hẳn Mặt Trăng, và có ông nói nó không có Mây. Tùy theo lúc thấy mà nói ở chiều ngang, nhưng chung lại Đồng Tưởng mơ màng mà ước đoán chớ chưa Thật Biết MẶT TRĂNG xa muôn trùng với MÂY.

Còn đối với việc làm của NHƯ LAI, cũng như Mặt Trăng kia nó vượt tầm lý luận ngôn thuyết. Nó chẳng có đám mây nào ở gần Trăng cả, thời làm sao có sự NHIỄM của NHƯ LAI?

Dù cho NHƯ LAI có ngồi chung với các ông nơi đây chẳng hạn, nhưng đã Trọn Biết các Nghiệp Nhiễm chẳng khác nào biết tỏ rõ MẶT TRĂNG và MÂY kia xa cách không bao giờ gặp nhau mà làm sao nói đến sự Lầm của NHƯ LAI được?

Nếu đời nầy và đời sau, các ông tu hành chỉ nặng về LÝ và TRÍ, không thi hành HẠNH-NGUYỆN ĐỘ SANH, thì chẳng bao giờ thâm nhập TÁNH TƯỚNG để Tỏ Tánh Chân Thật mà HIỆN GIÁC. Vì sao? -Vì Lý Lẽ và Trí Tuệ của các ông suy nghĩ mà đoạt đến chỗ suy nghĩ thôi. Dù cho việc suy nghĩ Lý Lẽ ấy có Chân Thật chăng, cũng Chân Thật đối với các ông. Chớ đứng về CHÂN LÝ TRỌN VẸN, thì nó là một khía cạnh, Lý Luận Giải gọi là: THẾ GIAN GIẢI vậy.

Theo lời của ĐỨC THẾ TÔN trên, vì lầm
lẫn phân chia TƯỚNG TÂM sai khác nên TÁNH TƯỚNG chẳng ĐỒNG, mà theo DUYÊN KHỞI bị nhiễm vướng mắc Sanh Tử Luân Hồi chịu làm CHÚNG SANH hay CHÚNG SANH GIỚI.

CHỚ NÀO NGỜ: TƯỚNG chính TÂM. Còn TÁNH vốn BÌNH ĐẲNG VIÊN TỊCH. Nơi Hai điểm ấy: Bậc tu hành nên đi nơi các TƯỚNG cần có thi hành HẠNH NGUYỆN để thu nhiếp TƯỚNG TÂM mà Tỏ Biết. Miễn sao LÝ SỰ ĐỒNG SONG BẤT TĂNG BẤT GIẢM, rõ thấu tỉ mỉ các Pháp mà đặng TƯỚNG TÂM BẤT NHỊ.

Đến khi TỎ TƯỚNG liền thấu đặng cùng khắp, thời lo chi chẳng VIÊN DUNG TỊCH TỊNH? Bậc đã làm theo TƯỚNG PHÁP, thì nên lấy TƯỚNG PHÁP tu để tỏ CHƠN GIÁC.

CHẲNG KHÁC NÀO: Có một Bậc đến hỏi vị Bồ tát: “TÌM ĐÂU KHỎI SANH TỬ?” -Bồ Tát trả lời: “TÌM TRONG SANH TỬ SẼ KHỎI SANH TỬ”.

CŨNG NHƯ: Trong kinh DUY MA, có một đoạn nói về Bị Biệt mắc miếu từ NHƯ hóa HUYỂN PHÁP, còn chẳng Phân Biệt là NHƯ PHÁP.

Bấy giờ trong nhà Ông DUY MA CẬT, có một THIÊN NỮ thấy có các vị TRỜI-NGƯỜI, BỒ TÁT và hàng ĐẠI ĐỆ TỬ đến nghe Pháp. Thiên Nữ bèn hiện thân tung Hoa Trời để rãi trên mình các Vị. Khi Hoa vừa đến nơi Bồ Tát liền rơi hết, mà đến các hàng TRỜI NGƯỜI cùng ĐẠI ĐỆ TỬ đều mắc lại. Các Vị dùng Thần Lực phủi Hoa mà Hoa cũng không rớt.

- Lúc ấy Thiên Nữ hỏi Ngài Xá Lợi Phất: Tại sao phủi Hoa?

- Xá Lợi Phất nói: Hoa nầy không NHƯ PHÁP nên phủi.

- Thiên Nữ nói: Nầy Ngài Xá Lợi Phất, chớ bảo Hoa nầy là không NHƯ PHÁP. Vì sao? -Vì Hoa nầy vốn nó không Phân Biệt, tại Nhân Giả Phân Biệt đó thôi.

Bằng người Xuất Gia ở trong Phật Pháp có phân biệt, thì nó liền không NHƯ PHÁP. Mà ngược lại không phân biệt thời nó đặng NHƯ PHÁP. Đấy ông xem: Các Bồ Tát Hoa nào có dính. Vì sao? Vì đã đoạn hết TƯỚNG phân biệt. Ví như: Người hồi hộp sợ thời PHI NHÂN mới thừa cơ mà hại đặng.

Nó chẳng khác các vị ĐẠI ĐỆ TỬ cùng TRỜI NGƯỜI vì sợ nên: SẮC-THINH-HƯƠNG-VỊ-XÚC mới thừa cơ đặng. Còn có bậc đã lìa được sợ sệt thì tất cả NĂM MÓN DỤC không làm chi đặng. Do Tập Khí và Kiết Sử chưa dứt nên Hoa mới mắc nơi Thân thôi. Còn Bậc Kiết-Tập hết rồi Hoa không mắc được vậy.

Hai đoạn KINH trên thảy đều chỉ thẳng nơi Phân Biệt Sở Chấp của NHÂN GIẢ nên mê mờ sợ sệt chẳng dám nhận TƯỚNG chính TÂM để cầu VI DIỆU PHÁP, mà tất cả Bậc qua các PHÁP chẳng chướng ngại để Tỏ Pháp TÂM, cùng thi hành HẠNH NGUYỆN chẳng nhàm chán đoạt VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC.

NAM MÔ TỰ TẠI VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT

24. TƯỚNG TÂM

TƯỚNG là TÂM. Nếu nói do TÂM sanh TƯỚNG, đó cũng là lời phương tiện nơi Sở Chấp Năng Biệt của Pháp TƯƠNG ĐỐI: CÓ TRONG. CÓ NGOÀI. Nên Bậc Viên Dung phải tùy thuận nói theo thế thôi, chớ thật: TƯỚNG chính TÂM. Vì sao? -Vì Tướng DUY NHẤT.

Bằng quan sát: BÊN TRONG: Có RUỘT -GAN -TIM -PHỔI toàn khắp là THÂN, thì THÂN vẫn TƯỚNG. Còn BÊN NGOÀI: Cảnh Sở Thích hay Không Thích, hoặc dùng Công tạo thành hay Có Sẵn. Từ Cảnh Giới MÊ đến TƯỚNG Đại Giác Phật Quốc, chớ bao giờ gọi là TÂM?

Nên chi từ một Công tu tập, đến chịu khó Hạnh Nguyện Độ Sanh, đều nằm nơi Phẩm CÔNG ĐỨC mà tu rốt ráo cùng TỎ BIẾT, thì CÁI BIẾT đó là PHÁP. PHÁP vốn TƯỚNG nào phải TÂM? Nếu cho đó là TÂM, thì từ nơi TÂM phải đi vòng qua PHÁP, rồi đến TƯỚNG?

Do TƯỚNG chính TÂM là Quyết Định của NHỨT THỪA. Khỏi vòng TAM THỪA đến MỘT THỪA. TƯỚNG nó có sự Quy Định sẵn, còn TÂM chẳng Tự Quyết. Vì sao? -Vì TÂM nằm nơi VÔ TƯỚNG để lần BIẾT gọi là TÂM KHÔNG, đến ĐÃ BIẾT gọi là TÂM THÔNG, qua THẬT BIẾT gọi là NHẤT TƯỚNG, về TRỌN BIẾT trùm khắp là NHƯ TƯỚNG.

Bởi đó nên TƯỚNG chính là một Huyết Hệ Trọng yếu, mà từ xưa đến nay lầm lẫn trên con đường tu tập. Lắm kẻ LÌA hẳn TƯỚNG để ngồi TƯ DUY, DIỆT hẳn TƯỚNG để cầu RỖNG KHÔNG NÁT BÀN.

Có Bậc lập VÔ VI PHÁP để TẬN DIỆT ĐỊNH, thiếu nhiệm vụ Sửa Sai TÂM MÌNH trước mắt, chỉ nhìn nơi Ảo Tưởng Viễn Vong để buộc TÂM trong RUỘT, Quán Đảnh trên ĐẦU, vẫn có CÔNG nhưng chưa RÕ LỐI.

TÔI khuyên các Bậc tu hành dùng TƯỚNG ĐẠO HẠNH, từ Cử Chỉ nói năng trong căn bản ĐẠO ĐỨC HIỀN LÀNH. Lấy các TƯỚNG trước MẶT làm TÂM MÌNH để tu. Chịu qua tất cả những HOÀN CẢNH THỬ THÁCH mà không QUÁI NGẠI. Đó chính là PHẬN SỰ của Bậc tu hành TIÊN PHẬT hoặc THÁNH TĂNG cũng đó.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài đã vạch Sẵn một Chương Trình tu tập LÝ SỰ ĐỒNG SONG rất tỉ mỉ công phu không một LỜI thiếu sót, không một SỰ nào chẳng tận từ CHƠN CHÁNH liên hệ với nhau.

Từ Phẩm CÔNG ĐỨC đến tu tập thi hành

LỤC BA LA và TƯỚNG Thu Nhiếp, gọi là TỨ NHIẾP PHÁP. Chung lại TU các PHÁP đặng thấu đáo TỎ NGỘ PHÁP.

NGÀI THƯỜNG NÓI: TƯỚNG hay nhiễm TÂM. Nếu TƯỚNG: SÁT-ĐẠO-DÂM các ông chẳng LÌA để tu, thời dù cho TRÍ TUỆ THIỀN ĐỊNH chăng, TÂM vẫn Tập Nhiễm Sanh Tử: Vì sao? -Vì TƯỚNG chính TÂM, lầm lẫn lấy TRONG bỏ NGOÀI, mà nhận TÂM ra TƯỚNG.

Bằng Bậc Tu nào chỉ đi trong Trí Tuệ, tự suy nghĩ Phá Chấp thì đặng đấy. NHƯNG NGƯỢC LẠI: TƯỚNG PHÁP không Dung Thông. Vì TƯỚNG là CHỦ của TÂM PHÁP. Mà TƯỚNG chẳng dung hòa thỏa mãn, lấy đâu thành tựu BA THÂN?

Nếu Bậc tu hành chẳng nghe, hãy còn y nguyên dung dưỡng CỬ CHỈ NGÔN NGỮ đến HÀNH VI BẤT THIỆN, mà làm những điều PHI ĐẠO. Dù Trí Tuệ thông suốt Phá Chấp chăng, nhưng để sau cùng mà CHẤP THỦ.

NÓ CHẲNG KHÁC MẤY: Người nằm trên BE CẦU, chỉ suy nghĩ xây cất LÂU ĐÀI, trang hoàng rực rỡ, nào là XE LỌNG, TRÀNG PHANG, kẻ TÔN SÙNG, người ĐƯA ĐÓN chẳng thiếu sót. Trong khi ấy HỌ có quyền nghĩ những gì được cả. NHƯNG NGƯỢC LẠI: Họ không có quyền Chân Thật Thọ Hưởng Tòa LÂU ĐÀI và VẬT DỤNG mà HỌ đã nghĩ.

CŨNG NHƯ: Bậc tu hành dù cho có ngồi dùng Trí Tuệ đến Cứu Cánh GIẢI THOÁT. Nhưng không bao giờ đoạt đến THẬT TƯỚNG CHÂN NHƯ mà trọn NHƯ TƯỚNG. Bậc ấy chỉ hưởng trên GIÁC suy tưởng thôi, Còn TƯỚNG vẫn chống đối chưa thỏa mãn, gọi là Tập Khí Sanh Tử.

Bậc tu hành chẳng làm cách gì hơn HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH, nương theo Đạo Tràng căn bản Tôn Chỉnh TƯỚNG, lập THIỆN CĂN để thu nhiếp thỏa mản, tỏ rỏ TỊNH, BẤT TỊNH đều NHẤT TƯỚNG không HAI. Nhưng chẳng Tập Nhiễm Trơn Liền, goị là TÂM TƯỚNG Đồng Nhất, đó mới thật là KHÉO TU.

Lại CHÁNH NIỆM cần thi hành TƯỚNG trong LỤC BA LA, TỨ NHIẾP PHÁP và tất cả các TƯỚNG để thâm nhập Tỏ Biết CHÁNH GIÁC, chớ chẳng suy nghĩ rằng CHẤP với KHÔNG CHẤP. Đến lúc CHƠN GIÁC thì dù có CHẤP chăng cũng không còn lấy MỘT CHẤP vậy.

TÔI NÓI: TƯỚNG CHÍNH TÂM CÁC ÔNG. Đó cũng là Lời chỉ Quyết Định Không HAI, sai khác chút nào. Nhưng phải tùy Công Năng tu tập rõ thấu mà nhận lãnh LỜI NÓI trên.

