20. PHÁP TÁNH VIÊN DUNG BÌNH ĐẲNG

TẤT cả PHÁP cùng PHÁP TÁNH vốn Bình Đẳng Viên Dung Bất Nhị. Vì Bất Nhị nên không chỗ chỉ hay thêm bớt, tăng giảm nó đặng. Duy dụng Tâm Thức nhận định nơi: NGHE THẤY BIẾT để quan sát Bản Năng nó THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN mà thôi.

Bởi Pháp tròn khắp viên dung và Bình Đẳng như vậy nên chi một chúng sanh đặng CÁI NGHE, thời vạn chúng sanh đồng có CÁI NGHE. Một chúng sanh đặng CÁI THẤY BIẾT, thời vạn chúng sanh đồng có CÁI THẤY BIẾT chẳng sai khác.

LẠI NỮA: TÁNH PHÁP thì Vô Ngại, Tùy Thuận không phân biệt. Nó CÓ SẴN từ lâu, nó vẫn: VÔ THỦY VÔ CHUNG VÔ LƯỢNG cùng VÔ BIÊN XỨ, nó BẤT ĐỘNG.

CHỚ NÊN CHỈ CÁC PHÁP LÀ: NĂM, THÁNG, NGÀY, GIỜ, hoặc HẠN LƯỢNG cho nó để kiểm điểm nó bao nhiêu. Vì sao? Vì nó VIÊN TỊCH, không thể dùng Văn Tự hay Ngôn Thuyết, hoặc Khởi hay Nói mà BIẾT nó đặng. Nó vượt tầm lý luận như vậy khó mà thấu. Dù cho có Bậc dùng ĐẠI TRÍ TUỆ cũng chẳng đặng chi, bất quá là PHƯƠNG TIỆN chơi thôi. Duy nhất SỞ ĐẮC rốt ráo tận cùng mới khen tặng tán thán nó đặng.

Các Pháp đã viên dung còn cung đốn cho tất cả bậc tu hành chẳng thiếu sót. Giữa thời nào cũng vậy, miễn là bậc ấy có Chí Nguyện cùng TIN vào Tu PHẬT là con đường TRI KIẾN GIẢI THOÁT liền đặng toại nguyện vẹn vừa. Vì sao? Vì Pháp Tánh nó bất chấp TỊNH hay BẤT TỊNH, nó không ngăn ngại tất cả các Tông Phái hay Pháp Môn nào, nó lại không phân biệt Tà Chánh, Nội Ngoại, chẳng kể Thời Gian và Không Gian. Nó chỉ nương theo SỞ NGUYỆN mà cung đốn vẹn vừa chẳng thiếu sót. Do vậy mà thời nào tu cũng đặng như ý nguyện.

Pháp Tánh nó có đặc điểm Tự đưa nhiều Bậc để TỎ BIẾT Tánh nó. Lại không từ chối nâng chiều từng ly từng tí theo ý muốn của mọi kẻ để họ đặng thích thú vẹn vừa. Vì vậy nên mới tự sanh ra nhiều Pháp chung và riêng, nên gọi là: PHÁP GIỚI.

Pháp Tánh rộng rãi cùng khắp tất cả TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, nó tùy theo mỗi Giới mà cung cấp mỗi Cảnh, gọi là CẢNH GIỚI. Nó cũng tùy theo sự nhu cầu lớn, nhỏ, thanh, thô, tế nhị mà THỊ HIỆN in tuồng CÓ để cho vẹn vừa theo sở cầu như thật. Tánh Pháp thật tuyệt mỹ sự Thị Hiện ban cho từng lớp, từng Trí Tuệ, từng Hiểu Biết, nó cứ theo trình độ mà cung đốn vừa theo ý muốn chẳng sai mảy may nào cả.

VÍ NHƯ: Kẻ muốn cầu lấy điạ vị hay danh giá thì tự học một thời gian đặng địa vị cùng danh giá tùy mức vẹn vừa. Nhưng kẻ ấy vì quá đà tham muốn, bị Pháp Tánh chướng đối để cho TỰ BIẾT nơi tham muốn ấy, dạy cho rõ Pháp mà kinh nghiệm Tỏ Tánh, đó là Tánh Pháp chịu cho soi biết. Nhưng kẻ ấy vì vô minh che mờ, lại than phiền khổ sở, trách móc số phận Trời Đất, Tánh Pháp vẫn nương chiều trong sự than phiền trách móc ấy in tuồng như thực. Đến khi kẻ ấy hết buồn phiền, tự cho đó là MA phiền não, Pháp Tánh liền chịu là MA phiền não.

NHƯ: Kẻ muốn cầu trong SÁT ĐẠO DÂM, trong một thời gian hành sự Sát Đạo Dâm cũng đặng thú vị vẹn vừa. Nhưng kẻ ấy chìm đắm quá tham muốn, bị Pháp Tánh chướng đối để cho vì Sát-Đạo-Dâm quá đà tham muốn ấy, dạy cho rõ Pháp mà kinh nghiệm Tỏ Tánh, đó là Pháp Tánh chịu cho Soi Biết. Nhưng kẻ ấy vì vô minh che, lại than phiền khổ sở trách móc số phận Trời Đất, Pháp Tánh vẫn nương chiều trong sự than phiền trách móc ấy in tuồng như thực, đến khi kẻ ấy hết buồn phiền tự cho là NGHIỆP Pháp Tánh liền chịu là NGHIỆP.

NHƯ: Có bậc muốn cầu ưa thích về THIỆN CĂN, lập Đạo Đức làm căn bản sửa đổi để tu hành, tùy theo Sở Nguyện tu tại gia hay xuất gia, hoặc xây cất AM-CHÙA-MIẾU-VÕ để cầu Phước hay cầu TRI KIẾN GIẢI THOÁT chẳng hạn, thời Pháp tánh thảy đều nương theo tất cả sở cầu mà cung đốn chẳng thiếu sót, vẹn vừa. Nhưng quá đà cũng vẫn bị chướng đối của Pháp tánh để cho tự biết vì tham muốn, dạy cho rõ Pháp mà kinh nghiệm Tỏ Tánh Tỏ Biết cùng Soi Biết. Nhưng vì vô minh che mờ chẳng hiểu biết, lại than phiền mơ màng trách móc, Pháp Tánh vẫn phải chịu và cũng in tuồng có thực. Đến khi bậc ấy hết phiền trách thì tùy theo các Bậc ấy nói chi, Pháp Tánh liền chịu như vậy chẳng sai.

Đó, Tánh Pháp nó như vậy, nên chi Bậc tu hành theo Pháp Môn TRI KIẾN thảy đều dung hòa chẳng nặng nhẹ trên đường đạo, gìn giữ mức quân bình mà tu. Chớ vì Thuận thương Nghịch ghét, chớ vì Thiện cảm Ác thù, nên bình đẳng TÁNH thời Trí Tuệ sáng soi tỏ tánh Giác Ngộ. Lại nên xuôi dòng bắt chước y theo Tánh Pháp để cầu Thậm Thâm Vi Diệu Pháp.

PHÁP TÁNH CÓ SẴN TÁNH NHƯ SAU:

- Pháp Tánh: Không bao giờ có Cái Muốn riêng cho nó. Ta nên tu học y như vậy.

- Pháp Tánh: Nương cái Muốn của trăm nghìn kẻ khác Muốn, liền sẵn sàng giúp đở theo cái muốn vẹn vừa của họ, ta nên tu học y như vậy.

- Pháp Tánh: Không nên phân biệt Tà Chánh, Nội Ngoại, Khinh Khi, Thương Ghét, Thuận Nghịch, Bỏ Lấy. Bình Đẳng Viên Dung. Ta nên tu học y như vậy.

Những lối tu như vậy là tu TỰ TÁNH soi biết để tỏ Pháp Tánh mà là Hạnh Nguyện Độ Sanh rốt ráo vậy. Bằng chẳng xuôi dòng cứ cố chấp tu theo TỰ MUỐN cho mình là phải, dù vô tình hay cố ý đã đi ngược lại TRI KIẾN, chạy theo SANH TỬ. Vì sao? Vì các Pháp Bình Đẳng, Phật Tánh Bình Đẳng, do không đảo vọng mà Bình Đẳng Tánh Trí. Đặng Bình Đẳng Tánh Trí thời mới đặng tỏ thông các pháp khỏi lầm lạc Sanh Tử. Nếu theo ý mê mờ của mình mà tu thì ý muốn bất Bình Đẳng, đã bất bình đẳng thời vọng loạn vậy.

Pháp tánh nó Bình Đẳng Viên Dung độ lượng thù thắng vô kể, nó có thể đưa từ phàm phu lên ngang hàng với BỒ TÁT, PHẬT. Cũng có thể đem BỒ TÁT, PHẬT vòng quanh theo Lục Đạo để TRÒN NGUYỆN ĐỘ SANH. Vì sao? Vì còn Tập Khí Sanh Tử, chưa rốt ráo.

Pháp Tánh nó rất tế nhị tuyệt mỹ, khả thượng, khả hạ. Nó có thể làm THẦY diễn hành xuôi ngược cho kẻ nhiều ước vọng xa xuôi ảo tưởng mà chìm đắm sanh tử, chịu làm chúng sanh nơi các Cảnh Giới gọi là Chúng Sanh Giới.

Khi nó làm TRÒ nhưng bậc tu biết bình tĩnh thuận dòng tìm hiểu dò xét tánh diễn hành của nó mà tỏ biết đặng Pháp Tánh rốt ráo CHÁNH GIÁC thời Điều Ngự nó, gọi là PHÁP VƯƠNG hay PHẬT chẳng hạn.

LẠI NỮA: CÁI MUỐN nó chẳng phải là không có hẵn đâu. Nó vẫn Sẵn Có Cái Muốn chung cùng tròn khắp Bất Nhị. Nhưng bởi do Lầm Muốn, cái muốn riêng biệt gọi là TỰ MUỐN, cho mình là phải. Nó cứ từ một đến vạn kẻ, mỗi người mỗi kẻ đều có TỪNG CÁI MUỐN của cá tánh nên trở thành ĐẢO MUỐN. Còn Pháp tánh vẫn tùy thuận Cái Muốn cho mỗi kẻ như: Một người Tự Muốn nhận là Phải, thời Pháp Tánh nương theo Sự Muốn ấy in tuồng có LẼ PHẢI. Đến vạn ức triệu kẻ đều dùng TỰ MUỐN cố chấp cho là PHẢI, thời Pháp Tánh đồng nương chiều tất cả, đồng cung cấp tất cả, thảy đều in tuồng có LẼ PHẢI. Do vậy nên dễ lầm mê mà TỰ NHẬN vậy.

Ban đầu khởi sanh cái TỰ MUỐN, sau tự sanh cái THAM MUỐN, rồi cố thủ tham muốn về phần mình mà sân hận lẫn nhau, si mê theo Dục Vọng gọi là NGHIỆP. Từ Nghiệp nầy sang nghiệp nọ mà Pháp Tánh bị Bất Bình Đẳng nên có thanh thô, cao thấp, hơn kém, thành thử cái NGHE-THẤY-BIẾT bất đồng, tạo ra muôn trùng giới hạn, gọi là PHÁP GIỚI, cùng CẢNH GIỚI đến THỤ BÁO hay CHÁNH BÁO vậy.

Khi kẻ Mê bị chìm đắm vào cảnh giới do cái muốn tạo để pháp tánh thị hiện gọi là TƯỚNG PHÁP. Lại đi phân biệt TƯỚNG và TÁNH không đồng mà sai chạy, chớ thật nào ngờ TƯỚNG-TÁNH đều Bất Nhị (không Hai), nó chẳng khác nào: Hạt giống kia có Sẵn cây và Lá cây nơi hạt giống, chớ chẳng phải đem cây và lá cây ở đâu đến.

Vì vậy nên chi Tướng Pháp nó vẫn viên dung đồng bình đẳng, nó cũng đặng sự nương chiều theo chúng sanh muốn mà thị hiện không phân biệt, y như Tánh Pháp cung đốn cho tất cả đặng vẹn vừa. Sự cung đốn nó có thể ban cho tất cả các vật dụng quý báu như: Lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu cùng mã não. Sự cung cấp của nó vô kể đặng. Vì từ trên đến dưới, từ trong ra ngoài, từ Địa Ngục đến Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cùng với QUỐC ĐỘ và PHẬT QUỐC không thiếu sót mảy may nào cả. Nó là một THÁP BẢO khó nghĩ bàn đặng. Nó lại tùy theo Trí Tuệ cùng với sự Hiểu Biết mà Thị Hiện thành hình. Vì vậy nên có Cảnh Giới phải làm mới có. Có Cảnh Giới phải Tọa Định hay Định mới thành. Vì do CĂN NGHIỆP nặng nhẹ thanh thô vậy.

Cái Ý Muốn mà đến hay cái Sự Làm mà đặng như: Có bậc muốn tu TIÊN THẦN hay THÁNH PHẬT thì phải làm theo phương pháp đúng theo vừa hợp mà thành tựu Sở Đắc TIÊN THẦN THÁNH PHẬT. Khi đã đặng thì Pháp Tướng liền Thị Hiện y như chỗ Sở Đắc mà có Cảnh Giới hay Quốc Độ vẹn vừa chẳng thiếu sót.

Bằng kẻ hung bạo tà dâm, vọng ngữ, chém giết, hận dành thảy thảy đều có Cảnh Giới mà phải Chịu Báo khổ đau như: Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục chẳng hạn, không thiếu sót vẫn vẹn vừa.

Có sự Thị Hiện của TÁNH TƯỚNG PHÁP đồng song như thế nên Chư Bồ Tát Ngài biết tỏ rõ sự nguy hại của CÁI MUỐN riêng biệt mà Thọ Báo cùng Chánh Báo, lại biết rõ sự tùy thuận của Tướng Tánh Pháp sự độ lượng dung thông của nó ích lợi vô kể mà các chúng sanh lại TỰ MUỐN tư riêng thành thử Sanh Tử.

NÊN CHƯ BỒ TÁT VĂN THÙ NGÀI NÓI:

“Tất cả nguồn gốc mê mờ do TỰ NGÃ của Tánh chấp nhận cho mình là PHẢI sinh đua vạy trong CÁI PHẢI hơn thua mà đảo loạn".

Vì như vậy CHƯ BỒ TÁT vì BI mà NGUYỆN ĐỘ SANH, dùng phương tiện VÔ NGÃ (tức là mình không có CÁI MUỐN), nương theo CÁI MUỐN của tất cả chúng sanh để cứu giúp làm cho chúng sanh tiêu giảm NGHIỆP MUỐN mà TRI KIẾN GIẢI THOÁT TỬ SANH, đoạt đến Tỏ Tánh Pháp Viên Dung Bình Đẳng, không dính mắc đặng nơi SỞ ĐẮC tận cùng rốt ráo Điều Ngự các Pháp vậy.

NAM MÔ PHÁP TẠNG
ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT MA HA TÁT
TỊNH VƯƠNG

19. CHÁNH BÁO

NẾU nói về CHÁNH BÁO, thời Chánh Báo SẴN CÓ tầm cao nhất của nó là tột đỉnh Bất Nhị. Còn quan sát từng phần Lớn Nhỏ hay Nhỏ hơn nữa thì ai ai cũng thấy đều có cả.

VÍ DỤ: Như Trưởng Giả kia có GIA TÀI giàu sang tột đỉnh lại đầy đủ Phước Đức. Đó chính là Chánh Báo của Trưởng Giả.

Trưởng Giả có một trăm người con, thường ngày gieo trồng sự tạo lấy Phước Đức cùng Hiểu Biết cho con, mong sau nầy làm nên y như Chí Nguyện của Trưởng Giả.

Khi Trưởng Giả lâm chung, Gia Tài kia chia ra mỗi người con một phần. Đến MỘT năm hay NĂM, MƯỜI năm chẳng hạn, các con ấy vẫn nương theo lời Huấn Từ của ÔNG CHA. Họ làm theo hoặc nhiều ít hay chẳng làm là tùy theo chí nguyện của mỗi con, mà trở nên Giàu hay không giàu, hoặc nghèo tự chia ra từng phần. Đó gọi là Chánh Báo Lớn Nhỏ tùy theo sự làm của Tài Đức Phước Trí đặng Thọ Hưởng lâu mau nhiều ít.

Chánh Báo nó lại tùy theo Chí Nguyện, tùy theo rộng hẹp khả năng cao thấp tầm mức. Nếu có kẻ gặp sự vẹn vừa theo sở thích thì họ hào hứng làm mà đặng, tạo lấy mà đến. Chớ không thể nào san sẻ cho nhau về phần Chánh Báo, mà san sẻ cho nhau bằng phần học hỏi hay tu tập, cốt đến mức Tỏ Thông hay Hiểu Biết mà thành tựu nơi Chánh Báo vậy.

Con đường tự tạo trở nên Chánh Báo nó có rất nhiều cái cực kỳ mâu thuẩn, cực kỳ quái lạ, khó mà nghĩ bàn đến nó đặng. Nên có nhiều người cho đó là một THẦN LINH phù hộ hay một THẦN QUYỀN ban cho mà trở nên cung kính van xin cầu khẩn, đó là một điểm rất thường của lắm kẻ phải làm và chịu làm, không còn gì hơn để cầu Chánh Báo.

LẠI VỀ LUẬN GIẢI: Thì phải có Tài-Trí- Đức cùng với Thời hợp chung với Chí Nguyện mới thành đạt đặng, nếu thiếu rất khó mà nên đặng. Bởi thế nên chi có kẻ làm biếng chẳng chịu làm vì chưa hợp theo Chí Nguyện hoặc Tài Năng của họ. Có người sinh sợ chẳng dám làm vì gặp việc quá tầm hiểu biết.

Có kẻ Chí Nguyện lớn nhưng chẳng có Tài, hay có Tài không có Đức, nếu bị thiếu khuyết như thế thì dù có Thời Cơ đưa đến chăng cũng không làm nên được Chánh Báo theo Chí Nguyện của mình, thành gọi nó là kẻ sống trong Ảo Vọng, nhiều hơn Thực Tại.

Về phần ĐỨC THÍCH CA, trước kia là Thái Tử TẤT ĐẠT ĐA, sống trong CUNG VÀNG ĐIỆN NGỌC, có TÀI ĐỨC vẹn toàn. Khi đi lấy vợ Ngài thí võ chẳng ai hơn, lúc ở trong Cung có một con chim non bị tên Ngài đem nuôi nấng lành mạnh thả chim về tổ cùng với Cha Mẹ anh em nó.

Chí Nguyện của Ngài lại Cao Cống hơn tất cả các Bậc VUA CHÚA thành thử mới nhìn thấy nếp sống ích kỷ eo hẹp của VUA CHÚA không vừa với Chí của Ngài. Ngài lại biết rõ cái CHÁNH BÁO ấy không tồn tại bị di chuyển đổi thay.

Còn Chí Nguyện của Ngài thì nếp sống Bình Đẳng có những cái chi để bảo đảm sự sống Bất Tận, làm cho SANH-TỬ-BỆNH-LÃO-KHỔ không xâm chiếm đặng Chánh Báo. Tất cả đều đặng Trường Tồn Bất Biến. Vì Chí Nguyện VÔ TẬN ấy Ngài bèn có ý lìa bỏ Cung Điện. Cũng chính Cung Điện đối với Ngài chẳng còn ý nghĩa chi cả, vì không vẹn vừa theo Sở Thích, theo Chí Nguyện.

Hôm sau THÁI TỬ ra đi. Ngài đi khắp nơi, nhưng không một nơi nào đúng theo Chí của Ngài cả, ngày kia Ngài ngồi dưới cây BỒ ĐỀ đoạt đặng VÔ THƯỢNG CHÁNH BÁO.

