CHÂN NGUYÊN THỰC TẾ LUẬN

Bửu Tích. Máy chữ Royal của Ngài dùng viết Kinh.

MINH XÁC VỀ ĐẠO PHẬT

Đạo Phật là một mối đạo quảng đại trùm khắp đưa tất cả quần chúng, không phân biệt giai cấp, từ nơi bủn xẻn lòng vị kỷ Tâm eo hẹp tư riêng Cá Nhân Cá Tánh, đến nơi Vị Tha cứu giúp, nâng đỡ tự lợi đầy đủ mọi người, hơn riêng mình tự lợi. Nhờ lý sự quảng đại bao la, nhờ kiên trì ngự chế tư hữu nên đoạt đến Chân lý thực chất, sống hiện tại trên mọi vấn đề, trên các hình thức, giải quyết an lành ổn thỏa cho chính mình, đồng hữu ích cho tất cả, lại dụng ĐỨC TRÍ Hóa Giải tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh của những người thân cận đến thân mạng mình thảy đều đặng như ý nguyện, nâng đỡ các giai cấp, cứu vãn lý trí khó khăn đem con người Tự Tại Vô Ngại, sống an nhiên vui thú, không làm mất thể diện tư cách Đạo Đức trên mọi hình thức, mọi phương diện, nó lại bảo tồn kiếp sống như nhiên tinh thần đồng vật chất thoải mái. Đạo Phật toàn diện từ Thế Gian đến Xuất Thế Gian, chưa có mục tiêu nào ngoài Đạo Phật để đưa con người đi vững vàng bằng

Đạo Phật, cũng chưa có một Mục Đích nào đem cho con người đến nơi Toàn Thiện bằng Đạo Phật, đó chính là lời nói minh chánh. Nếu người nào, kẻ nào hay bậc nào thật hành sâu sắc thâm nhập đặng bao nhiêu thời mới nhìn nhận lời nói nầy là một lời nói đúng đắn, không có môi trường Cổ Võ, nói ra chủ yếu cho nhân sinh quần chúng noi theo tấm gương rạng rỡ tìm ra những gì chính Tôi đã nói.

Đạo Phật, đối với Quần Sanh Tứ Loài, Đạo Phật không khác nào là Hư Không vô tận hàm chứa bảo bọc cho tất cả các Hành Tinh cùng Quả Đất, nâng đỡ cho tất cả vạn Cõi, vạn cảnh giới cùng thế giới đặng an toàn, chỉ có con người, chỉ có những bậc nương theo gót chân Đạo Phật chưa thấu đáo Đạo Phật làm điều riêng rẽ mất giá trị của Đạo Phật, khiến Nhân Sinh hoài nghi bất tín, đó chính là mình tự phản lấy mình trước, chớ Đạo Phật không chịu trách nhiệm. Còn đối với Con Người chưa biết gì về Đạo Phật cho Đạo Phật là một nơi cuồng tín thuyết giả ngôn từ chớ chưa thực thi hành pháp, do những lẽ trên làm cho Đạo Phật phải chịu mang tiếng HẠ LAI LẠC PHÁP, chớ thật ra Đạo Phật không có Hạ Lai hay Lạc Pháp chi cả.

Tôi nhận trước cảnh lạc lõng bơ vơ, do nơi phân biệt dị chủng khó tu, khó đưa đến cho Nhân Sinh Chân lý hữu hiệu, khó minh xác Đạo Phật đối với Tứ Loài Nhân Sanh quần chúng, Đạo Phật chưa phải là một mối đạo bắt buộc con người phải đi tu, Đạo Phật bình đẳng không phong kiến, nên chi Đạo Phật mới phục vụ cho Tứ Loài Nhân Sinh tự giác, đó là trách nhiệm nơi Đạo Phật. Còn đối với bổn phận Tứ Loài, bổn phận Nhân Sinh phải Ái Kính Đạo Phật, chừng đó Đạo Phật mới tận tâm trao truyền Bảo Pháp, Lời nói đây là lời nói dĩ nhiên nó phải như thế. Khi mà Đạo Phật với con người ĐỒNG HÓA với nhau, thời Nhân Loài xã hội hoàn tất, gọi là:

ĐẠO ĐỜI HỢP NHẤT
TRƯỜNG TỒN PHẬT TÔN

Tôi biên tập CHÂN NGUYÊN THỰC TẾ LUẬN, không ngoài nói lên tinh thần Tối Thượng vị tha chung khắp, từ hành động đến cử chỉ, từ trong tư tưởng đến các việc làm thảy đều là Chân Nguyên thực chất, do tại dị biệt năng phân trở thành chưa toàn thiện, chưa toàn mỹ, chưa Chánh Giác.

Tôi nói lên để cho những bậc tu hành yếu kém ĐỨC TRÍ chẳng TƯƠNG SONG nên chi tu mới mỗi một PHÁP MÔN liền sanh Tự Ngã cho mình cao cống gây hấn chê bai, tự làm cho nền Đạo Phật mang tiếng Chánh Tà chướng đối nhau thành ra môi trường cạnh tranh Tông Phái. Khi các bậc tu hành nghe đến CHÂN NGUYÊN THỰC TẾ thì rất dễ nghe đồng với dễ hiểu. Nhưng đến lúc thực thi thâu đoạt đến Chân Nguyên phải lìa hằng hà sa số Bản Ngã, vô lượng Công Đức, vô biên Pháp Giới bờ ngăn, từ Thân Tâm chướng đối, đến NHÃN TỊNH Căn Trần đều thanh tịnh, lúc bấy giờ mới Tự Tại Đại Bi TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG Sạch Nghi hết chấp, bằng chưa phải như thế, thì nên tu trì Hóa Giải mê lầm cầu đến Chân Nguyên Chánh Giác.

Đạo Phật rất tân tiến, không phải Đạo Phật Cổ Truyền, Đạo Phật chính là một nền tảng văn minh vô tận, chẳng phải Đạo Phật đem Nhân Loại Tứ Loài thụt lùi nghìn xưa cổ hủ, vì như thế cho nên Đạo Phật thời nào cũng đặng tôn sùng sống động, thời nào vẫn có đủ tài liệu chỉ dẫn cho Tứ Loài đến nơi Bất Diệt, đến chốn người với người sống chung với nhau an nhiên thoải mái, qúi mến nhau như thịt với xương. Chỉ có khái niệm giữa con người và con người tự lợi, nên Đạo Phật chậm tiến mà thôi. Bao nhiêu những lời minh xác mong sao cho các bậc Tín Tâm thức tỉnh, nhận lãnh lời kinh pháp thực hành hóa giải, đó chính là TU, chớ đừng nên tu theo Tổ Chức mà bê trễ chốn thực hành hoá giải thân tâm làm thế nào Tri Kiến Giải Thoát đặng?

TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Chân Nguyên bất nhị không hai, do đó nên không thể nào diễn giải hay chỉ bày ra cho chu đáo tròn khắp được, duy chỉ có Sở Đắc mới tường tận mà thôi, kỳ dư nói đến Chân Nguyên thảy đều Luận để giải, nơi luận giải cốt đưa con người đến thông đạt Chân Nguyên Thực Tế.

Khi con người tỏ rõ tường tận Chân Nguyên thời nhìn nơi nào hoặc giả đứng trước hoàn cảnh chi thảy đều Chân Nguyên Thực Tế cả. Bằng chưa đoạt đến thực tế của Chân Nguyên thì không thực tế chút nào cả, phải gia công cố chí để tìm tòi lấy Chân Nguyên áp dụng thế nào cho thực tế, chớ họ có ngờ đâu họ đang đứng nơi tư thế khắc biệt trở thành không thực tế, còn kẻ đang đứng trong không thực tế lại là thực tế với kẻ ấy thì sao?

Từ ở chỗ không thực tế Chân Nguyên ở nơi khắc biệt chưa đồng hóa, nên chi người đánh đàn trong cái thú vị của đánh đàn. Bậc thi thơ có hứng thú của thi thơ, mỗi mỗi sở thích của mỗi người chẳng món chi là không có sở thích cả, vì nó như thế nên mới có mỗi người, mỗi bậc thường sống theo sở thích của mình. Nếu có kẻ bất đồng cho đó là xấu xa, cho đó là mê tín, cho đó là ảo tưởng, hoặc cho đó là trái ngược đâm ra khinh rẽ chê bai chỉ trích, bằng cho họ đồng hành, đồng hiệp hay đồng hóa thì chính họ vẫn hào hứng như thường không còn chỉ trích hay phê bình như trên nữa, có phải là họ bị KHẮC BIỆT chăng?

Từ một tư tưởng của mỗi người cho đến vạn tư tưởng từng giai cấp, từng trình độ của mỗi bậc thảy đều Chân Nguyên, đến khi mỗi một tư tưởng hay vạn tư tưởng đem thi hành áp dụng theo tư tưởng từng phần, từng trình độ giai cấp của sự làm đến nơi kết quả, thảy đều nhận thấy thực tế hiện hữu.

Đứng về thực tế Chân Nguyên, mỗi mỗi đều sẵn có thực tế, nên chi khi áp dụng thật sự thì nó đồng đáp ứng theo nhu cầu cho tất cả từng lớp không sai chạy tí nào, duy chỉ chính mình chưa nhận định được vạn triệu cái PHẢI, nên mới lầm lẫn chê khen mà thôi.

Ví như có kẻ hiểm độc Tàn Ác thì nó có chỗ hiểm độc tàn ác thực tế của nó để đáp ứng nhu cầu trong tư tưởng cùng hành động của kẻ ấy, kẻ đó nào có hay biết, sự hiểm độc tàn ác nơi mình, lại tự hào khôn ngoan sống thực tế lẽ phải. Nhưng sau nầy đương nhiên bị chống đối tạo thành hoàn cảnh nguy hiểm sa đọa, lúc bấy giờ kẻ kia than phiền tìm chẳng ra manh mối chi về sự hiểm độc tàn ác cả, vì sao? - Vì bảo thủ nên chưa nhận định được, nếu lìa bảo thủ liền thật biết sự độc hiểm của mình đương nhiên thoát nạn.

Bằng có người thường gieo THIỆN PHƯỚC thì nó đã có chỗ thực tế của Thiện Phước, họ phải qua từng trở ngại tạo thành Thiện Căn, lúc thực hành họ thường nhận thấy sự Dại Dột nhưng cố tạo lấy Phước Điền, đến khi gặp phải hoàn cảnh trắc ẩn hay nguy hại, họ sẵn có sự an toàn vì tự tín Phước Điền, đương nhiên thoát nạn.

Nói về đời thì nó muôn mặt, trong muôn mặt ấy nó đã có sẵn Chân Nguyên mỗi mỗi đều thực tế, do lẽ ấy mà ai ai cũng chấp nhận mình PHẢI, từ trong tư tưởng đến hành động của mỗi người, khi bậc mong tìm mỗi một lẽ phải Chân Chính liền có trăm ngàn cái phải nó đến chỉ trích phán phê làm cho bậc nọ chẳng biết đâu là Phải, chớ nào ngờ đâu mỗi mỗi đều có cái phải Chân Nguyên.

Nói về Bổn Lai Thể Tánh Chân Nguyên có đầy đủ lớp lớp sống động thực tế mới thành. Ví như: Quả Địa Cầu có nhiều lớp Dân Giả, có nhiều Nhà Nước trên mặt đất mới gọi nó là: THẾ GIỚI HOÀN CẦU, còn mỗi một Nước phải có từng lớp giai cấp, từng lớp trình độ đầy đủ nếp sống cùng lẽ sống của mọi người. Không thể nào quyết định một giai cấp hoặc một trình độ ngang nhau hay một cái sống in nhau, gọi là một Nước đầy đủ.

Do nó như thế, cho nên nhà Tu không thể bắt anh Nông Dân phải tu, còn anh Nông Dân buộc người thợ rèn phải làm Nông. Người thợ rèn không thể bảo Nhà Buôn hay Thợ Rừng phải đi làm Thợ Rèn, vì sao? Vì Bậc Tu đã từng tu, cứ mỗi một nghề nghiệp có nếp sống rất thực tế nơi họ đã quen thuộc, do đó khó bắt buộc họ, mà phải nâng họ.

Thế nào là Bổn lai nơi Thực Tế? Bổn Lai thực tế nó đã từng quen hơi, quen tập quán, quen hoàn cảnh, quen xứ sở, quen tính nết, quen cử chỉ, vì như thế nên chi lối sống con người chẳng khác mấy với LOÀI CÁ BIỂN, loài cá biển nó sống với từng VỰC, nó từng quen thuộc dòng nước, dù cho dòng nước ấy có MẶN, TANH, HÔI theo mùi vị thích hợp với chúng nó thảy đều Thực Tế. Nếu đem loài cá ấy, thả theo nơi chỗ chủ định thì cá kia cũng khó mà sống thoải mái, chủ yếu của con người nó có đặc điểm: MUỐN CHO NÓ SƯỚNG, KHÔNG BAO GIỜ NÓ ĐƯỢC SƯỚNG. Nơi sướng của nó, chính tự nó tạo lấy nó, chừng đó nó mới thật là SƯỚNG.

Kẻ thường tình chưa bao giờ hiểu thấu. Duy chỉ Bậc VĨ NHÂN, biết mình và biết mọi người nên thực hành chân nguyên đi sát Quần Chúng lập đủ phương thức thích nghi nâng đỡ cho từng lớp Nhân Dân, từ giai cấp đến trình độ, cốt đem đến sự ích lợi chung, không bao giờ tổn hại bất cứ một ai cả.

Còn Phật Đạo chủ yếu phục vụ cứu giúp Tứ Loài tận tường Chủng Nghiệp, tận biết khả năng, tỏ rõ ưa thích, cốt đưa từng giai cấp trình độ, kể cả Thế Gian đến Xuất Thế Gian, Đạo Phật cứu vãn từng lớp lớp, Đạo Phật khuyến khích cho Tứ Loài Phát Bồ Đề Tâm, tùy theo khả năng thích thú mà lần đưa đến chốn Chân Nguyên Trực Giác.

Phật Đạo tận thấu CÁI MÊ NÓ KHÔNG GỐC, vì sao? Vì Chân Nguyên vốn sẵn Bất Tăng Bất Giảm, Không Cấu cũng chẵng Tịnh, không có Phật Thánh Tiên cũng không Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, cho đến Trình Độ Giai Cấp cũng không. Chỉ vì Cá Tánh riêng tư Quá ư phân biệt nên nó Bị Biệt, trở thành Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục có từng giai cấp trình độ, mới có Tiên Thần Phật Thánh, tự phát sanh ra các Cõi, các Cảnh Giới Tịnh Độ cùng Quốc Độ đầy khắp Chân Nguyên, gọi là: CHÂN THỂ bị sanh. Khi đã bị sanh cần phải thoát sanh nên cần lìa Ngã mới Sở Đắc Chân Nguyên vậy.

Đạo Phật thật biết con người, đến Chư Thiên Tiên Thần Thánh thảy đều ưa chuộng chính mình phải tiến bộ, nhưng ngặt vì tiến bộ với trình độ nơi mình, khó giải tỏa ra ngoài trọng lượng hiểu biết. Từ nơi con người nếu dụng trí của mình hiểu biết tất cả nếp sống con người, tánh tình chung khắp của con người, thời Bậc ấy gọi là VĨ NHÂN. Còn Chư Tiên, Chư Thiên, Chư Thần đến Thánh, nếu đem trí tuệ hiểu biết tất cả cũng được gọi là: Thiên Tiên, Hoàng Thiên, Chánh Thần, Thánh Tăng. Đằng này con người chỉ hiểu biết lấy con người nơi mình trở thành Cá Nhân, Cá Tánh, thủ chấp Thọ Ngã đương nhiên Thọ Nghiệp từng con người với con người, đó vẫn là thực tế không hai, cũng là lẽ thường trong con đường Sanh Tử.

Từ con người đến Chư Tiên, Chư Thiên, Chư Thần cùng Bậc Thánh, họ không bao giờ bảo thủ Cá Tánh, từng Cõi, từng Cảnh Giới, họ cũng không cố thủ tự ngã nhưng họ vẫn nặng về QUAN ĐIỂM, khi họ đã sống từng Quan Điểm thời họ có sẵn QUAN NIỆM, do đó mới có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, có sự tu chứng khác nhau.

Nếu con người đến Chư Tiên, Chư Thiên Chư Thần hay Bậc Thánh, khi có ý chí thoát sanh rộng rãi vượt tầm mức của mình, thì chẳng biết dùng chi hơn bằng tư tưởng, tư tưởng thường dùng thời nó lại lâm vào Ảo Tưởng trở nên mê tín xa lìa Chân Nguyên Thực Tế. Còn dụng lý trí để phán xét đương nhiên sinh tự ngã, duy chỉ có bậc THÁNH TĂNG mới biết sử dụng mà thôi.

Bậc THÁNH TĂNG lấy CĂN lập BỔN, cho nên căn tánh của Thánh Tăng giúp người không cầu báo, khi làm đặng một điểm lành chi thì Thánh Tăng lại thường nghĩ : Một triệu người đã từng làm điểm lành, ngày nay ta mới làm. Lúc gặp hoàn cảnh trắc ẩn làm tổn thương đến cá tánh, làm tổn hại đến thị danh vẫn không phiền trách, vì tự biết; một triệu người đã từng bị trắc ẩn, tổn thương, tổn hại đến hư danh giờ đây ta mới gặp. Bậc Thánh Tăng đã từng lướt qua các chướng ngại cầu lấy Chân Nguyên Trực Giác, rõ biết tất cả hàng triệu Bồ Tát vẫn lướt qua các trở lực cầu Vô Thượng, ngày nay ta mới lướt. Bậc Thánh Tăng phát ra vạn vạn Tư Tưởng lý trí, nương theo tư tưởng lý trí cốt thật biết tỏ rõ có hàng vạn vạn bậc đã từng phát ra tư tưởng lý trí, thọ chấp nơi tư tưởng lý trí mà an trụ trở thành Tiên Thần hay Ác Quỷ. Thánh Tăng thật biết nó như thế nên mới thực hành pháp môn VÔ NGÃ cốt tận Giác Chân Nguyên lãnh lấy Chánh Ngã sạch sẽ tỏ rõ không còn lấy một Tưởng hay lý trí chi cả.

Thánh Tăng lại thường đem nơi Tự Giác, giúp cho tất cả, khi Tâm Ý họ vướng đọng liền dạy họ CỔI GIẢI TÂM làm cho Tâm suông Giác Tuệ. Lúc tư tưởng ảo tưởng thời giáo ngôn giáo lý cốt cho họ nhận chân. Khi họ ngăn ngại từng nơi thì khuyến họ HÀNH THÂM PHÁP GIỚI. Lúc họ thờ ơ chán chê uể oải thời diễn nói Chánh Báo Chân Nguyên, thọ báo Địa Ngục. Khi họ mộng tưởng Phật Thánh Tiên thì nói Phẩm Công Đức Diễn Giải tất cả những sự việc Chư Phật đã làm cùng Bồ Tát đang làm, hiện nay các ông phải làm mới đoạt Quả Vô Thượng, mới thực thi đồng hành theo Bồ Tát-Phật đến Thành Phật. Nếu tu hành mà an nhiên mong mỏi mộng tưởng thì chẳng bao giờ đến mà đặng, nhờ diễn giải trên làm cho các bậc nhận thức đặng, họ đồng lý-sự song tu Chân Nguyên Trực Giác.