Bằng có Bậc TIN TÔI, cũng chưa đặng trọn sự Tỏ Biết cặn kẻ, cần phải tu niệm theo lời nói: CÁC TƯỚNG VỐN LÀ TÂM MÌNH. Để tất cả công việc lớn nhỏ đều phải tu, nên LÀM mà ĐẾN chớ nên Nhận Càng mà đặng sao? Bậc như vậy mới Tin Tôi.

Sự tu hành nhìn vào Công Đức Phẩm Hạnh, cân với sức Chịu Đựng để Tỏ Biết. Tuy thế, nhưng nó thật là TươNg XỨng mà Sở Đắc Nghĩa ấy không sai chạy đối với Bậc đã Tu. Miễn dùng TưỚng để Tu, chẳng Mắc Miếu TưỚNG, được Tỏ TưỚng CHÁNH GIÁC trùm khắp.

TƯỚNG tuy sai khác, nhưng không sai khác chút nào, Vì sao? Vì ĐỒNG không sai, mà CHẲNG ĐỒNG bị sai. Đó cũng là một Chính Yếu nơi Pháp DỊ DIỆT.

NÊN PHẬT NÓI: TƯỚNG tuy có Một, nhưng TÂM ĐỊA các Ông không ĐỒNG thành thử SAI, có chỗ Chịu Báo và có nơi được Chánh Báo. Chỗ Chịu Báo phải cực khổ, họ cầu Chánh Báo. Khi toại nguyện Sở Cầu, thì sự cực khổ liền Mất, nơi ấy gọi là DỊ DIỆT Pháp. NGƯỢC TRỞ LẠI: Bậc được nơi Chánh Báo giàu sang mà đi nơi Tâm Địa xấu xa, liền đến chỗ Chịu Báo nó cũng Dị Diệt vậy.

Tâm Địa thì nhiều lớp không Đồng, nên Tướng phải nhiều Hình sai khác, tùy theo Hình ấy mà ra Thứ Lớp. Thứ Lớp Năng Biến và Bị Biến trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Cõi Trời và Người.

Nhưng cõi Trời hoặc cõi Người hay Cảnh Giới của Tam Thiên do bởi không Đồng, Sai khác, nên có bốn Tướng làm căn bản hiện diện cho các đồ dùng để Chánh Báo và ChỊu Báo. Bốn Tướng ấy là: THANH, THÔ, TỐT, XẤU, tùy theo Sở thích Qúy Báu hoặc không Qúy mà Thọ Lãnh.

Chỉ vì các Ông lầm nơi mong cầu, nuôi sự Thích Muốn mà chạy trong chìm đắm SÁT ĐẠO DÂM. Khi tu hành lại chẳng sửa sai trừ bỏ trở thành Vọng. Nơi Vọng ấy chính là phát sanh THAM do TÂM bị nhiễm xấu xa, tư riêng, dục lợi trở nên TÂM ĐỊA. Đã Tâm Địa thì phải nằm căn bản của Pháp THÔ. Cho nên có giàu sang Chánh Báo đến đâu chăng sự Thọ Hưởng không ngoài: ĐẤT CÁT.

Ta biết tận từ, tận gốc Chịu Báo Chánh Báo riêng tư từng Cảnh Giới một, cho đến Tam Thiên cùng khắp. Mà Thật Biết sự Mê Lầm của các Ông trót vào chỗ ThÔ mà chịu chung, lại tưởng mình sung sướng. Nên TA vì các Ông mà nói: HUYỂN HÓA, để các Ông lìa bỏ từng Tướng tham vọng tập nhiễm, đặng đến Chân Tướng rộng rãi, Chánh Giác hoàn toàn Bất Biến mà đặng hưởng như Ta, chẳng còn chịu trong sự DỊ DIỆT nữa.

Những lời Phật nói trên, TÔI mong cho các Bậc tu hành ghi nhận để tu. Chớ nên dùng Ảo Tưởng ngồi yên gọi là: Đặng hay Đắc cùng Đến mà chẳng Tỏ Biết sự Chân Đế hiện tiền, Tướng Tâm của mình rơi rớt. Nên dụng TỨ NHIẾP đặng rõ biết vẹn vừa trong đường tu, chẳng DƯ không THIẾU thì chắc chắn sẽ thành tựu.

TƯỚNG chính TÂM. Khi đã biết TƯỚNG là TÂM của mình, thì dù có đi trong: SẮC- THINH- HƯƠNG- VỊ- XÚC- PHÁP để tu chăng, cũng không còn Nhiễm Trước đến nó, lại nương nhờ nó được TỎ NGỘ.

Bằng Không Biết: Thời vì SẮC mà ĐẮm. Bởi THINH mà SAY. Do HƯƠNG mà MUỐN. Tại VỊ mà GIÀNH. Nơi Bốn Tướng mê lầm cho mình ĐÃ BIẾT, chạy theo sự Hiểu Biết của mình mà bị XÚC PHÁP đặng nhận TÂM bên trong, bỏ TƯỚNG bên ngoài.

Giữa Hai trạng thái: Biết TƯỚNG là TÂM mình. Chưa Biết TƯỚNG là TÂM. Hoặc Biết: SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP cùng chưa Biết, nó có sự Lợi và Hại. Nó NGƯỢC XUÔI và XUÔI NGƯỢC, Ngộ Mê cũng vậy.

Các TƯỚNG PHÁP nơi LỤC BA LA thật là Tuyệt Mỹ. Bậc tu nên thi hành Chân Chánh để nương nhờ Pháp ấy mà rõ thấu đoạt đến rốt ráo HẠNH NGUYỆN. Có nghĩa là cho mọi Người và Mình đồng CHÁNH GIÁC.

THẾ NÀO LÀ: TƯỚNG PHÁP LỤC BA LA TỎ BIẾT?

Khởi đầu Pháp LỤC BA LA: Thời BỐ THÍ làm vai chính, chi tiết của nó gồm có: PHÁP THÍ, VÔ ÚY THÍ và TÀI THÍ. Còn đứng về con đường Duy Nhất có MỘT không HAI, thì chỉ TƯỚNG chính TÂM mình để tu.

Nên tất cả từ lời nói đến Vật Dụng Tài Sản cùng khắp thảy đều là TƯỚNG. Khi đã biết Tướng chính Tâm mình, đem ra áp dụng quan sát tu. Thời nó có Hai yếu điểm làm đích đo lường TƯỚNG TÂM đặng rõ biết sự DƯ THIẾU TĂNG GIẢM, để thực hành con đường tu cho được vẹn vừa trọn vẹn BẤT TĂNG BẤT GIẢM.

HAI YẾU ĐIỂM ẤY LÀ:

MÌNH MUỐN hay KHÔNG MUỐN hoặc MÌNH THÍCH cùng KHÔNG THÍCH. Hai yếu điểm ấy, từ công việc HẠNH NGUYỆN tu hành, hoặc Đồ Dùng trang trí, Ẩm Thực, Y Áo. Tất cả các Tướng Pháp đến, Bậc tu hành phải làm để biết trọn, sau đặng Viên Thông, nếu chẳng làm khó thành tựu.

VÍ DỤ: Có việc đưa đến, chính mình Không MUỐN, nhưng kẻ khác nhờ giúp đỡ cho họ trong khi họ MUỐN. Đó chính là TƯỚNG TÂM của kẻ ấy đang cần, chớ chẳng phải của Mình.

Mình vì Tướng Tâm của họ. Nhưng trước khi làm phải nhận xét, không có sự tổn hại đối với đường tu của mình cho lắm. Nên giúp họ trong lúc CẦN. Vì sao phải nhận xét? Chỉ vì BI phải có TRÍ nên nhận xét. Nếu BI không TRÍ chớ vội làm.

NGƯỢC LẠI: Đối với MÌNH MUỐN, nhờ người kia giúp mình, nên nhận định đối với TƯỚNG TÂM của họ có đủ sức giúp không? Nếu nhận định được thì nhờ họ để gieo Duyên. Bằng quá sức của họ chớ nên nhờ. Họ giúp nhưng thiếu khuyết chớ đem lòng phiền trách, mà con đường Tướng Tâm chẳng trọn.

VỀ ĐỒ DÙNG: Món đồ MÌNH THÍCH mua đem về NHÀ hay CHÙA THÁP chẳng hạn. Dùng trong một thời gian không Thích nữa, đem đi cất gác một nơi. Trong khi mình thích món ấy chính TƯỚNG TÂM của Mình. Lúc không Thích vì Công Đức của Mình đã qua mà Chánh Báo món tốt hơn, nên gác lại. Có kẻ nhìn thấy, một là họ thiếu dùng, hai họ sở thích ngõ ý mua lại hoặc xin mình, thì chính mình được biết rõ TÂM của họ đang Thọ Báo trong món ấy.

Nếu nhận xét mình không thích hay ít thích hoặc dư dùng, vì TÂM của họ mà BỐ THÍ. BẰNG NGƯỢC LẠI: Tự Kiểm Điểm để đo mức TÂM mình trong lúc ấy, được sự tiến bộ chu đáo hơn, như: vui vẽ bình dị mà cho, hay TƯỚNG của họ đối với mình TƯƠNG XỨNG mà cho? Hoặc cho vì khinh rẽ dòm ngó xấu xa, chính mình cho để bỏ ghét? CÒN KHÔNG CHO: Vì TƯỚNG của họ không thích hợp mà không cho? Hay vì lòng mình tiếc mà không cho? Nó rất nhiều khía cạnh và trạng thái, miễn Ngược Xuôi để soi biết, cổi giải, được sự BỐ THÍ ích lợi trên con đường lập Pháp tu hành.

Bằng có Bậc mà đặng biết như vầy, Một trong Ba bậc:

- BỐ THÍ người giàu sang hơn mình, dù sao mình cũng có Sẵn Chánh Báo vô kể, hôm nay mới được BỐ THÍ.

- Bằng có Bậc ngang hàng Tương Xứng với mình. Thời trái lại VỊ THA mà BỐ THÍ.

- Nếu có Bậc cực khổ hay thiếu dùng, xin hay mua lại. Mình tự Phát Tâm BỐ THÍ, chính là mình sẽ đặng Chánh Báo lần đưa.

Biết được như thế thật là LỢI vô kể, khó nghĩ bàn.

VỀ GIA ĐÌNH hay CHÙA THÁP: Trong GIA ĐÌNH hoặc CHÙA THÁP của mình, cần siêng năng sắp xếp thứ tự. Thời đặng TINH TẤN, mà chính mình vào Phẩm Trang Ngiêm. Từ trong đến ngoài sạch sẽ được Tướng tâm Thanh Thoát. Các đồ dùng hiện tại dù quý báu sang cả hay không đáng giá chi, cũng thảy đều sửa soạn trang hoàng cho ngăn nắp vẻ vang tỉ mỉ. Thời đặng TƯỚNG Trọn Vẹn Hiểu Biết không thiếu sót.

Nếu bừa bãi: Tự đem TÂM hoài mong, vọng ước, dụ dự không sắp xếp. Cùng với để chờ cho có tiền bạc mua sắm vừa ý muốn rồi sẽ làm. Đó thật là Sai, vô tình đem Tướng hiện hữu vào nơi ảo tưởng, chớ chẳng biết: Làm đây, mới có đó, Tướng Tâm trước mặt có tỏ biết Một, mới đến Tỏ Thông VẠN TƯỚNG. Dù cho Bậc Hiểu Biết sâu xa, cầu kỳ cách mấy chăng, mà không biết hiện tại trước mắt, vẫn không Đỉnh Đạt TÂM, mà Ý cuồng quay lộn xộn lu mờ hiện diện.

Bằng được ngay thẳng điều chỉnh Trang Nghiêm như trên, thì cũng chớ Thích Muốn Quá Đà, đem vào sự đòi hỏi trang trí, nuôi sự ưa thích cầu kỳ, dung dưỡng TƯỚNG TÂM vào lòng Dục Vọng. Đó chính là làm TƯỚNG bị chìm nơi SẮC TƯỚNG, gọi là: Theo SẮC mà ĐẮM.

CÓ NGHĨA LÀ: Trong giai đoạn nào, thời chỉ biết làm tròn với thứ lớp đó, chớ không thể đòi hỏi hơn. Nếu đòi hơn mà không điều kiện thì BỊ TĂNG, chẳng Tương Xứng với hiện tại. Còn thờ ơ bị TƯỚNG GIẢM. Đối với Bậc tu Chơn Chánh, họ có Phẩm Hạnh tao nhã, lại chẳng mắc miếu sự THAM MUỐN, tạo đặng mức vẹn vừa, kết hợp các TƯỚNG mà Tỏ Biết chu đáo. Nhờ vậy sau khi Chánh Giác Hành Nguyện trong LỤC ĐẠO, làm cho tất cả mọi kẻ thảy đều khâm phục, họ đồng Tán Thán TIN VÂNG, nghe sự chỉ bày không thiếu sót mà đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

VỀ MỤC LÃNH TƯỚNG TÂM ĐỂ TỎ BIẾT:

Nếu có kẻ thành Tâm khẩn muốn, thời họ chẳng biết cái TÂM ở chỗ nào. Nên mua sắm lễ vật, nhang đèn hoa quả đặng Cúng Kính. Vô Tình hay Cố Ý, họ đem Chân Thật TÂM mà Cúng Dường. Đó chính là những điểm Bậc tu nên biết, chớ cho là giả tạo. Nhưng nó tùy theo TƯỚNG TÂM, Công Đức cùng Căn Cơ của mỗi người hoặc mỗi kẻ mà mua sắm không Đồng, để Chứng Minh TÂM ĐỊA Chịu Báo hay Chánh Báo của Lục Đạo. Nên chi lễ vật có kẻ mua sắm thật Tinh vi tươi tốt, có người Kém Khuyết Xấu Xa. Đó chính là TƯỚNG TÂM của họ.