Khi Ngài Sở Đắc CHÁNH BÁO VÔ THƯỢNG. Ngài cũng bất ngờ. Vì sao? - Vì Chánh Báo Bất Nhị Trường Tồn Bất Biến Vô Tận, nó chẳng phải như Ngài đã nghĩ, nó vượt tầm lý luận, nó vượt tầm nói năng suy nghĩ, nó chẳng thể chỉ hay nghĩ bàn đặng.

Chính Ngài cũng tự nói:Lạ thay! Lạ thay! THÂN thì Giả Hợp. TÂM không chỗ chỉ. Vậy thì TÂM CHỨNG hay THÂN CHỨNG? - Té ra CHÁNH GIÁC từ lâu, CHÁNH BÁO sẵn có. Do Tự Tánh mê lầm nên riêng rẽ mỗi người một Chí Nguyện, mà chí ấy không đồng trở thành lớn nhỏ, Chánh Báo vẫn nguyên phải bị chia xẻ ra từng mảnh để phân phát cho mỗi một người (chẳng khác sự chia gia tài của Trưởng Giả trên đã nói) cho vẹn vừa theo Chí Nguyện.

Ngài lại quan sát trong thế gian ẤN ĐỘ và ngoài thế gian còn hằng hà sa số Thế Giới, từng lớp, từng lớp khó mà đếm các Thế Giới ấy. Mỗi một thế giới thảy đều có 100 vị VUA để trị vì, thì có 100 Chánh Báo của vị VUA ấy để thụ hưởng. Bằng mỗi một nước có 1.000 vị QUAN liền có 1.000 cái Chánh Báo của vị Quan ấy mà thụ hưởng.

VỀ THƯỜNG DÂN đều có Chánh Báo từng lớp, nhưng không đồng với nhau, có kẻ giàu người nghèo, kẻ sướng bậc khổ. Do thế nên gọi Chánh Báo và Thụ Báo (Chịu Báo) để chia giai cấp lớn nhỏ hay Trung Thượng cùng Hạ. Nhưng ngược lại : Bậc Chánh Báo của VUA QUAN thảy đều có Ba lớp như thường dân chớ không khác mấy. Đó nói về một Thế Giới như THẾ GIAN chẳng hạn.

Còn phỏng theo KINH SÁCH mà nói, thì nơi Chánh Báo VÔ THƯỢNG có vô lượng vô số TAM THIÊN ĐẠI THIÊN Thế Giới. Mỗi một Thế Giới có đầy đủ VUA QUAN và THƯỜNG DÂN.

Cứ tính 1.000 Thế Giới như vậy là: MỘT TIỂU THIÊN. Còn 1.000 Tiểu Thiên là: MỘT TRUNG THIÊN. 1.000 Trung Thiên là MỘT ĐẠI THIÊN. Ba lần Đại Thiên gọi là TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI.

Nếu như lấy Năng Lực cùng Chí Nguyện của Con Người mà suy ngẫm, để từ Thế Giới nầy qua Thế Giới nọ khó mà thâu đoạt đặng Một hay Hai Thế Giới, huống hồ đoạt tất cả TAM THIÊN.

Mà mỗi một nước như vậy có: VUA QUAN và DÂN. Những điểm đó làm cho Bậc tu hành khó TIN mình Làm đặng. Khó TIN mình Đến đặng mà sinh ra thờ ơ tu cho có chứng. Còn ngược lại cũng có những bậc tu hành lại quá tham học theo Kinh Sách ngỡ mình sẽ thành PHẬT nay mai mà sinh Tự Cao Tăng Thượng với tất cả kẻ lân cận mình. Đó là những điều khó nghĩ của các Bậc tu hành vậy.

Nên chi ĐỨC THÍCH CA khi Ngài đoạt đặng VÔ THƯỢNG CHÁNH BÁO thì đối với Vô Lượng Vô số Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới là một TRÒ CHƠI của Ngài, chớ chẳng phải là một Chánh Báo Trường Tồn Bất Biến. Vì sao? - Vì Ngài tận biết Chánh Báo mà lãnh lấy, thì đối với hư vọng là một trò đùa.

CŨNG NHƯ: Bậc kia thấy đặng viên NGỌC MA NI, bèn lấy VIÊN NGỌC, chớ chẳng thèm lấy ÁNH SÁNG của Ngọc vậy.

Ngài lại Tận Biết nguồn gốc mê lầm của tất cả chúng sanh vì bị nhiễm độc, có thể cứu được nếu là kẻ chịu uống thuốc giải độc. Ngài mới dùng tất cả các phương tiện để cứu độ.

CHẲNG KHÁC NÀO:VỊ LƯƠNG Y kia chửa bệnh cho Ông Trưởng Giả nọ. Giàu sang tột đỉnh, đang nằm trong tòa LÂU ĐÀI của Ông, mà miệng đòi giàu sang thèm khát. Bởi Tự Tánh điên loạn mê sảng. Đó chính là những điểm mà Đức THÍCH CA mong đưa chúng sanh từ mê mờ trở nên GIÁC NGỘ.

Phần Chúng Sanh lại ưa thích đòi hỏi Chánh Báo giàu sang Vua Chúa, lên cao từng lớp của Tam Thiên mà thọ hưởng. Ngài phải vì chúng sanh diễm nói các Thọ Báo của TIÊN THẦN, các Cõi TRỜI HỶ LẠC đầy Châu Ngọc, để lần hồi đưa sự hiểu biết cho chúng sanh thay đổi Tâm Chí, thay đổi Hạnh Kiểm. Từ nơi đảo loạn quay cuồng trở về bình tĩnh Nhất Tâm, từ chỗ thờ ơ trở thành cương quyết, từ nơi rụt rè sợ hãi trở nên thù thắng Kim Cang, làm cho chúng sanh dám lãnh Chánh Báo Bất Tận vậy.

Nếu giữa thời có PHẬT, nơi PHÁP HỘI Ngài chỉ bày tu tập không thiếu sót, Tuyệt Mỹ Thượng Thặng vẹn toàn, trong khi ấy mà Bậc nào TRỌN TÍN lãnh hội, thì Bậc đó đồng SỞ ĐẮC VÔ THƯỢNG CHÁNH BÁO y như Ngài không sai khác.

Ngài rất khéo tùy thuận theo căn cơ của Chúng Sanh mà thuyết pháp, khi tấn lúc thối, khi nâng lúc Phá Chấp. Khi làm cho chúng sanh trở thành THAM MUỐN, để trở lại KHÔNG THAM. Lúc nói thẳng TỰ TÁNH làm cho chúng sanh Tự Tín vào pháp môn tu tập của mình.... Bao nhiêu những sự khôn khéo chỉ bày, bao nhiêu những lời Báu Ngọc Dưỡng nuôi, làm cho Tự Tánh rực rỡ mở mang mà Giác Ngộ, làm cho Hòa Hợp Mình và mọi người Đồng Nhất. Làm cho Bốn loài thoát sanh, làm cho HỮU VÔ Bình Đẳng tỏ ngộ sự lầm lẫn Bờ Ngăn, làm cho Tự Biết tận cùng CHÁNH BÁO đặng thọ lãnh.

Ngài lại căn dặn sự tu hành đời sau trong Kinh VIÊN GIÁC như:“Đời sau nếu các Ông gặp đặng THIỆN TRÍ THỨC chỉ bày tu tập, Bậc ấy là PHẬT, mà các ông TRỌN TIN VÂNG lãnh hội thì các ông cũng đặng thành PHẬT. Các ông gặp BỒ TÁT, Tin Vâng lãnh hội liền đặng thành BỒ TÁT. Gặp LA HÁN hay BÍCH CHI Tin Vâng lãnh hội liền đặng thành LA HÁN BÍCH CHI. Hoặc giả gặp NGOẠI ĐẠO TÀ GIÁO đồng Tin Vâng lãnh hội liền thành TÀ GIÁO NGOẠI ĐẠO vậy.”

Sau lần lượt các TỔ theo DI TRUYỀN, TRỌN TIN tu sửa cấu tạo CHÍ NGUYỆN nung đúc lề lối, vẫn Thuyết Pháp Độ Sinh, vẫn làm theo các TÔN CHỈNH ĐẠO TRÀNG, Đồng Hợp với Chí Nguyện của THẾ TÔN chẳng sai khác, thảy đều thành tựu CHÁNH BÁO VÔ THƯỢNG đặng VIÊN MÃN nhập NIẾT BÀN in như PHẬT.

Con đường DUY NHẤT TRI KIẾN GIẢI THOÁT lãnh CHÁNH BÁO VÔ THƯỢNG chư PHẬT đã đặng, Chư TỔ đã chỉ bày liên tiếp không ngừng, thời nào cũng có, con đường ấy là BỔN NGUYỆN chung.

Nếu những Bậc tu hành lập CHÍ NGUYỆN mà tu sửa cầu lấy tiến bộ hiểu biết, nương theo HẠNH NGUYỆN của BỒ TÁT HẠNH mà tu đồng với CHÍ NGUYỆN BẤT BIẾN thời đặng Tri Kiến Giải Thoát đều đặng CHÁNH BÁO TRỌN VẸN VÔ THƯỢNG vậy.

NAM MÔ GIÁO CHỦ HIỆN TẠI
BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

18. PHI NHÂN DUYÊN

PHI NHÂN DUYÊN là một PHÁP mà Chư BỒ TÁT cùng Bậc CHÁNH GIÁC đã thấu tỏ. Các Bậc ấy thường thâm nhập PHI TỨC và TỨC PHI không lầm lấy một Pháp. Nên Vô Ngại Tự Tại Thân Tâm VIÊN TỊCH ra vào VIÊN GIÁC. Bởi vậy nên tất cả việc làm, cùng với cử chỉ đều vì HẠNH NGUYỆN ĐỘ SANH khó nghĩ bàn hay phê phán đặng.

Lúc vì Bổn Nguyện nên Chư BỒ TÁT Chơn Giác vẫn đồng nương theo Nhân Duyên Pháp, lại thường nói Pháp NHÂN DUYÊN làm cho Chúng Sanh không nhàm chán Đạo Tràng mà rời bỏ trên con đường TU PHẬT. Trong một thời gian đầy sự HIỂU BIẾT, tánh tình Bình Dị, nói năng thuần túy, Tâm rỗng rang, lại ý chí Kiên Dũng đầy đủ Đức TIN con đường TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Trong khi ấy các Nghiệp Đảo Vọng lần lần tiêu giảm. Chư CHÁNH GIÁC tùy thuận theo đó mà nói Pháp PHI NHÂN DUYÊN, để Chúng Sanh tự tỏ phá chấp NHÂN DUYÊN PHÁP. Đó chính là một phương tiện làm cho Chúng Sanh chẳng Chấp Pháp mà Rõ Biết sự tu hành là một Phương tiện Cứu Cánh Giải Thoát, chớ chẳng phải TU để vào mắc trong NGHIỆP TU vậy.

Do đường lối chỉ bày khéo của Bậc TRI ĐẠO và Khéo THUYẾT ĐẠO, nên từ MÊ LẦM tu đến KHÔNG LẦM, từ chấp pháp NHÂN DUYÊN tu đến PHI NHÂN DUYÊN cũng không. Biết thấu PHI TỨC liền lạc sự TỨC PHI hoàn toàn không Tập Khởi mà vào CHƠN GIÁC.

Sau đây là PHẨM PHƯƠNG TIỆN vì Tình Thương DUY NHẤT, vì HÀNH NGUYỆN ĐỘ SANH của Chư BỒ TÁT và Chư PHẬT, phơi bày tất cả sự PHI TỨC cùng TỨC PHI, NHÂN DUYÊN hay PHI NHÂN DUYÊN trong các Pháp vì sự lầm mê đảo loạn mà tùy thuận nương chìu để diễm nói làm cho Chúng Sanh tu hành đặng Chơn Giác. Chớ thật ra Chư BỒ TÁT cùng CHÁNH GIÁC chẳng có chi gọi là PHÁP PHẬT. Vì Chúng Sanh mà có PHẬT PHÁP vậy.

PHẨM PHƯƠNG TIỆN

Vào thời quá khứ A Tăng Kỳ Kiếp nọ. Có Trưởng Giả tên KIÊN ĐỀ NI bị sanh trong một nước. Nước ấy DÂN CƯ đông đảo, nhưng cực khổ vì MƯA không thuận, Gió chẳng hòa, thường bị Thiên Tai Thủy Ách. DÂN CƯ thì đa số nghèo cực ít kẻ giàu sang, nhọc nhằn hơn là Sung Túc. Mỗi một ngày chưa VUI trong một lúc, Mỗi một tháng chưa hưởng Sướng được một ngày. Mỗi một năm chưa đặng an vui trong một tháng. Phần nhiều yếu đau hơn lành mạnh, lo sợ hơn Sống Yên, Phiền Não hơn Sướng Vui. Vì lẽ ấy nên DÂN CƯ tranh giành bởi mong sao tấm thân Nhàn Hạ. Thù Hận vì món ăn manh áo, chém giết vì Được Mất Hơn Thua. Nhai nuốt vì thèm khát, Dâm dục bởi ước mơ. DÂN CƯ không ngừng sự đòi hỏi mà tự gây tạo Trả vay cùng Vay trả vậy.

Trưởng Giả KIÊN ĐỀ NI được một cái là Giàu Sang Sung Sướng hơn Dân Cư. Ý Chí và Tâm Tánh rộng rãi hơn Dân Cư. Biết thương đám Dân Cư vì bị nghèo. Nên chi Trưởng Giả thường giúp đở bằng mọi cách nhưng với mức độ có hạn, không thể cứu giúp theo Chí Nguyện của Trưởng Giả.

Trưởng Giả thường quan sát hay suy nghĩ nhận xét thấy Dân Cư các khía cạnh như: Lam lũ vì ý chí yếu hèn, Thấp thỏi trong các nghề nghiệp của mưu sanh. Trưởng Giả càng ngày lại càng tỏ tình thương hại.

Một hôm Trưởng Giả nghĩ thầm và quyết định tự nói: TA không thể ngồi yên mà suy nghĩ khi Dân Cư: SANH TỬ BỆNH KHỔ. TA phải làm và phải tìm phương thức cứu nguy. Chí nhất định xong bèn thu xếp hành trang tìm cho đặng Ngọc LƯU LY HOÀN CHÂU đem về giải ách. Trưởng Giả bước ra khỏi cửa: Bèn ngước mặt lên Hư Không tỏ bày sự cao cả chung cùng tròn khắp, êm ấm bất tận với mọi người có những gì đem lại Dân Cư.

Trưởng Giả mỗi một mình nhắm hướng Đông đi mãi. Ngày... Tháng... lần qua theo gót chân Trưởng Giả... Khi qua khỏi rừng lúc qua khỏi Núi, cùng với chim hót gió đưa trong BA NĂM ròng rã. Đến một con Sông rộng, choáng lối đi chẳng còn cách gì đi đặng nữa. Trưởng giả liền vào khu rừng bên cạnh lấy SÁU KHÚC CÂY đóng BÈ chắc chắn và một gậy Trúc làm sào lướt qua SÔNG CÁCH...

Thân Tâm Trưởng Giả êm dịu đến bãi cát vàng xinh xắn, gió mát cảnh vui, muôn màu tươi sáng. Trên bãi có một ngọn THÁP óng ánh mái vàng. Trưởng Giả từ từ đi đến, thấy có tấm Biển đề hai chữ BẢO CHÂU. Trưởng Giả lòng mừng bước vào có VỊ SƯ đã đón sẵn.

Hai bên chào hỏi đầy đủ nghi lễ và cùng nhau ngồi thứ lớp Trưởng Giả đứng lên nghiêng mình xá VỊ SƯ: Thưa gởi tất cả Ý Định của Mình và mong tìm LƯU LY HOÀN CHÂU về cứu giúp Dân Cư đang bị: SANH TỬ BỆNH và KHỔ, đặng lành mạnh an vui giàu sang bất tận. Vị SƯ bình dị lại thong thả nói: Nầy Trưởng Giả, ở đây chẳng thiếu chi châu báu, chẳng thiếu chi Ngọc Bích Trân Châu, chẳng thiếu chi Cành Vàng Hoa Ngọc, chớ chẳng riêng gì Lưu Ly Hoàn Châu của Trưởng Giả vừa nói. Nhưng các Châu Báu ấy nó có thể làm cho Vui Thích một hồi rồi cũng chán. Nó có thể làm cho Áo đẹp Nhà sang, rồi cũng không ngừng lòng Tham Muốn. Nó có thể cung cấp cho các món ăn ngon ngọt rồi cũng nhàm, chớ không tồn tại vì viễn vông, chớ không giải khổ đau vì Sanh Tử. Nó chẳng tận cùng của tập khởi não sanh, nó chỉ ĐỘ một đoạn đường vì Công Đức. Vì sao? -Vì nó còn SẮC VỌNG.

Trưởng Giả nên qua khỏi BIỂN CẢ NĂM MÀU không mắc miếu đến ĐÔNG ĐỘ DƯỢC SƯ mà thọ lãnh HOÀN CHÂN BẤT BIẾN. Nói xong vị SƯ chu cấp tất cả các vật dụng, đưa Trưởng Giả đến bờ biển NĂM MÀU, Trưởng Giả lòng không nghi kỵ, Vị SƯ lại lấy trong tay áo ra Chiếc Thuyền xinh xắn nhẹ nhàng đặt trên mặt biển.

Hai bên cáo biệt nhau và cầu chúc nhau xong, chiếc thuyền nọ trở thành to lớn đầy đủ tiện nghi cho Trưởng Giả. Thuyền xuôi dòng trên mặt nước, qua Năm Màu sắc lạ lùng như: NGHI, SỢ SỆT, NÔN NÓNG, MONG MUỐN cùng NGẪN NGƠ... Nhưng đối với Trưởng Giả vì tình DUY NHẤT chẳng riêng tư, không cầu cạnh, Nhất Tâm BI DŨNG, HẠNH NGUYỆN ĐỘ DÂN, nên không chán nản, chẳng hoài nghi, lướt qua các ngọn Sóng diễn từng MÀU thay đổi, Tâm không Sờn, Ý chẳng động vọng, trọn 49 ngày đêm qua BỜ BÊN KIA.

Khi Trưởng Giả vừa đặt chân lên bờ, Trưởng Giả tự nói: Lạ thay! Lạ thay! Không còn ngọn gió đảo điên, chẳng còn tối tăm mờ mịt. Không còn Thân Tâm động vọng. Chẳng còn Tập Khí Viễn Vông. Không còn nghi ngờ Hai Pháp. Chẳng còn phân đôi Thân Cảnh. Không còn để nói Duy Nhất CÓ-KHÔNG. Đâu là PHI? Đâu là TỨC? Đâu đâu trùm khắp Viên Dung , khó nói, khó bàn, khó biện minh ra đặng. Vì sao? Vì vượt tầm lý luận, vượt tầm hiểu biết nói năng, duy chỉ có SỞ ĐẮC mà thôi.

Trưởng Giả ngồi yên lặng, quan sát Dân Cư trong nước Bị Sanh, trong Cảnh Bị Giới, Trưởng Giả thật biết BỔN LAI nguồn gốc không đảo vọng, không tranh giành phân biệt, không chia rẽ thù hằn, không chém giết nuốt nhai, không chê khen phải quấy, không Ái Nịch gần xa, không đắm say Thiện Ác, không Đạo Đức cũng không lìa bỏ Đạo Đức. Tất cả thảy đều VIÊN TỊCH ĐẲNG MINH CHÁNH GIÁC, vẫn khó bàn, khó nói, vượt tầm biện luận, không Hai chẳng khác sai VÔ THƯỢNG.