Khi các bậc tu biết được sự tu tập dụng CĂN tạo TÁNH, liền có Căn Tánh nhận rõ được CĂN CƠ từng lớp trong Pháp Giới, các bậc nầy mới nhìn nhận được Bậc Thánh Tăng lấy CĂN làm gốc. Còn Phàm phu nhân thế đến Tiên Thần các Cõi thảy đều dùng NHÂN DUYÊN làm lối đi, do lẽ ấy nếu có Duyên mới có hiệp bằng vô duyên thì thờ ơ lạnh nhạt, khiến cho các bậc lãnh Đạo mong cứu giúp cho Tứ Loài phải GIEO DUYÊN để đưa đến Giải Thoát.

Bậc THÁNH TĂNG vì Hạnh Nguyện Độ Sanh nên thường đứng chung các hoàn cảnh của mọi người, lại gia công Đồng Hóa các Giai Cấp, chủ yếu thật tu thật chứng thâm nhập mười lối tu, sau thành Phật trở nên MƯỜI DANH HIỆU như : Khi con người gặp sự bó buộc hay hoàn cảnh khó giải ngặt nghèo sinh ra buồn khổ, thì vị Thánh Tăng mới Hóa Giải khiến cho người kia vui vẻ an lành, nên mới gọi là: THẾ GIAN GIẢI. Nếu gặp các hàng Nhân Thiên Trưởng Giả, liền dùng phương thức Đạo Hạnh trang nghiêm hóa giải Mê Chấp, làm cho các hàng Trưởng Giả khâm phục, phát Tâm nguyện tu hành, được gọi là THIÊN NHÂN SƯ, đôi lúc Xuất Định lên các Cõi Trời, Cõi Tiên để giúp đỡ. Lúc các người gặp những trở lực từ nội tâm hay ngoại cảnh, sinh lúng túng than thở ưu phiền, bậc Thánh Tăng liền diễn giải Vô Úy Pháp, làm cho các người nghe, Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng qua các trở lực tạo nên an lành vui vẻ gọi là ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU. Đối với Thánh Tăng tùy tùy giúp đỡ đủ mọi từng lớp, đủ các việc làm thường TỰ LỢI và THA LỢI, giúp người sống hữu hiệu thực tại trên mọi vấn đề, trên các hình thức, giải quyết ổn thỏa, hóa giải tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh Hạnh Nguyện giúp đỡ từng giai cấp, cứu giúp lý trí eo hẹp, làm thế nào đưa cho con người an vui tự tại.

Bậc Giác Ngộ Thánh Tăng tận tường tỉ mỉ lời nói chân thật chớ chẳng phải lời nói diễn hóa, để cho đời nầy cùng đời sau được biết. Chân Nguyên sẵn có trùm khắp như thế, gọi là CHÂN NHƯ, nơi Chân Nguyên Chân Như đều duy nhất, chỉ vì Duyên Khởi hóa sinh ra hằng hà sa số, vô lượng vô biên chúng sanh giới, từ chúng sanh giới diễn hóa hằng hà sa số Thế Giới, cùng hằng hà sa số Cảnh Giới và các Cõi, từ các Cõi các Cảnh Giới tu trì thoát sanh hằng hà sa số TỊNH ĐỘ, QUỐC ĐỘ, nên mới gọi là: NGUYÊN THỂ, sự nguyên thể hữu tướng trùm khắp Chân Như gọi là: NHƯ THỂ.

Nơi Như Thể nó đồng một Thể Tánh GIÁC NGUYÊN, dù cho ở cõi nào, nước nào, cảnh giới nào, vẫn tôn kính Giác Nguyên duy nhất. Đứng về TƯỚNG trong các cõi, các Cảnh Giới Tam Thiên Đại Thiên thảy đều khác nhau, từ Ngôn Ngữ của mỗi cõi, mỗi cảnh giới nó tùy thuộc theo Thổ Âm, Thanh Dương mà phát sanh giọng nói, tiếng nói, như: Y Phục, Sắc Phục, Ẩm Thực, Đi Đứng Nằm Ngồi tùy theo Ý TRÍ tiêu dùng. Giai Cấp Trình Độ Tục Lệ theo mỗi Cõi, mỗi Cảnh Giới, hành sự Phổ Thông của mỗi Giới sử dụng, đến tín ngưỡng tôn sùng Chí Tôn tùy theo Đức Tín của mỗi nơi, cuộc Xưng Tán có khác biệt, nhưng GIÁC NGUYÊN đều như nhau.

Ví như trên Quả Địa Cầu tín ngưỡng tôn sùng Đức Phật, khi bậc Thánh Tăng Xuất Định đến một Cõi, hoặc một cảnh giới, phải tùy Duyên Cõi ấy, cảnh giới ấy mà giải nói Pháp GIÁC NGUYÊN, chớ không thể nào nói bằng Ngôn Từ xưng tán là lời nầy của Đức Phật, nếu diễn nói lời Đức Phật hay Tướng Phật thì họ không chấp nhận, vì sao? Vì chính họ chưa biết Đức Phật. Từ nơi đất của họ và cảnh giới của họ chưa bao giờ nghe biết Đức Phật thành thử họ không chấp nhận, hai nữa là họ có chấp nhận sợ tổn thương Đấng Tôn Sùng của họ, nên dùng Giác Nguyên tùy xứ sở thuyết pháp, đó chính lời nói thật.

Đạo Phật có TÔN CHỈ MỤC ĐÍCH đưa Tứ Loài đến Hoàn Giác, Đạo Phật lại bao la trùm khắp, chớ chẳng phải Phật Đạo chỉ nằm trong một nhóm nhỏ của Tăng Chúng, vì Đạo Phật rộng rãi nên đưa con người có mục tiêu tu chứng, đem cho con người đến đích Chân Nguyên Giải Thoát.

Một khi ĐỨC PHẬT thị hiện phải tùy theo thời cơ hợp hóa với Nhân Loại, chớ chẳng phải thời nào thị hiện y như nhau. Kể từ thời Phật thị hiện Thượng Kiếp, thời ấy Nhân Loại ưa chuộng ĐỨC TƯỚNG, nên A DI ĐÀ mới thị hiện TƯỚNG HẢO QUANG MINH. Đến thời Trung Kiếp, đứng vào thời PHONG KIẾN Nhân loài ưa chuộng Giáo Phẩm Thần Tiên, nên Đức BỔN SƯ mới từ trong Cung Điện thị hiện. Qua thời Hạ Lai chính thời ĐỒNG HÓA NHÂN SINH, lại đang diễn hành ĐỒNG ĐỘ phải thị hiện trong hàng DÂN GIẢ, đây chính lời thiết thực Chân Nguyên.

Bậc Thánh Tăng thật am tường, Phật không có pháp môn nào của Phật cả, chỉ vì Nhân Loài Tứ Chúng lý bí trong Chân Nguyên mới khai thị, từ nơi nào, đến chỗ nào, tu ra sao, hiểu biết như thế nào, Phật Đạo giải mê, hóa giải nghi chấp, làm cho Nhân Sanh tỏ rõ, Nhân Loài ích lợi, trí tuệ phát sanh bất thối lần tiến trọn vẹn Chân Nguyên.

Đạo Phật nung đúc lẫn cả tinh thần đồng vật chất; tinh thần làm ngọn đuốc lướt qua các trở ngại, vật chất tạo Công Năng tỏ biết, rất thực tế Chân Nguyên cho nên mới khuyến các bậc tu hành hãy tìm Chơn Tánh để tu đưa đến tỏ tánh Tự Giác. Phật Đạo thường nói: Khi một Nhân Sinh, muốn mình trở thành Vĩ Nhân, phải thu thập rõ biết hàng vạn nhân sinh mới thành tựu VĨ NHÂN. Bằng một vị mong trở thành Bồ Tát, phải thực hành Vạn Hạnh Bồ Tát, chừng đó mới thành Bồ Tát. Nếu bậc tu mong thành Đức Phật phải y Bổn Nguyện thi hành Vạn Phật mới thành Vị Phật, như thế có phải thực tế chăng? Trừ những bậc dụng tinh thần, thiếu vật chất hạnh nguyện nên chưa thâm nhập tỏ thông. Dụng vật chất hạnh nguyện thiếu kém tinh thần liền ít hiểu biết, tự sanh ra mơ màng thối chí. Trên đường tu Phật, nơi Tam Tạng Kinh không thiếu môn chi mà không vạch rõ Chân Nguyên phơi bày Chánh Giác, duy chỉ bậc tu hành thiếu kém Thành Thật cùng Thiết Tha đem đến cho lòng mình, chỉ lấy tu làm nơi nương tựa đời sống.

Bậc Thánh Tăng trên đường tu, vẫn nương nhờ Cơ Bản, Tâm Thành Thật thường kiểm điểm với lòng mình, nếu nhận thấy Đức Tánh của mình nơi nào yếu kém liền huân tập bổ sung, bằng dư ra thì phế thải gạt bỏ, cốt thành thật chỉnh trang đúng với mục tiêu Đạo Phật, thường Hướng Thượng cho đến đích Chân Như.

Nhờ như thế nên thiết tha đào sâu các pháp tỏ rõ Chân Nguyên Thông Quang Như Lai Tạng, Tâm Bình Đẳng, Chí Quân Minh thường hay Xuất Định lên các Cõi Tiên Thần thuyết pháp.

Lúc bấy giờ bậc Thánh Tăng thường dùng THƯỜNG TỊCH QUANG, PHỔ CHIẾU QUANG, DIỆU THANH QUANG để xem xét các cõi, các cảnh giới Tiên Thần, đến Chư Thiên nơi nào, chốn nào, bậc nào chưa hiểu, hoặc chưa lưu tâm đến Chân Nguyên Pháp Trí hay Quan Niệm mình khó tu, khó đến nơi Chánh Giác, liền Xuất Định lên đến nơi, hoặc đến liền tại chỗ mà khai thị.

Khi ấy Bậc Thánh Tăng mới quan sát về Cõi Trời LỤC DỤC THIÊN, nhận thấy đồng thời Kiểm Điểm cùng tự hỏi: Tại sao Thiên Dân lại được sanh về Cõi Trời nầy? Vì một số Thiên Dân ít nóng nảy, ít uy quyền, Tâm hòa dịu hơn trong Cõi Thiên, nên đặng Phước Báo về Cõi Trời Lục Dục Thiên an hưởng.

Về địa điểm Cõi Lục Dục Thiên cách Cõi Thiên đến Sáu Chục Triệu dặm, đứng về Tây Bắc Cõi Thiên, Cõi Lục Dục Thiên chính là một Cõi Trời Hưởng Thụ Sáu Điều Dục? Thế nào là Sáu điều dục.

Sáu điều dục là LỤC CĂN dục: Mắt thỏa Dục, Tai thỏa dục, Mũi thỏa dục, Lưỡi thỏa Dục, Thân thỏa Dục, Ý thỏa dục, hiệp với bên ngoài sống nơi Lục Trần dục.

Cõi nầy chính là một Cõi Ăn Chơi đầy hoa mỹ; Mắt luôn luôn nhìn những tòa lâu đài đẹp, gái đẹp, màu sắc đẹp, Tai luôn luôn nghe những tiếng nhạc hay khơi lên chẳng biết bao nhiêu Dục Vọng, nói ra toàn những lời ân ái thú vui.

Mũi thường ngữi hoa thơm, hương vị ngào ngạt. Lưỡi nếm đủ thức ăn cao lương mỹ vị. Thân va chạm rất nhiều THIÊN NỮ. Ý mong thế nào liền đến vui với thú ấy, ưa thích những gì thì cùng nhau tập hợp nhảy múa hát ca, cùng nhau chơi đùa suốt ngày đêm không bao giờ ngớt cả. Do lẽ ấy mà không bao giờ tưởng nhớ đến Chân Nguyên Bảo Pháp là chi, họ đồng quan niệm THỤ HƯỞNG suốt đời, họ không bao giờ suy nghĩ lúc thoát sanh đi về nơi khác. Tại sao họ lại không nghĩ lúc thoát sanh họ về nơi khác? –Vì kẻ bị thoát sanh chỉ biết mình bị thoát sanh, còn bao nhiêu Thiên khác thảy đều không hay biết. Lúc kẻ thoát sanh, đương nhiên nhận thấy mình mất cả thú vui, tìm nơi yên tịnh để yên trí, sau đó toàn thân bủn rủn, hào quang tắt, toàn thân liền trả về hư không, còn khi họ sanh thì do MÂY sanh, vì như thế nên không bao giờ nghĩ đến.

Bậc Thánh Tăng mới nhập vào Chánh Định xem xét kỹ càng, nơi LỤC DỤC THIÊN có những điểm gì đáng nói, nói làm sao, cử chỉ lễ nghi như thế nào, xưng hô ra sao, họ ưa thích những gì, đâu đó thật tỏ rõ tỉ mỉ, y như bậc đã từng ăn ở trong Cõi ấy, khi bấy giờ mới ra Chánh Định liền Xuất Định.

Bậc THÁNH TĂNG vừa đến Cõi Trời LỤC DỤC THIÊN thì toàn thân liền hóa ra SƯ TRƯỞNG, tướng mạo Y áo hợp tình hiệp cảnh, Chư Thiên nhìn thấy thời đem lòng ái mộ.

Lúc bấy giờ SƯ TRƯỞNG lần bước đi trong khuôn vườn Kỳ Hoa Dị Thảo, trước mặt nhìn thấy Tòa Lâu Đài, tai nghe nhạc trổi hòa với âm thanh tiếng sáo, gió thoảng mùi hoa thơm. Sư Trưởng đến phiến đá Cẩm Thạch trắng, trầm ngâm an toạ. Lúc bấy giờ Sư mới dùng LẬU TẬN THÔNG để tỏ biết, Sư mới đặng rõ CÕI LỤC DỤC cứ mỗi nơi, mỗi chỗ đều có một nơi LẠC THÚ thích hợp. Nơi nầy gọi là MAI THẢO TRANG, còn tòa lâu đài kia gọi là BẢO ĐÀN VIỆN, vườn Mai Thảo Trang có rất nhiều thứ Hoa lạ, có lắm thứ Cỏ đủ màu, mỗi màu đều có ánh quang lóng lánh in tuồng diễn múa, còn loài Mai Vàng, Mai Trắng, Mai Tím rất đẹp, cành mai tựa như Hoa Anh Đào Nhật Bản, Mai thứ nào nhụy vẫn trắng, có yến sáng Bạch Quang, mùi hương đủ các thứ hoa cảm mến, thật đúng với tinh thần hợp tình thi thơ hồn nhạc.

Sư Trưởng đang ngồi ngắm cảnh, bỗng có một Vị Thiên Nhân đến bái kiến, xong đâu đó ngồi lại một bên, thưa hỏi: Kính thưa Sư trưởng, Sư Trưởng có thích nhạc chăng?

Sư đáp: Tôi rất thích nhạc, đã từng tìm sống trong tiếng nhạc, nhưng đôi khi phải chán về nhạc, vì sao? –Vì nhạc có đánh mới có nghe, có nghe mới có thích, lại nữa: Có đánh chẳng muốn nghe, mà phải nghe, lúc muốn nghe chưa ai đánh. Nó có như thế nên Tôi tự nghĩ: Ta phải tìm thế nào cho đặng tiếng nhạc tự nơi Ta, không đánh ta vẫn nghe. Ông nghĩ thế nào?

Vị Thiên Nhân nghe qua, mừng rỡ thích thú liền đứng lên thưa nói: Đúng nó như thế, sự thật nó như vậy, đôi khi tôi vẫn bị như thế, tôi đang tìm nơi tự nghe chớ chẳng phải bị nghe, tiếng nhạc tự nghe là tiếng nhạc của chính mình, không đánh mà vẫn nghe.

Vị THIÊN NHÂN vừa nói xong, Chư Thiên cùng Thiên Nữ đồng nhau đến, thứ lớp ngồi chung quanh Sư Trưởng, Sư tuyên lại lời trên cho Chư Thiên, Thiên Nữ nghe.

Sư nói tiếp: Các Ông cũng nên biết, trước kia Tôi đã có từng sở thích như các Ông, Tôi thường chạy theo những gì ưa thích, lựa chọn môn chơi bời đúng nhu cầu tham muốn. Tôi còn nhớ, lúc ấy Tôi thích thú ẨM THỰC NHẠC THƠ, đến nỗi phải đi BẮC ĐẨU LÂU là nơi ăn uống đầy đủ hương vị, hòa với tiếng nhạc theo tâm hồn khoan khoái, đồng với món ăn thích khẩu đang dùng, thật là một nơi vẹn vừa theo tâm hồn thể xác, một chỗ tột đỉnh của Cõi Lục Dục Thiên.

Có một hôm Tôi đang đi về hướng Bắc Đẩu Lâu, dừng chân trên cây cầu NHẠN LONG VĨ, nhìn dòng nước Bích Thủy xanh xanh, có từng đoàn Bạch Hạc đang nhặt những cánh hoa trôi trên dòng nước. Chợt gặp SƯ LÃO đứng nhìn trên ngọn đồi Cổ Võ, lão chỉ cho tôi xem đoàn mây không vướng đọng, lượn trên gió bay qua các ngọn đồi. Khi bấy giờ lạ lùng thay! Tôi nhận thấy tâm hồn tôi đang đi trong mây gió, Tôi mới chợt nghĩ: Tại sao Ta phải tuân hành theo nhu cầu từng món ăn vật uống, tha thiết ước mơ theo sở thích từng cơn, nhận thấy nó như thế nên chi tất cả vật dụng cùng ẩm thực vẫn dùng, tùy theo sở thích vẫn thích thú, nhưng không bao giờ chìm đắm nơi SẮC THINH HƯƠNG VỊ phải chật vật vì nó, nhờ thế nên tâm trí rất an nhàn, mức sống được thoải mái không lệ thuộc theo nhu cầu. Nhờ đó chính Tôi tỏ rõ tất cả mọi Chư Thiên phải chịu điều khiển của Dục Vọng chớ chưa bao giờ Điều Ngự, kìm chế dục vọng trong lúc nó đòi hỏi, có phải như thế chăng?

Các Chư Thiên cùng Thiên Nữ đồng đáp: Đúng nó như vậy, thưa Sư Trưởng. Chính chúng tôi nhiều lúc tự nhiên sở thích y áo theo từng lúc, từng cơn, nào là y áo sặc sỡ, nào y áo đơn giản, đến nỗi khi quá thích chúng tôi phải đi đến HÀNG LÂM SẠN tìm cho đặng chỉ sợi HOA NHIỄU MAI để thêu dệt y áo chúng tôi từ bộ nầy đến bộ kia, từng buổi dạ hội nầy đến dạ hội nọ, chúng tôi chẳng khác nào loài Khổng Tước Oanh Vũ suốt thâu canh làm trò vui đầy dẫy giả tạo, vì sao? Vì có lúc vui chúng tôi chấp nhận có vui, khi chúng tôi đang cùng nhau dạ hội thích thú, chúng tôi đều chấp nhận có thích thú. Nhưng có lúc chưa vui bắt buộc nó phải vui đồng với Chư Thiên, lại có khi chúng tôi bực nhọc chưa thích mà phải làm in tuồng thích để đồng chung với bạn bè, từ nơi lệ thuộc nầy đến giả cảnh kia, chúng tôi thảy đều biết nó như thế, nhưng chưa biết làm gì hơn là phải sống theo sở thích cho qua ngày, đó chính lời nói ra của chúng tôi chân thật.

