14. Với đài phát thanh BBC

Mỗi buổi sáng đúng 6 giờ đài phát thanh BBC từ Luân Đôn, Anh Quốc phát nhạc hiệu loan tin tức quốc tế và một bài bình luận thời sự. Thường lệ cứ đúng 6 giờ sáng, Ngài mở chiếc radio National nhỏ, nghe tin tức các nước. Nhờ đài này mang nhiều tin tức quốc tế quan trọng, loan truyền đúng đắn mà tối đến Ngài xuất định thị hiện những nơi cần thiết ở Nam và Bắc bán cầu điều động Chư Thiên, Địa Thần, Long Thần hóa giải tốt đẹp cho rất nhiều vấn đề.

Phép nhiệm mầu kỳ diệu mang tầm vóc thế kỷ đến. Tại chính trường Liên Xô, đầu năm 1985 đã xuất hiện một ngôi sao sáng ông Mk. Gorbachev làm đảo lộn tình hình thế giới. Khi nắm giữ trọn đảng Cộng Sản và có thực quyền nhà nước Liên Bang Xô Viết, ông đổi mới tư duy của Đảng đã có từ thời đầu cuộc cách mạng Liên Xô.

Ông Mk. Gorbachev

Đối ngoại bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cộng Sản Trung Hoa, bang giao với Hoa Kỳ và chủ trương đối thoại với các cường quốc thay cho đương đầu làm thế giới không còn bị đe dọa bởi chiến tranh. Năm 1991 Cộng Sản Liên Bang Xô Viết rã rời từng mảnh sau trận cuồng phong chính trị. Nay chỉ còn các xứ Cộng Hòa sống theo đường lối tự do và kinh doanh thị trường. Do đổi mới tư duy dẫn đến sự kiện đảo chánh bất thành ở thủ đô Matxcova tháng 10 năm 1991 kết quả làm cho đảng Cộng Sản Liên Bang Xô Viết phải giải tán.

Ngài theo dõi tình hình diễn biến qua đài BBC loan tin, đôi khi Ngài báo trước việc sẽ đến, sau đó đài BBC loan tin đúng y. Tháng 12 năm 1991 biến cố lịch sử quan trọng diễn ra một lần nữa ở Matxcova đã dẫn đến sụp đổ nhanh chóng chế độ Cộng Sản Liên Bang Xô Viết vừa tròn 74 mùa Xuân, nay đã biến thành mùa Đông ảm đạm đầy u buồn cho người Cộng Sản.

...tóc Ngài đã bạc trắng

Chỉ có một đêm của tháng 12/1991 đầy kỷ niệm mà sáng ra tóc Ngài đã bạc trắng. Lúc này Ngài đã 73 tuổi. Lá cờ màu đỏ “búa liềm” gác chéo nhau, biểu tượng cho giới công nhân của Cộng Sản đã nhường chỗ cho lá cờ “ba màu” của Liên Bang Nga kéo lên đầy vẻ kiêu hùng trên nóc điện Kremlin.

Rồi đài BBC loan tin Quốc Hội Liên Xô muốn đảo ngược bánh xe tiến hóa lịch sử trở lại. Ngài cười tuy vậy Ngài vẫn tiếp tục nhập Chánh Định quán xuyến và xuất định đi hóa giải.

Tháng 10 năm 1992 sự cố rối loạn gây bất ổn ở Matxcova đã khiến Tổng Thống Yeltsin giải tán Quốc Hội Liên Xô đã có từ năm 1936 và được tu chỉnh năm 1977. Thế là lớp người chuyên chế cuối cùng của quá khứ đã ra đi. Từ đó trở về sau này thế giới dần dần đi đến thanh bình và không ai cản trở được đà tiến hóa tốt đẹp của nhân loại.

Sự đe dọa từ các nước Cộng Sản Đông Âu và Cộng Sản Liên Xô nay không còn nữa mà đã trở thành các nước tự do sống theo quy chế thị trường. Nhờ đài BBC loan tin, từ thành phố Nha Trang xa xôi mà những quốc gia từ Phương Tây tạo nguy hiểm như Tự Do và Cộng Sản, đua nhau sản xuất vũ khí hóa học, vi trùng học, bom khinh khí, bom Neutron, bom nguyên tử, đã được Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc quan tâm hóa giải. Ngày nay đã ký hiệp ước đình sản xuất và tiêu hủy mà trước đó không ai ngờ rằng sự chung sống hòa bình này lại có thể xảy ra mà nó đã xảy ra thật. Nhân loại đều công nhận Đệ Tam Thế Chiến đã không còn đe dọa nó vĩnh viễn trở thành chuyện của quá khứ.

Ngày nay chỉ còn mỗi nước, anh em trong một nhà tranh giành nhau và nạn “Đại ca” cũng được Liên Hiệp Quốc quan tâm ổn định. Thế giới cũng đã xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc, cảnh áp bức và đè ép dân đều bị quốc tế lên án, không được chấp nhận.

Theo Hịch chứng minh của Đức Tịnh Vương Nhất Tôn-Đương Lai Hạ Sanh Tôn Phật đã ký ban hành ẩn danh chính Đức Di Lạc với Phật Lực đầy lòng Đại Bi đã làm cho “chúng sinh chưa hồi hướng nên giúp đỡ hồi hướng" được Chư Bồ Tát, Chư Thiên, Chư Thần, Chư Hộ Pháp vô hình giúp đỡ, thiện cũng giúp mà ác cũng giúp, nhân loại đã được an lành và Xuân Di Lạc đem lại an vui hạnh phúc cho cuộc diện chung của thế giới.

“Chỉ trừ trường hợp”... chúng sanh, lãnh tụ vì cá tánh bảo thủ ác căn, nghiệt căn sẽ được Hộ Pháp vô hình kiên nhẫn giúp đỡ.

Tỷ như đứa trẻ con nghịch ngợm ưa chơi đùa với lửa gần bồn xăng. Ông cha thấy nguy hiểm vì thương con nên bảo: Con ơi! con đừng chơi với lửa gần xăng, nguy hiểm lắm! Có ngày chết cháy và tiêu hủy cả xóm làng! Đứa trẻ nghe lời vừa đi vừa đọc: Con ơi! con đừng chơi với lửa sẽ bị chết cháy. Miệng nó cứ đọc nhưng tay nó vẫn đùa giỡn với lửa, ông cha thấy năm lần bảy lượt đứa con chưa ý thức được sự tác hại của lửa có thể làm tiêu hủy cả xóm làng, ông cầm cây roi đánh vào mông nó một cái thật đau, đứa trẻ con bị đau quá hoảng sợ, về sau nó không dám đùa giỡn với lửa và mỗi lần thấy lửa là nó sợ.

Hàng xóm nhìn ông cha khuyên dạy con ôn tồn, họ bảo ông cha này nhân từ quá, nhưng hôm nay thấy ông cha đánh con họ bảo: Ông cha này ác, không phải người tu hành chân chính, họ phê phán chỉ trích. Còn phần ông cha thương con, cứu cả xóm làng đành chịu tiếng thị phi!

Tháng 4 năm 1986 lò nguyên tử ở Chernobyl của Liên Xô nổ dân chúng trong vùng chạy hỗn loạn, mạnh ai nấy chạy thoát thân, đến nỗi cha, con, chồng, vợ cũng mạnh ai nấy chạy, chạy thật xa tránh phóng xạ, thứ bụi quá độc ác, nó không chừa một ai khi đã dính vào nó, cuộc đời kể như tàn. Không những chỉ con người mà ngay cả sinh vật khác cũng không còn và biết bao nhiêu bào thai dị dạng khi sinh ra đã làm cho dân Liên Xô kinh hoàng. Đến nay khi nhớ lại, không những chỉ dân chúng Liên Xô mà cả loài người vẫn còn hú hồn hú vía!

Sự kiện lò nguyên tử nổ, đã làm Liên Xô và Hoa Kỳ quyết tâm lôi kéo thế giới đi đến hiệp ước cấm phổ biến vũ khí nguyên tử và vũ khí giết người hàng loạt, góp phần xây dựng kiến tạo Hòa Bình. Những năm gần đây còn có hiệp định phá hủy những vũ khí đã có. Ngài rất an lòng tin tưởng được rằng: “Ngón tay Ta chỉ Chư Hầu đều vâng” thể hiện được Phật Lực có một không hai trong thời Hạ Lai Mạt Kiếp này. Cách đây 2539 năm Phật Lịch, Thái Tử Tất Đạt Đa đã ra đời ở Ấn Độ. Năm 19 tuổi Ngài nhận thức được Sanh-Lão-Bệnh-Tử làm cho chúng sinh đau khổ, chỉ có con đường giải thoát sinh tử luân hồi là hết khổ. Ngài liền bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, quyết chí xuất gia tìm đạo. Qua bao gian khổ Ngài đoạt Chánh Giác thành Phật, hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài hoá độ tất cả chúng sinh theo con đường “Giải Thoát Sanh Tử Luân Hồi”, đủ tất cả tầng lớp, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn của xã hội thời bấy giờ. Một người gánh phân thuộc giai cấp thấp hèn nhất của xã hội thời đó, tu hành đắc đạo Thánh cũng được vua và giới quyền quý kính trọng. Ngài đã giải phóng nô lệ, xóa bỏ phân biệt giai cấp. Tất cả người dân đều được bình đẳng và tự do. Ngài đã khai thị: “Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh”

Ngài còn làm cho chúng sinh vững niềm tin hơn khi khai thị: “Ta là Phật đã thành chúng sinh là Phật sẽ thành” để chúng sinh quyết noi gương Ngài tu hành thành Chánh Đẳng Chánh Giác mà thoát sanh tử luân hồi. Trong 49 năm hành đạo, Ngài đã đào tạo được hàng Bồ Tát giác ngộ rốt ráo, hàng A La Hán, Tôn Giả giác ngộ và lưu lại Tam Tạng Kinh Điển cho hàng Thánh Chúng giúp chỉ đạo sinh tử cho chúng sinh.

Ngài chăm sóc khai thị hàng Bồ Tát biết Xuất Nhập Chánh Định để thực hiện Siêu Thiện, pháp của Phật Thừa. Hàng A La hán, Tôn Giả giác ngộ đạo Thánh Hiền thực hiện Thiện căn, pháp của Đại Thừa. Còn đối với chúng sinh Ngài đã đem lòng Đại Bi hòa đồng, trong lúc xã hội bấy giờ phân biệt giai cấp quá khắt khe. Ngài phải diệu dụng đi khất thực (xin ăn) để thể hiện Ngài và lớp người cùng đinh là một.

Ngài đã thọ ký Đức Di Lạc Hạ Lai tận độ chúng sinh thời Mạt Kiếp cũng là Mạt Pháp. Đức Di Lạc đã đến ta bà thế giới này, Ngài cũng khai đạo, giải quyết sanh tử luân hồi, chánh giác thoát khỏi vũ trụ, làm chủ vũ trụ và tận độ chúng sinh theo con đường Đức Bổn Sư đã đi.

Ngài cũng lưu lại hàng Thánh Chúng: Bồ Tát, A la Hán, Tôn Giả cũng lưu lại Tam Tạng Kinh. Ngài xuất nhập chánh định, vào thời đại khoa học, thời nguyên tử âm thầm dập tắt lò lửa khổng lồ của quả địa cầu đang bùng cháy chờ ngày tận thế, ngày tiêu diệt tứ loài của hai khối Tự Do và Cộng Sản. Để lưu lại cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Ngài cũng tâm ấn, dìu dắt Bồ Tát xuất nhập chánh định tam muội để nối tiếp Chư Phật giữ gìn chánh pháp tận độ chúng sinh. Hai câu thơ Ngài ghi bút biện minh việc tận độ chúng sinh hiện đại nhất, độc đáo nhất của Ngài:

Giữa thời Đông-Độ hòa Tây-Độ
Chỉ một cành hoa tát biển sâu.

–T.V.

Ngoài ra còn các Giáo Chủ của các Tôn Giáo trên qủa địa cầu này khai đạo cũng đem lòng từ bi, bác ái cứu chúng sinh. Những vị này, chịu đựng vạn pháp giỏi, tiên tri giỏi, thần thông phép lạ thần kỳ làm vượt sức hiểu biết của loài người nên được loài người tôn sùng nhưng hầu hết chưa đạt đến mức Xuất Nhập Chánh Định Tam Muội. Do đó dạy được người làm lành lánh dữ đạt tới Thánh Hiền giác ngộ là cao nhất.

Gặp chúng sinh lãnh đạo ác căn, nghiệt căn không nghe cũng đành chịu, cuối cùng đem tình thương hy sinh thân mạng để chuộc lỗi lầm cho họ. Thật tuyệt mỹ thay, thật cao cả thay cho bậc Thánh Hiền. Nhưng tình thương sự chịu đựng cao cả này còn ở mức Điều Ngự Trượng Phu. Tức tâm tánh cao thượng hơn con người, được phước báo chết sẽ về cõi Trời.

Đường lối giáo hóa từ bi bác ái này đã được lịch sử nhân loại ghi chép lại cách đây 4000 năm hay 5000 năm trước, tiền thân Đức Phật Thích Ca cũng đã từng hy sinh thân mạng vì lòng từ bi, bác ái cứu chúng sinh đã thể hiện bằng hành động như vậy. Kiếp sau cùng cách đây 2539 năm Phật Lịch, Đức Phật Thích Ca không dùng đường lối Thánh Hiền một chiều nữa vì đó không phải là con đường giác ngộ rốt ráo.

Như Đề Bà Đạt Đa bậc Đại Cường Căn cố ý giết Ngài, Ngài tránh và không có một chút vướng động tâm chí Đại Cường, lại còn xem Đề Bà Đạt Đa là phẩm trợ đạo nghịch duyên. Ngài còn chứng minh Đề Bà Đạt Đa thành Phật danh hiệu, dạy hàng nhị thừa A La Hán đến duyên giác, chứ không phải chánh giác Phật, chỉ khi nào Đức Trí Tương Song khi bấy giờ mới chánh giác. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cần kim thân này hoàn tất việc tận độ chúng sinh đặng thành Chánh Quả Phật nên Ngài tránh không để bị giết. Bậc giác ngộ Thánh Hiền dụng thiện căn còn bậc giác ngộ rốt ráo chờ viên mãn gọi là Chánh Giác. Bậc này không Thiện mà cũng chẳng Ác, không hiền mà cũng chẳng dữ gọi là viên dung, đầy từ bi, bác ái kèm đại chí, đại dũng gọi là siêu thiện nên hạnh nguyện qua rất nhiều trở lực tận độ chúng sinh và thành quả Phật.

Từ bậc Thánh Hiền giác ngộ đến giác ngộ rốt ráo chân lý thật khó khăn vô kể. Phải thực hành Bát Nhã để thấu đạt Bát Nhã Trí mới mong kiến diện Như Lai (Thượng Đế) lúc đó mới được Như Lai hiện thân chỉ đạo cho hạnh mguyện. Bậc Thánh Hiền biết được Như Lai (Thượng Đế) nhưng chưa đến mức gặp Như Lai được. Thật không thể nghĩ bàn. Thánh còn Tướng. Như Lai, Phật không Tướng. Chánh giác là Tướng Phật là Như Lai hay Thượng Đế. Do đó, bậc Thánh Hiền ma quỷ còn biết và gặp. Bậc Chánh giác khi ẩn khi hiện Ma Phật, Phật Ma nên chúng không sao tìm ra, dù có vào gặp cũng không nhận ra được.

Thời Hạ Lai Mạt Pháp này Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc thừa biết khi con người đã sử dụng được nguyên tử thì kỹ thuật giết hại bất cứ ai cũng rất tinh vi. Ngài phải thị hiện cư sĩ y như người dân. Ngài tiên tri được tất cả việc quá khứ, vị lai nhưng Ngài chỉ cho chân tử thâm tình biết để tu hành. Thần thông quảng đại mầu nhiệm Ngài có nhưng chỉ thể hiện để độ những chân tử nghi chấp mà phá được chấp. Lòng đại bi có thừa nhưng Ngài kín nhiệm ẩn mật, dụng xuất chánh định đi khắp nơi giải oan nghiệp cho chúng sinh bị áp bức. Ngài dụng Phật lực bình đẳng an nhiên tự tại, ma lực dù có tài giỏi đến đâu cũng không tìm ra vết chân Ngài đã thị hiện tận độ tứ loài.

Việc xuất nhập chánh định của Ngài làm kẻ ác, hung hãn phải chùn bước thất vọng ê chề. Cuối cùng cũng hồi hướng quay về cái Thiện và chung sống hòa bình. Có lần đài BBC loan tin về Afghanistan sau diễn biến dồn dập, cuối cùng Liên Xô đưa quân và lập chính quyền thân Liên Xô, Ngài biết ý định của Liên Xô là sẽ chiếm cả bán đảo Balkan. Ngài nói: Tối nay Tôi đi Afghanistan. Sau đó lực lượng du kích trong nước được khối tự do yểm trợ đã làm Liên Xô hao tiền tốn của khá nhiều. Cuối cùng Liên Xô phải rút quân về nước. Ngày nay chỉ còn nội chiến. Bán đảo Balkan không còn Liên Xô một cách kỳ bí mà thế giới không một chút hay biết. Ngài hài lòng về đài BBC và khen những bài bình luận của các bình luận gia ở đài này. Tiếc rằng trong thời còn Ngài đài BBC chỉ phát thanh buổi sáng có 15 phút vừa tin tức vừa một bài bình luận. Khi Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn đài này mới phát thanh buổi sáng lên 30 phút.

Có một sự kiện đặc biệt, còn một tuần cuối trước khi ra đi, vì Ngài thị hiện bệnh để ra đi, không có giờ nghe tin, khi tôi từ Sàigòn đi Nha Trang thăm Ngài, Ngài vội hỏi tin tức của đài này phát trong tuần qua có gì đặc biệt. Ngài chăm chú nghe và tỏ ra hài lòng về những diễn biến thuận lợi Hòa bình của nhân loại. Rồi đến lò lửa ở Trung Đông, những sự kiện thời sự quan trọng có ảnh nhưởng đến sự sống còn của hàng triệu người, Ngài đều quan tâm, Xuất Chánh Định Tam Muội công bằng giúp đỡ. Sau đó những kết quả Ngài làm kín nhiệm, đều được đài BBC loan tin đúng y chỉ thị của Ngài.

Đài BBC phát thanh từ thủ đô London của Vương Quốc Anh đã đóng góp một phần quan trọng trong việc lập lại hòa bình, ổn định cho nhân loại và đặc biệt cho nền tự do của quả địa cầu này. Một điều hiếm có, tuy Ngài ở một chỗ, chỉ nghe đài BBC loan tin tổng quát một vấn đề, Ngài liền nhập chánh định biết chi tiết tất cả, không có thiếu sót và với Nhãn Tạng Tam Muội Định Ngài thấy tất cả diễn lại trước mặt như ở hiện trường nên Ngài quân minh hóa giải không hề có một chút nhầm lẫn cũng không hề ép bất cứ một nhân vật nào, một cá nhân nào. Còn cái nghe dù xa đến mấy nghìn km cũng như gần.