Trưởng Giả lại chân biết: Dân Cư bị sanh trong nước. Nước ấy hiện hành có BỐN CON QUÁI. Bốn con ở bốn nơi Đông Tây Nam Bắc. Bốn con Quái ấy ngày đêm thi nhau phun hơi độc làm cho DÂN CƯ biến TÁNH CHÂN NHƯ trở thành NÓNG LẠNH LỘNG HÀNH. Bốn Tánh ấy nó cũng là CÁI MUỐN và NGHĨ làm theo ý nghĩ, trở thành tư riêng vị kỷ thành thử có muôn ngàn vạn pháp gọi là NGHIỆP, chớ Dân không có Nghiệp (do vậy PHẬT nói chúng sanh bị nhiễm độc mà mê lầm) lại lầm nhận là Mình. Bốn chất độc ấy nó cũng thành SÁT-ĐẠO-DÂM, chớ Dân Cư Bổn Lai không có Sát-Đạo-Dâm, nhưng nhận là Mình thành có Sát-Đạo-Dâm. Chất độc nó là một mối giềng đối đải không ngừng, chớ dân không có Đối Đải, vì trót Mê mà có đối đải. Vì Tập Khởi và Chấp nhận nên bị nhiễm SANH TỬ LUÂN HỒI.

Bốn con Quái ấy nó lại phun hơi độc lên Hư Không và Biển Cả. Nên trên Hư Không có từng đám mây buông tỏa, có Năm Màu Sắc chuyển xây, có gió lộng không ngừng, có đốm sao cùng khắp biến thể mặt Trời, mặt Trăng tiêu biểu cho TỐI SÁNG ĐÊM NGÀY.

Dưới nước có SÓNG NGHIỆP diễn thao tượng trưng cho Thế Gian lăn lộn các Nghiệp không ngừng, khổ sướng tranh nhau và vẫn có NĂM MÀU không khác với HƯ KHÔNG vậy.

Còn nơi đất liền nhà cửa Dân Cư vì điên loạn mê mờ trở thành SẮC THỤ TƯỞNG HÀNH THỨC, chung lại Ngũ Ấm Lục Trần hay còn hơn thế cũng vì Đảo Loạn thọ chấp nên hình quay cuồng tham muốn. Trưởng Giả lại biết tỏ rõ tận cùng nguồn gốc Tử Sanh thay phiên đổi lớp, diễn biến từng Cảnh, vì tập khởi mà thành, vì chấp vọng ái nịch trong Nhân Duyên mà bị, diễn nên tấm tuồng Vợ Chồng, Con Cái Lớn Nhỏ Bà Con Nội Ngoại quyến thuộc quay quần trong tình Đồng Nghiệp, Trưởng Giả chân biết tỉ mỉ cùng khắp tận từ không thiếu sót mảy may, bèn đứng dậy phủ áo đâu đấy xong xuôi lấy chiếc Thuyền thâu nhỏ bỏ vào tay áo, bước một bước về đến nhà.

Lúc bấy giờ Dân Cư hay tin Trưởng Giả đã về và đã tìm đặng nhiều báu vật bố thí cho Dân. Họ cùng nhau bàn tán, nào là cả gánh, cả khiêng, cả bao cả bọc, mỗi người được một viên thì giàu sang vô kể. Họ mới sắp đặt từng lời nói, từng cử chỉ để biện minh Gia Cảnh mong được sự cứu giúp nhiều hơn.

Khi bàn định xong đâu vào đó, họ bèn cùng nhau đến nhà Trưởng Giả. Kẻ nói chuyện nầy, người kể cảnh nọ, đua nhau mà bày tỏ.... Trưởng Giả bình tỉnh để cho Dân Cư bày tỏ đâu vào đó xong, Trưởng Giả bèn đem chuyện thật ra mà nói, Dân Cư thảy đều ngơ ngác nản chí nên chẳng hiểu đặng, nghe đặng mảy may nào, lại thêm buồn ngủ, kẻ ngáp dài, người thời ngứa ngáy bồn chồn, cùng nhau bỏ ra về chẳng còn lấy một người ở lại.

Trưởng Giả mới nghĩ: Lạ thật! Lạ thật! Tại sao Dân Cư chẳng nghe được lời TA nói? Chẳng TIN TA chân thật? Tại sao nói Thật Tướng không thọ lãnh đặng? Ta chỉ bày mối lợi vô kể mà không nhận, lại đòi hỏi cái điên cuồng nhỏ nhen không bền chắc? Tại sao vậy? Vì sao vậy?

Trưởng Giả lại quan sát: Từ trên đến dưới, từ trong ra ngoài, từ sơ nhiễm đến tập nhiễm, từ sơ khởi đến tập khởi, từ Khởi Tín đến TIN VÂNG, từ ưa muốn đến không muốn, từ không muốn đến đặng muốn, từ chưa nghe đến đặng nghe, từ chưa thấy đến đặng Thấy, từ chưa biết đến đặng biết. Từ một Pháp đến vạn pháp lầm chấp, nhận lãnh mà điên loạn, theo sự điên loạn mà Khởi Muốn cũng điên loạn nên BỊ SANH CHỊU TỬ phải xuôi dòng trong Di Chuyển mà luân hồi Sanh Tử.

Trưởng Giả soi khắp các CĂN NGHIỆP điên loạn ưa muốn không Đồng của DÂN CƯ vì tập nhiễm thanh thô nhiều ít, nên phát sanh khôn dại Tốt Xấu Giàu Nghèo mà tượng trưng cho Chánh Báo Y Báo cùng Phước Báo để trả vay. Mỗi mỗi không sai chạy vì Bốn CON QUÁI làm chủ ban cho nhiều ít. Phun hơi độc hóa sanh sanh hóa. Nó lại làm cho tất cả vật dụng cây lá biến thành muôn hình vạn cách cho Dân Cư ăn thôi ngoài ra chẳng có chi là khác cả.

Trưởng Giả đã quan sát tất cả chu đáo, bèn giả làm điên loạn cho phù hợp thích nghi từng lớp Dân Cư, làm cho Dân Cư ưa thích dùng phương tiện ấy để dìu dắt Dân Cư đặng qua Bờ BẾN GIÁC, thụ lãnh HOÀN CHÂN là mục đích chính của Trưởng Giả vậy.

Trưởng Giả mới hô hào: TA ĐẶNG HOÀN CHÂN, TA ĐÃ CHÁNH GIÁC. Các ông mê mờ vì Vô Minh che lấp Sanh Tử Luân Hồi. Muốn đặng như TA phải TIN TA chỉ bày Nhất Tâm Kiên Dũng đặng thụ lãnh HOÀN CHÂN THIỆN MỸ, Giải Thoát TỬ SANH, THƯỜNG CÒN BẤT TẬN.

Từ ấy Trưởng Giả chung cùng với đám DÂN CƯ tùy theo căn cơ mà diễm nói các pháp, lần lượt có kẻ nghe hơi được, có người Được cùng chưa Được. Trưởng Giả dùng Nhân Duyên làm một mối liên hệ cho Đạo Tràng. Lấy Nhân Duyên Sanh làm sự tăng trưởng Trí Tuệ. Lấy Pháp Tứ Đại làm cho chẳng chìm đắm và thân điên loạn. Lấy 36 Pháp Bất Tịnh giảng giải làm cho chung cùng Bình Đẳng. Lấy Vô Ngã làm pháp né tránh chỉ chỗ điên loạn Dân Cư. Trừ giảm Ái Nịch mà nói pháp Vô Thường. Giải hận thù mà nói pháp Đại Bi. Mở Tâm Bủn Sẻn nói pháp Bố Thí. Phá Tánh buông lung mà nói pháp Tinh Tấn Nhẫn Nhục. Trên con đường chỉ dạy cho DÂN CƯ khi Thuận lúc Nghịch, khi khen lúc chê, tùy tùy theo để diễm nói, miễn cho Dân Cư Trí Tuệ Tăng Trưởng Tâm Ý rỗng rang Tánh Bình Đẳng, sáng soi Nghiệp Thức cùng Vọng Khởi của Bốn CON QUÁI mà mình lại lầm nhận. Sau khi Tỏ Biết không còn lầm nó nữa gọi là Tỏ Tánh cũng gọi là GIẢI THOÁT của: CHỈ ĐỊNH DUY NHẤT vậy.

Khi ấy đặng Tự Tại Vô Ngại vì RÕ các Pháp. Cũng như kẻ rõ biết mình CÓ bệnh điên loạn vì bị nhiễm độc do bốn con Quái nên chữa đến KHÔNG còn bệnh. Chớ chẳng phải chính BẢN THÂN của mình không đâu. Chẳng khác KHÔNG TA trong thời điên loạn, CÓ TA Chánh Giác chung cùng trùm khắp Bất Nhị. Lắm Bậc CHẤP KHÔNG vì chưa Tỏ Tánh nên bị sa vào PHI PHI TƯỞNG.

Lúc ấy Trưởng Giả biết tầm hiểu biết DÂN CƯ bèn nói pháp PHI NHÂN DUYÊN và chỉ bày HẠNH NGUYỆN, để rõ lối Mê Lầm của mình, đặng SẠCH NGHI qua BỜ BẾN GIÁC vậy.

Bấy giờ NHÀ VUA nghe tin Trưởng Giả tìm đặng CHÂU QUÝ BÁU LẠ nhà Vua bèn nghị bàn với các QUAN. Qua ngày hôm sau cùng với Hoàng Hậu Thái Tử Cung Nga Mỹ Nữ và Quan Quân đem theo Ngựa xe Lọng Phướng và Voi Lạc Đà để chuyên chở Hành trang. Lại tất cả Nam Nữ trong Cung và ngoài Thành đồng đi theo Nhà Vua đến nơi Trưởng Giả để cầu hỏi.

Trưởng Giả đã biết Nhà Vua đến, nên Ngài bảo DÂN CƯ đâu đó ngồi êm bất động, Một khẻ không khua, duy chỉ có Gió vẫy cành cây, mây luồng theo gió.

Nhà Vua cùng tất cả đến nơi, để ngựa xe voi lạc đà mà đi bộ. Nhà Vua vừa đi vừa nghĩ thầm:TA chưa bao giờ đặng chốn êm lặng như thế nầy, chưa bao giờ để cho cây cỏ sống tự nhiên, chưa bao giờ để cho CUNG NGA yên giấc, chưa bao giờ để tiếng nhạc nghỉ ngơi, chỉ trừ khi Ta êm giấc. Nhà Vua lại nhìn xét các Quan Hầu, các quân lính cùng khắp mọi người chìu chuộng Nhà Vua, chăm sóc Nhà Vua từng ly từng tí, chẳng khác nào nuôi nấng trẻ thơ sinh, gìn giữ bảo vệ Nhà Vua chẳng hơn người bị canh gác trong một qui định của thiên nhiên bắt buộc. Nhà Vua nghĩ đến đó liền đưa tay khoát QUAN QUÂN HẦU CẬN dừng bước đi sau, để Nhà Vua tự do đi trước. Khi đi Nhà Vua thầm nghĩ nhận thấy khoan khoái lạ thường, thung dung vô kể. Nhà Vua lại tự cho là BÁU LẠ giúp ta chăng, liền có một sự vui vẻ cực kỳ làm cho Thân Tâm kính mến.

Nhà Vua đến trước Trưởng Giả cung kính vái chào, Trưởng Giả nghiêng mình đáp lễ, Vua Quan thứ lớp ngồi yên đâu vào đó. Nhà Vua bèn đứng dậy thưa hỏi: Tất cả các Châu Báu mà Trưởng Giả tìm đặng có vật nào là quý hơn cả? Vật ấy có phép lạ chi chăng? Trấn an thế nào? Bền bĩ đến đâu? Xin Trưởng Giả giải đáp.

Trưởng Giả nói: Kính thưa NHÀ VUA, các Báu tôi tìm đặng rất nhiều không thiếu sót, vật nào nếu hợp việc dùng thời quý hơn cả: Cũng pháp lạ vô cùng, cũng trấn an trộm cướp, cũng bền bỉ bất tận. Nhưng có một cách lạ lùng, cho mà không lấy được. Vì sao?

Vì tự hạ phàm phu. Tự tăng Thánh Sống
Gìn giữ CỦA MÌNH. Cho Ta là phải
Đuổi bắt Hư Danh. Theo toàn Vọng Ước
Bất Tín Hồ Nghi. Cản ngăn sự lành

Những cái ấy, nó làm cho KHÔNG THẤY đặng, KHÔNG NGHE đặng lại KHÔNG BIẾT đặng của CHÂU BÁU, thời làm sao mà thọ lảnh?

Nhà Vua thưa hỏi:
Làm thế nào đặng THẤY?
Làm thế nào đặng NGHE?
Làm thế nào đặng BIẾT?

Trưởng Giả nói:
Muốn THẤY vật lạ Phải làm SỰ lạ
Pháp lạ khó NGHE Nhà VUA phủ xả
Tất cả THIỆN ÁC TÂM Ý rỗng rang

Để nghe tôi nói:
Nhà Vua bèn ngồi yên Bất Động.
Trưởng Giả nói: Nầy NHÀ VUA:
Chỉ Quán Thân Ta. Như chết chưa chôn
Buông xuôi Thương Ghét. Quan Sát Thế Gian
Quá MUỐN thành Tham. Điên loạn Dọc ngang
Nên thành Thuận Nghịch. Luyến yêu Ái Nịch
Xoay chuyển mịt mù. Được Mừng, Mất giận
Riêng TA không hận. TÂM Ý rỗng rang
Tánh THẤY quân bình. Báu hết rung rinh
Gọi là NHÃN TỊNH. Đó là CÁI THẤY

CÁI NGHE:
Nghe pháp lạ không NGHI Cũng không nhàm chán
Cầu Tiến không ngừng. Ví người mài gươm báu
Miễn bén là hơn. Đặng CÁI NGHE Bất Nhị

CÁI BIẾT:
Biết nhỏ chẳng chê Biết lớn không mừng
Biết nhiều chẳng Phách. Biết lắm không thôi
Chừng nào CHÁNH BIẾT. Mà Đắc TẬN BIẾT
Thọ lãnh HOÀN CHÂN THIỆN MỸ

Nhà Vua nghe xong mừng rỡ liền đảnh lễ Trưởng Giả và nói: Chưa bao giờ được NGHE, nay đặng NGHE. Chưa bao giờ Thấy những cái khó làm, nay Quyết Làm. Chưa bao giờ muốn Biết những cái Khó Biết, nay Quyết Biết.

Nói xong Nhà Vua bèn hỏi các DÂN CƯ các Pháp nào đã đặng? Các món nào đã đến? DÂN CƯ đồng thưa với NHÀ VUA:

Cái ĐẶNG đều khó đem bày
Lần hồi được Biết mới hay kia mà
Nào đem Tỏ nói chỉ ra
Nhất Tâm BI TRÍ, rõ hòa CHÂN NHƯ.

NHÀ VUA nghe xong lại hỏi tất cả Hoàng Hậu Thái Tử cùng với Quan Quân và Cung Nữ, ai muốn về TRIỀU thì tự ý về. Tất cả đều thưa: Muôn tâu Bệ Hạ, Bệ Hạ cho chúng tôi đồng ở lại, một là gần Trưởng Giả để học NGHE THẤY BIẾT Bản Thân. Hai nữa gần Bệ Hạ để hôm sớm cùng nhau cho trọn nghĩa Quân Thần.

Nhà VUA nói: Ta khá khen cho các ông, biết chọn Bản Chân mà xa lìa Danh Lợi, Cầu GIÁC hơn cầu giàu sang hư Vọng. Vậy các ông cùng ở lại.

Từ đó ở lại tu tập Trưởng Giả chỉ bày không thiếu sót. Khi đặng TIN VÂNG KÍNH trọn vẹn thuần túy, Trưởng Giả và tất cả ra đi.

Vẫn qua các khu rừng và các dãy núi như trước, vẫn lướt khỏi SÔNG CÁCH... lên đến bãi cát Vàng, thời ngọn tháp BẢO CHÂU đương nhiên to lớn Mái Tháp trổ ánh vàng rực rỡ, cây cảnh tươi vui êm dịu, tiếng nhạc du dương, các loài chim như Khổng Tước, Oanh Võ kêu vang mừng rỡ, muôn màu sắc đều có Hào Quang soi sáng Dân Cư cùng tất cả nhẹ nhàng khoan khoái khó mà kể đặng.

Khi ấy có một số Dân Cư quá ư mừng rỡ mến tiếc phân vân, liền đến van xin Trưởng Giả cho được ở lại nơi đó mà tu. Trưởng Giả vừa đồng ý ưng chịu, tức thời cũng trong lúc đó trên ngọn Tháp bỗng tiếng chuông ngân vang dậy, mùi hương bay tỏa khắp nơi bãi cát vàng trở thành muôn Châu vạn Ngọc.

Nhà Vua cùng Dân Cư thưa hỏi: Kính thưa Trưởng Giả, vì nhân duyên gì mà nơi đây lại có các Châu hiện khắp, có hương và hào quang tô điểm muôn màu, khi Trưởng Giả ưng chịu cho một số xin ở lại. Trưởng Giả nói: Các Ông cũng nên biết rằng: Số xin ở lại là vì SẮC VỌNG chưa liền, TẬP KHỞI chưa hết, MONG MUỐN chẳng sạch, mến thương luyến tiếc, xin ở lại để mà tu, Khi các bậc ấy tu xong sẽ THẤY, sẽ BIẾT, sẽ gặp VỊ ĐẠI GIÁC đưa qua Bờ BÊN KIA vậy.

Trưởng Giả nói xong bèn với tất cả mọi Dân Cư, Nhà Vua đều ra đến Biển NĂM MÀU, lúc ấy tất cả thảy đều không còn lấy một Nghi Ngại nào cản ngăn hay xâm chiếm đặng. Vì nhờ như vậy nên rỗng rang bình dị. Trưởng Giả bèn lấy trong tay áo một chiếc thuyền, lại nhẹ nhàng đặt trên mặt nước. Thuyền bỗng trở thành to lớn đầy đủ tiện nghi chẳng thiếu sót. Tất cả vừa bước lên thuyền đâu đấy xong xuôi bỗng trên hư không có tiếng nhạc Trời các Hoa Đàm trải khắp mặt biển. Lại có tiếng tán thán không ngừng của các hạt Châu rơi sáng cả Biển.

Nhà Vua cùng Dân Cư đồng thưa hỏi: Trưởng Giả mới nói: Các Ông cũng nên biết rằng: Tiếng nhạc Châu rơi cùng những lời Tán Thán ấy là do BỐN VỊ HỘ PHÁP khi còn ở nơi đây mà nói thế. Đến lúc vào Bờ BÊN KIA, BỐN VỊ ấy chính là NHƯ LAI TẠNG, cũng gọi là PHÁP TẠNG trợ duyên cho các Ông. Khi còn mê mờ BỐN VỊ ấy giả đò làm BỐN CON QUÁI, đó chính là một BỔN NGUYỆN thôi, các Ông chớ nghi, chớ nghĩ bàn. Vì sao? -Vì việc làm của NHƯ LAI khó nói.

Các Bậc đều đảnh lễ ngồi im lặng.

Khi vừa đến bờ bên kia, đồng bước chân lên bờ đồng nhau thảy đều nở một nụ cười bất tận.

So vào PHẨM PHƯƠNG TIỆN trên đây đủ nhận thức mà rõ biết pháp PHI NHÂN DUYÊN đối với Chư BỒ TÁT cùng với Bậc ĐẠI GIÁC mà thôi. Còn ngoài ra phải nương theo Nhân Duyên Pháp tu hành, nếu trong sự PHI TỨC (Có Không) chưa đặng tỏ rõ tận cùng, chớ nên vì lối nhận lờ mờ phá chấp, tự sinh Tăng Thượng để phán phê tất cả việc làm của BỒ TÁT đồng xem Kinh chỉ vào việc làm của PHẬT hay lời nói của PHẬT vội cho mình đã biết mà bị lầm.