Sư Trưởng trầm ngâm giây lát nói:

Chính các ông chưa biết sử dụng, cũng như hàng vạn vạn Cõi chẳng khác các ông họ vẫn chưa biết sử dụng y nhau, do chưa biết sử dụng phải chịu chìm đắm nơi NGŨ DỤC trở thành LỤC DỤC ngày hôm nay. Các Chư Thiên cùng các Thiên Nữ hãy nghe lời Tôi hỏi sau đây để rõ biết sử dụng liền Sở Đắc CHÂN NGUYÊN ĐẾ. Sư Trưởng vừa nói đến đây, các hàng Chư Thiên Nữ đồng im lặng chiêm ngưỡng thọ trì.

Sư Trưởng hỏi: Các ông đưa cành hoa BẠCH HÒA MAI lên mũi để ngữi, thì các ông thụ hưởng hương vị gì? Chư Thiên cùng Thiên Nữ đồng đáp: Chúng tôi thụ hưởng hương vị của Bạch Hòa Mai. Nếu các ông đưa cành hoa DẠ THẢO LAN lên mũi để ngữi thì các ông thọ hưởng hương vị chi? Chư Thiên, Thiên Nữ liền đáp: Chúng tôi thọ hưởng hương vị hoa DẠ THẢO LAN. Sư Trưởng gật đầu hỏi tiếp: Bằng các ông đem cành hoa NHỊ HỒNG PHONG để xa các ông, thì nơi mũi của các ông ngữi đặng hương vị gì? Bạch Sư Trưởng, chúng tôi thảy đều thụ hưởng hương vị của loài hoa Nhị Hồng Phong. Nếu các ông đã từng ngửi hàng vạn thứ hoa, thì đương nhiên các ông đã hưởng thụ đặng hương vị hàng vạn thứ hoa của nó có phải như thế chăng? Thiên Nữ cùng Chư Thiên đồng đáp: Chính đúng nó như vậy. Sư Trưởng mỉm cười giải tiếp: Các ông hãy ngẫm lại xem; Ở Cõi Trời nầy có hàng vạn sở thích, mỗi sở thích thảy đều hương vị khác nhau, nhưng nó vẫn đồng sở thích, không khác mấy với hương vị của các loài hoa, nếu bậc ngửi hoa cốt thưởng thức tỏ rõ hương vị tánh chất nơi mỗi thứ hoa, không nhiễm trước, đó chính bậc cao cống làm chủ tất cả các thứ hoa. Bằng chìm đắm, say mê mệt mỏi bất cứ một thứ hoa nào, bất luận một giống hoa chi, thảy đều tự đem TIỀM THỨC nơi chính mình làm lệ thuộc, làm môn đệ nơi loài hoa ấy, do bởi chìm đắm mới có thú vị ngọt bùi sở thích SẮC THINH HƯƠNG VỊ mà bị TÂM sai khiến vào đường Sanh Tử, đó chính là nguồn gốc lầm mê vậy.

Khi bấy giờ Chư Thiên cùng Thiên Nữ, đồng đứng lên thưa gởi: Bạch Sư Trưởng, theo như lời hóa giải, thời cứ mỗi hương vị, mỗi tánh chất không phân biệt, tịnh hay bất-tịnh nếu tập nhiễm say sưa chìm đắm mong cầu thảy đều một con đường đưa ta đến chốn mong cầu, đến nơi tập nhiễm, đến chỗ say sưa tạo thành các Cảnh Giới thế giới hay các Cõi Tiên-Thần, Rồng-Người để Chánh Báo Thọ Báo không sai chạy, có phải nó như thế chăng? Mong Sư Trưởng giải đáp. Sư Trưởng liền nói: Đúng nó như thế, đúng nó như vậy, chính Bổn Lai nó đáp ứng liền lạc theo sở nguyện, theo nhu cầu, theo năng sở kiến tri chấp không hơn kém. Sư Trưởng vừa hóa giải xong, các Chư Thiên và Thiên Nữ Trực Giác: Diện Mục Chân Nguyên Thực Tế. Biết tỏ rõ tùy thuận chúng sanh lãnh lấy các Cõi.

Chư Thiên vui mừng không thể nói liền đồng rải hoa đầy đủ trăm màu, nhạc trổi xướng ca xưng tán đúng với nghi lễ Cõi Trời, có nhiều Chư Thiên lấy Bảo Châu Ngọc Bích Trân Châu, trải khắp chung quanh nơi Sư Trưởng an tọa, tỏ lòng tán thán vô tận, đồng nói lên chưa bao giờ nghe nay đặng nghe, thật vô kể vô kể.

Sau xong buổi lễ, ai nấy ngồi yên tịnh chiêm ngưỡng, có một Thiên Nhân đứng ra thưa gởi: Bạch Sư Trưởng, không nhiễm trước, đó là đặng thụ hưởng trên vạn lối CHÂN NGUYÊN ĐẾ. Bằng nhiễm thì hóa sinh trong các Cõi, như vậy con tính ra vô lượng Cõi, vô lượng Thọ Báo, vô lượng Chánh Báo nơi Chân Nguyên, nhưng chúng con ở ngay Cõi Trời Lục Dục sa đọa tập nhiễm quá nhiều, chúng con nghe Sư Trưởng hóa giải rất Chân Đế, nhưng lòng chúng con còn quái ngại, còn nghi ngờ, chưa minh xác đặng thể tánh chân thật của chúng con, không biết rằng chính mình có đặng đi trong Chân Nguyên Đế hay không, chúng con kính nhờ Sư Trưởng đem bằng cớ chứng minh để chúng con đặng Thị Chứng, lúc bây giờ lòng chúng con khỏi quái ngại, ngăn cách mà thực hành lãnh lấy Chân Nguyên, thưa gởi xong ngồi lại một bên.

Sư Trưởng liền khen: các Ông thưa gởi những điều lợi ích cho đời nầy cùng đời sau được Chứng Tri, Tôi vì các ông chỉ bày nơi thực tế để các ông đoạt đến Chân Nguyên, đó chính là một điều ích lợi vô kể, Sư Trưởng nói xong, bảo Thiên Nhân mang đến trước mặt Sư một quả trứng.

Vị Thiên Nhân mới bảo Thiên Nữ, chỉ trong chốc lát Thiên Nữ đặt quả trứng màu xanh xanh tựa như viên Cẩm Thạch, lớn gấp mười quả trứng gà, trên một chiếc khay hình bầu dục bằng vàng, trên khay lót chiếc khăn nhung hồng nhạt, dâng lên Sư Trưởng.

Sư Trưởng nâng khay hỏi: Đây là trứng chi? Chư Thiên đồng đáp: Bạch Sư Trưởng trứng chim Phụng Hoàng. Sư hỏi: Trứng Phụng Hoàng như vậy chất trong trứng nó là chất chi? Đồng đáp: Nó vẫn là Chất chim Phụng Hoàng. Sư Trưởng im lặng chốc lát liền nói: Trứng Phụng Hoàng chất vẫn là Phụng Hoàng, đúng nó như thế, nó chẳng bao giờ khác chất của nó, vốn nó như vậy, nó chưa bao giờ nói nó là sai khác, đó chính là như nhiên, chưa phải tự nhiên.

Các Ông cùng với các Cõi, đến các Cảnh Giới qua các Tịnh Độ cùng Quốc Độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đồng chung CHÂN NGUYÊN ĐẾ, đúng nó như thế, nó chẳng bao giờ sai khác Chân Nguyên Đế của nó, nó có từng thể chất riêng nhau, nhưng vốn nơi nó là Chân Nguyên Đế, không khác mấy với trứng chim PHỤNG HOÀNG chất trứng Phụng Hoàng, từ tròng vàng đến vỏ bên ngoài gọi là tròng trắng, chất nhớt, chất màu mỡ thảy đều là Thể Tánh của trứng Phụng Hoàng. Khi trứng kia nó có đầy đủ hơi mẹ liền hóa nở ra con chim, thời những chất chim thứ lớp thảy đều là CHIM chớ không còn phân biệt riêng nhau nữa, có phải như thế chăng? Chư Thiên, Thiên Nữ vui mừng vô kể đồng thưa: Đúng nó như thế, phải nó như vậy, kính Bạch Sư Trưởng giải tiếp. Sư mỉm cười vui vẻ nói: Các Ông vốn nơi Chân Nguyên Đế, lúc Chân Nguyên thành tựu, vạn vật cảnh giới các cõi Tam Thiên liền đặng thành tựu. Khi Chân Nguyên Đế viên mãn VÔ THƯỢNG ĐẾ thì tất cả thảy đều Vô Thượng Đế không còn là Cõi Trời Cõi Lục Dục hay Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới nữa, đó chính là lời thiết thành thiệt ngôn Tôi nói ra đây vậy.

Lúc bấy giờ Chư Thiên cùng Thiên Nữ, hân hoan đồng đứng ra đảnh lễ xin Sư Trưởng thọ ký, phát nguyện phụng hành. Khi ấy có một Thiên Nữ Tâm đang còn phân vân, qùi ra thưa gởi: Kính thưa Sư Trưởûng, chúng con là phận Nữ Thiên, mong Sư Trưởng kể cho chúng con được nghe tất cả trong Chân Nguyên Đế có bao nhiêu Cõi có bao nhiêu Cảnh Giới, đồng thời có bao nhiêu Tịnh Độ và Quốc Độ, để chúng con trọn lòng tin vâng lời Ngài chỉ giáo. Thưa gởi xong qùi nghiêm lễ lại một bên.

Sư Trưởng đáp: Nếu Tôi kể ra đây không bao giờ hết đặng, vì sao? Vì cứ mỗi một vị tập nhiễm thọ chấp trở thành một thế giới, có hằng hà sa số vị đã từng thọ chấp tập nhiễm liền ứng trực hằng hà sa số thế giới. Lại nữa có hằng hà sa số kẻ khắc nghiệt độc hiểm phát sinh ra hằng hà sa số Hỏa Ngục mà phải chịu cực hình đủ mọi phương thức, đủ mọi lớp lang chỉ vì nơi độc hiểm mà phát sinh ra như thế làm sao Tôi kể hết đặng.

Lại có hằng hà sa số, những bậc tu trì, phát hiện tu tự tánh tỏ tánh nơi Chân Nguyên Đế, nhưng thân tâm đang còn đầy dẫy tập khí, chưa đến mức NHÃN TỊNH QUÂN MINH, thường mộng tưởng đảo điên, lại thêm nơi đó nhận lấy ĐỊNH TƯỞNG an trụ, thường năng sở kiến tri cho mình Sở Đắc, những bậc như thế nên chi mới hóa sinh hằng hà sa số Cảnh Giới và các Cõi, tùy theo Đức Trí Công Năng Chánh Báo.

Lại có hằng hà sa số, nhiều bậc khó giải hết đặng, họ chuyên chú tu trì TỊNH ĐỘ, cầu báo nơi TÂY ĐỘ, đến lúc mạng chung thành tựu Tịnh Độ, nhưng tùy theo Công Năng sở chứng mà thọ lãnh Tịnh Độ, do như thế nên chi mới có hằng hà sa số Tịnh Độ vãng sanh Cực Lạc Quốc, đó chính lời thiết thành thiệt ngôn các ông nên nhớ lấy.

Cũng có vị thực hành chuyên chính, dụng Bổn Nguyện xây dựng Quốc Độ, nhưng chưa thành tựu CHÂN ĐẾ GIÁC NGUYÊN, khi thành tựu liền nhập HỮU VI QUỐC ĐỘ. Sư Trưởng vừa nói đến đây trầm ngâm im lặng, các Chư Thiên cùng các Thiên Nữ đồng thưa gởi: Kính bạch Sư Trưởng: Tu như thế nào, nhận lãnh ra sao mới đoạt đến VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẾ? Kính nhờ Sư giảng giải cho chúng con được nghe, cốt lưu lại đời sau làm ngọn đuốc sáng soi rốt ráo, thưa gởi xong đồøng về vị trí.

Sư nói: Tôi khá khen cho các ông, chính nơi mình đặng nghe, còn lưu lại đời sau đặng tỏ rõ, vì lòng tự lợi đồng với lợi tha nên tôi nói lời thành thật không hai tướng, các ông hãy nghe cho kỹ, lúc bấy giờ Chư Thiên, Thiên Nữ đồng ứng chiêm ngưỡng để lãnh hội bảo truyền. Sư Trưởng nhìn thấy sự chân thành nơi thích thú trong sạch, Sư liền nói: Khi bậc tu trì từ sơ khởi phát Bồ Đề Tâm, đến đoạt VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẾ, thật là Công Đức Vô Lượng, hằng hà sa số công năng chịu đựng không tập nhiễm, không thọ chấp, không Ngã cùng Ngã Sở, rốt ráo Chánh Ngã mới thành tựu VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẾ. Khi đạt thành Chánh Đế, liền Chánh Báo KIM THÂN, đồng hóa tận độ Pháp Thân viên mãn, rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Lúc bấy giờ Bậc nầy mới tỏ rõ. Vi diệu thay! Linh động thay! Tuyệt mỹ thay! Vì sao? –Vì bậc nầy thật biết tường tận, lúc đang còn làm HẠNH NGUYỆN BỒ TÁT, chính là lúc đang xây TỊNH ĐỘ của Bồ Tát, Tịnh Độ Bồ Tát cứu vãn những nhân vật có NHÂN DUYÊN cửu huyền thất tổ của Bồ Tát, hoặc giả bạn bè thân thuộc thảy đều được cứu độ vào Tịnh Độ Bồ Tát. Khi Bồ Tát NHẤT SANH BỔN XỨ thành tựu Chánh Đế, thời Bồ Tát thị hiện thân VÔ THƯỢNG ĐẾ, thực hành Bổn Nguyện, xây dựng QUỐC ĐỘ, cốt tận độ PHÁP THÂN cứu vãn Chủng Tánh Bồ Tát. Sau thành tựu Ba Thân Viên Mãn nhập BÁT ĐẠI NIẾT BÀN thì chủng tánh Bồ Tát liền đặng an hưởng Quốc Độ, còn Bát Niết Bàn cung phụng GIÁC NGUYÊN CHÁNH ĐẾ, đó chính lời thiết thành thiệt ngôn không hai tướng vậy.

Chư Thiên cùng Thiên Nữ nghe xong, đồng đảnh lễ xưng tán, công đức công năng toàn thiện toàn giác, chưa bao giờ nghe ngày hôm nay chúng con đặng nghe, chưa bao giờ biết tỏ rõ tường tận hôm nay chúng con biết tỏ rõ tường tận, chúng con không thể nào lấy chi để xưng tán cho vẹn vừa, duy nhất chúng con cung kính phụng hành, từ thời nầy đến thời sau đặng CHÂN NGUYÊN CHÁNH ĐẾ, xưng tán xong đồng lui gót. Sư Trưởng nở nụ cười hoan lạc.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
HỘI THƯỢNG, ngày 23-12-1976
tức ngày 3 tháng 11 năm Bính Thìn

17. THIỀN SƯ TĨNH TOẠ XONG

Thiền Sư tĩnh tọa xong, Ngài lẩm bẩm hai chữ: Thánh Hiền! Phật Giác! Hồn nhiên đôi mắt Thiền Sư in tuồng giao cảm mười phương sáng ngời tỏ vẻ vui tươi gật đầu nói: Thánh bổn tánh Hiền! Phật đại diện toàn chân Chánh Giác nên gọi Thánh Hiền! Phật Giác! Hai cấp Thánh và Phật. Có Chí Dũng Công Năng Tự Thành Phật Thánh, nào phải mong cầu xin mà đặng? Về Thánh Xuất thời chẳng thiếu chi, nhưng hoàn toàn Xuất Thánh rất hiếm. Vì sao? Vì con người chưa vẹn mười điều toàn Mỹ “Nhân Vô Thập Toàn", dù con người kết nạp bản năng toàn chân chăng Năm Ba Bảy điều vẫn phục diện học làm Thánh, vươn mình khai hoang làm Thánh Xuất. Thánh xuất có nghĩa giải nghiệp xuất Thánh, sạch nghiệp Viên Minh liền Tự Xuất, khi thành đạt không học vẫn Xuất Thánh. Thời Hiền Kiếp Phật Thánh đồng Thể Hiện, có Thánh Nhân như Khổng Tử, Thánh Thiên như Lão Tử, Thánh Triết Vô Thượng Thế Tôn, mới có Đạo Khổng, Đạo Giáo Lão Tử. Phật Giáo Thế Tôn, hàng Thánh Tăng Chư Bồ Tát hàng tu cầu Hạnh Nguyện tu cầu Diệu Quả thành Phật.

Các hàng Thánh mỗi vị chuyên một môn, mỗi một môn thâm nhập nhiều ngành, có hàng bá thiên vạn ngành, cũng như mỗi một pháp có bá thiên vạn pháp, trở về với Một Pháp, một môn nhiều ngành cũng thế. Bậc Thánh tùy theo đơn vị chuyên môn mà triển khai cho từng lớp Thánh Xuất, giải nghiệp Thánh Xuất không phân biệt vào giới nào. Vì sao? Vì Thánh Xuất do nơi Chí Dũng, Bản Năng, Năng Khiếu, Tinh Thần cao đẹp, tôn trọng Phẩm Giá Chủ Thể, Chủ Tánh bao dung thành Đức Tánh. Đức tánh phát Hiền Hòa, Hiền Lành, Hiền Hậu. Các bậc tu mong đạt ba điểm trên thời phải dẹp Tự Ái, Tự Cao, Tự Mãn, Tam Độc chúng sanh tánh. Tự Ái ngăn cách Hiền Hòa, Tự Cao cản ngăn Lành Mạnh, Hiền Lành, Tự Mãn củng cố học hỏi Tăng Thượng, chẳng Hiền Hậu, làm thế nào Thánh Xuất.

Bậc học làm Thánh chưa nâng chủ tánh thành Đức Tánh, chưa có Đức Tánh lấy đâu độ lầm mê? Vì sao. Vì Đức độ lầm mê, chúng sanh kém Đức mê lầm, cũng như bậc sáng mắt hướng dẫn cho kẻ mù lòa. Đây chính một sự dĩ nhiên. Khi Bậc biết pháp môn Hóa Giải, sạch Thiên Tướng, Nhân Tướng, Chúng Sanh Tướng, khỏi vòng thọ ngã Giả Tướng, đó là Thiên Nhân Sư. Bậc không vì lý mà chướng, không vì sự mà chểnh mảng thấp cao, Lý Sự Tương Song Tự Tại Vô Ngại Đại Bi, sự sự việc việc mỗi mỗi đều thâm nhập tài năng xuất chúng, qua các trở ngại không nhàm chán gọi là Điều Ngự Trượng Phu. Lại vì chúng sanh toàn năng giúp đỡ, toàn lực, toàn lý, toàn trí, tất cả chúng sanh an vui, Thánh Tăng an vui, gọi là Thế Gian Giải. Thực hiện Bi Chí Dũng, Giới Định Tuệ gần chúng sanh không mất Thánh Ý, thật thấu từng giới của chúng sanh, giới này thọ chủng tánh tình ra sao, Giới nào ngôn ngữ hành động như thế nào Chánh Báo, Thọ Báo như thế ấy, hình hài thân mạng lớn nhỏ dài ngắn Liễu Sanh sẽ đặng vào nơi Thai Sanh, Noãn Sanh hoặc ti tiện thấp sanh thảy thảy, nhận thấy tường tận không hai tướng gọi là Túc Mạng Minh.