Đứng vào Bậc Tu Thọ Lãnh Tướng Tâm của mọi người nên biết rõ điểm trên đặng dìu dắt.

HAI NỮA: Chớ phân biệt lễ vật tốt xấu Bất Bình Đẳng. Nên tỏ tình cung kính thịnh trọng TƯỚNG TÂM với lòng Thành của mọi người, mà đem sắp Lễ Vật cho ngay ngắn trên bàn PHẬT, cùng đứng ra chiêm ngưỡng cúng lạy van vái theo ý của kẻ dâng lễ, làm cho họ thích thú vui vẻ đến lúc ra về không một lời ta thán.

Lại có người mua sắm đồ dùng cho mình. Trong sự cho ấy chia ra Ba thứ lớp như: Tình Thầy Cung Kính mà Cho. Tình Bạn cảm mến mà cho. Tình hàng xóm thân thiện mà Cho.

Nhưng kẻ ấy đứng vào Bậc Giàu hay Nghèo, có danh giả hoặc không danh giả, lại với món đồ cho ấy: XẤU TỐT, quý hay không quý. Đồng với TƯỚNG TÂM sở thích của mình, hay không thích. Bậc tu vẫn một Mức tỏ tuồng vui thích để khỏi phụ với TÂM Thành Kính hay Cảm Mến hoặc Thân thiện của mọi người đã đem cho mình.

HAI NỮA: Cũng cần đến TỰ LƯỢNG mà Thọ Lãnh và cần đến sự Cung Đáp để vẹn vừa chỗ Lãnh lấy của người. Nếu người ấy là học trò tu tập, thì phải giúp họ thế nào? Bằng là Bạn thì phải làm ra sao? Cùng người hàng xóm phải chu tất thứ gì Cho đúng lẻ Lưu Hữu?

Tùy theo mỗi mỗi mà Tỏ Biết đáp ứng vẹn vừa để đều đặn trong Pháp BẤT TĂNG BẤT GIẢM.

Những lời Tôi nói tuy sơ sài chẳng có cầu kỳ chi, nhưng nó không ngoài chỉ thẳng TƯỚNG chính TÂM mình phải thu nhiếp từng tỉ mỉ để đến Tỏ Biết Chân Thật trùm khắp chẳng thiếu sót. Khi mà đặng làm trọn Tướng thời rõ thấu những Pháp cực kỳ Tuyệt Mỹ và Biết tất cả sự Kín Nhiệm của NHƯ LAI TẠNG vậy.

THẾ NÀO LÀ: TƯỚNG TRÌ GIỚI TỎ BIẾT?

Nơi TRÌ GIỚI Tỏ Biết của con đường Duy Nhất, TƯỚNG chính TÂM mình, nó không Hai. Nhưng sự quan sát BUÔNG GIỚI trùm khắp để được rõ biết. Từ MỘT TƯỚNG đến Vô Lượng Vô Biên Tướng đều là TÂM mình, nhưng chính mình Lầm Mê rơi rớt mà chưa Biết hết. Còn Chư Phật là Bậc đã TRỌN BIẾT tất cả. Nên tu hành mới lập: BA TÂM và NĂM NGUYỆN có câu: PHẬT PHÁP VÔ BIÊN THỀ NGUYỆN HỌC. NHƯ LAI VÔ BIÊN THỀ NGUYỆN SỰ.

Vì vậy Bậc Tu cần nên dùng Trí Tuệ để Phá Chấp mà chu đáo TÂM, VÔ BIÊN GIỚI, TÂM đã Vô Biên thì TƯỚNG vẫn trùm khắp, TƯỚNG đặng Đồng Nhất liền CHÁNH GIÁC.

TRÍ TUỆ phải dùng như trên, còn sự Làm theo thứ lớp cũng phải chăm chỉ cần mẫn mà Thi Hành đúng đắn. Tùy theo Công Năng Mức Độ qua từng Giới Hạn gìn giữ vẹn vừa, không DƯ THIẾU TĂNG GIẢM, gọi là TRÌ GIỚI TỎ BIẾT.

TƯỚNG TINH TẤN TỎ BIẾT:

Sự TINH TẤN Tỏ Biết ấy nó phải có đủ Chí Nguyện Cầu Tiến không ngừng, để Hiểu Biết từng công việc Hành Nguyện tu tập qua từng GIỚI HẠN của Pháp Giới, khi Trì, lúc cho Qua, mà Siêng năng kiểm điểm đặng lần vào TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

TƯỚNG NHẪN NHỤC TỎ BIẾT:

Tướng NHẪN NHỤC Tỏ Biết chính là TƯỚNG chớ vội vàng chấp nhận các Pháp, khi mà Bậc tu hành LÝ SỰ chưa đặng Viên Thông, hãy còn tựa vào Một TƯỚNG phỏng đoán cho rằng mình: ĐẮC hay ĐẾN hoặc ĐẶNG. Còn trong Hạnh Nguyện cũng chớ nên Tự Cao vì Bản Ngã mà phải cố gắng trong tất cả Tướng Pháp để Trọn Biết gọi là: TƯỚNG NHẪN NHỤC Tỏ Biết.

TƯỚNG TRÍ TUỆ:

Là một TƯỚNG chung gồm để sáng soi hiểu biết. Từ công việc Hạnh Nguyện đến sự giúp đỡ hoặc lời nói Bất Thiện hay Thiện thảy đều Tỏ Biết. Nó đi sát liền với: BI TRÍ DŨNG, GIỚI HẠNH NGUYỆN để cầu CHƠN GIÁC.

TƯỚNG THIỀN ĐỊNH:

Cũng là một TƯỚNG giúp cho Trí Tuệ Cứu Cánh. TIN PHẬT PHÁP, Tin Chân Lý và Tin Mình chẳng còn Sự Nghi. Nó lại giúp cho rõ biết cùng khắp Pháp Giới, đi vào BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA, thâm nhập BÁT NHÃ đặng CHÁNH GIÁC CHÂN NGUYÊN tận từ NHẤT TƯỚNG đồng NHẤT THỂ trùm khắp NHƯ TƯỚNG vậy.

Nơi Tướng Pháp LỤC BA LA chung gồm để THẬT BIẾT, nó là một Pháp Môn rất cần cho Bậc Tu đặng Trọn Biết chu đáo tỉ mỉ, khỏi sự phân biệt để nhận lãnh: TƯỚNG chính TÂM. Vì CHÂN THIỆN của Mình đã đánh rơi rớt từ lâu, nay Hoàn Lai Chánh Báo.

Từ khi ĐỨC THẾ TÔN THỊ HIỆN Ngài vẫn thường chỉ thẳng TƯỚNG chính là TÂM của các Ông.

PHẬT NÓI: Chỉ vì Chúng sanh lầm mê, nên từ Bản Thể CHƠN TÂM trùm khắp chẳng chịu nhận, lại lầm nhận Thân GIẢ HỢP làm TÂM, nên bị Sanh Tử mà có CHỊU BÁO CHÁNH BÁO sai khác.

Qua thời LỤC TỔ HUỆ NĂNG Ngài lại chỉ thẳng nơi Kinh PHÁP BẢO ĐÀN mà nói: TÂM CÁC ÔNG RUNG. NÀO PHẢI PHƯỚNG RUNG. Có một số nhận được: TƯỚNG chính là TÂM mình, nên TÔN SÙNG mà nương theo tu tập: TƯỚNG TÂM đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Ngày hôm nay: CHÍNH TÔI, nhận thấy đối với con đường tu hành thật quá TIN PHẬT. Do sự TIN ấy lắm Bậc XUẤT GIA, nhiều Bậc CƯ SĨ đồng cố gắng đào tạo cho mình đặng Tri Kiến Giải Thoát hiện tại. Nhưng tại sao chưa đặng Trọn Nguyện? Vì DƯ THIẾU TĂNG GIẢM nên có nhiều Bậc dùng về HIỂU BIẾT TRÍ TUỆ chớ chẳng Thi Hành TU CHỈNH, gọi CÓ LÝ, KHÔNG SỰ.

Còn lắm Bậc tu rất dày công trong việc THI HÀNH ĐẠO HẠNH, nhưng thiếu sự HIỂU BIẾT TRÍ TUỆ CẦU TIẾN. Giữa Hai Trạng Thái không Đồng nhau thành thử mơ màng nơi THẬT TƯỚNG cùng VÔ TƯỚNG để đến CHƠN GIÁC mà đặng Toại Nguyện SỞ CẦU.

CŨNG NHƯ: Thời còn PHẬT, DƯ Bậc chỉ bày, THIẾU Bậc TIN để tu. Hôm nay lại DƯ Bậc TIN tu, mà THIẾU sự chỉ bày.

TÔI chẳng phải là: AI. Nhưng ai muốn TÔI cũng đặng. TÔI chỉ Biết tỏ rõ các TƯỚNG trùm khắp là CHÍNH TÔI, nên TÔI lại chỉ Thẳng. Nếu Bậc TIN TÔI tu tập LÝ SỰ Đồng Song sẽ Tỏ Ngộ CHƠN GIÁC.

NAM MÔ THANH TỊNH
DIỆU PHÁP THÂN TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT
TỊNH VƯƠNG Kỷ Niệm ngày mùng 8 tháng Chạp Mậu Thân.

23. PHÁP THÍ

PHÁP THÍ là một PHÁP trong vấn đề ĐỒNG NHẤT, trùm khắp TAM THIÊN của TỐI THẮNG DIỆU ÂM và CHƯ PHẬT, chung gồm NHƯ LAI TẠNG Diệu Dụng không ngừng với đích đưa Chúng Sanh TỰ BIẾT, liền thoát Trần Lao thấu đáo HÀNH DỤNG NHƯ LAI không có sự Kín Nhiệm, nó lại làm cho THÂN TÂM Tịch Tịnh, chẳng còn Tập Nhiễm mà thâm nhập BẢO PHÁP NHẤT THỪA, đặng nghe TẠNG VƯƠNG PHẬT, để đoạt CHÁNH GIÁC.

Do lẻ ấy nên Bậc ĐÃ BIẾT từng cấp mà làm BỒ TÁT hay BỒ TÁT MA HA TÁT, đã từng Nghe, Biết nhiều ít, liền Phát Nguyện Hộ Trì PHÁP THÍ.

Không nhàm chán, không tiếc rẻ, không Chấp Thủ, không Danh Giả, chẳng lìa Danh Giả. Không quán TỰ TẠI, chẳng lìa TỰ TẠI. Vì tất cả Hạnh Nguyện đã biết rõ sự HÀNH DỤNG NHƯ LAI vẫn không Chấp Thủ, PHẬT PHÁP BA ĐỜI đang diễn nói, nên Pháp Thí Cúng Dường không ngừng để cho mạch lạc NHƯ LAI TẠNG chẳng dứt đặng trọn vẹn ĐỒNG ỨNG.

Còn Bậc Khởi Tâm Pháp Thí, hay tỏ lòng Pháp Thí, hoặc Phát Nguyện Pháp Thí cùng với TÂM Ý xây đắp Đạo Tràng. Những Bậc như vậy thì A Tăng Kỳ Kiếp cũng đã tu hành nên ngày hôm nay mới có CĂN LÀNH, đồng HƯỞNG ỨNG, đồng BỔN NGUYỆN ĐỘ SANH chung, lại đồng sự Hướng Dẫn, đưa người qua từng lớp PHÁP GIỚI để phá VÔ MINH, gọi là trùm khắp ĐỒNG ỨNG PHÁP THÍ vậy.

Một trong BA BẬC trên chẳng khác nào:

Có một QUỐC VƯƠNG kia, vì tấm lòng BÁC ÁI cùng khắp, thương DÂN GIẢ trong nước chẳng khác thương CON, thường nhìn thấy sự nghèo túng của DÂN, đến sự mong muốn cứu giúp của VUA.

Ngày nọ cho mời các QUAN đến bàn những cần thiết nơi nhu cầu khai thác cho DÂN để giải ách khổ, bèn khai thông ĐƯỜNG CÁI, ĐẮP MƯƠNG ĐẬP, MỞ TRƯỜNG HỌC... HÀNH DỤNG NHƯ LAI cũng thế.