Hàng ngày thời giờ đối với Ngài rất quý và ít khi có giờ rảnh trừ buổi trưa một giờ để ngủ và buổi sáng 15 phút nghe đài BBC, giờ còn lại dành khai đạo cho tứ chúng có khi đến 9 giờ tối mới dứt. Ngài làm việc và hóa đạo rất cơ cực vì phải chia từng nhóm nhỏ lui tới chui rúc nên giảng giải rất nhiều đợt trong ngày. Sức khỏe người thường sẽ không kham lãnh nỗi, nhưng có một điều mầu nhiệm là càng khai thị Phật Pháp Ngài càng khỏe, không hề có mệt, chỉ trừ chân tử thiếu tinh tấn Ngài mới mệt một vài phút rồi Ngài cho chân tử đó ra về và không quên kèm theo lời khuyên nhủ ôn tồn. Ai gặp Ngài cũng đều quý và thích nên dù khó khăn đến đâu cũng cố làm việc để dành tiền từ các tỉnh đi Nha Trang viếng Ngài thọ lãnh pháp.

Còn đài VOA, đài tiếng nói Hoa Kỳ, cái radio của Ngài và tôi ở miền Nam Việt Nam, khi mở ra ban đầu nghe tiếng nhỏ, sau 10 đến 15 phút dần dần nghe nhỏ rồi mất tiếng hẳn không còn nghe được nữa chỉ còn đài BBC giúp Ngài hữu hiệu mà thôi.

Đức Ngài với Chân Tử Pháp Hoàn tại Luân Đôn 1992

Mùa đông năm 1992, Ngài đi du lịch sang thủ đô Vương Quốc Anh, thăm những chân tử của Ngài trước 1975 đã tu theo con đường Tri Kiến Giải Thoát, họ vượt biển nay sinh sống ở Anh Quốc. Lúc Ngài sang thăm mùa đông ở London rất lạnh, bầu trời đầy mây u ám, cảnh vật buồn, bỗng có một ngày trong sáng, không còn mây mù, nắng ấm sưởi khắp vạn vật, chim muông ríu rít đùa giỡn trên cành cây. Đài BBC loan tin, mùa đông sao hôm nay trời trở sang xuân như có phép mầu nhiệm. Đài BBC đâu có biết rằng chính lúc đó Đức Tịnh Vương hoá thân Đức Di Lạc đã diệu dụng thần thông cho chân tử của Ngài chứng kiến và tin rằng khi một bậc tu đã chánh giác nếu có chúng sinh nào biết tin vâng kính đều được ban cho như ý nguyện. Trước khi diệu dụng Ngài cũng đã báo cho các chân tử ở Pháp Bảo London nghe trước. Chuyện này đối với các chân tử ở Việt Nam là chuyện cỏn con không đáng kể đối với Ngài.

Tại Hoa Kỳ, số chân tử tu theo Ngài cũng từ Việt Nam vượt biển sang sinh sống, nhiều nhất là ở California. Đại diện của họ cũng đi London vấn an sức khỏe Ngài. Họ bảo lãnh Ngài đi du lịch sang thăm Hoa Kỳ nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ chối vì lúc này Hoa Kỳ không ưa người trong nước Việt Nam. Sau tất cả các chân tử của Ngài ở Hoa Kỳ đồng ký tên, thỉnh nguyện đơn một lần nữa, chính phủ Hoa Kỳ nhất định bác bỏ.

Ở Việt Nam trước khi đi London tôi nghe Ngài bảo với tôi như vầy. Sang Hoa Kỳ thăm tứ chúng, nhân tiện Ngài nhập chánh định xem xét giúp cho vùng California tránh động đất vì vùng này thường xảy ra động đất. Đồng thời chính là chứng minh phúc lành cho đất nước Hoa Kỳ... Ngài đâu phải cần đi du lịch mà chỉ muốn đến nơi đầu tàu của thế giới tự do trước khi về nước vào Bát Đại Niết Bàn. Chính tôi cũng còn nghe Ngài bảo sẽ giúp Anh Quốc. Theo chỗ tôi biết lúc còn ở Nha Trang, mỗi ngày đến thọ lãnh pháp, Ngài thường dụng thần thông giúp cho tránh thiên tai như bão tố, động đất, mùa màng, thóc lúa được mùa...

Thật đáng tiếc cho Hoa Kỳ! Đối với Tây Phương, khoa học lấy bộ óc con người tìm tòi, rồi đem hiện vật hợp hóa để khám phá vũ trụ. Đối với Đông Phương Thiền Sư, bậc Chánh Giác nhập Chánh Định Tam Muội trực tiếp gặp ngay giới vô hình ở trong quả địa cầu và trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới là chuyện thường xuyên. Do đức độ của bậc này mà Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thần, Chư Hộ Pháp, Chư Long Thần, Chư Hộ Pháp Bồ Tát... sẵn sàng thi hành lập công đức để cầu sở đắc chân lý.

Lúc chuẩn bị đi London, Ngài bảo tôi nên đi Hoa kỳ, đem mối đạo của Ngài giúp cho người Tây Phương và cho những người Việt thân yêu phải xa quê cha đất tổ, sống ở xứ người trên khắp Năm Châu để họ có lẽ sống thật, nhất là lúc tuổi già họ được an vui biết mình chết sẽ đi về đâu! Ngài sinh ra tại Việt Nam, Ngài muốn an ủi người Việt Nam.

Tôi lập hồ sơ đi Hoa Kỳ diện HO 38, lúc đó Ngài bảo với tôi Ngài cũng đi. Câu nói với ẩn ngữ! Ngài nhập Niết Bàn năm 1993. Năm 1994 tôi vào phỏng vấn. Nhân viên di trú Hoa Kỳ trả lời giấy cải tạo giả. Tôi trình bày, nhiều người bạn cùng bị bắt đi cải tạo chung một ngày với tôi, ở chung một phòng giam, lao động chung một đội và được thả về cùng một lúc. Tất cả là 42 tháng, nay họ đã đi Hoa Kỳ cũng loại giấy cải tạo này. Nhân viên di trú Hoa Kỳ không nghe tôi giải thích và bác. Thì ra bộ nhớ máy vi tính của Hoa Kỳ tối tân mà cũng còn sai số lớn.

Trường hợp Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc mở biết bao pháp kinh thiên động địa, sao Ngài không kêu gọi Long Thần Hộ Pháp vô hình lo cho đi thăm Hoa Kỳ? Chắc ai nghe cũng thắc mắc! Ngài giải thích pháp này tôi nghe như vầy: Muốn cứu độ một chúng sinh nào một điều gì, chúng sinh đó hoặc thân nhân cần hồi hướng mở rộng Tâm tạo công đức mới có nhân duyên cứu độ được. Chi phí chuyến đi, chân tử Ngài ở Hoa Kỳ đã lo sẵn, chỉ cần chánh phủ Hoa Kỳ mở tâm rộng rãi chấp thuận Ngài sang đó, như nhiên hóa giải được việc an lành cho Hoa Kỳ. Kinh Phật có câu để nhớ đời: “Phật bất hóa độ vô duyên, bất hóa độ định nghiệp.”

Còn trường hợp của Ngài ở Việt Nam, Ngài bảo lúc nào Ngài cũng sống trong tâm trạng “là một người dân mà hình thức là người tù” nên Ngài phải bình đẳng tháo gở độc nhiễm cho toàn dân Liên Xô được tự do, cho thế giới được an cư lạc nghiệp. Một hôm Ngài nghe đài BBC loan tin, con gái của Stalin, lãnh tụ số một của Liên Xô, cô sống ở Hoa Kỳ tuyên bố rằng: Chẳng lẽ có vài tay lãnh đạo độc ác mà cả mấy trăm triệu con người phải chịu sống trong cảnh khổ đau đè ép mãi sao?

Nghe xong Ngài bảo: “Đó là chứng nhân thực tại, là nhân duyên. Tôi phải thực hiện bình đẳng mà bất bình đẳng”. Nó là nguyện vọng đang âm ỷ và nỗi thổn thức của người dân sống trong chế độ Cộng Sản Liên Xô mà cũng là nguyện vọng chung cho cả nhân loại trên quả địa cầu này nữa. Bình đẳng cho nhân loại sống yên ổn –Bất bình đẳng cho giai cấp cầm quyền cai trị người dân dưới chế độ Cộng Sản Liên Xô. Đó là chân lý vô sanh, chân lý Thượng Thừa mà cũng chính là chân lý tối cao của Như Lai tức Thượng Đế. Nó là chân lý thực tiễn thể hiện được vẹn toàn:

Thì ra người con gái thuộc giai cấp số một, sống một cuộc đời vương quyền đầy đủ thế lực, dưới trướng cha mình, vẫn thấy sự đàn áp kỳ quái làm bà không đè nén nổi lòng thèm khát dân chủ và tự do! Trong lúc đó chư vị Tiên, Thần, Hộ pháp ở miền Nam rao giảng kinh sấm đúng Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đang vận chuyển vạn pháp tự tại, không thiên vị.

"Sẽ rõ biết Long Hoa Đại Hội
Cân công bằng chẳng mối vị tư"

Kinh sấm cũng biết việc Ngài tận độ chúng sinh có kết quả dù chư vị Hộ Pháp ở miền Nam chưa tìm được Ngài ở đâu.

"Long Hoa Đại Hội nhà bàn
Thương thay những kẻ bạo tàn còn chi!"

Sau Liên Xô và Đông Âu, những người còn lại cũng hồi hướng đổi mới cốt yếu làm xoa dịu một phần nào nỗi thống khổ, điêu linh của người dân. Còn người thiện căn được chư Phật giúp an lành. Kinh sấm:

"Lũ gian ác vô cùng sợ hãi
Người lương hiền chậm rãi bước đi
Nhờ ơn các bậc thần kỳ
Thương người trung hậu hộ trì bình an."

Tham chiếu Hịch chứng minh vũ trụ trên, chúng ta đã sơ lược việc tận độ chúng sinh của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc mang lại hiệu quả kẻ ác căn bậc thiện căn đều được lợi lạc không những cho chính họ mà còn cho cả các giới đồng chủng nữa.

Còn những chúng sinh bảo thủ ác căn, nghiệt căn không tự sửa chữa lỗi lầm cũng đã được và sẽ được cho trở về nơi đồng loại của họ ở thế giới địa ngục để tiếp tục sống và lãnh nghiệp quả do chính họ tạo ra. Cuộc sống mà thường ngày diễn ra y như ở thế gian họ đã gây tạo thì nay họ lại nhận chịu và bị đè ép, bị cấm nói năng, bị khổ đau như ý của họ muốn làm gọi là như ý nguyện.

Tăng Chủ Nhất Tôn: Chức vụ tối cao của Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam. Đại diện Tam Thế có trọng trách chỉnh trang Phật Đạo và đem lại tự do cho tứ loài trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

Đương Lai Hạ Sanh Tôn Phật: ý chỉ kín nhiệm Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc Tôn Phật.

Chứng minh: Chứng kiến rõ ràng và sáng suốt lòng dạ, tâm tánh con người thời Mạt Pháp.

Ấn: Ấn chứng.

Quyết: Quyết định.

Đây là lệnh Tối Thượng Đại diện Tam Thế Phật còn gọi là đại diện Như Lai, còn gọi đại diện Thượng Đế có quyền ban lệnh: Các cấp Thiên, Nhân, Thần, Hộ Pháp, Long Thần ở thế giới và các cõi khác loài người phải hộ trì.

Chúng ta đã thấy kết quả, loài người ngày nay sống không còn lo nạn Đệ Tam Thế Chiến, không còn hai khối đe doạ tiêu diệt nhau, các nước nhược tiểu bị áp bức như Á Phi, Cận Đông, Mỹ La Tinh, sau giấc ngủ dài đã thức tỉnh, đồng loạt đứng lên đòi lại tự do, thoát khỏi đè ép.

Quyền lực Tối Thượng này có thực, chúng sinh không thể nghĩ bàn. Điều này cũng chẳng phải giả thuyết để người khoa học bình phẩm vì Ngài cho bảy hành tinh hiện cùng một lúc theo ý muốn thì câu chuyện về quả địa cầu của chúng sinh chỉ là một hành tinh quá nhỏ bé đối với Phật Lực của Ngài. Bốn câu thơ do Ngài ghi bút:

Kiếp này Ngài Hạ Lai không phải làm vua mà nhiệm vụ chỉnh trang Phật Đạo rất nặng nề và quá khó khăn. Ngài lại hiện thân trong gia đình nghèo, gia cảnh cha mẹ lúc nào cũng túng thiếu. Ý nghĩa từ tận cùng tiến dần lên trong đời sống cho hợp thời Hạ Lai này. Ngài bảo ông phải biết: Đi với Phật mặc áo cà sa đi với Ma mặc áo giấy. Thời này mà mặc áo cà sa, ở trong chùa dạy đạo được nhiều người tôn sùng mến mộ là bị giết. Khi hiện Ma khi hiện Phật ở trong thế gian, ma quỷ có giáp mặt cũng không tìm ra.

Số đông bậc tu đều y kinh, dựa vào kinh và cho rằng tướng Phật đều đẹp. Nhờ nghĩ 32 tướng tốt là Phật nên khi công an vào gặp thấy một con mắt Ngài bị lệch, họ không những xem thường mà còn cười bảo: Cái lũ ngu này theo ông Thọ bị bùa mê mà còn cho ổng là Phật. Họ nạt nộ tôi và nói chê bai cho đến ngày nay tôi còn nhớ rất rõ: Con ngáo ộp mà anh cho là Phật hả? Anh phải đi cải tạo lâu dài mới tảy óc anh được, cho sạch cái mê tín này đi. Khi đi cải tạo về Ngài đã nghe hết và khai thị cho tôi: “Người ta xem thường mình, mình cũng phải tỏ ra là tầm thường nhưng mình là cái rốn của vũ trụ”./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


13. Hịch CMVT, phần 4

Bất Chiến Tự Nhiên Thành.

Tại căn gác gỗ nhỏ nơi Tịnh Thất Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc, tôi nghe Ngài khai thị như vầy:

“Nhìn Cộng Sản Việt Nam biết được Liên Xô. Tất cả đều do Liên Xô mà ra. Đánh rắn Tôi phải đập đầu, Tôi không đập khúc giữa, khúc đuôi. Nhưng Tôi không đập, vì Tôi đập nó sẽ tan tành nát bấy như tương. Nếu Tôi dùng cái roi Thần Thông đập thì không một con rắn hổ hung hãn nào trên quả địa cầu này chịu nổi, dù chung quanh nó có cả tỷ giòng họ chứa đầy vũ khí tối tân của thời Hạ Lai Mạt Kiếp này. Tất cả đối với Tôi không thấm vào đâu. Tôi chỉ dùng cái roi THẦN THÔNG nhịp nhịp nó cũng tê liệt và rã từng mảnh để răn dạy đứa con NGỖ NGHỊCH.”

Nhìn hiện tình, thể chế chính trị của Cộng Sản Liên Xô và các nước Cộng Sản Đông Âu vững chải như thành đồng, bỗng trở mình sụp đổ nhanh chóng, rã thành từng nước Cộng Hòa sống theo tự do mà không gây đổ máu cho bên này hoặc bên kia, cũng không có cảnh chết chóc như chiến tranh, cũng không có cảnh chiến thắng uống máu quân thù. Thế giới tự do không phải tốn một viên đạn. Đối với thế gian không hề biết là đã có một bàn tay vô hình của Chư Phật đem phép màu đến cho nhân loại, tránh nạn Đệ Tam Thế Chiến. Nạn tận thế đã qua! Các nước Cộng Sản còn lại lo đổi mới y theo lệnh của HỊCH đã chứng minh. Ngài đã dụng Thần Thông Tam Muội. Nhãn Tạng Tam Muội Định. Nhĩ Viễn Minh sắp bàn cờ thế “BẤT CHIẾN TỰ NHIÊN THÀNH” đã ban tình thương cho nhân loại sống lại với mùa xuân ấm áp, đượm tình nồng ấm.

Tượng Lênin bị kéo sập sau khi Liên Xô sụp đổ.

Hai câu thơ do Đức Tịnh Vương đọc để lưu lại đời, nhắn nhủ các Lãnh Tụ không phải chỉ bàn tay con người làm ra mà hiếp đáp kẻ khốn cùng, kẻ thất bại cô thế là đồng bào ruột thịt của mình, cùng chung trong một non sông gấm vóc. Quỹ đạo bị lệch Ngài đã âm thầm điều chỉnh lại:

“Quan Âm không thể bắt cầu
Ngón tay Ta chỉ Chư Hầu đều vâng”
–Tịnh Vương

Quán Thế Âm Bồ Tát phải lắc đầu cái thời Mạt Kiếp này còn chư hầu là các lãnh tụ trên thế giới không thấy bàn tay Chư Phật ở đâu cũng phải xuôi dòng. Rõ ràng ác trược, phiền não trược đã trở thành TỊNH ĐỘ QUỐC ĐỘ AN LẠC.

Ngày nay nhờ chương trình đổi mới mà dân chúng có đời sống thong thả hơn, lớp “Người của Nhà Nước Cộng Sản” cũng có cơ hội được quyền sống cuộc đời sung túc, muốn ăn, muốn mặc sang đều được thoải mái, dễ dãi, lại có quyền “tư duy mới là Tư Sản”

Với lòng Đại Bi, Đại Lực, Đại Hùng, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã mang lại tình thương, thể hiện bằng hành động thực tiễn, không hề có một ý nghĩ phân biệt người bên này hay người bên kia, mặc dù Ngài thường bị công an thành phố Nha Trang chờ cơ hội bắt. Ngài vẫn kiên trì vận dụng "Nhất Thiết Thần Thông Tam Muội", nhập Tam Muội này, Ngài có thể trung hòa tất cả pháp bất ổn xâm nhập thân. Do vậy, cạnh cái ác, cái quái đản cũng có cái thiện khác gìn giữ kính nể Ngài.

Thật vậy, Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã kín nhiệm thệ nguyện dùng Hạnh Thế Gian Giải không thể nghĩ bàn, để đưa chúng sinh từ nơi thế giới độc nhiễm lại quá hung hăng, đặng vào nơi an lạc, làm cho họ không hề hay biết. Còn thế giới tự do cũng tưởng lầm rằng chính họ đã điều khiển hay điều động nên ngày nay mới có hòa bình.