Thiền Sư vừa giải đến đây, hai bàn tay Ngài đặt trên mặt bàn nhỏ, nhìn mười ngón tay, trầm lặng tiếp nói: Chánh Biến Tri là một danh hiệu Phật, bao la rộng rãi vô cùng, yếu tố sáng soi Quân Minh vô tận. Vì sao? Vì Trí Hóa Tâm Thức Biến Tri, nghề nghiệp biến trí, cải cách biến trí, biến trí tùy thuộc nghiệp, còn chánh biến tri thuộc Giác Tướng về Như Tướng Kiến Tri mà Tri Kiến Phật.

Thiền sư hai bàn tay đưa thẳng ngang tai rộng rãi mỉm cười tiếp nói: Chánh Biến Tri sai lạc thì Tà Biến Tri làm thế nào phân biệt? Như nhà Thông Thái, gắng tạo thành Thông Thái chỉ là một con người tạo thành làm thuê cho thông thái. Phải có căn bản nơi Chủ Thể Chủ Tánh cao đẹp vững vàng gọi là Đức Tánh bao dung đến thành công Thông Thái đó mới thật chính mình Thông Thái. Làm như thế nào, tu như thế nào Nâng Chủ Thể cùng Chủ Tính? Bậc Chánh Biến không khinh Tà Biến, Bậc Đạo Đức không ghét Phi Đạo Đức, Bậc Thánh Tăng không bãi bỏ chúng sanh thọ nghiệp. Đó chính là nâng Chủ Thể Chủ Tính. Bằng khinh ghét bỏ chê thì không khác nào mang Vàng pha lẫn Bùn Nhơ, làm sao Chánh Biến Chơn Giác?

Trí Tuệ Đắc nhờ giải nghi hóa chấp bước vào Chánh Biến Tri. Vì sao? Vì chánh biến tri từ nơi Tự Tánh sạch sẽ, Chủ Tánh Quán Chúng mà ra Đức Tánh, mới nhiếp thâu Vạn Tánh về Nhất Tánh Chánh Biến. Chẳng khác mấy: Vạn Hạnh về Nhất Hạnh, tôn trọng Phẩm Giá Lập Hạnh. Nơi vạn tánh mỗi chúng sanh, có một tánh củng cố, nhiều chúng sanh nhiều tánh củng cố nên mới riêng rẻ chướng đối nhau, chia ra vạn lối khó về một lối Nhất Tâm. Bậc tu phải tu vạn tâm về Nhất Thể, khỏi lầm lạc, được gọi: Chúng sanh lầm lạc, bậc Chánh Biến không lầm lạc, lầm lạc Tà Biến, không lầm, không lạc Chánh Biến Tri.

Tinh Thần chẳng là cái gì mà cái gì cũng đoạt đến. Tinh Thần Bất Khả Tư Nghị, khó nghĩ bàn đặng. Tinh Thần là Chủ Thể Năng Lực Như Lai. Vì sao? Vì Phật Ấn Chỉ Như Lai Vô Sở Tùng Lai, Diệt Vô Sở Trú, Cố Danh Như Lai. Hàng Bồ Tát Đại Nguyện: Như Lai Vô Biên Thề Nguyện Sự. Bồ Tát hành dụng phụng sự cứu giúp chúng sanh, chúng sanh là Hành Dụng theo Thể Dụng vận chuyển Như Lai, nên Bồ Tát đem hết tinh thần phụng sự thành tựu Chánh Biến Tri, Kiến Diện Như Lai Chủ Thể Năng Lực Như Lai Thọ Ký.

Tinh thần bậc tu cầu Diệu Quả Bồ Đề, Tri Kiến Giải Thoát phải đầy đủ Trí Tuệ Chí Dũng tinh thần, bằng yếu kém hoặc thiếu, khó đặng. Dù tinh thần thiết tha, chưa trí tuệ vẫn lâm nơi tinh thần cuồng tín, vì thế nên chi phải có bậc Thiện Trí Thức chỉ đạo mới mong kết quả. Chưa có hay chưa gặp Thiện Trí Thức nên tu Thiện, tinh thần Thiện Căn Thiện Chí, cúng dường Công Đức, tín ngưỡng ngôi Tam Bảo. Tinh thần như thế vẫn đáng kính trọng.

Bậc sẵn tinh thần cao, xuất gia hay tại gia. Tin Phật, Pháp, Tăng. Ngôi Tam Bảo, Y Tôn, Y Kinh, về Lý đọc tụng Kinh Pháp, về sự siêng năng Công Đức, tinh thần còn tu nhiều hơn thế nên nhớ: Nhược Dĩ Sắc Kiến Ngã, Nhược Dĩ Âm Thanh Cầu Ngã, Thị Nhân Hành Tà Đạo, Bất Năng Kiến Như Lai.

Một là Đọc Tụng kinh Pháp, dùng sắc kinh, chưa tụng Y Thánh nghĩa kinh, làm thế nào Tri Kiến? Hai là: Nghe thuyết pháp, chưa thọ lãnh an toàn, nhận định khiếm diện chưa đúng với tinh thần pháp, làm thế nào Kiến Tri Thánh Pháp? Ba là: Nhận Tà Biến, thực hành Tà Biến, lâm nơi sai biệt, khi lâm sai biệt thời phải trực thuộc tà đạo sai lầm. Bốn là: Nơi sai, nhận sai, thiếu tinh thần Phụng Hành, thế nào đồng chủ thể năng lực thấy đặng Như Lai? mới có câu:

Y Kinh Diễn Nghĩa, Tam Thế Phật Oan.
Ly Kinh Nhất Tự, Tức Đồng Ma Thuyết.

Cho nên y kinh diễn nghĩa chưa đủ Tự Giác, Phật vẫn bị oan bằng Tự Ái, Tự Cao, Tự Mãn thuyết giả Ngôn Từ, ngỡ là Minh Thuyết. Dụng Tâm Thức quán soi Tà Dục Kiến Dục, ngỡ Chánh Báo Vương Tôn Tăng Thượng Ma Thuyết, sai lạc Y Chỉ cơ bản Chủ Tính thiện căn Tà Biến Tri ngỡ Chánh Biến thọ nghiệp, không thể giải. Ngoài ra duy chỉ Tự Tánh Tỏ Tánh, đầy đủ Tinh Thần Bất Thối là hơn cả.

Tuyệt mỹ thay! Thánh Hiền! Phật Giác.

 “Phật ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh Vũ Trụ. Bồ Tát có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng: Chánh Báo, Phước Báo, Thọ Báo.”

 “Bồ Tát có quyền dạy và truyền Tâm Ấn từ hàng Hộ Pháp Bồ Tát, Tôn Gi, A La Hán, Tiên Thần.”

 “Bồ Tát Ma Ha Tát có quyền dạy và chứng minh cấp bậc Bồ Tát.”

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986.
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

16. THIỀN SƯ TỪ MÁI CHÙA TÂY BƯỚC RA

Thiền Sư từ mái chùa Tây bước ra sân Chùa Tháp, Ngài ngồi trên phiến đá ở góc sân, nhìn dưới chân đồi suy nghĩ thời pháp Sự Vật Hóa, Hữu Sanh Hữu Tướng, sống chết diệt sanh hóa thay đổi, đổi thay tứ loài chung khắp Bản Thể Tam Thiên rồng, người sinh mạng hóa, lý trí hóa, cho đến công lực công năng tự lực tinh thần vật chất, kiến tạo sáng lập không ngoài sự vận chuyển hóa. Tất cả thảy đều Hữu Sanh Hữu Tướng Hóa, Hữu Sanh Hữu Vật Hóa, cho đến cây cỏ núi sông, sanh nở không ngừng hóa, có hóa nên mới có hằng hà sa số các Cõi, Cảnh Giới, Chư Thiên Tiên Giới, Thần Giới, Thánh Hóa Giới. Cõi nào lối sống theo Cõi nấy.

Cảnh giới thế giới nào sinh sống nơi thế giới nấy, giới bị sống, không ngoài Chánh Báo Thọ Báo trong giới, gọi là Chúng Sanh Giới.

Thiền Sư nở nụ cười khoan khoái nói: Tự Hóa -Vật Hóa -Thần Hóa, ba hệ thống chung gồm nhau, trở thành một. Chúng sanh vẫn có sẵn Tự Hóa khắp khắp, quán soi Vật Hóa đến tinh thần đào tạo Hóa, thành ra mới có từng trình độ, giai cấp hóa trong vòng giới hạng hóa sanh.

Thiền Sư êm lặng nhìn trời Tây tiếp nói: Vòng Đai Pháp Giới, riêng mỗi một chúng sanh đều một Dụng thọ trì một Giới, biết yên phận không gây hấn nhau thời chẳng cách chi để giải nói. Vì sao? Vì thọ trì là đã chấp nhận, nhận lãnh làm chúng sanh giới, chúng sanh an hòa, sống yên trong Giới Dụng, khi biết rõ giới dụng nơi mình, liền đặng biết Giới nào Dụng nấy, miễn thực hiện Tròn Dụng là xây dựng Tịnh Độ Giới cho mình. Bằng toàn thể thực hiện đồng hiện Tịnh Độ Giới muôn phương Bồ Tát cúng dường, còn chi là Giới hay chúng sanh thọ giới nữa.

Nhân vật thì không thiếu nhân vật có hai hạng Nhân Tài cùng Thiên Tài, Bậc Thiên Tài phát triển thành Thánh Nhân, Thánh Triết chẳng hạn. Bậc Nhân Tài phát triển thế giới Vĩ Nhân hiện đại. Bậc có Tài Đức rất hiếm, có Tài chưa có Đức vẫn Nhân Tài thường nhân. Trí cùng Đức nó nâng Nhân Phẩm con người, dù có Tài cho mấy chăng vẫn không qua được Đức điều hành Trí, Trí kiểm chứng Đức trở nên an nhàn sung sướng nhất trần gian.

Thiền Sư nói đến đây nhìn cảnh trời mây bao la vô tận, chỉ có Tâm Hồn mới kiểm chứng trời mây, nỗi niềm Ngài đã từng bày tỏ thăng trầm chịu đựng bước đường tu chứng trời mây cùng Thị Chứng. Nên chi Ngài nói: Từ nơi Tinh Thần cao đẹp sạch sẽ, thì Tự Tánh không ngã về một bên: Tự Hào, Tự Ái, Tự mãn , Tự Tôn. Khi bấy giờ mới Sự Hóa Vật Hóa thảy đều trong sạch bình thoảng: Tự Hóa sẵn Bình, Vật Hóa chứng tri Tri Kiến, thì Thần Hóa dung thông Giải Thoát khổ ách nơi chốn lầm than khổ đau. Sự Hóa Vật Hóa Tự Hóa Vật Hóa Thần Hóa là Ngũ Uẩn Giai Không. Độ Nhất Thiết Khổ Ách, không ngoài vạn pháp như Huyễn Hóa.

Ngài trầm ngâm thẩm xét. Vũ Trụ bao la rộng lớn Bản Thể lại vô biên, còn pháp thân hàm chứa hằng hà sa số vô lượng vô biên chúng sanh giới. Pháp thời trùng trùng duyên khởi diệt sanh, sanh diệt không ngừng, chúng sanh lầm Ngũ Uẩn trụ chứng nơi Huyễn Hóa cầu an, làm cho Vũ Trụ Bản Thể dẫy đầy Pháp Giới Vô Minh, không thể lọt một mũi kim hay sợi tóc tìm ra ánh sáng Trí Tuệ, làm thế nào Giải Thoát hoàn Chân Thiện Mỹ với chúng sanh?

Thiền Sư nói: Hỡi các Thiện Chân Tử! Bậc Cầu Đạo Bồ Đề nên có Tinh Thần Tín Ngưỡng, nên Y Tôn Y Chỉ lời dạy Phật Tôn, chớ sai đường lệch hướng tinh thần tín ngưỡng. Vì sao? Vì tất cả Sự Hóa Vật Hóa cho đến tu cầu chưa có tinh thần tu học chưa bao giờ tu đạt đặng. Tinh Thần là một khởi điểm đầu tiên đến cuối thành công Thần Hóa, từ thờ ơ đến Chí Dũng Hóa, từ lười trễ biếng nhác, đến tinh tấn siêng năng, từ chưa tìm ra cái sống Tinh Thần Hóa tìm đặng cái sống an vui Bất Diệt. Chưa có tinh thần Tôn Đạo. Đạo nào Thần Hóa đặng thọ lãnh Giáo Pháp Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Chánh Giác?

Thiền Sư nói: Vô Minh là gì?

Phải chăng vô minh điều chính chưa biết sanh ra đối tượng chấp, hóa mê, nên Hóa giải chấp mê, gọi là phá Vô Minh Mê Chấp, nhiếp thâu gần chúng sanh cốt tỏ thấu chúng sanh, các hành vi thọ ngã Giả Tưởng nhiếp thâu mình khỏi lầm, Giác Ngộ. Bậc tu cầu Diệu Quả, Nhất Tâm Hóa Giải Nhiếp Thâu, sạch sẽ, Tận Thấu, trưởng thành Phật Đạo.

Nơi Tự Hóa Vật Hóa Thần Hóa tùy theo thứ lớp giai cấp trình độ chúng sanh giới Tự Hóa, gọi là tùy nghiệp thức hóa như: Cảnh sanh tình, vui buồn sướng khổ hóa, tham vọng ưa thích hóa. Bậc tu cầu Diệu Quả lúc duyên khởi Tự Hóa Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức nghĩa là: Sắc, Hình Sắc hay sắc tướng về tiền bạc, công danh, hiện tướng tiền và công danh. Thọ, tham muốn tiền bạc và công danh, Tưởng tượng tiền bạc công danh. Hành, hành động theo Tâm Thức đạt cho đặng tiền bạc công danh, nguyện vọng khởi sanh của mình. Trên đây là lầm lạc Tự Hóa, chúng sanh Tự Hóa Sắc Thọ Tưởng Hành Thức là mức đo nghiệp để cổi giải nghiệp. Sắc Thọ Tưởng Hành Thức, một điểm Duyên Khởi, Giải nghiệp hay Thọ Nghiệp, Thoát Sanh hay Thọ Sanh nơi Kiến Dục. Tùy các bậc tu cầu dung lượng.

Tự Hóa không phải tự nhiên như nhiên hồn nhiên hóa, nó là Trực Ngộ Trực Giác không có văn tự nên mới có Liễu Ngộ, Đại Ngộ, Nó nương nhờ Tinh Thần Công Năng Sở Đắc Chứng Tri tu cầu Diệu Quả Hiện Sinh Hóa. Thiền Sư gật đầu nói: Đa phần các pháp môn chỉ có Thiền Môn chiếm trọn Tự Hóa Vật Hóa Thần Hóa mà thôi. Vì sao? Vì phải tu Tịnh Tuệ là Thiền Môn, Trí Tuệ rất cần phát triển từ nơi Tinh Thần cao đẹp Thần Hóa hiện sanh. Có Trí Tuệ mới Tự Hóa không lầm, Quán soi không lạc là Vật Hóa thành thử Tự -Vật -Thần Hóa do Thần Hóa phát huy, chưa có Thần Hóa thì chúng sanh nằm yên tê liệt. Tất cả chúng sanh sống chết vươn mình hay lười trễ chỉ có Tinh Thần phấn khởi linh động thanh thoát không ngoài Tinh Thần, Thần Hóa mà ra.

Thiền Môn -Tín Hạnh Nguyện mở đầu bước vào nhập môn, phải Tín Ngưỡng Giáo Môn. Dụng Hạnh Tọa Thiền gọi là Thiên Hạnh, Thề Nguyện Tu Tọa Thiền Bất Thối. Hành giả Thề Nguyện Tọa Thiền không ly tọa, chưa Đắc Đạo thề chưa lìa khỏi Cốc Thiền. Thiền Môn là một Tôn nâng Tinh Thần lẫn vật chất, khi Đắc Đạo xong, tinh thần lẫn vật chất thảy đều tu, gọi là Song Giáo hay Viên Giáo. Không lấy, chẳng bỏ nơi căn bản không ngoài Rốt Ráo Chánh Giác.

Phần Hóa chủ yếu có Tinh Thần mới Thần Hóa, Thần Hóa thân tâm thoải mái mới có Trí Tuệ Tự Giác, Tự Giác mới tự hóa giải nghiệp, nghiệp thì hàng hàng lớp lớp chúng sanh thảy đều có Nghiệp, Thần hóa từ Nhân Thiên Lục Đạo các cõi trong Tam Thiên đâu đâu vẫn có Nghiệp, nếu chưa có Trí Tuệ Thần Hóa thì làm thế nào giải nghiệp khi nghiệp an trú nơi nào phải công dụng nơi hóa giải dù cho tu học thuộc Bát Nhã Ba La Mật chăng nhưng chưa có Trí Tuệ Cứu Cánh Thần Hóa dung thông thời Bát Nhã kia vẫn chưa thâm nhập làm sao tu đạt rốt ráo. Thiền Sư nói xong đứng lên, rời khỏi phiến đá đang ngồi, bước đi về hướng Chánh Điện. Hai chú tiểu chờ sẵn hai bên, Ngài chiêm ngưỡng Tôn Phật chú nguyện cho chúng sanh nên vun trồng Cây Bồ Đề Tâm Nguyện thọ giáo lời Phật Vương.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986.
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

15. HÔM NAY ĐÚNG BẢY NGÀY

Hôm nay đúng bảy ngày, Thiền Sư niệm niệm Kinh Đàn đi vòng dưới Chân Đồi, niệm niệm từng bước một. Cầu Chư Phật Chư Bồ Tát nguyện giúp đỡ cho tất cả chúng sanh phát Bồ Đề Tâm đặng Trí Tuệ Cứu Cánh. Trí Tuệ Viễn Đạt, tu cầu Tri Kiến Giải Thoát. Chương trình kinh đàn này, mỗi ngày Kinh Đàn một vòng, bảy ngày Kinh Đàn bảy vòng, xong Tĩnh Tọa Minh Thuyết Phật Ngôn. Thiền Sư Nhất Tâm Vị Tha, Chí Nguyện Tha Lợi, chung khắp Pháp Môn Giải Thoát. Vì sao? Vì Ngài thật rõ thấu Tôn Chỉ Mục Đích Tu Phật. Bình Đẳng Dung Hòa, Dung Thông Sở Đắc, không pháp môn nào lớn nhỏ cao thấp tuyệt đối không hai. Vì Bất Bình Đẳng do lầm mê, dị biệt khoảng cách, thành thử Bất Đồng có vô lượng, vô biên, hằng hà sa số chướng đối ngăn ngại nhau, nên chi trở thành chúng sanh, khó nghe, khó nhận, khó hiểu làm thế nào biết đặng lời Phật Ngôn: Bình Đẳng Đại Hải cho đến Đại Hải Chúng, Thế Giới Hải, Chư Phật Hải, Bồ Tát Hải, Chúng sanh Hải. Khi Đức Phật đang còn ngôi Bồ Tát, Ngài phải tu tánh Bình Đẳng đối với chúng sanh mà sở đắc Bình Đẳng Tánh Trí, dụng Tánh Trí chủ quán đồng đẳng chúng sanh, sở đắc Pháp Nhãn. Hồi Hướng Công Đức không nhàm chán tu đạt Diệu Quang Sát Trí. Nhìn hàng Bồ Tát Trí, soi lại chúng sanh trí, bên Bồ Tát thoát sanh hóa độ chúng sanh, còn phần chúng sanh thường chấp ưa trụ nhỏ nhen eo hẹp, Bồ Tát vị tha cứu độ, hóa độ, thân tâm Bồ Tát chung cùng chúng sanh trưởng thành Đại Viên Cảnh Trí tu Nhất Thiết Trí thành Phật. Khi bấy giờ Phật nói: Chúng Sanh Chư Phật không riêng khác, chỉ Mê Ngộ mà thôi.