Đối với Chư BỒ TÁT trong thời Độ Sanh vì chúng sanh dùng tất cả Phương Tiện cùng nương theo Nhân Duyên mà chỉ bày dạy dỗ chúng sanh khi làm THUẬN lúc làm NGHỊCH HÀNH, hoặc giả có muôn ngàn Sở Chấp chăng cũng không có một Chấp. Vì sao? Vì Hạnh Nguyện mà in tuồng như vậy, chớ thật Chư BỒ TÁT trơn liền không mắc miếu TỨC PHI nên chẳng có PHI-TỨC.

Vì vậy cho nên Chư BỒ TÁT càng ngày càng Phước Điền Tăng Trưởng chớ không có tội, chỉ vì BỔN NGUYỆN mà thôi.

Tất cả các Bậc tu hành nên nương theo NHÂN DUYÊN mà tỏ biết PHI-TỨC cùng TỨC-PHI đặng vào CHƠN GIÁC vậy.

NAM MÔ ĐÔNG ĐỘ HIỆN GIÁC
DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI

17. PHÁP ĐẢNH ÁO ĐẠI GIÁP

PHÁP ĐẢNH ÁO ĐẠI GIÁP nương theo Công Đức của NHƯ LAI làm Hạnh Nguyện trong các Pháp đầy đủ THUẬN NGHỊCH Tâm không quái ngại mà thành tựu ÁO ĐẠI GIÁP liền Thọ Ký thành PHẬT.

Áo Đại Giáp như PHẬT đã đặng, chư BỒ TÁT cùng BỒ TÁT MA HA TÁT sắp đặng. BÍCH CHI, A LA HÁN sẽ đặng. THINH VĂN DUYÊN GIÁC đồng với Bậc ĐẠI TRÍ TUỆ đang làm. Bậc TIN PHẬT sắp làm, kẻ THIỆN CĂN muốn làm đều tu Hạnh Nguyện. Trước sau hay sau trước lần lượt thảy đều tạo nên Áo ĐẠI GIÁP được cả.

Đức THÍCH CA MÂU NI PHẬT khi Ngài đặng Thọ Ký thành PHẬT, Ngài vẫn đầy đủ 32 Áo Đại Giáp cùng 32 Tướng Tốt và Mười DANH HIỆU như: ỨNG CÚNG. CHÁNH BIẾN TRI. MINH HẠNH TÚC. THIỆN THỆ. THẾ GIAN GIẢI. VÔ THƯỢNG SĨ. ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU. THIÊN NHƠN SƯ. PHẬT. THẾ TÔN.

Ngài bèn dùng PHẬT NHÃN BẤT NHỊ soi khắp thấy Bình Đẳng, hằng hà sa số PHẬT, Vô Lượng Công Đức PHẬT. Vì Công Đức Vô Lượng ấy nên không thể đem đặng TƯỚNG PHẬT mà diễn tả hay nghĩ bàn đặng. Cũng không thể chỉ nơi chốn cùng việc làm của Chư PHẬT đặng. Vì Chư PHẬT không có Biên Giới Hạn Lượng nên được trùm khắp, thì Áo ĐẠI GIÁP cũng trùm khắp vậy.

Ngài lại dùng HUỆ NHÃN soi khắp TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, Ngài tỏ rõ từng Thế Giới, từng Bậc TU CHỨNG từ CÓ đến KHÔNG và cũng từ KHÔNG đến CÓ cùng KHÔNG KHÔNG của KHÔNG KHÔNG luôn. Trong TAM THIÊN và các THẾ GIỚI đâu đâu CŨNG MẮC MIẾU vào hạn lượng mong cầu đặng chút ít Áo Đại Giáp hữu hiệu nương nhờ thế mà vui mừng hoan hỷ Nhạc Phách ngày đêm nơi Hạn Lượng ĐÃ TẠO và ĐÃ ĐƯỢC HƯỞNG. Còn Bậc Đại Trí Nhất Tâm tạo nên Áo Đại Giáp thường chẳng kể lể, không mong cầu Công Đức ấy. Vì sao? Vì Sở Nguyện tạo Áo Đại Giáp để Cúng Dường cho NHƯ LAI thành thử không màng đến Thọ Hưởng hiện tại, mà cầu Thọ Ký thành PHẬT để Báo Ân NHƯ LAI cùng ỨNG CÚNG CHÁNH BIẾN TRI trong MƯỜI DANH HIỆU.

Đức THẾ TÔN Ngài lại dùng CHỦNG TRÍ không phân biệt đồng MỘT mà Ngài vì Chúng Sanh quan sát từ trên đến dưới, từ trong ra ngoài, trong muôn ngàn Thế giới cùng khắp. Tất cả các Cõi ấy và Cảnh Giới đang thuyên diễn ấy thảy đều SẴN CÓ đầy đủ CHỦNG TRÍ y như PHẬT không sai khác. Nhưng bởi mong cầu và Hạn Lượng phân chấp: CÓ KHÔNG. TRÊN DƯỚI. TRƯỚC SAU ngăn biệt nên Bị Biệt, thành thử Tâm Ý hẹp hòi, Trí Tuệ nông cạn, Hiểu biết nhỏ nhen. Do lẽ ấy nên thiếu khuyết sanh sợ sệt chẳng dám tạo đầy đủ 32 áo Đại Giáp, tự tạo phần nào chỉ mong cầu hưởng phần đó thôi. Vì sao? - Vì chấp nơi CÓ-KHÔNG-CÒN-MẤT mà sợ vậy.

NGÀI CHƠN BIẾT sự ĐỒNG CHỦNG TRÍ của chúng sanh chẳng thiếu với Ngài, nên Ngài bèn chỉ thẳng với chúng sanh rằng: “TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH. CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH” đặng làm cho chúng sanh mạnh dạn phát: ĐẠI BI TÂM. ĐẠI TRÍ TÂM và ĐẠI DŨNG TÂM làm cho Tâm không Quái Ngại mà tu hành Hạnh Nguyện trên đường LỤC BA LA MẬT ĐA, đặng tạo áo ĐẠI GIÁP kiên cố trùm khắp mà đặng thành PHẬT ĐẠO.

Đối với PHẬT Ngài chỉ bày chẳng thiếu sót trong TAM TẠNG Kinh và diễm nói còn nhiều hơn thế nữa. Từ Bậc chưa Độ đặng Độ, từ bậc chưa Tỏ đặng Tỏ Ngộ, từ chưa đặng Áo Đại Giáp mà tu tập đặng Áo Đại Giáp lần lượt đặng Thọ Ký thành PHẬT.

Ngài là Bậc TRI ĐẠO, Ngài là Bậc THUYẾT ĐẠO, tỏ nguồn gốc Mê chúng sanh nên chỉ bày tu học. Ngài lại QUYẾT ĐỊNH chúng sanh ĐẠI NGUYỆN sẽ THÀNH PHẬT. Nên Ngài mới nói trong kinh TÂM ĐỊA QUÁN, Phẩm THÀNH PHẬT như sau:

PHẨM: THÀNH PHẬT

( Trích Nguyên Văn )

Đức VĂN THÙ thưa gởi và Tán Thán rằng: NHƯ LAI ra đời hiếm có như HOA ĐÀM và GIẢ SỬ NGÀI ra Đời mà nói ra Pháp nầy cũng khó. Ba Pháp BÍ MẬT VÔ THƯỢNG PHÁP LUÂN của Tâm Địa Quán như thế, thực là lợi cho hết thảy Chúng Sanh, là đường Chính Chân Thật vào NHƯ LAI ĐỊA và BỒ TÁT ĐỊA. Nếu chúng sanh nào không tiếc Thân Mạng mà tu hành pháp ấy, sẽ chóng Chứng được BỒ ĐỀ.

BẤY GIỜ: Đức PHẬT bảo BỒ TÁT VĂN THÙ SƯ LỢI rằng:Nếu có Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn nào muốn tu tập được BA PHÁP MÔN BÍ MẬT, sớm đặng Thân Công Đức của NHƯ LAI, nên mặc 32 áo ĐẠI GIÁP KIM CƯƠNG của BỒ TÁT mà tu Diệu Quán ấy, thời quyết CHỨNG đặng PHÁP THÂN THANH TỊNH của NHƯ LAI.

Những gì là BA MƯƠI HAI thứ ÁO GIÁP ấy?

1.- Mặc áo Đại Giáp thụ khổ: Ở trong vô lượng kiếp vì chúng sanh chịu thay thế KHỔ cho chúng sanh mà không chán.

2.- Mặc áo Đại Giáp Bất Xả: (không ngừng bỏ) Thề độ vô lượng Hữu Tình cho đến con sâu, con kiến cũng không bỏ.

3.- Mặc áo Đại Giáp Bí Mật: Giác Ngộ chúng sanh trong giấc mộng dài Sanh Tử, an trí họ vào ba pháp Bí Mật (Tâm Bí Mật, Ngữ Bí Mật, Thân Bí Mật).

4.- Mặc áo Đại Giáp Hộ Pháp: Ủng hộ Phật Pháp trong hết thảy Thời, cũng như vang ứng tiếng.

5.- Mặc áo Kim Cương Đại Giáp: Diệt hẳn sự Khởi lên hai KIẾN: HỮU VÔ (Có Không) và hết thảy phiền não.

6.- Mặc áo Đại Giáp Năng Xã: Dù đầu, mắt, tủy, óc, vợ, con, ngọc báu.... có người xin đều xã cả.

7.- Mặc áo Đại Giáp Năng Thí: Hết thảy đồ vui trong nhà hưởng thụ, quyết không Tham Trước, đem cho tất cả.

8.- Mặc áo Đại Giáp Năng Trì: Hay giữ Tâm tu Tịnh Giới của BỒ TÁT và không rời Hạnh ĐẦU ĐÀ.

9.- Mặc áo Đại Giáp Nhẫn Nhục: Gặp các Duyên Trái Ngược như: Nhục mạ, đánh đập... vẫn không báo thù.

10.- Mặc áo Đại Giáp Hồi Tâm: Giáo hóa những bậc Duyên Giác Thinh văn khiến họ Hồi Tâm đi về Nhất Thừa.

11.- Mặc áo Đại Giáp Tinh Tiến: Tinh Tiến độ các Hữu Tình, ví như gió lớn ngày đêm không nghỉ.

12.- Mặc áo Đại Giáp tu hành Giải Thoát Tam Muội: Thân Tâm Tịch Tịnh, Miệng không phạm lỗi.

13.- Mặc áo Đại Giáp Bình Đẳng: Làm ích lợi cho chúng sanh, coi SANH TỬ và NIẾT BÀN không có Hai Kiến.

14.- Mặc áo Đại Giáp Dữ Lạc: (Cho vui)

Đem Duyên Đại Từ làm ích lợi cho mỗi loài, luôn luôn không chán bỏ.

15.- Mặc áo Đại Giáp Bạt Khổ (nhổ khổ) Đem Vô Ngại Đại Bi cứu nhiếp hết thảy không hạn lượng.

16.- Mặc áo Đại Giáp Đại Hỷ: Đối với chúng sanh không oán ghét, luôn luôn làm sự lợi ích.

17.- Mặc áo Đại Giáp Đại Xã: Tuy làm Hạnh Khổ không sợ nhọc mệt, luôn luôn không thoái chuyển.

18.- Mặc áo Đại Giáp Bất Yếm: (không chán) Chúng sanh có sự đau khổ lại nơi Bồ Tát, Bồ Tát chịu thay khổ cho chúng sanh kia mà không chán ngán.

19.- Mặc áo Đại Giáp Giải Thoát Năng Kiến: Sự xem xét trông rõ ràng như xem quả A Ma Lặc (quả Vô Cấu Thanh Tịnh) trong bàn tay, như vậy Giải Thoát được sự Thấy.

20.- Mặc áo Đại Giáp Vô Trước: (Không Chấp Trước) Thấy thân ngũ uẩn như bọn Chiên Đà La (đồ tể) tổn hại việc Thiện.

21.- Mặc áo Đại Giáp Yếm Xã: (Chán bỏ) Thấy mười hai nhập (6 căn, 6 trần) như làng xóm trống, thường mang lòng sợ hải.

22.- Mặc áo Đại Giáp Đại Trí: Thấy 18 giới cũng như huyển hóa (6 căn, 6 trần, 6 thức) không có chân thực.

23.- Mặc áo Đại Giáp Chứng Chân: (Chứng Lý Chân Như) Thấy biết hết thảy pháp đồng trong Pháp Giới.

24.- Mặc áo Đại Giáp Xuất Thế: Che điều ÁC của Người, không giấu lỗi Ác của mình, chán bỏ Ba Cõi.

25.- Mặc áo Đại Giáp Hóa Độ: Như Đại lương Y Vương hợp bệnh cho thuốc, Bồ Tát tùy nghi mà diễn hóa.

26.- Mặc áo Đại Giáp Quy Nhứt: (Về Một không Hai) Thấy Chân Thể của Tam Thừa kia vốn không khác cứu cánh đồng qui về nơi MỘT Chân Như Nhất Thừa PHẬT QỦA.

27.- Mặc áo Đại Giáp Độ Nhân: (Độ Người) Nối ngôi Tam Bảo Chủng khiến không đoạn tuyệt, quay xe Diệu Pháp độ người.

28.- Mặc áo Đại Giáp Tu Đạo: PHẬT đối với chúng sanh có ân đức lớn, vì muốn Báo Ân PHẬT nên cần phải tu PHẬT ĐẠO.

29.- Mặc áo Đại Giáp Vô Cấu: (Bất cấu không nhơ) Quán bản tánh hết thảy Pháp không tịch, không sanh, không diệt.

30.- Mặc áo Đại Giáp không ngăn ngại: Ngộ VÔ SANH PHÁP NHẪN, được Đà La Ni nhạo thuyết biện tài Vô Ngại.

31.- Mặc áo Đại Giáp rộng hóa Hữu Tình: Khiến cho họ đặng ngồi dưới cây Bồ Đề chứng PHẬT QỦA NHẤT VỊ.

32.- Mặc áo Đại Giáp trong một Sát Na: Tâm tương ứng với Bát Nhã, chứng ngộ Đại Pháp VÔ DƯ trong BA Đời.

Thế gọi là BA MƯƠI HAI thứ KIM CƯƠNG ĐẠI GIÁP của BỒ TÁT. Nầy BỒ TÁT VĂN THÙ SƯ LỢI! Nếu có Thiên Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn nào THÂN mặc áo giáp trụ Kim Cương như thế nên chăm tu tập BA pháp BÍ MẬT. Trong đời hiện tại đủ Phúc Trí lớn, mau chứng được VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG BỒ ĐỀ.

Trích theo Kinh TÂM ĐỊA QUÁN, Đức THÍCH CA Ngài chỉ bày diễm nói như vậy. Các Bậc tu hành cần phải chịu ĐẠI NGUYỆN tất cả trên đường tu, gặp duyên THUẬN NGHỊCH của các Pháp thời TÂM buông xuôi, NGỮ buông xuôi để cầu CHÁNH GIÁC.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

16. CHÁNH TÍN

CHÁNH TÍN là SỰ TIN Duy Nhất Không Hai. Gọi là NHẤT TÂM. Nhưng về quan niệm nhận thấy thì chẳng mấy AI được gọi là NHẤT TÂM và CHÁNH TÍN cả. Vì sao? -Vì tất cả đều đang nằm trong MÊ LẦM đảo loạn riêng cách nhau, thành thử cùng một Chánh Tín đó, mà khác biệt nhau, chỉ vì tầm Hiểu Biết rộng hẹp lớn nhỏ tùy theo mỗi Bậc Tự Tín riêng phần. Chớ thật ra Chánh Tín nó vốn một gốc Bình Đẵng Bất Nhị. CHẲNG KHÁC NÀO: NƯỚC kia vốn đồng một THỂ TÁNH là: NƯỚC. Nhưng NƯỚC VŨNG là nước Vũng, chớ chẳng phải là NƯỚC GIẾNG. Còn nước Giếng là nước giếng chớ chẳng phải là NƯỚC AO. Nước Ao là nước ao, chớ chẳng phải là NƯỚC SÔNG. Nước Sông là nước sông, chớ chẳng phải là NƯỚC BIỂN.

Đối với Chánh Tín nó vốn một THỂ chẳng khác, nhưng vì chia ra từng bậc mà nó khác ở nơi hiểu biết rộng hẹp không đồng như:Nước Vũng và Nước Giếng, như nước Ao và nước Sông cùng với nước Biển vậy.

Những Bậc tu hành từ khi khởi Tín đến TIN nó vẫn tùy theo mức độ và công phu đưa lần lên từng Bậc. Thì đến Bậc nào Chánh Tín nó vẫn có theo vẹn vừa với Bậc ấy thôi chớ chẳng hơn đặng.

VÍ NHƯ: Có Bậc chỉ hiểu biết CẦU PHƯỚC, hay TÍN NGƯỠNG LỄ BÁI cầu an. Hoặc giả Trai Đàn Trống Phách, Cúng Lạy, thời Chánh Tín trong phạm vi Hiểu Biết đó thôi. Ngoài ra chẳng còn làm thế nào hơn đặng.

NHƯ: Có Bậc phát tâm NIỆM PHẬT tu hành, hay Trường Trai Giới Hạnh, hoặc Khất Sĩ Tu Sĩ hay Xuất Gia Tại Gia, vẫn tùy theo từng Bậc ấy Chánh tín.

NHƯ: Có Bậc phát tâm Bồ Đề tu hành quyết định tìm đường TRI KIẾN GIẢI THOÁT, tùy theo sự TÍN mà tu, hoặc HIỂN GIÁO, TIỆM GIÁO, ĐỐN GIÁO hay Thiền Tông, TỊNH ĐỘ chẳng hạn. Thời Bậc ấy vẫn nương theo sự Hiểu Biết mà Chánh Tín, ngoài ra chẳng còn hơn nữa đặng.

Nói đến Chánh Tín thời chính nó BẤT NHỊ, nếu những Bậc tu hành nào, hay những Bậc THƯỢNG THẶNG hiểu biết nào đồng với Chánh Tín thời Bậc ấy gọi là VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC. Đó chính là Tận Gốc của Chánh Tín.

Ngoài ra tất cả đều có sẵn Chánh Tín, nhưng vì bị LẦM MÊ nên gốc Chánh Tín trở thành MÊ TÍN DỊ ĐOAN. Do chỗ Mê Tín mà Đảo Loạn. Do nơi Dị Đoan mà Tự Sanh ra ẢO TƯỞNG. Tức là: Những sự việc gì đồng với Ảo Tưởng của Kẻ ấy là: TIN THEO, bằng không đồng thì chẳng Tin Vậy.

Chánh Tín nó chẳng khác nào với Phật Tánh. Ai ai cũng Sẵn Có Phật Tánh, nhưng vì mê lầm mà trở thành Chúng Sanh. Nếu tu hành đến Giác Ngộ cùng đoạt Vô Thượng Chánh Giác thì là PHẬT. Mê Tín và Chánh Tín cũng thế.

ĐỨC THÍCH CA Ngài Thật Biết vì lầm lạc mà điên đảo, nhưng nguồn gốc vẫn còn SỰ TIN của Chánh Tín.

CŨNG NHƯ: Ông CHA kia có một người con bị điên loạn. Nhưng đứa con kia Miệng nó vẫn kêu CHA. Khóc Cười xin Cha cứu mạng. Đó tình trạng của Chư Phật cứu độ chúng sanh cũng thế.

Đức THẾ TÔN Ngài thật Biết nguồn TIN PHẬT vô kể của chúng sanh. Lại biết chúng sanh nó ưa muốn thoát ly Trần Cấu, nó đòi hỏi sự Tri Kiến Giải Thoát vô tận, nhưng chỉ vì ĐỘC NGHIỆP trót lầm bị nhiễm, vì Bờ Ngăn ảo tưởng muôn trùng. Nên Phật phải phương tiện làm theo Bờ Ngăn, theo ảo tưởng mà thuyết pháp 49 năm để giải Độc Nghiệp cho chúng sanh mà cứu vãng, đưa về Tri Kiến Giải Thoát.