Phần các QUAN lãnh chỉ thị và cuộc sắp đặt của NHÀ VUA. TIN VÂNG KÍNH, do lòng TIN VÂNG mà hãnh diện được gặp BẬC MINH ĐẾ. Nhờ vậy nên phụng sự ngày đêm không nhàm chán. Chẳng vì lợi riêng cho Mình mà vì MINH ĐẾ. BỒ TÁT Pháp Thí cũng vậy.

Đến DÂN GIẢ trong nước hay xóm làng, có nhiều Bậc hiểu biết và nhận xét: Những MƯƠNG ĐẬP CÔNG LỘ của VUA QUAN đưa lại sự ích lợi cho Quần Chúng. Do đó biết Tự Trọng giữ gìn CỦA CÔNG chẳng bao giờ phá hoại.

Đồng nói cho tất cả được hiểu, được biết. Khi mọi người nhận lãnh liền Khởi Tâm Quý Trọng TIN VÂNG, hướng về VUA QUAN chiêm ngưỡng tỏ lòng ĐỒNG NHẤT để Báo Ân Vua. Cùng Tín Tâm Pháp Thí, Phát Nguyện Pháp Thí, chung cùng Pháp Thí không sai với NHẤT THỪA HÀNH DỤNG NHƯ LAI TẠNG cả.

Vì lẻ ấy nên:

Từ VÔ THỦY đến nay, không mấy ai mà chẳng muốn TÂM TÁNH hiền lành, Thiện Căn ĐẠO ĐỨC. Do đó họ đồng nhau TÁN THÁN CHƯ PHẬT cùng THÁNH TĂNG không ngừng. Làm cho nền tảng ĐẠO PHÁP khỏi Diệt Vong, càng ngày càng thịnh vượng Đạo và Đức.

PHÁP THÍ có MỘT. Nhưng bởi trình độ nó chia ra rất nhiều Bậc, chung lại chỉ có: TIN ĐẠO HIỂU ĐẠO và BIẾT ĐẠO cùng Nhất Tâm Pháp Thí CHÂN CHÁNH làm căn bản mà thôi.

BẬC TIN ĐẠO: Họ chỉ biết khen Công Đức PHẬT Từ Bi Hỉ Xã Hiền Lành Đạo Đức. Khiến cho tất cả kẻ nghe đều được ưa thích TÔN SÙNG, CHIÊM NGƯỠNG, LỄ BÁI, CẦU KHẨN làm cho Tâm nhẹ nhàng thưa thới hiền hậu cầu mong CHƯ PHẬT cứu độ.

BẬC HIỂU ĐẠO: Bậc ấy cũng đã từng được nghe Pháp Thí chẳng lìa bỏ các Hạnh tu niệm Chiêm Ngưỡng Lễ Bái và đã kiên dũng đánh đổi tu nhiều hơn Bậc TIN ĐẠO.

VÌ lẽ có nên được hiểu rõ sự ích lợi của TU PHẬT, cốt yếu SỮA TÁNH TU TÂM lập nền Đạo đức chung, HẠNH KIỂM chẳng thiếu. Bằng thiếu sót TÔN CHỈNH đó khó thành tựu mỹ mãn.

Bậc Hiểu Đạo và Biết các Pháp chính là tầm quan trọng cho kẻ tu, còn TÁNH TÌNH làm nguồn gốc, những hậu quả CHỊU BÁO CHÁNH BÁO không sai. Nó tỷ như Bóng với Hình, như tấm gương soi mặt. Nếu Hình chạy thì Bóng chạy. Còn mặt nhăn, nơi gương soi vẫn nhăn theo, nào sai khác?

Bậc Hiểu Đạo Chân Chánh, họ vừa Pháp Thí lại vừa TỰ sửa chữa. Họ căn dặn nói năng sự nguy hại của TÁNH xấu xa phức tạp cho nhiều kẻ chừa bỏ, họ liền chừa bỏ. Họ thuyết giải những ý nghĩa chân chánh, họ liền nương theo những điều Chân ấy mà sửa trị tu tập.

Pháp Thí là một Pháp Tuyệt Mỹ, vừa dạy cho mọi kẻ tu hành, mà chính cũng dạy cho mình tu tập. Nó công dụng trong Hạnh Nguyện Hiểu Đạo để BIẾT ĐẠO. Mà chính kẻ nghe Pháp Thí thích thú hiểu biết kiên sợ. Từ NGẠ QUỶ, SÚC SANH, ĐỊA NGỤC Tánh kẻ ấy sửa đổi TÂM TÁNH, ĐẠO HẠNH trong một thời liền Chánh Báo NHÂN THIÊN. Thật là Cứu Cánh từ BA Đường Ác đến CÕI TRỜI hay CÕI NGƯỜI sung sướng.

BẬC BIẾT ĐẠO: Chính Pháp Thí là nòng cốt để đưa tất cả vào con đường TRI KIẾN GIẢI THOÁT, nên chi Bậc ấy dùng tất cả Pháp chỉ dạy phương tiện Đạo. Lại từ hàng Tiểu Thừa lần đưa cho họ lên Đại thừa. Từ Tiểu Căn eo hẹp làm cho Phát Nguyện thù thắng Tâm Ý rộng rãi mà đặng Thượng Căn Tu tập thông thái.

Bậc ấy lại dùng Lời Pháp rành mạch Quyết Định nói kẻ tu hành lập Tâm xảo trá tuy biết Pháp Thí nương Đồng Ứng Tam Thế, mà Tự mình chẳng chịu SỬA TÁNH của mình, làm cho TÁNH TƯỚNG đều phản nhau mà Pháp Thí thì gọi là Ngụy Thuyết Giả Thuyết. Nó chẳng khác nào CON CỌP GIẤY. Họ chỉ nói năng Hùng Biện To Lớn Kềnh Càng, nhưng ruột chứa đầy THAM VỌNG, dù có thành tựu chăng cũng không ngoài BA ĐƯỜNG ÁC.

Vì sao? Vì BIẾT sự Chân Thật TÂM TÁNH là những hậu quả của Bậc tu hành. BIẾT sự xấu xa thâm nhập ảnh hưởng nơi CHÁNH BÁO và CHỊU BÁO. Pháp tuy Bình Đẳng nhưng sự CHÁNH NGỤY Thụ Báo rất TƯƠNG XỨNG, ban hành đúng theo SỞ NGUYỆN. Lại THẬT BIẾT chẳng khác nào chọn HẠT GIỐNG để gieo trồng CHẮC LÉP thành cây trái của CHƠN TÂM.

Do thế nên mới khuyên can từ buổi ban đầu phải Phát Nguyện Nhất Tâm Chơn Chánh để tu. Sau đặng TỎ PHÁP Chân Chánh mà THUYẾT PHÁP cũng Chơn Chánh. Kẻ được NGHE Pháp Thí nương nhờ Chánh Đáng Phước Điền đó mà TRỌN Pháp. Hoặc giả Chư LONG THẦN HỘ TRÌ CHÁNH PHÁP làm cho kẻ Nghe được An toàn, đến lúc kẻ ấy ra về đương nhiên thích thú ghi nhớ mà SỬA SAI y như Bậc đã THÍ PHÁP. Vì sao? Vì Bậc ấy xây dựng CHÁNH PHÁP.

Bậc tu nên luôn luôn giữ mức Chân Thật, mức Chân Thật ấy có nghĩa: KIỂM ĐIỂM TỰ TÁNH sửa sai những gì mọi người chẳng ưa thích, những gì làm mất Tác Phong Đạo Hạnh và tất cả mọi kẻ không chịu, chớ nên làm đến. Dù cho Bậc Tu Trí Tuệ Thiền Định hay Thông Đạt chăng nữa chớ nên dùng Hành Vi Phi Pháp. Nếu dùng nó thì Pháp Thí chẳng tròn sự TÍN, trái lại không được Hộ Trì TIN VÂNG của kẻ Nghe Thọ Pháp.

Nếu Bậc trọng lượng hay gieo trồng Pháp Thí, từ lời nói đến việc làm đi đôi với nhau như NHÂN THỪA hay THIÊN THỪA mà đặng trọn vẹn. Những Bậc như vậy, dù cho Pháp Thí lớn nhỏ không đáng kể, liền được rất nhiều kẻ lãnh hội TIN VÂNG lời VÀNG làm trọn. Còn hơn kẻ nói nhiều Pháp lớn mà Phẩm Hạnh chẳng tròn, Vì sao? Vì Pháp Thí cần sự TIN để mà tu sửa, chớ chẳng phải SỢ để mà sửa tu.

Đối với Bậc TIN PHẬT nương tựa vào Đạo để: TIN ĐẠO tu trong một thời đến HIỂU ĐẠO và sau sẽ TỎ NGỘ mà BIẾT ĐẠO làm Hạnh Nguyện trọn vẹn đặng Chư Phật Thọ Ký thành PHẬT. Một trong BA giai đoạn ấy chẳng khác nào: Những THƯỜNG DÂN HÀNH GIẢ kia tuy chưa gặp đặng NHÀ VUA. Cũng như: Bậc phát Nguyện tu chưa gặp PHẬT, nhưng vẫn Nhất Tâm chiêm ngưỡng, Đồng Ứng Pháp Thí, Đồng Sửa Sai để cho Bậc dưới TIN VÂNG lãnh Pháp Thí. Làm cho DUYÊN PHẬT mỗi ngày càng thêm phồn thịnh.

LẠI NHƯ: Bậc DÂN GIẢ một lòng tôn trọng VUA QUAN gìn giữ CỦA CÔNG như của mình. Và bày tỏ sự ích lợi xây đắp khai thác, cùng nhau thân cận giúp đỡ thương mến. Làm cho tất cả vui thích Bảo Tồn nhiều hơn Sứt mẻ nên xóm làng phồn thịnh trong nước giàu sang khỏi nạn đói khổ.

Do lẻ ấy NHÀ VUA cảm mến, các QUAN khâm phục lời nói và sự BẢO TỒN của DÂN GIẢ chân thật. Bèn ý định tâu cùng NHÀ VUA đem vàng bạc hàng lụa thăng thưởng cho DÂN. NHÀ VUA liền CHẨN Y và phong QUAN TƯỚC cho Bậc CHÂN CHÁNH PHÁP THÍ. Sau NHÀ VUA THĂNG HÀ, trong nước chọn HIỀN THẦN kế vị. Bậc Chánh Đáng đặng TẤN PHONG làm VUA.

Sự tu hành tuy nhiên buổi ban đầu kẻ tu mơ màng vì chưa hiểu thấu nơi vi diệu của các Pháp. Nhưng nó có một QUYẾT ĐỊNH TƯƠNG XỨNG đối với Bậc có Công Năng tu tập mà bồi đắp lại rất xứng đáng không sai. Do đó nên các Bậc mới phát BỒ ĐỀ TÂM Nguyện mà cầu DIỆU QUẢ, lại dùng Pháp Thí làm HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH. Lấy Công Đức xây đắp Đạo Tràng, kiểm điểm để Sửa TÁNH lần tiến bộ.

Từ nơi TIN ĐẠO để được sự HIỂU ĐẠO và lần đến TỎ BIẾT ĐẠO. Những Bậc tu Chân Chánh luôn luôn họ Tự thương lấy họ, và họ cũng thương khắp mọi người. Vì lòng BÁC ÁI VỊ THA vốn Sẵn nơi Đạo Tràng Tôn Chỉnh của Bậc NHẤT TÂM mới lần lượt Pháp Thí. Bậc ấy họ xem xét thấy rõ, biết tận từ Nghiệp Căn của kẻ nghe Pháp mà Pháp Thí vừa nơi ý muốn của họ, khiến cho kẻ nghe thích thú mừng rỡ đặng ích lợi tu sửa tiến bộ.

CÒN BẬC NGHE PHÁP LÀM THẾ NÀO LÃNH HỘI?

Bậc tu hành có bốn thời kỳ nghe pháp:

THỨ NHẤT gọi là: MẾN ĐẠO nghe pháp.

THỨ NHÌ gọi là: SAY ĐẠO nghe Pháp.

THỨ BA gọi là: HIỂU ĐẠO nghe Pháp và Tập Pháp Thí.

THỨ TƯ gọi là: BIẾT ĐẠO nghe Pháp và Pháp Thí.

Một trong BỐN THỜI KỲ, Thời nào cũng chẳng ngoài Siêng Năng, tu không Dừng Trụ, chẳng Chấp Pháp, lìa BỐN TƯỚNG để GIẢI THOÁT. Nhưng trọng yếu của nó mỗi một Thời có mỗi đặc tánh một khác tùy theo Nghiệp Thức mà diễn hành lừa dối kẻ tu. NÊN CHI: Càng tu khá chừng nào, lại càng thịnh trọng suy ngẫm từng vi tế chừng nấy.

KHÔNG KHÁC: Kẻ THỢ CHẠM kia, càng chạm đến chỗ thành hình bao nhiêu, lại càng cẩn thận những đường cong tỷ mỷ. Bậc tu PHẬT cũng vậy.

ĐÂY NÓI VỀ BẬC MẾN ĐẠO:

Bậc MẾN ĐẠO chính là bậc khởi đầu để tu hành. Nó thường cản trở vì NGHIỆP THỨC, cho nên: Từ Công Phu đến khi nghe Pháp Thí, trong mọi việc tu hành nó đều Tự sanh ra TÁNH biếng trễ, thờ ơ mỏi mệt, do dự hay buồn ngủ. Nó tùy theo mỗi người mà lôi kéo, tùy theo mỗi Gia Cảnh làm cho trễ nãi việc tu.