Nói đến tư thế Thiền Sư. Ngài đang ở ngôi chùa tháp mục nát, ngọn tháp mất chỉ còn nền tháp. Ngài che mái chùa bằng lá, chính giữa làm Chánh Điện, có Tượng Phật, bàn Phật bằng vôi. Đức Phật Bàn Phật lâu năm đã phai màu cũ kỷ. Ngài chỉ có chõng tre, chiếc bàn nhỏ, tấm kệ để kinh, chiếc giường đóng tạm, đồ đạc đặt ở nhà Tây. Ngài thường ngồi nhìn xóm làng xa xa ẩn hiện chen lẫn vườn cây rừng lá. Đời Thiền Sư duy nhất Bộ Đầu Óc mới mẻ, tinh thần khoát đạt bình dị Như Lai Phật thoải mái.

Thiền Sư Ngài đi kinh đàn xong trở về, Ngài bước lên tam cấp, từ chân đồi đến sân chùa tháp, có trên năm mươi cấp bước của Ngài. Vừa đến sân hai Chú Tiểu chạy ra đón bái. Thiền Sư giao cho hai chú, mỗi chú một phần việc, Bao Đãy và chiếc gậy. Ánh nắng đã lên cao. Ngài thay áo, ngồi vào chiếc chõng, dùng tách trà chậm rãi tôn nghiêm. Ngài nói: Tuyệt thay! Đức Thế Tôn Ngài đã từng đánh đổi tất cả Tâm Huyết, lời Vàng lưu lại đời đời nhắc nhở từng bước tu nhỏ, cho đến Đại Lực, Đại Hùng, Kiên Nhẫn, Kiên Trì trong Tam Tạng Kinh Điển, từ lầm mê trưởng thành Giác Ngộ không thiếu sót. Các Bậc tu không biết lấy chi tán thán báo ân cho xứng đáng.

Thiền Sư êm lặng đưa đôi mắt vô tư, khuôn mặt trầm tư của Ngài khó diễn giải. Ngài ngước mặt lên in tuồng bày tỏ cùng ai nỗi niềm tâm cảm lời Bảo Sám, lời Bảo Sám vừa tri ân Chư Phật, vừa minh thuyết lời vàng. Ngài nói: Có Tỏ Tánh (sửa Tánh) mới Minh Tâm. Có xét lỗi lầm, không lầm lỗi. Có Hạnh Nguyện mới có phát Tâm. Có Hành Dụng đặng chu đáo. Hành Dụng chưa tu Tứ Nhiếp Pháp Lục Ba La thì chưa Hiền Hòa thấm nhuần Đạo Pháp, đã chưa thấm nhuần Đạo Pháp làm sao có Từ Tâm, làm sao sáng soi Nghiệp Thức mà Giác Ngộ? Tứ Nhiếp: Đồng Hành Nhiếp, Đồng Sự Nhiếp, Ái Ngữ Nhiếp, Vị Tha Nhiếp. Bậc tu chưa thực hiện Bi Chí Dũng, tựa bằng xác chết chưa chôn, lười trễ đứng yên, khó qua trở lực vạn ngành pháp giới. Nếu chẳng thông Giới Định Tuệ thì vô minh, làm thế nào lãnh hội lời vàng Phật dạy? Bằng chưa Tín Hạnh Nguyện, Ba La Mật Đa, nằm yên bất di chuyển, nương nhờ Pháp Giới cải tạo hoàn cảnh đón đưa thần linh phù hộ, lâm nơi tu cuồng tín.

Thiền Sư vừa nói đến đây, Ngài ngã mình trên chiếc chõng dưỡng thần một lúc. Chú tiểu đã thay tách trà hai lần, Ngài ngồi dậy, nhìn về hướng Chánh điện tiếp nói: Tu hành không tự thân chí nguyện sửa sai lung lạc, chính mình phải vãng sinh nơi mình, không ai mang ngộ đến cho, giải mê mình đặng. Bậc tu tận lực giải nghiệp thức, căn trần, cấu ly, cấu nghiệp, ly nghiệp, ác tâm, ác ý, ác nghiệt, do Thân Khẩu Ý tự mình chướng đối, nghi ngờ bị biệt đủ hình thức lầm lạc vô cùng. Lúc phát tâm tu Phật Tự Tâm hóa giải, từ nơi nhỏ bé trưởng thành rộng rãi, Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi. Bằng chưa phát tâm, dung dưỡng xem kinh pháp không giải vô minh, dù cho xuất gia tu chùa hoặc giả tu núi bao nhiêu năm chăng, cũng chưa có một ngày tu.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986.
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

14. BỒ TÁT GIẢI

Bồ Tát giải nói xong êm lặng, sau Ngài tiếp: Nhẫn Nhục, Trí Tuệ Thiền Định. –Trí Tuệ Nhẫn Nhục Thiền Định nầy khai hoang Trí Tuệ phát triển. Nhẫn nhục có hai lối: Lối thứ nhất Bị Nhẫn Nhục. Lối Thứ Hai: Bậc có Bản Năng Điều Ngự Bản Thức, dụng nhẫn nhục kiềm chế Tâm Thức khỏi dục vọng, tranh giành hơn thua mà nhẫn nhục vì nhẫn nhục lìa ngã, ngã sở, đúng với tinh thần Trí Tuệ Thiền Định, vì sao? –Vì Tâm Thức động vọng, Thiền định là Tịnh Tâm, đã Tịnh Tâm Trí Tuệ. Trí tuệ lìa tất cả nhận thấu tất cả, Trí Tuệ không mắc miếu nơi đâu, thì đâu đâu thảy đều tận thấu. Còn phần tâm thức động vọng từng hồi, hồi nào cũng phải lần quấy tùy chúng sanh phải quấy, nào do nơi tâm, tuy nói tâm đặng mà không đặng mảy may nào cả, chỉ cuồng quay Tâm Thức mà thôi.

Tịnh Tâm Thiền Định vốn chung Trí Tuệ. Không Tịnh Tâm Trí Tuệ vẫn không. Không Thiền Định nào phát huy Trí Tuệ? Bậc tu phải có Bản Thức kiềm chế Tâm Thức. Bản Thức phải có yếu tố năng lực kiên trì Chí Dũng thù thắng Tinh Tấn Bất Thối Tâm, Nhẫn Nại Bất Chuyển Bồ Đề, đánh đổi qua từng giai đoạn tu chứng, từ Phàm Phu trưởng thành Thánh Ý, Tri Kiến Giải Thoát.

Lời vàng hướng dẫn chỉ dạy. Nghe đặng là khó, nghe đặng thực hiện chưa đặng phải Kiên Trì Thực Hiện đặng càng khó hơn, vì sao? Vì nghe đặng, nhờ dẹp điên đảo loạn tưởng nơi Tâm Thức mà nghe đặng, còn thực hiện chưa đặng vì yếu kém thực lực công năng, nên chưa thực hiện đặng. Bậc tu phải cần tu hơn thế nữa mới thực hiện đặng.

Đương thời cuối thế kỷ hai mươi, cận kề hai mươi mốt đa số tu tự tánh tỏ tánh nghiên cứu nhà Phật cũng khá nhiều. Phái Thiền Tôn ưa chuộng không ít, có nhiều nước thành lập cơ sở khang trang, nhiều nơi Tu Thiền cần trí tuệ, vừa nghiên cứu vừa Tu Thiền hoặc Tu Thiền Dưỡng Sinh, Tọa Thiền Võ Đạo Thần Giao Cách Cảm. Những chỉ tiêu Tu Thiền trên thảy đều trực thuộc về Nhân Thiền hay Nhân Thiên Thiền là tốc độ cao nhất. Vì sao? Vì Thiền Dụng Tâm Thức mà Tu Thiền chưa Trí Tuệ Cứu Cánh Thiền. Trí Tuệ Cứu Cánh mới là Như Lai Thiền Tri Kiến Giải Thoát.

Phật Đạo mục đích đưa Tín Chúng giải thoát. Phật đã từng nói: Tướng giải thoát từ lâu, Tâm chúng sanh mắc miếu chưa giải thoát. Nên chi Tu Thiền đặc điểm về Tâm truyền Tâm Liễu Ngộ. Khi đang Tu tập Thiền Tọa chớ nên chấp trụ trụ chấp, lâm vào Tâm Thức đảo điên cuồng vọng. Hành giả có đầy hiểu biết năng khiếu, kiên trì Chí Dũng lập trường mới tu Thiền đặng.Vì sao? Vì dụng Bản Thức cai quản Tâm Thức, lìa Thức hồi Tâm, có nghĩa lìa vọng về Chân sở đắc Trí Tuệ Tâm. Tại sao Trí Tuệ Tâm? Vì Tâm độc lập trơn liền, chen lẫn Thức trở thành Tâm Thức, Thức thời động vọng trở thành Pháp, Hành Giả Tọa Thiền tỏ Pháp, Thức không còn, Tâm về với Tâm nên gọi Trí Tuệ Tâm. Tu Thiền chủ yếu phát Trí Tuệ Cứu Cánh, ấn quyết tâm, tuệ phát trực nhập đắc tâm, trực ngộ Chân Giác, lìa Chân Chánh Giác, tu như thế Như Lai Thiền.

Tôn Phái Thiền. Tùy theo Tâm Thức của mỗi hành giả mà hướng giáo, không tùy thuộc học hỏi Văn Tự Tu Thiền, vì Thiền Môn không tự. Bậc Thiền sư thấu đạt Tâm Thức lưu động phiên diễn tất cả, nên tùy nơi mỗi hành giả lập Tông Ấn giáo Tu Thiền. Các hành giả bổn phận Tín Hạnh Nguyện bất thối tự lập phát huy Thiền Tông. Tu Thiền không có cấp bậc nào mà có cấp đẳng Thiền. Phái Thiền có Chủ Thể. Chủ tánh Thiền Tôn đi sâu Bản Năng tìm lực chủ trì phổ chiếu làm con đường Giác Ngộ, bản năng tự lập duy nhất. Có ý nghĩa vạn Pháp duy tâm. Vũ Trụ bản thể thân tâm duy nhất không hai. Dưới mắt Thiền Sư, thấu đạt tất cả, tất cả đều Thiền Sư, ngoài không có Từ Ngữ nào giải đặng.

Thiền Tôn một Giáo Môn cực điểm đánh đổi mê lầm về với Giác Ngộ Tận Giác. Khi hành giả nhập Môn Tu Thiền Vị Thiền Sư chứng minh nhập môn. Lễ nhập môn xong, hành giả tu tập Thiền Tọa, tối đa hai thời Thiền Tọa, ngoài ra vị Thiền Sư giáo huấn từng vị hành giả riêng còn nghi luật thời Tâm Khẩu Ý, kiểm soát Thân Khẩu Ý kín nhiệm, mỗi tháng hai lần phát hiện Tâm Thức, mãi mãi từ ba năm đến bảy năm lúc nào tỏ ngộ nguồn mê nơi Tâm Thức, thường chấp, thường trụ hoặc hay trụ chấp thiệt hại như thế nào, đâu đó sạch sẽ, lúc bấy giờ mới làm Đại Lễ Nhập Lưu. Nhập lưu mỗi một hành giả, biệt lập ở riêng mỗi vị một cái Cốc, công phu Thiền Tọa. Tứ Thời Công Phu. Trước khi vào lưu cốc, các vị thảy đều Thề Nguyện. Có vị thề: Tu chưa Đắc Đạo, thề chưa rời khỏi cốc.

Tinh thần Tín Hạnh Nguyện tọa thiền. Tôn Phái tu thiền cực điểm. Khi đã hiểu sâu lý sự lầm mê do nơi Tâm Thức, dùng Bản Thức cực điểm lời nguyện tinh thần bất khuất giải trừ Thần Thức Viễn Vong trở về với Nhất Tâm giải thoát. Thiền Tôn tận dụng Hiển Giáo Mật Tôn gọi là Viên Giáo, Tiệm Giáo, Đốn Giáo là bước tu toàn diện, đầy đủ viên dung Tri Kiến Giải Thoát. Đa phần thời Hạ Lai nầy nhiều bậc chưa thấu đáo. Tu Hiển Giáo chuyên ròng Hiển Giáo. Tu Thiền quan trọng Mật Tôn Siêu Hình Vạn Tượng, Tu ròng Thiền Học Đốn Học, Tu Tiệm gìn giữ Tiệm, nếu không chung kết, tổng hợp làm thế nào Liễu Đạt Chánh Giác.

Đặc Điểm Thiền Tôn, Bậc kém Tọa Thiền, đảo điên động vọng, nơi động vọng đảo điên trực thuộc Tâm Thức, dụng Bản Thức ngự chế động vọng đảo điên. Khi hành giả tọa thiền khá đặng Tịnh Tâm, nhờ Tâm Tịnh thời Tâm Thức cải hóa, trở thành Thần Thức, Thần Thức Tâm Thức thảy đều trong vòng mê loạn tham muốn. Một bên Tâm Thức do Thân Tâm, còn một bên Thần Thức, Tâm Hóa tinh thần lung lạc nên gọi là Thần Thức lưu hành qua từng vọng tưởng. Thiền Tọa phải kiên trì không trụ xứ Thần Thức, Bản Thức vẫn ngự chế không trụ xứ Thần Thức, Thiền Tọa di chuyển chung khắp, các cảnh giới các cõi, Thiên Biến Vạn Hóa làm cho hành giả ưa chuộng mà trụ xứ, hành giả có trí tuệ Huệ Nhãn tránh khỏi lầm lạc. Bằng chưa tu đạt đến, không nên tu, không nên chấp trụ một pháp nào, vui mừng Tự Ngã một Cõi nào, bằng chấp trụ đều mù quáng. Miễn ngự trên Thần Thức di chuyển khắp khắp Tam Thiên, Đại Thiên Thế Giới, bất luận cao thấp cảnh giới thảy đều nương nơi Thần Thức tỏ ngộ Thần Thức Thiền Tánh.

Nơi Nghe Thấy Biết Bình Đẳng, nhưng Bất Bình Đẳng, giai cấp trình độ. Có tu, chưa tu, có chứng, chưa chứng, kể ra không hết đặng. Khi nghe, lúc thấy, được biết cùng chưa đặng biết sai biệt nhau. Tận Giác Chánh Giác Đồng Đẳng nhau. Tu Phật Đạo Phật rất Bình Đẳng vì lầm mê Giác Ngộ xa cách nhau khó diễn giải, khó nhận lãnh, được gọi là Bất Khả Tư Nghì, khó nghĩ bàn.

Bậc Thiền Sư: Dưới sự nhận định, xa cách hẳn Bậc Hành Giả đang tu Thiền Tọa. Vì sao? Vì Bậc Thiền Sư nhìn nhận Tổng Quát, do đó Thiền Sư nói: Một nơi phải, hoặc cái phải của một chúng sanh cho là phải, trong giờ phút đó Vũ Trụ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới có hàng Bá Thiên vạn triệu chúng sanh đồng cho phải, gọi là Thế Giới Hải Phải. Mỗi một chúng sanh cho là Quấy, thì liền có Bá Thiên vạn triệu chúng sanh cho là Quấy, gọi là Thế Giới Hải Quấy. Khi Đức Phật thọ ký Bá Thiên vạn Phật đồng thọ ký. Mỗi một vị đắc chân lý liền có Bá Thiên vạn triệu đồng đắc chân lý, gọi là chân lý Hải. Một Bậc Đạt Vô Thượng Đẳng, liền có Bá Thiên Vạn Triệu Bậc Tu Đạt Vô Thượng Đẳng, gọi là Thượng Đẳng Thế Giới Hải.

Từ chốn Tâm Thức lầm mê, có Bá Thiên Vạn Triệu lầm mê nơi Tâm Thức, vô lượng vô biên đại mê, cuồng mê, vọng mê Tâm Thức Hải. Bản Năng phải ngự chế xem xét lỗi lầm, qua từng cái Mê sạch sẽ hết thức giải mê Giác Ngộ. Từ nơi, Tâm Thức Hành Giả Tọa Thiền trở thành Thần Thức, Thần Thức rộng rãi bao la, thanh thoát cực điểm, Đại Lung, Đại Lạc, Đại Cường, Đại Vĩ, lên xuống cuồng quanh, Thiên biến vạn hóa theo Chơn Thể Pháp Tánh. Hành giả lầm nhận vui mừng an trụ hoặc giả ưa chuộng thích thú cho đó cực điểm không ai bằng, liền thọ chủng Thần Thức lâm vào Ngoại Giáo.

Bằng bậc kiên trì tận thấu Tâm Thức liệt hạ tranh giành, Thần Thức tham lam Đại Vọng, không Nhiễm chẳng Lìa, Tròn Giác. Ví như bậc đã tự mình phát hình nhìn xem vũ trụ thuyên diễn, một tấm tuồng mê ngộ, Chánh Giác.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT,
Kỷ Niệm Trung Thu năm Bính Dần 1986.

Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

13. NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ

Bậc Nhất Tâm Đảnh Lễ, Thân Khẩu Ý giải nghiệp, bậc này thường đánh đổi thân mạng, niệm niệm tu cầu diệu quả Bồ Đề, không phân biệt, Tâm nhập định đặng biết chúng sanh chung khắp đều tu, mỗi mỗi tu theo Hạnh mình. Từ nơi giải Tâm, đến giai đoạn đặng rõ lầm mê, nguồn mê nó như thế, Tâm trơn liền không còn chướng ngại tu đạt Vô Ngại Đại Bi Tâm, nương nhờ Công Đức, vượt hẳn thế gian Chứng Tri Bình Đẳng. Hồi Hướng Công Đức siêu thoát Tâm tỏ rõ Diệu Pháp sở đắc Diệu Quang, Sát Trí, Nhất Thiết Trí thành tựu Chánh Giác.

Thiền Sư vừa nghĩ đến đây. Ngài rời khỏi tảng đá đang ngồi, đứng lên, chân bước đi, miệng lẩm bẩm: Dại thật, dại thật, cho những bậc lầm mê, trên con đường Diệu Quả. Thường Tưởng tức Phi. Thường Tình tức Đọa, mãi gìn giữ năng sở thường tình, mộng ảo Tri Kiến Giải Thoát, lề thói thường tình ưa thích tất cả mọi người chiều chuộng tâng bốc an vui, hơn Tâm tự tạo nguồn vui bất tận. Nơi thường tình nơi sống quần chúng thường sống phẳng lặng mơ hồ, như con người sống của con người như thế. Nếu Bậc vươn mình cao cả hơn, không mong cầu chỗ thường tình làm quan hệ, cũng chẳng cho nó làm tầm thường, miễn cao hơn thường tình, hơn tầm thường, nơi mình đang trụ chấp biết chỉ trích, chưa tự xét mình, chính mình tầm thường hơn ai hết. Biết suy, biết xét, chưa thực hiện mình đang biết, đây chính là Con Bệnh thường vấp phải.