Tất cả sự tốt đẹp an lành duy chỉ có THIỆN NGUYỆN THẦN THÔNG TAM MUỘI do Ngài Diệu Dụng để đưa thế giới của thời đại nguyên tử, quá ư cuồng loạn làm cho biến thành Tịnh Độ, không còn hai khối đe dọa tiêu diệt nhau. Nay đã sống chung hòa bình thật vi diệu. Ai cũng phải thừa nhận rằng, ngày nay các quốc gia trên thế giới đã chung sức hợp tác với nhau ổn định hơn lúc nào hết, nếu đem so với cường độ kình chống nhau sau thế chiến thứ hai tức năm 1945 đến 1954 đến 1989 nhân loại tưởng chừng như đã đến ngày tàn tận thế.

Y-Vân-Điền Ngài mặc hành lễ

Bậc Chánh Giác thâm nhập đến thành quả THẦN THÔNG ĐẠI QUANG TAM MUỘI có thừa năng lực tùy tiện phân thân biến hóa vô số VI TRẦN PHẬT, SÁT NA PHẬT đưa tâm thức rời khỏi xác thân, nhập vào vô số dạng sống khác, bao lâu cũng được nếu thấy cần thiết. Sau trả chúng sanh đó về tinh thần vị trí cũ mà chúng sinh không hề hay biết, mục đích để đem lại mức sống thoải mái không có sự ép buộc đè ép nhau cho tứ loài. Quyền lực Tối Thượng này còn có vô số Chư Bồ Tát, Hộ Pháp Tiên Thần của thể vô hình thời qúa khứ, hiện tại ứng trực nguyện nữa.

Thế nên một số chúng sinh ở quả địa cầu của chúng ta, dựa vào sức mạnh của con người đồng chí hướng với mình, tạo được uy quyền cai trị thiên hạ, cho mình là vĩ đại dể tập khởi ác, thọ chấp ác nên Chư Phật sống ẩn mình không hiện thân tướng cho biết để gặp gỡ. Vì sao? Vì chúng sinh bổn lai ác, tâm tánh không chừng đổi, nếu bộc phát trước bậc Chánh Giác thật tai hại vô số kể cho họ và cho lớp người cùng chung chí hướng với họ nữa. Tất cả đều do đức độ đầy quyền lực Tối Thượng của Bậc này tự phản ảnh!

Quyền lực của Bậc Chánh Giác chính là quyền lực của vũ trụ còn được gọi là Thượng Đế hay Như Lai. Cứ nhìn sức con người xây dựng bao công trình kiên cố, chỉ cần một trận cuồng phong bão tố bị tan tành hết. Chỉ một cơn động đất bị sập đổ hết hay chỉ cần một cuộc đổi thay thời tiết, tất cả chúng sinh bị tê liệt. Ngài quán xuyến trùm khắp nhập chánh định, xuất chánh định tam muội hóa giải đã đem lại an lành không thể nghĩ bàn. Khoa học văn minh hiện đại ngày nay đều bó tay trước nạn động đất và bão tố trên địa cầu. Riêng Thiền Sư hóa giải để không có bão tố và không có động đất xảy ra là chuyện thường. Lời nói này rất chân thật.

Ở Nha Trang nhiều năm, thỉnh thoảng đài khí tượng loan tin bão sắp tới, Ngài đều nhập chánh định Tam Muội vận chuyển Pháp Thiên hóa giải, mỗi lần như vậy bão di chuyển ra biển khơi tan biến và Nha Trang được an lành. Có lần sắp có động đất nguy hiểm đến dân chúng, Ngài biết trước vận chuyển Đại Địa giải quyết không để gây thiệt hại cho dân chúng. Ngài đâu cần nói với ai chỉ học trò thân thiết với Ngài biết. Thật tuyệt mỹ, bậc đoạt Diệu Quả Bồ Đề như Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc, tận độ chúng sinh thời Mạt Kiếp mà đã biết cần phải thân khẩu ý kín nhiệm mới hạnh nguyện thành quả. Một hôm Ngài dạy:

“Tôi đâu cần cầu danh, hiện thần thông phép lạ Ma Vương sẽ tìm đủ hình thưc giết. Việc khai đạo sẽ bị dang dở.”

Hàng Thánh Hiền hấp tấp diễn thần thông do tu hành tạo công năng công đức mà có, nếu chưa có tài đức chưa có đủ trí huệ dễ bị hại. Bậc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, bậc Thánh không sánh kịp, cũng không có ai hơn được. Bậc này từ trong Chánh Định Tam Muội tận thấu tất cả vạn pháp, làm cho không có một kẻ hở nên không có cảnh bị giết như Thánh Hiền tuy có trí huệ, có thần thông nhưng chẳng được đầy đủ.

Hàng Thánh Hiền tuy thông đạo, dạy cho chúng sinh tỏ đạo nhưng còn chưa đủ Mắt-Tai minh sát để vận chuyển Như Lai Tạng nên không giải quyết được một việc gì đầy đủ về Hạnh Thế Gian Giải cho nhân sinh và cho tất cả tứ loài.

Như tôi sống ở Sàigòn đến nay đã được trên 15 năm, thỉnh thoảng vài năm có một lần đài khí tượng loan báo sắp có bão. Có một lần cuối năm 1992 Đài truyền hình thành phố Sàigòn cứ 20 phút báo tin khẩn cấp một lần, bão với tốc độ 250 km/giờ sẽ vào Sàigòn 12 giờ nữa. Mỗi lần tôi đều báo trước cho những chân tử của tôi là tôi sẽ hành dụng Thiên Pháp làm tan bão và quay trở lại biển Đông rồi biến mất. Chân tử của tôi đều nghe và chứng kiến mỗi lần như vậy đến giờ trời vẫn yên lặng, bầu trời trong xanh như ngày thường và không hề có bão đến.

Thiên hạ đựơc tin lo phòng chống bão họ nói đài khí tượng Sàigòn dỏm, chớ họ đâu có thể hiểu nổi giờ phút đó tôi đã hóa giải cho Sàigòn và các vùng phụ cận được an lành.

Vậy mà dạy đạo giác ngộ cho chân tử, tôi phải trốn chui trốn nhủi, phân tán học trò từng nhóm nhỏ. Còn Đức Tịnh Vương và tôi chỉ một sơ hở là địa ngục môn chờ sẵn! Ngài đã từng than “Tạo đạo đức cho đời mà có tội, nghĩ cũng cay nghiệt!”

Khi người Việt Nam gặp nhiều nỗi truân chuyên, họ đua nhau vượt biển, thư từ, điện tín của thân nhân còn ở trong nước là món ăn tinh thần cần thiết nhất. Nhà nước tỉnh Khánh Hòa và nhiều nơi khác tịch thu hết thư từ, gom lại kiểm tra và không cấp phát cho dân. Ai cũng nóng ruột, họ bỏ ăn, bỏ ngủ ngày đêm than thở không biết thân nhân mình đi vượt biển sống chết ra sao? Chính Đức Ngài cũng bị chung số phận. Khoảng 6 tháng liền Ngài mới nói: thư từ, tin tức là cái quyền sống thiêng liêng cao cả của con người không một nước nào trên thế giới này làm cái chuyện quá ác như vậy. Người ta có thể nhịn ăn xác thân tiều tụy chớ mất tinh thần con người sẽ điên và chết. Ngài than và Chư Thiên hội tề giải quyết.

Một cơn bão đã đến tỉnh Khánh Hòa làm thiệt hại mùa màng và đường sá, cầu cống, điện nước bị hư hỏng nặng. Chính quyền tỉnh bị thiếu ngân quỹ, vội vàng cho đem thơ, điện tín của thân nhân ở nước ngoài ra phát và tính thêm tiền phụ thu trên mỗi lá thư. Các nơi khác cùng bắt đầu phát thư theo, từ đó về sau không thấy thư của dân gởi về bị tịch thu nữa.

Đó là lối cuối cùng Chư Thiên chỉ giải quyết nhẹ thôi, nếu gió mạnh với tốc độ 200-250km/giờ chắc còn dữ dội hơn, mưa to gío lớn chừng vài ba ngày ắt bị tàn phá dữ dội hơn. Đấy là nói về Chư Thiên, còn Chư Địa Thần nếu họ nổi giận còn khủng khiếp nhiều và kết quả tai hại thật không lường được!

Thời Hạ Kiếp này, duyên căn từ bi, bác ái của Thánh Đế, nếu sẵn sàng chịu hy sinh chết thay cho chúng sinh, cũng không đổi thay được tâm ý của các lãnh tụ, vua, chúa đi ba đường ác. Họ không nghe, họ không tu Thiện bậc Thánh Đế cũng đành chịu, thần thông cũng không thắng nổi ma lực. Duyên căn này phải theo thời thế, theo trình độ biến hóa của Ác Căn, khiến Bậc đoạt Diệu Quả Phật như Đức Di Lạc không thể ngồi yên bỏ mặc cho chúng sinh sống trong u minh, trong trầm luân biển khổ được. Ngài phải diệu dụng thần thông Tam Muội để tận độ chúng sinh đồng thời cũng cảm hóa chúng sinh ngổ nghịch. Đó là chân lý Tối Thượng Thừa hàng Thánh Đế không đủ công năng công đức thực hiện được.

 

 

Ngài ban Hịch chứng minh này, Chư Bồ Tát, Chư Hộ Pháp, Chư Thiên, Chư Thần... phải giúp đỡ với một tinh thần bình đẳng những bậc lãnh đạo quốc gia cùng thuộc cấp, giữa thiện và ác được nhận định rõ ràng. Nếu ác căn bậc vô hình ở trong thể Ngài cần làm cho họ Thức Tỉnh mà Hồi Hướng Thiện. Đây là lệnh cho nhân sinh và cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cần sự sống thanh bình, cái quyền sống hồn nhiên thoải mái không được xâm phạm.

Các khoa học gia, các nhà lãnh đạo nên nhớ rằng: mỗi vị Thần, Thiên, Hộ Pháp... vô hình, họ có một quyền lực tự nhiên siêu hình không nghĩ bàn. Trí tuệ các khoa học gia chế tạo bom nguyên tử, bom khinh khí, bom Neutron, bom vi trùng, bom hóa học phải tốn rất nhiều công sức, nếu đem so với một vị Thần không thấm vào đâu. Vì có thực quyền Tối Thượng, lại có sức mạnh vô địch mầu nhiệm nên Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc mới ra lệnh để họ thể hiện tinh thần từ bi tạo công đức tu hành. Những vị Thần họ tôn sùng Chư Phật, Bồ Tát một cách tuyệt đối vì họ rất trọng đạo và quả vị tu chứng. Họ ứng trực bên Ngài đông vô số.

Trong thời Hạ Lai Mạt Kiếp này Đức Di Lạc đã chứng kiến từ năm 1975 cho đến nay người dân bị trị được phép hưởng ân huệ là mọi sinh hoạt thường ngày đều bị quy định quá mức khắt khe như quyền cư trú, "quyền có miệng ăn mà không có miệng nói." Đặc biệt là sự tu hành tạo đạo đức cũng bị quy định và không được phát huy. Trên thực tế tu thực hiện đúng chân lý mới có đạo đức, nếu dễ dàng như ý con người suy nghĩ rồi quy định, sao lịch sử còn ghi chép, qua nhiều triều đại các bậc Thánh Nhân ra đời điều chỉnh và dạy dỗ cho chúng sinh luôn giữ Thiện Căn làm chi?

Kinh sách khai mở Cho chúng sinh tu cầu Tri Kiến Giải Thoát của Đức Ngài trước 1975 chánh quyền cộng sản không cho phổ biến, cũng không cho phép in. Một hôm tứ chúng Sàigòn dùng dụng cụ thủ công in quyển “Giáo Lý Trên Con Đường Giải Thoát” bị tịch thu. Chính quyền làm dữ, mỗi người bị giam 3 năm tù. Thân nhân làm đơn xin mãi 2 năm sau mới được tha. Còn tôi công an bắt và chỉ mặt “Tao cho mày ở tù 10 năm khổ sai cho mày biết mặt.” Đức Ngài phải kêu gọi Long Thần Hộ Pháp giải cho tôi ra khỏi nhà tù lần thứ hai. Lần thứ nhất bị đi cải tạo 42 tháng.

Sau khi quyển kinh bị tịch thu, công an đưa cho Sư của nhà nước đọc. Ban Phật giáo nhà nước đọc không hiểu. Kết luận là tà đạo và chúng tôi bị bắt giam. Còn Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc ở Nha Trang công an thành phố đến bắt, lúc đó Ngài bị mệt và hôn mê đang truyền “nước biển”. Họ ngồi chờ bắt. Long Thần Hộ Pháp canh giữ Ngài đi hóa giải, liền có pháp thuận đến an lành vi diệu nơi Tịnh Thất Ngài. Ngài thoát tù. Sau công an đến canh, hạch hỏi Ngài là chuyện thường như cơm bữa. Có lần họ nói: ông nhớ là tôi bắt giam ông lúc nào cũng được. Kỳ Hạ Lai hành đạo này Đức Di Lạc bị Ma Vương, Quỉ Vương và con cháu của chúng đem Ngài lên dàn hoả nướng lăn qua trở lại rồi cho vào miệng ăn nhưng nóng quá không ăn được, nhiều lần làm như vậy không xong buộc lòng phải thả Ngài.

Từng ngày qua ngày, Ngài vẫn kiên trì dạy đạo, chừng vài ba chân tử đến một lúc và chia nhau từng đợt. Chân tử các tỉnh Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Sàigòn đều phải theo một tổ chức trật tự như vậy. Do đó ngày nào Ngài cũng khai đạo không hề có một phút ngừng nghỉ. Một hôm có một ông thân hào nhân sĩ đến thăm và hỏi Ngài có ngủ không?

Ngài trả lời: “Ông thấy đó, ban ngày Tôi lo dạy đạo cho Tứ Chúng tu hành, từng nhóm, từng đợt suốt ngày, đêm đến tối Tôi xuất Chánh Định đi các nơi trên địa cầu và các Cõi ngoài địa cầu dạy đạo, chỉ buổi trưa Tôi nằm ngủ một giờ để dưỡng thân cho nó nghỉ khỏe nên tối đến Tôi đâu có giờ nào để ngủ.”

Đức Ngài tại Trung Ương cùng các Chân Tử

Thật vậy, Bậc Chánh Giác lúc nào cũng Vô Thượng Đẳng Trí nên ngày cũng như đêm đều tịnh, ngày và đêm tuy hai mà một. Tối và sáng chỉ là một nên không có cái ngủ như ngày thường. Đó là một điều mà khoa học khó tin nhưng có thật.

Còn những ngày đại lễ của Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam, tại Trung Ương Hội Thượng ở Nha Trang, Ngài ngồi bán già nhập chánh định thường xuyên để kêu gọi Long Thần Hộ Pháp đi canh giữ các nơi trong thành phố. Đại diện Hộ Pháp, Tôn Giả cùng Tín Chúng các tỉnh về dự có trên 100 vị. Long Thần Hộ Pháp làm mưa dầm, bầu trời u ám, gió thổi lạnh suốt buổi trước giờ hành lể. Nhà nhà tự động đóng cửa, ngoài đường vắng người, công an, an ninh đi tránh mưa ngủ nghỉ. Trong lúc đó Tứ Chúng Pháp Tạng từ các nẻo đường của thành phố Nha Trang ăn mặc chỉnh tề, đi trong mưa gió về dự đại lễ ở nhà Ngài. Xong tất cả đều trật tự giải tán từng người một ra khỏi nơi hành lễ, không một ai lảng vảng trước cửa nhà Ngài nữa. Nếu có chân tử quên, ban tổ chức liền nhắc nhở. Xong Đại Lễ trời trong, mây tan, mưa tạnh thật mát mẻ thoải mái. Mỗi lần như vậy Chư Thiên, Hộ Pháp Vô Hình, Chư Thần lo bên ngoài. Còn hàng Hộ Pháp Hữu Hình lo mặt tổ chức bên trong không để sơ hở một việc nhỏ. Ai là chân tử Ngài đều tự giác yên lặng, giữ gìn.

Nếu là người Việt Nam thời mạt pháp này đều biết, chùa còn không có người được phép lai vãng huống chi nhà của dân chúng người lạ mặt tập trung chừng 3 người thăm chơi với nhau cũng đều gặp nhiều trắc trở không tả hết được. Bậc nắm quyền quá ư lầm lẫn, tưởng mình khi chết là mất, nào ngờ đồng hợp bị Hoả Ngục treo chịu cực hình. Chỉ có bậc Trí Tuệ Thiền Định thật biết tỉ mỉ. Cứ một kiếp như thế được thai sanh làm người trở lại quá khó.

Ngài từng dạy: Thời Hạ Lai Mạt Pháp này quá khó đắp xây lại nền Chánh Pháp nhưng Ngài vẫn tinh tấn với đầy đủ Vô Thượng Đẳng Trí.Cũng trong khoảng thời gian bức màn lửa bao trùm, rất nhiều bậc tu thấy khó khăn đã vượt biên ra làm đạo ở nước ngoài. Mà thật vậy trí không siêu đẳng cũng không kham làm đạo nổi, ở Việt Nam cũng phải đành bó tay. Ngài dạy chúng tôi, Pháp khó bỏ, dễ làm là còn chọn lựa nếu có thành Phật cũng là Phật Giới tức Bích Chi Phật hay Độc Giác Phật. Quả nhỏ lắm còn thua xa Bồ Tát ở lại kiên dũng vừa tu vừa đời còn có ngày thành Phật với Diệu Quả Bồ Đề, nếu một khi đã vào Phật Giới thật khó thoát ra được. Có nhiều trường hợp ở đến a tăng kỳ kiếp mà cũng không hề hay biết mình đã thọ giới.

Trừ trường hợp bậc này lìa ngã, lìa sở hữu may ra còn có ngày được gặp Bậc Diệu Quả Bồ Đề cứu độ tu hành tiếp.

Thuyền nhân Việt Nam

Nói chung ở Việt Nam thời bấy giờ về kinh tế, môi trường, văn hóa, giáo dục, chính trị đều bị khủng hoảng. Còn tôn giáo bị bế tắc, tất cả đều bắt nguồn từ Liên Xô. Người dân cũng bị khủng hoảng tinh thần nên ào ạt chạy trốn khỏi nước bằng cách vượt biển. Theo thống kê quốc tế cứ trung bình bốn người ra đi chỉ đến được có một người, còn chết và mất tích ba người. Riêng tại Hoa Kỳ hiện nay có một triệu người Việt sinh sống như vậy đã có gần ba triệu người đã chết giữa biển khơi và đường bộ ở biên giới Cambodge. Đấy là chỉ tính một nước Hoa Kỳ, còn tất cả các nước khác trên thế giới ngày nay hầu như nước nào cũng có người Việt Nam. Số chết và cảnh tượng đau thương, mất mát còn vĩ đại không bút mực tả hết được.