Nếu Mến Đạo mà cố gắng chống trả với Nghiệp Thức, có Quyết Định tiêu dẹp nó, thì con đường Hiểu và Biết không xa, mà đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Bằng chẳng qua nổi thì phải chịu nó điều khiển Sanh Tử đến MUÔN TRIỆU KIẾP, gọi là Tiểu Căn hay Nặng Nghiệp, thật uổng một Kiếp NHÂN SINH.

NÓ CHẲNG KHÁC MẤY. TRONG THỜI CÒN PHẬT ĐANG THUYẾT PHÁP

Thời ấy: Có một TRƯỞNG GIẢ kia, ngoài 70 tuổi nghe pháp ngứa ngáy cựa quậy ngồi không yên, sau rồi ngủ tại HỘI TRƯỜNG.

Còn một Ông chừng 17 tuổi chăm nghe, mặt sáng rỡ hào hứng. PHẬT chỉ trong Hai vị mà nói rằng:

Kìa các ông xem: Trưởng Giả tuy đã già, nhưng khi nghe thuyết Pháp lại ngủ, vì Tiền Kiếp Trưởng Giả đó là Con RỒNG, chưa đặng nghe Pháp bao nhiêu, nên Nghiệp Thức VÔ MINH che khuất làm cho không nghe đặng Pháp.

Còn Bậc kia tuy tuổi hãy còn nhỏ, nhưng đã từng nghe đến pháp, mà cũng đã từng phá qua các trở lực của VÔ MINH, nên Nghiệp Thức chẳng làm chi đặng. Mới được nghe Pháp, mới đặng ngồi yên, ngày gần đây sẽ Chứng VÔ SANH cùng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

NÓI VỀ BẬC SAY ĐẠO:

SAY ĐẠO chính là Bậc đang phá Nghiệp Thức VÔ MINH. Cầu sự tu hành làm vai chính, dùng Thế Gian để phụ thuộc. Bậc ấy ưa nghe thuyết Pháp, thích thú LỄ BÁI ĐẠO HẠNH. Công Phu Thiền Tọa hay tìm hiểu Phật Pháp. Họ có thể đánh đổi những gì để cầu DIỆU QUẢ. Thường những Bậc nầy quá SAY đâm ra MÊ TÍN.

Nếu gặp THIỆN TRÍ THỨC dung thông chỉ bày thật là quý vô kể. Chẳng khác nào: Kẻ mong ra khỏi khu rừng mà gặp đặng người biết lối ra. Bằng không gặp đặng Bậc Chân Chánh thật là nguy hại. Nhưng lỗi ấy: Không phải kẻ mong đi, mà chính do người dẫn lối.

Trên căn bản SAY ĐẠO tu để HIỂU ĐẠO đồng với BIẾT ĐẠO là một đường tu rất tốt. Nếu không SAY ĐẠO thì chẳng bao giờ TỎ NGỘ HIỆN GIÁC. Nếu chẳng SAY ĐẠO thì không bao giờ Thâm Nhập TẠNG NHƯ LAI, nên cần SAY ĐẠO.

Trong thời kỳ SAY ĐẠO có hai lối tu: Một là TÍN TÂM CHIÊM NGƯỠNG. Hai là TÂM

TÍN NGƯỠNG, có Tự Tánh tìm Chân Lý Phật Pháp mà tu.

Bậc TÍN TÂM CHIÊM NGƯỠNG tu bằng TIN Phật, đọc tụng, Lễ Bái, lấy tất cả tâm chí tinh hoa TIN Phật, gìn giữ GIỚI HẠNH đúng đắn, lập THIỆN CĂN vững, TỪ BI HỶ XÃ, BỐ THÍ, TRÌ GIỚI cùng NHẪN NHỤC. Những Bậc tu như vậy cũng được HIỂU và BIẾT ĐẠO Mầu Nhiệm Cứu Cánh về CÕI PHẬT.

Còn bậc TÂM TÍN NGƯỠNG, tìm Chân Lý TỰ TÁNH để mà tu, nhưng khi coi KINH chớ nên học thuộc vì BỊ BIẾT. Lúc được nghe thuyết Pháp chớ suy nghĩ riêng nơi mình mà khó nhận thức được trọn THỜI pháp.

Nên lìa bỏ những cái Hiểu Biết của mình để trừ LÝ CHƯỚNG đặng lãnh cái Hiểu Biết của Bậc Chỉ Dạy. Bằng cần dùng theo sự Hiểu của Mình là phải mà Thọ Chấp thì không tiến bộ. Vì sao? Vì LÝ CHƯỚNG sẽ đem lại cái SỰ CHƯỚNG nên khó tu. Nó cũng gọi là NGHIỆP CHƯỚNG, ngăn cản của sự SAY ĐẠO vậy.

Từ nơi SAY ĐẠO đến mức Hiểu Đạo nên xa lìa BẢN NGÃ, chớ vội cho mình ĐÃ HIỂU, vì chỗ HIỂU đó cũng có 8 vạn 4000 Bậc để lần đến BIẾT.

Khi đến giai đoạn BIẾT ĐẠO lại càng thịnh trọng từng vi tế chu đáo hơn. Vì sao? Vì khi Nghi Chấp đến đâu thời Phá Chấp liền Hiểu Biết đến đó. Do lẻ Phá Chấp đến KHÔNG PHÁP hoặc giả nơi KHÔNG vẫn SẴN CÓ. Mà ngược lại chính BẢN NĂNG chưa có một mảy may nào về CHÂN CHÁNH HOÀN MỸ cả.

Nên chi khi BIẾT ĐẠO chẳng xa lìa PHÁP THÍ, chẳng e ngại nơi Chấp hoặc Lìa Chấp, miễn là HẠNH NGUYỆN đầy đủ tròn khắp, cần nương theo câu: NHƯ LAI VÔ BIÊN THỀ NGUYỆN SỰ.

Đối với sự tu hành hay đối với Phẩm CÔNG ĐỨC nó rất Thọ Xứng. Do chỗ Công Thọ Xứng ấy mà các Bậc tu hành mới CẦN TẠO và CỐ TẠO để đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT HOÀN TOÀN chẳng còn Tập Khí Sanh Tử.

Bằng ngồi yên mà suy nghĩ hay nương tựa nơi mơ màng CẦU BÁO, thì nó có đặng chỗ BÁO chăng cũng in như sự mong cầu đó chớ không hơn kém. Nên đem tất cả LÝ SỰ ĐỒNG SONG KHÔNG CHẤP TRƯỚC để CẦU liền đặng Trọn Vẹn như Ý NGUYỆN. Nên những Bậc tu hành mong cầu nghe Pháp, hay mong sự thành tựu, thời cũng nên tỏ ra TỰ TẠO một THÙ THẮNG CÔNG ĐỨC để CẦU. Chớ nên Thử Thách mà Cầu, chớ nên Lợi Dụng để Cầu, chớ nên đem Tâm Hiện Hữu mà Cầu, thì con đường GIẢI THOÁT khó đến vậy.

NAM MÔ TỐI THẮNG DIỆU ÂM PHẬT

22. BẤT ĐỘNG

NÓI đến Pháp BẤT ĐỘNG duy chỉ Bậc Sở Đắc tận cùng rốt ráo THẬT BIẾT CHÂN CHÁNH nó là như vậy, như thế hoặc như kia. Bậc ấy khi dùng đến các Pháp vẫn tùy lúc hay tùy hồi quyết định không còn nghi ngờ. Pháp Bất Động là một Pháp vượt tầm lý luận hay ngôn thuyết suông để giảng giải ra nó mà đặng. Vì sao? Vì nó SẲN CÓ nơi từng lớp, từng Bậc, từ lớn nhỏ, rộng hẹp, thanh thô, tế nhị trùm khắp tuyệt mỹ, nó không có sự Tăng Giảm hoặc Dư hay Thiếu mảy may nào cả.

Nói đến thứ lớp của nó thời cứ mỗi một lớp như vậy có hằng hà sa số Bậc, mà mỗi một Bậc thì vô lượng vô biên lớp. CŨNG NHƯ: Nhìn trong một thành phố hay một xóm làng, mỗi một khoảng đất thì có một cái nhà, mà mỗi một cái nhà có một hoàn cảnh. Nếu trong nhà ấy có 5 người, hay 10 người, thì mỗi một người đều sự Hiểu Biết và Hoàn Cảnh của người đó thảy đều sai khác với mấy người kia. Nó cứ từng người, từng Bậc, từng gia đình, từng Nhà nước thống trị mà tuần tự thuyên diễn, nhưng mỗi mỗi hay lớp lớp thảy đều SẴN CÓ Bất Động Pháp.

Cho đến VŨ TRỤ cùng TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI không thể nào mà kiểm điểm hay diễn nói hết đặng. Duy chỉ có SỞ ĐẮC CHƠN BIẾT BẤT ĐỘNG mới chu đáo mà thôi. Vì trong một pháp nầy Sẵn có sự Hiểu Biết nầy. Nơi pháp Bất Động khác Sẵn Có cái Hiểu Biết khác, nó chỉ Đồng Hợp để mà hiểu biết, bằng chưa Đồng Hợp thời chưa hiểu nhau. Do đó mà chia ra từng lớp: Vuông tròn Dài ngắn Rộng hẹp Cao thấp cùng khắp, nơi đâu cũng thảy đều có một sự Hiểu Biết chung và riêng.

Đức THẾ TÔN Ngài Chánh Biết Nguyên Thể Bất Động nó Sẵn Có nơi từng lớp, mà mỗi chúng sanh phải đành chịu trong thứ lớp đó. Chúng sanh lại đòi hỏi Chân Thiện Chánh Giác như Ngài, thành thử Ngài vì chúng sanh mà chỉ dạy trong các thứ lớp đặng thoát sanh lần hiểu biết Tỏ Thông đoạt đến Thực Tưởng Bất Động, chỉ vì chúng sanh lầm nhận cái Biết của mình mà mê mờ.

DO ĐÓ NGÀI NÓI:

Tất cả chúng sanh thảy đều có sự hiểu và Biết. Nhưng cái Hiểu nầy là cái Hiểu của Ông chớ chưa phải đã Hiểu đặng cái Hiểu của Bậc khác. Cũng như: Cái Biết nầy là Cái Biết của Ông, chớ chưa phải Đã Biết nơi Cái Biết của Bậc khác.

Những lời nói tối diệu của Ngài để cho Bậc tu hành cầu tiến, từ nơi Hiểu và Biết của mình đến cái Hiểu Biết Bậc khác, làm cho Trí Tuệ Tăng Trưởng lần đến tận cùng CHÁNH BIẾT BẤT ĐỘNG.

CHẲNG KHÁC NÀO: Sẵn có từng NẤC THANG, kẻ quyết chí LEO THANG không ngừng, đến tột cùng của NẤC THANG liền RÕ BIẾT cái thang mấy NẤC. Pháp Bất Động thứ lớp nó cũng thế.

Nên chi Bậc đã tỏ rõ Chân Thực, Tận Biết tỉ mỉ từng giai đoạn TÁNH PHÁP ra sao, sự CÔNG DỤNG nó thế nào một cách chu đáo không lầm lẫn nên Điều Khiển Sắp Đặt nó. Chẳng khác nào Trưởng Giả kia Trang Trí đồ dùng trong nhà của mình.

Bậc ấy khéo Di chuyển thứ lớp mà trở thành QUỐC ĐỘ. Lại vì Chúng sanh mong Tri Kiến rốt ráo mà Thần Diệu lần lượt đưa chúng sanh Tam Thiên cùng Cảnh Giới trở thành PHẬT QUỐC, các chúng sanh trong Cõi chẳng hay biết ngỡ Mình làm đặng.

Pháp Bất Động là một pháp có LỢI và cũng có HẠI vô kể. Khi Bậc Thật Biết thì chẳng còn nghi ngờ, liền thoát Trần Lao hoàn toàn Giải Thoát chẳng Tập Khí Sanh Tử. Bằng chưa biết đến hay lưng chừng biết, hoặc tu hành chưa rốt ráo do Khởi Mường tượng vội chấp nhận, nó liền nương theo Hương Vị tập nhiễm ngọt mùi ấy mà trở thành Cảnh Giới vẹn vừa theo ý, họ liền ngỡ là Chân Thật mừng rỡ cho Đã Đắc đến Chân Lý thọ lãnh Chịu Báo hay Phước Báo, tùy theo Công Năng Sở Tri Kiến Chấp mà thành tựu.

Bậc đã trọn biết Pháp Bất động, Bậc ấy tỏ rõ từng đường kim mối chỉ của sự tu hành, lại thâm nhập tất cả TẠNG THỨC từng Sở Tri sâu cạn của họ như : Tri Kiến hay chưa Tri Kiến mà Kiến Chấp, Giải Thoát hoặc chưa Giải Thoát mà Thọ Chấp. Rõ biết từ hành vi tu tập của Bậc tìm đặng Chơn Tánh mà Tự Biết hay tu Khảo Cứu để Bị Biết. Còn thấu đáo bậc đang mắc miếu trong pháp để mà Chấp, hay đã thoát sanh đặng pháp Sạch Sẽ trơn liền nhưng vì Nguyện Độ Sanh diễm nói in tuồng Thật Chấp, nhưng không còn lấy một Chấp.