Đối với Ta, thật biết tỏ rõ nó như thế, nên không vướng mắc, đầy đủ chủ lực nguồn sống, thật là cuộc sống Huy Hoàng trước mọi sự việc, kể cả gay hấn, nghịch ngợm bằng phương thức nào, vẫn có sự sống Bất Diệt nên chi sự sống thông với sự sống của tất cả không có khoảng cách nhau, vì vậy nên chi không có Đoạn Dị Diệt vạn pháp suông chảy, tâm vui vẻ thoải mái trơn liền, đương nhiên sự sống nó sống.

Thiền Sư vừa nghĩ đến đây, nở nụ cười thoải mái. Ngài nói: Ta và tất cả sanh ra để làm gì? Để Ăn, để Mặc, để Sống ư? Thật vớ vẩn nơi vớ vẩn, chịu nơi khuôn khổ thường tình vạy vọ lâm nơi tầm thường bị sút kém thua thường tình, thì làm sao thông cảm sự sống, cùng nhau thoải mái? Đứng nhân cách tầm thường hay thường tình kẻ ưa thích chỗ này, người lại ưa nơi nọ, có những mong đợi hoài vọng khao khát, tâm trạng khác nhau. Khi bước vào con đường tu Phật, chưa đủ Công Đức Công Năng để giải tỏa lòng tham vọng đang còn, các khía cạnh nơi nghiệp Tham. Không Tham Lam tiền bạc, vẫn tham vọng đủ chiều hướng hư danh, Tu vấp phải qua nhiều nghiệp thức. Bậc bình dị nương Vô Ngã để tu, khỏi tham mơ vọng đảo, lầm ngã giả tướng, Minh Tâm đến không dị biệt thoát sa đọa.

Thiền Sư đưa tay hái cành lá, Ngài ngồi lại tảng đá, nét mặt cảm mến như nhiên. Ngài nói: Tướng Giải Thoát từ lâu. Cây cỏ núi sông, Hoa quả vẫn làm tròn Bổn Phận dung dưỡng nhân loài. Nay Ta nói lên Tâm Hồn Giải Thoát. Thế nhân mấy Ai biết đặng Ai? Họ chỉ nhìn nhau bằng đôi mắt tầm thường. Ta chỉ biết Ta là đủ. Vì sao? Vì nó như thế. Khi Đức Thế Tôn đang còn tại thế. Chưa chắc nhân sinh nhìn đặng Ngài Vô Thượng, Ngài đã từng công bố, chưa hẳn có bậc đã tin Ngài. Lúc bấy giờ tinh thần Tối Thượng Quả Vị Đẳng Đẳng Giác. Chỉ Ngài thấu Ngài mà thôi. Ngài nhập Niết Bàn lời Vàng sáng rạng, Ngôn Từ trở lại Bảo Châu. Cao Qúy thay! Vô Lượng Công Đức Phẩm thành Xá Lợi.

Có lẽ, có lẽ. Bổn phận Đức Chí Tôn đã tròn Bổn Phận. Nay Ta tiếp tục phải làm tròn, miễn tất cả Nhân Sanh ưa chuộng xem với Tâm Hồn giải thoát vẫn toại nguyện không khác. Đức Bổn Sư thành Phật Chánh Giác. Ngài nói: Bá Thiên Vạn Ức Phật Chánh Giác. Nay Ta thành Phật Chánh Giác. Nào Đức Ngài Tuyên Minh Ngài Chánh Giác thành Phật mỗi một mình Ngài đâu. Đối với Ta vẫn như thế, các bậc đang tu, đồng tu đến mức độ như Ta cũng có Thế Giới Hải bậc như Ta, bậc đồng nguyện rộng rãi phát tâm Hồi Hướng Công Đức Phẩm, Ta tuyên minh cho tất cả, các bậc tu cầu Diệu Quả phải Hồi Hướng Công Đức Cúng Dường Như Lai chính lời này Tối Thượng.

Thiền Sư nhìn hư không không tận. Ngài nói: Hư Không như nhiên hay dĩ nhiên? Thế nhân thường tình hay tầm thường. Đó là dĩ nhiên do Tâm chưa thoan thoát, Tâm Chí hay Thân Tâm chỉ Định, viễn tượng như thế nào thì nó ra thế ấy. Phải chăng hiện tượng Giác Minh hay viễn tượng nó ra như thế. Cuộc mơ hồ mãi diễn tấm tuồng lầm mơ, lúc đã lầm mơ, thời mãi lầm mơ phải tu cho tận cùng lầm mơ, sạch lầm mơ mới trở về Tự Tánh tự tánh vẫn chưa đủ, phải Tỏ Tánh Minh Tâm mới hay Chơn Thể Hư Không tận tận kiến diện Phật Tướng. Bồ Tát phát tâm dũng mãnh, tu nơi Tâm dũng mãnh, Tối Thắng vạn cảnh cách ngăn. Chí Không nhàm chán, năng lực bồi dưỡng thêm đến giai đoạn Trí Lực. Trí Lực là một Trí chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Trí này chịu đựng tất cả, tùy thuận tất cả, dung hòa tất cả, nhiếp thâu tất cả trưởng thành Nhất Thiết Trí.

Lại nữa: Trí Lực Công Đức Phẩm cúng dường Như Lai Phật. Trí Lực trải qua vô tận thế giới Đại Hải Trí thành đạt Nhất Thiết Trí. Trí Lực khó giải hết đặng, dù mang tất cả Tam Tạng Kinh để tán thán Công Đức Phẩm. Bồ Tát độ sanh trải qua hằng hà sa số kiếp, mỗi kiếp có Vô Lượng Công Đức thời Công Đức ấy nhiếp Trí, nhiếp Tuệ, sáng soi khắp Diệu Quang, Phổ Quang, hằng hà sa số Quang, thành đạt Năng Lực, Tìm Lực, Chủ Lực, Nhẫn Nại Lực, Bất Thối Chuyển Lực, Tận Tận vượt tầm bên kia lực mới có Nhất Thiết Lực tận tận hoàn Chánh Giác. Thiền Sư nhìn Hư Không tận tận cũng thế.

Thiền Sư nét mặt thay đổi theo chiều hướng. Ngài nói: Vạn Pháp hằng hà sa số vô biên trùm khắp nguồn mê mãi diễn bất tận, lúc đang lạc lõng lầm mê. Trí thời Đại Hải Vô Tận, Bậc tu Phật nhỏ bé tựa như con thuyền bé nhỏ trên biển Như Lai vô tận, làm thế nào giải thoát độ nhân sinh? Nếu sớm biết điên đảo viễn vong tu cầu mộng ảo về với Thành Thật Tâm. Thiết Tha Tâm cùng Thù Thắng Tâm. Ba Tâm cứu vãng chẳng biết bao nhiêu bậc Giải Thoát. Thế nào kết quả Thành Thật Tâm? Bậc tu thành thật với Thân Tâm mình, xây dựng Đức Trí, Phước Báo, Phước Thiện, Thiện Căn, Thiện Chí Nhất Tâm đảnh lễ. Miễn tâm tình phục vụ Thiện căn. Giúp đỡ mọi người không cầu báo, cứu vãng mọi người không cầu đáp. Lời ngay thật khuyên can, khuyến khích làm cho chẳng đoạn duyên Phật. Vì tất cả mọi lớp người hơn mình, miệt mài chu toàn, Công Đức Công Năng thật tu đối với tinh thần, xét lỗi lầm không lầm lỗi thành thử không kinh sợ phạm lỗi phạm giới. Thị chứng Hoan Hỷ Địa. Hoan Hỷ Địa Hành Thâm Pháp Giới ra vào Pháp Giới làm lợi ích chúng sanh không nhiễm giới, trải qua các thuận nghịch Tâm không kinh sợ, hoan hỷ vì Thiện Căn cứu giúp xây dựng cho tất cả lìa ngã, nương theo Vô Ngã để tu không làm tổn thương Công Đức, bồi dưỡng Công Đức Hồi Hướng Cúng Dường. Do lẽ ấy nên chi Cấu Ly là món ăn trong sạch Vô Ngại Đại Bi Tâm. Vì sao? Vì Thành Thật là Chơn Tâm, Vốn Chơn Thể vạn pháp, vạn pháp trong sạch, cấu ly, ly cấu đều trong sạch. Chỉ chưa trong sạch bởi Tâm Thức qua qua lại lại, dị biệt năng phân bị biệt lầm lẫn mê ngộ làm sao tĩnh giác? Bậc Hoan Hỷ Địa thâu nhận Tâm Địa Quán nơi chúng sanh, bậc này thường quán chúng Bình Đẳng, nhìn nhận nơi Bất Bình Đẳng đã lầm lạc chúng sanh. Tâm chưa thông vì năng sở chấp. Bậc Hoan Hỷ Địa, Tâm Hoan Hỷ, Tánh Hoan Hỷ, Thiện Căn Giác Trí Hoan Hỷ, thấu đạt Tự Tánh giao cảm Chơn Tâm? Vì sao? Vì Thành Thật Tâm, Thiết Tha Tâm Thù Thắng tất cả nên không có năng sở kiến tri thành thử không còn lấy một chấp.

Thiền Sư chống tay, bàn tay nâng lấy trán. Ngài gật gù nói: Chưa Thành Thật Tâm, làm sao thiết tha tâm? Đã không thiết tha làm chi có Thù Thắng? Ba điểm này là một khởi đầu Công Đức Phẩm, Công Đức Phẩm chưa có Thù Thắng Tâm thì Công Đức nọ trở thành Công Đức cầu Báo Phước Báo Nhân Thiên. Công Đức Hồi Hướng mới là Công Đức Thành Thật Thiết Tha cúng dường Như Lai Phật.

Thiền Sư nhìn theo cành cây, gió đẩy đưa, cành cây theo chiều gió đưa đẩy. Ngài nói: Con đường tu cầu Diệu Quả Bồ Đề, Tri Kiến Giải Thoát, tu không thể nào Tăng hay Giảm thiếu hoặc dư, cũng không thể nào ôm lấy hay vứt bỏ. Cũng như thiếu kém thời phải bổ sung, còn Tăng lên, đương nhiên giảm xuống, nó có qua có lại, có tới có lui, mới thông đặng con đường lui tới, tới lui. Tâm không nhàm chán sở đắc từ Nhân Địa, Thiên Quan, Nhãn Tịnh, Quân Minh Trực Ngộ. Bằng nghiên cứu, khảo cứu, viễn vọng, hoài vọng, lý trí đến cơ bản được gọi Đắc Chân Lý, không thể nào ôm ấp chỗ đắc ấy để đứng yên. Vì sao? Vì chân lý Vô Sở Đắc, chân lý con đường tu cầu, theo chân lý đến Chánh Giác nào phải chân lý hoàn toàn giác ngộ đâu? Gọi là không ôm lấy hay vứt bỏ, không bỏ cũng chẳng lấy. Nếu Tâm còn nghi ngờ, Trí chưa khoát đạt, thì phải Y Tôn Tam Tâm Công Đức Hồi Hướng, đến Bát Nhã Tâm kinh tu hành, chớ nên dừng trụ.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

12. THIỀN SƯ VỪA TĨNH TỌA

Thiền Sư vừa tĩnh tọa xong quang cảnh bên ngoài an nhiên tịch tịnh, hư không vô tận lặng lờ gió mây hòa đồng nơi không khí, pha lẫn vạn chất cây lá rừng reo, trở thành mùi hương vị thuốc trường sanh.

Thiền Sư đưa đôi mắt chung đồng, nở nụ cười thoải mái chào đón Vũ Trụ Tam Thiên, Ngài gật đầu in tuồng vừa giải xong cơn Đại Định Tổng Trì. Thiền Sư khẽ nói: Do Lầm Nên Hữu Hóa. Ta muốn kêu lên lời nhắc nhở với cố tri. Còn nghi phải tu cho sạch sẽ chỗ nghi. Còn chấp hãy bước lần cho sạch chấp. Chớ nên vì chấp mà đứng yên. Chớ vì chỗ nghi mà an trụ, cho đó là rỗng không vô ích. Đến giai đoạn tỏ rõ mới nhìn nhận vạn pháp diễn hóa, vốn thể như nhiên thành thử vạn pháp không sai hai tướng, mà Ta cùng chúng sanh đang lầm bị lạc, gánh chịu hai chữ Tín Mê đang đi theo Hữu Hóa ngộ nhận mới có lý sự trách ẩn dị phân mãi lầm sanh tử.

Bậc Đại Giác Chí Tôn Ngài đã tận tường, cái Mê không Gốc mà trái lại Có Nguồn, vì chúng sanh Hữu Ngã mà gây ra, nên ấn chỉ chúng sanh lìa ngã, nương vô ngã tầm Đại Chơn, nương theo trăm sông, lần về biển cả. Thiền Sư Ngài nói đến đây ra chiều suy ngẫm liền tự thán: Khó khăn thay trên con đường vào Chánh Giác. Ta đã từng trải qua bao nỗi khúc eo vô cùng tận, nay đạt đến Biển Cả khó phân như thế nào cho tất cả đang vật vờ nơi cơn mê chưa Hồi Tỉnh. Sức nơi Ta là sức Đại Dương. Còn công năng chúng sanh khác nào bọt trôi theo cơn sóng gió.

Ngài tự thán xong Thiền Sư đưa Chánh Niệm giao cảm Chư Phật mười phương rung chuyểnTam Thế Chư Phật đồng thọ ký lời huyết tâm Thiền Sư cảm ứng. Đâu đó xong xuôi, Thiền Sư giải nói: Này các Bậc Cố Tri Vĩ Nhân Đại Trí, tu cầu con đường song tu Hiện Giác, những vị này, chưa bao giờ được gặp nay gặp với Ta, bất cứ một nơi nào đáng kể, miễn nhận chân Minh Thuyết thực hành đó chính là cố tri nay gặp gỡ. Bằng gặp gỡ đương thời sống chung một mái, bê trễ ương hèn dù cho đọc tụng chăng vẫn chưa nhìn đặng Ta một ít nào cả. Thật phí thay, thật uổng thay cho một đời chưa gây tạo.

Thiền Sư nói tiếp: Con đường giải thoát phải tận gốc mới thấu nguồn mê. Từ thế gian đến xuất thế gian thảy đều là nguồn giải thoát, miễn nhận chân đặng liền lãnh lấy giải thoát môn. Bằng vu vơ chưa nhận khó vào biển cả của Đại Dương mà giải thoát.

Thế Nào Là Biển Cả Đại Dương Chúng Ta Phải Thâu Nhận Lầm Lẫn?

Từ một khởi sơ khai. Nhiếp thâu hoàn tất chẳng thiếu sót mảy may tận giác. Sự nhiếp thâu này lìa ngã cùng ngã sở chớ nặng nhẹ Thánh Phàm chớ vội vàng chấp nhận.

Thiền Sư khải niệm xong, Ngài hớp một hơi trà lúc bấy giờ Ngài hướng dẫn. Nầy các ông, các bậc cố tri nay Ta kể các vị cùng Ta hãy nhìn nơi Hư Không Vô Tận. Nhìn đến Sơn Hà Sông Núi đang chung sống cùng Ta. Bản thân Ta tìm phương giác ngộ. Tự tánh nơi Ta hóa giải chấp mê, diệt trừ bản ngã trên lý sự tu hành Ta cùng các ông dẫm nát, nó mãi kéo dài, có từng vạn triệu kiếp người, kiếp thiên tiên hay thọ sanh vào nơi các loài cầm thú, thăng trầm làm quỷ làm ma không dứt. Do đó nên chi mới có. Phật Thánh thường còn. Chúng sanh thường diễn, đến bao giờ chấm dứt giữa Phật với chúng sanh, tìm ngộ bị mê ở nơi mê thấy ngộ.

Lạ thay! Đứng Thánh tự tăng, ở vào phàm sa đọa. Khó khăn thay, tu tịnh vướng động tâm. Sửa sai lầm, sanh chứng tật.

Lạ lùng, khó khăn thay, lầm sai nên hữu hóa. Thân Tâm động vọng lệch sơn hà. Ngày nay Ta đã rõ làm thế nào phân tánh, vạch hướng cho tất cả bị lầm sai? Thiền Sư suy ngẫm đến đây Ngài nói:

Sơn Hà Đại Địa quả đất cỏ cây toàn diện như nhiên diễn hóa, sự diễn hóa này thuộc về Thể Tánh như nhiên tự hóa, do đó hòa hợp với tất cả chúng sanh Tứ Loài không sai chạy. Nó chẳng khác nào: Con trăng tròn chiếu sáng. Trăm kẻ nghìn người ai cũng công nhận con trăng gần mình hơn ai cả.

Khi vui nhìn cảnh cũng vui,
Lúc buồn cám cảnh sụt sùi tái tê.

Có người tự hỏi? Do Ta hay do Cảnh? Lắm bậc đã từng hiểu do tại nơi Ta. Nhưng chính Ta chẳng biết làm thế nào cho hơn cảnh tình ấy. Bậc khéo lượng, bậc này sẵn có đầy đủ trí thức cùng kiến thức, gọi là Tâm Đạo biết thương mình và thương mọi người, không lạm dụng không lừa dối mọi người hay áp dụng tình sanh cảnh, có thể nói đứng vào hàng quân tử.

Thiền Sư còn nhớ, có một độ xa xăm Ngài trực nghĩ. Ta phải thâu nhận lầm lẫn chính mình mà đào sâu vạn pháp. Ta phải tận khắp chu du cốt tận thấu duyên căn lầm mê cùng giác ngộ. Khi lầm sanh nơi Vũ Trụ với con người tỏ rõ con người cùng Vũ Trụ mới là giải thoát môn. Bằng tận thấu duyên căn Đại Ngộ nên chi Ngài nói:

Quả Đất hình thành nó vẫn từ mỗi một điểm nhỏ kết nạp hóa ra đầy đủ không thiếu sót mới thành hình quả đất. Bậc mê lầm phải tường tận duyên căn chung khắp khi mới sơ khai, đến giai đoạn kết nạp, lúc đã kết nạp đầy đủ tiềm năng, đầy đủ chất phẩm và trọng lượng, trái đất kia liền như nhiên hợp hóa sanh ra núi sông, cây cảnh. Diện núi sông biện minh ra địa giới địa hạt củng cố từng nơi, do tâm thức con người nơi thấp chỗ cao, tầm sâu hay nông cạn, từ nhỏ đến lớn như nhiên diễn hóa, có đầy đủ ý nhị khó giải hết nơi tập này trên văn tự trừ ra bậc có đầu óc rộng rãi cân đối mới tạm hiểu lời Ta nói mà thôi.

Khi bấy giờ. Thời quá khứ không thể nói thời ấy trải hằng bao nhiêu thế kỷ. Đức A Đề Phật là Vị Phật đầu tiên ra đời, cùng với quả đất hình thành tất cả cây cỏ núi sông, tứ loài sanh trưởng đầy đủ không thiếu sót. Thời bấy giờ, con người chỉ biết thân mạng mình giống con người, ngoài ra chưa hề có kỳ vọng chi cả. A Đề Phật ở tại khu rừng, Ngài kiểm chứng cây cỏ núi sông Sơn Hà Đại Địa mà Giác Ngộ.