PHẬT lại tùy nghi mà làm hình dáng để phá nghi, PHẬT lại tùy theo sự ưa thích mà phương tiện khen để nương theo chúng sanh đặng lần hồi cứu độ. PHẬT lại tỏ biết chúng sanh điên đảo không chừng hay Đoạn-Dị-Diệt trong thời tu tập mà Phật nói Pháp: TINH TIẾN, NHẪN NHỤC, THIỀN ĐỊNH, làm cho chúng sanh nương theo Đảo Loạn mà hết Đảo Loạn. PHẬT lại rõ biết chúng sanh vì loạn đảo mà tranh giành hơn thua trong cơn mê sảng, nên PHẬT nói pháp: TỪ BI HỶ XÃ, TRÍ TUỆ sáng soi làm cho chúng sanh hồi tĩnh. Phật lại tỏ biết chúng sanh vọng tưởng cho là Chơn Tưởng mà Ái Nịch chìm đắm theo Ngũ Dục mà PHẬT phải nói sự sa đọa: NGẠ QUỶ, SÚC SANH, ĐỊA NGỤC. Còn bày biện cõi TIÊN THẦN làm cho chúng sanh ưa thích mong cầu mà lần đem chúng sanh vào TỎ MINH các pháp diễn tuồng do Tâm Sanh biến hiện.

PHẬT cứ tùy nơi CĂN BỆNH mà cho thuốc. Tùy nơi Tánh QUẤY CỰA mà dỗ dành. Tùy nơi MONG CẦU mà giúp đỡ, miễn sao cho chúng sanh từ nơi MÊ TÍN đặng vào CHÁNH TÍN BẤT NHỊ thôi.

Tất cả trên con đường tu tập, hay sự chỉ bày của ĐỨC THẾ TÔN thảy đều then chốt để giải mê mờ đưa đến Giác Ngộ. Thành thử PHẬT PHÁP của Ngài diễn nói đó chẳng phải là PHÁP của PHẬT, mà là vì Chúng Sanh nên PHẬT mới dùng Phương Tiện tùy theo Chúng Sanh để nói PHÁP, làm cho chúng sanh Tỏ Pháp vì chúng sanh Lầm Pháp.

CŨNG NHƯ: LẤY HUYỄN ĐỂ TU HUYỄN, KHI HUYỄN HẾT GỌI LÀ GIÁC. Nơi Chánh Tín nó cũng thế. Nó bởi đi trong MÊ TÍN DỊ ĐOAN mà phải tu hành đến CHÁNH TÍN CHÂN THẬT.

PHẬT lại tỏ thấu tận cùng của nguồn gốc các Pháp mà chúng sanh Thọ Chấp thâm nhiễm mê mờ. Nên Ngài mới dùng các Pháp đó để ĐỐI TRỊ phá mê, đưa chúng sanh vào đường Trung Đạo như sau:

- MÊ MỜ Ngài nói GIÁC NGỘ
- MÊ TÍN Ngài nói CHÁNH TÍN
- ẢO TƯỞNG Ngài nói CHÂN THẬT
- ÁI NỊCH Ngài nói XUẤT LY
- BỦN SỈN Ngài nói BỐ THÍ
- BUÔNG LUNG Ngài nói TINH TẤN
- CHÉM GIẾT Ngài nói TỪ BI
- THÂM HIỂM Ngài nói THIỆN CĂN
- SÂN HẬN Ngài nói HỶ XÃ
- NGĂN PHÂN Ngài bảo PHÁ CHẤP
- VÔ THƯỜNG Ngài dạy THƯỜNG CÒN
- SANH TỬ Ngài chỉ VÔ SANH
- HỮU NGÃ Ngài nói VÔ NGÃ
- ĐOẠN-DỊ-DIỆT Ngài nói DUYÊN SANH.
- ƯA HỌC CHO THUỘC PHÁP Ngài nói ngón tay Ngài chỉ CHÂN LÝ, chớ chẳng phải ngón tay Ngài là Chân Lý. Và tận cùng Ngài nói là Ngài không Thuyết Pháp, mà chúng sanh cũng không nghe Pháp.

Đó chính là ngón TINH HOA tuyệt mỹ mà PHẬT đã làm và mong cho Bậc tu hành chớ LẦM PHÁP. Để từ Trí Tuệ thấp kém Chánh Tín nhỏ nhen eo hẹp, đặng vào ĐẠI TRÍ, Tâm rỗng rang tròn khắp mà đồng CHÁNH TÍN với TAM THẾ PHẬT vẹn vừa Bất Nhị vậy.

Những Bậc tu hành đời nầy và đời sau, nên chủ ý những Đặc Điểm Di Truyền trên. Và chớ vì sự Hiểu Biết nhỏ của kẻ khác mà phỉnh bán chê khen kẻ Tà người Chánh, kẻ Nội người Ngoại Đạo thành Tự Mình mua lấy Nội Ngoại Tà Chánh làm cho Đoạn Duyên PHẬT làm cho mất tất cả TÌNH DUY NHẤT mà NHƯ LAI đã nói Pháp LỤC HOÀ NHƯ LAI đã làm Hạnh NHẪN NHỤC. NHƯ LAI đã để PHẬT PHÁP TĂNG và tạo nên một Ngôi TAM BẢO cốt làm cho chúng sanh soi chung một TẤM GƯƠNG BẤT NHỊ vậy.

NAM MÔ ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN KINH

14. VẠN PHÁP ĐỒNG Y

Vạn pháp đồng y tức là vạn pháp đồng in Một. Tuy nhiên Tâm thay Tướng Pháp diễn tuồng có muôn ngàn vạn lối, từng Cảnh khác biệt chẳng hạn, nhưng chung gồm đến PHÁP thì có MỘT không Hai hay SAI KHÁC mảy may nào cả. Vì sao? Vì Pháp thời vốn sẵn tánh nó linh động, sự thuyên diễn của nó không ngừng. Tuy nó là Một, do Tập Khởi và Chấp Nhận nơi ngăn biệt, thành thử từ nơi Một Bị Biến ra 8 vạn 4000 pháp. Lại cũng từ 8 vạn 4000 pháp đó trở về Một Pháp.

Bậc tu hành đứng về Quân Bình nhận xét, thời nó chia ra làm hai pháp: THUẬN và NGHỊCH Pháp. Nơi bản tánh thuận nghịch nó có ẨN và HIỆN pháp. Do lầm nơi phân biệt đó mà Bị Biệt trong TƯƠNG ĐỐI nên BỊ ĐỐI.

Vì trót mê lầm chấp nhận nên in tuồng các pháp thực sai khác với nhau, nên đứng về bên nầy bỏ bên nọ, đứng về tốt là mình mà xấu là Họ. Phải là mình còn quấy là kẻ khác mà trở thành nghiệp TƯƠNG ĐỐI pháp, gây thành Thuận Thương Nghịch Ghét, thù hận vay trả không ngừng.

Nói đến NHẤT THỂ CHÂN NGUYÊN của pháp, thời nó Viên Dung cùng khắp Bất Nhị, không có chỗ chỉ hay nghĩ bàn nó đặng. Vì sao? Vì NÓ VIÊN TỊCH SẴN CÓ BẤT TĂNG BẤT GIẢM.

Nhưng vì CHÂN NGUYÊN ấy, BẢN TÁNH ấy, lại tự đem nó ra để đặt điều, hý luận chia xẻ nó, bàn tán nó, nên theo những lời chia xẻ bàn tán mà tin tưởng ngở là Chân Thật lầm mơ cho nơi ấy là Chân Thật trở thành muôn hình vạn tượng chạy theo động vọng đó mà cầu hưởng. Nên PHẬT nói nó là: HUYỄN PHÁP, chớ chẳng chi gọi nó là HUYỄN cả.

VÍ DỤ CÁC PHÁP HUYỂN NHƯ SAU: Có một Vị TRƯỞNG GIẢ giàu sang ở vào một khuôn vườn rộng lớn. Vị Trưởng Giả bèn đóng chiếc xe SONG MÃ cực kỳ lộng lẫy hơn những chiếc xe của dân giả dùng. Nào là bên trong của chiếc xe có ghế cùng màn che, bên ngoài có cửa lớn, cửa nhỏ, hai bên hông xe sơn son chạm trỗ như Rồng Phụng hay đính các quả Lê lóng lánh bốn phía xe thật là cực kỳ sang trọng. Chiếc xe ấy đem để trong vườn cho nó khô ráo nước sơn sẽ dùng đến.

Trong khi đó, có một nông dân đi ngoài khu vườn cách chiếc xe hơn hai trăm thước, trực nhìn thấy chiếc xe, liền lầm tưởng là CON RỒNG nằm trong khuôn vườn, hoảng sợ chạy về kêu các anh em trong xóm mà nói rằng: “Nầy các anh em, Chính mắt tôi đã nhìn thấy trong vườn Ông Trưởng Giả có một CON RỒNG VÀNG đang nằm cựa quậy cặp mắt thật to lóng lánh sáng ngời, tôi sợ quá về cho các anh em hay chớ nên ra sau khu vườn ấy.”

Các người lối xóm sinh lòng sợ sệt, cũng có một số tò mò lén lút đến xem thử, khi đến gần vườn một là sợ, hai là ở xa mà nhìn. Có người đứng sau xe nhìn thấy, có người đứng đầu chiếc xe mà nhìn thấy, nên có kẻ cho là con Phượng, có người cho là con Sấu, có bậc cho là con Rồng... rồi cùng nhau bàn tán trăm kia vạn nọ, nào là Trưởng Giả giàu có mua đặng con RỒNG, con PHƯỢNG...

Lại tất cả đồng tin theo việc bàn tán ấy tự sanh mơ ước ảo huyền của sự Đặt Điều mà lầm chấp. Câu chuyện trên đây chỉ vào pháp CHÂN NGUYÊN mà lầm HUYỂN cũng thế.

Tất cả các kẻ vì có lầm nên bị mê, lúc chưa rõ Vạn Pháp thảy đều bị từ một pháp, thời vạn pháp phải bị. Nếu một không lầm thì Vạn cũng không luôn. Có sự lầm mới động vọng suy nghĩ bàn tán bằng không vọng nào có loạn ?

CŨNG NHƯ: Kẻ lầm uống phải ĐỘC DƯỢC bị điên loạn, thì nhìn nơi nào cũng đảo loạn. Vì vậy nên sự: NGHE, THẤY, BIẾT và tất cả việc chi làm cũng còn trong vòng sai khác, không thể nào nói là TĨNH đặng. Nếu những bậc tu hành cứ so như thế để mà tu, thời tự mình đặt nền tảng đúng đắn trên việc tu học vậy.

Từ lúc KHỞI TÍN sau đến TIN vào sự TU PHẬT, nên bình tĩnh tùy nơi mức hiểu biết, tùy nơi công năng tu sửa để cầu tiến bộ. Lúc tự mình quan sát thấy bớt SÂN HẬN ấy là lòng Tham Muốn có phần Giảm, thì trí hiểu biết có phần Tiến Bộ. Vì thế kẻ tu hành căn bản là TÂM BUÔNG XUÔI không phiền trách và sân hận đó là một lối tu chánh đáng. Nên xa lìa ẢO TƯỞNG VỌNG LOẠN, nguồn gốc ảo tưởng vọng loạn là TÁNH TỰ CAO, mong pháp SIÊU HÌNH VIỄN ẢO, quá sự chân thật. Chính nó là Nghiệp THAM MUỐN của MA TÁNH lộng hành để đưa bậc tu hành tập nhiễm điên dại vậy.

Những bậc tu nên thận trọng lấy, một khi hiểu sơ sài chớ cho mình là Hiểu, vì cái mức hiểu biết rất có nhiều Bậc. Nên nhẫn nại gạt nó lại một bên cầu hiểu thêm nữa.

THEO LỜI PHẬT DẶN: CÁC ÔNG NÊN CẦM ĐUỐC TRÍ TUỆ, TÙY MỨC SOI SÁNG MÀ ĐI, CHỚ NÔN, CHỚ VỘI MÀ THỌ CHẤP CHO LÀ ĐƯỢC, LÀ ĐẾN MÀ NGUY HẠI.

Bậc tu hành càng thung dung bình dị bao nhiêu lại càng tiến bộ bấy nhiêu. Chẳng khác nào người đi súc chai cẩn thận không nôn đựng nước quý, chỉ cầu cho sạch sẽ không còn cặn bả. Khi đã sạch rồi thì đựng món chi cũng dùng đặng vậy. Bậc tu mà Sạch Nghiệp Đảo loạn thời VẠN PHÁP ĐỒNG Y sẽ tỏ ngời rực rỡ. Lại cần thâm nhập MƯỜI điểm sau để cầu Tỏ Biết:

MỘT LÀ: Nghe thuyết pháp để rõ vạn Pháp Đồng y.
HAI LÀ: Xem Kinh PHẬT để tìm CHƠN TÁNH cùng TINH HOA của PHẬT dạy để mà tu.
BA LÀ: Không vội Chấp Pháp, chẳng cho mình là PHẢI, khi chưa sạch lý hiểu biết mà sanh Tăng Thượng Mạng.
BỐN LÀ: Lấy việc tu hành Đạo Tràng làm quan hệ hơn lấy lề lối sống ở thế gian làm quan hệ, miễn là CHÂN THIỆN MỸ hoàn lại cho ta là đủ.
NĂM LÀ: Không vì tiền bạc hay Thiện Căn mà thuyết pháp. Không vì nghèo nàn hay Ác Căn mà không thuyết pháp. Nên thâm nhập Tâm Bình Đẳng, nương theo kẻ cầu pháp mà thuyết pháp.
SÁU LÀ: Gạt bỏ tâm tham cầu TÀI PHÉP DANH GIẢ nơi Thần Quyền, ước vọng xa xuôi, viễn ảo để mau thành PHẬT, thành TIÊN.
BẢY LÀ: Tánh tình vui vẻ, đồng kính các bậc tu, không phân biệt Tôn Giáo cùng Giáo Phái, nặng Đại Thừa chê bai Tiểu Thừa, khinh khi hoặc xăm xỉa lẫn nhau nào là NỘI NGOẠI, TÀ CHÁNH, CHAY MẶN, NÊN HƯ.
TÁM LÀ: Phát nguyện tu đến rốt ráo tận cùng, nương theo BỒ TÁT HẠNH mà tu, Độ sanh không ngừng nghỉ.
CHÍN LÀ: THÂN KHẨU Ý Kín nhiệm, Tâm buông xuôi, thực hành LỤC BA LA MẬT ĐA.
MƯỜI LÀ: Trí Tuệ Phá Chấp, Tướng Phẩm Hạnh tu PHẬT phải làm cho trọn vẹn, căn bản đi trong Đạo Đức để cho mọi kẻ ưa thích, khỏi làm hư Tác Phong mà Đoạn Duyên Phật Đạo. Nên lìa Tướng để Tri Kiến và Giải Thoát là Duy Nhất.

Những bậc có Chí mà tu như vậy mới gọi là: TU PHẬT. Bằng chẳng vậy gọi là: Học Pháp Phật. Vì sao? Vì duy nhất là cái duyên Độ sanh làm cho chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát nên PHẬT mới Thị Hiện. Vì vậy nên ĐỨC THÍCH CA Ngài mới nương theo sự mê chấp của chúng sanh phương tiện thuyết pháp để cỗi giải nghi chấp cho chúng sanh, dìu dắt đưa cho chúng sanh từ chưa hiểu đặng hiểu, từ lầm vạn pháp trở lại không lầm một pháp, nhờ tu tập tỏ biết sự Đồng Y của Vạn Pháp mà đặng cứu cánh Giải Thoát vậy.

PHẬT chẳng khác nào: Ông CHA kia cốt đến cứu bầy con ra khỏi nhà lửa TỬ SANH. Nhưng trái lại, bầy con nó chỉ vì mê nơi Ái Nịch muốn kéo Ông CHA nằm luôn nhà Lửa với mình. Do lẽ đó nên Ngài mới thuyết Pháp giảng giải đủ các phương pháp 49 năm để đem các con ra khỏi nhà Lửa.

Nếu bậc tu hành nào mà biết suy nghĩ như thế, thời chớ nên tu hành mà cầu lấy An, hoặc quan niệm Đạo Phật là một Đạo Vô Tư hay Tiêu Cực, hoặc chán đời mà đi Tu Phật. Dù vô tình hay cố ý mà sai biệt Bổn Nguyện, mất nền tảng Tôn Nghiêm Quốc Độ Phật nơi TÂM MÌNH.

Mặc dù trong lúc nầy đang bị mê mờ trong Giả Tạo, thành thử những bậc đang tu còn nhiều Giả Tưởng, nó làm cho ngăn lối tiến trên đường tu, lại làm cho việc tu hành biếng trễ, chớ có ai lại đã tu mà không cầu tiến đâu? Cũng như ai ai thảy đều gây tạo đường Thiện, chớ có ai lại cầu gây điều Ác để mà lãnh chịu sự đọa đày đâu? Nhưng chỉ duy Nghiệp kéo lôi thành thử cầu tốt không đặng, cầu tiến chẳng xong. Đó chính là Căn Nghiệp ở nơi Điên Đảo làm cho Tâm không quyết định, hay có quyết định vẫn phải nghi ngờ trong thời Mạt Pháp đảo điên vậy.

Nếu các Bậc tu hành, hoặc giả đang chực chờ để mà tu thì nên phá những lối suy nghĩ như sau, nó làm cho biếng trễ mà uổng phí một kiếp CON NGƯỜI đương thời Nhân Pháp là nơi tu hành rất tốt.

MỘT LÀ: Nghiệp chần chờ không dứt khoát, mà mong mỏi gặp tu mới đặng Giải Thoát còn hiện nay tu không đặng Giải Thoát. Chỉ cầu ích lợi là có Tu. Đó là GIẢ TƯỞNG MA NGHIỆP lôi kéo.

HAI LÀ: Tự mình dìm mình là ngu tối cho là nặng Nghiệp tự sanh buồn chán nên quan niệm tu cho có chừng để chờ kiếp sau. Có lúc cho lời PHẬT nói kinh sâu xa, Kín Nhiệm mà chẳng chịu coi Kinh. Do Giả Tưởng như vậy mà thờ ơ chẳng nghe thuyết pháp.

BA LÀ: Muốn tu nhưng tự so mình tuổi cao tu chẳng đến, hai nữa còn trẻ chưa vội gì tu, hay nghiệp phân chia kẻ tu lâu năm cùng người mới tu chẳng chịu học hỏi nhau, hay Xuất Gia không cầu Tại Gia.

BỐN LÀ: Cho mình có học lực, xem kinh khảo cứu dễ bị chấp trong Văn Tự mà tu. Cầu Sắc Tướng hơn cầu Tinh Hoa nơi Chân Lý. Cầu Danh Giả hơn cầu lìa Ngã Danh. Cầu tu cao hơn cầu Tỏ Biết. Nhận nơi Bị Biết học thuộc Kinh hơn cầu Tự Biết.

NĂM LÀ: Chấp nhận cho mình là tu Chánh, còn kẻ khác là tà, không tìm hiểu pháp Môn hay sự Hiểu Biết mọi kẻ học hỏi tu tập, năng chấp nhận phần mình mà tu, chia rẽ tranh giành Bổn Đạo cho là Xây Dựng Chánh Pháp, xâm xỉa soi bói các Tông.

SÁU LÀ: Biếng trễ tự cho mình là PHẢI, cho mình Hiền Lành Đạo Đức hơn kẻ tu. Còn có bậc chờ con cái lớn khôn thời dứt áo ra tu không mấy ngày thành Đạo. Họ tu thì lâu còn mình tu thời mau vì vậy không nôn chi tu vội.