Còn biết qua từng giai đoạn Chứng Ngộ dừng trụ sạch sẽ, hay lấy TƯỞNG mà dừng trụ? Hoặc KHÔNG TƯỞNG mà dừng trụ? Cùng với sự thu nhiếp TÂM mà dừng trụ, hoặc lập Thiện Căn, Thanh Tịnh Căn, Hòa Giải Căn, cộng cùng Bất Động Căn để thành tựu Chứng Ngộ đến nó?

Đó chính là những điểm khó giải cho nhiều Bậc tu hành tìm một lối trụ, một pháp hay một Tôn Chỉnh đúng đắn để thâm nhập Viên Giác rốt ráo, Thân tâm BẤT ĐỘNG vậy.

Do lẽ ấy nên các Bậc Tu Chứng qua từng pháp, từng lớp mơ màng, Trí Tuệ rời rạc chưa Thật Biết mà nhận lãnh trọn vẹn, chỉ nương vào VÔ NGÃ nhận thấy Tư Duy Pháp để làm rỗng rang Tâm Ý mình. Lâu ngày tập khởi Nghi Mình, Nghi Chân Lý, Nghi Pháp Môn, nhưng tìm một lối trên để dừng trụ thật là nguy hại. Lại có Bậc xem kinh ghi nhớ học thuộc tu tập Bị Biết Kinh, nhưng vẫn có sự rỗng rang trên chẳng hạn. Nếu gặp ai hỏi đến đoạn Kinh thời giảng giải y theo bài vở đã học, còn chận hỏi pháp Chân Lý bất ngờ liền lý bí. Vì sao? Vì bị biết chớ nào có Tự Biết đâu, do Bị Biết đó mà chẳng Tỏ Tánh thành thử bị nằm trong LỜI NÓI của PHẬT.

CŨNG NHƯ: Nằm nơi ngón tay PHẬT chỉ Chân Lý chớ chẳng tìm Chân Lý để mà TỎ. Con đường lập pháp Tỏ Biết thật là trăm phương vạn lối Có kẻ tự nâng cao mình là: THÁNH. Có Bậc tự hạ thấp mình là: PHÀM. Kẻ mong chứng nầy, người đòi chứng nọ, tự sinh chứng che đậy buông xuôi biện luận thuyết giải trôi chảy để mà Thọ Chấp, trong một thời gian nơi chấp ấy in tuồng là Thực, lãnh lấy những pháp Tự Tạo tự lãnh mà không hay biết vậy.

Những lẽ trên có nhiều điểm chưa thấu đáo vì Tâm Chí nông cạn, Hữu Lậu Vọng Đảo chưa sạch, Hạnh Nguyện chưa tròn, nên sự Khởi tham lam vội chấp lầm lẫn che đậy.

CHẲNG KHÁC NÀO: Con Lương kia vốn Sẵn Có chất nhớt của nó để bảo vệ THÂN và sanh sống. Còn Mê Lầm Phàm Phu Sẵn Có PHÁP GIỚI che đậy những gì lầm sai. Bậc tu vẫn còn Bản Ngã ấy nhận chịu che đậy thuyết giải mê lầm bao phủ như thật, gọi là: VÔ MINH.

Đối với Bậc Sở Đắc CHÂN NHƯ BẤT ĐỘNG thời Thật Biết các Tập Khởi của mỗi lớp thế nào, bị nhiễm ra sao? Mong muốn chấp nhận thế nào? Chịu Báo hay Chánh Báo ra sao? Bậc ấy biết tất cả, còn biết hơn thế nữa, nhưng không chấp Sở Tri mà Hoàn toàn Giải Thoát chẳng còn Tập Khí Sanh Tử, chỉ nương vào Công Đức Như Lai để diễm nói, chỉ bày từ ly tí. Khi biên soạn hay đọc tụng phương tiện Kinh Sách miễn làm cho sáng tỏ các bậc tu hành đến đích Tri Kiến Giải Thoát là đủ.

Dù cho Bậc ấy Thị Hiện các HẠNH THUẬN NGỊCH, TỊNH hay BẤT TỊNH chăng nữa cũng không có lỗi mà đặng Phước báo vô kể khó nghĩ bàn. Vì sao? Vì Bổn Nguyện chung để Độ Sanh mà phải như thế.

CÒN NGƯỢC LẠI: Cũng vốn Pháp Bất Động ấy. Nhưng Mê Lầm thời nó trở thành PHÁP GIỚI đóng khuôn ngăn biệt mỗi CHÚNG SANH nên gọi là: CHÚNG SANH GIỚI.

Nơi Pháp Giới vẫn từng Bậc từng lớp lang, từ nhỏ bé lên đến to lớn trùm khắp TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI. Mỗi một kẻ hay một Bậc cùng một người thảy đều nằm nơi Pháp Giới, nó đóng nên khuôn HIỂU và BIẾT riêng nhau từng Pháp, nên LẼ PHẢI với VIỆC QUẤY tự tạo Hoàn Cảnh THUẬN NGHỊCH riêng nhau.

Từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn thảy đều có sự Biệt Lập Tự Ngã thành thử khó mà Hiểu cùng Biết với nhau cho tận từ. Bất quá có Hiểu Biết nhau chăng cũng trong một trường hợp chốc lát hoặc trong một hoàn cảnh mà thôi.

Ngoài ra vẫn xung đột cạnh tranh tự cho mình:ĐÚNG hay PHẢI, nên mới có: THƯƠNG-GHÉT, ĐÚNG-SAI, do hợp và không hợp trở thành câu chuyện SAI ĐÚNG trong Pháp Giới nó sẵn sàng Bản Năng phủ kín che đậy thành Bản Ngã kiên cố chỉ vì chấp nhận mà nó trong Pháp.

Pháp Giới là một pháp quá ư Tinh Nhuệ, nó có thể gạt gẫm từ phàm phu thấp kém đến Bậc ĐẠI THIÊN TIÊN, qua hàng TĂNG THÁNH. Nó đưa từng lớp, từng Bậc, từ sơ khởi tu hành đến bậc tu hiểu biết Phật Pháp, lại lừa bậc đã từng đi trong HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH cùng với bậc GIÁO PHÁP nếu Tập Khởi chấp nhận vẫn mắc Pháp Giới thêm phí công bê trễ, Nó có đủ phương lừa, đủ cách gạt. Nó tùy theo SỰ MUỐN Tuyệt Mỹ, khôn khéo đưa từng lớp bị lầm vì nó.

Nếu kẻ tu chẳng khéo suy ngẫm để điều ngự sự Tham Muốn, không củng cố kiên nhẫn đặng lần nương theo Pháp để Tỏ Pháp mà thâm nhập PHÁP GIỚI thì dễ bị lầm nhận mà lộn vòng Sanh Tử.

Tuy nhiên còn có bậc tu chánh đáng, quyết tâm cầu Diệu Quả. Họ chẳng vì Danh Lợi để mà tu, chỉ vì thoát Trần Lao Hư Vị nên mới tìm hiểu đặng nó. Mới nhìn nhận Tánh Điêu Luyện tầm quan trọng và sự nguy hiểm của nó, làm cho kẻ tu hành sơ sài phải Chấp Pháp. Vì lẽ đó nên Bậc ấy mới mềm dẽo thịnh trọng Tinh Tấn Đạo Tràng trên hết để tu. Chủ Quán THẾ GIAN như Huyển nên chẳng bao giờ tranh giành Hơn Thua, Được Mất mà mắc miếu theo Pháp Giới. Do đó, không có sự Tập Nhiễm Thanh Thô để Thọ Chấp. Họ nương vào VÔ NGÃ cầu lấy Xuất Ly từng Pháp để Tỏ Biết chơn thật rõ ràng.

CŨNG NHƯ: Hiện THẾ GIAN GIỚI chẳng tập nhiễm để Tỏ Ngộ THẾ GIAN mà GIÁC. Qua: TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI cùng CẢNH GIỚI TỊNH ĐỘ, chẳng chấp nhiễm một GIỚI mà thọ lãnh. Vì sao?Vì Bậc ấy ĐÃ BIẾT: CẢNH GIỚI THẾ GIỚI đều là PHÁP GIỚI.

CHẲNG KHÁC NÀO: Bậc học trò kia vào trường Y KHOA để học, Bậc ấy có một sự quyết chí trở thành một ĐẠI LƯƠNG Y, DƯỢC SƯ, nên siêng năng khảo cứu các món thuốc tận từ hiểu biết từng món, có TÁNH DƯỢC khác nhau chuyên trị một bệnh. Sau khi tỏ biết tất cả các món thuốc rành mạch, họ có thể hợp thang. Năm bảy vị trở nên một MÔN THUỐC cứu chữa con bệnh, mà chính bậc ĐẠI LƯƠNG Y, DƯỢC SƯ không mắc phải một Bệnh hay một món thuốc vậy. Bậc tu hành dùng Phương Tiện xuất ly Pháp để Tỏ Pháp Giới lại khéo HÀNH THÂM BÁT NHÃ mà thâm nhập BẤT ĐỘNG.

Có nhiều bậc tu hành vì Tín Ngưỡng ưa muốn, nhưng chưa hiểu đặng phương thức tu, thì có đâu hiểu thấu PHÁP và PHÁP GIỚI, thành thử họ tu có nhiều Sở Cầu khác nhau. Tuy thế chung lại chỉ lấy THIỆN CĂN đặng cầu PHƯỚC BÁO, nên không có hại chi cả.

Vì sao? Vì các Bậc ấy trót lầm nơi Pháp Giới THÔ KHỔ, đến nay tu hành mong cho thoát sanh khỏi khổ, đặng đến Pháp Giới Thanh Nhàn hơn, nên chẳng có hại.

Duy chỉ có Bậc tu Phật đã hiểu biết đôi chút Phật Pháp mà quyết tâm tu thật dày công, nhưng có một cái: Nặng về Bản Ngã Chấp Thủ, gọi là tu theo Sở thích của mình. Do đó nên nặng về SẮC TƯỚNG sở cầu hơn là tìm sự Hiểu Biết phá mê lầm. Vì thế khó khăn hiểu Pháp hay Pháp Giới để mà tu.

Có Bậc khá công hơn, họ đem sự Hiểu Biết và sự làm để tu rất tinh tấn cầu tiến bộ, nên nhàm chán: SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ mà quyết tâm tu. Đến khi rõ biết: Bởi Tập nhiễm chìm đắm vào THAM SÂN SI, do sự ĐƯỢC MẤT TRANH GIÀNH mới có PHIỀN NÃO lộn vòng nơi NHÂN QUẢ.

Những sự hiểu biết đó nó lại có một trạng thái quyết TẬN DIỆT các Nghiệp tập nhiễm để kìm hãm TÂM, mà mong chờ ĐẠO QUẢ. Kể ra những bậc như vậy thật là đáng kính nể, nhưng tiếc rằng sự gặt hái chẳng đặng rốt ráo. Dù có thành tựu đến mức TẬN DIỆT ĐỊNH cũng vào PHÁP GIỚI Thánh Quả, chớ chưa hẳn Diệu Quả NIẾT BÀN.

Con đường tu Phật nó có nhiều then chốt lạ lùng do bởi: PHÁP GIỚI. Dù cho có nhiều Bậc niệm niệm một câu để Tỏ Biết cũng chẳng biết tí nào. Vì sao? Vì nằm trong Pháp Giới Bị Biết, chớ chẳng Viên Dung Tự Biết. Nó như thế nên Bậc tu hành khá họ vẫn biết rằng: SỰ TU là một Phương Tiện Cứu Cánh Giải Thoát. Nhưng đến lúc say tu: thời nhiều Bậc BẢO THỦ Món Tu mà giành giựt cho mình là CHƠN CHÁNH, kẻ khác là NGOẠI ĐẠO TÀ GIÁO để hơn thua nhau. Đôi bậc tự hào là: BỒ TÁT hoặc tự dựng là PHẬT mà khinh khi Bậc khác là CHÚNG SANH. Đó chính là điểm trọn lừa của PHÁP GIỚI, để cho Bậc tu chấp nhận mà Thọ Lãnh.

Nếu Bậc tu hành y như Pháp Môn nào cũng tốt, miễn là chớ vội chấp thủ Cố Định, nương vào VÔ NGÃ làm phương tiện Xuất Ly qua từng Pháp không nhiễm trước, để Tỏ Biết tất cả Pháp như HUYỂN HÓA HƯ DỐI KHÔNG THỰC mà rạng tỏ VÔ MINH PHÁP GIỚI. Đó chính là bậc khéo.

Bằng Bậc tu hành không CHẤP THỦ, liền đặng TRÍ TUỆ hiểu biết rộng rãi, nhờ chẳng nặng TỰ NGÃ, chịu khó học hỏi lối tu của các bậc nên tiến bộ.