Còn cuộc phân ly Nam Bắc suốt 21 năm thống kê cũng tạm cho khoảng 3.200.000 người Việt bị tử thương, chưa kể thương binh còn sống nhưng bị bất lực cũng là nỗi đau khổ triền miên của họ. Còn biết bao gia đình bị đau khổ nữa.

Lần đầu tiên Ngài ngồi khóc vì thương chúng sinh trong nước, ngoài nước. Các chân tử thấy thế hoảng sợ vội hỏi. Ngài bảo: “Chính quyền miền Bắc đối xử với người miền Nam như người nô lệ.”

Cùng lúc đó các vị tu Tiên ở núi Thất Sơn thuộc Châu Đốc họ nhận biết được liền báo cho chúng sinh và học trò họ là Phật Di Lạc đang khóc cho chúng sinh thời Hạ Kiếp này. Thật họ cũng giỏi nhưng tu theo Định Tưởng chớ không biết lối tu chân lý thực tiễn nên cũng không gặp Ngài được. Họ chụp hình được, thấy ảnh nhưng không vào được cảnh, không sống trong cảnh nên không tiếp xúc được người trong cảnh cũng như chúng ta thấy được phim ảnh trong tivi nhưng không tiếp xúc được, không đến được nơi để xem và trò chuyện với những nhân vật, cảnh vật thực.

Nhận định sâu sắc và bình đẳng nghĩa là trước thảm kịch mà Liên Xô đã gieo cho nhân loại nói chung cho dân tộc Việt Nam nói riêng và chính bản thân Đức Ngài, một hôm trước Tam Thế Ngài thắp bảy cây nhang trầm thề nguyện quyết tận độ chúng sinh an lành.

Từ đó Ngài thường xuất định mỗi đêm đi Liên Xô, Hoa Kỳ... cùng với Long Thần Hộ Pháp Vô Hình kêu gọi Địa Thần ở thủ đô Matxcova và các Địa Thần, Thiên Thần đến các nước Đông Âu giúp đỡ, công bằng giúp đỡ. Riêng tại Liên Xô Địa Thần đã tìm và “cấy” cho Ngài một nhân vật có bộ óc “Tư Duy Mới” và có thực quyền để Ngài kín nhiệm xoay chuyển cuộc thế đem đến tự do cho nhân loại.

Lúc đó tôi còn nhớ rõ Ngài bảo: “Nếu tôi không làm Liên Xô thức tỉnh hồi hướng, thảm họa chiến tranh thứ ba sẽ không tránh được, hậu quả sẽ không lường hết được cho nhân loài và các sinh vật trên quả địa cầu này.”./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


12. Hịch CMVT, phần 3

Đức Di Lạc hoá giải độc nhiễm

 

 

 

 

 

 

  • Quốc Vương. Vua được lưu truyền theo cha truyền con nối.
  • Dân Vương. Vua do dân bầu cử lên.
  • Chủ Vương. Vua ở cõi Thiên, phần nhiều những vị này có tài, còn được gọi là Minh Vương. Dân sống sung túc.
  • Quyền Vương. Vua ở cõi Tiên còn được gọi là Tiên Chủ, có thần thông tài phép cao hơn các vị Tiên khác, nên rất được kính nể. Dân sống đầy của báu có sẵn khắp nơi
  • Chủ Thủ Vương. Vua của Địa Ngục, dụng ba đường ác để trị dân. Nếu ai dám nói thẳng nói thật để xây dựng liền bị đầy ải hoặc thủ tiêu.

 

  • Cõi Trời. Vua cõi Trời gọi là Phạm Vương. Có cõi Trời gọi là Đế Thích, có cõi Trời vua gọi là Tự Tại Thiên. Dân sống ở cõi Trời được sung sướng.
  • Cõi Rồng. Cõi vô hình, thân tướng trên đỉnh hiện đầu rồng, tánh thường tức giận.
  • Quả địa cầu của chúng ta chỉ là một thế giới nhỏ bé so với vũ trụ bao la có vô số thế giới. Dưới mắt Thiền Sư nhìn qua Nhãn Tạng, biết còn có rất nhiều chủng loài khác, lối sống cao hơn hoặc thấp thua loài người.

Còn loài người trên thế gian này giữa thời Hạ Lai Mạt Kiếp bị trị dưới hình thể muôn mặt. Riêng tại Việt Nam, một thể hiện Đức Di Lạc đã chứng kiến tường tận. Từ năm 1975 đến 1989, một thời gian 14 năm dài, tinh thần người dân miền Nam Việt Nam sống trong nỗi lo âu, một màn đen tang tóc bao trùm cho tất cả các giai cấp từ thành thị đến thôn quê. Điểm tựa của sự sống đã toàn phần đảo lộn. Nhu cầu về sự sống thường ngày cũng thiếu thốn quá mức chịu đựng, nó tuột dốc dần và hầu như tê liệt. Cuộc diện miền Nam như chiếc xe bị đứt thắng, đang lao nhanh xuống vực thẳm.

Trong nhiều đợt Cộng Sản miền Bắc Việt Nam thực hiện con đường vô sản của Liên Xô, đã càn quét người Tư Sản, Tư Sản Mại Bản, Tư Sản Trí Thức ở miền Nam đến tận gốc rễ. Trong số đó có biết bao gia đình không theo chế độ cũ, cũng bị chung số phận tan thương!

Chương trình kinh tế mới Cộng Sản Miền Bắc áp đặt cho dân miền Nam, đã gây tai họa là tỉnh nào cũng có vô số gia đình sống lang thang không nhà ở các hè phố, hàng ngày không có ăn, áo quần rách rưới, mặt mày tèm hem, cuộc đời người không giống người! Ở kinh tế mới, núi rừng âm u, khí hậu độc, người dân thành phố không quen lam lũ, họ chỉ quen làm các ngành nghề và mua bán, do đó sản xuất lương thực không đủ sống, lòng oán than khôn xiết! Khi người dân kinh tế mới có bệnh, không đủ thuốc men, đặc biệt bệnh sốt rét làm gia đình nào cũng có người chết. Thuốc dân tộc không đủ sức trị bệnh sốt hiểm nghèo làm cho số còn lại bỏ canh tác chạy! Dù biết rằng nhà ở thành phố không còn, họ vẫn chạy về và không biết ngày mai sẽ ra sao!

Chế độ Cộng Sản miền Bắc vững tin ở vô sản nên xúc tiến nhanh và mạnh đến nỗi người yếu đuối bệnh tật, người trí cho đến kẻ xuẩn, ai ai cũng chạy theo phong trào vượt biển, trốn khỏi đất nước, nơi quê cha đất tổ đã từng nuôi dưỡng và trưởng thành. Họ chạy đi không bao giờ nghĩ quay lại, dù biết ra đi chỉ có một tia hy vọng mong manh đưa họ đến nơi an lành!

Khi Lenin chiến thắng Nga Hoàng, đã đem một triệu quân của Nga Hoàng lên Tây Bá Lợi Á để xây dựng thành phố xứ tuyết băng quanh năm. Kết quả chỉ còn sống có 5000 người sau khi hoàn thành việc xây dựng thành phố này. Đó là kết quả của cưỡng bức lao động mà không cho ăn uống đầy đủ, bệnh hoạn không thuốc men, lạnh giá không cấp phát áo quần, chăn mền để sưởi ấm thân thể.

Tuy Việt Nam không có thành phố Tây Bá Lợi Á như ở Liên Xô nhưng những chỉ đạo của người Cộng Sản Nga còn tinh vi, còn có nhiều kỹ thuật trị dân miền Nam rất cao siêu. Lương thực chính của người dân là gạo cùng các nhu yếu phẩm khác đều do nhà nước quản lý, khắp nơi chỉ còn các hợp tác xã. Tất cả các mặt hàng thông dụng hàng ngày đều trở thành quốc cấm. Người dân miền Nam lúc bấy giờ mới chứng kiến cảnh sống bế tắc, cơ hàn cùng cực.

Thời này, người ta cho con chó một khúc
xương nó gặm, hôm sau gặp lại nó còn
biết vãy đuôi mừng, còn con người nếu có
ai cho miếng thịt, ăn xong họ liền cắt cái
túi rồi theo về tới nhà xô đuổi người này
và cả nhà ra ngoài đường nữa. Loại người
ác này thua con chó.

–Di Như

Chính Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã cảm thông cảnh sống của người dân miền Nam đồng thời Ngài cũng cho tất cả biết thời mạt kiếp phải diễn trong miền Nam như vậy.

HÃY ĐẾN ĐÂY XEM


Cõi nào hãy đến đến đây xem,
Nếp sống nhân gian thấy đã thèm,
Chạy vạy đói no từng chén gạo,
Lang thang rách rưới quá tèm hem,
Ngày đêm lặng lẽ trong cơ cực,
Năm tháng thâu canh, chí chán hèn,
Có phải cuối đời, thời mạt kiếp,
Thế này diễn mãi, chắc rồi quen.

–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Nạn đói năm Mậu Ngọ
22-10-1978

Cứ mỗi thời một diễn cảnh, nhưng thời Hạ Lai Mạt Kiếp cái ác diễn hành cực mạnh để con người thức tỉnh, hối hận “Đứng núi này trông núi nọ.”

Chánh pháp lưu truyền đến đời Ngũ Tổ ở Trung Hoa đã có Thần Tú bày lối tu hành dưới hình thức cúng lễ làm mê hoặc chúng sinh. Họ cũng làm đạo nhưng lại đem con người lầm lạc làm mất phương hướng tu theo Tri Kiến Giải Thoát, dần dần con người sùng bái linh thiêng không tu theo chơn tánh. Một yếu điểm khác nữa, thời Mạt Kiếp tôn sùng vật chất quá mức, chỉ biết có vật chất nên con người vừa gặp cảnh khó khăn trắc trở liền mất hết tinh thần đạo đức, lại chạy theo diễn cảnh tham vọng, thích vọng. Con đường tu cũng vì đó mà mất nên bị thất chơn truyền là lẽ đương nhiên, có người còn ngơ ngác than thân trách phận, trách đời.

Trái lại bậc tu có căn cơ mới thấu đáo chốn Hạ Lai Đồng Độ đầy mầu nhiệm, họ vẫn tinh tấn tu không ngừng nghỉ vì họ thừa biết là cuối thời thiên địa. Luật tuần hoàn của vũ trụ không bao giờ dừng, một khi đến chỗ tận cùng của vạn pháp gọi là tận thế, như nhiên nó chuyển sang một giai đoạn mới để Chánh Pháp hiện hình. Chính Đức Di Lạc, Ngài biết tường tận không thiếu sót nên vẫn bình thản mật cảm mười phương Chư Phật giao cảm cùng Ngài trong giờ phút thiêng liêng, tàn canh của Đại Thiên Địa sẽ chuyển mình đến hoàn lai êm đẹp trong sáng.

Thời chân lý Thực Tiễn hiện tại đã đến, Pháp Độ Đồng Độ của Đức Đông Độ Hiện Giác Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đã ra đời! Cõi Hiện Giác này, nay lại trống vắng những người con thân yêu do thảm cảnh, đến nỗi Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc phải ái hoài trong ngày Đại Lễ 30 tháng 9.

ĐẠI LỄ ĐÔNG ĐỘ DƯỢC SƯ. ÁI HOÀI


Hôm nay Đại Lễ Dược Sư,
Ba mươi tháng chín chứng từ Pháp thân.
Vài Tín Chúng xếp chân qùi gối,
Một Nhà Sư thầm trối hương đăng,
Tượng Chí Tôn chẳng nói không năng,
Hương trầm tỏa bay giăng đất Thánh.
Ngoài cổng chùa chung quanh vắng lạnh,
Có đôi con chó nhỏ chạy lung lăng.
Cảnh nầy ai thấu chăng ai?
Vắng bóng Chư Tăng dạ ái hoài,
Mật cảm trầm tư hồn viễn xứ,
Diễn tuồng hạ kiếp đến hoàn lai.



–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
30 tháng 9 năm Mậu Ngọ
31-10-1978

Cảnh vật ở miền Nam sau 1975 tiêu điều, tinh thần người dân buồn khổ, một màu đen ảm đạm, tang tóc bao trùm, đâu đâu cũng nghe tiếng khóc than não ruột. Dưới mắt Thiền Sư khi xuất định đã gặp dưới lớp mây trên không, một lớp khí lạnh buốt rợn người, bàng bạc khắp nơi. Họ liền biết tiếng ai oán ta thán của dân chúng xông lên. Cửa ngục trần gian phất đến nỗi chư Thiên phải hoảng sợ.

Ngày 20 tháng 2 âm lịch năm 1979 dương lịch Công An thành phố Nha Trang hạ bảng: PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM, TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG.

Kèm theo lệnh cấm tu hành, cấm thuyết pháp, cấm tập họp. Công an đã “quần” Ngài từ năm 1976. Lý do Ngài không vào theo Phật Giáo Thống Nhất do Nhà Nước áp đặt từ việc cỏn con của sự tu hành. Tự do dân chủ không còn nữa.

Ở cõi Địa ngục, chỉ cần một đứa bé ghét ông già, nó ghi một câu độc bỏ vào cơ quan an ninh, ông già bị giết. Nó ghi nhẹ một chút, ông già bị ở tù ba, bốn năm là chuyện thường.

Một hôm vào buổi sáng Ngài bảo, tôi nghe như vầy:

“Ông nghĩ xem nếu vào khối Phật Giáo của Nhà Nước, mỗi khi thuyết pháp Tôi phải viết bài sẵn trình cho vị Tăng của Tỉnh! Tôi phải đi làm kế hoạch sanh đẻ. Việc này phải do y tế mới phải!”

Công An kiểm kê số 42 Hồng Bàng, nơi Ngài đang ở, ý định tịch thu Chùa này và làm dữ, siết đủ ngõ ngách nhưng Ngài vẫn ôn tồn dùng Vi Diệu Pháp nên đều qua nạn tai rất nhiều đợt và tránh được cải tạo lần nữa.

Chư Thiên liền Hội Tề thảo luận, Thập Bát La Hán cùng nghiêm túc thảo luận. Chư Long Thần, Địa Thần, Tứ Bộ Thần tề tựu dày đặc quanh Ngài. Dưới mắt Thiền Sư đều nghe rõ, biết tường tận “Giặc đánh Bồ Đề giặc phải tan”./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


11. Đức Di Lạc thành Phật Vương (Hịch CMVT phần 2)

Chánh Báo Thân của Đức Di Lạc Tôn Phật quyền lực như thế nào, mà Ngài đã ban hành Hịch Chứng Minh lệnh cho khắp vũ trụ rộng bao la vô tận, trong đó có muôn loài vạn vật phải thi hành.

• ĐỨC TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN hoá thân ĐỨC DI LẠC thành PHẬT VƯƠNG.

Thật là một Đại Duyên tôi đã chứng kiến sự kiện Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hoá thân Đức Di Lạc đắc quả thành Phật Vương tức Như Lai hay còn gọi là quyền lực tổng thể vũ trụ. Sự kiện bắt đầu tại căn gác gỗ nơi Tịnh Thất Ngài ở số 42 Hồng Bàng Nha Trang, hôm đó Ngài khai thị cho tôi:

"Ngày xưa khi Thái Tử Tất Đạt Đa tu đắc đạo, liền Như Lai (Thượng đế) quyền lực Tối Thượng Đẳng đến thọ ký, tức quyền lực Tổng Thể vũ trụ, thân phàm từ đây đã trở thành KIM THÂN. Ngài ra một điều kiện: Nếu Ta đắc đạo thành Phật thì khi Ta ném cái bát này xuống sông Ni Liên Thiền nó chạy ngược giòng sông. Nói xong Ngài ném cái bát xuống giòng sông, cái bát nổi lên mặt nước và chạy ngược giòng. Đức Thích Ca đã thành Phật Vương.

Hôm nay Ta nói với ông, Ta vừa đắc đạo cũng phải có điều kiện làm bằng chứng.”

Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đưa ra hai điều kiện:

• "Điều kiện thứ nhất: Nếu Tôi đắc đạo, tối nay bảy Hành Tinh xuất hiện cùng một lúc trên cùng một đường thẳng.

• Điều kiện thứ hai: Khi đài BBC ở London phát thanh chiều lúc 18g30’ mưa một phút trên gác Tôi nhưng không có mưa một giọt nào hai nhà bên cạnh.”

* * *

• Chiều lúc 18g30’ Đức Tịnh Vương đang ngồi mở chiếc radio National nhỏ, nhạc hiệu Đài BBC vừa phát ra, bỗng mưa rào rào trên mái tole nhà Ngài. Ngài ra xem đúng y không có một giọt mưa nào rơi trên hai nhà bên cạnh. Mưa đúng một phút.

• Sáng hôm sau báo chí Sàigòn đăng tin Đài Quan Sát Thiên Văn Quốc Tế phát hiện, lần đầu tiên từ hơn 2000 năm, tối hôm qua một hiện tượng kỳ lạ: 7 hành tinh xếp hàng hiện trên bầu trời cùng một lúc trên cùng một đường thẳng. Tôi đem tờ báo dâng Ngài đọc.

Trước sự hiện diện nơi Ta. Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã thị hiện giữa thời Hạ Lai Mạt Pháp, Ngài đã tuyên ngôn có Tam Thế Phật chứng minh sự Diệu Dụng Phật Tôn cứu tứ loài mà Ngài phải chịu trăm chua nghìn đắng:

"Hạ-Kiếp điên đảo ưu-phiền.
Phần tôi gánh chịu lời nguyền hạ-lai."
–T.V.

◊ Chư Bồ Tát thọ trì. Chư Phật mỗi khi lai trần đều phải tốn công nhọc sức mới đúc ra được Bồ Tát. Bồ Tát là bậc đã thấu đạt tự giác: biết vận chuyển vạn pháp viên dung nên đã ý thức thọ nhận việc xuất nhập Chánh Định đi khắp nơi chúng sinh đang bị áp bức, trầm luân trong biển khổ, tận độ chúng sinh hồi sinh.

◊ Chư Hộ Pháp đảm nhiệm thi hành lời chứng minh của TA. Ở đây Ngài muốn nói Chư Hộ Pháp tức hàng vô hình ở bên Chư Phật, Chư Bồ Tát luôn hạnh nguyện xông trận đi bất cứ nơi nào chiến đấu với Ma Vương, Qủy Vương thực hành hạnh nguyện theo lời khai thị của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc để hóa giải chúng sinh an lành.

◊ Cùng với Chư Thiên Hộ Pháp. Những vị Hộ Pháp vô hình tu ở núi, ở hang động tránh xa trần tục, sống thanh nhàn, được tự tại, quả tu chứng trên thế gian, nguyện hộ trì giúp đỡ chúng sinh qua thi thơ, qua cơ bút, răn đời lo tu hành giúp thế gian hay các Cõi ngoài quả địa cầu trở nên an vui mát mẽ. Những vị này đã nguyện theo bên Đức Ngài làm nhiệm vụ độ chúng sinh, tạo công đức trong thời Hạ Kiếp này.