BẢY LÀ: Vì quan niệm nơi Giả Tưởng nên tu hành ưa thích đọc tụng hơn nghe thuyết pháp hoặc xem nghĩa Kinh. Còn gặp đặng Thầy chỉ bày để tu, thời tu nhìn Thầy hơn là Tự sửa mình. Chẳng gạt bỏ đố tật tu lại sanh chán ghét bậc nọ kẻ kia trong Bổn Đạo.

TÁM LÀ: Tu cầu Phước giàu sang, miệng đọc tụng Sám Hối mà Tâm chẳng Cải Hối. Biết nói điều lành mà không làm lành. Lúc nghe Thuyết Pháp thì buồn ngủ thờ ơ biếng trễ.

CHÍN LÀ: Tu ưa thích mê tín dị đoan hơn là tìm hiểu để Tỏ Tín, Bê Tha hơn Tinh Tấn, nói Lý hơn Sự làm chỉ trích hơn Tự tiêu bỏ Nghiệp, Tự ái hơn là lìa dẹp Tự ái, muốn kẻ khác nghe mình hơn là mình đi nghe kẻ khác.

MƯỜI LÀ: Tự cao cho mình biết hơn ai hết, ngạo mạn chê Tăng, không Tin Phật. Khi gặp điều khổ thời kêu Trời than Phật, lúc ai động đến việc tu hành thì cho họ là mê tín, còn hay khoe khoang tài mình miệng nói Đạo Đức để lừa kẻ khác đặng cười chê lại cho là PHẬT ở trong Tâm Mình.

Mười điều trên nó chính là đảo loạn cùng phờ phỉnh, làm cho bậc muốn tu khó dứt ra để mà tu. Còn bậc đang tu bị ngăn cách vì Giả Tưởng. Đó cũng gọi là Nghiệp ngăn phân Ma Tánh đưa đón làm cho con đường Đạo xa cách. Vì vậy khuyên các Bậc tu hành nên có sự Quyết Định mà Tự PHÁT BỒ ĐỀ TÂM mà tu. Nếu tu đặng một ngày tức là một ngày có tu còn hơn không tu vậy, đặng làm cho các Giả Tưởng và Nghiệp mau giảm, mới cầu Tỏ Biết Vạn Pháp Đồng Y.

Bậc tu hành cần phải suy nghĩ rằng: Tất cả các Giả Tưởng cùng Nghiệp Thức cũng do mình tạo mà TỰ MÌNH mắc phải, chớ không AI bắt mình phải mắc cả.

Dù bậc trên trước là: THẦN TIÊN hay THÁNH PHẬT cũng chẳng thể bắt mình đặng thay, huống chi là NGHIỆP?

Đó chính là những điều đáng nghĩ để tự chọn lấy một lối tu hành vững chãi, Tâm Địa Chơn Chánh, nói năng ngay thẳng sẽ đến nơi chốn theo sự mong muốn và sở cầu vậy. Nên chi các bậc tu hành hiện đang ở Thế Gian nầy có đủ điều kiện cho sự lựa chọn mà tu. Muốn tu TIÊN THẦN liền đặng thành Tiên Thần. Muốn tu Tri Kiến Giải Thoát của THÁNH PHẬT liền được như Ý Nguyện. Vì lẽ đó nên Đức THÁNH MINH Ngài nói:Ai là kẻ bắt mình? Chính mình tự bắt lấy Mình. Ai đem mình vào Địa Ngục? Chính mình tự đem mình vào Địa Ngục vậy. Ai nâng mình lên ngang hàng với PHẬT THÁNH TIÊN? Cũng chính tự Mình đưa Mình. Đó chính là những điểm TỰ TÁNH trong con đường tu hành nên ghi nhớ.

Về đường tu PHẬT các bậc nên có chí PHÁT NGUYỆN là mục đích tu đến nơi Sở Nguyện và cũng cần Siêng Năng Kiên Dũng để tiêu dẹp các GIẢ TƯỞNG Vọng Loạn. Khi Giả Tưởng cùng Vọng Loạn tiêu giảm bao nhiêu thì Trí Tuệ lại tiến bấy nhiêu. Đó chính là Phá Bờ Ngăn Chấp. Bằng tu mà chẳng dẹp bỏ hay Phá Chấp thì không đặng chi cả. Vì sao? Vì mê lầm nó cứ bao trùm lớp lớp, cứ mỗi một Pháp thời có một Bờ Ngăn, từ Một đến Vạn Pháp thì cũng từ Một đến Vạn Bờ Ngăn. Khi đã tu nên đi ngược trở lại mà tiêu dẹp phá các bờ ngăn chấp ấy đặng trở lại một pháp cũng không, liền đặng Tri Kiến Giải Thoát.

LẠI NỮA: Nên thịnh trọng về sự hiểu biết, về trình độ tiến triển trong lúc tu hành. Nó chẳng khác nào kẻ nhồi Đất để nắn khuôn Tượng vậy. Càng mềm dẻo các pháp Tỏ Biết bao nhiêu lại càng quý bấy nhiêu, chớ vội cho được hay đắc mà mang họa.

Nên chi: Tu là một việc, Hiểu là một việc, Biết là một việc, Tri Kiến Giải Thoát là một việc, Viên Thông là một việc. Viên Mãn là một việc. Chớ chẳng phải tu là Giải Thoát. Chớ chẳng phải Tri Kiến Giải Thoát là Viên Thông. Chớ chẳng phải Viên Thông là Viên mãn.

Do những điểm trên nên mới có TU CHỨNG từng lớp, từng Bậc và cũng nương nhờ Khởi Tâm Phát Nguyện rộng lớn hay nhỏ hẹp mà thành tựu Thứ Lớp vậy.

CŨNG VÍ NHƯ: Một TRƯỜNG HỌC kia là nói chung. Nếu nói riêng thời nó chia ra nhiều lớp học. Từ lớp Năm lên đến lớp Nhất. Mà mỗi một lớp như vậy thì các môn học cũng như nhau, nhưng Toán của lớp Nhất không phải là của lớp Năm làm được. Còn mỗi một lớp như thế thì có nhiều trò sắp thành thứ lớp của trình độ học, như có trò lực học đứng Nhất, lại có trò trung bình và Thứ chót chẳng hạn.

Việc tu hành cũng vậy. Tuy rằng ở cùng nhau một Chùa hay cùng gặp nhau tu tập một Thầy, nhưng năng lực công phu thảy đều cao thấp thứ lớp. Đó là do tại ai? Do tại Nghiệp NGHI CHẤP mà thành.

Do lời PHÁT NGUYỆN rộng hẹp mà đến. D0 KHÔNG TIN vào đường TU PHẬT đặng Giải Thoát hiện tại. Nói chung lại do NGHIỆP THỨC Năng Phân và BỜ NGĂN Chấp Pháp.

-VÌ SAO GỌI LÀ BỜ NGĂN CHẤP PHÁP?

Vì BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, TINH TẤN, tự nhận tu như thế là pháp môn Giải Thoát, chớ nó chẳng phải là pháp môn Giải Thoát. Nó là: Bố Thí Trì Giới Tinh Tấn mà thôi.

-NHẪN NHỤC, TRÍ TUỆ, THIỀN ĐỊNH, tự nhận tu như thế là: pháp môn Giải Thoát, chớ nó chẳng phải là Pháp môn Giải Thoát. Chính nó là: Nhẫn Nhục Trí Tuệ Thiền Định thôi.

-BI CHÍ DŨNG, GIỚI HẠNH NGUYỆN hay ĐẠO TRÀNG HẠN LƯỢNG hoặc ĐẠO TRÀNG VÔ HẠN LƯỢNG, tự nhận tu như thế là Pháp Môn Giải Thoát. Chớ chính nó là: Bi Chí Dũng, Giới Hạnh Nguyện hoặc Đạo Tràng Hạn Lượng hay Đạo Tràng Vô Hạn Lượng mà thôi. Chớ chẳng phải là Pháp Môn Tri Kiến Giải Thoát vậy.

THẾ NÀO LÀ PHÁP MÔN TRI KIẾN GIẢI THOÁT?

Tu hành không thiếu PHẨM HẠNH trên, chẳng chấp nhận gìn giữ một HẠNH nào làm của mình. Đó chính là Pháp Môn Tri Kiến và Giải Thoát.

CHẲNG KHÁC NÀO: Kẻ kia đi mua sắm các phẩm vật nguyên liệu không thiếu sót để đóng CHIẾC TÀU. Các phẩm vật mua sắm đó là làm các HẠNH không thiếu sót. Khi đã mua xong, đóng thành một chiếc TÀU để đưa đến bên kia BỜ CHÁNH GIÁC, thời Chiếc Tàu nọ chính là TƯỚNG của GIẢI THOÁT và VẠN PHÁP ĐỒNG Y cũng thế.

NAM MÔ PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT

13. HẠNH NGUYỆN

HẠNH NGUYỆN chính là một TRƯỜNG TU BỒ TÁT HẠNH, nó cũng con đường Duy Nhất Chư Phật đã làm, BỒ TÁT đang làm, các Bậc ĐẠI CĂN CHÁNH TÍN đều làm, con đường ấy là con đường chung.

Kể từ xưa đến nay, các bậc tu thấp cao từng lớp hay đến THÁNH TĂNG vẫn nương vào con đường ấy đồng Phát Tâm cùng Hạnh nguyện để Độ Sanh. CÓ Ý NGHĨA: Thương MÌNH và Thương NGƯỜI dìu dắt nhau mà tu đặng Tri Kiến đồng Giải Thoát vậy.

Bậc tu hành chủ yếu là phát nguyện rộng rãi. Bằng chẳng Nguyện thời Tâm chẳng mở mang, bằng Tự Kỷ cầu Tự Lợi không Tha Lợi gò bó sợ sệt, tự hạ mình xuống chẳng dám vào trường BỒ TÁT HẠNH để hợp đồng ý chí BỒ TÁT mà tu thì khó thành tựu đặng. Vì sao ? Vì chẳng HÀNH, không nguyện thì đích đến cũng không. CŨNG NHƯ:Muốn ĐẾN không chịu ĐI. Muốn LÀM không chịu CỰA QUẬY. Nếu không Hạnh Nguyện thì chẳng thu nhiếp thi hành Pháp Giới Lục Ba La mà thâm nhập Tỏ Tâm Thông Pháp.

Con đường nương theo Bồ Tát Hạnh để Hạnh Nguyện rất ích lợi đặng nhiều Tỏ Biết toàn mỹ, lại là một lối Độ Sanh rốt ráo khó nghĩ bàn. Đến Chư BỒ TÁT vẫn nương nhờ Hạnh Nguyện mà tỏ thấu sự Kín Nhiệm của NHƯ LAI TẠNG. Cũng nhờ Lý Sự Đồng Song trên đường Hạnh Nguyện đoạt đến rốt ráo NIẾT BÀN, mềm dẽo các PHÁP HỮU và VÔ tận gốc không chướng ngại mà thấu đáo các chứng bệnh của SANH TỬ BỆNH LÃO KHỔ thời phiền não chướng không thể xâm chiếm đặng.

Trong con đường tu PHẬT chỉ có MỘT, nhưng nhiều lối tu, lối nào hay phương tiện nào cũng không ngoài HẠNH NGUYỆN và ĐỘ SANH của giai đoạn giao kết vào TRI KIẾN vậy.

Khi bậc tu hành mới ban đầu Khởi Tín thì Tâm -Ý tự sanh ra MẾN ĐẠO chớ chưa có quyết định mà tu, gọi là MẾN ĐẠO. Đến lúc thích thú có phần hiểu đôi chút ích lợi liền sanh Tâm cho kẻ khác được tu gọi là Tâm KHỞI NGUYỆN. Sau Hiểu Đạo tâm mở mang mà phát nguyện Độ Sanh nương vào Bồ Tát Hạnh mà tu, đó gọi là tu theo con đường HẠNH NGUYỆN của Bồ Tát vậy.

Con đường HẠNH NGUYỆN nó rất sâu rộng Bình Đẳng không phân biệt, nó chẳng phải PHÀM PHU mà không Hạnh Nguyện được. Không phải THÁNH TĂNG mới Hạnh Nguyện được mà thôi. Nó chẳng giai cấp Thánh Phàm, duy nhất kẻ tu hành có Thiện Chí Độ Sanh thôi.

Hạnh Nguyện có nhiều Bậc, tùy theo Trí Tuệ mà làm, tùy sự Hiểu Biết ít nhiều mà Nguyện làm. Nó chính là một mối giềng của tình Duy Nhất BI NGUYỆN. Cũng có nghĩa là: Thương lấy Mình và thương chung cùng khắp mọi người không phân biệt. Hay bậc tu hành đứng trước mọi hoàn cảnh Trái Nghịch vì Hạnh Nguyện mà không sanh tâm thù hận, hoặc giả tự kiểm điểm thâm tâm có những đố tật và chướng nghiệp chi cản ngăn trên con đường đạo làm giảm bớt sự tu hành liền bỏ được, lại chỉ bày cho kẻ khác giảm bỏ.

Hạnh Nguyện chính là một then chốt NGHI CHẤP để PHÁ CHẤP, khi phá được các Chấp ngăn ngại, liền chỉ bày cho kẻ khác Phá Chấp đặng cùng nhau tiến bộ phá mờ mê, lúc mình Giác Ngộ làm cho kẻ khác đặng Giác vậy.

Kể từ nghìn xưa đến nay, tất cả các bậc Thánh Tăng và PHẬT THÍCH CA MÂU NI buổi ban đầu vẫn nằm trong mê mờ mà đến Chánh Giác, chớ có Vị nào từ Chơn Giác vào mê mờ đâu? Khi đặng Chánh Giác liền Tỏ Biết Mình là Phật từ Vô Thủy chớ chẳng phải bây giờ có hay mới Giác mà diễm nói để giúp kẻ khác được như mình, Đó chính là một mối giềng trong HẠNH NGUYỆN. Hiện nay các bậc tu hành nên nương theo Hạnh Nguyện ấy mà tu, chớ nên dìm mình xuống quá mà không dám Hạnh Nguyện, hoặc chớ nâng mình lên cao quá khi đi trong Hạnh Nguyện ngỡ mình là BỒ TÁT mà nguy hại cho con đường tu hành. Khi Đặng Giác Ngộ hoàn toàn Chân Lý bày biện minh bạch không sai một sợi chỉ một mảy kim, một chân lông hay một sợi tóc vậy.

Chư Bồ Tát cùng với Thánh Tăng lúc đang nằm trong mê mờ không khác các bậc tu hiện giờ. Nhưng chỉ có khác hơn là:TÌM ĐẶNG CHƠN TÁNH MÀ TU, KHÔNG NÂNG MÌNH CAO, CHẲNG HẠ MÌNH THẤP MÀ TU. CÓ CHÍ NGUYỆN ĐẠI BI ĐẠI HỶ ĐẠI XÃ MÀ TU. Lúc Giác Ngộ vẫn nương theo đó mà làm gọi là HẠNH NGUYỆN.

Khi Chư BỒ TÁT đã hoàn toàn biết rõ: Vì BỔN NGUYỆN mà BỒ TÁT mới Thị Hiện, Vì chúng sanh đa bệnh Nghi Chấp mà Thị Hiện. Vì Độ Thoát chúng sanh mà Thị Hiện. Lại vì chúng sanh nhiều bệnh thù hận ganh ghét đố tật phân chia THUẬN NGHỊCH để chấp trước nhận chịu mà Chư BỒ TÁT mới tùy thuận chúng sanh mà thị hiện từng lớp để Độ Sanh gọi là VẠN HẠNH.

Chỉ vì chúng sanh đa bệnh nên Bồ Tát mới Thị Hiện Đa Hạnh đặng chỉ bày tu tập mục đích đưa các chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát thôi.

Do Bổn Nguyện khi Bồ Tát GIẢ MÊ đến Bồ Tát TỎ NGỘ, sanh trưởng trong từng lớp chúng sanh, hoặc ở nơi con nhà Tịnh mà thị hiện hay ở con nhà Bất Tịnh mà thị hiện, hoặc con nhà giàu hay con nhà nghèo mà thị hiện. Nơi mà Bồ Tát Thị Hiện vô kể... vô kể vậy.

Vì nơi thị hiện nương theo từng lớp của chúng sanh để dạy dỗ chỉ bày như vậy nên Phật nói sau:

“Các Ông cũng nên biết rằng:BỒ TÁT dù có đi trong Ba Đường Ác cũng không có tội, lại vì chúng sanh mà Hành Dụng THUẬN hay NGHỊCH cũng không có tội, càng ngày càng tăng Phước Điền. Vì sao? - Vì BỔN NGUYỆN. Vậy đời nầy hay đời sau, các bậc tu có gặp đặng bậc chỉ bày trên đường tu tập miễn làm thế nào cho Trí Tuệ Tăng Trưởng và lìa các Tướng đặng Tri Kiến Giải Thoát thôi. Các Ông chớ nên phê phán, khen chê nó làm cho trên đường tu tập bị LÝ CHƯỚNG và SỰ CHƯỚNG mà khó lãnh hội được lời huấn từ của bậc chỉ dạy, lại cản ngăn lối giải thoát vậy.

Nói đến bậc Chư BỒ TÁT thị hiện, chính là Bậc đã RÕ BIẾT pháp Môn Giải Thoát. Còn bậc đang tu hành thời Chưa Biết mới xin Tu. Khi đã chưa biết, đi tìm cái để mà biết, vì vậy nên việc làm hay chỉ dạy của bậc Giác Ngộ khó mà nghĩ bàn đặng. Bậc ấy tùy thuận theo chúng sanh ngăn chấp khi khen, lúc chê, khi mềm, lúc cứng để chỉ bày từng ly từng tí, miễn sao đưa cho chúng sanh được Tri Kiến Giải Thoát là Duy Nhất, do đó mà dùng đủ phương tiện như sau:

- Chúng sanh ấy có Tánh Thanh Tao hoặc ngay thẳng chân thật, Tâm cao cả rộng rãi hay giúp đỡ mọi người. Thời bậc ấy vì chúng sanh nọ mà khen tặng THIÊN HẠNH là hơn cả. Khiến cho họ thích thú để dìu dắt chỉ bày làm cho Trí Tuệ Tăng Trưởng đoạt đến Tri Kiến Giải Thoát.

- Chúng sanh ấy ưa thích NHÂN-NGHĨA- LỄ-TRÍ-TÍN, Bậc ấy bèn chìu theo ý nên sự Đi-Đứng-Nằm-Ngồi khen tặng Nhân Thiên là hơn cả. Lại dùng phương tiện nói: PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN GIÁC làm cho chúng sanh được vừa lòng, để chỉ bày cho họ đặng Trí Tuệ Tăng Trưởng đến Thông Đạt mà Tri Kiến Giải Thoát.

- Chúng sanh ấy nóng tánh sân hận hay hơn thua kẻ lân cận, bậc ấy vì chúng sanh đó mà khen tặng tán thán pháp NHẪN NHỤC là hơn cả, cùng với Hành Nguyện Lục Hòa thật quý báu vô kể. Làm cho chúng sanh nọ tiêu giảm A TU LA Tánh, lại khiến cho Trí Tuệ Tăng Trưởng Thông Đạt mà Đến Tri Kiến Giải Thoát.

- Chúng sanh ấy vì: Say Dâm Tham Dục Vọng hay vì Ái Nịch, Bậc ấy vì chúng sanh nọ mà diễm nói Sanh Tử Bất Tịnh (lộn kiếp) thọ báo Ngạ Quỷ Súc Sanh, làm cho chúng sanh ấy khỏi sự tham dâm cùng Dục Vọng Tâm ý mở mang vào Bình Đẵng, Trí Tuệ Tăng Trưởng thông đạt mà Tri Kiến Giải Thoát.