Ngài nói: Tuyệt tác thay, thiên nhiên sơn hà cây cỏ trời mây với Ta là Một, hợp hóa đồng thanh tương ứng hiện giác. Thế mà con người ngỡ con người với sơn hà cây cỏ núi sông là Hai, thật sai lầm vô hạn.

Đức A Đề lúc bấy giờ Ngài sẵn có thể tánh đồng đẳng với Sơn Hà Vũ Trụ, nên chi thường nhập Chánh Định kiểm chứng bao quảng cùng khắp, Ngài nói: Mắt nhìn thấy Hư Không ta đặt thân mình vào tận Hư Không, Ta không còn thấy Hư Không mà tận thấu Hư Không là Giác Tướng. Ta ra vào vạn pháp Ta không nhiễm trước Ta chưa thấy vạn pháp diễn hóa ra sao, mà Ta thấy vạn pháp như nhiên diễn hóa, đó là Ta chứng thị như nhiên Thể Tánh vạn pháp.

Vạn pháp nó rất gần Ta, mà nó thật rất xa ta có hàng vạn triệu bá thiên dặm khi ta chưa nhận chân nó, lúc ta đang còn vướng vấp đảo điên do lầm nên hữu hóa, chỗ hữu hóa này có thể nói là Bị Hóa che mờ Thể Tánh Như Nhiên nên chi trực giác hơn Bị Giác là như thế.

Đối với Đức Bổn Sư Ngài biệt tài siêu đẳng chưa có vị Phật nào trải khắp chu du, kinh điển diễn đặng như thế. Tất cả những vị nào, từ đời nầy đến đời sau nương theo kinh pháp Ngài đặng giác ngộ, bằng hình thức không y kinh mà chẳng ly kinh thảy đều tu đạt Chứng Thị.

Thiền Sư vừa giải đến đây. Ngài đứng lên đi qua đi lại bảy lần tri ân Bổn Sư Chí Tôn Vô Thượng Ngài nói: Giờ đây con mới thấu. Không Sai. Không Đúng. Đều Đúng Mười Phương. Tận Tận Tường Tường chẳng vương, không vấp.

Hay thay, vi diệu thay. Con đường Bồ Tát Hạnh Nguyện, cao qúy thay Đại Nguyện phát tâm rộng rãi cao đẹp tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo mà Đức Chí Tôn ban bố Chư Bồ Tát phụng hành phải trải qua nhiều trở lực mới tận thấu Chân Như. Có đi vào cơn mê thực tiễn mới thâm nhập cái mê mà Giác Ngộ, có kiểm chứng thực hành mới nhận chân được do lầm vương nơi hữu hóa. Bằng dùng Sắc tự quán kiểm chứng hay thinh hương vị thứ kiểm chứng thảy đều sai biệt với Chánh Giác. Nếu đứng trước khuôn mẫu của mỗi một con người có Tướng Tốt, hoặc giả tướng xấu chưa hẳn đã tốt hay xấu. Hãy nhìn tinh hoa vận chuyển có thủ hay có xả. Bằng thủ nhiều liền dục Sắc, dục Thinh danh giả, dục Hương khoe tài, khoe đức, dục Vị ưa củng cố vị thứ thảy đều là con người giả danh nơi danh giả mà thủ.

Bằng xả nhiều là kẻ trôi sông tiêu cực mang lấy hư vô chẳng làm chi hữu ích, hai hạng con người nầy chưa hề hay biết sử dụng. Họ thảy đều quan niệm Thân Tâm lìa ngã cùng Ngã Sở, mà trái lại Thủ vẫn Ngã, Xả đều là Ngã. Chẳng khác nào Cấu chưa đặng mà Tịnh vẫn không xong.

Thiền Sư trầm ngâm in tuồng kiểm chứng, không khác mấy vị Đại Lương y, xem xét mạch lạc đặt viên thuốc cứu chữa bệnh mê lầm, làm cho con bệnh nhận chân may ra thấu nhận. Ngài nói những vị tốt nhất là Bậc Thủ để kiểm tra, Xả liền tha thứ, Thủ đặng sáng soi, Xả đặng trơn liền, nơi tinh hoa vận chuyển của những vị này đã từng thực hiện, từ thâm tâm cho đến ngoại giới liền lạc trơn tru nên chi hay nói: Ta Tha Thứ, Lỗi Lầm Cho Tất Cả. Ta Không Bao Giờ Lầm Lỗi. Bằng Ta chưa tha thứ Lỗi Lầm, Ta phải gánh chịu Lỗi Lầm.

Làm như thế, tu như vậy mới nhận thấu nơi Chúng Sanh Tánh bị lầm nên vạn pháp Hữu Hóa. Càng hữu hóa bao nhiêu lại càng sanh diệt bấy nhiêu. Bậc càng Hữu Hóa càng đi nơi sanh diệt của hữu hóa mà thân tâm sáng soi nhịp nhàng của hữu hóa vận chuyển tỏ ngộ, vận chuyển lưu hành nơi thể tánh nó, những bậc này đối với con đường Chánh Giác rất gần. Vì sao? Vì nương mãi hữu hóa tận thấu hữu hóa liền sở đắc Niết Bàn Không Hữu chẳng Vô mà Chánh Giác.

Thiền Sư Ngài nở một nụ cười. Ngài nhìn mặt đất trơn liền đã từng nuôi dưỡng trăm nghìn cây lá. Ngài nói: Lời Ta nói không bao giờ họ tin nơi Ta Chánh Giác. Tâm Ta trơn liền, ai đã hiểu đặng Lòng Ta. Ta thường nói: Ta Không bao giờ tiếc thân mạng thì tài sản vật dụng Ta nào có sá chi. Thân mạng Ta, Tài sản vật dụng Ta bảo toàn, chính ra Ta bảo toàn Quả Vị, Không dư thiếu trơn liền, thì vận chuyển lưu hành nào kém khuyết, toàn Thiện toàn Chốn Viên Dung chung khắp. Đây lời Ta nói tất cả những Vị như Ta thảy đều như thế cả.

Thiền Sư vừa nói đến đây. Ngài có vẻ mặt đăm chiêu, đương chiều suy nghĩ thầm nói: Nếu Ta nói tất cả con người đang lầm nên bị hữu hóa. Khi đảm phá hoặc hóa giải cho con người, thì gốc của con người toàn diện đang theo hữu hóa làm như thế nào tận gốc hữu hóa. Khi bấy giờ mới tận đặng nơi chốn thực tiễn thường còn biết sống và lẽ sống an nhiên không còn đúng sai hai chữ chạy vòng thay Chu Kỳ trái đất. Chính nó là một con đường thẳng. Không nhiễm hữu hóa, sáng soi tất cả sự việc lý trí của hữu hóa mà đạt thành căn bản chân lý thực tiễn. Tài liệu này không ngoài tài liệu Tam Tạng Kinh Điển mà Đức Bổn Sư đã từng hướng dẫn, nay được gọi là lời vàng Bảo Pháp cho con người và thế giới đang chiêm ngưỡng nghiên cứu chưa tận thấu tu đạt. Vạn Pháp Như Nhiên. Chúng Sanh hữu hóa lầm lạc, hai thái cực này nó mãi diễn. Chư Phật cùng Chư Bồ Tát đã dày công hóa độ. Khi chỉ thẳng chúng sanh tánh lãnh hội vòng quanh, lúc diễn giải Vòng Quanh lại có Bậc Trực Ngộ, cho nên lý sự mê ngộ nó chẳng có chừng nói nơi Văn Tự, điểm chính nơi nó chỉ có Công Năng đầy đủ Không Kém sót là hơn tất cả.

Thiền Sư nghĩ về Thiền Tôn. Ngài nói: Thiền về một Môn. Chân lý thực tiễn, chung gồm Hiển Giáo và Mật Tôn phát sanh Trí Tuệ, trí tuệ này có chỗ học mới biết, hay những điều chưa học như nhiên Năng Khiếu đặng biết. Những bậc Tu Thiền sai lệch chưa có Trí Tuệ, chưa hẳn đã là Bậc nhập lưu tu Thiền. Nói đến Chứng tri mà tu đạt tận cùng của Thiền Trí khó giải nơi văn tự. Vì sao? Vì Môn Thiền là một môn hỗ trợ công năng Đức Tánh nên chi Tâm truyền Tâm Liễu Ngộ Thiền Sư. Từ nơi nhìn nhận của Hiển Giáo và nhà Thiền Tông Không Khác mà thật khác thành thử Môn Thiền là môn chứng Đạo.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

11. NHÀ THIỀN SƯ HIỀN TRIẾT

Đến nay nhà Thiền Sư Hiền Triết, Thiền Sư đã từng dẫm nát, đã từng trải qua tứ phương năm hướng chung hợp Đạo Đời, Đời Đạo qua chẳng biết bao trở lực cùng tỏ rõ thế nhân, tự tạo lấy hiểu biết thật biết đến quá biết về với thân mạng, chẳng còn nói hai chữ hơn thua hay được mất, Nhà Thiền Sư Hiền Triết hay nghĩ đến hai câu:

Vết chân dẫm nát nhân Thiên Giới.
Lưu lại trần gian nửa đoạn đường.

Thiền Sư chẳng cầu tỏ, những gì về thoát lý, thoát chân, thoát vọng, thoát khởi, thoát tập, thoát nhiễm, những điều ấy đối với Thiền Sư thảy đều vô lý. Thiền Sư cũng không lấy chi làm lạ, chỗ tư tưởng suy diễn luận diễn, kiểm chứng hay quán chúng soi, điều hành vọng hoặc phân chia tỉnh nơi thân mạng, trí hóa soi, hàng ngày, dù cho Thiền Sư không bao giờ khởi nó vẫn Dụng chưa bao giờ Muốn nó vốn Hành những điểm này quá ư quen thuộc đối với Thiền Sư.

Vì sao? Vì đúng thời khóa, nó vẫn Thoát, đúng lúc an nhiên nó lại Suy... Đúng nơi hợp hóa nó Tự Quán sáng soi. Còn nơi phân chia tĩnh Tọa suy ngẫm chân nguyên mục đích nơi Thiền Sư nói lên lời cao đẹp, vạch rõ đường lối Chí Tôn Phật Thế, lúc Chí Tôn còn tại thế đã thuyết minh mà tất cả chưa hiểu đặng làm cho cán cân tu học chênh lệch hai bên, mất chân giá trị bảo pháp lời vàng tâm huyết.

Thiền Sư đã từng Trực Giác Tự Ngộ, nó không có chứng từ ngôn thuyết, nó tận thấu lời Chí Tôn trải qua ghi chép Tam Tạng Kinh Điển, không thiếu sót dư thừa vẹn vừa từng lớp lớp tu học. Kinh điển này có hai điều cần phải nhắc nhở cho tất cả những bậc tín tâm tu học. Thứ nhất kinh pháp phải mãi luôn theo Chư Vị Bồ Tát cốt nhắc nhở, thứ hai đưa đón những bậc phát tâm. Do hai điểm trên mà Thiền Sư ưa thích nhất. Ngoài ra Thiền Sư chưa bao giờ thêm bớt đường hướng Chí Tôn. Thành thử Tĩnh Tọa suy ngẫm không ngoài chân nguyên chủ đích nơi Thiền Sư cả.

Sự quen thuộc, quá ư quen thuộc đối với Thiền Sư. Mỗi buổi sáng tinh sương, Ngài ngồi bên dòng suối, an nhiên thanh thoát, kiểm chứng Tổng Trì tất cả, cùng tất cả, kiểm nhận Ngài đã từng qua những khúc eo nào trên con đường tu hành. Lúc khai hoang đặng, Thiền Sư miệng lẩm bẩm tán thán, có khi Ngài xoa đầu đập vế vun vai in tuồng nắm bắt bảo châu ngọc bích. Có một hôm Thiền Sư đứng lên đi vòng bảy vòng dọc ngang bờ suối, Ngài bước trên từng tảng đá hình trăm voi, xong đâu đấy tĩnh toạ an nhiên kiểm trì con đường Trung Đạo.

Thiền Sư tĩnh tọa rất lâu, khuôn mặt Ngài thay đổi từng lúc, có khi Ngài gật đầu hay mỉm cười in tuồng thỏa thích, Ngài nói: Tuyệt tác thay, an lành thay Chí Tôn Vô Thượng. Kể cả hàng bá thiên vạn triệu thế kỷ, cho đến ngày nay. Thế giới với con người sống trên mặt đất liền, cho đến Tiên Thần Thánh Hóa hay Thánh Triết Thánh Nhân, hoặc nhà Tiên Tri Vĩ Đại lần lượt ra đời, ngự trị đời chẳng biết bao thời cuộc đổi thay, thay đổi di chuyển không ngừng bấy ai là Bậc Nhân Thập Toàn, từ nơi ưu hoặc khuyết nó không ngoài Tương Đối Có Không là hai con đường lựa chọn mãi miết đổi theo xây lâu đài mộng đẹp trên lối sống tương sanh con đường tương đối, cho là được mất có không vinh dự, thật đáng buồn cười thay hư vọng?

Thiền Sư suy tưởng đến đây châu mày nói: kẻ ngu xuẩn nhất chính Ta. Kẻ hư vọng tham cầu mang Phật Đạo vào con đường lệch lạc mà công nhận tu cầu giải thoát môn. Ta hiếu kỳ lựa chọn một trong hai điểm Thanh Thô Thiện Ác. Ta ngỡ Thanh là Phật Đạo. Thiện tạo Giác Chân tu lấy một chiều, còn một hướng ta đành vứt bỏ, may mắn thay, nếu ta huân tập nung đúc Thiện Căn. Ta phải lầm tu nơi Phước Báo. Bằng không nhận thanh hương có lẽ lúc hình thành sa vào Tiên Đạo thì sao? Tuyệt tác thay. Hôm nay mới thâu nhận con đường Trung Đạo Tôn chính một con đường duy nhất, thâu nhận tất cả hai bên. Thiện ác có không mới tu đạt tuyệt đối thoát khỏi tương sanh mới điều hòa không chênh lệch. Té ra Phật Đạo tâm chí dung thông, tương đối chốn lầm than, tuyệt đối nơi giải thoát lành mạnh khỏi dị phân nào ngăn cách dị biệt nơi kinh điển đường Trung Đạo mà Đức Thế Tôn đã ấn chỉ trong thời hiền kiếp, đường hướng chỉ đạo cho tín chúng phải thực hiện hai bên, phải đồng hóa tương đối mà sở đắc tuyệt đối mới mong Giác Ngộ. Nó cách xa Bá Thiên Vạn Triệu thế kỷ trước, nó gần nhất đối với thế kỷ hai mươi này, thế mà chính ta đã lầm lẫn, thời làm sao các bậc tu hành tránh khỏi sự lầm lạc như Ta?

Thiền Sư suy ngẫm đến đây, Ngài thở dài nhìn bóng cây ngã bóng, Thiền Sư đứng lên bước đi từng bước một, Ngài nói: Ta ngu, chắc hẳn từ vô thủy đến nay tất cả con người thảy đều ngu hết, cho đến Chư Tiên Thiên vẫn phải mờ mê, dù có nói ra tất cả thảy đều cho Ta là kẻ đi chăn bò thuê mướn, cổ truyền Phật Đạo, nào có ngờ đâu. Đức Thế Tôn cùng Ta có một chí nguyện cứu vãng quần sanh hãy tu vào con đường Trung Đạo đoạt lấy tuyệt đối tương đồng mà chung hoàn Chánh Giác.

Thiền Sư suy ngẫm đến đây Ngài bèn chỉnh đốn y áo, quay mặt hướng Đông lễ bái bảy lần, Ngài âm thầm thưa gởi: Bạch Thế Tôn Vô Thượng, Ngài chính Bậc Chí Tôn vuông tròn chung khắp, đồng đẳng bá thiên vạn triệu, bá thiên vạn hạnh, vô lượng vô biên Công Đức Phật về với Đẳng Đẳng Tôn Chánh Giác, do đó cho nên dưới mắt Phật thảy đều đồng đẳng Như Lai, vô phân biệt tính, vô thọ chủng lai, vô hoàn thể giác, vô xứ xứ trụ, nay con xin kiểm chứng thừa lệnh thuyết minh, giúp đời nầy, đời sau nương Trung Đạo Tôn tu đoạt Giác Chân trùm khắp.

Cao quý thay dưới mắt Phật đồng đẳng quân minh bậc chánh giác là bậc toàn diện Chư Phật hiện toàn thân, từ một hơi thở cho đến lời vàng minh thuyết thảy đều hiện Phật đều xưng tán sát na vi trần Phật, không còn hai tướng, chẳng có chỗ kiểm chứng hai bên, Ngài còn ấn chỉ nơi kinh pháp vạn Hiệu Vạn Phật.

May thay Ta thực hiện hòa hợp, thực hành tự quán qua nhiều trở ngại nhiếp thu tu cầu Giác Tướng về với Như Tướng viễn thông, tận thấu mà tường tận Pháp Thân tỏ rõ nguồn phát hiện thị hiện sát na Phật, vi trần Phật, thanh quang Huỳnh Quang Phật. Mỗi Chư Vị thị hiện thảy đều do Công Đức vô lượng nơi Ta, chính Ta không ngoài ai là bậc đã xây dựng cho Ta, nếu đời này hoặc giả đời sau, lãnh hội đặng lời Ta đã nói trên, thực hành tự lực cùng tha lực, tự lợi và tha lợi đồng đẳng sự việc Chư Phật đã làm nay Ta phải làm, Chư Phật đã khai hoang đường hướng cho Ta, nay Ta phải có nhiệm vụ tha lợi cho những bậc khác, để báo ân Tam Thế Phật, gọi là tự độ cùng tha độ.

Thiền Sư vừa nói đến đây. Ngài ngửa mặt nhìn hư không in tuồng bày tỏ, sự lạc lỏng nhận chân với con đường tri kiến quá khó, mỗi một quan niệm nhỏ sai, xa xăm vạn dặm cách biệt nhau với con đường giải thoát vô tận cùng, duy nhất chỉ có hóa giải nương theo Trung Đạo bước lần Từ Bi Hỷ Xả liền trơn. Được mất không mừng hoặc buồn khổ, hơn thua chẳng lấy đó làm chứng từ. Có hay không xem đó nó đã từng lai vãng. Thuận nghịch do lòng mong muốn quan niệm mà ra, phải trái chưa hợp tình chưa hợp lý với mỗi con người. Ta thật biết, còn biết hơn dòng đời trôi dạt, các bậc tu hành hay phân đối mà mãi mãi không xong chạy theo hàng Nhị Thừa Tu chứng làm thế nào để minh tỏ con đường Trung Đạo Nhất Tôn, sở đắc Pháp Thân vẹn toàn Chánh Giác? Dù Ta có kêu gọi khuyến tu có hàng vạn lời kêu gọi, nó chẳng khác nào Tam Tạng Kinh Điển lời vàng Vô Thượng Chí Tôn đã từng phơi bày hơn hai nghìn năm mấy ai đã xem đến?