Bậc ấy lại rõ biết Tự Tánh mê lầm Bản Năng thường Chấp nên Vọng Đảo mà nương theo lời PHẬT dạy: PHẬT và CHÚNG SANH KHÔNG SAI KHÁC, NHƯNG SAI KHÁC MÊ VÀ NGỘ. Do lời nói ấy nên đặng sự Hiểu Biết lìa đặng SẮC TƯỚNG, lập Chơn Tánh PHÁ CHẤP để tu, gọi là ĐỐN GIÁO CẤP TIẾN.

Khi đã đặng: ĐỐN GIÁO CẤP TIẾN để tu thì thật là qúy. Nhưng phải làm cho tròn HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH. Vì trong Hạnh Nguyện đó nó giúp cho Bậc tu được sự đứng đắn Chân Thật, rốt ráo, thông đạt các pháp không thiếu sót. Nó lại làm cho Bậc tu THẬT BIẾT nơi HÀNH DỤNG: CẤP TIẾN và CẤP THỦ làm đúng lúc, Phá Chấp đúng hồi không sai chạy hay mơ màng mà Tỏ rõ, gọi là CHÁNH GIÁC chẳng còn Tập Khí Sanh Tử vậy.

BẰNG PHÁ CHẤP QUÁ ĐÀ: MỘT: Phải vào chỗ KHÔNG mà Chấp Thủ. Nếu chẳng Chấp chăng cũng tìm nơi An Trụ lấy MỘT PHÁP thì lãnh đủ 8 vạn 4000 pháp? Phải vịn vào pháp BÌNH ĐẲNG, để thuyết giải hay Biện Luận suông làm VAI CHÁNH.

CHẲNG KHÁC NÀO: CON LƯƠN có sẵn tánh TRƠN VUỘT gọi đó là pháp phân hai như: Nó cũng có. Nó cũng không. Muốn Có liền Có. Muốn Không liền Không. Nó cũng thế. Nó cũng vậy. Nó không hai hay sai khác. Hay nó không có chỗ Chỉ. Chưa phải lời Quyết Định DUY NHẤT.

Có Bậc cũng đã biết lề lối phân hai trên là một Sở Thuyết nên dè dặt hơn, suy ngẫm thấu đặng PHÁP GIỚI: THUẬN- NGHỊCH đều là MỘT. Muốn dung hòa nhưng chẳng biết làm thế nào?

- Nếu lập THIÊN THỪA sợ khép vào hoàn cảnh quy luật hay trong vòng Chấp Thủ?

- Còn lập THIỆN CĂN thì rõ biết Thiện Ác không HAI? Nên hay dùng lối TỰ TÁNH nơi mình đương nhiên TỰ TẠI, xuôi chiều mát mái đến đâu hay đó.

Trong một thời gian, chưa có một căn bản Rốt Ráo tỉ mỉ nên: Buông lung vì Tự Tại. Bất Thiện bởi chưa Trọn Hạnh. Vị Kỷ vì Chưa Tỏ. Mạt Thị Khinh Khi từng lớp vì chưa Chu Đáo Chơn Như, nên những lối hành động cử chỉ tự chấp nhận là Hạnh Nguyện Độ Sanh. Khi gặp THUẬN, lúc gặp NGHỊCH PHÁP thảy đều ráng chịu. Tập Khí Sanh Tử vẫn mang, làm sao chối cãi?

CHỚ NÀO NGỜ: PHÁP GIỚI tuy là MỘT. Nhưng THỂ DỤNG của nó là HAI trở thành 8 vạn 4000 pháp Bình Đẳng BẤT ĐỘNG. Nơi Pháp Giới tương đối nó có hai lối sử dụng, gọi là: THUẬN HÀNH và NGHỊCH HÀNH. Bậc khéo biết thì dùng đúng lúc, đúng chỗ, còn Bậc chẳng Tỏ Biết lại dùng không đúng chỗ mà bị chống đối Tập Nhiễm chưa thỏa mãn vẫn chịu Tập Khí Sanh Tử vì chưa trọn CHÂN LÝ.

Nơi THUẬN HÀNH NGHỊCH HÀNH là một vấn đề trọng yếu giải quyết đến sự Viên Mãn hay chưa Viên Mãn. Vì sao? Vì Phá Chấp lầm mê đặng TRI KIẾN PHẬT. Nhưng Tỏ Rõ việc sử dụng THUẬN NGHỊCH vẹn vừa đứng đắn thì đặng: PHẬT TRI KIẾN. Bằng vì Phá Chấp quá lối, chẳng Tinh Tấn Đạo Tràng thì muôn kiếp vẫn còn Tập Khí Sanh Tử, gọi là HÀNH NGUYỆN. Đó là một lối giảng giải mật thiết cho Bậc GIẢI THOÁT, nên nhớ lấy.

Còn nói về THUẬN HÀNH pháp, là một đặc tánh thu nhiếp làm cho tất cả đều ưa thích mà tu hành, nó cũng là một lối dỗ dành nâng đỡ Bậc non kém. Khen tặng và giúp đỡ con đường tu, làm cho tất cả được Say Đạo để Hiểu Đạo cùng Tỏ Biết và VIÊN THÔNG CHÂN LÝ.

Bên NGHỊCH HÀNH duy chỉ là Pháp TRỢ DUYÊN cùng PHẨM TRỢ ĐẠO cho Bậc đã TIN PHẬT, TIN PHÁP MÔN tu, để lần đưa từng Pháp vì Bậc ấy đã chịu nỗi sự thử thách mà tiến bộ. Ngoài ra chẳng dùng. Vì dùng đến nó làm cho tất cả mọi người đều chẳng ưa thích mà xa lánh, hoặc Đoạn Duyên với mình.

Hai lối sử dụng của một PHÁP GIỚI. Nằm nơi Pháp, Tỏ Pháp, Thông Pháp, Bất Động với Pháp. Viên Tịch cùng Pháp. Trọn dùng đến Pháp, Không Tập Nhiễm một Pháp. Vì sao? VÌ QUÁ BIẾT nên chẳng dùng CÁI BIẾT. Chớ nên lìa nó. Chớ nên Bỏ và Diệt nó. Chớ nên Sợ Chấp, cứ Phương Tiện trọn HẠNH NGUYỆN, thì PHÁP GIỚI trở nên CHÂN NHƯ BẤT ĐỘNG.

Tất cả Chư Vị BỒ TÁT vẫn nương theo con đường ấy để mà cầu VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC. Nên mới TÁN THÁN PHÁP GIỚI mà gọi là: HÀNH DỤNG NHƯ LAI.

NAM MÔ HỒI HƯỚNG PHÁP ĐẢNH NHƯ LAI TẠNG
15-10-MẬU THÂN (1968)

21. TUYÊN RÕ VỀ NHẤT TÔN PHÁP TẠNG

NHẤT TÔN PHÁP TẠNG thời Bất Nhị Nhất Thể. Vô Thủy, Vô Chung liên tiếp duy nhất gồm có BA ĐỨC PHẬT đồng một chữ A như sau:

Đức Phật A ĐỀ, Đức Phật A DI ĐÀ, Đức Phật A DẬT ĐA (DI LẠC) Chủ Tọa Điều Ngự gọi là Giáo Chủ Nhất Tôn NHƯ LAI TẠNG.

Thừa Hành giữa thời nầy, Đức TỊNH VƯƠNG PHẬT đảm nhiệm làm GIÁO CHỦ Nhất Tôn Pháp Tạng. Hiện Thân TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG (DI LẠC) gọi là con đường BỒ TÁT ĐỘ, Duy Nhất từ Hành Dụng đến Diệu Dụng để cứu độ, đưa tất cả được Tri Kiến Giải Thoát hiện tại nên đồng thanh ứng hiện trọn dùng HỮU-VÔ trùm khắp trên dưới tự tại gọi là Ứng Thân BỒ TÁT PHẬT.

Từ Khi Nhất Tôn Pháp Tạng mở đầu Vô Thủy Vô Chung Vô Lượng Thọ Vô Lượng Nghĩa không thể đo lường đếm tính đặng. Thời tất cả NHƯ LAI cùng ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT và Chư PHẬT với các hàng Chư BỒ TÁT đặng độ, đặng Hóa Thân Vô Lượng Vô Số Vô Biên khó suy nghĩ khó đong lường. Nhưng mỗi hàng BỒ TÁT, mỗi Thứ Bậc thảy đều làm không ngừng nghĩ trong Nhất Tôn Pháp Tạng như sau:

NHẤT TÔN NHƯ LAI Chứng Minh.

ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT. Khi đồng Như Lai, lúc hòa cùng Chư Phật. Ngài dung hòa dung chứa Thị Hiện SẮC, KHÔNG SẮC. THINH, KHÔNG THINH. HƯƠNG, KHÔNG HƯƠNG. VỊ, KHÔNG VỊ cùng XÚC PHÁP, KHÔNG XÚC PHÁP và các TỊNH ĐỘ, QUỐC ĐỘ HỮU VÔ NIẾT BÀN đến ĐẠI NIẾT BÀN. Tất cả Bí Mật Kín Nhiệm di chuyển do Ngài nắm giữ. Từ Thần Thông đến các Tam Muội qua GIẢI THOÁT.

Khi nào NGÀI Ban Hành Thị Hiện?

Lúc Bồ Tát được sự Thọ Ký của Chư PHẬT. Khi NHƯ LAI NHẤT TÔN Chứng Minh rốt ráo. Từ Thần Thông đến Tam Muội qua các Hiện Thân đến Giải Thoát Viên Mãn BA THÂN Ngài thảy đều gìn giữ khó nói, khó bàn đặng.

Tất cả Thế Giới, Cảnh Giới mỗi một khẽ động di chuyển Ngài thảy đều cung cấp trường tồn bất diệt. Từ một nơi, một Thế giới hay Trăm Ngàn Vạn Ức Ô Trược Mạng Trược Ngài làm trở thành TỊNH ĐỘ hay QUỐC ĐỘ trong một Sát Na.

Ngài lại gìn giữ TÂM ẤN-MẬT ẤN, nên đối với NGÀI thật khó nói, khó nghĩ bàn.

Đức ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT tất cả đều khó nói, tất cả đều Tán Thán vô lượng vô biên xứ đều cung kính với Oai Thần Tối Thắng Diệu Âm của NGÀI.

CHƯ PHẬT có nhiệm vụ THỌ KÝ và DIỆU ĐỘ Chư BỒ TÁT.

CHƯ PHẬT chỉ dạy cho Chư Bồ Tát thành tựu Phật Quả đồng Thọ Ký cho Chư Bồ Tát trong đường Hạnh Nguyện đưa Chư Bồ Tát Ngũ Nhãn Lục Thông Tam Thân Tứ Trí đồng thành Phật.

Còn Chư Bồ Tát Tín Hạnh Nguyện để lãnh hội các Pháp và Chân Lý huấn từ của Chư Phật mà Sở Đắc.

Chư BỒ TÁT Độ Sanh với con đường Hạnh Nguyện Lục Ba La Mật Đa, thâm nhập Pháp Giới thành tựu Bát Nhã Trí, được Trí Tuệ Vô Ngại. Đức Hạnh ứng thân rốt ráo từ HỮU LẬU đến VÔ LẬU không Hai hoàn toàn Tri Kiến hoàn toàn Giải Thoát.

TRONG THỜI HÓA ĐỘ CỦA CHƯ PHẬT:

Thời kỳ nào PHẬT hóa độ tất cả Chúng Sanh và Bồ Tát?

Thời Đức Phật ra đời, chưa có Thể Hiện Bồ Tát, thì PHẬT phải Hành Dụng đến Diệu Dụng chung Một hai thứ gọi là : BỒ TÁT PHẬT. Khi Chúng Sanh Giác Ngộ hoặc Đắc Pháp thì Phật trở qua Đốn Pháp để cho chúng sanh Hiện Thể, thời nầy gọi là PHẬT hóa độ Bồ Tát. Qua thời Bồ Tát hiện thân đầy đủ hoặc chưa đầy đủ thì PHẬT mới thi hành Tịnh Bất Tịnh, Thuận Nghịch quyết đưa Chư Bồ Tát qua các trở lực ngăn ngại mắc miếu thân tâm tập nhiễm tập khởi trong LÝ SỰ chưa đồng đến Đồng,chưa đặng đến Đặng, chưa đắc đến Sở Đắc hoàn toàn mà thành PHẬT.

Nên PHẬT hóa độ khó nghĩ bàn, khó phê phán, vì sao?

Vì Phật diễn ra các Pháp chẳng thiếu sót. Từ Bồ Tát chưa bao giờ nhìn đặng, thời làm sao chúng sanh biết nổi việc hóa độ của Chư Phật? Làm cho Sức Lực công năng của Chư Bồ Tát chịu đựng tiến triển thọ lãnh đầy đủ của NHƯ LAI TẠNG mà rốt ráo ĐẠI NIẾT BÀN.

Sự hóa độ của Phật, chỉ có Phật với Phật biết, Phật đưa từng hàng Bồ Tát bởi Tịnh hay Thuận mà Thọ Chấp, Phật làm cho Bồ Tát ấy Tâm không phân biệt dị biệt, được suốt thông Tịnh, Bất Tịnh đến Thuận Nghịch thực thi rỗng rang trùm khắp thành PHẬT.