- Chúng Sanh ấy ưa thích xa hoa hay nhiều lời dối gạt vọng ngữ. Bậc ấy liền khen tặng lời nói chân thật tu hành Chân Chánh Bản Năng Nhân Thiên sẽ đặng thụ báo các cõi Tiên Thần đầy đủ sự sung sướng, bậc ấy liền nghe theo lìa đặng Súc Sanh Ngạ Quỷ mà Trí Tuệ Tăng Trưởng Thông Đạt đến Tri Kiến Giải Thoát.

- Chúng Sanh ấy vì Tham Sát hay Mưu Sát cùng bày vẻ cho kẻ khác đi sát. Hoặc thù hận chém giết thâm hiểm. Bậc ấy dùng phương tiện khen tặng Công Đức của Pháp Thiện, có khi dạy sự làm Thiện để bồi dưỡng công tu, hoặc phóng sanh thêm Phước Báo, hay Bố Thí để khởi sự Từ Bi, khiến cho chúng sanh ấy nhận đặng nhiều sự lợi ích, làm cho Trí Tuệ Tăng Trưởng Thông Đạt đến Tri Kiến và Giải Thoát.

Nói chung lại chư Bồ TÁT vì chúng sanh mắc vào Ba Cõi Sáu Đường mà tùy nghi thuyết pháp cốt chỉ dạy đến Giải Thoát. Chớ thật ra Bồ Tát không có lấy một Cõi nào gọi là Cõi của BỒ TÁT. Vì sao? Vì tất cả đều là cõi của BỒ TÁT vậy.

BỒ TÁT nương nhờ Hạnh Nguyện mà đặng tròn khắp, được công đức vô lượng vô biên nên việc làm của Bồ Tát khó nghĩ bàn đặng.

Vậy Bậc tu hành nên nương theo Trường của BỒ TÁT HẠNH mà tu, đặng cùng một CHÍ NGUYỆN thời Chư Bồ Tát sẽ hộ trì cho đoạt đến SỞ NGUYỆN.

NAM MÔ HẢI HỘI PHÁP TẠNG
HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT

12 TÂM PHÁP BẤT NHỊ TÂM CẢNH KHÔNG HAI

Tâm chẳng khác nào như NƯỚC BIỂN CẢ, còn Pháp tựa SÓNG CỒN trên mặt biển. Tuy phân biệt nó là: HAI, SÓNG hay NƯỚC, nhưng vốn Đồng Chung một THỂ.

Đứng về Tánh giao động và Hình Dáng của nó mà phân biệt, hoặc Danh Ngã biệt phân: bên phẳng lặng còn bên nổi Cồn cho rằng Sóng cùng Nước thành thử Tương Đối Pháp. Chớ thật chính nó là Nước khởi sanh thôi, nơi Tâm Pháp cũng vậy. Vì tự cho nó là Pháp chớ thật ra nó chính là Tâm, Tâm thời có cùng khắp chung gồm tất cả như thế, nên Tâm không có chỗ chỉ vậy.

Các Bậc tu hành rất cần đến sự rõ biết, cái biết ấy cũng gọi là Trí Tuệ để xét đoán lần đến chân thật đặng vào nơi CHÂN LÝ BẤT NHỊ. Nếu các bậc tu mà nương theo TÂM PHÁP KHÔNG HAI, chính là con đường Tri Kiến. Tối cần nên tự hỏi và tự giải đáp như sau, gọi là Nghi Chấp để Phá Chấp:

TÂM LÀ GÌ? Tâm là Pháp, mà Pháp cũng là Tâm.

TẠI SAO BỊ MẮC NẰM TRONG TÂM? Tại do mình Tự Khởi, lầm vào trong Khởi đó chấp nhận là chân thật, phải mê mà bị nằm, gọi là Khởi Tâm lại nằm trong Tâm vậy .

PHÁP LÀ GÌ? Pháp vốn là Tâm Sanh, do ngăn phân nên có Pháp, nếu chẳng biệt phân thời Pháp cũng không.

TẠI SAO TÂM PHÁP HAY BỊ LẦM LẪN? Vì

bờ ngăn trong Thân và Cảnh Ngoài. Trong Thân mới nhận là : Tâm, còn ngoại cảnh cho nó là Pháp, nên Chướng Đối bị ngăn ngại trở thành lẫn lầm chỗ Tâm Pháp và Pháp Tâm chẳng quyết định. Bậc tu cốt tìm Tâm nhưng tìm chẳng đặng Tâm. Vì sao? Vì một là tìm nơi Tư Tưởng, cho Tư Tưởng đó là Tâm. Hai lại nhận trong Thân ngăn biệt nó là Tâm. Tư Tưởng thời khi có, lúc không, khi còn, lúc mất quanh quẩn điên loạn. Còn trong thân thì Ruột Gan Phèo Phổi nào có Tâm?

Đó chính là những lối chưa biết nên có Bờ Ngăn của Vô Minh che lấp mà thọ chấp riêng khác trong ngoài thành thử tìm chẳng đặng Tâm để tu. Do tìm không được như vậy nên Phật nói: TÌM ĐẶNG CHƠN TÁNH MÀ TU LÀ KHÓ.

CHƠN TÁNH nó cũng là một phương tiện để đến Tâm Cảnh đồng nhất. Nó là một lối tu, tự soi bên ngoài để biết bên trong, nó làm cho Thân Tâm thỏa mãn với ngoại cảnh không mắc miếu, lấy ngoài để hiểu biết trong, lấy trong để so ngoài, làm cho Tự Tánh Bình Đẳng, không khinh khi hoặc vay trả oán thù, cỗi giải cho Tâm Thức nhẹ nhàng khỏi bên suy nghĩ mệt nhọc mắc miếu thâm tâm, hay suy nghĩ những lẽ phải để hiểu biết.

Ví như: Ai đánh đập Ta, Ta biết đau, Ta không nên đánh đập kẻ khác vì kẻ nọ cũng biết đau như Ta.

Cũng như: Ai làm khổ Ta, Ta biết khổ. Thời ta chớ làm khổ cho họ, vì họ cũng biết khổ như ta. Đó gọi là tìm đặng Chơn tánh mà tu vậy.

Còn nói về tìm Tâm và Điều Ngự đặng Tâm, khiến cho Tâm Viên Tịch Tự Tại Vô Ngại Tri Kiến Giải Thoát, thì phải nương vào TÂM PHÁP BẤT NHỊ để mà tu.

Phải tập làm Hạnh Nguyện Độ Sanh, phải thực hành Lục Ba La Mật Đa, phải Tứ Nhiếp Pháp, phải Trí Tuệ và Thiền Định để tỏ rõ ngoại cảnh mà cỗi giải nội tâm. Đó là những bậc sẽ Biết Tâm mà Tỏ Tâm, cũng như Biết Pháp để Tỏ Pháp, khéo làm cho Tâm Pháp viên tịch vậy.

SAU ĐÂY LÀ PHẨM ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHÁP TẠNG ĐỂ VÍ DỤ:

Chẳng khác nào kẻ kia Chưa Biết nước Biển và Sóng đều một gốc phát sanh. Kẻ ấy đến Biển để múc Nước về làm thuốc. Lúc đến nơi: Nhìn thấy toàn là Sóng, bèn lầm tưởng Sóng không phải là Nước, đứng chờ mãi cho hết Sóng đặng lấy nước.

Gặp một Trưởng Giả nọ đi ngang qua, kẻ kia bèn cung kính hỏi han Trưởng Giả nhờ sự giúp đỡ để lấy Nước Biển. Trưởng Giả trầm ngâm thương hại bèn giảng giải rằng:Chính SÓNG ấy nó là NƯỚC, vì nó do Khởi mà phát sanh như vậy đó. Ông chớ sợ nó, Ông cứ thử múc xem. Kẻ ấy vâng lời vì Tin Tưởng Trưởng Giả là Bậc Đại Nhân, tác phong đoan chánh, lời nói ôn hòa hiền hậu đầy đủ các sự cảm hóa. Liền xuống múc. Lúc múc xong nhìn lại trong thùng thấy không có Sóng, vui mừng vô kể, bèn thầm nghĩ thật là điên dại, từ bấy lúc nay, ta cứ đứng chờ cho Sóng lặng để lấy Nước, nào ngờ khi ta đặng Biết nó mà thực hành liền đoạt như ý nguyện, chỉ tại ta Chưa Biết thôi.

Bậc tu hành muốn điều Ngự Tâm cũng thế. Trước khi thu nhiếp Tâm đặng điều ngự lấy nó, thời cần phải siêng tu Pháp Giới, lúc thâm nhập Tỏ Biết Pháp Giới thì Tâm liền thông đạt dung thông,chớ chẳng cần gò nó.

Trong Kinh DUY MA có một đoạn Phá Chấp ngồi yên ngự Tâm lặng lẻ như sau:

PHẬT bảo Ông XÁ LỢI PHẤT rằng: Ông đến thăm bệnh Ông DUY MA CẬT. XÁ LỢI PHẤT Bạch:
Bạch Đức Thế Tôn, con không kham lãnh đến thăm bệnh. Là vì sao? Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng ngồi yên dưới gốc cây. Khi ấy Ông DUY MA đến bảo con rằng: Nầy Ông XÁ LỢI PHẤT! Bất tất ông ngồi sửng đó mới là ngồi yên? Vả chăng yên ngồi là chẳng ở trong Ba Cõi mà hiện Thân Ý mới là yên ngồi. Không khởi Tận Diệt Định mà hiện các oai nghi mới là yên ngồi. Không rời Đạo Pháp mà đồng hiện các việc Phàm Phu mới là yên ngồi. Tâm không trụ trong, cũng không ở ngoài mới là ngồi yên. Đối với các kiến chấp không động mà tu BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO mới là ngồi yên. Không đoạn Phiền Não mà vào Niết Bàn mới là ngồi yên. Nếu ngồi đặng như thế là chỗ Phật ấn khả.

So đoạn kinh trên đủ chứng tỏ sự tu hành gò bó ngồi yên cho Tâm tịch tịnh, nhưng ngược lại Tâm càng mắc miếu lép khô. Chẳng khác nào núi TU DI chống gió, Ngọc LƯU LY bị phủ bùn hạn lượng ánh quang, cây Bồ Đề trồng trong chậu kiểng vậy.

Đoạn kinh DUY MA có câu để chỉ thẳng mà phá chấp như câu: Không rời Đạo Pháp mà chung việc với phàm phu mới là yên ngồi. Câu ấy chứng tỏ bậc tu hành qua các Pháp Giới chẳng chướng ngại trong Hạnh Nguyện Độ sanh, chẳng biệt phân Phàm Thánh khen chê để cầu Tỏ Tâm Thông Pháp.

LẠI CÓ CÂU: Tướng Pháp nó làm cho ta phiền não mà Ta không phiền não ấy là NIẾT BÀN. Vì sao? Vì Tâm là Pháp, mà Pháp cũng do Tâm. Ta vui thì cảnh vui, ta buồn bị cảnh buồn. Pháp có gốc tại ta chưa biết, Pháp không gốc do Ta biệt phân. Khi tỏ Tâm và Pháp là MỘT thì đặng tự tại viên thông chẳng còn nghi ngờ Tâm Pháp vậy.

TÂM PHÁP BẤT NHỊ CHƯ BỒ TÁT PHẬT ĐÃ BIẾT NÊN TRÒN KHẮP, CHÚNG SANH CHƯA BIẾT MÀ PHÂN BIỆT NÊN BỊ BIỆT THÔI.

10. KHỞI TÍN

KHỞI TÍN tức là Khởi Tín Nhiệm, chẳng khác nào có kẻ Khởi Tín ở Hiền gặp Lành hay có người Khởi Tín làm Phúc Đức để lại cho Con, hoặc tu để nhờ Kiếp sau. Khởi Tín nó là mối dây quan hệ để bước vào NHỨT TÂM TIN CẨN.

Vì Khởi Tín nó có đặc tánh trưởng thành giữa Đời và Hành Đạo. Về Đời thì nói: NHƠN VÔ TÍN BẤT LẬP. Về Đạo PHẬT có TÍN mới HẠNH NGUYỆN, còn chẳng Tín không lập nên Hạnh Nguyện. Vì sao? Vì từ Thế Gian hay Xuất Thế Gian hoặc Tam Thiên, tất cả mỗi một người hay vạn vạn kẻ đều Sẵn có đặc điểm Khởi Tín đến Tin Cẩn. Do vậy nên PHẬT chỉ bày cho các Chân Tử một thời gian lúc đã thuần túy hiểu biết Trọn Tin Ngài mới dạy qua: TÍN - HẠNH - NGUYỆN ĐỘ SANH, chớ nào có bảo Hạnh Nguyện không mà đặng Độ Sanh ? Đó chính là yếu điểm cũng có ít nhiều Bậc tu hành chưa quan sát kịp.

Trong thời Đức THÍCH CA còn tại thế, Ngài nói: TA LÀ PHẬT. Ngài liền bảo đảm câu nói của Ngài để cho tất cả Khởi Tín và sau Tin Ngài là PHẬT. Nên chi Ngài mới lập Đạo Tràng và các Phẩm Hạnh: Đi - Đứng Nằm - Ngồi mỗi mỗi để gây tạo cho họ đặng nơi Khởi Tín đến TIN VÂNG mà tu hành.

Tuy nhiên Ngài là PHẬT. Ngài đã đặng VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC trong thời ấy. Nhưng ngược lại có Bậc Khởi Tín, còn có kẻ không tin mà xâm xỉa ngờ vực Ngài thay. Đến nay trên HAI NGÀN NĂM qua họ mới công nhận Ngài là PHẬT, chớ họ chưa tín theo, có một số TIN CẨN tu hành theo Di Truyền Kinh Sách để vào Tri Kiến Giải Thoát vậy.

Trong thời nầy chẳng khác trước, vẫn có Bậc Khởi Tín đến TIN CẨN tu hành Phật Đạo, vì sự tu ấy nên kẻ hiểu ít, bậc biết nhiều, tùy ở nơi Chơn Tín mà thành tựu. Cũng có Bậc Biết Đạo hay đã Thông Đạo từng ra Giáo Pháp dùng Khởi Tín căn bản để làm cho tất cả đặng Tín đến Tin Vâng gìn giữ Đạo Tràng khỏi đoạn. Những Bậc ấy dù hay hoặc dỡ vẫn là Bậc BIẾT LÀM ĐẠO.

Còn có Bậc Biết Đạo hay Thông Đạo từng ra Giáo Pháp chưa trọn Phẩm Hạnh làm cho mất Tác Phong, từng lời nói thô, từng cử chỉ Phi Pháp làm cho tất cả Bất Tín. Những Bậc ấy dù là PHẬT vẫn chưa biết làm Đạo.

LẠI NỮA: Khi Đức THÍCH CA hãy còn là THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA, Ngài có vợ con. Lúc Ngài SỞ ĐẮC CHÂN LÝ VÔ THƯỢNG, Ngài vì tình DUY NHỨT dìu dắt chúng sanh đặng Giác Ngộ Ngài mới làm Đạo Tràng để chỉ bày tu tập. Ngài còn biết rõ Chúng Sanh tuy lầm mê phải chạy theo Sanh Tử như vậy, nhưng Có Sẵn đầy đủ các pháp Tự Lập để sau đặng Chánh Giác làm chủ, nên chi mỗi Bậc đều có đủ quyền tự Khởi Tín đến TIN VÂNG tu tập chớ chẳng ai bắt buộc đặng.

Ngài THẬT BIẾT trong giai đoạn đầu của Chúng Sanh là Khởi Tín nó rất quan hệ cho việc tu hành đặng Giải Thoát. Ngài vì tất cả chúng sanh Đoạn Tín nên Ngài không trở về với Vợ Con. Chớ chẳng phải Ngài trở về với Vợ Con mà mất Chánh Giác của Ngài đâu. Đó chính là một cử chỉ cao đẹp, tình thương cao quý khó nghĩ bàn.

Ngài lại làm tất cả Phẩm Hạnh:Đi Đứng Nằm Ngồi để chữa bệnh Nghi Chấp cho chúng sanh. Ngài vì Chúng Sanh để Khởi Tín hơn là vì Ngài, tìm đủ các biện pháp thích nghi đặng thuyết pháp chẳng thiếu sót trong thời còn Ngài, và cũng ngăn đón đời sau.

NHƯ: Có một số lãnh đạo để dìu dắt chúng sanh Tự Kỷ mình hơn là nương cho Chúng Sanh Khởi Tín đến TIN VÂNG tu hành.

- Dùng Đạo để buôn người hơn là tìm biện pháp thích nghi chỉ dạy Pháp Môn TRI KIẾN.

- Phá Phẩm Hạnh tác phong Phật Đạo rồi tự tác là: Phá Chấp cho chúng sanh tiến bộ. Đi trong SÁT để làm Đạo gọi là: Xây Dựng Chánh Pháp. Đi trong DÂM để làm Đạo gọi là : Độ Ba đường Ác. Đi trong Bí Thuật cho chúng sanh Cuồng Tín gọi là CỨU ĐỘ. Những lối lãnh đạo như thế Ngài ĐÃ BIẾT nên Ngài nói để kìm hãm ngăn đón các Bậc lãnh đạo về sau như :

PHẬT NÓI: Các Ông cũng nên biết rằng: Đời sau Chúng Sanh chẳng khác nào NỒI ĐẤT MỎNG, các Ông nên tùy thuận nương theo họ mà thuyết pháp dạy dỗ, chớ nên làm cho họ Đoạn Duyên hay Bất Tín bỏ tu hành. Đó chính là lời HUẤN TỪ của TA vậy.

Lại còn nhắc nhở Phẩm Hạnh bị mất, tức nhiên Tự Cao Thượng Mạng mà Phật nói: Các Ông cũng nên biết rằng:Thời sau có Ba thứ MA. Nhưng Ma Dân và Ma Nữ thịnh hành, nó vẫn có đủ đồ chúng, cũng tự xưng Đạo Vô Thượng thuyết pháp in như PHẬT. Duy chỉ có sai khác hơn là chúng nhai nuốt lẫn nhau, đảm phá Phẩm Hạnh. Lấy SÁT làm Đạo, hoặc lấy DÂM làm Đạo. Chúng làm cho Đạo Bồ Đề lu mờ để đưa Chúng Sanh vào hồ nghi khó khăn Khởi Tín vậy.

Lời PHẬT nói trên để nhắc cho Bậc Giáo Pháp làm tấm gương vừa chỉ dạy cho kẻ khác nghe mà cũng chính mình nghe. Hoặc đi trên con đường lãnh đạo chưa vẹn vừa và thích hợp Căn của mọi từng lớp nên kiểm điểm sửa chữa. Nếu kẻ khác có quyền Khởi Tín hay chưa Tín, chớ vội cho họ là : Nghiệp Nặng hay Nồi Đất Mỏng để tự xâm xĩa thù ghét. Mà chính mình tự phát ra những thứ ấy, lại tự lãnh lấy không hay biết vậy.

KHỞI TÍN tuy là một lần đầu để đến TIN VÂNG tu PHẬT. Khuyên những bậc khi đã Khởi Tín mà Tin Vâng tu hành nên nghe theo lời dạy của Thiện Trí Thức, nên làm tròn bổn phận Đệ Tử mà đào tạo thành Chân Tử của PHẬT. Chớ vì Nghiệp Tự Tánh buông lung hay Ngã Mạng cho mình Đã Biết mà bị vào LÝ CHƯỚNG si mê cùng SỰ CHƯỚNG chẳng tu sửa vẫn sai trong thời tu học.

NHƯ:Trong thời còn PHẬT, Đức THÍCH CA chưa nhập Niết Bàn, Ngài chỉ dạy 1200 vị tu hành, cũng vẫn có tình trạng Nghi Chấp Nghiệp Lực cản ngăn làm cho Lý Chướng và Sự Chướng. Nên chi sự tu cũng không ĐỒNG. Có bậc ĐÃ BIẾT, Có Bậc ĐẶNG BIẾT, CÓ BẬC CHƯA BIẾT. Và chỉ có Bậc TIN VÂNG trọn liền thâm nhập PHÁP BẢO đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT HOÀN TOÀN.