Thiền Sư Hiền Triết vừa suy ngẫm thuyết minh xong quay về chòi lá, dòng suối đá với trăm hình con voi êm lặng, sỏi đá lôm chôm cây rừng mát mẻ, ánh nắng vàng rạng rỡ lá rừng phe phẩy như chào đón Thiền Sư.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

10. BẠCH THƯỢNG SƯ TRƯỚC KIA CHÚNG CON CHƯA RÕ VÔ MINH

Bạch Thượng Sư, trước kia chúng con chưa rõ vô minh. Nay nhờ Thượng Sư ấn chỉ bổn phận thân mạng nơi chúng con phải thực tiễn, phải tận lực, phải sáng soi các căn nghiệp phân đối, ngăn cản để lướt qua từng giai đoạn ngăn chấp nghi ngờ dị biệt, từ lúc nay chưa đặng nghe, hiện giờ đặng nghe, những điều từ khi nay chưa bao giờ biết nay thực biết, còn những gì chưa biết, mà cứ mãi thờ ơ lười trễ, tâm chí phân vân, nghi ngờ bỡ ngỡ đó chính là vô minh. Té ra vô minh là chưa tỏ, té ra vô minh là chưa biết cùng chưa nhận chân đặng, nói xong đồng an tọa.

Thượng Sư lặng thinh. Ngài nói: Khá khen các ông biết nhận chân lời khai thị. Lời nhận nầy khó diễn nói chỗ nhận chân, cạn sâu tùy mức độ sanh của mỗi vị, mà thâu nhận, vì sao? Vì nó chẳng khác người buôn ngọc, người buôn ngọc này buôn lâu năm từng trải. Khi gặp đến Ta, được Ta cho viên ngọc, thời người này nhận chân giá trị viên ngọc bảo châu vui mừng vô kể. Bằng kẻ chưa bao giờ thấy ngọc nay Ta đưa viên ngọc, kẻ ấy tâm chí đang còn phân vân, chưa quyết định nó là viên ngọc, thì làm sao sử dụng ngọc Bảo Châu? Đối với nhận chân lời khai thị ngộ nhập nó cũng như thế, lời khai thị Phật thừa không hẳn lời nhiều hay ít, sự giác ngộ nhận chân vi diệu vô cùng, bậc Đại Thặng đã từng thoát sanh qua từng lớp, chỉ mỗi một khẽ động đơn sơ liền tiếp nhận viên thông. Còn những kẻ xuẩn ngu dù giảng giải trăm kiếp chưa bao giờ tỉnh ngộ. Thời Đức Thế Tôn còn tại thế. Ngài đưa cành hoa. Ma Ha Ca Diếp mỉm cười sở đắc Thực tướng Vô tướng Tam Muội Pháp Môn thì sao?

Thượng Sư vừa dứt tiếng. Hàng Ma Ha Tát đứng lên tán thán, hay thay cao qúi thay. Bổn phận và trách nhiệm, Phật với chúng sanh, tu học Phật Pháp và Pháp Phật mà chưa thấu Duyên Căn nơi thân tâm hóa giải chúng sanh rốt ráo giai thành Phật Đạo, thì dù cho có tu vạn kiếp vốn thật ngoài da, chưa hề phá tan vô minh đang lộn vòng theo Pháp Giới thọ chấp, nương trong Pháp Giới cầu lấy hư vị được mất tốt xấu làm của mình, trưởng thành chúng sanh giới. Chúng con đã từng bước qua, đã từng trải qua. Nhưng ngược lại chúng con chưa hề hay biết, nay đặng Thượng Sư khai hoang, chúng con đã từng tu tập Bát Nhã, soi tận Pháp Giới thâm nhập Pháp Giới là một vòng đai sanh tử luân hồi, nhưng chưa hề hay biết toàn thân của chúng con đều mang tất cả chúng sanh giới, bị giới ấy nó đè nén bao phủ nên chi chúng con dù cho thật tỏ, thật biết, thật khôn ngoan như Phật mà chưa tận thấu bằng Phật, là một duyên căn khó tỏ bày. Nói xong đồng ngồi xuống vị trí.

Thượng Sư Thiền Sư, nhìn hàng Ma Ha Tát sáng tươi bình dị, nhìn hàng Bồ Tát trang nghiêm dũng mãnh, nhìn hàng Hộ Pháp cương nghị bất chuyển, nhìn Chư Thiên uy nghi cương trực, nhìn đến lớp lớp hiền từ, toàn diện thứ lớp đều sạch sẽ.

Thượng Tọa nói: Khi chúng sanh giới điều động thể hiện Thân hình Thân Mạng của các ông phải chấp hành theo giới nó từ Lý đến Sự, từ Trí Tuệ đến Hạnh Nguyện phải tùy theo mức độ mà khai trương hiểu biết. Sự hiểu biết kia không ngoài giới mà biết, các ông chưa bao giờ quá tầm hiểu biết của Giới. Nó không khác Cái Thấy đang nằm trong Cái Thấy chưa bao giờ hiểu biết lý sự lầm lạc nơi mình. Chừng nào tận độ chúng sanh giới, vượt tầm Giới ra ngoài cái thấy mới thấy đặng lầm lạc đó là một lẽ Như Nhiên, nhờ gia công tu hành mới nhận thấy.

Các ông cũng nên biết, trách nhiệm Chư Phật khai hoang trực chỉ nơi Tam Tạng Kinh Điển, rất có giá trị vô cùng toàn diện lời kinh thảy đều đưa các ông về với Chân Tôn Chánh Giác, bản chất lời vàng của Chí Tôn Vô Thượng giải các ông sạch nghiệp dung thông tận độ chúng sanh hoàn toàn giải thoát, chỉ vì các bậc tu hành chưa chịu thực hành do đó nên chưa bao giờ nhận đặng kết quả chỗ đến và chốn về của Bảo Pháp.

1. THẾ NÀO LÀ CHỔ ĐẾN CHỐN VỀ ?

Thượng Tọa Thiền Sư hỏi đến đây, liền có hào quang Huỳnh và Bạch Quang, từ đỉnh đầu phát hiện chạy vòng quanh bảy vòng chung quanh Thượng Tọa, xong đâu đấy địa chấn đất chuyển, các vị như Sơn Thần, Địa Thần, A Tu La Thần, Tứ Bộ Thần ứng trực lễ bái Thượng Tọa gật đầu nói tiếp.

Nầy các ông. Như kẻ làm công kia, còn được phú nông cho dùng hai bữa cơm và ba chén thóc trong mỗi một ngày thay, huống hồ chi các ông gia công tu hành, cố công tu tập và tu trì, từng pháp môn Chư Phật đã để sẵn mà chẳng hưởng đặng chi sao? đó là những điều phi lý, quá ư phi lý của kẻ xuẩn chưa nhận chân đó thôi.

Các ông hãy nghe đây: Thế nào là tu chỗ đến, chốn về với Giác Tướng tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo? Hãy nghe đây nhận lấy lời chân thật. Nơi pháp môn Tứ Nhiếp Pháp, Đồng Hành Nhiếp, Đồng Sự Nhiếp, Bố Thí Nhiếp, Vị Tha Nhiếp cho đến Lục Ba La như: Bố Thí, Trì Giới, Nhẩn Nhục đến Trí Tuệ về với Thiền Định Giác Trí gọi nó là Thiền Trí.

2. NƠI THIỀN TRÍ NHƯ THẾ NÀO ?

Thiền Trí là một căn bản Nhiếp Thâu Đồng Hành, Đồng Sự nhiếp tỏ thấu nghiệp chủng, nghiệp căn, nghiệp lậu, của bậc Đồng Đạo của thân hữu gia tộc cùng với thân mạng mình, có khi dùng Bố Thí cảm hóa nhiếp, lúc vị tha độ nhiếp. Tu như thế, đạt như vậy mới là một chốn đến giác chân. Bằng đồng hành, đồng sự hơn thua soi bói chỉ trích hơn thua, cạnh tranh thù ghét, thời chưa bao giờ có chỗ đến cùng chốn về. Tứ Nhiếp pháp, đồng hành, đồng sự để hành động cho có bạn đồng hành vui cười làm lối sống, đó gọi là tu Phật Pháp với Pháp Phật mà thôi, chưa đặng về với Giác Chân con đường giải thoát.

Thượng Tọa lặng lẽ, nhìn lớp lớp yên lặng thọ trì. Ngài nói tiếp: Đó là bốn bộ nhiếp thâu đồng hòa tỏ ngộ. Còn lại bốn bộ dung thông phá tan chướng ngại như Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục đến tu đạt Trí Tuệ Thiền Định.

Trí tuệ Thiền Định là một trí tuệ dung thông trùm khắp, chưa bao giờ có bộ óc địa phương thọ ngã riêng tư cho mình, thật biết thương mình cùng thương khắp thế gian xuất thế gian không còn chướng đối dị biệt, trí tuệ Thiền Định là một trí tuệ hướng thượng, trải khắp Tam Thiên đồng với Như Lai thề nguyện sự. Rất hiếm bậc làm đặng, đang còn thiếu khuyết tài trí. Pháp Thí và Vô Uý Thí nơi phẩm bố thí mà ra.

Trì giới đối với bậc Thiền Định đã từng tu Bát Nhã Ba La Mật Đa thời thịnh trọng quả vị, quan trọng Trí Tuệ và Đạo Hạnh chính mình, nên chi có hai điểm mà bậc trì giới nên làm ngoài hai điểm này chớ nên làm, thế nào là hai điểm nên làm? Một là thọ pháp lãnh hội lời khai thị nên làm. Hai nữa mặc nhiên không nói năng giải nói cho những kẻ thọ ngã, để bao quảng an nhiên quả vị chớ nên phá giới của những bậc củng cố đang trì giới thủ giới tu hành.

Tinh tấn kèm theo nhẫn nhục mới có Trí Tuệ căn bản sáng soi dung thông cùng khắp Thiền Định gọi là Định Tuệ.

Bằng tu thiền cốt phát sanh trí tuệ, chẳng bao giờ trí tuệ, dù cho có trí tuệ nơi thiền chăng vẫn là tập khởi, loạn sanh đảo điên, điên đảo theo hoài vọng, mộng tưởng gọi nó là trí tuệ chưa hẳn trí tuệ căn bản giải thoát nên nhớ lấy. Nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới hoặc bố thí củng cố thảy đều là bố thí, trì giới tinh tấn, nhẫn nhục tu cầu pháp môn phước báo chớ chưa phải là chốn đến Chân Tôn Giải Thoát. Các ông hãy thực hiện Ba La Mật Đa lìa nơi chỗ tu, đến nơi quả vị.

Khi bấy giờ hàng hàng lớp lớp thảy đều xưng tán, thảy đều nói năng bày tỏ những gì đã tu, những điểm nào sai biệt của từng lớp, từng thứ vị tu chứng mà chưa bao giờ từ bỏ, nay mới nhận chân đồng nói lên:

Bạch Thượng Tọa Thiền Sư. Từ lúc nay chúng con ngỡ là nghiệp, tưởng là vô minh nào ngờ chúng con chưa chịu thực hiện tu hành các pháp môn ấn chứng của Phật, miệng chúng con đọc tụng Tín Hạnh Nguyện mà chưa hẳn là tín hạnh nguyện, ý chúng con nói Bi Trí Dũng, Giới Định Tuệ mà ngơ ngẩn chưa thi hành đúng với con đường Chí Tôn hướng dẫn, đa phần tưởng niệm, đa số đào sâu các pháp, hóa giải nghi chấp đưa đến chỗ chấp nghi tâm sanh đồ chúng. Hôm nay thượng sư khai thị chúng con trực ngộ mới hay, trên con đường tu tập, tất cả pháp môn thảy đều nhiếp thu, cho đến Đạo Tràng nghiêm túc, thảy đều là phẩm trợ đạo, mới gọi tu là phương tiện giải thoát. Bằng mãi tu, mãi tập, mãi hành, mãi lý, mãi sự mà chưa thực hành Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa cốt thâm nhập về với chốn độ chúng sanh làm sao tận thành Phật Đạo, hiện giờ chúng con mới thật rõ lời Phật Nguyện khai hoang rằng: Độ hết chúng sanh Ta mới nhập Niết Bàn. Bằng còn mỗi một chúng sanh thề chưa nhập Niết Bàn.

Các hàng vừa dứt tiếng, thời hàng Bồ Tát Ma Ha Tát xưng tán, hay thay cao quý thay. Chư Phật khéo hướng dẫn, Thượng Toạ Đại Sư khéo khai hoang con đường Ba La Mật Đa thâu gồm tất cả các pháp môn trở về với Tận Độ chúng sanh. Chính ba la mật đa là mạch lạc trơn liền trăm sông trở về biển giác, chính thực hiện toàn diện pháp môn là biết công dụng Bảo Pháp giải tỏa tất cả căn bệnh mê lầm sạch sẽ trơn liền, đời này và đời sau, nên nương theo lời khai hoang trực chỉ này mà sở đắc.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1985,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

9. TRÍ HOÁ LÀ CHÚNG SANH VỌNG TƯỞNG ĐIÊN ĐẢO

Trí hóa là chúng sanh vọng tưởng điên đảo. Sống theo cuộc sống đảo điên. Phật đạo nói từ nơi khởi điểm rằng: Trùng trùng duyên khởi diệt sanh, sanh diệt.

Trí hóa là một nguồn phát huy, từ nơi thân mạng con người, nói chung lại là nguồn phát triển chung khắp vũ trụ Tam Thiên Thế Giới, nó nâng cao đời sống nhân loại trưởng thành khôn ngoan linh động trong các ngành như khoa học kỹ thuật, các nghề nghiệp, các bác sĩ, kỹ sư, cho đến Bác học trong thế kỷ hai mươi này đang nhìn thấy, trên nguồn hiện sanh của thế giới không ngoài Trí Hóa mà ra.

Trí Hóa hiện sinh chưa hẳn con người học hỏi mà nó phát huy mạnh, nó do nơi Thiền Sư đầu não riêng của mỗi người mà phát huy mỗi lối, có hàng bá thiên vạn người liền có bá thiên vạn trí hóa, nó khắc khe thay Đồng với Bất Đồng là một hiện tượng khó phân tách ra được.

Phần Trí Hóa đối với Nhân sinh, Thiên sanh, Tiên hóa chung khắp vũ trụ Tam Thiên là một điểm chính của Tứ Loài, thành thử vũ trụ tam thiên phải bị sống nhị nguyên phân đối sướng khổ khác nhau, được mất có không chưa bao giờ thoải mái. Vì sao? Vì Trí Hóa nó lại tùy thuộc bản chất của mỗi con người phát sanh trí hóa, dù cho Bác sĩ, Kỹ sư, Bác học cho đến tầng lớp không ngoài Tứ Đồ là điều khó giải. Tứ Đồ là đạo đức hay phi đạo đức. Hung cường hay Mưu Sĩ Đồng mà khó giải. Phật đạo cho Trí Hóa chính nguồn Điên Đảo hóa nên mới nói: Tất cả hư vọng đảo điên.

Do đó nên chi con người bước vào con đường đạo Phật, trước tiên hỷ xả tất cả các sự việc trong thân tâm mình, dọn cho sạch sẽ trí hóa, Nhất Tâm đảnh lễ chiêm ngưỡng lễ bái Phật, nương theo ngôi Tam Bảo tu hành theo đạo lý và giáo lý làm nền tảng Cải Hóa Giải Nghiệp.

Những bậc tu hành, các bậc tu hành tùy theo tín ngưỡng, tùy trọng lượng bản năng đường hướng suy tưởng mà phát hiện trí hóa chia ra nhiều lớp mà tu hành, cho nên cùng một quyển kinh, một lời Phật dạy mà nơi hiểu biết khác nhau trong con đường tu tập, nguyên do trí hóa quan niệm của mỗi vị xuất phát từ nơi thân mạng.

Khi Sở Đắc Không Còn Phải Dùng Trí Nữa. Vì sao? Vì trí tuệ vị trí trong căn bản trí hóa, thuộc về tư tưởng phát sanh, Phật Đạo gọi là bản ngã giả tướng.

Lúc bấy giờ Thượng Tọa Thiền Sư nhập Chánh định, ngay trên chiếc chõng ngoài vòng trời, mây ngưng gió vừa thoang thoảng, gồm tất cả ánh quang rạng sáng bên ngoài thị hiện Long Xa, Càng Cát, Bửu Châu, Lọng Phướng pha lẫn nhạc Trời, Chư Thiên tề tựu, hàng hộ pháp chỉnh tề, Chư Bồ Tát đủ mặt, trong hàng Bồ Tát Ma Ha Tát cận kề lãnh giáo, Chư Bồ Tát, Hộ Pháp thọ trì phụng giáo, ngoài ra có hàng chưa bao giờ nghe đặng, nay đặng nghe, thêm vào đó có bậc nương theo công đức để mà nghe, xưng tán sự khai thị vào con đường Nhất Tôn tu tập, đồng nhau ứng trực, đồng nhau nhất tâm tu cầu giải thoát.

Thượng tọa an nhiên, phóng Cửu Quang từ đỉnh đầu, lần lượt Cữu Quang tỏa khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, vũ trụ rồng người, hàng hàng lớp lớp rải hoa chào đón lời khai hoang trực chỉ. Xong đâu đấy Ngài thâu hồi Cửu Quang đồng hóa Thường Tịch Quang. Ngài ngồi an tọa, nhìn khắp các hàng đang ứng trực thỉnh giáo. Thượng Tọa Thiền Sư xuất định từ Thường Tịch Quang công bố:

Nầy tất cả Thượng Sanh Vương Giả Chư Thiên Tam Giới đến các hàng Bồ Tát tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo, cho đến các hàng hàng lớp lớp Hộ Pháp thọ trì, Chư Tiên hưởng phước, kể cả phàm phu nhân thế, đến Càng Cát Long Xa dù cho có dũng mãnh trang nghiêm hay cứu độ tận độ muôn ngàn thế giới thọ lãnh bảo châu chăng vẫn chưa bao giờ hay biết vạn lối độ sanh như thế nào ứng dụng, chưa bao giờ hay đặng Chư Phật đã làm gì, chúng sanh cầu báo nó ra sao mà đi vào con đường giải thoát độ sanh giai thành Phật Đạo.

Nầy tất cả Vương Giả cùng Chư Bồ Tát lớp lớp hàng hàng Hộ Pháp, Hộ Pháp Bồ Tát, trước khi Ta công bố hữu lợi cho các ông, ích lợi cho các vị đời nầy đến đời sau khỏi còn nhọc sức tốn công Chư Phật, làm sáng tỏ lối đi cho tất cả những bậc tín tâm tu cầu giải thoát. Ta đã trang nghiêm sử dụng hạnh, nghiêm túc ngôn, phổ thỉnh Chư Phật mười phương, nêu rõ lời khai hoang lưu lại thời nầy cùng thời sau, làm cho tất cả rõ biết, rõ thấu rõ tận chính thân tâm mình phải có bổn phận tự độ lấy mình gọi là Độ Sanh, ngoài ra nhiệm vụ của Chư Phật, cương vị Phật có khai hoang vạch lối, để cho các bậc tu đạt, thấu đạt, tận đạt lời khai thị trực ngôn mà giác ngộ.

Thật cao quý thay lời công bố của Thượng Sư Ngài trực chỉ khai hoang. Các bậc tu hành, phải tỏ ngộ chính bản thân mình phải bồi dưỡng chuyên chính lo tận độ chúng sanh, chớ Tam Tạng Kinh Điển chỉ khai thị là trọng trách Chư Phật đang làm cùng đã làm, nay các bậc tu cầu giải thoát, rất cần giải thoát chúng sanh chưa giải thoát thời bậc tu lần theo vết chân để giải thoát căn nghiệp, cấu nghiệp, giải thoát vô minh.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1985,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.