◊ Chư Thần Hộ Pháp. Những vị Thần vô hình, thường đem tình thương cứu giúp chúng sinh nhưng tánh nóng giận vẫn còn. Họ có phương tiện trí thông tự tại, thần lực không thể nghĩ bàn. Thị hiện phương tiện thuận hoặc nghịch hành độ chúng sinh.

◊ Như Nhân Thần Địa Thần. Các vị Thần cai quản địa đại của chúng ta ở địa cầu này. Các vị này thường ở Đình, Làng nơi các Miếu nay nguyện theo Ngài tu hành và lập công đức giúp thế gian. Các vị cũng nhận lịnh Ngài đi khắp nơi cần thiết và tự tại độ chúng sinh.

◊ Thượng Đẳng Đẳng Thần Các vị Thần đạt được sự tu hành có kết quả cao nhất trong tất cả các vị Thần khác. Có tự tại Thần Lực Vô Thượng Đẳng Thần, đầy uy lực không thể nghĩ bàn, nay nguyện ứng trực bên Ngài.

◊ Chư Long Thần cùng Tứ Bộ Thần. Những vị Thần còn tánh tức giận, có thần lực biến hóa mây mưa. Những vị này biến được thân rồng, tu Thiền Định từ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Họ đợi chờ Long Hoa nay Đức Di lạc Hạ lai trần thế đến ứng trực, lập công đức hộ trì Chánh Pháp và tu hành. Cùng Tứ Bộ Thần ở bốn Bộ Châu trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cũng đến ứng trực ở bên Ngài.

◊ Lại có Chư Bồ Tát thời quá khứ nguyện hộ trì chánh pháp, thời hiện tại ứng trực nguyện. Chư vị Bồ Tát có chí nguyện dũng mãnh từ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở thể hiện vô hình. Cũng có vị nay hiện cư sĩ tại gia đã lai trần thuộc hữu hình, đều ứng trực bên Ngài, hạnh nguyện lợi mình lợi người, hộ trì giúp đỡ tứ chúng tu hành không ngừng nghỉ và kín nhiệm độ chúng sinh tránh khổ ải.

Thời khoa học văn minh hiện đại như ngày nay, chuyên nguyên cứu bằng thực nghiệm, lấy hiện vật hợp hóa để nhận biết. Nay Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc tuyên minh giữa thời này, có cả một thể hiện vô hình đầy quyền uy bất khả tư nghì, đang ứng trực bên Ngài, sẵn sàng thi hành hạnh nguyện theo lời Ngài ban ra xây dựng lại Thượng Kiếp.

Một đạo quân vô hình, lúc nào cũng tự giác cao độ, lúc nào cũng sống trật tự kỷ cương, dưới mắt Thiền Sư thấy rõ, biết tường tận. Nhân sinh, khoa học gia dù lỗi lạc đến đâu cũng không sao thấy biết được. Còn các lãnh tụ quyền uy, miệng thét gào bất khuất trùng dương, so với một vị Hộ Pháp vô hình thật không thấm vào đâu. Chỉ một ấn chỉ liền vô hiệu hóa. Thật khó tin nhưng có thật giữa thời đại nguyên tử này! Tất cả đều vì lợi ích của chúng sinh bị áp bức, cùng sự chấm dứt phiền não của lớp người thiện căn cô thế.

Đức Di Lạc hiện thân ở tại thành phố Nha Trang, đã đồng ứng cùng Tam Thế Phật, kêu gọi những bậc tu hành thuộc thể vô hình thời quá khứ hội tề bên Ngài. Ai vô thần, ai nghi ngờ hãy suy nghĩ lại. Nếu con người và sinh vật chết là hết sao lại có một Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc từ 2500 năm về trước, nay lại tái lai thị hiện tại thế giới chúng sinh, cùng những lần thị hiện thân phàm khác nữa như Long Thọ, Bố Đại Hòa Thượng...

Sao lại có Chư Bồ Tát, Hộ Pháp, Thiên Thần... từ thời quá khứ nay về bên Ngài để làm gì? Như vậy bậc tu, bậc không tu khi chết vẫn chuyển mình sang một kiếp sống khác tiếp tục cuộc sống mới và cứ thế tiếp diễn mãi không ngừng.

 

 

 

Trong Tam Thiên. Trong quả địa cầu của chúng ta có vô số chủng loài sinh vật, mỗi loài có lối sống riêng theo một môi trường thích hợp gọi là tiểu thế giới. Cứ mỗi 1000 tiểu thế giới lại thành 1 tiểu thiên thế giới. Cứ mỗi 1000 tiểu thiên thế giới lại thành 1 trung thiên thế giới. Cứ mỗi 1000 trung thiên thế giới lại thành một đại thiên thế giới.

◊ Ngoài tam thiên đại thiên thế giới. Ý chỉ đại thiên thế giới đó gồm 3 tiểu thiên, trung thiên và đại thiên. Trong quả địa cầu của chúng ta có tam thiên đại thiên thế giới và ở ngoài quả địa cầu của chúng ta là vũ trụ bao la cũng có vô số tam thiên đại thiên thế giới khác nữa.

Bảy báu thuộc Báu Thân Phật của Đức Di Lạc đã một lần nữa thể hiện sau thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cách đây 2500 năm./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


10. Hịch Chứng Minh Vũ Trụ

Phật ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh Vũ Trụ.
Bồ Tát có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng.

 –Tịnh Vương

– LỜI DẪN CỦA VIỆN HỘ ĐẠO.

Từ năm 1975 trở về sau, đứng trước vạn pháp diễn tuồng, Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật thấy phải đến lúc Chứng Minh thời gian này chính là cực điểm của Địa Ngục Phất. Mạt Pháp, Mạt Kiếp đến lúc phải bị xoá bỏ để đưa Nhân Sinh bắt đầu bước qua thời Thượng Kiếp.

Ngài đã ban hành Hịch Chứng Minh Vũ Trụ (HCMVT) chính là Mệnh Lệnh từ Tam Thế Phật mà toàn thể vũ trụ phải tuân hành, cùng Chứng Minh Thiện Ác, đồng kêu gọi Chư Long Thần Hộ Pháp như: Thiên Thần, Nhân Thần, Địa Thần, Thượng Đẳng Đẳng Chánh Thần cùng Tứ Bộ Thần thi hành tận độ chúng sanh bình đẳng.

Đức Di Lạc Tôn Phật đã trao cho học trò Chân Truyền là Thiền Sư Bồ Tát Di Như nắm giữ Hịch Chứng Minh này để tiếp tục thi hành Bổn Nguyện của Ngài. Y theo lời chỉ dạy của Ngài, Thiền Sư Bồ Tát Di Như đã công bố Hịch Chứng Minh Vũ Trụ lần đầu tiên trong cuốn kinh "Đức Di Lạc và Long Hoa", cùng phát hành tại Việt Nam cuối năm 1999. Ngoài trọng trách Thi Hành Bổn Nguyện Đại Diện Chư Phật Mười Phương, truyền Chân Lý Thực Tiễn của Đạo Phật sống lại trên quả Địa Cầu, Thiền Sư Di Như còn có thêm một trọng trách nữa là nương theo sự chuyển mình của Như Lai Tạng mà từng phần vận chuyển Tam Muội để toàn thể vũ trụ thi hành đầy đủ HCMVT của Đức Di Lạc.

Tính từ lần đâu tiên công bố, ban hành cuốn kinh "Đức Di Lạc và Long Hoa" đầu năm 2000 cùng tuyên đọc HCMVT tại Hoa Kỳ năm 2002 đến nay đã trải qua mười (10) năm, thế giới đã chuyển mình trên một số quốc gia nhưng tình hình cơm no áo ấm của nhân sinh vẫn chưa thấm vào đâu, so với sự đau khổ tận cùng thời Mạt Kiếp. Chúng sanh độc tài, độc đảng, đang nhai nuốt dân lành, từ hình thức bỏ độc chất vào thức ăn khốn khó hằng ngày, cùng vô số sự đàn áp tàn độc của cả một hệ thống bạo quyền cướp đất, cướp biển, cướp ghe thuyền, bắt đòi tiền chuộc, cùng giết hại dân lành không có một thanh sắt trong tay.

Ngay lúc này, bắt đầu năm 2011 mở màn trở về sau, thời gian không cho phép kéo dài lâu thêm, HCMVT một lần nữa Đại Bồ Tát vang động Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cùng khắp các cảnh giới Thiên, Tiên, Thần, Nhân Loài và riêng đối với Địa Ngục, Ác Căn phải thức tỉnh ngay hoặc phải bị loại bỏ trở về nơi đồng chủng đồng tánh cảnh giới Điạ Ngục do quyền lực Siêu Đẳng Bất Nhường Thần Thông từ Tâm Kinh Bát Nhã và Tam Muội.

Nay Bồ Tát Ma Ha Tát đại diện Phật Vương Di Lạc thỉnh cầu Chư Thiên Thần, Nhân Thần, Địa Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Thượng Đẳng Đẳng Thần, Chư Long Thần cùng Tứ Bộ Thần hãy vì bổn nguyện chung của Tam Thế, cấp cấp thi hành tận độ chúng sanh trong khắp các quốc gia còn bị nạn độc tài, độc đảng trên thế giới và khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Đó là công đức cúng dường Như Lai. Xong cuộc thế sẽ được luận công. Không để chậm trể thêm nữa.

Nay Lệnh Ấn Quyết Ban Hành.

  * * * * * * *

PHẦN MỘT 'HỊCH CHỨNG MINH VŨ TRỤ.

 

 

 

 

 

 

 

 

Nghe Bồ Tát tuyên đọc.

 

 

 

 

 

GIẢI THÍCH.

 ◊ Hội Thượng: Thượng có nghĩa Thượng Kiếp. Ý chỉ Hội này lập đời Thượng Kiếp tức Hội Long Hoa do Đức Di Lạc chủ trì, được ẩn dưới danh Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam.

 ◊ Chứng Minh: Vì sao Chư Phật phải chứng minh? Vì thời Mạt Pháp là thời mà chúng sinh tu hành không theo tôn chỉ của ba đời Phật, không thực hiện Đạo Đức lại tu theo lý trí. Đã Mạt Pháp liền đến Mạt Kiếp. Mạt Kiếp tức lối sống hành động theo cái muốn không còn kỷ cương đạo đức. Dần dần đi đến ác, đâu đâu cũng thấy hiện ác căn: Ngạ Quỷ, A Tu La, Súc Sanh đến Địa Ngục thịnh hành, còn bậc Nhân Thiên rất hiếm. Thời Mạt Kiếp là thời cuối nên đời sống diễn hành, pháp gì cũng tận tận. Cuối thời Mạt Kiếp sẽ chuyển Thượng Kiếp, nó cũng đúng thời Đồng Độ. Nếu Chư Phật không ra đời chứng minh, ắt chúng sinh phải trầm luân mãi trong Hạ Kiếp vì xã hội suy đồi đến mức tận cùng. Người dân vô tội không dấn thân bên này hoặc bên kia cũng bị chung số phận. Đọc thật kỹ Hịch Chứng Minh của Đức Di Lạc mới thấy Phật Lực tận độ chúng sinh của Ngài bằng cách giải giới Cộng sản Liên Xô và các nước Cộng Sản Đông Âu đem lại tự do cho chúng sinh của họ và thế giới thật khó nghĩ bàn!

“Tất cả đã lầm, tưởng mình sau khi mãn phần hết kiếp vẫn sanh trong quả Địa Cầu nầy, hoặc mình là người thời được sanh làm kiếp con người, có kẻ lại lầm khi mình chết là mất.

Mỗi một bậc khi mãn phần hết kiếp thì từ nơi quả Địa Cầu này, liền thoát sanh qua trăm ngàn quả Địa Cầu khác, đến nơi đồng hợp với Đức Tánh, đồng hợp với cử chỉ liền được sanh nơi đó, rất hiếm bậc đặng đồng sanh nơi mình mới vừa thoát để sanh.

Lại có bậc từ quả Địa Cầu nầy, lúc mãn phần vừa mới được thoát sanh liền được sanh phải lướt qua trăm ngàn Cảnh Giới, hoặc lướt qua trăm ngàn Cõi, Cảnh Giới nào hay Cõi nào đồng hợp với Đức Tánh cử chỉ liền được sanh nơi đó.” –T.V.

 ◊ TA: chính Đức Di Lạc cách đây 2500 năm Phật Lịch Đức Bổn Sư đã thọ ký thời Mạt Pháp, Ngài Đại Diện Tam Thế Phật có trọng trách tận độ chúng sinh và chứng minh thời Mạt Pháp trở lại Chánh Pháp.

 ◊ Tịnh Vương Nhất Tôn Đương Lai Hạ sanh Tôn Phật Tối Thượng Đẳng (kiếp này): ý chỉ Đức Di lạc trong kinh thường gọi Đương Lai Hạ Sanh. Bất cứ vị nào từ Thượng Giới, lai trần đều có một cái tên mới, mỗi kiếp một tên.

• NHÂN DUYÊN BAN HÀNH. Sau Thế Chiến thứ nhất 1914-1918 và Thế Chiến thứ hai 1939-1945, đến Hiệp Định Geneve 1954 và nội chiến của người Việt Nam đã đưa đến hậu quả tai hại là đất nước bị chia đôi, biết bao gia đình đã từng lầm than đau khổ nay lại phải chia ly.

Chiến tranh Việt Nam

Thế giới thời này đã chia hai phe rõ rệt và cực kỳ tương phản. Một là chủ nghĩa tự do của Tư bản do Hoa Kỳ và các nước Tây Phương chủ trương, hai là chủ nghĩa Cộng Sản do Liên Xô chủ trương gây mâu thuẫn với thế giới Tự Do. Nhờ đó Cộng Sản Liên Xô có điều kiện bành trướng và kỹ nghệ hóa xứ sở, leo lên địa vị siêu cường quốc để tranh hùng với Hoa Kỳ.

Trong thế chiến thứ hai Hoa Kỳ và Cộng Sản Liên Xô đã bắt tay cùng một chủ trương để tiêu diệt Hitler. Khi Đức Quốc Xã thảm bại, Hoa Kỳ nhận thấy Cộng Sản Nga tràn quân qua nước Đông Âu nào cũng đóng quân, củng cố, lập chính quyền theo Cộng Sản. Hoa Kỳ đã thấy Cộng Sản Nga là kẻ tạo thù địch nên trong tương lai hoà bình của Hoa Kỳ và các nước đồng minh không thể xem nhẹ được.

Học thuyết thế giới hai phe của Darwin dựa trên nền tảng “cạnh tranh sinh tồn” được Karl-Marx, thủy tổ của Cộng Sản do Cộng Sản Nga đem áp dụng vào “đấu tranh giai cấp” ở giữa thế kỷ 20, chuẩn bị cho thế chiến thứ ba, thế chiến nguyên tử tiêu diệt sự sống của tất cả tứ loài trên địa cầu. Chính thế giới hai phe Tự Do và Cộng Sản đã đua nhau sản xuất vũ khí nguyên tử, sắp sẵn thế cờ đe dọa thế giới đi vào khúc quanh tận thế.

Sau hiệp định Geneve 1954 cho đến 1975 tình hình Việt Nam đã xảy ra biết bao biến cố dồn dập. Tình hình thế giới trở nên nghiêm trọng là năm 1956 sự rạn nứt giữa hai siêu cường Cộng Sản Liên Xô và Cộng Sản Trung Hoa càng ngày càng sâu rộng, tạo ra hố ngăn cách có lúc cường độ dâng cao đến nỗi hai bên suýt dùng vũ khí nguyên tử bấm nút sát phạt nhau! Những sự kiện trên đã ảnh hưởng trầm trọng đến Việt Nam.

Từ năm 1968-1972 hai nước Cộng Sản đàn anh là Liên Xô và Trung Hoa chia rẽ, lợi dụng được yếu điểm này Hoa Kỳ đi đêm và bắt bồ với Cộng Sản Trung Hoa để đối trị với Liên Xô, càng làm cho vũ khí nguyên tử của hai bên như treo lơ lửng trên đầu nhân loại!

Nghiêm trọng hơn nữa từ năm 1972 đến năm 1975, sau ba năm Hoa Kỳ củng cố được vững vàng với Cộng Sản Trung Hoa, liên kết các nước Tây Âu, Nhật trong chiến lược toàn cầu đã bao vây được Cộng Sản Liên Xô, càng làm cho Liên Xô phát triển mạnh tàu ngầm nguyên tử có gắn hỏa tiễn đầu đạn hạt nhân. Lúc đó những ai có trình độ hiểu biết đều tin rằng thế chiến thứ ba ra đời, vũ khí nguyên tử sẽ tiêu diệt sự sống trên địa cầu này, không những loài người bị tiêu diệt mà các loài khác cũng không còn tồn tại được.

Ngày nay, việc chế tạo hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân và bom nguyên tử đã không còn là một bí mật tuyệt đối nữa. Thật là một thảm họa!

Tháng 4 năm 1987, trường Đại Học Lục Quân Mỹ ở New Jersey, nguyên cứu về vấn đề chiến lược đã công bố. Ngoài các nước đã có vũ khí nguyên tử như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Đức, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Phi còn có một số quốc gia khác sẽ có vũ khí nguyên tử. Tổng cộng có 23 quốc gia trên thế giới đã và sẽ có vũ khí nguyên tử. Có phải thế giới đã đến ngày tận thế?

• VIỆT NAM LÀ NƠI KHOA HỌC THÍ NGHIỆM. Từ năm 1945 - 1975 suốt 21 năm chia cắt đất nước, Hoa Kỳ viện trợ bảo vệ miền Nam, trong lúc đó Liên Xô và Cộng Sản Trung Hoa yểm trợ miền Bắc Việt Nam. Chiến tranh đã làm cuộc diện trong nước cực kỳ đen tối, nó trở thành một cuộc chiến tranh thế giới thu hẹp tại miền Nam, suýt nữa thế chiến thứ ba bùng nổ mà nguyên nhân chính là Việt Nam. Cuộc thư hùng của Hoa Kỳ và Đồng Minh, còn một bên là Cộng Sản Liên Xô, Cộng Sản Trung Hoa cùng các nước Cộng Sản Đông Âu, làm cho dân tộc Việt Nam phải gánh chịu một số phận khủng khiếp, của những phát minh khoa học chiến tranh hiện đại, được đem thí nghiệm tại Việt Nam.

Ngày 8.6.1972 do vô tình, phi cơ đã thả bom Napan (hoá học) xuống khu vực Trảng Bàng, cách Sài Gòn 40 Km

Dân tộc Việt Nam đã gánh chịu tận thế! Đối với Chư Phật gọi là Mạt Pháp vì tận cùng của cái khổ! tận cùng của cái gánh chịu! tận cùng của cái ác! tận cùng của thế pháp. Vạn pháp đều tận gọi là tận thế. Thánh ý hiểu như vậy. Phàm trí quan niệm rằng tận thế là quả địa cầu của chúng ta tới thời kỳ tan rã, loài người đến lúc phải bị tiêu diệt.