Lại vì hàng Bồ Tát hay hàng Đắc Pháp đứng yên nơi CHỮ KHÔNG cùng với Trí Tuệ Ngôn Ngữ Văn Tự làm Sở Chứng. Phật phải hóa độ phiên diễn các Pháp, làm cho Bồ Tát nghi chấp đến Phá Chấp, chẳng còn ngăn ngại trí tuệ suốt thông, không còn quái ngại nơi Thấy Nhãn Tịnh, đến Thật biết tỉ mỉ lìa ngôn ngữ Văn Tự Sở Đắc Bát Nhã Trí đồng song thành Phật.

Phật hóa độ, tất cả nghi Phật thật Ác, Phật hóa độ chư Bồ Tát phải nghi thật là Nghịch, dù có Ác hoặc Nghịch chăng thời khó nghĩ bàn, vô lượng hóa độ, vô lượng Diệu Dụng Bồ Tát nhìn chưa thấu, thì phàm phu lấy đâu để hiểu? Phật chỉ vì Bồ Tát đứng yên thọ chấp mà phải hóa độ như thế, để được Thọ Ký và Chứng Minh của NHƯ LAI.

Bậc Bồ Tát còn Nghi hay phân vân chưa chu đáo Hữu Lậu Vô Lậu, tác dụng, tác tạo các Pháp, cùng với Trí Tuệ chướng hay Tướng Pháp ngại ngùng, hoặc tự tại Trí Tuệ mà chưa thật tỏ tỉ mỉ Đúng Sai thường bị Chướng Đối, mơ mộng Niết Bàn khi thời Định Tưởng hoặc Thường Tưởng hay Ly Tưởng cứu cánh rốt ráo bằng Không Pháp. Hoặc Bồ Tát quán Tự Tại Vô Ngại phá nghi phá Tương Đối, phá Thân Khẩu Ý xuất ly đặng gìn giữ Tư Duy nên chưa tỏ rõ di chuyển Pháp Tánh, chưa biết được Thường Tánh thì làm sao chu đáo Diệu Tánh Niết Bàn? Bậc Bồ Tát như vậy mà bắt chước hóa độ nơi Phật làm hành dụng tác tạo Nghịch Hành, thật là nguy hại vô kể.

Đối với Phật, Phật nói ra những lời nói toàn là: KHAI THỊ. Chớ chẳng bao giờ lời nói nơi Phật là Thuyết Pháp. Phật vì Bồ Tát mà Khai Thị để đưa Bồ Tát thành Phật Quả. Bồ Tát biết lời Vàng nên tán thán Kim Thân Hoa Đàm khó gặp liền được Chứng Ngộ NHƯ LAI TẠNG. Bồ Tát lại biết lời Phật nói là Nhất Tôn Bất Nhị, dù cho Ngài phân biệt tỉ mỉ hoặc phương tiện đủ cách nhưng vẫn Nhất Tôn, liền Sở Đắc Nhất Thế Chủng Trí.

Khi Phật ra đời khó gặp, Nhất Tôn Pháp Tạng Tin thật khó bàn. Nếu bậc Bồ Tát Tin thời Bồ Tát ấy khó nói đến sự cúng dường Tam Thế Như Lai Tạng vô lượng vô kể.

Nếu có một vị Bồ Tát tu vạn hạnh bên ngoài, từ phương Đông đến phương Tây hay Nam Bắc chẳng hạn, cùng với Trí Tuệ suốt thông. Khi nghe Nhất Tôn Pháp Tạng chưa biết hoặc đã biết. Đương thời Diệu Dụng BỒ TÁT PHẬT cùng sau Thể Hiện BỒ TÁT với TỨ CHÚNG sẵn sàng.

Bậc ấy nói Ta Sở Đắc Chân lý và Ta đã thành Phật, dù cho Bậc nọ sở đắc hoặc thành Phật thật sự đi nữa mà chưa biết nơi Chứng Minh Nhất Tôn, chẳng Tin sự Chứng Minh có lòng Ngã Mạng Tự Mãn thì cũng chưa đến rốt ráo để nhập Đại Niết Bàn, vì sao? Vì chưa đặng Thọ Ký Nhất Tôn thì làm sao đến Như Lai Nhất Tôn Chứng Minh, đã chẳng đặng Chứng Minh thời làm gì có Đại Nhựt Như Lai Phật ban hành Thị Hiện cảnh Đại Niết Bàn, do lẻ ấy mà bậc kia phải dùng Định Tưởng đã Định Tưởng thời còn Sanh Diệt, đó chính là trọng yếu thứ nhứt.

Lại có Bồ Tát dùng lời lẽ thuyết pháp y như Phật, mà chính Bồ Tát ấy chẳng biết chỉ hướng cho Chúng Sanh hoặc chưa biết rõ sự nói năng lợi hại của Pháp, vì Chúng Sanh chưa giảm Nghiệp Lậu và Tham-Sân-Si nên thường chứa nhóm trụ chấp nên khi nghe đã không đem đến sự lợi ích cho Chúng Sanh còn làm cho Chúng Sanh tăng thêm tham vọng, thêm kiết sử đảo điên ham muốn, dù cho vô tình chưa rõ mối nguy hại, nhưng Bồ Tát đã lầm cho chúng sanh uống phải độc dược cuồng quay tăng thượng hay đoạn duyên Phật, thời Bồ Tát liền phải lạc hướng mất Hạnh vòng quanh theo Lục Đạo để cứu vớt sự lầm thuyết của mình, đó là điểm nguy hại thứ hai.

Bồ Tát nhìn thấy chúng sanh vì mê chấp lầm nhận ngăn ngại, Bồ Tát chỉ dạy cho Chúng Sanh tu tập Phá Chấp. Khi mà chúng sanh Tin lời giải thuyết của Bồ Tát để Phá Chấp liền khỏi sự lầm nhận nhiều ít, chúng sanh vui mừng nung đúc phá chấp tự nuôi Bản Ngã tăng thượng bên trong chắc chắn sẽ thành Phật nay mai, vì mê lầm làm chúng sanh đến Giác Ngộ là Phật, nên chi Chúng Sanh ấy xem việc Đức Hạnh công năng chịu đựng là Chấp pháp, học hỏi thâm nhập Pháp Giới là Chấp pháp, tất cả việc Hạnh Nguyện phát Bồ Đề Tâm đều Chấp pháp, đến một ngôn ngữ văn tự đều Chấp pháp, mà thật chính Chúng Sanh ấy chưa hiểu gì cả, dùng lời thuyết như cái máy nói nên bừa bãi Tăng Thượng, xem Chư Phật và Như Lai là môn sở thuyết, chớ không ngờ là Chánh Báo Viên Mãn Ba Thân rốt ráo Đại Niết Bàn Bất Nhị, đó là điểm nguy hại thứ ba.

Bồ Tát vừa hiểu vội chấp nhận biết, vừa biết vội chấp nhận đã Đắc. Khi mà Bồ Tát hiểu được Lý Vô Sanh, chớ chưa đến tỏ rõ Vô Sanh. Lúc Bồ Tát hiểu Tâm không có chổ chỉ cùng vạn pháp do Tâm Sanh. Nhưng chưa biết thật tỏ rõ Tâm là cái gì ? Bản Thể Tâm ra sao nên tu hành Hạnh Nguyện chê Pháp nầy, khen Pháp nọ, thờ ơ tối sáng được mừng mất buồn đảo điên theo Tâm Pháp. Bồ Tát có thể xem kinh hiểu câu rốt ráo là Niết Bàn hay Ba Thân Tứ Trí Ngũ Nhãn Lục Thông cùng Không Tâm Niết Bàn đến Viên Mãn, do đó nên vội chấp nhận Định Tưởng Giả Tưởng Kiêu mạng cho ta đã sở đắc, đó chính là điểm nguy hại thứ tư.

Bồ Tát lại đương dùng nơi hiểu biết của mình hiện tại hay Định Hướng nơi mình mà đem áp dụng thuyết giải nói năng các Cảnh Giới cho chúng sanh nghe, trái lại Bồ Tát chưa thấu đáo. Vì định tưởng tham muốn Thiên Tướng chính mình mà đem nói, các chúng sanh nghe thích khen tặng Bồ Tát hăng say nói quá trớn làm cho chúng sanh Cuồng Tín, chính Bồ Tát ấy cũng bị Thọ Giả Tướng. Khi mà chúng sanh ấy theo cuồng tín chẳng ích lợi, sinh tâm chán mà thối Bồ Đề đoạn duyên Phật, đó là điểm nguy hại thứ năm.

Bồ Tát lại vì chúng sanh nói cho chúng sanh lìa bỏ đố tật chướng nghiệp Tham Sân Si, nói Nhân Duyên, nói tất cả những ích lợi Tri Kiến, nói từng sự nguy hại của Tham Dục, tâm nhỏ nhen eo hẹp, làm cho chúng sanh nghe được, lãnh được mà Phát Bồ Đề Tâm cầu Tri Kiến Giải Thoát.

Bồ Tát trước khi nói pháp phải vì chúng sanh nương chìu xíu đỉnh, sau lần đưa cho chúng sanh vào con đường Tỏ Tánh, Đức Hạnh Ngôn Ngữ thanh duyên để cho khỏi đoạn duyên Phật, khỏi nghi Tam Bảo, chúng sanh ra đi được xóm làng quý mến trên dưới thuận hòa, đó chính là Bồ Tát khéo nói và khéo tu hạnh Bồ Tát vậy.

Bồ Tát nên y kinh để Liễu Nghĩa, nên dạy chúng sanh nghe Pháp cốt tỏ biết. Chớ chẳng nên y kinh Bất Liễu Nghĩa dạy chúng sanh nghe Pháp chớ nên thuộc lòng không hiểu nghĩa sau nầy sẽ Bị Biết, dạy chúng sanh thật biết Hữu Lậu, thật rõ Vô Lậu Hữu Vô đều tỏ rõ, chớ vì Hữu mà nặng, chớ vì Vô để chấp. Lại cũng chớ vì Hữu mà Đoạn, chớ nên Vô mà lìa, đó chính là Bồ Tát khéo cúng dường Tam Bảo, khéo đưa chúng sanh chẳng lấy cũng không bỏ.

Còn phần Chúng Sanh cầu Tri Kiến Giải Thoát thành tựu hiện Thân Bồ Tát thời phải tu thế nào?

Chúng Sanh nhất tâm tu cầu đến kết quả hữu hiệu thì nên căn bản Đạo Đức Ngôn Hạnh và BI TRÍ DŨNG. GIỚI ĐỊNH TUỆ, thi hành Lục Ba La Tứ Nhiếp Pháp, phát Bồ Đề Tâm Nguyện cho thù thắng để qua bờ ngăn chấp của BA LỐI là: ĐOẠN-DỊ-DIỆT.

THẾ NÀO LÀ: ĐOẠN?

Chúng Sanh thường Nghi, chấp nhận cái Nghi của mình mà bỏ tu. Chúng Sanh Tham Cầu, Tham Biết, Tham Cuồng Tín để thọ chấp mà bỏ tu. Chúng Sanh vừa hiểu biết chút ít cho là Sở Đắc bất tín lời Pháp cho là lý luận ngôn luận đặng bỏ tu, cùng tất cả trái với mơ ước điên đảo bỏ tu thảy đều gọi là: ĐOẠN.

THẾ NÀO GỌI LÀ: DỊ DIỆT?

Chúng Sanh bởi mê lầm nên thân tâm pháp giới đều thọ chấp ngăn ngại, tự sanh nhiều mong muốn đảo điên, nên đảo điên động vọng nó làm Chủ, do lẽ ấy gọi là Chúng Sanh, nếu rõ biết tỉ mỉ thật biết chẳng còn lề thói trên liền hiện thân BỒ TÁT hay PHẬT không hạn.

Khi tu cầu hiện thân thời hai Pháp DỊ và DIỆT nó làm cho Chúng Sanh khó nghe Phật Pháp, khó hiểu nổi Dụng Độ của Bậc Thiện Trí Thức, nó làm cho chúng sanh thường nghi để mà chấp nhận nơi mình là phải, đặng dắt dẫn chúng sanh vướng vào Dị Diệt. Nếu Chúng Sanh nhất tâm thù thắng TIN VÂNG KÍNH để nghe lời chỉ dạy, điều ngự phá nghi chấp lần tỏ biết đặng Giác Ngộ thì chẳng nói chi, bằng không qua nổi Đoạn Dị Diệt khó hiện thân đặng.

Ba pháp Đoạn Dị Diệt nó tùy theo chúng sanh Thọ Chấp mà trở ngại lối ngăn biệt. Bậc càng tu khá bao nhiêu thời nó lại càng khó gìn giữ Đoạn Dị Diệt bé nhỏ bấy nhiêu. Phần nhiều nó ở nơi tế nhị mà thọ chấp, nó ở nơi tinh vi mà vương phải, đó chính là điểm ngăn không lối thoát vậy.

NAM MÔ PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT
NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT
TỊNH VƯƠNG