Ngài nhận thấy sự tiến bộ không đồng ngăn cách như vậy, nên NGÀI NÓI: TA thường thuyết pháp DUY NHẤT PHẬT THỪA, chớ chẳng có TAM THỪA. Do Duyên như vậy nên những Bậc tu tập hoặc từ Khởi Tín đến TIN VÂNG đều là Duy Nhất Phật Thừa. Bởi vì Nghi Chấp cùng Căn Cơ của các Ông không Đồng thành thử có Tam Thừa, TA phải nương theo các Ôâng để chỉ dạy.

Nếu đời sau, khi TA nhập Niết Bàn, các ôâng có gặp đặng Bậc Thiện Trí Thức là PHẬT, thì Vị ấy cũng Đồng diễn nói Phật Thừa. Các ông nên TIN VÂNG để trọn lãnh sự chỉ bày thời các ông đặng thành PHẬT.

Bằng gặp Thiện Trí Thức là BỒ TÁT hay A LA HÁN và BÍCH CHI, các ông nên trọn TIN VÂNG mà thọ lãnh, liền thành BỒ TÁT, A LA HÁN, và BÍCH CHI.

Dù các ôâng gặp Bậc Thiện Trí Thức là Ngoại Đạo hoặc Tà Giáo. Các Ông vẫn trọn TIN VÂNG mà thọ lãnh liền thành Ngoại Đạo hay Tà Giáo. Nhưng lỗi ấy chẳng phải của các Ông. Chính là lỗi của Bậc Lãnh Đạo.

Lời PHẬT nói trong Kinh PHÁP HOA và Kinh VIÊN GIÁC. Nên chi Bậc tu hành nào mà Khởi Tín trong thời nào hay gặp Bậc Thiện Trí Thức Sở Đắc chứng minh cho tức thì nơi Khởi Tín đến ngang với mức độ đó như : Gặp PHẬT thời khởi tín PHẬT THỪA. Gặp BỒ TÁT, A LA HÁN hay BÍCH CHI thời khởi tín đến Bậc BỒ TÁT, A LA HÁN và BÍCH CHI. Vẫn đặng Thọ Báo Phước Điền vô kể. Nếu gặp Ngoại Đạo và Tà Giáo thời khởi tín đến bậc Ngoại Đạo hay Tà giáo, vẫn đặng giàu sang. Chớ không thể nào ngang hàng Khởi Tín với PHẬT. Vì sao sự Biết ấy chưa CHÁNH GIÁC mà Khởi Tín cũng chưa.

KHỞI TÍN nó Duy Nhất không Hai. Nhưng vì sự hiểu biết không Đồng do Bờ Ngăn Chấp của ý muốn riêng khác thành thử sự TIN VÂNG chẳng đều mà sự tu hành chia ra nhiều bậc khác nhau, đến sau nầy nẩy nở có nhiều lối tu do bởi lẻ ấy mà thành tựu. Nhưng có một cái là đường lối nào cũng dụng ở NHẤT TÂM TIN VÂNG trọn đặng trở lại DUY NHẤT KHỞI TÍN PHẬT THỪA là then chốt để GIÁC NGỘ, nó chẳng khác nào trăm sông ngòi về một BIỂN CẢ vậy.

Do đó khi nó đã đến thời kỳ Chánh Giác cũng gọi là Căn Cơ được đầy đủ thì các Bậc gặp đặng PHẬT mà tu. Những Bậc ấy họ đã Khởi Tín từ lâu chớ chẳng phải hiện giờ mới Khởi Tín. Nên chi họ tự phát tâm Độ Sanh, phát Bồ Đề Nguyện, biết tìm Chơn Tánh để mà tu, biết lập Phẩm Hạnh Nhân Thiên, biết dùng Thiền Định để soi sáng, biết Nghi Chấp để Phá Chấp đặng Tự Lợi đến Tha Lợi, biết xây dựng Chánh Pháp làm cho tất cả mọi kẻ Tín Nhiệm Đạo để Khởi Tín đến TIN VÂNG. Biết quan hệ Đạo Tràng mà chẳng chìm đắm Vợ chồng Con Cái trong Ái Nịch Ái Dục. Lại TÍN HẠNH NGUYỆN cầu lấy Chánh Giác. Vì vậy mà nghe đặng lời thuyết pháp của PHẬT, lại Rõ Biết sự Kín Nhiệm của NHƯ LAI thọ lãnh Bảo Pháp. Những Bậc ấy khó mà nghĩ bàn đặng.

Lại có Bậc tuy chưa đặng gặp PHẬT, nhưng bậc ấy đã Tự Tín con đường tu PHẬT là Giải Thoát hay Tin vào pháp môn Đại Thừa để tìm Chơn Tánh mà tu. Thời những Bậc ấy đã Khởi Tín từ lâu nên chi mới đặng hiểu biết như vậy.

Có Bậc tin Nhân Quả, tin sự tu hành hơn Tiền Bạc giàu sang, biết cung kính ngôi TAM BẢO, biết kính nhường SA MÔN, biết mến yêu bậc HIỀN ĐỨC, biết Tự Trọng lấy MÌNH, chẳng khinh khi kẻ NGU DẠI NGHÈO KHÓ. Nhưng họ chưa tu. Những bậc ấy cũng có Khởi Tín rồi, hôm nay họ chỉ chờ gặp Thiện Trí Thức theo Sở Cầu của họ để mà tu.

KHỞI TÍN nó quan trọng như vậy, các Bậc Lãnh Đạo nên thịnh trọng gìn giữ cho họ đặng Khởi Tín đến Tin Cẩn, chớ nên lố lăng làm mất Phẩm Hạnh và Tác Phong, khiến cho họ Đoạn Duyên Khởi Tín. Một là chính mình thiếu sót. Hai là tự trái lại lời Phó Chúc của PHẬT. Ba là chẳng chọn TIN VÂNG TAM THẾ.

Các Bậc nên nhớ ghi:
- TRÍ TUỆ để phá Nghi Chấp.
- PHẨM HẠNH để Tín Hạnh Nguyện tròn khắp chẳng làm mất Hạt Giống của NHƯ LAI VẬY.

NAM MÔ KHỞI TÍN TÔN PHẬT

9. PHÁP ĐẢNH NHƯ LAI TẠNG

PHÁP ĐẢNH TÙY THUẬN CHÚNG SANH THỊ HIỆN CÁC CÕI

PHÁP ĐẢNH NHƯ LAI TẠNG cũng là CÁI BIẾT tròn khắp Bất Nhị. Vì Pháp Đãnh trùm khắp vốn sẵn Bình Đẳng như vậy, nên tất cả đều có Cái Biết không thiếu sót. Nhưng chỉ vì Tự Ngã thọ chấp sai lầm BỜ NGĂN GIỚI HẠN nên gọi là: Chúng Sanh Giới hay Chúng Sanh. Chớ thật ra Cái Biết chẳng có Bờ Ngăn Giới Hạn thì cũng không có Chúng Sanh hay Chúng Sanh Giới.

NÊN CHI: Phật đặng Cái Biết viên dung trùm khắp Chúng Sanh Cái Biết hạn lượng giới ngăn .

Phật Đã biết - Chúng Sanh chưa biết. Phật Giác Ngộ - Chúng Sanh mê lầm Phật và Chúng Sanh hơn nhau chỗ Mê và Ngộ.

Do những lối ngăn cách như thế nên Pháp Đãnh vốn thì Nguyên Sẵn, Cái Biết chung cùng. Nhưng chúng sanh Tự Ngã của mỗi Bậc biết riêng tư thành thử đóng vào khuôn Bị Biết. Cái Bị Biết ấy chính là Cái Muốn từng phần, do cái muốn từng phần đó mà Pháp Đãnh tùy thuận theo từng bậc hiểu biết tạo thành Cảnh Giới, gọi là Chánh Báo hoặc Chịu Báo.

NÊN PHẬT NÓI: Tất cả chúng sanh từ thế gian hay ly thế gian hoặc trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, thảy đều thọ lãnh các Cõi mà an trụ. Chỉ vì Cái Biết riêng tư ưa muốn và mong cầu Pháp Đãnh thọ chấp Tập Khởi trong Kiến Chấp thành tựu lấy Cõi. Từng đoạn này qua đoạn kia để bắt lấy gìn giữ Cái Biết biệt ngăn cho phần ấy là của mình.Nên chi họ TỰ TẠO LẤY CÕI, RỒI TỰ LÃNH LẤY CÕI. HỌ TẠO, HỌ NGỠ LÀ AI BAN CHO HỌ,

Vì như thế nên chi chúng sanh ưa muốn tu Tiên đặng thành Tiên. Muốn làm Thiện được hưởng Phước Báo. Muốn Sát-Đạo-Dâm phải bị sa đọa nơi Địa Ngục, Súc Sanh và Ngạ Quỷ. Đó là do Tự Tạo lấy Cảnh Giới Thiện, Bất Thiện, gọi là Vay-Trả vậy.

Chính do Cái Biết viên thông hay ngăn cách lớn nhỏ Thanh Thô mà tùy thuận Pháp Đãnh thị hiện. Lại Thọ Báo về THÂN của các loài, Thân lớn, Thân Nhỏ, Thân Thanh. Thân Thô, duy chỉ có CÁI BIẾT trở thành THÂN.

NÊN PHẬT NÓI : Nó Biết thế nào, Nó Muốn thế ấy. Nó thành tựu như vậy, chớ chẳng ai ban cho nó.Chỉ nó Biết-Muốn mà đặng.

Vì như vậy các Bậc tu hành để cầu lấy

CÁI BIẾT rộng rãi Thường Còn Bất Biến, gọi là BIẾT MUỐN mà Thành Tựu Trọn Nguyền như Sở Nguyện. Muốn đặng như vậy phải Phát Bồ Đề Tâm cùng thực hành Tứ Nhiếp Pháp và Lục Ba La Hạnh. Con đường ấy Chư BỒ TÁT đã làm hay đang làm gọi là BỒ TÁT HẠNH. Mặc dù hiện tại các Bậc tu hành chưa phải là Bồ Tát, nhưng nên vào TRƯỜNG Bồ Tát để mà học, sau sẽ trở thành Bồ Tát. Chư Bồ Tát trước kia Cái Biết vẫn có Bờ Ngăn, vẫn hay phân biệt, vẫn chìm đắm mê mờ. Nhưng có Chí Nguyện Kiên Dũng phá Bờ Ngăn, không nhận lấy Cái Biết nhỏ nhen eo hẹp, mà thực hành Tứ Nhiếp Pháp cùng Lục Ba La Hạnh để cỗi mở Cái Biết trùm khắp đặng Tri Kiến Giải Thoát Tự Tại Vô Ngại vậy.

Các Bậc tu hành nên nương theo TỨ NHIẾP HẠNH để thu nhiếp các Thuận-Nghịch mà đặng Cái Biết rộng rãi phá Bờ Ngăn Chấp của kẻ Dại người Khôn, kẻ Xấu người Tốt , để được từ Cái Biết phân biệt đi đến Cái Biết dung hòa như sau :

TỨ NHIẾP HẠNH CÓ:

1- ĐỒNG SỰ NHIẾP 2- ÁI NGỮ NHIẾP

3- TỰ LỢI NHIẾP 4- BỐ THÍ NHIẾP

Bốn Pháp Hạnh thu nhiếp ấy giúp cho các Bậc tu hành cổi giải tâm gút mắc, phá chấp Tự Ngã, cầu lấy Hiểu Biết mình và mọi kẻ, nó là một phương thức giải Bờ Ngăn, lập đặng Trí Tuệ. Nếu tu hành mà chẳng thi hành Tứ Nhiếp Hạnh thời chẳng khác nào AO SEN kia khô nước giữa chất Bùn Đất không vào đặng cây Sen vậy.

Sau đây là chi tiết của TỨ NHIẾP HẠNH:

ĐỒNG SỰ NHIẾP: Đồng Sự với tất cả mọi người không phân biệt giai cấp. Khi bậc tu hành khởi tâm khinh khi, ghét bỏ, chê bai hoặc thù hận, thì nên điều ngự Tâm dẹp bỏ, để cùng với mọi kẻ hòa hợp và cùng để tự mình soi kẻ ấy có những tánh chi mà tỏ biết chung, hoặc làm cho họ đặng Trí Tuệ Tăng Trưởng hay Tâm vui trong Lục Hòa, cùng đi vào con đường Chân lý hiểu biết chung cùng đặng đồng hưởng Phước Điền. Đó gọi là: Đồng Sự Nhiếp Hạnh.

ÁI NGỮ NHIẾP: Từ một lời nói chân thật Hiền Đức vừa nơi miệng mình thốt ra làm cho tất cả mọi kẻ đặng cảm mến, bạn bè quyến thuộc bắt chước, lại tan dẹp tất cả hận thù nơi thâm tâm mình, mà ngược lại hòa giải cho tất cả được Lục Hòa êm đẹp. Còn làm cho họ đặng Trí tuệ Tăng Trưởng, hay vui trong Lục Hòa cùng chung vào đường Chân Lý, đồng hưởng Phước Điền. Đó gọi là Ái Ngữ Nhiếp.

TỰ LỢI NHIẾP: Bậc tu hành hiểu biết và

sự lợi ích để phá mê bởi ngăn chấp nên bị biết. Khi đã tỏ biết nó ích lợi cho mình, mà cái lợi ấy muốn giữa mình có lợi, kẻ khác đặng lợi, nên thực hành Tự Lợi chung với Tha Lợi. Cũng như mình và người đồng chung cái lợi ấy nên tất cả mọi kẻ từ bạn bè đến quyến thuộc đều dùng phương tiện tinh xảo làm cho tất cả đặng mến phục thu nhiếp đồng dìu dắt họ chung hưởng Chân Lý Thường Còn, khiến cho họ được Phước Điền. Đó gọi là Tự Lợi Nhiếp.

BỐ THÍ NHIẾP: Vì trong sự tu tập nên Cái Biết rộng rãi, Tâm Ý mở mang. Nay muốn cho tất cả phá bờ ngăn mà Tâm được mở, nên dùng phương tiện Bố Thí để thu nhiếp tất cả bạn bè quyến thuộc bắt chước làm, để cho họ từ nơi Tâm Ý eo hẹp, lề thói nhỏ nhen khiến họ đặng lớn lao mà Cái Biết rộng rãi. Khi lãnh Bố Thí của mình và sau bắt chước mình mà Bố Thí cùng chung vào sự ích lợi Chân Lý đặng cùng an hưởng Phước Điền. Đó gọi là Bố Thí Nhiếp.

Khi đã thực hành Tứ Nhiếp Hạnh thời đi liền với LỤC BA LA đặng có sự Nhiếp Tâm trên con đường BỒ TÁT HẠNH trọn vẹn. Cũng chẳng khác nào vào đến TRƯỜNG học phải cho đủ môn để Tỏ Biết vững vàng một khi có Bờ Ngăn Nghi Chấp thời Bậc tu hành mới đủ Công Năng để PHÁ BỜ NGĂN vậy.

Sau đây là LỤC BA LA HẠNH và cũng là Chi Tiết các HẠNH để hiểu mà tu sửa thực hành:

1- BỐ THÍ HẠNH 2- TRÌ GIỚI HẠNH

3- TINH TẤN HẠNH 4- NHẪN NHỤC HẠNH

5- TRÍ TUỆ HẠNH 6- THIỀN ĐỊNH HẠNH.

Chi Tiết như sau:

BỐ THÍ HẠNH: Có Tài Thí, Pháp Thí, Vô Úy Thí, Tự Lợi và Tha Lợi Thí.

TRÌ GIỚI HẠNH: Tất cả Phẩm Hạnh và Đức Hạnh bảo tồn. Trên công việc Đạo Tràng nên làm theo những gì mà mọi kẻ ưa thích thì Bậc tu nên làm, còn chẳng ưa hoặc họ chê bai pháp Bất Tịnh hay họ cho Sát Đạo Dâm là Phi Pháp trong Đạo Tràng thời Bậc tu hành chớ nên làm. Miễn sao tùy thuận xuôi dòng để đoạt đến Cái Biết chung, đó gọi là TRÌ GIỚI HẠNH.

TINH TẤN HẠNH: Siêng Năng tu trong Lục Ba La chẳng ngừng, đoạt đến Cái Biết chung cùng không nghỉ, bảo tồn lời hứa chẳng cho Bất Tín với tất cả bạn bè quyến thuộc để cho họ bắt chước mà làm Tinh Tấn Hạnh. Đó gọi là TINH TẤN HẠNH.

NHẪN NHỤC HẠNH: Nhẫn Nhục đặng dung hòa tỏ biết, nhẫn nhục mới đặng xuôi dòng Tỏ Tâm. Từ nơi Biết của mình viên thông với Cái Biết mọi kẻ mà Nhẫn Nhục. Duy chỉ có nhẫn nhục mà thu nhiếp cho họ đặng sự gần mình để mình gieo Chân lý lại cho họ được hưởng Chân Lý, cùng với tất cả đặng ích lợi Tri Kiến Giải Thoát, do vậy mà lập Nhẫn Nhục Hạnh.

TRÍ TUỆ HẠNH:Khéo tầm hiểu Cái Biết sâu đậm khi chưa Biết mà nay được Biết, khi chưa Nghe mà nay được Nghe, khi vì Bờ Ngăn Cái Biết nhỏ nhen nay được Cái Biết rộng. Trước tu tập mờ tối nay đặng Biết Đạo Tràng lần đến trọn vẹn gọi là Trí Tuệ Hạnh.

Lại nay khéo dùng lời nói làm cho tất cả bạn bè quyến thuộc được tùy theo mức biết của họ mà thuyết pháp, làm cho kẻ ưa thích Nghe liền đặng Nghe mà thọ lãnh, dùng vừa tầm gọi là Khéo Trí. Nếu lời nói chẳng đúng tầm mức của kẻ nghe, hoặc cao quá hay thấp quá chưa phải là Trí Tuệ Hạnh, mà chính bậc nói bị Mất Hạnh. Trí Tuệ Hạnh cũng vậy.

THIỀN ĐỊNH HẠNH:Tức là Hạnh Thiên Thừa. Bậc tu Thiền Định làm cho Trí Tuệ mở mang. Từ nơi làm Hạnh có một căn bản rõ đặng từng Bậc mà làm cho họ ưa thích Đạo Tràng, ưa thích Cái Biết rỗng rang cùng khắp. Lại trong lúc gần tất cả bạn bè quyến thuộc cùng tất cả mọi người chẳng có ý khoe khoan, thâm tâm kín nhiệm để tỏ thấu trong Lục Ba La Mật Đa đặng vào Biển Cả chẳng còn Bờ Ngăn gọi là GIỚI HẠN hay CHÚNG SANH GIỚI HẠN. Đó gọi là THIỀN ĐỊNH HẠNH.

Con đường tu PHẬT là một con đường để các Bậc tu tìm đặng CÁI BIẾT trùm khắp viên dung. Khi Cái Biết đặng như thế thì đặng PHÁP ĐÃNH NHƯ LAI THỌ KÝ THÀNH PHẬT.

Từ Cái Biết đóng khuôn trong Bờ Ngăn Chấp đến Cái Biết tròn khắp viên dung được Tự Tại Vô Ngại gọi là TRI KIẾN GIẢI THOÁT, chớ chẳng chi là GIẢI THOÁT. Vì sao? Vì tất cả đã giải thoát từ lâu. Hiện giờ Bậc tu còn mắc miếu đang BỊ BIẾT nên bị Sanh Tử, chớ nào có ai Sanh Tử đâu mà Ảo Tưởng vậy.

NAM MÔ PHÁP HẢI THANH TỊNH
ĐẠI PHÁP ĐẢNH THỌ PHẬT