Quan niệm như vậy thiếu cơ sở chứng minh. Tất cả những gì do con người tác tạo đều do nhân sẽ gặt quả. Con người tạo nhân nào đến khi đủ điều kiện sinh nở nó trổ quả. Khi nghiệp lực con người tạo bất ổn dãy đầy đến lúc quả Ác trả, bỗng tỉnh ngộ quay lại Thiện. Luật tuần hoàn hết thịnh tới suy, ác hết đường nó phản chiếu nó. Nó thấy nó. Nó tự kiên sợ và rồi tự hối cải. Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã chứng tri vạn pháp độc nhiễm của thời Hạ lai Mạt Pháp này, nên Ngài mới ra sức khai đạo để lưu lại thế giới, cho sau này con người dần dần nhận chân giá trị của đạo giác ngộ mà hóa cải đựợc an lành, không còn sanh tử luân hồi.

Tất cả hiện tượng vật chất đều không ra khỏi quy luật Thành Trụ Hoại Không. Nếu quả địa cầu của chúng ta tan rã là do qui luật trên, Chư Phật có sắp đặt cũng phải dạy dỗ cho con người, khó khăn lắm họ mới nhận được chân giá trị, rồi tự kiến tạo gìn giữ, hóa giải được độc nhiễm, tâm trong sạch, thân được đồng ứng thoát nạn tai ách. Đó là trọng trách, một nhiệm vụ nặng nề và khó khăn của Tam Thế Phật trao, Ngài phải thực hiện thành công rồi chứng minh thời Mạt Pháp trở lại Chánh Pháp./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng

9. Khai mở “Long Hoa Hội Thượng-Thời Hai”

Định nghĩa chữ Long Hoa. Nhiều bậc tín tâm tu Phật đang trông đợi Đức Di Lạc ra đời, khai mở Long Hoa vậy Long Hoa là gì?

Tôi nghe Ngài khai thị như vầy:

– Long nghĩa là Rồng. Theo truyền thuyết cổ xưa dân tộc Việt Nam là con Rồng Cháu Tiên.
– Hoa nghĩa là Hoa Pháp Tánh.

Hoa Pháp Tánh chung gồm tất cả tánh tốt, tánh xấu, gọi là chủng tánh chúng sanh. Chủng tánh chúng sanh vốn lầm mê trong sanh tử luân hồi. Có hoa pháp tánh nên bậc tín tâm mới tự nguyện độ chúng sanh và Chư Phật ra đời cứu độ. Bậc tu không tự độ hoa pháp tánh dù Phật có ra đời chăng cũng không độ được.

Chư Tổ cho đắp tượng Phật, tướng Phật ngồi trên tòa sen, tiêu biểu ngự trị hoa pháp tánh. Tỷ như khi có hoàn cảnh, tánh sân hận nổi lên, bậc tu cần nhẫn nhục, nhẫn nhịn hay nhẫn nại có kết quả, điều ngự được tánh sân hận. Tất cả các tánh khác như lo âu, sầu khổ, ngang tàng... đều kềm giữ êm đẹp gọi là Điều Ngự Trượng Phu. Trượng phu là tầng số cao hơn con người.

Hoa Pháp Tánh diễn hành, biến hóa thành pháp giới cá nhân, ôm giữ pháp giới làm lẽ sống khiến cho tất cả đều mê lầm. Hoa pháp tánh lui tới nơi con người do phổ chiếu từ vũ trụ, nên con người chạy theo diễn cảnh đúng sai, sai đúng. Vũ trụ và con người chạy theo nhau như một vòng tròn gọi là bánh xe luân hồi.

Vì không rõ được đường đi của luân hồi nên tất cả bậc tu bị sai biệt, sinh ra thực hiện từ bi, bác ái nhưng trí tuệ chưa có, cuối cùng lãnh phước thiện. Còn con đường đi đến Tri Kiến Giải Thoát là thế nào lại không nắm vững.

Vậy Long Hoa có nghĩa là Đức Di Lạc ra đời tại Việt Nam, khai đạo cho tất cả chân tử tín tâm, giải sạch hoa pháp tánh, tu hành đoạt được tri kiến giải thoát, không còn sanh tử luân hồi.

Khoa học càng tiến bộ, xã hội càng văn minh, bậc tu hành không kiềm chế được sẽ trở thành bị nhiều mong muốn về dục vọng: gọi là sắc, thinh, hương, vị cứ thế mãi tu cầu. Thời này, khi nghe nói tu điều ngự, hóa giải hoa pháp tánh, lắm bậc không tin pháp môn mới lạ này, họ nổi giận, đánh đổ trở thành an trụ nơi hoa pháp. Đa phần chỉ thích nghiên cứu, học kinh, ăn chay, mặc y áo giống Phật thì cho là Chánh Đạo, còn ngồi nhắm mắt lim dim cho là chân tu.

Khó khăn lắm mới có bậc chịu tu theo sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà không nhiễm. Hoa pháp đáp ứng cho tất cả tứ loài như ý muốn, trở thành hoa pháp giới còn gọi là pháp giới. Hoa pháp giới linh động, vi tế đến nỗi Phật còn phải lầm mà bị trụ chứng nơi Phật Giới còn gọi là Bích Chi Phật, Độc Giác Phật. Bậc tu cầu giác ngộ phải thực hiện thường soi nơi tánh mình, thấy-biết rõ tánh mình thay đổi có tham vọng, thích vọng mà cải thiện gọi là sửa tánh. Bậc tu không chịu sửa tánh, ắt bị thọ nghiệp nơi hoa pháp phải chịu vướng trong sanh tử.

Đức Di Lạc khai mở Long Hoa hàng ngày cho chân tử tìm đến xin tu học, còn Bên ngoài pháp bảo, Ngài cho treo một cái bảng chiều rộng 1m và chiều dài 4m có ghi:

PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG

 

 

 

Biết bao Tăng Ni qua lại trên đường Hồng Bàng ở thành phố Nha Trang này nhưng không có một vị nào hỏi hay tìm hiểu. Trung Ương hội tại sao còn chữ “Thượng” là gì? Nếu chú tâm tìm hiểu liền biết đó là dấu hiệu Đức Di Lạc đã ra đời!

Ý Ngài muốn nhắc nhở thế gian: Thượng có nghĩa Thượng Ngươn, Thượng Kiếp. Bảng được cho phép treo từ năm 1972 nhưng đến năm 1975 bị lao đao. Cho đến năm 1982 thì bị nhà nước Cộng Sản dẹp bỏ.

Năm 1972, khi treo bảng, Ngài cũng làm lễ treo lá cờ Pháp Tạng đầu tiên. Điều mầu nhiệm liền ngay sau đó, trên không trung hiện ra một lá cờ đủ màu sắc giống y như một lá cờ Pháp Tạng mà Ngài đang treo nhưng rất to lớn, bao trùm khắp bầu trời. Đó là dấu hiệu Chư Thiên, Thần hoan hỷ.

Lá cờ Pháp Tạng gồm ba phần: Phật–Tăng–Pháp, biện minh Đại diện Tam Thế, nếu bậc Trí nhìn lá cờ cũng biết Phật ra đời.

Mục đích của Long Hoa. Chủ đích của Long Hoa chính là pháp môn giải thoát để cứu nhân loài thoát sanh tử luân hồi, y tôn chỉ Tam Thế Phật: Quá khứ, hiện tại, vị lai.

Pháp môn giải thoát là một pháp môn tu nơi Nghe Thấy Biết, tức là vạn pháp không vướng mắc. Từ hoàn cảnh trong Đạo tràng khúc mắc, cho đến ngoài thế gian: bà con gia đình, bạn thân hoặc sơ, người trên kẻ dưới, va chạm nhau trở thành diễn cảnh thuận và nghịch. Bậc tu nương nhờ hỷ xả tâm, có công năng kiến tạo không bị vướng mắc sẽ sống động hơn bậc nhắm mắt lim dim, ngồi chỗ vắng tránh né vạn pháp để tận diệt, đặng không va chạm vướng mắc.

Có trí tuệ hóa giải nghi chấp, hóa giải bờ ngăn bằng con đường nhẫn nhục, nhẫn nhịn, nhẫn nại, tiếp đến vận chuyển bờ ngăn gọi là trí tuệ cứu cánh mới mong giải thoát. Bậc tu không dùng trí tuệ hóa giải, chỉ an trụ từ bi, bác ái, ai giết mình cũng được gọi là Thánh Hiền nhưng không thực hiện tận độ chúng sinh được. Bậc tu chưa có trí tuệ cứu cánh, chỉ thực hiện từ bi, bác ái dù có thần thông vẫn còn kẹt nơi hoa pháp cố thủ không giải thoát được, cao nhất được về Cõi Trời chứ không thoát ra ngoài vũ trụ được. Bậc kiến tánh, không cần sắc tướng vẫn thấy biết, nhờ thường tánh sáng soi nơi không tướng vẫn thấy. Tư tưởng chứa nhóm sanh tánh, vọng đảo tham muốn sanh tánh. Có cảnh tánh liền sanh bởi tự ngã sanh tánh. Tánh đã sanh liền lại diệt nên chi có rất nhiều tánh sanh diệt, diệt sanh gọi là sanh tử luân hồi.

Bậc tín tâm cầu đạo cần lý kinh và sự hóa giải tánh phải đồng song. Đức và trí đồng song, bất tăng bất giảm mà triệt thấu, viên đạt giải giới hoa pháp. Rất nhiều bậc tu hành bị vướng vào không chấp, bị chấp không, vẫn là hoa Pháp Giới Không. Thật tai hại. Chỉ cần một sơ ý sai lạc phải chịu nằm trong ĐÀI HOA PHÁP GIỚI vô số kiếp. Do đó hàng hàng lớp lớp bậc tu an trụ nơi Đài Hoa Pháp Giới sinh ra Tam Thiên Đại Thiên Thế giới, cho đến ba cõi sáu đường. Bồ Tát nguyện là bậc nương vạn hạnh lìa hẳn chướng đối, hòa mình nương nơi thuận nghịch chứ đừng diệt nghịch pháp. Tâm không quái ngại nhiếp độ lục đạo pháp giới, thâm nhập pháp giới mới tỏ ngộ mà tận giác tướng, thoát khỏi đài hoa pháp giới, Đạt được Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Thời Mạt Pháp, tất cả các pháp nơi nào cũng tận. Ngài biết rất khó đắp xây vì bậc tu Phật không quan tâm đến Hoa Pháp Giới. Khi nghe giải thích về Long Hoa như vậy, nhiều bậc tu không cầu giác ngộ, vốn thường trụ, thường chấp, thường bảo thủ cá nhân, thương ghét không chừng và tu theo chí hướng qui định, lòng vẫn tin Phật, nhưng tu chỉ trông chờ siêu hình cùng sự kỳ lạ, liền không thấy có gì hợp ý. Nó cũng không theo ý nghĩ lâu nay của các bậc tu này, với ảo tưởng kỳ lạ nơi cơ đàn ghi bút: như núi Thất Sơn nổ, trời đất tối đen bảy ngày bảy đêm. Sau đó Đức Di Lạc từ trong núi đi ra hào quang sáng chiếu...

Còn Tiên Thần Trí đức tánh suy tưởng, dụng Thiền, định tưởng, chọn lọc các pháp thanh cao, đẹp đẽ, bỏ và thanh lọc pháp thô, xấu, dơ. Sau đó nhiếp thu tu luyện nên chưa rõ Long Hoa ra đời, núi Thất Sơn nổ như thế nào.

Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị, tôi nghe như vầy: Ví như thân Tôi, không từ bà mẹ sanh ra, lại do núi Thất Sơn nổ sanh ra, Tôi từ trong núi đi ra, hào quang sáng chói, thì chắc thiên hạ họ sẽ ùn ùn kéo nhau đi đến xem. Lúc đó, ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi, mỗi mỗi cử động, họ đều theo hiếu kỳ mà bám sát, chắc Tôi cũng chết sớm chớ sống sao nổi để khai mở Long Hoa. Ngài ghi bút nhắc nhở:

"Thượng Sanh Đâu Suất Môn,
Hạ Lai Vô Thượng Tôn.
" –T.V.


Qúi thay! Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khéo biết, khéo tường tận chốn Hạ Lai Đồng Độ. Ngài đã thọ ký Đức Di Lạc từ Cung Trời Đâu Suất, hạ sanh nơi thế giới Ta Bà này, hạnh nguyện tu hành nhiếp độ các hàng Tiên Thần, tận độ chúng sanh thành Phật Quả. Cho nên những bậc tín tâm có Đại Duyên Lành, không chướng đối, không chấp, được gặp Long Hoa ra đời tại tỉnh Khánh Hòa này. Còn những bậc quan niệm cho rằng Tu hành sao không ăn chay, sao không cạo đầu, sao lại có gia đình vợ chồng, con cái nặng nghiệp quá, lại vì họ không nhận Nghe-Thấy-Biết là vạn pháp nên chê trách, cho là tà đạo, bỏ đi không vào tu hành theo Long Hoa được.

Ngày nay, nói đến Phật Giáo, là một tôn giáo mà cả thế giới này đều biết, nó đã đi vào lịch sử của nhân loại, nhưng những ai thiết tha cầu con đường giác ngộ, thật khó tìm bậc đạo sư làm thỏa nguyện. Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc Hạ Lai lần này, đã lưu lại cho hiện tại và hậu thế một pháp môn tu hành, ngay trong gia đình, ngay chốn cơ quan làm việc mà vẫn được giác ngộ. Một Pháp môn giác ngộ hiện đại nó là niềm tin tự hào cho bất cứ chúng sinh nào muốn cầu Tri Kiến Giải Thoát trong hiện kiếp. Đường lối tu này tuy mới lạ nhưng thực sự đã y tôn chỉ thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức A Di Đà Phật, Đức Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai cùng Chư Phật mười phương hộ trì.

Những hình thức nghi lễ rườm rà được Ngài bãi bỏ. Lễ nhập đạo, cùng những ngày Đại lễ khác cũng tổ chức đơn giản nhưng đầy tôn nghiêm, trịnh trọng, không có một giáo điều mê tín. Sự tu hành hàng ngày của chân tử được khai thị rõ ràng, minh bạch, cốt yếu cho bậc tu nhận lãnh được rồi thực hành, áp dụng tu thực tiễn trong đời sống thường ngày, hưởng kết quả không còn đau khổ trong hiện tại.

Một hôm, Ngài hỏi một Hòa Thượng tu ở chùa đến viếng thăm Ngài, Ngài hỏi:

- Hòa Thượng tu được bao lâu?

- Con tu được 47 năm.

- Hàng ngày Hòa Thượng tu gì?

- Sáng, tối con tụng kinh, ăn trường chay, học tất cả các loại kinh của Phật.

- Phải sửa tánh, giải đố tật xấu, hỷ xả để tạo Đạo Đức. Tụng kinh phải hiểu nghĩa kinh thuộc về giáo lý. Cần Thiền Định để Trực Giác. Nói chung ba môn Đạo Đức + Giáo lý + Tọa Thiền phát triển đồng đều vào đời sống thực tiễn của con người sẽ không còn là một mối nguy hiểm đối với bản thân, gia đình, tu như vậy được giác ngộ.

Hòa Thượng nhận lãnh được và công nhận pháp môn này tu được giác ngộ. Trên đường về lại chùa, Hòa Thượng sơ ý bước một chân sụp vào lỗ chân trâu trên đám ruộng bị trật chân, phải lết về đến chùa, cả tháng mới hết đau. Sau đó, cứ mỗi lần muốn đến viếng Đức Ngài, ở chùa Hòa Thượng đều có xảy ra chuyện bất ổn, ồn, cản trở không đi được.

Quan niệm của một chúng sinh trong tứ loài, qua tư tưởng, lời nói, hành động nhiều đời kiếp sẽ quyết định cuộc đời của chúng sinh đó trong hiện tại, tương lai và tái sinh. Quan niệm cố định Phật gọi là NGHIỆP, tất cả chúng sinh không thoát khỏi nghiệp lực này. Nó quyết định số phận của chúng sanh không chỉ ngay hiện tại mà còn hiện rõ trong những hoàn cảnh thích hợp về sau nữa. Nếu quyết tâm bền chí, chúng sinh nhờ công năng công đức trong hiện kiếp có thể tự hóa giải, thoát nghiệp được.

Thời Hạ Lai lạc pháp có lắm pháp đến tận cùng. Ví như có một thầy giáo quen nghề cầm bút và đứng trên bục giảng, nếu bị bắt đi làm ruộng thà chết chứ không chịu. Quan niệm sống thường ngày ăn sâu vào tư tưởng đến lời nói, cuối cùng là hành động quen dần, nếu bị đổi thay khác giới sẽ không chịu nổi. Bậc tu gặp phải hoàn cảnh dù tại gia hay xuất gia, nếu có chí dũng đều được giải thoát nghiệp lực. Hàng Bồ Tát Nguyện, gặp hoàn cảnh như vậy cũng vui lòng ghi nhận, tâm không hờn oán, lại chú tâm tìm cách hóa giải. Trái lại, chúng sinh chỉ than thở hoặc sầu khổ.

Ví như con cá quen sống ở ao tù nước đọng, nếu bắt đem nó ra mương nước rộng hơn, trong trẻo hơn, nó hoảng hốt chạy trốn và lủi dưới bùn. Dần dần nó quen lối sống, mới dám bơi lội tự nhiên. Nếu đem con cá ở mương nước ra sông rộng rãi hơn, nước chảy siết hơn, nó cũng hốt hoảng chạy trốn. Dần dần nó quen lối sống, mới dám bơi lội tự nhiên. Nếu đem con cá ở sông ra nước hai giòng ngọt và mặn ở cửa biển, nó cũng hoảng sợ và liền quay đầu tìm về chốn cũ, sau quen dần nó mới ra vào biển cả rộng mênh mông, tha hồ đi lại.

Bậc tu cũng vậy, quan niệm theo môi trường sống của mình bị thay đổi thì thà chết chớ không chịu nghe, hoặc không chịu tìm hiểu, sẽ không bao giờ gặp Phật hay Bồ Tát ra đời để được cứu độ. Dù chư vị Thiện Trí Thức này có ở ngay bên cạnh các cũng đành chịu. Đương thời, Đức Tịnh Vương ra đời thường nhắn nhủ cho chân tử ý thức câu: Phật bất hóa độ Vô Duyên, bất hóa độ Định Nghiệp.

Bậc tu quan niệm con đường mình đang đi là đúng, dù có Chư Phật cũng không giải cái định kiến này, chỉ trừ bậc đó họ tự hồi hướng, tự tìm hiểu và tự nhận định. Bậc cầu giác ngộ luôn nương tựa Chư Bồ Tát nếu không có đại duyên gặp Phật. Cần vào giới, ra giới, dung thông không dừng trụ, không chấp mới mong tu theo con đường Tri Kiến Giải Thoát được.

Nghiệp bao phủ chúng sinh trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Tu hành muốn tiến bộ hơn hiện tại, tức thì có sự cản ngăn của nghiệp chướng. Nó vô tướng nhưng đầy quyền lực. Phải tu trong Phổ Môn Phẩm và chí bền mới vượt khỏi nghiệp lực được. Bậc Thánh nó cản ngăn không cho đến Bồ Tát, Bậc Bồ Tát nó cản ngăn không cho đến Phật. Chính mình mới thắng được nghiệp lực của mình. Thời nào cũng vậy, do Nghiệp Lực mà chúng sinh không gặp được Phật.

Nếu tin rằng chúng sinh được sinh ra, do một Đấng Toàn Năng, có quyền quyết định cả số phận của tất cả mà không một chúng sinh nào thay đổi được nghiệp lực của mình, điều đó là trái ngược lời chỉ dạy của Chư Phật.

Chư Phật hướng đạo, còn chính chúng sinh quyết định đường tu hành của mình: Giác ngộ hay mê lầm, hạnh phúc hay đau khổ, do sự khác biệt giữa cái Nghiệp của mỗi chúng sinh nên mới có sự khác nhau: Chúng sanh gặp chúng sanh không gặp được Chư Phật là như thế.

Còn kinh sấm của Chư vị Tiên Thần ghi:

"Mở cuộc Long Hoa chiêu Thánh Đức
Hưng truyền chơn lý phước cao phong"

Kinh sấm này ghi đúng thời gian Đức Di Lạc đang khai đạo cho tứ chúng tìm đến tu theo Ngài. Vào khoảng năm 1990 dương lịch, tôi gởi cho một vị tu ở Tòa Thánh Tây Ninh quyển kinh “Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng” tập I của Đức Tịnh Vương nhập Chánh Định viết ra. Sau ngày lễ mùng một hàng tháng, cơ đàn Tòa Thánh Tây Ninh biết được chính Đức Di Lạc Hạ Lai nhưng mang tên Tịnh Vương, hiện đang dạy đạo ở Nha Trang. Tòa Thánh liền xin Thỉnh Ngài, nhưng thời điểm này Ngài không đủ nhân duyên hiện thân, Ngài có hẹn một cơ hội khác, khi ra đời sẽ cho nhân sinh biết để viếng thăm Ngài.

Sau đó, cơ bút Tòa Thánh Tây Ninh bảo “Hàng Tiên Thần như các con chưa gặp được Ngài lúc này, chỉ hàng Bồ Tát, Tôn Giả mới gần bên Ngài lúc ẩn này thôi. Các con phải đợi gặp sau.” Tòa Thánh xin mời tôi, nhưng tôi cũng không đến được mà phải chờ lúc thuận tiện.

Kinh sấm còn ghi:

Rán tu gặp Hội Long Hoa
Trễ rồi một kiếp đọa sa muôn đời.
Dầu cho vật đổi sao dời
Tu hành cũng được Phật Trời chở che.

Chúng sanh gặp hoàn cảnh khổ, tu rất đông ở chùa khắp nơi, nhưng kinh sách của Ngài rất ít người đọc được dù Ngài đã viết và ấn hành nhiều. Có người gặp được kinh của Ngài, cầm lên đọc, tức thì buồn ngủ hoặc có việc này việc nọ đến, nên họ bỏ xuống, đem cất hay trả lại. Cứ trung bình một trăm người nhận được thì có chừng một người vào tu với Ngài mà thôi.

Kinh sấm cũng ghi chép:

Lập rồi cái Hội Long Hoa
Chọn lựa coi thử ít nhiều
Người lành kẻ dữ còn tiêu kẻ nào

Kinh sấm cũng ghi đúng Long Hoa ra đời. chúng sinh cũng như Thánh Tăng nào có đủ công công năng, công đức đều được đăng vào bảng Phong Thần, thi chọn bậc Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ đến Chánh Giác, hầu mai sau các bậc này tiếp nối Đức Di Lạc, rộng mở chánh pháp lan rộng khắp, lập lại đời Thượng Kiếp như Di Chúc Đức Ngài đã lưu lại.

Phật thi Đức, trào quốc thi văn,
Nhơn tùng thi chánh, nhơn tăng thi lòng
.

Còn Ông Hồ Hữu Tường, một nhà học giả uyên thâm, nổi tiếng của miền Nam, xây dựng thuyết “Tân Xuân Thu”, một quan điểm để chỉ sau này thời Hạ Kiếp chấm dứt sẽ đến thời Thượng Kiếp. Ông thay đổi quan điểm một cách đột ngột. Tân Xuân Thu là một danh từ được thấy trong sấm kinh. Ông đã khám phá được một chân lý cao siêu sẽ ra đời ở Việt Nam. Ông còn kêu to lên “những tiếng gọi đàn”.

“Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thực to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt Nam”.

Ông còn viết nhiều nữa và đúng lúc Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đang chuyển mình hành đạo. Nhưng viết kêu gọi mà chính ông Tường cũng không có đại duyên gặp Đức Ngài. May mắn thay, giòng họ ông cũng có được một người cháu đã tu theo Đức Di lạc từ năm 1983, sau này đã được Ngài nuôi dưỡng Đạo và được tôi dìu dắt. Theo tôi được nghe Đức Ngài dạy, người cháu ông Tường sẽ được làm Tổ ở một kiếp nào của mai sau.

Cô Trúc Lâm Nương là Tiên Đạo cũng bảo rằng: Thời kỳ này là thời Mạt Pháp, chúng sanh quá đắm say vật chất, gây tạo không biết bao điều độc hại. Để cứu vớt chúng sinh Phật sẽ xuất hiện ở Việt Nam.

Là tri kỷ, đôi lời ta xin nhắn
Phật,Thánh,Tiên xuất hiện nước non nhà
Độ chúng sinh giữ vững khắp sơn hà
Đời Mạt Pháp hoằng khai thành chánh pháp

Cô cũng quả quyết có Long Hoa ra đời và Việt Nam là một giống dân quý.

Rồng mây Phật hội Phong Thần mạng
Sen nở, Long Hoa vạn Quốc qui
Ớ hởi ! Lạc Hồng nền Bích Ngọc
Vững lòng chúa ẩn, hạnh duyên tùy

Tuy vậy cô cũng không gặp được Đức Di Lạc trong lúc cô đang viết những lời thơ này. Đúng là Thần Tiên cũng không gặp được Ngài, chỉ hàng Tổ của Tiên, Thần mới đến học đạo được.

Ông Tám (Lương Sĩ Hằng) cũng nói Phật đã hiện ở Việt Nam nhưng một hôm Đức Di Lạc bảo:

“Ông Tám tu mức Thần Đạo chớ chưa được Tiên Đạo”
Do vậy mà Ông Tám cũng không gặp được Đức Ngài. Chỉ Tổ của Tiên, Thần mới đủ công đức gặp Đức Ngài.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã khai thị: “Người nào nhìn thấy giáo pháp là thấy Như Lai” Giáo pháp của Như Lai Là gì? Như đã trình bày ở phần trước:

– Đạo đức: Sửa tánh xấu, đố tật xấu, hỷ xả...

– Giáo lý: Kinh Phật, nghe thuyết giảng...

– Toạ Thiền: Tu Như Lai Thiền.

 

Đạo Đức + Giáo Lý + Tọa Thiền = Tri Kiến Giải Thoát


Tu như vậy, Chư Phật ra đời liền được đến diện kiến. Chư Phật dạy chân tử của Ngài, nên tu theo giáo pháp của Ngài như vậy để tìm chân lý. Kinh sấm giảng đúng lúc Đức Di Lạc ra đời mà bậc tu không biết giáo môn của Phật ra sao, lại mang nặng thành kiến sẵn cũng không gặp được Ngài.

Ngài dạy cho Chân tử tự giác, chứ không dụng thần thông để chân tử tìm đến theo học Ngài. Chỉ khi tối cần, Chư Phật mới hiện thần thông để cứu độ những bậc tu đáng được độ. Thử hỏi, khi núi Thất Sơn nổ, số đông đến hỗn loạn, liệu Ngài độ được mấy chúng sinh giác ngộ?

Không hề có cảnh đăng đàn thuyết pháp mà đắc đạo hết được. Trái lại, phải diệu dụng cho từng chân tử một trong muôn vạn pháp, khó lắm bậc tín tâm mới thọ lãnh được. Nếu chỉ nghe qua một câu kinh mà ngộ là ngộ kinh chứ không phải giác ngộ của Chư Phật, vì nó còn phần vận chuyển vạn pháp quá ư là khó nữa.

Thời hiền kiếp Đức Bổn Sư Khai Thị, có lắm bậc hữu hình và vô số bậc tu vô hình giác ngộ. Còn thời hạ kiếp này vật chất làm đảo lộn lòng người nên quá khó đắp xây nền chánh pháp, do đó hiếm bậc giác ngộ. Hai câu thơ ghi rõ tâm trạng của Đức Di Lạc:

“Gối mỏi gối, vai vùn vai
Chí còn vận chuyển Phật Đài còn xây”
–T.V.

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng vậy, tự người chân tử phải kiên trì tu hành mới mong có kết quả: “Các con phải cố gắng, Chư Phật chỉ là những vị Thầy”
Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng, Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị cho bà Diệu Tuệ (Maria) như vầy: "Bà có người con trai phá của." Bà Diệu Tuệ không hiểu và hỏi tôi, tôi bảo: Đó là ý Ngài muốn nói sự tu chứng hàng Đại Thừa của Tôn giả La Hầu La tức Chúa Jésus. Chịu đựng đến mức tối đa đến KHÔNG, đạt được bác ái không oán trách, sở đắc thần thông thần kỳ.

Đây là đỉnh cao của Đại Thừa, sự nghiệp còn dang dở chưa thành công đã bị chết, đạt Tri Kiến Phật, nửa đoạn đường đến chân lý KHÔNG gọi là phá của. Hàng Tôn Giả ở vị trí Thánh Hiền được nhập thể vào Như Lai Phật hay Thượng Đế với chữ bác ái còn tương đối.

Phật Thừa không bỏ cũng chẳng lấy, không oán hận cũng chẳng chịu đựng. Có nghĩa phải vận chuyển pháp tránh chịu đựng những việc không cần thiết để hoàn thành lòng Đại Bi gọi là Phật Tri Kiến, nửa đường chân lý còn lại Hàng Bồ Tát ở vị trí tiến đến Phật Giác nhập thể sâu hơn vào Thượng Đế.

Tối Thượng Thừa viên dung vận chuyển Tam Muội ổn định theo ý muốn, đạt được Diệu Dụng Phẩm thuộc hàng Ma Ha Tát, tiến đến sát với Như Lai Phật gọi là Phật Thừa. Phẩm này không thể nghĩ bàn, nó tuy hai mà một, tuy một mà hai./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng

8. Sấm kinh nói về Long-Hoa ra đời

Kinh sấm tiên tri về thời cuộc chiến tranh trên đất nước Việt Nam và sau Đệ Nhị thế chiến 1939-1945, dân chúng sống lầm than khổ sở đã diễn ra đúng. Do đó những lời tiên tri về Long Hoa, Đức Di Lạc Hạ Sanh đã thị hiện miền Nam, càng làm người dân lẫn Tăng Ni, Phật tử tin và mong đợi hơn bao giờ hết.

• Kinh sấm Cao Đài giáo: Cho biết Long Hoa sắp mở.

Minh Chơn Đạo thời kỳ sắp mở
Thức tỉnh đời cho kịp Long Hoa

Thời Mạt Kiếp tận thế luôn được nhắc nhở, xác nhận con người không thoát khỏi trầm luân nơi biển khổ nên phải tinh tấn tu hành.

…Nguồn tận diệt bày ra trước mắt
Cuộc xáo trộn Đông, Tây, Nam, Bắc
Nạn chiến tranh đạo tặc dãy tràn
Ôi! muôn nhà trăm họ lầm than
Chịu khốn khổ tai nàn thảm thiết.
Đạo ra đời là đời tận diệt
Nên Phật Tiên cho biết mà tu.

• Phái Phật Giáo Thầy Tây An: Cùng nhận định không khác với Cao Đài giáo.

Hạ ngươn nay đã hết rồi
Minh Hoàng cầu Phật lập đời Thượng Ngươn
Khuyên người cố gắng tu:
Hạ Ngươn như sợi chỉ mành
Sao không tu niệm tranh giành làm chi?

• Ông Sư Vãi bán khoai: ý nói thời tận thế Long Hoa ra đời.

Trẻ già đừng có nghi ngờ
Việc đời khó thấy bây giờ tới đây.

...Đời đà tận thế vậy mà
Mùa Nam gió Bấc, Đông thời gió Tây
Mây trời nay đã đổi thay
Công danh có một Hội này mà thôi.
...Đặng coi cái Hội Long Hoa
Chọn người tu niệm Hoàng Gia tôn thần

Thật đáng qúy! Các vị Hộ Pháp có nhiệm vụ rao giảng khuyên bảo chúng sinh đúng thời gian Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã có mặt ở Nha Trang, miền Trung nước Việt Nam.

Các vị còn tiên tri đúng, chính xác: kỳ này Đức Di Lạc chuyển từ nước Trung Hoa sang Việt Nam, vì có vài kiếp Ngài thị hiện ở Trung Hoa.

…Bây giờ Phật ở xa ngàn
Bây giờ Phật lại bước sang Nam trào.
…Bây giờ Phật ở nước Tần
Bây giờ Phật lại trở lần về Nam.

• Ông Ba Thới và một số vị Hộ Pháp cùng một ý.

... Ai ai nhẩn chí để dành
Hạ ngươn tận thế tu hành cần năng

Ông cũng cho biết thời Mạt Pháp hạ kiếp Đức Di Lạc có ra đời cũng lắc đầu những hành động quái dị của chúng sinh.

Việc Hạ Ngươn mỗi việc mỗi tham
Phật chắc lưỡi khó đam lại đủ.
…Lại dụng mưu làm quấy làm gian
Đoạt của thế lo toan bất chánh.

Những câu thơ của các vị Hộ Pháp đã dẫn chứng được cho đời biết về Long Hoa thật đúng. Thế vì lý do gì các vị này và nhân sinh không gặp được Ngài đang cùng sống đồng thời chung một giải đất ở miền Nam Việt Nam?

Minh Chơn Đạo thời kỳ sắp mở
Thức tỉnh đời cho kịp Long Hoa

Thời Mạt Kiếp tận thế luôn được nhắc nhở, xác nhận con người không thoát khỏi trầm luân nơi biển khổ nên phải tinh tấn tu hành.

…Nguồn tận diệt bày ra trước mắt
Cuộc xáo trộn Đông, Tây, Nam, Bắc
Nạn chiến tranh đạo tặc dãy tràn
Ôi! muôn nhà trăm họ lầm than
Chịu khốn khổ tai nàn thảm thiết.
Đạo ra đời là đời tận diệt
Nên Phật Tiên cho biết mà tu.

Tóm lược

Một điều đáng chú ý là sấm kinh dụng cơ bút, điển linh. Đó chính là Định Tưởng thuộc Ứng Hiện để làm đạo răn đời. Còn Đức Di Lạc luôn dụng TRỰC HIỆN để cho các bậc tu tín tâm có căn cơ sâu dày gặp Ngài, gặp hoàn cảnh khó khăn vẫn tu, hóa giải.

Ứng Hiện thuộc cầu xin. Trực Hiện thuộc tự sửa tánh tỏ tánh, biết nhận định thế nào là tu, nên nhẹ cảm dễ nhận diện bậc dạy đạo là gốc Chánh Đạo.

Ngài không dụng Thần Thông chốn công cộng, hay những ngày đại lễ có đông chân tử. Chân tử nào thuộc thành phần xây dựng Chánh Pháp mà có nghi chấp, Ngài mới hiện thần thông mầu nhiệm cho thấy để tin, sau đó Ngài giải toàn chân lý thực tiễn.

Ngài dạy: Rất nhiều bậc có thần thông bị giết, nhất là thời Mạt Pháp này, có siêu việt cũng phải thân – khẩu – ý kín nhiệm, chỉ dụng để khai ngộ cho tứ chúng mà thôi. Vì vậy Ngài sống một cuộc đời bình dị với tất cả những ai gặp Ngài.

Do đó, Những ai chờ Đức Di Lạc qua tiếng sấm nổ kinh hoàng ở núi Thất Sơn đều thất vọng. Có lần, một vị tu tiên ở núi Thất Sơn nhìn thấy trên bầu trời hướng Nha Trang có vùng hào quang sáng khắp tỉnh. Vị sư này cho cả chục đệ tử đi ra Nha Trang tìm Đức Di Lạc và đã gặp anh em chúng tôi thuyết pháp cho họ nghe. Họ nhận định đây là Hội Long Hoa nhưng lại chấp vì sao chúng tôi có gia đình và không ăn chay. Đối với họ tu trên núi, ăn chay mới đúng. Quan sát không được sâu, lại nhìn thoáng qua nên khó tin. Họ trở về núi Thất Sơn và bảo tiếp tục chờ Đức Di Lạc ra đời./-


Phần này được thêm vào từ Ban Biên Tập trang web.

Thế giới đang nằm trong THỂ của Đức "A Dật Đa Di Lạc Tôn Phật."

Chỉ những Bậc Hành Giả hoặc Thiền Sư Tu Trực-Giác mới nhận ra những điểm kể ra dưới đây. Vì lẽ đó chúng tôi không cần dẫn chứng nhiều cho dù còn vô số điểm biện minh thế giới đang nằm trong THỂ của Đức "A Dật Đa Di Lạc Tôn Phật".

1. Nhiều tổ chức tâm linh lấy chữ A (hình Tam-Giác) hoặc Con-Mắt-Trái làm biểu tượng.

 A Đề Cổ Phật,
 A  Di Đà Phật
 A  Dật Đa Di Lạc Tôn Phật

Hình Tam-Giác bên trái chính
là chữ A của Ba Đời Phật.

 

Đạo Cao Đài thờ hình con
Mắt Trái là biểu tượng Vị Chuá Tể Vũ Trụ.

Trong hình tờ Mỹ Kim ở trên có hình con Mắt Trái đặt trên hình tam giác.

2. Màu xanh mạ non. Thời còn tại thế Đức Di Lạc Tôn Phật đã dạy chân tử quét vôi hoặc sơn thiền viện màu xanh mạ non (green). Nay đi đâu cũng thấy kêu gọi màu xanh lá mạ (go green).

3. Tượng Di-Lạc hoá thân Thần-Tài. Đâu đâu cũng thấy trưng bày, thờ Phật Di Lạc hoặc tượng Di Lạc hoá thân Thần-Tài.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


7. Kinh Di Lạc Hạ Sanh

Trong kinh Di Lạc Hạ Sanh, Phật khai thị: “Sau này Bồ Tát Di Lạc Hạ Sanh lấy hiệu là Từ Thị. Khi thành Phật, quốc độ của Ngài là một quốc độ vô cùng trang nghiêm. Lầu đài đều làm bằng bảy báu. Đâu đâu cũng có ao trong, có đủ thứ hoa thơm. Mặt đất thì bằng phẳng chẳng có gai góc, chỉ mọc toàn cỏ nhuyễn xanh, người đi cũng như đi trên thảm. Người sanh vào Cõi này đều là người có duyên lành, sống một đời vô cùng an lạc, không đau khổ, bịnh tật, phiền não. Thân hình đầy đủ oai nghi đẹp đẽ, sống lâu đến mười ngàn tuổi, có đủ các thứ mỹ vị ngon lành, còn mặc thì khỏi cần phải dệt, vì có thứ cây sanh ra quần áo. Đến khi hết số phần thì vào rừng dành cho người đến đó nằm an nghỉ luôn”

Ngài Hạ Sanh lần này, trong một gia đình giòng họ Từ. Bài kệ của Ngài được ghi lại ở Chương Một là: TỪ THỊ DI LẠC TÔN PHẬT. Một buổi sáng tại căn gác gỗ, số 42 Hồng Bàng, Nha Trang, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc khai thị, tôi nghe như vầy:

"Thế nhân nghĩ rằng Đức Di Lạc ra đời ở quốc gia nào là nơi đó do đức độ và oai lực Ngài, làm trở nên đẹp đẽ trang nghiêm, không còn cảnh hỗn loạn. Đất đai đều biến thành của quí như vàng, pha lê, xa cừ, mã não, trân châu, xích châu, huỳnh châu, bạch quang châu... Còn Thánh ý cho rằng: Ngài tận độ tất cả chúng sanh tánh của Ngài xong, tâm trở nên Đại Thanh Tịnh, thân hóa trang nghiêm trong tứ thời như đi, đứng, nằm, ngồi và làm chủ bảy báu trong vũ trụ.

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cho đến thời Hạ kiếp này, Đức Di Lạc thành Chánh Qủa Phật chỉ có hai vị này có bảy báu mà thôi. Khi vừa Đản Sanh, Thái Tử Tất Đạt Đa Ngài đã bước đi bảy bước có hiện bảy hoa sen biện minh cho bảy báu. Còn Đức Di Lạc có ghi bài thơ kiếm bảy báu chỉ khi nào cần diệu dụng Chư Phật mới đem ra. Khi đến Cõi Trời, Chư Phật viễn dung sử dụng. Còn Ma Vương, Quỉ Vương đều thất kinh sợ hãi. Kiếm bảy báu chỉ dành Chư Phật mới dùng được mà thôi, khi cần nó xô thành quách, tát biển. Kiếm bảy báu linh động, không nơi nào cần mà chối từ, cốt yếu để phá vô minh.

Con người, ai cũng có bảy báu, nhưng khi còn mê lầm, bảy báu này ẩn, không hiện, khi đạt được Chánh Quả Phật, liền có bảy báu hiện. Bậc có Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi mới tinh thông sử dụng bảy báu. Ba cõi sáu đường kiếm bảy báu này xóa tan. Bảy báu của Phật: Nhất Tâm - Chân Như - Phật Tánh – Pháp Thân – Như Lai Tạng – Pháp Giới – Pháp Tánh. "–T.V.

"Đâu đâu cũng có ao trong, có đủ thứ hoa thơm." Tâm Ngài đã bình nên đâu đâu cũng trong suốt, còn thân đầy đủ ba thân nên mùi hương trầm lúc nào cũng tỏa ngát.

"Mặt đất thì bằng phẳng chẳng gai gốc, chỉ mọc toàn cỏ nhuyễn xanh, người đi cũng như đi trên thảm." Phàm nhân nghĩ rằng khi Đức Di Lạc Hạ Lai, đất không còn gồ ghề, không còn cao thấp, đâu đâu cũng bình. Gai độc không còn, đi đâu cũng như đi trên thảm.

Thánh ý cho rằng, trong thời Ngài hạ sanh đến lúc hành đạo, ai cũng nghe lời nói ngọt ngào đầy đại bi, không biến tánh khác thường như chúng sinh. Lời nói độc không có, ý nói gai độc không còn. Bất cứ chúng sinh gặp Ngài đều ra về thoải mái như đi trên thảm cỏ.

Ngay cả nhiều chúng sinh, ma quỉ độc địa, khi gặp Ngài, lúc ra về cũng thoải mái. Ngài đều lấy Đại Bi cứu độ làm cho ý dữ hóa hiền.

Có lần, một chúng sinh cao cấp đầy uy quyền của Cộng Sản đến gặp, Ngài ôn tồn tiếp. Khi dụng tha tâm thông, thấy chẳng ổn, Ngài liền cho hiện một vị Thần ở Núi Một gần số 6 Huỳnh thúc Kháng Nha Trang. Vị Thần này da ngâm đen, vạm vỡ, mắt mở tròn xoe đang ngồi canh giữ Ngài. Ông này thấy liền giựt mình, khi ra về có nói với đàn em: Ông Thầy này cao đạo. Chỉ có thế chứ không biết Ngài là ai. Ngài cũng chẳng cần phóng hào quang, chẳng hề nâng mình. Ngài thật bình dị mà đầy Đại Bi, Đại Dũng. Ai đã gần Ngài, tin Ngài theo tu học nếu đủ đức tin Ngài thường phát hào quang từ trong thân phóng ra cho thấy.

"Người sinh vào cõi này đều là người có duyên lành, sống một đời vô cùng an lạc, không đau khổ, bệnh tật, phiền não." Ý chúng sanh cho rằng vào được cõi Đức Di Lạc hạ sanh sẽ vô cùng sung sướng không cần tu.

Thánh ý cho rằng: Nếu chúng sanh nào sanh cùng một quốc gia khi Ngài hạ sanh mà có Đại Duyên Lành theo tu pháp môn giải thoát của Ngài, tâm sẽ an lạc, tất không còn đau khổ. Khi có hoàn cảnh hoá giải tâm được an, bịnh tật cũng được tiêu trừ.

"Thân hình đầy đủ oai nghi đẹp đẽ, sống lâu đến mười ngàn tuổi." Chúng sanh nghĩ rằng khi gặp Phật Di Lạc thân hình xấu trở nên đẹp, lại được sống lâu.

Thánh ý cho rằng: Khi gặp Ngài,tu sửa tánh, thiền định, học giáo pháp một thời tánh trở nên tốt nên tướng phải đổi theo như: mặt mày sáng, tươi đẹp, dáng đi cũng oai nghi. Khi đã được giải thoát sinh tử luân hồi, người sẽ được bất tử, nếu về cõi Trời sống, thọ mười ngàn năm.

"Có đủ thứ mỹ vị ngon lành, còn mặc thì khỏi cần phải dệt vì có thứ cây sinh ra quần áo." Chúng sinh nghĩ rằng gặp Đức Di Lạc trong nước này không còn thức ăn dở, hôi thúi, còn mặc thì có sẵn khắp nơi khỏi cần tốn tiền lại có áo quần đẹp.

Thánh ý cho rằng: Khi gặp Ngài, dù hoàn cảnh khổ ải, gai góc đến đâu cũng hoan hỷ, vui lòng gánh chịu vì nó là món ăn ngon lành của hàng Bồ Tát Nguyện. Khi đã điều ngự được vạn tánh, tức vạn pháp, sẽ có áo giáp bền, đẹp khỏi cần tìm kiếm, khỏi cần làm vất vả... Cây sinh quần áo, ý nói không còn sự nóng giận, đau khổ, lo sợ nào xâm chiếm nữa. Tâm an lạc, thân trở nên xinh đẹp.

"Đến khi hết số phần thì vào rừng dành cho người đến đó nằm an nghỉ luôn." Chúng sinh nghĩ rằng khi già chết sẽ được yên ổn.

Thánh ý cho rằng: khi tu đến thanh tịnh, thân hết phần số, ra đi nhẹ như bông. Rừng: ý chỉ nơi nào cũng thanh tịnh đầy khắp.

Ngài cũng đã từng dạy: Nếu chúng sinh có đức tánh tốt, tâm rộng rãi thương người khổ, thường giúp đỡ kẻ hoạn nạn. Gặp Thánh Tăng hồi hướng công đức rồi theo tu hành, thiền định, nếu chưa được giác ngộ cũng có nhiều phước báo tốt đẹp. Nghiệp tốt này sẽ được tái sinh vào nhà quyền quí cao sang, gặt hái được nhiều may mắn, tuổi thọ cao.

Nếu gặp Chư Phật cũng công đức, cũng tu thiền định theo sự chỉ đạo của Ngài, sẽ được quả tốt, được hưởng phước báu trong các Cõi Trời và trong cảnh vua chúa quyền quí cao sang. Nếu giác ngộ sẽ chấm dứt tất cả phiền não, cùng tỏ tường không ô nhiễm kiến dục. Bậc này sẽ có một đời sống trường tồn vĩnh cửu. Nếu giác ngộ rốt ráo sẽ ra khỏi vũ trụ, hoàn toàn thoát khỏi sanh tử luân hồi. Tuy được giải thoát rốt ráo hết thảy các nghiệp phiền não nhưng phiền não vẫn còn đủ, cả kiến dục vẫn còn đủ vì các pháp vốn như./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


6. Tuổi thọ con người thời mạt-kiếp giảm?

Lý do tuổi thọ con người thời Mạt Kiếp giảm.

Tôi nghe như vầy: Khi khai thị về Vũ Trụ với Con Người, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc cho biết, tuổi thọ con người từ lúc khai sinh 8000 tuổi một kiếp, đến nay chỉ còn lại 100 năm. Tuổi thọ của con người bị giảm dần xuống thấp vì tư tưởng loạn gọi là “gỉa tưởng” cùng “tâm ý” ngăn cách quá nhiều trở thành eo hẹp.

Ngài đã tìm ra con người thời Hiền Kiếp hấp thụ “NGUYÊN TINH” bồi dưỡng thân thể đầy đủ. Đến thời Hạ Kiếp, con người hấp thụ “NGUYÊN TINH” yếu kém, nhiếp thu vào thân thể thiếu hụt mà tuổi thọ phải giảm dần do tánh xấu nhiều.

Con người cùng các nhà khoa học không hề hay biết tuổi thọ bị tiêu giảm là do chính con người tự tạo ra. Chính sự đau khổ, tham lam, nóng giận, sợ sệt trong cuộc sống phức tạp thời Hạ Kiếp làm giảm tuổi thọ. Muốn tuổi thọ tăng dần trở lại, con người cần thư thả thân tâm để tiếp nhận đủ “Nguyên Tinh.”

Các tôn giáo bảo tâm rộng rãi không mắc miếu, tư tưởng thanh cao, trí tuệ thoát sinh là tối cần cho con người. Họ chỉ biết có bấy nhiêu đó là tận cùng. Còn Đức Di Lạc dạy rằng: Thời này Chánh Pháp ra đời, Mạt Pháp sắp tàn canh, Ngài công bố chất “NGUYÊN TINH" cho con người biết nên thực hành làm tuổi thọ tăng mà hưởng lấy. Đối với bậc tu Thiền, việc thu nhận “NGUYÊN TINH” không có gì là khó nhưng nó cũng có hại cho bậc không hiểu rõ pháp môn Thiền. Nếu Thiền say đắm làm thu nhận “NGUYÊN TINH” quá nhiều mà trí tuệ còn kém, tư tưởng còn tham mau thành Tiên, Phật thì bị nguy hại.

Người không tu Thiền khó nhận được chất nguyên tinh nên không khỏe mạnh, không linh động bằng bậc có tu Thiền điều hòa. Bậc Thiền tọa đến mức khá cao thực hành một thời gian sở đắc Chánh Định Tam Muội thì hoàn toàn điều khiển, hoàn toàn sử dụng nguyên tinh. Thiền rất cần thiết cho bậc tu tại gia lẫn xuất gia Trực Giác Pháp Tánh.

Trong đời sống có một con người tối tăm, hay thất bại nhiều trên trường đời nếu Thiền Định đúng, sẽ sáng suốt trở nên thông minh giải quyết việc gì cũng đúng đắn chính xác.

Theo các nhà y học, thân thể con người luôn biến đổi, mỗi ngày có hàng triệu tế bào chết đi được bài tiết ra ngoài và được thay thế bởi hàng triệu tế bào mới sinh ra. Thân thể con người được thay đổi hoàn toàn tế bào mới trong vòng bảy năm rưỡi. Do sự thay đổi đó mà con người đi từ chỗ trẻ đẹp đến chỗ già nua xấu xí theo thời gian.

Có lắm người quyền uy, giàu có tìm đủ phương thức để sống lâu ngang với trời đất nhưng chẳng được kết quả gì. Người Phương Tây cũng lo âu, sợ sệt về cái chết giống như người Phương Đông. Nền y khoa của Phương Tây tìm ra được một loại thuốc nào hay liền thế gian xuất hiện một thứ bệnh ngặt nghèo mới.

Cuối cùng vua chúa và lãnh tụ phương Tây cũng đành chịu thua với cái chết. Riêng tại phương Đông, nhiều bậc Thiền Sư khám phá ngay trong thân mạng mình, đã điều hành được chất Nguyên Tinh nên tuổi già muốn bỏ xác thân hay còn muốn ở tại thế đều tùy ý. Có vị Thiền Sư ngồi trang nghiêm khuyên dạy chân tử mình, rồi báo cho tất cả biết mà ra đi thật kỳ diệu. Họ không có chút sợ sệt lại còn an ủi chân tử của mình và cho biết sẽ đầu thai hóa kiếp khác ở nơi nào nữa./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


5. Vết Chân Người-Cư-Sĩ

Đức Di Lạc đi dạo phố mặc Âu phục. Đi dự tiệc Ngài mặc veston như nhân sinh.

VẾT CHÂN Người CƯ - SĨ

Người CƯ-SĨ, vết chân người cư-sĩ.
Đạo hay Đời tê-tỉ sắc-son.
Hiên ngang đâu há mõi-mòn.
Bên trong Bảo-Pháp, ngoài choàng Cư-Nhân.

Tuyệt mỹ thay! Đức Thế Tôn đã từng khai thị “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Phật Pháp không thể tách rời thế gian mà tìm đặng sự giác ngộ. Do đó, trong cuộc sống thường ngày, Đức Tịnh Vương vẫn luôn dạy các Chân Tử Đạo-Đời song tu theo vết chân Cư Nhân Hạnh.

Ngoài choàng lớp Cư Nhân nhưng bên trong xây nền Chánh Pháp. Còn thời thế Mạt Pháp cực kỳ khó khăn nhưng Ngài cũng quyết giữ lời Nguyện đền đáp ơn Đức Thế Tôn, ơn Chư Phật đang thúc dục Ngài. Vết chân Ngài lưu lại thế gian, còn hai vai một gánh Đạo–Đời, quyết làm tròn bổn nguyện chứ không cần danh vọng. Đối với bậc Trí, hoàn cảnh hổn loạn luôn tìm phương hóa giải vì cho đó là vạn pháp sẽ thoát sinh, nên dù ở Cư Nhân vẫn ung dung tự tại, Vô Ngại Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát.

Người CƯ-SĨ xây đền Bảo-Pháp.
Nguyền với nguyền đền đáp ơn sâu.
Nên chi chẳng có danh cầu.
Miễn đem Giáo-Lý, trước sau giải bày.

Người CƯ-SĨ vết chân người cư sĩ.
Trí-Nguyện này chung-thuy keo-sơn.
Hai vai một gánh, không mòn.
Đạo đời duy nhất, trường-tồn PHẬT-TÔN./-

 TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN
Trung-Ương, Ngày 21-01-71 (TÂN-HỢI)
 NHATRANG

Còn đối với gia đình Ngài, hàng ngày vợ và các con cũng làm các ngành nghề để sinh sống như bao gia đình khác. Ngài hiện thân có khi là người chồng, cha, chú, anh luôn làm tròn bổn phận và trách nhiệm, không có một kẽ hở nào có thể chê trách được. 

Ngài năm 39 tuổi và
vợ 37 tuổi.
Ngày 25.10.1957

Đối với cha mẹ, Ngài là một người con luôn tròn Đạo Hiếu. Tứ chúng theo tu học Ngài, nếu ai ăn chay vẫn giữ, ai không ăn chay vẫn ăn như ý của mình. Gia đình Ngài cũng không ăn chay nhưng cấm sát sanh.

Thời Hạ Kiếp này, tất cả các pháp ở thế gian đều hiện cái gì cũng tận. Nó phơi bày chẳng thiếu sót một pháp Ác tận cùng nào. Con người sống nô lệ vật chất, tăng trưởng quá mức. Thấy của cải người khác lấy làm của riêng mình, ai khóc than kêu gào thảm thiết chết cứ mặc kệ, thản nhiên không hề có một chút động tâm thương xót. Tánh xấu, ác tính, thú tính hiện dẫy đầy. Ngài thương xót và bảo nếu không Hạ Lai trần thế, khai đạo chứng minh cho nhân sinh thì tuổi thọ của kiếp người hiện nay còn 80 tuổi một kiếp rồi sẽ hạ dần cho đến khi chỉ còn 10 tuổi một kiếp.

Chính vì vậy mà Ngài đã ban cho tứ chúng, lớp người đại diện nhân thế gặp Ngài, ban đầu tu sửa tánh xấu, tập nhiễm xấu, phải hóa giải để thu nhận cái thần lực sáng tốt tươi, làm tiêu tan dần Ma Lực xấu xa, tâm sẽ được an lạc, không nhiễm độc, thân có sức khỏe, điều hòa. Tuổi thọ tăng dần đến 100 tuổi một kiếp. Ngài cũng đã chứng minh cho tuổi thọ trung bình của một kiếp người là 100 tuổi.

Ngài tùy căn cơ của chân tử mà dìu dắt, dùng đủ phương tiện cứu cánh đến diệu dụng quyết đem Bảo Pháp trao cho chân tử. Ngài đặt những hạt giống Đạo Đức, Giác Ngộ, Giác Ngộ Rốt Ráo lưu lại hậu thế, để sau này sẽ nối tiếp làm sứ giả của Chư Phật truyền cho chúng sinh trực giác.

Thế mới hay, tuy nhân sinh không gặp được Đức Di Lạc Hạ Sanh nhưng muôn sự Chân Thiện Mỹ đầy phúc lạc cũng đã được Ngài sắp đặt, an bài sẵn./-

 

 

 

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng