44. Ấn Chỉ III: Đồng Hoá Nhân Sinh, Dưới Sự Nhận Định Bất Đồng

“Bàn về sự nhận định, phần nhiều hay bất đồng tự sanh khắc biệt, do lẽ ấy rất hiếm có sự đồng đặng hóa ra tri kỷ. Tại sao có những sự nhận định thường bất đồng như thế? –Vì nơi nhận định nó phải tùy thuộc vào trình độ đồng nhau, tùy theo hoàn cảnh tương sanh giai cấp chẳng dị biệt. Nếu như đa số Nhân Sinh thuộc với nhau một trình độ hoặc giả đã từng chung sống nhau một hoàn cảnh tương tự hòa hiệp cùng nhau, liền trưởng thành một khối. Bằng mỗi một con người riêng định tự nhận lấy mình, thì thuộc về nhân cách nhận định.” –T.V.

Người thế gian khi nghe thấy khác ý mình liền chướng, do cá nhân cá tánh sinh chướng đối. Đó chính là thường tình. Học làm Thánh phải biết hướng thượng lại biết nương vào vạn pháp để cầu lấy giải thoát. Phải tập khi nghe thấy khác ý liền hỷ xả, xem xét những chướng đối bộc phát từ trong thân mạng mình mà kiềm chế, ngự chế.

Nếu cùng trình độ cầu Giác, cùng hoàn cảnh gay cấn phải quyết tâm hỷ xả để không chướng đối. Chừng đó đồng ứng với bậc Thánh Tăng liền được đồng hóa theo bậc đó sẽ có lợi vô kể.

DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH BẤT ĐỒNG.

“Bởi duyên như thế Phật Đạo mới phân định thành Bốn Lối nhận định trở thành dị chủng bất đồng. Lối thứ nhất là Nhân Sanh Trí. Lối thứ hai là Tiên Thần Trí. Lối thứ ba Là Bồ Tát Trí. Lối thứ tư là Phật Trí.” –T.V.

Do có sự bất đồng nên Phật Đạo phân định thành bốn trí:

- Nhân Sanh Trí: Còn gọi là chúng sanh trí, đã là chúng sanh phải có hình tướng, có sắc mới thấy biết. Không có hình tướng chúng sanh không thấy biết.

- Tiên Thần Trí: Sống nhờ tư tưởng, lại công dụng Định Tưởng để luyện thần thông. Quan sát vũ trụ cùng dùng Định Tưởng thu nhận Tinh Khí Thần để nuôi thân sống lâu lại xa lánh chốn phàm phu, đó là sự sai lầm. – Thiên Trí dùng uy quyền làm lẽ sống thường bậc này thông minh.

- Bồ Tát Trí: Hạnh nguyện thâm nhập tất cả pháp giới như Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí để cầu Đại Trí. Tận độ chúng sanh tánh được linh động, tâm trí tinh hoa biết hành dụng vạn pháp sau biết diệu dụng thông đạt Như Lai Tạng đặng chứng tri Phật Trí.

- Phật Trí: Chỉ có Chư Phật mới giải tận tường mà thôi. Vì hành dụng nên hàng Bồ Tát sống chung với chúng sanh không bị nhiễm nên gọi gần phàm không mất Thánh Ý, lại có Đại Trí tùy thuận cứu độ chúng sanh giờ phút trước giờ phút sau linh động không hề có bị biết, không y kinh nhưng chẳng ly kinh nên lúc nào dụng Trí đều đúng. Hàng Bồ Tát Trí lúc nào cũng niệm niệm cổi giải tâm mắc miếu trước hoàn cảnh để hiện giác. Đó là đường đi duy nhất.

“Khi bậc đoạt đến Vô Thượng Chánh Giác thành Phật thì từ lời nói, đến cử chỉ thảy đều Diệu Dụng, thảy đều Diệu Pháp Liên Hoa Phật Trí. Bậc này từ nơi Phật Trí quán xuyến tổng trì soi khắp từ hàng Bồ Tát cho đến hàng Nhị Thừa A La Hán, Bích Chi cùng Thinh Văn, Duyên Giác đến Phàm Phu Nhân Thế. Bậc Phật Trí có thể soi từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài vì bậc này thật tỏ rõ tất cả Chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát nên đắc Phật Quả triệt thấu tất cả từng thứ lớp của các hàng nhận định thọ chấp ra sao, chánh báo thọ báo của nó như thế nào không còn vướng đọng nên hoàn toàn giải thoát.” –T.V.

Bồ Tát Di Lạc đã Hạ Lai thời Mạt Pháp này đoạt Diệu Quả Vô Thượng thành Phật nên phải dụng Hữu-Tướng, Phi-Tướng thuộc Pháp Tịnh, Bất-Tịnh dung thông cốt đánh thức tánh tình của tất cả Chân Tử đúng thời điểm 1975 xã hội Việt Nam đang hỗn loạn, thế giới cũng lo thế chiến. Ngài dùng Phật Trí quán xét thấy biết Như Lai Tạng cũng đang vận chuyển hỗn loạn. Đây là lúc đúng thời điểm dụng Phi Tướng để đoạt Phật Quả.

Với Đức Tăng Chủ, Ngài đã được Tứ Chúng kính ái, chiêm ngưỡng thế mà Ngài vứt bỏ quyết thực hiện lìa Ngã, Ngã Sở. Từ lời nói đến hành động ân ái với vợ bé cốt yếu phô diễn cho tất cả bậc tu theo Ngài nghe, thấy tổng quát hoặc chi tiết tùy bậc tin sâu, tin cạn làm cho họ không chướng bằng sự. Đến lúc nhận được là Hoa Pháp Tánh đã Diệu liền tỏ “DIỆU PHÁP LIÊN HOA” sống động thực tế trong đời chứ không còn tụng đọc cầu xin van vái mà mắt không thấy tai không nghe Diệu Pháp Liên Hoa. Bậc Chánh Giác tùy thời có Phật Trí nhìn được Như Lai Tạng mà vận chuyển để mở Diệu Pháp Liên Hoa mới đoạt Phật Quả.

Ngài nhìn tận tường Như Lai Nhãn Tạng soi khắp, thấu đáo tất cả bậc tu. Có bậc thích thú hoan hỷ vẫn theo Ngài, hộ trì khi diễn cảnh hỗn loạn đến với Ngài. Có bậc hướng thượng đứng yên, có bậc thấy khó chịu nhưng vẫn tin theo, có bậc bất đồng bỏ đi không tin, có bậc chống đối cho là chuyện súc sanh bậy bạ. Từ đó Ngài phân định và triệt thấu lớp lớp nên bậc này được ở gần, bậc này phải có pháp mới được đến, có bậc không cho nghe thấy, hoặc không được gặp Ngài. Ngài tận tường lớp lớp chúng sanh giới, Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh, Bồ Tát Hạnh đến Phật Quả tức Diệu Quả Bồ Đề.

“Nói đến các Nhân Sinh từ dưới soi tỏ lên trên thật khó khăn vô kể, phải nương vào công đức của Như Lai, nhờ công đức ấy mới lần soi tỏ tánh, lần bước giải mê, chớ đương nhiên nhận định chỉ trích bừa bãi gọi là: Phật Làm Phàm Phê. Cho nên Phật nói, Các ông cũng nên biết: Nhân Sinh không thể nào soi biết đặng Tiên Thần Trí, Tiên Thần không thể hiểu đặng các bậc Nhị Thừa A La Hán, Bích Chi, Thinh Văn, Duyên Giác Trí. Hàng Nhị Thừa không thể nào soi hiểu Bồ Tát Trí. Bồ Tát không bao giờ biết đặng chư Phật, phải thi hành hạnh nguyện cầu lấy Chánh Tri thành Phật.” –T.V.

Chúng sanh không thể nào biết được việc làm của Tiên Thần Trí. Tiên Thần không thể nào hiểu đặng trí của hàng Nhị Thừa A La Hán - Bích Chi - Thinh Văn - Duyên Giác. Hàng Nhị Thừa không thể nào hiểu được Bồ Tát Trí. Bồ Tát không thể biết được Phật Trí. Thật khó khăn vô kể. Đó là căn bệnh truyền kiếp.

Vì vậy, do mê lầm mà bậc dưới thường chỉ trích, phê phán việc làm của Bồ Tát cùng chư Phật gọi là Phật làm phàm phê. Hỷ xả để hồi hướng công đức Như Lai, chướng đối không còn nghi chấp lướt qua được đến lúc đầy đủ bỗng trực giác được thoát khỏi Nhân Sanh Trí. Do đó Ngài đã khai con đường Giác Trí cho bậc tu thời Mạt Pháp nhưng rất ít bậc nhận lãnh được. Đa số phê bình, chỉ trích nên không tỏ rõ lối tu giải thoát là thế nào.

“Sự nhận định bất đồng là do trình độ hiểu biết chưa rốt ráo, khi hiểu biết chưa tường tận rốt ráo thường hay thủ chấp. Lúc đã tường tận hiểu biết đến thật tỏ rõ gọi là Giác, bậc Giác thường rõ ràng từng căn cơ, từng trình độ, từng ý mong muốn của con người, của Tiên Thần cùng các hàng tu chứng hoặc chưa đến mức tu chứng nơi Lục Đạo. Bậc Diệu Dụng Phật Trí minh xác tường tận, không khác mấy vị Đại Lương Y thật biết tính dược các món thuốc, lại thật rõ ràng chứng bệnh của các con bệnh mà chữa trị, nên chi bậc này đứng trước Nhân Sanh hay A La Hán đến Tiên Thần bất luận cấp bậc nào trình độ chi vẫn làm cho họ khỏi khắc biệt được vui vẻ an lành đồng đẳng, bậc này lại tùy theo thời cơ tùy thuận tất cả ý chí Chúng Sanh Giới mà Thị Hiện từ cử chỉ đến ngôn ngữ đồng hợp, đồng hóa Chúng Sanh, bậc đã thực hành như thế cử chỉ như vậy đều là Diệu Dụng.” –T.V.

Bậc Chánh Giác nhìn chung thời Mạt Pháp này, đến nay là năm 2539 năm Phật Lịch trong Long Hoa hội Chư Tổ, Chư Hộ Pháp thời quá khứ đã qui tụ về đầy đủ, căn tánh cầu đạo nhiệt thành nên phải trắc nghiệm mới phân định được thực hư.

Ngài liền diệu dụng nghịch hành, tất cả tứ chúng đều ngỡ ngàng hiện rõ sự tu hành chọn thanh bỏ thô, chọn sạch bỏ dơ, chọn tiếng thơm khen tặng, tránh chê bai, bác bỏ. Hầu hết chín phần mười bậc tu trong Long Hoa đều ưa thích Tịnh bỏ Bất Tịnh trở thành Tịnh Biệt truyền kiếp, không tiến đến con đường Chư Bồ Tát được.

Dần dần từ cử chỉ, lời thuyết giảng Ngài lựa từng căn bệnh nghi chấp của số chân tử tín tâm mà thị hiện làm cho họ tỉnh trí, sau nhận được mới phát sinh trí tuệ mà tỏ thông Tri Kiến Phật, có bậc Phật Tri Kiến đến Chánh Giác. Ngài diệu dụng nghịch hành làm cho nhân sinh ở Nha Trang hầu hết chê bai, cho là tà đạo, còn số ít chân tử Ngài vẫn theo hộ trì. Họ đã thực hiện không chấp, không chướng khi đối cảnh diễn hỗn loạn.

Ngài nhận thấy trình độ chúng sanh là phải vậy không hơn được. Nếu có chúng sanh nào không chấp, không chướng liền đồng Chư Tổ, Chư Hộ Pháp thời xưa. Nhưng trình độ Nhân Sanh Trí khó tìm được vị nào có tâm từ, hỷ xả vui vẻ với các bậc trong đạo tràng.

“Tất cả sự nhận định bất đồng, chính là một vấn đề khó khăn làm cho hợp hóa. Có thể nói những bậc tu hành chưa sở đắc Bản Thể Tâm rốt ráo tỷ mỉ tường tận, tỷ như thời Đức Phật còn tại thế, Chư Bồ Tát được sự nuôi dưỡng chỉ dạy của Ngài, Chư Bồ Tát vẫn bị lầm lẫn nhận định đúng sai sai đúng, lúc bấy giờ có ngài Duy Ma thị hiện trưởng giả hóa giải chấp mê thì thử hỏi thời này là thời Lạc Pháp mấy ai nhận định đúng đắn?”
–T.V.

Ngài ra đời trong thời Lạc Pháp cốt yếu khai đạo nâng bậc tu cao hơn con người, nếu tánh bị nhiễm độc lại tự cao tự mãn còn thua con người hiền lành thời làm sao gỡ độc nhiễm để cao hơn Nhân Sanh Trí. Ngài phải tạo pháp nghịch hành, phô bày cho bậc tu nương theo vết chân Bồ Tát biết hướng thượng thực tiễn diễn cảnh trước mắt làm cho tâm chí chúng sanh biết cần phải sửa tánh, biết điều ngự tánh, đặng giải nghiệp nặng nề về sau trưởng thành sở đắc Bản Thể Tâm.

Bậc bất đồng chướng đối việc diệu dụng của Ngài làm cho không đồng hợp nên vô cùng khó đồng hóa trưởng thành Thánh Nhân, Thánh Thiên. Tứ chúng thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng y tâm trạng bất đồng nên 1250 vị chỉ có sở đắc 10 vị Tôn Giả và vài Bồ Tát tại thế được chứng minh.

“Vì nơi nhận định bất đồng sai biệt nên bậc Chánh Giác nói ra kẻ mê lầm nào hiểu, cho nên kẻ mê lầm phải tu trì tạo công đức thi hành Lục Ba La Mật có công năng mới lãnh hội đặng lời nói của Phật một phần nào, do lẽ khó nghe, khó hiểu nên chi Phật nói: Chúng Sanh Chưa Bao Giờ Xem Kinh. Lời nói trên như thế, trái lại Chúng Sanh Nhân Trí đã từng đọc tụng thuộc kinh thật vi diệu thay. Nói đến sự nghe lầm nhận như: Thời Đức Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Tạng sang Trung Quốc gặp vua Lương Võ Đế, nhà vua thì Nhân Trí nên công nhận mình là vua. Còn Tổ thời Phật Trí biết thật rõ nếu nhà vua cầu Đạo. Ngài khai thị sở đắc tùy theo mức độ mà thọ lãnh thành Phật hay Bồ Tát cùng A La Hán chẳng hạn, do hai lối nhận định thành thử bất đồng khác biệt nhau.” –T.V.

Như đã trình bày phần trước (vua Lương Võ Đế và Tổ Bồ Đề) về hành sự Tổ nằm ở chữ Không, còn về lý ở Nhứt Thừa nên lời nói của Tổ vua không hiểu phải sinh ra bất đồng. Khi bậc tu dù lâu đời vẫn còn thấy nghịch sinh chướng, liền có bất đồng, sai biệt không hiểu việc làm của chư Phật nên còn mê lầm. Phải tu sửa tánh tạo công đức, thi hành Lục Ba La Mật Đa, đến thời có đủ công năng không còn đối chướng mới nhận lãnh một phần lời dạy của chư Phật. Bậc không tu sửa, bất đồng chướng đối còn dẫy đầy, dù có đọc tụng thiên vạn quyển kinh, Phật vẫn bảo chưa bao giờ xem kinh là như thế.

“Nhà vua mới hỏi: Ông biết tôi là ai chăng?

Tổ trả lời: Không. Làm cho nhà vua chẳng tin Tổ là Phật khi chưa nhận định được thời nơi tưởng niệm chẳng còn, nhưng nhà vua hỏi tiếp: Thưa Ngài tôi xây dựng trên bốn vạn tám ngàn (48.000) Chùa Tháp để cho tất cả Tăng Ni trong nước tu hành có công đức chăng?

Tổ trả lời: Không. Vua Lương Võ Đế bất bình, Tổ phải ẩn danh quay mặt vào vách chín năm không truyền đạo.

Tại sao Tổ Đạt Ma Trả lời không công đức? Vì đối với Nhất Tôn Phật Thừa chính mình phải tu, tự nơi mình tạo công đức mới là Công Đức. Bằng xây cất Chùa Tháp để cho tất cả tu hành, chính mình chưa lấy một ngày tu chưa phải Công Đức, chỉ tu cầu Phước Nhân Thiên nên Tổ trả lời Không.” –T.V.

Tâm chí sẵn có, vua tin Tổ là Phật nhưng khi gặp câu trả lời Đốn Giáo của Tổ, vua không nhận định được, từ đó tư tưởng không còn tin Tổ là Phật nữa nên phát sinh chướng đối bất đồng. Sự bất đồng thời nào cũng sẵn có ở chúng sanh, nhất là bậc tu cầu Phước Báo Nhân Thiên, khó lãnh hội được chân lý Nhứt Thừa.

“Sự Diệu Dụng của Chư Phật đối với bậc Sơ Trụ Bồ Tát cũng khó hiểu đặng làm sao hàng Nhị Thừa đến Nhân Trí biết đặng. Nên Đức Bổn Sư Ngài thường nhập Chánh Định, Ngài biết tỉ mỉ các hàng Bồ Tát cùng trình độ các Tín Chúng đang suy nghĩ mỗi bậc một lý lẽ, mỗi người nhận định mỗi khác nhau, có từng người nhận định như thế này cho mình là đúng. Có bậc nhận định như thế nọ cùng thế kia hoặc thế khác, thảy đều đúng đắn với công năng khả năng của thứ bậc họ.” –T.V.

Chư Phật chỉ có một thừa duy nhứt là Tối Thượng Thừa, một pháp môn duy nhất là Vô Thượng Chánh Giác nhưng chư vị Bồ Tát cùng A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác, Thinh Văn, Tiên Thần, cho đến chúng sanh mỗi lớp, mỗi bậc tu có một nhận định khác nhau, nên có lý lẽ tu khác nhau. Đức Bổn Sư biết tỷ mỉ nên tùy trường hợp Ngài khai thị mỗi lớp một phương tiện trở thành Đại Phương Tiện khai ngộ cho Tứ Chúng.

Thời Hạ lai này cũng vậy. Đức Long Hoa Tăng Chủ cũng tường tận lớp lớp trong Tứ Chúng cùng chúng sanh. Ngài dụng đủ phương tiện khai thị cho chẳng thiếu sót trong 37 năm. Có bậc căn cơ sâu dày nhận lãnh được Chân Lý thi hành thấu đạt, cũng lắm bậc nghe xong để đó trở thành Lý không Sự, nhiều bậc nói giỏi mà thi hành thì thất bại do nghiệp lực không qua nổi.

“Ngài bèn nói: Các ông nên biết, ngày nay các ông nhận định như thế này là đúng, thì nơi chỗ đúng ấy nó thuộc về ngày nay, chớ chưa phải ngày mai nó đúng. Đến mai kia mốt nọ, nó vẫn đúng nhưng nó đúng với mai kia mốt nọ chớ chưa hẳn đúng hoàn toàn với Chân Giác. Do đó, các ông phải tu tập lần qua rất nhiều giai đoạn, rất lắm bờ ngăn đoạt đến toàn diện rốt ráo Phật Trí nhận định chân thật đúng đắn.” –T.V.

Thời Đức Bổn Sư, Ngài khai mở Chân Lý cho Tứ Chúng áp dụng tu hành, đến nay 2500 Phật Lịch chân lý ấy vẫn đúng, nhưng Đại Phương Tiện áp dụng cho thời Hạ Lai này phải đổi mới. Vì sao? Vì Như Lai Tạng chuyển mình trong thời đại văn minh khoa học quá mức. Bậc Chánh Giác như Đức Di Lạc Tôn Phật đã có Như Lai Nhãn Tạng nên thấy phải đến lúc làm cho tất cả nhận được Hoa Pháp Tánh hỗn loạn phô diễn để Giác Ngộ, làm cho tất cả nhận định được cái đúng ngày hôm qua chưa phải ngày hôm nay nó đúng. Từ đó trực giác được không còn bị biết mới đi đến viên dung sở đắc hoàn toàn đến Chánh Giác.

Do đó Ngài chuyển mình cho Tăng Ni Pháp Tạng theo Cư Nhân Hạnh cho đúng Như Lai Tạng trổ hình. Đã Cư Nhân Hạnh thì gia đình phải có bối cảnh hỗn loạn, Hoa Pháp Tánh trổ để bậc tu hóa giải, Ngài nương theo chỉ đạo bậc tín tâm đến Chân Tôn. Những bậc không tin, nghi chấp, chướng đối không theo kịp ngón tay Ngài chỉ Như Lai Tạng chuyển mình đều bị đứng yên, coi như bị thi rớt dù ở trong Long Hoa Hội.

“Kể theo câu chuyện dưới đây để biết đặng sự nhận định Phật Trí Chánh Giác, rất khó khăn vô kể, chỉ có đầy đủ công năng tu tập mới nhận định đặng lý thú kỳ diệu, bằng dùng Nhân Trí không thể nào rõ đặng. Có vị Thiền Sư tu đoạt Chánh Giác Phật Trí quan sát trùm khắp biết tỏ rõ, nhận định đúng đắn các hàng tu chứng thứ lớp, Thiền Sư tự nghĩ thật khó khăn làm thể nào cho họ nhận định đúng đắn đồng nhau cốt hóa giải lầm lẫn nơi họ làm cho họ đặng Chánh Giác.

"Khi bấy giờ Thiền Sư thường tĩnh tọa an lành các pháp làm nơi an dưỡng quốc chờ ngày nhập Bát Đại Niết Bàn vì thật biết thời này chưa phải là thời hóa độ nhiều. Vì Sao? Vì chúng sanh đang sinh sống gặp phải thời an lành thích hợp, nên khó tu, khó có bậc phát tâm tu cầu Giải Thoát, chờ đến thời Đông Độ chúng sanh nhiều ý nghĩ, nhiều tham vọng nghiệp cấu vạn pháp linh động Hành Dụng Như Lai chuyển mình, mới có thể hóa sanh đồng độ, vì duyên trên nên Thiền Sư tận dụng hư không an dưỡng quốc.” –T.V.

Tâm sự của Thiền Sư tu đoạt Chánh Giác Phật Trí cũng thấy quá khó làm cho chúng sanh nhận được thế nào là Chân Pháp đặng hóa giải cho họ hết lầm lẫn. Phải chờ cơ hội đến lúc Hành Dụng Như Lai chuyển mình, các pháp động loạn, chúng sanh gặp lúc cuộc sống khó khăn mới nảy sanh tham muốn, lúc này mới dụng pháp đồng độ được, làm cho chúng sanh Giác Ngộ, vì khi chúng sanh còn cuộc sống sung túc, xã hội an lành không ai nghĩ đến việc tu cầu Giác Ngộ.

“Một hôm có vị văn hào đã từng nghiên cứu kinh điển thành thật thiết tha tu tập tìm tòi Chân Lý đến bái kiến Thiền Sư thưa gởi: Kính thưa Thiền Sư, mong Thiền Sư chỉ dạy Đến Rõ, Biết Rõ Chân Giác Chánh Giác thưa gởi xong đứng lại một bên. Thiền Sư mỉm cười đáp: Ông cứ tu cứ tìm, bây giờ Ta nói ông liền chửi Ta.
Nói xong Thiền Sư tĩnh tọa, vị văn hào ra về, đến 20 năm về sau, nhà văn hào tu tĩnh tọa vừa nâng chung trà liền đánh rơi, tiếng khua chung trà Trực Giác. Nhà văn hào đứng lên quay mặt về phía Thiền Sư đảnh lễ, thật vi diệu, thực khó nhận, nếu nhận được Trực Giác thời chẳng có chi bằng.” –TV

“...Ông cứ tu, cứ tìm, bây giờ Ta nói ông liền chửi Ta...”

Vậy cầu Chánh Giác có đặc điểm gì mà khi khai cho bậc cầu đạo phải chửi lại? Thật ra Bậc Chánh Giác hành thực tiễn cho Bậc Tín Tâm nhận được Vô Ngã, Vô Sở Hữu.

Vô Ngã: Tỷ như bậc Chánh Giác đánh đuổi ông ra khỏi đường tu, khai trừ ông ra khỏi đạo chúng. Nếu ông còn cái TA hư dối ắt không chịu nổi liền chửi lại...

Vô Sở Hữu: Người đời ai cũng say mê giữ gìn ba thứ: Vật chất - danh vọng - tình yêu. Những thứ đó ai cũng lo xây đắp bảo vệ. Nếu là tâm chí chúng sanh vào tu cầu Giác Ngộ, Bậc Thiện Tri Thức giỏi như đại lương y sẽ Diệu Dụng nghịch pháp một trong ba thứ. Nếu hoan hỷ hướng thượng, ông sẽ Giác Ngộ đến Liễu Ngộ.

– Nếu cầu Chánh Giác, ông được Bậc Thiện Tri Thức diệu dụng bất tịnh cả ba. Nếu hướng thượng, tận độ chúng sanh tánh ông sẽ Chánh Giác. Phải sự sự chớ không nói lý.

Thiền Sư không mở cho văn hào vì vị này chưa đủ TIN VÂNG KÍNH. Thứ hai vị này tu: học, nghiên cứu, chớ không tu sửa tánh nên không thể khai mở được. Nếu mất danh dự văn hào sẽ chửi lại do không tu sửa tánh nên mở cho rất nguy hại. Gặp bậc có chức quyền còn có thể giết hại Bậc Thiện Tri Thức Chánh Giác nữa. Chỉ có Đốn mới Ngộ. Có Đốn mới Nghi. Giải Nghi sẽ Ngộ.

  Không nghi không ngộ.

  Tiểu nghi tiểu ngộ.

  Đại nghi đại ngộ.

Bậc cầu Giác Ngộ phải nhẫn nhục, nhẫn nhịn, nhẫn nại cốt điều ngự chúng sanh tánh trở thành Điều Ngự Trượng Phu mới sạch chúng sanh tánh. Kẻ ngu xuẩn thấy chân tử cầu Chánh Giác bị khai trừ do diệu dụng vội vui mừng chê bai. Kẻ xuẩn này tu vô lượng kiếp cũng uổng phí công tu mà thôi. Cũng chẳng khác kẻ vào tu, lại không chịu tu lại đi ĐÒI NỢ Bậc Chánh Giác ban cho Phước Báo Nhân Thiên để hưởng sung sướng.

Chính vì vậy mà nhà văn hào phải lần theo vết chân của học trò Thiền Sư sau về lo tu sửa tánh, tự tánh tỏ tánh nương vạn pháp thực hiện dung thông. Đến lúc sung mãn công đức cúng dường Như Lai, công năng xuất thế mới trực ngộ khi đánh rơi chén trà. Lúc đó đã 20 năm dài! Thiền Sư tuổi già không còn ở thế gian nữa. Nhà văn hào hối hận vì không còn Bậc Chánh Giác để đảnh lễ tri ân nên quay về hướng Bậc Chánh Giác thi lễ tạ ơn về sự giác ngộ của mình.

Nếu nhà văn hào đừng chấp cái học, sinh ngã mạn, không háo danh, vô sở hữu thì chỉ một lời khai thị của Bậc Chánh Giác liền Giác Ngộ, chớ đâu phải đợi đến 20 năm sau.

Đương Thời Hạ Lai Mạt Pháp nầy: “Tất cả nhân sinh tứ loài lạc lối tu hành, thất chân truyền bảo pháp, làm cho chưa biết nhận định đường lối để tu, cho nên tu theo nhu cầu ý muốn đem lý trí Nhân Sinh khảo cứu với bộ óc Nhân Trí huyễn hóa, thêm vào đó sự ước mơ thèm khát, càng mong tìm con đường Tri Kiến Giải Thoát bao nhiêu càng thọ ngã bấy nhiêu, chỉ vì thời Cấu Tạo phát sanh tư tưởng quá nhiều trở thành Lý Chướng, Sự Chướng. Do đó, mà ưa thích tu học những pháp môn nào Không Tu Mà Chứng, chưa thực hành, chẳng thực tu mà mong mỏi thâm nhập vi diệu Chánh Giác, hiếm bậc lần nơi Chơn Tánh để tu, có bậc tu nơi chơn tánh lại chưa tu Tận Giác. Kể từ hàng Phật Tử đến các nhà tu Tiên thảy đều bị vướng víu sống nơi kỳ ảo mộng mị sưu tầm, chưa mấy bậc đã từng nương vào Diệu Dụng, Hành Dụng cốt thâm nhập Pháp Giới. Vì vậy cho nên đem lời Chánh Giác Phật dạy đặt trong vọng đảo Nhân Sanh Trí mong mỏi Phật ra đời theo lòng ham muốn.” –T.V.

Đối với Đức Long Hoa Tăng Chủ, Bậc Vô Thượng Chân Tôn đương thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Ngài đã chứng kiến tường tận số đông tu lạc pháp chưa nhận định đúng đường lối tu Giác Ngộ, thịnh hành nhất tu theo ý muốn ưa thích. Nếu bậc nào có tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát lại vương mang nghiệp cái Ta thọ ngã quá lớn.

Chư Bồ Tát Chư Phật có tâm đến gần chỉnh trang cho tu sửa không sao cứu độ được. Đâu đâu cũng nặng sắc tướng âm thanh, cầu vái van xin, không hề chú tâm tu sửa trở thành tu nơi kỳ vọng, ảo tưởng trong chiêm bao.

Sự Diệu Dụng của Ngài cốt chờ một Tăng Ni đến cũng không có. Có số mong chờ Long Hoa, Đức Di Lạc ra đời theo quan niệm của riêng mình trong lúc Ngài đã thị hiện ở Nha Trang bằng xương bằng thịt như tất cả con người đang sống.

Đức Bổn Sư, Ngài đã tường tận thời Mạt Pháp chúng sanh dự đoán bằng Nhục Nhãn Nhân Trí, xem kinh chấp tự, nương tựa theo cuồng vọng mê tín, do như thế mà căn cơ thấp kém, không khác nào Nồi Đất Mỏng, nên Ngài nói:

"Y kinh diễn nghĩa, tam thế phật oan.
Ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết"

Hai câu trên ám chỉ lời kinh chính lời Chánh Giác không thể dùng tướng văn tự mà hiểu đặng, duy chỉ tự giác, giác tha mới nhận định được thôi, hoặc Hạnh Nguyện Hành Dụng mà thọ lãnh, vì nó như thế nên chi đọc tụng thuộc kinh liền bị biết, khó lãnh hội Phật Trí.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký Đức Di Lạc năm 2500 Phật Lịch Hạ Lai tận độ chúng sanh, có nghĩa là Đức Bổn Sư đã biết tường tận thời Ha Lai Mạt Pháp không còn thực tu, thực chứng mà chỉ y kinh học, nghiên cứu rồi chấp từng chữ tán rộng ra cho là cao đạo.

Lại lấy con mắt thường để xem xét, suy đoán có tướng mới thấy, không tướng không thấy nên Ngài căn dặn chư Bồ Tát thời Hạ Lai phải nương chìu theo cái mê của chúng sanh mà lần tháo gỡ, đừng chỉ thẳng họ oán bỏ đi chẳng khác nồi đất mỏng đụng mạnh sẽ vỡ tan. Vậy chỉ thẳng cái gì mới có trực giác không còn y kinh? Bậc thấy biết chỉ tật xấu, tánh độc của chúng sanh ngay trong cuộc sống, chỗ ở, chỗ làm việc chung đụng với mọi giới từng ngày để tháo gỡ độc nhiễm. Một ngày nào sạch sẽ bỗng Trực Giác thấy biết không còn lầm.

Đã Trực Giác đâu còn y kinh, lời Trực Giác toàn là bộ kinh Nghe Thấy Biết trong thế gian, ngoài thế gian khắp trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới nên đâu có ly kinh Phật. Đúng lúc, đúng vị trí viên dung làm tỏ rõ tất cả thì đâu còn ly kinh mà bộ kinh tự giác xuất ra khác ý thế gian hay nghịch hành đều đúng, vì cốt tháo gỡ độc nhiễm của chúng sanh nên nó phải như vậy thôi. Ai chê tức bị bê trễ.

“Đức Phật Ngài khéo thuyết đạo, Ngài tinh vi đưa cho chúng sanh cùng Tín Chúng tri đạo. Ngài thương tứ loài không khác người mẹ thương con vừa mới thoát thai ba tháng. Ngài phân tách tu Tự Giác cùng với tu Bị Giác. Ngài nói nếu các ông tu bị giác dù cho các ông có thành Phật chăng nữa cũng thành Phật với Định Tưởng Tướng Phật mà thành. Ngài chỉ nói trên mặt quyển kinh với nhan đề là Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh. Có nghĩa là tu đến Phật Trí Chánh Giác mới là Phật. Bằng tu thuộc kinh sau thành Phật chăng nữa vẫn là Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh, thật là lời Diệu Dụng quá ư tỷ mỉ, quá vi diệu của đấng Chí Tôn lo nghĩ chúng sanh từng tỷ mỉ.” –T.V.

Như đã trình bày ở phần trước, nhiều bậc tu bị lầm lẫn dùng Định Tưởng lại cho mình là Phật bị ở Phật Giới vô số kiếp khi bậc tu thọ chấp thật khó gỡ. Còn nghe một câu kinh hay đọc quyển kinh sau ngộ là ngộ kinh. Kinh là Đại Phương Tiện Phật lưu lại để thi hành tự giác nếu ngộ kinh thì hãy báo ân kinh là Phật. Chứ Phật thật khai thị sau Trực Giác không bị vướng trong giác giả thuyết học thuyết.

“Khó khăn thay: Nhân Sanh lạc pháp lầm lẫn chân truyền do kẻ kỳ ảo háo danh dục lợi dụng lý trí nhân sanh phổ truyền Đạo Phật, bằng tư cách ngồi yên dự đoán, chớ chẳng thành thật cùng thiết tha cầu đạo, giải mê phá chấp, lìa Ngã cốt đoạt đến Phật Trí.

Ta còn nhớ: Thời Đức Bổn Sư thành Phật. Danh hiệu Ngài BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. Tứ chúng Tin Vâng với tư cách Đức Thầy, chớ chưa hẳn Tin Vâng với bậc Tối Thượng Chánh Giác Sư Bổn nên Phật nói: Các ông tin Ta làm bậc Tôn Sư, nếu Ta thực chất là vị Tôn Sư của các ông, thời các ông liền Tri Kiến Giải Thoát. Vì sao? Vì trong thân của các ông có đến hàng ngàn hàng vạn, đồng với hàng trăm ông Tôn Sư, do lẽ ấy ngăn cản các ông nên nơi Tin Vâng chưa hẳng Nhất Tâm đảnh lễ thành Phật. Lời dạy của Đức Bổn Sư đủ cho Tín Chúng hiểu thời Chánh Pháp có Phật vẫn còn như thế. Tứ Chúng thời ấy vẫn nhận định sai biệt, nhận định trên hình sắc Thái Tử Tất Đạt Đa hoặc tập quán chủ quán là Thầy như thói thường ngày nay vậy.” –T.V.

Đối với chân lý chỉ biết nhận cùng chưa biết nhận. Nếu biết nhận thì sự nghe thấy biết được viên thông chân lý. Ngài thường khai thị: Nhất Ngôn Tri Kiến Phật. Bậc tu chỉ cần bỏ tạp nhập sẽ có lúc Trực Giác Nhất Tâm. Nếu đầy tham vọng, thích vọng bậc tu bị vô minh dù cả đời có nghe Ngài khai thông biết bao nhiêu lần, vẫn không nhận lãnh được.

Tham vọng, thích vọng chính là nghiệp thức phiên diễn hàng vạn, hàng vô số nó làm thầy của ta khiến ta sống trong vô minh với nó vô số kiếp. Thật tự thấy vô minh quá khó. Duy nhất đủ công đức mới gặp Chư Phật, Chư Bồ Tát thị hiện phá vô minh cho.

“Nhược bằng đương thời hạ Lai Lạc Pháp nầy: Tâm chí tất cả thảy đều tu cầu Tri Kiến, tu cầu Giải Thoát, nếu ai va chạm đến cá nhân cá tánh liền bất mãn bỏ tu, hai nữa có hy vọng thời Mạt Pháp Phật ra đời. Di Lạc Tôn Phật hiện thế, trên hình thức Long Hoa Khai Đạo. Từ nơi tâm chí cá nhân cá tánh kia làm sao nhận định được, cho nên nếu có trường hợp nào gặp đặng Ngài hay đang ở tại Long Hoa tu tập thì làm sao nhận định đặng Ngài? Khi nhận định chưa đặng thì Đức Tin yếu kém, Đức Tin kém thời công năng cũng sa sút, làm thế nào nhận lãnh thấy biết đặng? Khi chưa thấy biết Nhất Tôn được, thời chưa bao giờ Giác Ngộ.” –T.V.

Người thế gian hy vọng Long Hoa ra đời theo sự ưa thích kỳ lạ. Nếu gặp đặng Long Hoa cho họ tu sửa theo vết chân chư Tổ đã đi, họ sẽ chán ngán. Do lối tu này không giống cá nhân cá tánh của chúng sanh nên không nhận định được pháp môn Tri Kiến Giải Thoát. Đã không nhận định được chân lý ắt không nhận ra được Đức Di Lạc Tôn Phật đang khai đạo cho họ. Khi không thấy biết con đường tu Giác Ngộ là như thế nào thì kiếp nào cũng vậy dù có gặp vị Phật kế cũng không cứu độ được.

“Dưới sự nhận định bất đồng của Nhân Sanh Trí đối với chư Phật chẳng biết bao công trình Diệu Dụng, cứ chúng sanh đa bệnh bao nhiêu thì Phật phải đa dụng bấy nhiêu, chừng nào chúng sanh hết bệnh thì Phật mới hết dụng. Do nó như thế nên chư Phật hiện thế gánh chịu chẳng biết bao nhiêu chua chát đắng cay từng giây từng phút. Nhất là thời kỳ Mạt Pháp Hạ Lai này nếu Đức Đại Lực Tôn Phật thị hiện thời chưa có bút mực nào kể cho hết đặng sự gánh chịu cho Nhân Loài Tứ Chúng. Chỉ vì Phật Tử lạc lõng đảo điên hư vọng mới có như thế.”
–T.V.

Chúng sanh không biết Diệu Dụng của Chư Phật thường sanh bất đồng. Cứ mỗi căn bệnh tập nhiễm thì Phật phải có Diệu Dụng. Khi chúng sanh hết nhiễm Giác Ngộ, Phật hết Diệu Dụng.

Chúng sanh bị nhiễm ái Phật phải Dụng ái tháo gỡ cho hết ái nhiễm. Do đó việc thực hiện phi tướng cốt độ chúng sanh thoát sinh ái nhiễm thường bị chống đối. Chư Phật phải gánh chịu chẳng biết bao nhiêu việc làm độc hại, từng phút từng giây nhận cay đắng nguyền rủa của chúng sanh, Chân Phật Tử. Chỉ vì chúng sanh, Chân Tử đảo điên, hư vọng mới phản đối như thế.

Tỷ như bác sĩ giải phẩu ung nhọt cho đứa trẻ. Nó không biết lại la, hò hét phản đối bác sĩ. Khi hết bệnh lớn lên nó mới biết sự sai lầm của mình. Chúng sanh mê lầm dùng Nhân Sinh Trí phản đối chư Phật cứu độ cũng vậy, không khác đứa trẻ nhỏ kia.

Sự diệu dụng phi tướng của Ngài ở Nha Trang làm ồn ào chúng sanh chê bai, nguyền rủa từng giây phút không ngừng. Mục đích khai mở Hoa Pháp Tánh còn gọi Long Hoa để trị tâm bệnh mà đào tạo Thánh Chúng. Thật sự Hạ Lai này chỉ có Ngài mới ở trong lửa mà vẫn diệu dụng cứu độ sự mê lầm của chúng sanh.

“Hiện nay các Phật Tử cùng bậc tín tâm hãy nhận định lý chân trên hai trường hợp có Đức Tôn Phật đã Hạ Sanh nhưng đang còn ẨN như sau:

Trường hợp thứ nhất: Ngài xuất gia làm vị Hòa Thượng, làm vị Đại Đức hay Thượng Tọa.

Trường hợp thư hai: Ngài là Cư Sĩ tại gia có vợ có con cùng Tứ Chúng.” –T.V.

Không nên trông chờ kỳ lạ như Núi Thất Sơn nổ Đức Di Lạc Tôn Phật từ trong núi đi ra như vậy không hợp với như nhiên. Do kinh sấm mà nhân sinh hiểu theo lý trí mê lầm.

“Nếu Ngài xuất gia Hòa Thượng, Đại Đức hay Thượng Tọa đương thời này Ngài vẫn có Bổn Đạo Tín Đồ từng lớp từng trình độ hiểu biết khác nhau, từ tâm lý hẹp hòi đến rộng rãi khoát đạt. Nhưng vấn đề phê phán chỉ trích của Nhân Sinh Trí vẫn còn, Ngài cũng bị chỉ trích như: Ngài thế này hay thế nọ hoặc thế kia, cùng thế khác, làm như thế phải như thế, Đạo Chúng mong sao Ngài từ lối ăn đến mức ở, từ sự Diệu Dụng nơi Ngài buộc Ngài phải làm y theo lý trí của Nhân Sanh Trí, mới bằng lòng tán thán, nếu trái ý với ý thức đương sanh nghi ngờ mê chấp. Rất hiếm bậc Tin Vâng từng theo lời chỉ dạy cốt lìa Ngã, Ngã Sở để tu trì chuyên đạt đến Chân Trí Phật Trí. Đứng trước trường hợp diễn cảnh mà Đức Ngài đã chịu biết bao cay đắng chát chua, chỉ vì nhận định chưa đồng nên mới có những điểm như vậy.” –T.V.

Nếu Ngài xuất gia mà muốn tận độ chúng sanh thì phải diệu dụng hữu tướng phi tướng thế nào cũng bị Phật Tử do mê lầm chỉ trích phê phán. Họ muốn Ngài phải nói năng, hành sự giống theo cái Ngã và Ngã Sở của họ mới được. Khi đã diệu dụng tận độ chúng sanh không sao tránh khỏi ồn ào, động loạn của người chung quanh nên Ngài phải chịu đắng cay chua chát từng lớp lớp trong từng phút từng giây vì họ không biết việc hóa độ của Phật.

“Bằng Ngài thể hiện Cư Sĩ Đồng Hóa Nhân Sinh vẫn có vợ, có con đồng với có Tín Đồ Đạo Chúng. Khi bấy giờ Tín Đồ Đạo Chúng có từng lớp người, có từng trình độ nơi hiểu biết khác nhau, nơi tâm ý chẳng đồng, có kẻ hẹp hòi, có bậc rộng rãi khoát đạt mà vấn đề phê phán chỉ trích của Nhân Sinh Trí cũng không ít, có thể nói: Ngài làm như thế này, hay thế nọ hoặc thế kia và thế khác phải làm như thế, cùng như thế, lại có phần chỉ trích phê phán còn hơn thế nữa, nào là lối ăn, mức ở, mỗi mỗi phải chịu trong mọi hình thức chê khen phỉnh báng. Về phần Ngài: Từ Diệu Dụng đưa Nhân Loại đến nơi chốn Đạo Đời Hợp Nhất khó nói khó giải, duy chỉ có Ngài biết thôi. Nhưng buộc lòng Ngài phải hứng chịu sự ràng buộc của Nhân Sinh Tứ Loài, chỉ lý trí của tất cả Nhân Sinh nó như thế.” –T.V.

Hiện kiếp này Ngài hiện Cư Sĩ dạy đạo chủ yếu đồng hóa Đạo và Đời cho nhân sinh nhận được chân lý. Ngài có vợ và sáu người con. Nếp sống cũng như bao gia đình, cũng có vui buồn, sướng khổ, giận hờn yêu thương. Vợ con cũng ồn ào và yên ổn. Cũng đòi hỏi nhu cầu cuộc sống.

Tứ Chúng trong Đạo có nhiều lớp nhiều trình độ khắc biệt chê, chống đối, phỉnh báng cho là phàm tục như bao gia đình khác. Mắt trần thấy, tai nghe đều chướng đối. Đạo hạnh là quả vị của Thánh Hiền ai cũng ưa thích Thanh, gia đình con cái có lúc lộn xộn vốn như nhiên, gia đình nào cũng một thể cách không khác. Đa số bậc tu không nhận được, đã vào theo chân lý mà còn nghi chấp bỏ đạo tất nhiều.

“Ngoài Đạo Chúng Tín Đồ còn về Con và Vợ. Con thì tự trách Cha sự đòi hỏi khờ dại, nơi mộng tưởng đua tranh nên thường nói: Cha tôi phải lo cho chúng tôi như thế này, như thế nọ hay thế kia, thật ra khó diễn tả hết, ai là kẻ đã từng sống giữa thời Hạ Lai mới thông cảm nổi, bằng thanh bình thịnh vượng chưa nhận định được thời Mạt Pháp Con Đối Với Cha, Vợ Đối Với Chồng. Về phần vợ thì lại nặng vào gia đình, do lẽ ấy nên Ngài phải qua rất nhiều trở lực quá đáng, phải chịu những gì khi bà vợ nổi lôi phong bối diễn.” –T.V.

Bên ngoài Tứ Chúng trong Đạo cùng Nhân Sinh thấy dị biệt sanh bất đồng. Bên trong gia đình con cái đòi hỏi nhu cầu ham muốn theo thời thế. Nhưng làm Đạo thì tiền và vật chất có rất hạn chế không thỏa mãn đủ cung cấp cho con nên Ngài cũng bị phiền trách, khó kể hết bối cảnh gia đình.

Còn phần bà vợ thương con cũng muốn con mình có đủ như những gia đình khác, cũng đứng về phía con nên Ngài cũng phải trải qua rất nhiều trận bà vợ nổi lôi phong. Còn những trận nổi lôi phong rối loạn do bà vợ ghen tuông, bất chợt Chân Phật Tử gần xa về thăm Ngài bắt gặp, thấy diễn cảnh kỳ lạ liền nghi chấp, gặp bạn bè đồng tu kể lại đồng bỏ đi biền biệt. Chỉ còn một Bồ Tát và ba Tôn Giả số còn lại thấy bối cảnh trốn hết. Có số ít sau trời êm biển lặng thỉnh thoảng ghé về. Chân Tử các tỉnh không bao giờ thấy việc này, số nghe được còn theo tu nay là Hộ Pháp ở các tỉnh thị hội Pháp Tạng tức Long Hoa Hội.

Xuất gia ở chùa thật khoẻ, tu hành yên yên tịnh tịnh. Thế mới biết Đức Bổn Sư thọ ký Đức Di Lạc Hạ Lai Đồng Độ, mở màng cho chúng sanh, cho bậc tu đủ lớp lớp, đủ trình độ.

“Ngoài gia cảnh còn có Thế Nhân viễn ảo mộng tưởng, sự nhận định Phật Đạo khắc biệt, nên thường xảy ra các Tôn Giáo cạnh tranh, các lối tu mâu thuẫn phê bình chỉ trích nhau quá kể, chính thật Phật Nơi Tự Tánh Không Tu, lại tu trong mộng tưởng đảo điên của thời lạc pháp. Chỉ vì Ngã, Ngã Sở mà có như thế.

Đối với ba đời Phật cùng các chư Phật đến mỗi một vị Phật hiện thế, lời nói như Ngài là duy nhất không hai, nhưng có ba phương thức khác nhau sự kết quả chu toàn nó sẽ về một. Thế nào gọi là: Ba phương thức khác nhau? Thứ nhất lời Ấn Chứng Phật nói. Thứ hai phương tiện Phật nói. Thứ ba tùy thuận Phật nói.” –T.V.

Đây là tâm sự của Ngài trong chuyến Hạ Lai thời Mạt Pháp đã chứng kiến sự tu hành của tất cả Nhân Sanh Trí. Đối với ba đời Phật, lời nào cũng là lời Chánh Giác nhưng có bậc tu tin tuyệt đối, có bậc tu tin vừa, có bậc tin nhưng rất dễ nghi chấp bỏ tu nên chư Phật mới có ba phương thức nói:

–Thứ nhất lời Ấn Chứng Phật nói: Có nghĩa chỉ thẳng, nói thẳng sự mê lầm của bậc đang tu. Hàng Đại Bồ Tát, Bồ Tát, hàng Thánh nghe liền tán thán thi hành.

–Thứ hai phương tiện Phật nói: Có nghĩa nếu nói thẳng, chỉ thẳng vô minh thì bậc tu sẽ bỏ đi nên chỉ quanh co sau đến chỉ thẳng như Hàng Tiên Thần Trí, Chúng Sanh Trí.

–Thứ ba tùy thuận Phật nói: Bậc trí tuệ lung lạc, không vâng lời Phật, không thi hành lời Phật dạy. Tu tự ý kết quả vẫn theo ý nó muốn. Tự phá chấp tu bất tịnh không do Phật, Bồ Tát hướng dẫn nên Phật tùy thuận nói cho vừa ý cá tánh nó.

Đương thời Đức Long Hoa Tăng Chủ ra đời trong thời lạc pháp này, ngay trong Long Hoa Hội cũng có bậc tu tự ý, Ngài tùy thuận nương theo. Chưa sở đắc chân lý tự ý đi phi tướng rất nguy hại. Vì sao? Vì còn nhiễm bị vòng quanh trong lục đạo. Tu tự ý không vâng lời Ngài chỉ đạo, chỉ có tin Phật nhưng không biết việc Ngài diệu dụng, sở đắc của giả thuyết Ngài không chứng minh. Ngài bảo chứng minh là không có một phần ly ty sai chạy được mới chứng minh.

Khi ấn chỉ lời nói nơi Ngài như thế này:

"Các ông cũng nên biết. Ta là Phật đã thành, Các ông là Phật sẽ thành Chư Bồ Tát đến Đại Bồ Tát thảy đều công nhận, lời Phật nói quá đúng, khi Bồ Tát tu trì mới đoạt thấu nên nói:

Có tu mới có thành,
Chưa tu vẫn chưa thành,
Bổn lai vốn rành rành
Nhân sinh đều Phật Tánh.

Phật ấn chỉ dưới sự mê lầm của chúng sanh, Đui Điếc Ngọng Câm Ngài nói: Các ông cũng nên biết, đời nầy đến thời sau: Nếu các ông gặp Bồ Tát ra đời, hoặc Phật Hiện Thế kẻ đui liền đặng sáng. Người điếc đặng nghe. Ngọng câm biết nói. Bậc tê liệt biết đi. Ngài chỉ cho Nhân Loài thảy đều Câm Điếc Ngọng Đui Tê Liệt. Nếu không đui thời tại sao chưa nhìn thấy Phật. Chẳng điếc tai sao chưa nghe đặng lời Phật thuyết. Không câm vì sao chẳng thuyết pháp, bằng chẳng tê liệt tại sao trí tuệ chẳng suốt thông, nhập Chánh Định du hành vạn triệu cõi. Lời trên chân thật trực giác, còn Nhân Sanh Trí dùng vọng tưởng mong đợi Phật ra đời, Bồ Tát thị hiện chữa các con bệnh Đui Điếc Ngọng Câm, Tê Liệt theo lý trí hoài mong Nhân Loại tự đặt Đức Phật cùng Bồ Tát không hơn không kém với một vị Phù Thủy vậy. Đó chính lời Phật nói, ý chí phàm nghe bất đồng nó như thế.” –T.V.

Vì ảo tưởng kỳ vọng của bậc tu chờ Long Hoa bằng kinh sấm như núi Thất Sơn nổ chuyện không như nhiên, trông chờ Đức Di Lạc làm chuyện Phù Thủy, dù Ngài có hiện thần thông cũng không đem đến Chân Giác.

“Lúc dùng phương tiện Ngài nói: Ngài đã nhìn vào vọng tưởng điên đảo của Chúng Sanh, nhìn nơi tham vọng mong ước của các bậc Tín Tâm. Nếu để nó như thế nó vẫn thành như thế, nó phải sinh vào các cõi Tiên Thần, do lẽ ấy Phật mới phương tiện nói các cảnh giới và các cõi Tiên Thần đến Tịnh Độ cùng Quốc Độ Phật Quốc. Làm cho tất cả phấn khởi phát tâm tu cầu đến quả vị Phật Trí Giải Thoát.”
–T.V.

Cõi Tiên Thần người thế gian mơ ước cho là sung sướng. Các cõi này vẫn còn sanh tử, tuổi thọ có hạn đến lúc già vẫn chết. Chỉ con đường giải quyết sanh tử luân hồi của Chư Phật mới bất tử. Đó là nơi an lạc nhất.

“Phật lại tùy thuận mà nói: Sự tùy thuận nơi Ngài không làm tổn thương Đạo Phật, chẳng làm mất Công Quả của các bậc đang tu, không phương hại đến Công Đức. Nếu có bậc xuất gia vào hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di tu trì thời gian lâu mau chẳng hạn, có Trí Tuệ hoặc giả chưa có Trí Tuệ đầy đủ. Nhưng tánh tình lung lạc, đạo hạnh khó gìn giữ phạm nhiều giới luật, làm cho tất cả Tứ Chúng phê chỉ rất nhiều, lúc bấy giờ Phật tùy thuận nói: Các ông chớ nên nói đến bậc này hoặc bậc kia cùng bậc nọ. Những bậc ấy thảy đều tu trì nơi Hạnh Nguyện. Có bậc hiện thân tu trì nguyện độ Súc Sanh, có bậc tu hành nguyện độ Ngạ Quỷ, có bậc tu trì nguyện độ Địa Ngục, có bậc tu hành nguyện làm Quỷ Dạ Xoa làm Càng Cát nên chỉ có những hạnh như thế làm như vậy. Đó chính lời Thiện Xảo mà Phật nói đến hậu quả vẫn y như thế. Qua thời nầy các tín tâm tu hành phá chấp hay dùng lối này để tu lối bất tịnh, tu theo sự Kiến Dục, chỉ vì Nhân Trí tham vọng mơ màng trên lý thuyết mà nó phải như thế.”
–T.V.

Trong tứ chúng Pháp Tạng, những chân tử tu công năng công đức còn yếu kém, họ tin Ngài nhưng không làm theo lời dạy do thiếu Vâng. Ngài biết Bổn Lai mỗi vị liền Diệu Dụng, tất cả đều ưa thích ái kính Ngài. Cả trăm bậc tu thiếu vâng lời, tự ý nào có hay biết, vì Ngài biết không làm gì hóa cải đố tật tập nhiễm của họ nên làm cho họ an trụ thích thú còn hơn. Vì vậy vị nào cũng thấy Ngài thương mình thứ nhất. Phật tùy thuận nói trình độ họ không sao hiểu biết nổi.

Có một bậc tu theo Ngài tự xưng Hoan Lạc và xưng Phật, Ngài tùy thuận làm họ thích thú nhưng quyết định không được Chứng Minh văn bảng dù là hàng Hộ Pháp cũng không có được.

Hàng Tôn Giả vị nào cũng tùy công năng công đức Ngài giao nhiệm vụ giúp đỡ hàng Hộ Pháp. Hàng Bồ Tát điều hành mối đạo thừa hành lệnh Ngài thật nghiêm túc –Vị xưng Phật, Ngài diệu dụng gạt ra vòng ngoài, đứng lơ lửng trong đạo không hề nhận một nhiệm vụ gì vì thọ ngã không gỡ được.

Gặp Phật ra đời mà biết nhận định tu cho đoạt chân lý cũng thật khó. Chỉ một sơ sót liền bị rớt vì tự giác phải cao độ mới ở gần Ngài, được Ngài dạy tỷ mỉ chẳng thiếu sót. Do quá khứ tu lung lạc bị thọ nhiễm đến thời Hạ Lai Mạt Pháp này pháp tánh không biến đổi được. Thật uổng phí một kiếp gặp Phật Chánh Giác.

“Đối với Chư Phật ba thời (Quá Khứ, Hiện Tại, Vị Lai) cùng các Đức Phật nếu có Vị Phật Hiện Thể chứng minh tận độ chúng sanh, thời vị ấy trước tiên phải tùy theo thời như: Thời Thượng Kiếp, Trung Kiếp, Hạ Kiếp của chúng sanh mà Thị Hiện, lại tùy theo căn cơ lòng hoài vọng mà Hành Dụng đến khi chúng sanh nhận chân ít nhiều mới Diệu Dụng cốt hóa độ chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát.”
–T.V.

Thời Trung Kiếp Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khai đạo, xã hội thời này chưa phát triển văn minh khoa học hiện đại tánh tình chúng sanh dễ ngộ nhập Phật Pháp.

Đến thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Đức Long Hoa Tăng chủ nhìn thấy xã hội phát triển theo khoa học hiện đại quá mức, trình độ chúng sanh cũng bộc phát theo nên Ngài diệu dụng phi tướng cốt yếu đưa chúng sanh vào sâu Chân Lý cho kịp xã hội hiện đại, phá tan nghi chấp, chấp thủ dừng trụ đứng yên, từ đó chúng sanh nhận được sự họp hóa vạn pháp của Như Lai Tạng đang chuyển mình, nếu theo kịp sẽ sở đắc Như Lai Nhãn Tạng sau đến Trực Giác mà ngộ nhập con đường Tri Kiến Giải Thoát.

“Về Phật Trí nơi Phật, lại thường soi khắp ba thời hóa giải thành một. Là quán xuyến quá khứ Chư Phật đã thi hành, hôm nay Đức Phật phải làm, đồng chỉ dạy chư Bồ Tát rõ để làm. Lại diễn giải trong thời hiện tại tỏ rõ, hóa giải các ngăn chấp ngăn ngại để lướt qua từng lớp lớp nghi chấp, trí tuệ tăng trưởng tỏ tánh Trực Giác. Ngài tùy theo thứ lớp công dụng Đốn Tiệm tương song, làm cho tất cả Tứ Chúng hợp căn cơ, hợp trí tuệ đạo hạnh đoạt đến Phật Trí.”
–T.V.

Ba thời là thời Thượng Kiếp, thời Trung Kiếp và thời Hạ Kiếp soi khắp để hóa độ Tứ Chúng tu đến Giác Ngộ. Hóa giải ngăn chấp, ngăn ngại không thể ngồi nói mà được phải diệu dụng phi tướng trong thời này cho ngăn chấp, cho ngăn ngại sau nhờ hỷ xả đầy đủ bỗng Trực Giác xóa sạch ngăn chấp, ngăn ngại. Tùy theo trình độ Tứ Chúng Ngài dùng Đốn cho Ngộ sau dùng Tiệm Giáo lập lại Đạo Hạnh cho tương song đoạt Chánh Giác.

Thật khó khăn vô kể, nếu tự tu không sao hết ngăn chấp, ngăn ngại nên không bao giờ Trực Giác để có Trí Tuệ tiến dần đến Bồ Tát Trí.

“Lại vạch rõ cho Tứ Chúng nhận chân, tu như thế nào Chánh Báo, tu như thế nào Thọ Báo, Ngài dặn dò tỷ mỉ lưu lại đời Vị Lai để các bậc tu hành đời sau khỏi sai lạc trở thành Tam Tạng Kinh Điển ngày nay.

Phật lại Ấn Chứng Thọ Ký cho Vị Đại Bồ Tát Nhứt Sanh Bổn Xứ thành Phật để hoàn toàn Ba Thời Đồng Nhất, toàn diện rốt ráo Như Như gọi là Không Hai Tướng. Phật thường nói : Phật Diệu Dụng duy chỉ có Phật mới biết Phật mà thôi, cho nên giai đoạn Phật chỉ dạy cho Tứ Chúng Phật Diệu Dụng ba phương thức diễn nói, để cho Nhân Sanh nhận định đặng, chính ra Phật chỉ Ấn Quyết một phương thức khai thị, chớ chẳng có ba phương chi cả. Phật Trí soi khắp trong ba thời hóa giải duy nhất, mỗi một thời thọ ký chớ không có ba thời như trên đã nói.” –T.V.

• Tu Chánh Báo: Tu sửa có tự tánh tỏ tánh, đến hóa giải, vận chuyển vạn pháp. Viên dung đoạt Chánh Báo.

• Tu Thọ Báo: Không tu sửa, tu theo ý muốn, tu định tưởng tướng Phật bị thọ báo Tiên Thần. Tu không thấy không biết vô minh dễ sa ba đường ác bị thọ báo A Tu La, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục.

Vô Minh không phải dễ thấy, dễ tháo gỡ nó. Duy có Chư Phật, Chư Bồ Tát mới chỉ được rõ Vô Minh mà thôi. Vô Minh thấy cạn sâu tùy theo công năng công đức. Thời Hạ Lai Mạt Pháp cả đời lắm bậc tu chưa thấy một pháp Vô Minh, trong lúc Vô Minh nhiều như đám rừng! Nói giỏi viết hay nhưng không nhận diện được Bổn Lai của Vô Minh tu uổng phí thời gian. Vậy học giỏi Phật Pháp để làm gì? Thấy Vô Minh, phá Vô Minh mới sạch Chúng Sanh Tánh, chờ bậc Chánh Giác khai mở Trực Giác mới có ngày Giác Ngộ.

“Nên chi khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, ấn chứng thọ ký Di Lạc Tôn Phật thành Phật, lúc bấy giờ nơi hội trường tất cả thảy đều nhận định hai tướng nhận định ba thời (Quá Khứ, Vị Lai, Hiện Tại) Đức Di Lạc thành Phật. Liền sau khi đó Đức Duy Ma Cật, Ngài là một vị Cổ Phật, thật biết sự nhận định sai lầm của Tứ Chúng hội trường làm mất lời vàng của Đức Chí Tôn nên chi Ngài hỏi Bồ Tát Di Lạc? - Ngài Di Lạc, Đức Thế Tôn thọ ký cho Ngài một đời sẽ được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thành Phật, đó là đời nào Ngài đặng thọ ký? Nếu đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng?

Quá khứ thì quá khứ đã qua, bằng vị lai thời vị lai chưa đến còn hiện tại thì hiện tại không dừng, chính lời hỏi của Duy Ma, chỉ vào ba thời đồng nhất thọ ký Không Hai Tướng, ba phương thức lời của Phật thảy đều Khai Thị Chứng Tri Phật Trí.” –T.V.

Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật quyết định thọ ký đức Di Lạc Tôn Phật, lúc bấy giờ nơi hội trường Tứ Chúng đều lấy hai tướng Sanh và Diệt để nhận định. Dù cho bậc tu gặp Phật Chánh Giác mà chưa giác ngộ thì Quá Khứ, Vị Lai, Hiện Tại ba thời đều lấy tướng tương đối để nhận định Đức Di Lạc Tôn Phật đều lầm lẫn.

Vị Cổ Phật Duy Ma biết được sự nhận định sai lầm của Tứ Chúng chưa nhận định được sự thọ ký tuyệt mỹ này chính là chỉ thẳng Pháp Vô Sanh Tam Thừa. Ngài Duy Ma liền hỏi, Bồ Tát Di Lạc giải Bí Tạng này.

Quá khứ thì quá khứ đã qua, bằng vị lai thời vị lai chưa đến còn hiện tại thì hiện tại không dừng. Vậy thời nào mà Bồ Tát Di Lạc được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?

Đến nay thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc giải Bí Tạng như vầy:

Ba thời đồng nhất có nghĩa: Từ vô thỉ vô chung Phật Quả Vô Thượng vốn sẵn có nơi chúng sanh tại tu chưa đủ công năng công đức, chưa trực hiện chớ đâu phải chờ 2500 năm sau mới đoạt được. Khi Trực Giác liền nhận được sự Khai Thị của Đức Bổn Sư: Phật quả vốn ba thời đều sẵn có. Nó đồng Nhất Tướng, không hề có hai tướng, là chơn tâm thanh tịnh viên dung, chung cùng vô thỉ vô chung, thường còn bất biến.

Ngày 24 tháng 12 âm lịch năm Nhâm Thân, tức năm 1992, tôi đại diện Tứ Chúng Pháp Tạng tổ chức đại lễ kỷ niệm ngày Đản Sinh thứ 75 và cũng là kỷ niệm mùa Hồi Sinh hy hữu của Đức Vô Thượng Tôn Long Hoa Tăng Chủ.

Hồi Sinh có nghĩa Bậc Chánh Giác như Ngài đã tận thành việc phân thân Tứ Đại, muốn ở thế gian hay lúc đã nhập Bát Đại Niết Bàn mà muốn hiện thân bất cứ nơi nào đều tùy ý dùng thân Tam Muội thị hiện như lúc còn sống tại thế gian.

Ngài đã tận dụng Đại Phương Tiện ngay cả nhập tận diệt định tận độ chúng sanh thật thậm thâm vi diệu, thật kín nhiệm mà Nhân Sanh Trí cùng Tứ Chúng trong Long Hoa chẳng ai hay biết. Ngài nhớ lại lời Đức Bổn Sư, thời Hạ Kiếp ông phải thị hiện bệnh Thần Kinh để Tận Độ chúng sinh mới Hồi Sinh.

Sau đại lễ Vị Cổ Phật Duy Ma liền thị hiện gặp Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc tại tịnh thất ở Nha Trang. Ngài Duy Ma hỏi:

- Nghe nói ông đoạt quả Vô Thượng vậy ông để nó ở đâu?

- Đức Di Lạc: Tôi để nó ở chỗ đó.

- Ngài Duy Ma vừa cười vừa nói: Hay, Hay, thật tuyệt, danh bất hư truyền. Rồi Ngài Duy Ma cười đi ra khỏi tịnh thất.

“Để nó ở chỗ đó” trong Long Hoa Hội không ai giải được Mật Tạng này, thực tế duy chỉ có Mục Kiền Liên Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát giải sạch được cho cả Ngài Xá Lợi Phất và các Tôn Giả, Hộ Pháp ở vòng Trung Ương. Họ vui thích, hoan hỷ bảo chưa từng nghe nay được nghe.

“Dưới sự nhận định bất đồng có từ ngàn xưa chớ chẳng phải thời Mạt Pháp nầy mới có, từ Nhân Sanh trí cho đến Phật Trí vốn sẵn nơi Mê và Ngộ, khi mà trí mê mong làm thế nào đoạt đến ngộ trí cũng chưa đặng. Đến lúc ngộ trí muốn trở thành trí mê cũng chưa xong, duy chỉ có tu hành vượt qua tất cả Trí Giới đoạt đến Giác Chân rốt ráo thành Phật mới đặng mà thôi.” –T.V.

Thực tế bậc tu vượt qua giới vô cùng khó, kỳ Hạ Lai thời Mạt Pháp này hiện diện đầy đủ chư Tổ thời quá khứ, cho thấy không vị nào vào giới tự vượt khỏi giới nổi, giỏi lắm chỉ tu tự tánh tỏ tánh. Tỏ giới còn hóa giải, vận chuyển qua khỏi giới rất hiếm hoi. Nó thuộc quả tu chứng, quá ư khó! Chỉ bậc tín tâm nào thành thật tâm, thiết tha tâm còn phải có đủ trí tuệ hộ trì vết chân Ngài đi trên đường Chánh Quả mới được cơ hội khai thị, dắt dẫn, tháo gỡ pháp giới cho thôi.

Kinh điển của Ngài đang còn nghi bút:

Thiên môn đâu suất tọa
Hạ lai vô thượng tôn.

Đức Bổn Sư thọ ký Di Lạc Tôn Phật thời Đương Lai Hạ Sanh. Dưới cây Long Thọ đoạt Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khai hội LONG HOA nhiếp độ các Tiên Thần tận độ Chúng Sanh thành Phật có Kinh Sấm lại nói:

Thất Sơn bảy ngọn núi dài,
Chừng nào vang nổ Vương Đài khai hoa
Từ nơi kinh điển lời vàng của Đức Phật, từ các Sấm Kinh dụng tưởng tương sanh phối hợp làm cho tất cả cố công tu hành chờ ngày Khai Hội. Thật cao quý thay! Thật đáng quý mến thay! Các Phật Tử quyết tâm cầu đạo hao công tốn của chẳng biết bao nhiêu. Nhưng đáng tiếc thay! Cầu đạo tự nơi đáy lòng mãi dùng Nhân Sanh Trí mãi dụng lối hoài mong Hai Tướng tu cầu. Nếu tu hành cầu Đạo Chánh Giác thì phải tìm Chơn Tánh để tu qua các chướng đối tâm không quái ngại sở đắc Nhãn Tịnh Nhĩ Thông mới nhìn thấy Đức Di Lạc Hiện Thế tại Việt Nam nầy.” –T.V.

Như đã trình bày, cây Long Thọ có nghĩa là hóa thân một kiếp của Đức Di Lạc. Nếu Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí tìm cây Long Thọ, chẳng lẽ cái cây này mà làm cho Ngài Chánh Giác sao?

Nay đã đến lúc Mạt Pháp Ngài mới Hạ Lai tu hành trải qua bao gian lao thử thách, bao đắng cay nơi vợ và con cùng nhân gian.

Thất Sơn bảy ngọn núi dài, ý chỉ là vợ và sáu người con cộng lại là bảy ngọn núi Hỏa diệm Sơn to lớn.

Chừng nào vang nổ Vương Đài khai hoa. Khi Ngài có vợ bé dụng phi tướng là Pháp Bất Tịnh, vợ và sáu con Ngài nổi lôi phong làm náo động, trong đạo và nhân gian ai thấy cũng cho không phải là đạo Giác Ngộ của Đức Di Lạc, không ai nhận định được Long Hoa gì mà kỳ lạ quá không giống lối tu ở đâu cả. Chỉ có số ít không chướng tiếp tục theo Ngài để được mở Bảo Pháp. Tất cả Hoa Pháp Tánh lúc này trổ cực mạnh gọi là vang nổ. Cũng là lúc điều ngự, hóa giải, vận chuyển cho ổn là Thanh Tịnh Tâm đến kết quả Đạo Vô Thượng.

Trong lúc đó Nhân Sanh Trí, Tiên Thần Trí trông chờ núi Thất Sơn ở Tỉnh Châu Đốc nổ theo Kinh Sấm làm ngăn che không cho những bậc trông chờ Long Hoa vào được với Đức Di Lạc.

Tất cả đều dùng Tưởng để hoài mong Long Hoa. Tưởng là tướng sanh diệt hai tướng tu cầu này bị chìm trong cơn mê dài của sanh tử. Trong lúc Chư Tổ, Chư Hộ Pháp, Bồ Tát quá khứ tu theo Chơn Tánh mới nhìn nhận chính Ngài khai Long Hoa Hội tại thành phố Nha Trang của nước Việt Nam.

“Vì sao? Vì Việt Nam là giống Tiên Rồng hoa Đàm nở tại Việt Nam gọi là Long Hoa Nhất Tướng đầy đủ các bậc tu Tiên, tu Thần, tu Thánh, tu Phật vốn ở trong một nước Việt Nam tạo thành LONG HOA TẬN ĐỘ. Khi nghe đặng lời nói chân thật này không hai tướng khuyên các bậc tu hành hãy hóa giải nghi chấp, dùng Tự Tánh Chơn Tánh nhận định mới tỏ rõ lời nói bất nhị, chớ vì nghe lời nói nầy mà phát sinh bộc khởi Tự Ngã xem như lời nói biện luận mà chướng đối thời rất phí một kiếp Hạ Lai khó gặp, khi có chướng đối ngăn ngại chưa phải tự ngã của các ông chướng đối ngăn ngại mà là tu trì chưa đầy đủ khả năng nghe được, đôi lúc nghe được lại vướng vấp loài Ma Ba Tuần làm cho khó gặp.” –T.V.

Năm 1976 khi diễn cảnh trong gia đình hỗn loạn, Ngài điều ngự và gánh chịu. Ngài khuyên các bậc tu trong Long Hoa cùng các bậc tu ở ngoài nên nhìn diễn cảnh hỷ xả, chớ có nghi chấp dừng trụ, nếu chấp nghi nên hóa giải vì đó là Long Hoa đưa bậc tu đến Chánh Đẳng Chánh Giác. Không nên lấy cái nhận định hai tướng sanh diệt của Tiên Thần Trí, Nhân Sanh Trí mà phỉ báng uổng một kiếp tu hành rất khó gặp đặng Long Hoa ra đời, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đang thề nguyện tháo gỡ tất cả Hoa Pháp Tánh cho chúng sanh không còn bờ ngăn.

Khi Long Hoa khai hỏa cũng có những bậc tu không chấp không chướng, nhưng trong thân mạng bị Ma Ba Tuần làm cho đứng riêng không đến với Ngài những lúc cần nghe, cần thấy hỗn loạn nên cũng chẳng biết gì tháo gỡ sâu Hoa Pháp Tánh.

“Khi nhận định đặng Việt Nam tiêu biểu cho Tiên Rồng, Hoa Đàm nở tại Việt Nam, Phật ra đời nơi đất Việt gọi là: VIỆT NAM LONG HOA NHẤT TƯỚNG trên dãy đất có đầy đủ Tôn Giáo, đầy đủ các bậc tu hành thứ lớp không thiếu sót, hội tề trang nghiêm quốc độ, thì không còn lấy một nghi, duy chỉ chính mình tự trách lấy mình chưa trọn Tin nên chưa Tròn Giác.

Còn nhận định về cây Long Thọ đồng với Đức Phật Tôn Di Lạc đều một tướng không khác mấy với Việt Nam Long Hoa vậy. Bằng nhận định Hai Tướng có cây Long Thọ có Tướng Tôn Phật Di Lạc, không lẽ cây Long Thọ đem đến cho Ngài Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay sao? Còn phần Ngài lại ấn chỉ cây Long thọ Chánh Giác hay sao? Phật Đạo thì duy nhất Chân Tôn trực giác không hai tướng mà Giác, đó chính là lời Chân Truyền Nhất Tôn vậy.” –T.V.

Đức Di Lạc Tôn Phật ra đời khai đạo ở tỉnh Khánh Hòa nước Việt Nam. Bấy giờ các Tôn Giáo khác đều có đại diện vào tu theo Pháp Tạng Phật Giáo chính là Long Hoa. Những vị nầy không hề có xa lạ mà quá khứ đã từng theo tu Đức Bổn Sư cách đây 2539 năm Phật Lịch, nay lai sanh đã có sẵn căn cơ, đủ các trình độ tu chứng Tiên, Thần, Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán, Bích Chi, Bồ Tát. Chỉ khác nay không dụng Thiên Thừa Hạnh (hạnh Xuất Gia) mà dụng Nhân Thiên Hạnh (hạnh Cư Sĩ), chủ yếu Ngài diệu dụng cho tất cả vào thấy, nghe pháp động, bất tịnh cho khỏi chướng đối, qua được quái ngại không còn quái ngại đặng Tự Tại Đại Bi Tri Kiến Giải Thoát.

Phần Ngài thực hiện Quốc Độ Trang Nghiêm Nhất Tướng. Đó là một lối tu duy nhất trực giác không hai tướng vọ vạy sanh diệt, tối sáng được về với Chân Tôn.

“Nhận định về Kinh Sấm để nói: Kinh Sấm lối nhận định thường hấp thụ NHỊ NGUYÊN, sống nơi tương đối lý tưởng thường tưởng định tưởng nên có rất nhiều lý đoán hợp thành tương sanh chấp nhận. Sống như thế, không khác nào sống trên khói thuốc lá, khi khói thuốc bốc lên, kẻ chưa biết thì chạy theo khói mà lý đoán, bậc kiến thức biết tìm lẽ sống thực thể nguyên lý vững vàng thì bậc này nương theo khói thuốc, tìm đến tận gốc thực thể điếu thuốc đồng với lửa của thuốc. Đối với Nhị Nguyên tương đối định tưởng và lý đoán chấp nhận gọi là Sống Điên Đảo chưa thực thể.” –T.V.

Đa phần tất cả bậc tu Tiên Thần Trí, Nhân Sanh Trí đều tin Kinh Sấm theo nhận định cá tánh. Nhị Nguyên là hai tướng Có-Không, Tăng-Giảm, Đúng–Sai, tức hai tướng sanh diệt, lối nhận định tương đối do ưa thích theo lý tưởng, do mơ ước thường tưởng, do ham muốn theo cá tánh gọi là Định Tưởng. Những lý đoán về Long Hoa Đức Di Lạc ra đời này chạy theo tin đồn hoài vọng không thực thể Tánh Chơn Giác.

Bằng bậc biết nương vào Kinh Sấm tự nhận định cảnh trước mắt bà vợ và sáu người con nổi lôi phong ầm ỹ gây bối diễn hỗn loạn là núi Thất Sơn nổ, liền sống thực thể theo Chơn Tánh không còn sống hoài vọng điên đảo. Chừng đó biết nhận Đức Di Lạc Tôn Phật đang đi, đang hành nguyện tận độ chúng sanh tánh và cũng chính mình nghìn năm nay mới được ở trong Long Hoa tu tập cầu Giác Ngộ Rốt Ráo./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


43. Khai-Thị sàng lọc chọn Hộ Pháp, Tôn Giả, Bồ Tát

Ngài khai đạo từ năm 1957, khai thị Phật Pháp, truyền Thiền, nương chiều tứ chúng vào tu tập đông tới 3000 Chân Tử. Sau đó bắt đầu từ năm 1974 Ngài ấn quyết mở khoa thi bằng cách dụng Hữu-Tướng cùng Phi-Tướng nghịch hành còn gọi là Pháp Tịnh cùng Bất-Tịnh.

Dần dần, đến năm 1976 toàn thể trong Long Hoa hội chân tử nào cũng biết Ngài có vợ bé là người Chân Tử trong đạo. Lúc này đã lộ rõ số Chân Tử chướng đối và nghi chấp bỏ đạo gần hết, chỉ vọn vẹn kiểm lại không quá mười (10) Chân Phật Tử.

Ngài viết Ấn Chỉ III khai thị những bậc tu và lưu lại mai sau cho hàng Bồ Tát, Tôn Giả, Hộ Pháp cần biết nhận định lý nghe quá nhiều, học quá nhiều, nghiên cứu Tam Tạng Kinh không thiếu sót nhưng phải thực hành không đối chướng, lìa chấp, tu hành theo pháp môn Vô Lượng, Vô Biên, Vô Ngã... mới mong đến bờ Chánh Giác. Luôn luôn dụng pháp ghi nhớ không được quên gọi là niệm niệm hai chữ HỶ – XẢ cho sạch sẽ mới từ Đại Thừa bước vào Nhứt Thừa được./-

Hình ảnh căn gác gỗ đường Núi-Một Nha-Trang. Sau khi Đức Ngài mở Pháp Bất Tịnh, Ngài đã ở đây với người Thị Giả trợ duyên –vợ bé– để Ngài mở khoa thi hay còn là Pháp Tri Kiến Phật cho nhân sinh thời này cũng như muôn đời sau. Ngài đã từng thốt lên "Dù Nhân Sinh có bạc đãi Ta, Ta vẫn đưa con người đi Giác Ngộ."

Hình ảnh lấy ra từ phim tư liệu Pháp Tạng năm 2009. Tình trạng căn gác gỗ vẫn còn y như ngày vào những năm 70, 80 lúc Ngài ở đó.

Cầu thang lên căn gác.

Vừa lên thấy ngay sàn gỗ.

Vách dựng bằng phên tre.

Mái tôn không có trần.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


42. Tứ Thánh

Bậc Trí Tăng biết thích quý lướt qua các trở lực, đặng cầu quả Vô Thượng. Bậc Phàm Tăng tránh né các trở lực đặng cầu quả Thanh Tịnh Tâm, đó là một điểm lầm truyền kiếp.
–Vô Sư Kinh

 Hàng Tứ Thánh gồm có:
 • Hộ Pháp, Tầng Thánh Thứ Nhất.
 • Hộ Pháp Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Hai.
 • Bồ Tát thành tựu Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Ba.
 • Bồ Tát Ma Ha Tát nương bổn nguyện nhứt sanh bổn xứ thành Phật, Tầng Thánh Thứ Tư.

• Hộ Pháp, Tầng Thánh Thứ Nhất.

“Khởi điểm ban đầu. Tâm Chí Hộ Pháp, Tín Thành Hộ Pháp, Tự Nguyện Hộ Pháp. Dù cho Hộ Pháp bằng cách nào chăng vẫn đứng nơi thứ vị Chúng Sanh Hộ Pháp.” –T.V.

Bậc Tâm Chí Hộ Pháp, Tín Thành Hộ Pháp, trải qua nhiều kiếp thông đạt Phật Pháp đến lúc tự thấy thích thú và tín thành giúp cho chúng sanh tu theo Đạo Phật. Thường những vị này chưa ý thức lìa cá tánh cá nhân. Những bậc Hộ Pháp khi gặp hoàn cảnh không nản chí, gặp lúc gay cấn gian nan tâm không thối chuyển huân tập như vậy gọi là Tự Nguyện Hộ Pháp, bậc này quyết chí lại không có gì ngăn cản được việc hành đạo giúp đời tạo đạo đức gọi là Hộ Pháp Bất Khả Tư Nghì.

Nhiều kiếp Tự Nguyện Hộ Pháp như vậy đến một kiếp nào sung mãn công đức nơi Hộ Pháp, gặp đặng Phật ra đời hay Bồ Tát Ma Ha Tát chứng minh cho mới chính thức là Hộ Pháp. Nếu chưa có kiếp nào gặp Phật chứng minh thì còn ở hàng “Chúng Sanh Hộ Pháp”. Dù có giỏi đến đâu cũng vậy.

Thế mới biết nhập thể vũ trụ tức nhập thể Như Lai Phật ở bậc Hộ Pháp không phải dễ! đối với Phật Đạo là như vậy, còn đối với đời dù có giỏi cũng phải chờ mở kỳ thi được thi đậu có cấp bằng tú tài I, tú tài II, cử nhân... mới chính thức công nhận bắt đầu vào các ngành ở Đại Học.

Vậy nếu là Hộ Pháp, Bồ Tát phải có sự chứng minh của Phật mà vị Phật này phải được chứng minh từ Như Lai Trụ tức Đức Tịnh Vương Phật.

Kỳ Hạ Lai này Đức Di Lạc Tôn Phật chứng minh lớp Hộ Pháp vòng trong Hội Thượng Long Hoa không quá 30 vị trong tổng số 3000 Chân Tử đã được ghi ở phần trước.

• Hộ Pháp Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Hai.

“Hộ Pháp Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát, hành thâm pháp giới tận độ giới sanh thực hành hạnh nguyện cúng dường Như Lai Phật, lần tiến tu hành trải qua nhiều kiếp mới tu đạt Bồ Tát tự nguyện Bát Nhã, Bồ Tát Bất Khả Tư Nghì liền mới bước sang cương vị Ma Ha Tát gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát.” –T.V.

Tuy cùng tu trong một đạo tràng có đầy đủ tín chúng, Hộ Pháp nhưng hàng Tôn Giả vẫn được nâng đỡ dạy tu theo hạnh Bồ Tát. Hàng này phải sở đắc xong một trong ba phẩm:

 – Vô Sanh Pháp Nhẫn.

 – Bình Đẳng Tánh Trí.

 – Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn.

Và phải Giác Ngộ đến Liễu Ngộ mới đủ công năng theo Hạnh Bồ Tát. Hàng Hộ Pháp Bồ Tát hằng ngày không rời tận độ chúng sanh tánh đặng thâm nhập tất cả pháp giới cốt cúng dường Như Lai Phật.

Nhiều kiếp cúng dường Như Lai Phật đầy đủ tận độ tất cả chúng sanh tánh mới tu đạt Bồ Tát, lại ý thức quyết chí tu theo Bát Nhã, phải tự nguyện tu Bất Khả Tư Nghì tỷ như Pháp Sư Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh, tỷ như đời Hạ Lai chịu sống nơi cay nghiệt, nơi không có đạo lý, đạo đức, vạn cảnh đều bế tắc như sống trong lửa ngục dần dần hóa giải tháo gỡ không còn mắc miếu được tỏ thông.

Nếu hàng Tôn Giả tránh né vạn pháp, chưa tu sạch chúng sanh tánh chưa tròn hạnh tiến lên Bồ Tát. Đến kiếp nào thực hiện Hữu Tướng Phi Tướng dung thông, sạch sẽ cũng phải chờ Bồ Tát Ma Ha Tát hoặc bậc Nhứt Sanh Bổ Xứ thành Phật chứng minh cho mới được vào hàng Bồ Tát.

• Bồ Tát thành tựu Bồ Tát, Tầng Thánh Thứ Ba.

“Từ Bồ Tát Ma Ha Tát gọi là Đại Bồ Tát trải qua Bất Thối Bồ Tát thành tựu công đức sung mãn vào hàng Đại Bồ Tát.” –T.V.

Trong thời Đức Di Lạc hành đạo, có vị Hộ Pháp Bồ Tát và vị Bồ Tát chưa sở đắc Cửu Phẩm Liên Hoa nên không được Ngài chứng minh vào hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát.

Trong Cửu Phẩm Liên Hoa Bồ Tát đúng nghĩa Chư Phật phải biết từ phẩm thứ nhất đến phẩm thứ chín là những phẩm gì. Tự giác sẽ biết rất nhẹ cảm chứ không y kinh giáo điều. Phẩm thứ chín là Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Nếu xưng Bồ Tát phải biết đúng đường đi theo vết chân Chư Bồ Tát quá khứ, đúng theo thứ tự từng bước một mới gọi là Thực Chứng Vô thượng Đẳng, Vô Thượng Sư. Nếu không tự giác được thứ tự chín phẩm thì đó là Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư học thuyết, giả thuyết chứ không có thực chứng.

Trong Pháp Tạng đã xảy ra một trường hợp tự xưng Vô Thượng Đẳng không được Ngài công nhận, không được chứng minh hàng Hộ Pháp. Cái ngộ của giả thuyết thật lầm lẫn truyền kiếp. Thường những bậc này dễ bị lầm phải hành thâm pháp giới bá thiên vạn lần mới thực chứng Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư. Lầm giả thuyết, học thuyết xưng Phật bị Phật Giới thời Hạ Lai này vô kể. Lại định tưởng cho có thần thông làm chúng sanh bị lầm, bậc tu bị chấp do không tỏ rõ ngọn ngành đường đi nước bước của Bồ Tát.

Như Ngài dạy: Đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác do Đức Bổn Sư thọ ký từ Bồ Tát đến nay 2538 năm Phật Lịch Đức Di Lạc mới thành tựu Phật Quả. Lời nói mới đại diện Tam Thế mới hiện thực.

Khi được Chư Phật chứng minh Bồ Tát, bậc này mới hạnh nguyện Bồ Tát Ma Ha Tát được. Bồ Tát Ma Ha Tát còn gọi là Đại Bồ Tát bậc này qua được tất cả trở lực cực kỳ khó khăn, cực kỳ bi đát, không nản chí, không bỏ dở hạnh nguyện mới sung mãn công đức cúng dường Như Lai vào hàng Đại Bồ Tát.

• Bồ Tát Ma Ha Tát, Tầng Thánh Thứ Tư.

“Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. Trong bốn thời của hàng Tứ Thánh, thật dài dặn, trải qua vô lượng kiếp, vô lượng công đức, vô lượng phẩm cúng dường Như Lai, cúng dường chư Phật mới thành Phật, chớ nào phải tu một kiếp mà trưởng thành đâu. Sự trở thành trong một kiếp, nó đã có sẵn gieo trồng, có sẵn đầy đủ ngày nay mới tu đạt Chánh Giác.” –T.V.

Đến đây chư vị hãy chiêm bái Đức Di Lạc kỳ Hạ Lai này Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. Thế là 2500 đã đến. Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đã hoàn mãn Diệu Quả Bồ Đề ở thời kỷ nguyên nguyên tử này tại nơi dầu sôi lửa bỏng, quả là một chứ không hai.

Sự tê liệt, không vận chuyển được vạn pháp trong lửa chớ vội xưng Phật dù có Đắc Vô Thượng cũng bị lầm do Ngã, Ngã Sở mà bị thọ chấp thật uổng phí sự tu hành. Thành vị A La Hán thời Mạt Kiếp cũng đã là khó, còn nói chi Bồ Tát, còn Phật lại quá ư kín nhiệm, quá ư tuyệt mỹ đâu có tầm thường suy nghĩ loạn mà vẫn xưng Phật thật tội lỗi./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


41. Tứ Hạnh

Bậc chỉ đạo cứu độ chúng sanh cần tinh tấn nhiếp thu Tứ Hạnh, hoàn tất Pháp Thân để tỏ rõ trực giác đi vào Thật Hiện chứ không nặng Ứng Hiện. Trong Tứ Hạnh gồm có:
 – La Hán Hạnh.
 – Thinh Văn Hạnh.
 – Duyên Giác Hạnh.
 – Bồ Tát Hạnh.

• Thứ Nhất : La Hán Hạnh.

“Phẩm hạnh của những bậc A La Hán gọi là Hạnh Tướng Phật. Nếu an trụ tướng ấy thành đạt tướng Phật thời gọi là Bích Chi Phật. Bằng tu hành hạnh La Hán nó lại tùy nơi tu chứng cấp bậc an trụ thì Chánh Báo từ hàng Thiên Tiên, Đại Tiên, ở nơi ứng hiện trực hiện Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới gọi là Tam Giới.” –T.V.

Những bậc tu sở đắc chân lý Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ thường bị lầm cho là cao nhất và tưởng rằng đã đạt đến mức tận cùng của chân lý nên an trụ hạnh này gọi là Phật Giới. Thật ra sự an trụ hạnh tướng này chỉ là Bích Chi Phật còn gọi Phật Giới. Phật an trụ một giới tỏ rõ tùy mức độ tu chứng Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ mà đạt mức từ Thiên Tiên đến Đại Tiên gọi là Phật Tiên vẫn nằm trong đài hoa pháp giới, khó có kiếp nào thoát khỏi pháp giới để bước vào dung thông cùng Bồ Tát Hạnh.

Đến mức tu chứng này những bậc nào biết cần phải tu tiến lên nữa liền không chấp trụ hạnh tướng Phật Giới rất hiếm hoi vô kể. Gặp Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng khó lìa bỏ Tập Nhiễm Phật Giới để được hóa độ con đường Bồ Tát. Thà rằng làm vị Bồ Tát tu tiếp còn có thời điểm thành Phật chứ trụ Phật Giới phải bị A Tăng Kỳ Kiếp không tiến lên được nữa.

• Thứ Nhì : Thinh Văn Hạnh.

“Bậc tu La Hán Hạnh, nương nơi Tứ Hạnh tu cầu Chánh Giác thời tận dụng kinh điển là ngón tay chỉ, xem kinh cốt liễu nghĩa không chấp tự kinh thâu nhận trực giác, gọi đó là thực hiện Thinh Văn Hạnh.” –T.V.

Bậc Thinh Văn Hạnh tu giác ngộ cũng được gọi là La Hán Hạnh. Từ La Hán Hạnh tu cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, những bậc này xem kinh cốt liễu nghĩa kinh đặng trực thị vạn pháp. Nếu xem kinh, nghiên cứu kinh, học kinh mà không biết áp dụng kinh trong đời sống hàng ngày cốt tỏ vạn pháp, trực giác vạn pháp vẫn là Bị Giác rất khó thoát sinh. Những bậc này thường vấp phải Ngã, Ngã Sở mà không bao giờ hay biết mình đang bị vô minh bao phủ phải bị triền miên trong kinh điển. Họ cho rằng đọc, nghiên cứu kinh Phật là đường tu duy nhất chớ đâu có biết rằng nhờ kinh Phật để tu trực giác thoát khỏi pháp giới bị biết. Thật quá ư khó khăn thay cho một bậc nào biết nhận định sâu sắc để tự độ đời mình đặng tu cầu Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sự mê lầm nhiều đời kiếp.

• Thứ Ba : Duyên Giác Hạnh.

“Bằng tùy duyên cảnh thuận nghịch mà trực giác, không vì thuận, chẳng vì nghịch, tâm phân đối chướng ngại nơi Tịnh Bất Tịnh mà thối chuyển chấp nghi, duy nhất trực giác mà đặng, gọi là thực hiện Duyên Giác Hạnh.” –T.V.

Tùy duyên cảnh thuận nghịch có nghĩa trong cuộc sống thường ngày gặp hoàn cảnh thường diễn thuận nghịch liền biết ở đời ai cũng có hoàn cảnh khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ, khi có lúc không, không quái ngại cho là chuyện lạ, tâm bình thản xem xét hoàn cảnh không còn chướng đối. Dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu cũng an vui tìm phương tiện hóa giải đến tỏ thông không còn phân biệt đối chướng, không còn nghi chấp Chư Phật, cùng bậc Thiện Tri Thức, được đến thường còn không còn nằm trong vô thường của chúng sanh, được an vui. Bậc trực giác được hoàn cảnh đến thuận hay nghịch, tịnh hay bất tịnh đều phải hóa giải gọi là Duyên Giác Hạnh.

Bậc Duyên Giác khi hóa giải hoàn cảnh không lo sợ pháp này giải đúng sai, sai đúng. Dù cho sự hóa giải một hoàn cảnh không đúng cũng ghi nhớ lấy cái sai này làm bài học cho cái đúng sau này, đặng hoàn tất Duyên Giác Hạnh là thiết yếu. Bậc La Hán Hạnh, Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh đúng nghĩa thường sở đắc một trong ba phẩm:

◊ Vô Sanh Pháp Nhẫn.

◊ Bình Đẳng Tánh Trí.

◊ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn.

Còn phải trải qua tu tập tự nguyện nhiều kiếp mới đến Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ.

Nếu gặp bậc Thiện Tri Thức là Phật hay Bồ Tát có Tâm Ấn thực của Phật Thích Ca, Phật Di Lạc thì rất có lợi vô kể, chỉ cần một kiếp nếu Tin Vâng Kính đầy đủ là đến Giác Ngộ thật sự không đợi nhiều kiếp.

Nhiều bậc khi đã gặp Đức Di Lạc nhưng lại tự ngã, lại thêm đeo cái cân tiểu ly bên mình tính hơn thiệt cũng không có kết quả chứng đạo. Đời Tôi đã chứng kiến và quá biết thật nó như vậy. Trên lộ trình hành đạo Ngài tận tình cho tất cả. Nhưng cũng khó vì họ không tinh tấn. Còn nhiều vị trụ ở Chân Không tháo gỡ đến giác ngộ không qua nổi khi Đức Long Hoa Tăng Chủ ra đi họ vẫn trụ không. Thật là khúc eo vĩnh cữu.

Tại Trung Ương Hội Thượng, tôi nghe Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc khai thị như vầy: Thời Hạ Lai Mạt Pháp đã tàn canh, cần chỉ bày tu tập tỉ mỉ giúp cho mai sau bậc tín tâm tránh được lầm chấp KHÔNG, theo đúng con đường Giác Ngộ.

Ngài ôn tồn khai thị tiếp:

- Vua Lương Võ Đế nước Tàu là vị rất tin đạo Phật. Một hôm vua đến thăm Tổ Bồ Đề Đạt Ma và hỏi:

- Trẫm xây hàng vạn ngôi chùa, cúng dường hàng vạn chư Tăng, vậy có công đức không?

Tổ Bồ Đề Đạt Ma trả lời:

- Không

Vua Lương Võ Đế hỏi:

- Tổ có biết trẫm là ai không?

Tổ trả lời:

- Không

Vua Lương Võ Đế không tin Tổ, bỏ ra về và cấm các quan trong triều không được tu theo Tổ.

Câu chuyện trên cho biết Tổ Bồ Đề Đạt Ma dùng Đốn Giáo sai lúc. Vì vua Lương Võ Đế mới gặp Tổ nên không thể dùng Đốn Giáo được. Tổ phải dùng Đạo Hạnh nương chiều dạy Tiệm Giáo cho vua một thời gian, đến lúc thấy đủ Tin Vâng Kính mới dùng Đốn cốt yếu cho vua Ngộ.

Tổ chỉ biết Tổ chớ chưa biết ý vua muốn gì và tu đến mực độ nào. Vì Tổ chưa ngộ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn. Do đó Tổ chỉ tự độ chớ tha độ chưa đúng. Tổ sở đắc chân lý, giảng đạo Đại Thừa nhưng phần thực hành áp dụng pháp vào đời sống bị kẹt KHÔNG. Cuối cùng Tổ quay vào vách thiền định chín năm hối hận sự đốn pháp sai gây hậu quả tai hại nầy chứ không phải quay vào vách thiền định chín năm là cao đạo như những lớp tu sau lầm chấp.

Thiền quay mặt vào vách chín năm tránh thế gian bị lạc vào Tiên Đạo.

◊ Lý: Đại Thừa.

◊ Sự: vận chuyển Pháp không qua. Bị kẹt Không.

◊ Kết quả: lạc Tiên Đạo.

Như đã ghi phần trước trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này chính Đức Long Hoa Di Lạc Tôn Phật hành đạo từ năm 1957 đến năm 1993 cũng đã gặp lại 33 vị Tổ thời Đức Bổn Sư qui về tu hành đông đủ nhưng tất cả đều hiện Cư Nhân Hạnh, có gia đình, sinh sống đủ các nghành, nghề trong xã hội Việt Nam.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng qui về năm 1980 với hóa thân mới, tên hiện kiếp. Có lần tôi được chứng kiến Đức Di Lạc Tôn Phật khuyên Tổ nên phát tâm dõng mãnh tu Bồ Tát Hạnh chứ đừng trụ hạnh tướng Phật bị giới gọi là Bích Chi Phật. Thà ở Bồ Tát Hạnh sau thành Bồ Tát còn có ngày thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác chứ ở hạnh Phật Giới đến vô lượng kiếp không thoát sinh nổi.

Tổ không chịu nổi pháp động thuộc phi tướng do Đức Long Hoa Di Lạc Tôn Phật diệu dụng. Sau chỉ một năm Tổ quay về đóng cửa không tiếp bất cứ một ai trong đạo, Ngài kêu gọi gì cũng đóng kín cửa. Pháp tánh viễn dung bình đẳng, ngàn xưa nay tập nhiễm diễn y không hề thay đổi. Đức Di Lạc Tôn Phật có viết hai câu thơ cho Tổ như sau được lưu giữ trong Pháp Tạng:

Đường về Thiên Trúc xa bao dặm
Mà Tổ Bồ Đề gánh chữ KHÔNG.

–TV

Tổ sở đắc Chân Không chớ chưa Giác Ngộ. Lục Tổ Huệ Năng cũng vậy, tu được một năm trong Pháp Tạng, không chịu nổi pháp động cũng bỏ đi. Thế mới biết tu cư nhân hạnh thời này Pháp sống động phải bền chí, chịu đựng độ khổ mới qua nổi lớp lớp pháp giới. Tiền thân của Lục Tổ Huệ Năng chính là Sa Nặc trong thời thái tử Tất Đạt Đa. Khi Đức Bổn Sư thành Phật Sa Nặc cũng tu trong tăng đoàn, chưa được chứng minh vào hàng Thánh Tôn Giả.

Khi đó Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai vị Tôn Giả tích cực đến nay đã có trong Long Hoa còn đang hạnh nguyện từ Tôn Giả đến Bồ Tát thì làm gì có chuyện Lục Tổ Huệ Năng (Sa Nặc) đã thành Phật!

Năm vị Tổ sau truyền sang Trung Hoa từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng đều đắc Chân Không chứ chưa có vị nào Giác Ngộ.

“Nói hay viết giỏi chưa phải của ta, khi gặp hoàn cảnh ta giải quyết hay đó mới là của ta.” –T.V.

Tự tánh tỏ tánh được sạch chúng sanh, còn phải nương vào vạn pháp hóa giải, tịnh bất tịnh thảy đều nhiếp thâu cốt yếu tạo công năng còn phải nương nhờ nơi công đức mới mong sở đắc chân lý. Tùy mức độ cạn sâu nơi công năng, công đức mà được Giác Ngộ đến Liễu Ngộ. Cần có lập trường vững, kiểm chứng sáng soi nghiệp thức, nghiệp lậu cùng nghiệp kiết sử cố định lâu đời, hóa giải lầm mê vận chuyển sạch sẽ vạn pháp mà Chánh Giác. Bậc tu cầu con đường Tri Kiến Giải Thoát thời hãy tu tất cả các môn sao cho pháp hồi tâm, chỉ đúng pháp môn giải thoát mới đến. Bằng tu chỉ một môn Tiệm Giáo, Đốn Giáo, Mật Giáo, Hiển Giáo khó Giải Thoát được.

Vì tu đốn giáo hiểu biết đốn giáo, tu tiệm giáo hiểu biết tiệm giáo chớ chưa phải đủ pháp môn giải thoát. Tu hiển giáo hiểu biết hiển giáo, tu mật giáo hiểu biết mật giáo chớ chưa phải tu pháp môn giải thoát.

Bậc tu nơi thích muốn, tu cầu tịnh cũng không giải thoát được. Phải tu theo tôn chỉ mục đích được hướng dẫn rõ ràng của bậc Chánh Giác mới đạt được như đã tỏ bày phần trước mười vị Tôn Giả cùng chư vị Hộ Pháp thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật kỳ hạ kiếp này có mặt trong Long Hoa, đã được Đức Di Lạc Tôn Phật cho thi kiểm tra quân minh về Đức Trí, dụng cư nhân hạnh tu hành thực tiễn. Kết quả chư vị còn ở vị trí Tôn Giả, Hộ Pháp. Duy nhất chỉ có một Tôn Giả được Ngài chính thức chứng minh Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát trước mặt ba Chân Phật Tử.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng còn ở vị trí Hộ Pháp chưa được Ngài chứng minh vào hàng Tôn Giả. Căn cứ vào sự chứng minh của Đức Di Lạc Tôn Phật kỳ Hạ Lai này thì Tôn Giả Mục Kiền Liên đi trước Tôn Giả Xá Lợi Phất một đời Phật. Như vậy Mục Kiền Liên sau này lai trần hạnh nguyện thành Phật sẽ độ lại cho Xá Lợi Phất vào Bồ Tát vì hiện tại Tôn Giả Xá Lợi Phất chưa được chứng minh Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát.

Bậc trí tuệ thường nghĩ đúng và sai, sai và đúng thì không bao giờ đúng được. Do đó cứ suy tính làm việc này sẽ sai không nên làm. Bậc chẳng nghĩ mà làm, lấy cái sai học hỏi rút kinh nghiệm thì cái sai làm Thầy cái đúng.

Phải vào vạn pháp nương pháp dù có sai, tỏ sai một ngày kia sẽ đúng đó là đường đi của bậc cầu giải thoát. Bậc sợ làm bị sai nên không làm thì cái đúng của nghiệp thức chưa thật. Cuối cùng còn bị vướng trong suy nghĩ, không thoát khỏi vòng đai của tư tưởng. Mỗi một tư tưởng có một bản chất của nó, khi bậc nào cố định không ai giải tỏa nổi, dù có Phật ra đời cũng đành chịu. Duy chỉ có bậc đang tư tưởng cố định tự giải tỏa là xong. Do đó chư Phật dạy: Vạn pháp như huyễn hóa, đời là một giấc mơ qua nhanh như tia chớp. Phải tu trong pháp huyễn, tu trong mơ vọng, sau tỏ huyễn, hết mơ vọng về Chơn Tôn.

“Thời Lục Tổ Huệ Năng với Ngài Thần Tú đồng tu dưới sự chỉ đạo của Ngài Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn.
Mỗi vị tu theo mỗi thế. Ngài Thần Tú đứng về Tiệm. Còn Ngài Huệ Năng thuộc về Đốn. Ngài Thần Tú tu nơi Đạo Hạnh, Ngài Huệ Năng về Giác Chơn thể tánh tịch diệt nơi vạn pháp. Một bên dụng tướng tỏ chơn, còn một bên truy chơn tỏ tánh.

Rốt cuộc là Ngài Lục Tổ vẫn phải còn thực hành Đạo Hạnh Tướng cùng Chơn. Phần Ngài Thần Tú tầm chơn hợp tướng, đó chính là một con đường duy nhất Phật Thừa không hai lối.”
–T.V.

Bước đầu môn nào cũng phải tu sửa, nếu lơ là chểnh mảng tu sửa, dù tu môn nào cũng trở thành cố định đứng yên. Vô lượng kiếp cũng đứng yên vẫn bị lầm lạc không giải thoát được. Như kỳ Hạ Lai này nhiều vấn đề nói ra khó nghe nhưng đều có thực. Các vị Mã Minh, Thế Thân, Vô Trước thời quá khứ giảng Phật pháp Nhứt Thừa, Tối Thượng Thừa được xem hàng Bồ Tát. Nhưng kỳ này trong Long Hoa, Đức Di Lạc Tôn Phật kiểm tra, chứng minh còn ở hàng Tôn Giả, Thinh Văn Hạnh.

Cấp A La Hán lý giỏi, sự vận chuyển pháp chưa qua nổi, còn đứng yên một chỗ gọi là Lý Sự chưa tương song - Đức Trí còn chênh lệch chưa tương song. Nói chung Ngài rất nghiêm túc khi chứng minh. Ngài đã từng khai thị: "Tôi chứng minh hàng Thánh Chúng không bao giờ để vướng động chữ Vì. Tất cả đều quân minh, do đó mới có cơ bản chân truyền."

• Thứ Tư : Bồ Tát Hạnh.

“Khi ba phẩm hạnh trên đầy đủ đương nhiên phát tâm dũng mãnh vào con đường tu Bồ Tát Hạnh. Vì sao? Vì hạnh Bồ Tát tùy căn mà trực hiện Bổn Lai Diện Mục nơi Bồ Tát. Khi Bồ Tát thực hiện ứng thân nơi Bồ Tát, Bồ Tát giả mê, như nhiên có phẩm hạnh đầy đủ, có uy nghi có những lời chánh đáng nằm sẵn tự tánh của Bồ Tát xuất ra không lệ thuộc giáo điều, nhưng không làm hại kinh pháp của Đức Thế Tôn hướng dẫn.” –TV

Hạnh Bồ Tát là hạnh tự nguyện, trực hiện có nghĩa tự ý thức tu tánh, đào sâu tất cả nghiệp kiết sử trong thân mạng đặng trực giác thấy biết hóa giải vạn pháp. Không còn nặng cầu vái van xin. Nếu đã được chư Phật chứng minh thành đạo Bồ Tát cho dù có lai trần chưa đến thời kỳ trực giác gọi là Bồ Tát giả mê thì bậc này tuy thân còn nhỏ tuổi vẫn hàm chứa sẵn phẩm hạnh, vẫn có uy nghi của Bồ Tát. Đến đúng tuổi xưa bỗng trực hiện, Bồ Tát được trả lại không còn có vô minh che như chúng sanh.

Nếu là Bồ Tát đúng nghĩa của chư Phật tạo dựng thì không còn có sai sót nào mà tần số ở dưới thấy biết được duy chỉ có Như Lai dạy cho Bồ Tát được mà thôi. Do đó ý nghĩ, lời nói, việc làm đều tự phát Tịnh Bất Tịnh cũng không sai, tất cả đều thừa hành chư Phật mà dạy cho tứ chúng cốt Giác Ngộ thôi.

“Vì lời trực giác kia toàn lời thị hiện chư Phật nay Bồ Tát thừa hành nên phát lời nói ấy. Các ông chớ nên phê phán lời trực giác, tự giác nói ra, hoặc giả chấp nghi mà dừng trụ thời không bao giờ đến quả Bồ Đề. Nay Ta vì thương các ông để các ông khỏi tổn thương con đường tu đạt.” –TV

Phật làm phàm phê, Bồ Tát làm phàm phê từ lâu vốn thường diễn. Nay Đức Long Hoa Tăng Chủ nhắc nhở những bậc tín tâm cầu giải thoát chớ nên chấp nghi, chớ nên phê phán chỉ trích, vì đức mỏng công năng lại kém xa Chư Bồ Tát, nếu chỉ trích bậc trực giác hàng Bồ Tát ắt bị tổn thương công đức rất lớn. Cần thận trọng bảo trì công đức mỏng manh của mình đã tạo trong việc tu hành nhiều đời, nhiều kiếp mà chưa được Chư Phật Chư Bồ Tát chứng minh.

Thời Hạ Lai tôi đã chứng kiến một số bậc tu nghi chấp, vô tình phá pháp làm tổn hại Bồ Tát, hậu quả tai hại đến không lường hết được. Thế mới biết “Đức trọng quỷ thần kiêng” xưa nay vẫn bất diệt.

“Ngài vừa nói đến đây thời trong hàng Thinh Văn, Duyên Giác cùng A La Hán chư Thiên đều đứng lên thưa gởi:

- Bạch Đức Vương Phật chúng con đang đi trên đường này. Chúng con đang đứng trong đàng này, chúng con đang tu trên con đường này. Nếu chờ cho mãn kiếp, nếu chờ cho đúng thời, nếu đợi cho đến lúc, chưa đặng gặp Phật, chưa đặng gặp Đại Tăng thời mới làm sao tu cầu Chánh Giác? Xin nhờ Đức Phật Vương khai thị cứu giúp chúng con.

Ngài liền phóng quang nơi pháp đảnh, tỉa ra chín dòng quang, nét mặt tươi đẹp vô cùng tận, nở nụ cười tựa như triệu nghìn hoa đàm xòe cánh. Ngài nói:

- May thay! may thay: Các ông là những bậc gặp lúc, những bậc đang gieo căn duyên lành vô triệu kiếp bị lung lạc trong các lối đi, gặp bậc Thiện Tri Thức chỉ đường hướng dẫn thì làm sao lạc lối mà sợ sệt van xin?

Ngài vừa nói đến đây tất cả vui mừng vô kể, đồng đảnh lễ, đồng chiêm ngưỡng, đồng ái kính chẳng khác cha lành cứu bầy con đói khổ. Các tuần Trời reo tiếng nhạc, các cõi Tiên trải hoa đầy đủ màu sắc, toàn là các giàn hoa quí nhất thảy đều trải đến cúng dường. Ngài lặng yên thọ ký công đức cho tất cả Ngài nói:

- Các ông hãy nghe, các ông hãy thọ trì đọc tụng. Tứ Hạnh đồng đẳng như nhau, không lớn chẳng nhỏ, không cao chẳng thấp, bằng thiếu khuyết một trong tứ hạnh khó mà thành. Phải chăng các ông đã đặng sự đồng đẳng tu hành thực hiện tứ hạnh mà Giác Ngộ Chánh Giác chăng?
Tất cả đảnh lễ thọ trì phụng hành kính bái.”
–T.V.

Hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán còn gọi Bích Chi Phật, mỗi hạnh đang độ khổ, vừa giải khổ. Từ hàng Bồ Tát đến Đại Bồ Tát hành dụng, diệu dụng pháp khổ mới thực hiện được bốn hạnh trên đồng đẳng, đã đồng đẳng liền đúng thời gian, đúng vị trí nên pháp không lớn cũng chẳng nhỏ, không cao cũng chẳng thấp. Bậc chưa thực hiện được bốn hạnh, hoặc chưa thực hiện được đầy đủ chiều sâu khó hoàn mỹ Chánh Đẳng Chánh Giác. Bậc như vậy chưa đúng nghĩa Bồ Tát.

Khi Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật Hạ Lai kiếp này thành Phật, mỗi khi Ngài khai thị Phật Pháp tại bất cứ nơi đâu, ngoài chúng sanh, tứ chúng Pháp Tạng còn có các bậc ở Cõi Trời, Chư Thiên đồng giao cảm đến dự đông đủ. Trong lúc đó hàng Tăng Ni cùng bậc tu ở thế gian đâu có được duyên lành tham dự trong suốt 37 năm hành đạo của Ngài. Ngài cũng từng than thời Mạt Pháp này thật khó đắp xây./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


40. Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn

Bậc tu, chủ yếu rõ biết Vô Minh mới gọi là tu. Bằng tu để tu không biết Vô Minh thời tu đến vô số kiếp chăng nữa, cũng không được lấy một ngày tu.
–Vô Sư Kinh
 
“Khi mà Đức Bổn Sư cầm cành hoa đưa lên hội trường, chính Ma Ha Ca Diếp nhận lãnh liền chứng thị: Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn, đó phải chăng Tương Thông Phật lực?” –T.V.

Tôi nghe như vầy: Một hôm tại Trung Ương Hội Thượng số 42 đường Hồng Bàng, Nha Trang. Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật khai thị: Tôn giả Ma Ha Ca Diếp chứng thị Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn. Vậy thế nào là Thực Tướng Vô Tướng?

Hoa hồng là thực tướng, nếu đem con sâu sống trong hoa hồng sang hoa cúc hay bất cứ một loài hoa nào khác, nó phải bị chết vì không quen ăn chất hoa cúc hay một chất nào khác, môi trường sống khác nó cũng không quen, nó chỉ thích hợp với môi trường và chất hoa hồng thôi. Đó là vô tướng. Từ đó Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp trực giác chúng sanh giới nào chỉ biết giới đó, ngoài giới không biết không tồn tại được. Trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, mỗi thế giới có một môi trường sống, ẩm thực, vật dụng đều đồng đẳng với nó không sai khác được.

Tỷ như con cá sống trong nước ngọt, nếu đem nó lên bờ hay bỏ nó vào nước mặn, nó sẽ chết. Tỷ như con người sống nhờ có không khí nếu mất không khí hay ra khỏi bầu khí quyển không còn không khí ắt phải chết, nếu muốn tạm sống phải có bình oxy để thở. Từ tánh tình, tập nhiễm, cách sống, cử chỉ thảy đều tương thông mỗi giới.

Bậc biết thực tướng, biết được vô tướng, biết chình mình lầm mê gọi là ba cái mê nơi bậc tu. Vậy là bậc tu giải được Tam Muội. Đấy là Tâm Ấn chư Phật khai thị để bậc thật tín tâm giải sạch vòng đai pháp giới, là pháp vi diệu đạt được Chánh Định Tam Muội.

Thực Tướng Vô Tướng là chính yếu để giải mê lầm khi gặp vạn pháp, nếu bậc tu Trực Giác nó chính là con đường Trung Đạo. Muốn bước vào con đường Trung Đạo bậc tu phải tự tánh tỏ tánh, không chấp, không chướng tâm rỗng rang mới đạt được. Thực Tướng Vô Tướng còn gọi là hai pháp Có – Không. Nếu bậc tu bỏ Có lấy Không thì sa vào Tiên Đạo. Còn bỏ Không lấy Có thì ví bằng phàm phu, thường mắc miếu trụ chấp, chướng đối phải bị chìm đắm trong sanh tử luân hồi.

Các vị Tổ xưa kia khi chưa đắc chân lý cũng phải bị mê lầm như chúng sanh. Các vị trước tiên cũng niệm Phật, cũng nghe thuyết pháp, cũng xem kinh, cũng mê tín, cũng tập khởi, cũng chấp pháp Có-Không, nặng nhẹ không chừng. Nhưng với bản năng quyết tâm cầu Giác Ngộ cần thực hiện sửa tánh bộc phát hóa giải vạn pháp chớ không xem kinh, tụng kinh Phật mà học thuộc. Mục đích chư Tổ là tự biết chớ không bị biết cũng không thọ ngã, không thọ chấp Thực Tướng, cũng không thọ chấp Vô Tướng nên chẳng còn nghi, tỏ thông pháp tánh tròn khắp.

“Ma ha Ca Diếp chứng tri Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn, phải trải qua hàng bao Tam Muội, vạn pháp Thần Thông Tam Muội, mới chứng tri lìa có lấy không, tận tận không không đến nơi Phật Tướng Giác Tướng.” –T.V.

Mặc dầu sở đắc chân lý nhưng còn phải hành thâm pháp giới, phải trải qua hàng bá thiên vạn pháp Thực Tướng Vô Tướng mới tỏ thông liền lạc, mới không còn lầm, đến lúc sạch sẽ pháp giới tức sạch sẽ chúng sanh tánh, tận thấu không còn vướng một pháp giới mới đến giác tướng, bước từ Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Hạnh vào hàng Bồ Tát được. Cái Không của bậc Giác Tướng đã từng dẫm nát vạn triệu triệu pháp giới, vào ra không ngại chứ chẳng phải ngồi yên mà cho là đắc Không được.

“Nơi Kiến Tánh nó tận dụng không sắc tướng vẫn Thấy Biết, nó từ nơi chân tánh phát hiện ở nơi soi tánh, sửa tánh mà tự thấy đặng tánh, nhờ tu pháp môn giải thoát nên chi thường tánh sáng soi nơi Không Tánh vẫn thấy.”
–T.V.

Chúng sanh phải có sắc, có tướng mới thấy biết, bậc tu thường quan tâm sửa tánh, xem xét tánh đúng mức tự nhiên phát hiện chân tánh, từ chân tánh như nhiên sáng nên khi pháp diễn cảnh thấy biết Vô Tướng gọi là Không Tướng vẫn thấy.

Tỷ như hai người bạn thân với nhau từ lâu, bỗng một hôm có hoàn cảnh rối rắm, một trong hai người bất bình giận người kia. Người bạn nói một câu bất mãn, bỏ tình bạn cũ, người kia nhờ tu sửa tánh, không còn giận hờn bạn, lại bình tĩnh, sáng soi tại sao bạn mình nói câu dứt tình nghĩa như vậy, liền biết được nguyên nhân, biết được do hoàn cảnh gì từ trong thân tâm bạn mình ẩn khuất bên trong, đó gọi là Không Tướng mà thấy. Người bạn quan sát giỏi, hóa giải đúng vẹn toàn gọi là Diệu Quan Sát, chân tánh được tỏ thông pháp môn giải thoát, con đường đi đến Lục Thông. Từ Lục Thông sẽ hoàn tất Tam Muội.

Không nên dùng thương, ghét suy đoán mà thấy, không suy nghĩ nặng một chiều, phải như nhiên quan sát kỹ lưỡng, được tự biết.

“Hai giáo phái Đại Thừa và Tiểu Thừa đối với những bậc căn cơ chưa hiểu biết thường phân tách chướng đối. Bậc đã từng biết hoặc biết hơn thế nữa thì đặng gọi chung lại là Đạo Hạnh-Trí Tuệ của hai môn, phân ra hai lối tu hành nặng nhẹ của mỗi bên, do đó mới gọi là chung và riêng, Ứng Thân Chân Lý cùng Pháp Thân Chân Lý. Bằng Pháp Thân cùng Ứng Thân song tu thì được gọi là Viên Giác, mới hoàn toàn tôn chỉ duy nhất trên con đường Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V.

Tiểu thừa thuộc Đạo Hạnh. Đại thừa thuộc Trí Tuệ. Tiểu thừa tu kết quả Ứng Thân đắc chân lý. Đại Thừa tu kết quả Pháp Thân đắc chân lý. Bởi vậy bậc tu Ứng Thân đầy đủ cần phải tu Pháp Thân. Ứng Thân cùng Pháp Thân rốt ráo liền có Chánh Báo Thân, viên mãn ba thân. Chư Phật có ba thân.

Bậc tu nặng Đạo Hạnh, nhẹ Trí Tuệ. Cũng có bậc tu nặng Trí Tuệ, nhẹ Đạo Hạnh, không tỏ thông viên giác được. Phải Trí Tuệ và Đạo Hạnh tương song. Tiểu thừa nặng tổ chức, nặng hình thức, từ đi đứng, nói năng, cử chỉ cái gì cũng đẹp, được nhiều bậc tu ưa thích. Bậc Đại Thừa tu Pháp Thân, chính là tu Nghe Thấy Biết trong đời sống, giải nghi chấp, giải mê chấp làm cho thân tâm thanh thoát, cuộc sống hồn nhiên. Bậc Đại Thừa đã tu được con đường chân lý thực tiễn, chứ không phải lúc nào trí cũng rỗng không, bỏ hết vạn pháp nơi Nghe Thấy Biết./-

 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


39. Giác Tánh

“Nơi Giác Tánh sẵn có nơi con người cùng các cấp bậc ưa thích Như Nhiên Tánh, Đương Nhiên Tánh, tự biết hơn là học đòi đặng biết tu học tụng tán kinh điển.” –T.V.

Mỗi chúng sinh đều sẵn có Phật tánh. Phật tánh là tánh như nhiên khi nó chưa nhiễm vẫn suốt thông phổ chiếu cùng khắp chẳng khác. Khi chúng sanh nghi, trụ chấp bị che mờ gọi là vô minh nên Phật tánh kia trở thành Ma tánh. Ma tánh thường diễn tuồng hỗn loạn tạo thành nghiệp. Nghiệp dắt đi sanh tử không ngừng. Bậc học nhiều kinh điển, không quan tâm sửa tánh đương nhiên còn tham, sân, si chịu làm chúng sanh giới sống trong ba cõi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới và sáu đường: Thiên, nhân, A tu la, Ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.

“Đối với Nhân Sanh, từ thuở nghìn xưa đang sống thực tại hay hoài vọng, niệm tưởng xa xôi hiếu kỳ trở nên vọng sống. Họ chỉ ước ao hơn là thực tánh xấu xa cải hóa trở nên bậc thanh cao hướng thượng rộng rãi bao dung thì chứng ấy, đưa tập kinh điển ngang tầm đôi mắt liền thông cảm tỏ tường cần chi phải nghiên cứu.” –T.V.

Thường bậc tu ao ước được thấy Phật từ trên trời giáng xuống, hoặc ưa nghe tiếng nói bên tai chỉ dạy, thích kỳ vọng cao siêu. Ít bậc chịu quan sát các pháp nơi nghe, thấy, biết, gặp gút mắc hóa giải. Nếu bậc tu biết tự quán xét lỗi lầm, biết hướng thượng tâm tánh được như nhiên, khi gặp kinh Phật vừa đọc liền tỏ thông một cách hồn nhiên không còn suy nghĩ, không còn nghiên cứu để biết.

“Khi bậc tu hành vốn tùy thuộc nơi quan niệm của mình mà chứng tri đạo pháp.” –T.V.

Bậc tu quan niệm như thế nào thì đường đi của mình nó kết quả như thế ấy. Tỷ như bậc có tư tưởng tu phải thanh bai, chọn nơi thanh vắng, tránh thế gian ồn thì đó là đường đi của Tiên Đạo. Tỷ như bậc tu tư tưởng nghĩ và hành nghiên cứu, học mà không chú tâm sửa tánh, độc nhiễm còn, đó là đường đi của La sát. Do vọng tưởng sai lạc bậc tu Phật trở thành Tiên, Thần, Thánh Hóa mới có Tam Thiên Đại Thiên thế giới, mới có ma, qủy dữ.

“Bước đường tu Phật chỉ sợ chưa biết tu, chớ đừng sợ không giải thoát.” –T.V.

Có bậc tu chỉ biết tu chớ không biết tu để làm gì? Có bậc cầu giải thoát lại không biết pháp môn giải thoát phải tu như thế nào hoặc tin theo một vị thầy mà vị này cũng không minh định được thế nào là pháp môn giải thoát. Do đó cầu giải thoát theo quan niệm. Chỉ sợ tu không đúng pháp môn giải thoát chớ nếu tu đúng nó phải đến. Đừng cầu giải thoát phải siêu hình vạn lối cũng đừng lo sợ không được giải thoát, cần chú tâm Đạo Đức, Giáo Lý, Tọa Thiền ba môn tiến đều dung thông là đến giác tánh. Giác Tánh Minh Tâm.

“Những bậc đa văn trí thức tu hành rất cần có công năng thực hành hơn là xem kinh tu tập, còn bậc ít học thời phải xem kinh để tu hành hơn là công năng thực tiễn.” –T.V.

Những bậc học nhiều rất cần thực hành để tự tánh, tránh tập nhiễm văn tự quá nhiều, cốt yếu đạt được giác tánh mà tự biết. Còn bậc ít học phải đọc kinh cho thông giáo lý rồi cũng phải thực hành tự tánh cốt giác tánh. Hai lớp chúng sanh tu hành trên đều bị tập nhiễm nên cần bổ sung cốt bất tăng bất giảm.

Nơi tự giác nói thảy đều là lời Phật Ngữ nói, bằng chẳng dùng lời Tự Giác nói tức lời Ma Thuyết tưởng vọng nói. Đoạn này rất cần cho bậc tu hành lưu ý.” –T.V.

Bậc sạch chúng sanh tánh rất hiếm có, bậc này đã từng hạnh nguyện Hữu Tướng, Phi Tướng, Tịnh, Bất Tịnh dung thông mới sạch chúng sanh tánh, đã từng gặp chư Phật được vào hàng Bồ Tát chờ Như Lai Phật thọ ký. Mỗi lời nói đều tự, pháp sống động cứu độ chúng sanh rất thực tế. Chưa sạch chúng sanh tánh mà thuyết pháp dù có học hết, nghiên cứu hết Tam Tạng Kinh điển của Phật vẫn là lời Ma Thuyết, do suy nghĩ chứ không do trực giác thuyết.

“Trong vũ trụ và nhân sinh cũng thảy đều trong vòng Tâm Sanh, chừng nào khởi sanh tâm tu tỏ tánh, giác tánh mới thoát khỏi tâm sanh. Bậc mà chẳng bị tâm sanh thì gọi là Vô Sanh, khi tỏ tâm Chánh Giác gọi là Giác Ngộ.” –T.V.

Tứ loài trong đó có con người đều khởi sanh tư tưởng, chạy theo tư tưởng sanh tánh. Tánh chính là tâm. Bị tánh dẫn dắt phải chịu sống theo nó gọi là Tâm Sanh, chừng nào bậc tu không còn khởi muốn, không còn vọng loạn mà thân tâm kiểm soát, kiềm chế, ngự chế tánh liền thông đạt thoát khỏi tâm sanh. Chừng đó mới không còn bị tâm sanh. Vậy phải làm sao? Ta Sanh Tâm luôn luôn xem xét tâm không cho nó dẫn dắt ta. Ta điều khiển được tâm, không còn bị sanh nào đâu còn tử. Đã không còn sanh tử gọi là vô sanh.

Bậc bị tâm sanh gọi là chúng sanh. Khi đã là chúng sanh liền có phân biệt trong thân và ngoài thân. Bên trong là Tâm Pháp còn bên ngoài là Tướng Pháp vì phân biệt nên tâm điều khiển sanh muôn trùng vạn pháp. Bậc Nhị Thừa thấy loạn mới khởi diệt để đạt Không Pháp trở thành sanh diệt lại không biết còn cho là thực. Sự lầm lẫn này phải bị động vọng theo tâm thức di chuyển mà thành loạn tưởng không ngừng trong sanh tử luân hồi. Vì vậy sự tu hành rất cần đến Thiện Tri Thức đã giác ngộ. Vì bậc tu nào cũng vậy, chỉ trong một thời gian lơ là không kiểm soát, kiềm chế liền bị Tâm Sanh mà không hay biết lại cứ tưởng mình làm chủ tu tập chân chính.

Tỷ như bậc tin Phật tu tụng kinh, cúng lạy thì tâm sanh làm cho bậc ấy trở thành mê tín, thích thú vẹn vừa nếu có ai bảo tu sửa tánh, giải tật xấu thì rất sân hận ghét không nhìn mặt.

Tỷ như tu cầu vái lâu ngày trở thành bi mà không trí. Do đó không biết xem xét việc nào đúng việc nào sai thành ra thấy ai khổ sở thì bậc này rất sầu khổ hơn họ chỉ vì nặng về thiện căn nên chấp trụ cho là tu hành phải thương lụy chúng sanh như vậy, nếu có ai làm ác hay nói lời độc liền xa lìa, ghét bỏ chớ không có trí hiểu biết Bổn Lai của người ác tập nhiễm là nói năng, hành động hung bạo.

Chừng nào họ tự kiên sợ cái ác, tự tâm hồi hướng tìm gặp Thiện Tri Thức chỉ bày để tự nguyện lìa chấp lìa chướng mới tỏ thông./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


38. Thuyết Minh Ứng Hiện

“Sự ứng hiện là sự chờ khai thị chứng minh, ngoài ra không thể dùng vọng tưởng, thường tưởng nào mà đặng sự ứng hiện.” –T.V.

Bậc tu thành thật tâm cầu giác ngộ đều ứng thân nguyện gặp bậc Thiện Tri Thức mới được bậc này hiện thân khai thị, đến chừng tỏ thông đặng chứng minh. Nếu tu chưa gặp Thiện Tri Thức không có ứng thân đúng đắng sẽ không được hiện. Không thể ngồi yên suy nghĩ ảo vọng xa xôi mà đến đựơc, chúng sanh có sẵn như nhiên tự giác nhưng khó phát triển hình thành vì quyền lực Ma Lực khó thấy, khó biết, khó có đủ công năng để thắng nó.

“Bằng bậc có sẵn căn tánh của Thiên hoặc Tiên Thần Thánh Hóa, bị sanh ứng hiện trong cõi đời, phải chịu sống theo sáu đường như tất cả nhân loài.” –T.V.

Căn tánh có sẵn Thiên hoặc Tiên là căn tánh hàm chứa chất thanh cao, quyền uy thống trị thiên hạ. Căn tánh Thần chính trực quang minh. Căn tánh Thánh đi đứng nằm ngồi trong tứ thời nặng hình thức được tôn sùng, nặng nhắm mắt lim dim, thiện căn. Những bậc trên dù có tu đến mức nào, bao lâu cũng còn nằm trong vòng đai pháp giới, phải bị ứng trực hiện thân sanh tử trong lục đạo như chúng sinh chớ chưa được giác ngộ rốt ráo. Tuy sống trong đời theo dòng sanh tử chưa thoát sinh được nhưng tư cách họ vẫn khang trang, đàng hoàng, cử chỉ thanh thoát đẹp hơn chúng sanh.

“Nhưng có một nỗi, nặng về hình sắc quan niệm nơi Thân Phật Thị Hiện, hơn là tu hành tự tánh. Nặng chiêm ngưỡng lễ bái hơn là lãnh giáo của Chư Tăng. Do nơi Thiên Pháp tập nhiễm thọ chấp, tu như thế khó thành tựu chứng tri Bồ Tát Hạnh được gọi là Nhị Thừa Tu Chứng.” –T.V.

Số đông bậc tu xuất gia ở chùa, cốc, núi chú trọng hình tướng cho giống Phật nhưng lại ít quan tâm sửa tánh, ít xem xét tật xấu hóa giải cho thông. Lại nặng cúng lạy tu cầu Phật hơn là đào sâu chân lý. Vì căn tánh tập nhiễm nên chưa được nhập vào dòng Bồ tát hạnh. Chúng sanh tánh biết hướng thượng, hỷ xả trở thành Bồ Tát Tánh.

“Bậc có sẵn căn tánh của Thiên hoặc Tiên Thần Thánh Hóa, bị sanh ứng hiện giữa cõi đời như trên đã nói: Nếu gặp đặng Phật. Nhãn quang phong phú, nhìn đặng thể cách bình dị của Như Lai thị hiện, sinh lòng ái kính. Khi nghe đặng lời khai thị, toàn thân long mạch của bậc ấy viên thông, tất cả sơn hà đại địa rung chuyển, liền lễ bái thọ trì xưng tán, chưa bao giờ nghe, nay đặng nghe lời khai thị, chưa bao giờ thấy nay đặng thấy Chơn Tướng Trực Giác, liền đặng giải tâm sắc tướng về Như Tướng tu hạnh Bồ Tát Nguyện.” –T.V.

Bậc Thiên, Tiên, Thần, Thánh khi bị sanh ở thế gian, do tập nhiễm sẵn quan niệm: Phật phải sống kỳ lạ khác thế giới. Nếu bậc này biết nhìn thực tế lối sống ở đời Chư Phật sống bình dị, không cầu kỳ, không nhắm mắt lim dim, không phải lúc nào tay cũng bắt ấn, bậc như vậy được cái nhìn thực tế phong phú. Đó chính là cuộc sống hồn nhiên của Như Lai, liền biết nhận định sự bình dị của Đức Phật Di Lạc đương thời thị hiện bằng thân người đang trụ thế gian, biết ái kính, tín thành, thiết tha tâm, chừng đó một lời khai thị của chư Phật liền trực giác được pháp thực tiễn, toàn thân tứ đại liền tiếp nhận nguồn sống mới, phấn khởi tiếp được chân lý sống động ngay tại chỗ chớ không phải ở đâu cao sang.

Toàn thân chuyển, tế bào được đánh thức đổi mới hoàn toàn. Quan niệm ảo, sai lầm bỗng chốc tan biến gọi là toàn thân long mạch viên thông. Sơn hà đại địa ý chỉ thân tứ đại của bậc tu gồm đất, nước, gió, lửa cũng được đổi mới nhờ xóa được nghiệp do quan niệm mê lầm từ xưa bảo thủ mà thọ chấp.

Từ giờ, thân đã đổi mới ứng hiện theo Như Pháp mà lâu nay chưa bao giờ được nghe, nay được tự nghe, chưa bao giờ được thấy nay được tự thấy, chưa bao giờ được biết nay được tự biết, trở thành trực giác không còn chấp sắc tướng âm thanh cầu đạo nữa mà nương theo vạn pháp ngay thế gian, hòa nhập, nguyện tự tu tự hành. Đó mới là Bồ Tát Nguyện.

Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc Tôn Phật, Vị Long Hoa Tăng Chủ đã chứng kiến tôi nghe hầu như số đông bậc tu đều lạc Tiên, Thiên, Thần, Thánh đạo. Đạo giác ngộ rất hiếm thấy bậc thực hiện độ chúng sanh.

“Những bậc này thường đứng về Nhân Thiên Hạnh trong hàng Trưởng Giả Chúng tu tập.” –T.V.

Những bậc Thiên - Tiên – Thần - Thánh sau khi trực giác tu con đường giác ngộ thường là những bậc Trưởng Giả, theo hạnh Trưởng Giả tu tập.

Hàng Hộ Pháp Chúng, hàng Trưởng Giả Chúng, hàng Thị Giả Chúng, hàng Tín Đồ Đạo Chúng gọi là bốn chúng tu tập quanh Phật đều được giác ngộ.

“Phật ra đời không thể nào khai thác căn nghiệp của chúng sanh, mỗi một khi chúng sanh thọ giới bị thọ chấp căn nghiệp kiến tạo thành hình Nhị Thừa Tu chứng hoặc giả thọ căn nghiệp Tiên Thần Thánh hóa, hay ngạ quỷ - súc sanh đến địa ngục Phật đành phải chịu. Chỉ có những bậc tự nơi bản thân của mình, nhất niệm hóa giải lấy mình thoát khỏi căn nghiệp của mình mà thôi. Đó là lời chân thật nên có câu: Phật bất hóa độ vô duyên. Bất hóa độ định nghiệp.” –T.V.

Chúng sanh thọ chấp tạo nghiệp căn cố định chấp thủ thành bậc tu tánh tướng không tương song gọi là nhị thừa tu chứng hoặc thọ nghiệp Tiên Thần Thánh hóa, khi được đại nhân duyên gặp Phật khai mở cho nhận được nghe thấy biết trực giác, nếu không nhận lãnh đặng, không ý thức tự nơi bản thân, không quyết tâm bền chí hóa giải vạn pháp, Phật cũng đành chịu.

“Khi gặp thời căn nơi chúng sanh đầy đủ sung túc lại bị chìm đắm nơi tướng dục hư vọng, tưởng vọng xa hoa Lọng Phướng, Phật bảo phải xuất gia tu tập Thiên Thừa Hạnh, cốt xuất ly Danh giả tướng, áp dụng bằng “chữ không” lối này điều ngự dục vọng, khắc phục tham vọng trở về Như Nhiên Trực Giác.” –T.V.

Thời Đức Bổn Sư cuộc sống chúng sinh vật chất thật giản dị nhưng lại chấp đắm giai cấp cao sang, quý trọng, đi đâu, ở đâu cũng có người dưới quyền hầu hạ, họ độc quyền đối với lớp chúng sinh hạ cấp. Phật tận biết phải hóa giải cho xuất gia, lìa bỏ gia đình, không còn đắm danh vọng giả tạm. Lấy không nhà, ở nơi Tịnh xá, đạo tràng tu tập cho đạt đến “Chữ không” lại đi khất thực sống đạm bạc qua ngày, tất cả cốt yếu điều ngự căn tánh không còn ham danh vọng, không còn ngã, không còn sở hữu thành tựu hồn nhiên trong vạn pháp, như nhiên tự tháo gỡ được chấp pháp, thanh tịnh tâm đến Chánh Giác.

“Đến thời căn chúng sinh đói khổ, dùng nơi năng lực khai thác mưu sinh trong hiện vật để sinh sống, ngành trí hóa văn minh thực chất chẳng thể nào dụng lối không hướng dẫn trên con đường Tri Kiến, nên chi Phật Thị Hiện phải Đồng Hóa chúng sanh. Dụng lối có để Hóa Độ. Khi đã dụng lối có thì có trăm phương vạn lối diễn hành. Tâm không nhiễm trước giác hoàn thể chân.” –T.V.

Đến thời Hạ Lai Mạt Kiếp này, căn cơ chúng sinh đói khổ, phải dùng sức lao động hằng ngày, làm các ngành nghề trong thế gian để kiếm sống. Ngành khoa học phát minh đủ thứ mới lạ đầy hấp dẫn, hiếu kỳ, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc tường tận sự bộc phát Như Lai Tạng đang diễn hành quá mạnh, nếu cho bậc tín tâm tiếp tục tu xuất gia ở chùa, cốc, am như cách đây 2500 năm, không vào các ngành nghề, ngành trí hóa khoa học, bậc tu sẽ bị lạc hậu không tỏ tường sự tiến hóa thời Hạ Lai, còn nặng học kinh, nặng nghiên cứu kinh thuyết giảng mà thực tế trước mắt không thấy biết vạn pháp di chuyển.

Do đó ngài phải dụng pháp tu tại gia để bậc tín tâm nhận định được, tu tập được hành dụng Như Lai Tạng. Khi bậc tu có gia đình, có vợ chồng con cái, có thân nhân phải lo cuôc sống đương nhiên vạn pháp diễn hành không thiếu sót động, tịnh. Bậc tu nương theo động – tịnh tâm không trụ chấp, không mắc miếu ắt đặng tỏ thông hiện tại thật vi diệu. Thật là một lối tu cải cách thực tiễn trong gia đình mà vẫn đảm bảo chỉ tiêu Chân Giác.

“HỶ, NỘ, ÁI, Ố, THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH là pháp môn Diệu Dụng của Phật tùy căn tánh Phật phải thị hiện để hướng dẫn Bồ Tát thọ chủng tánh, chớ chẳng phải nơi trụ xứ chứng tri của Phật.” –T.V.

Bậc tu hành gặp nhiều diễn cảnh buồn không qua được, Phật phải dụng Hỷ cốt hóa giải cho họ lướt qua không còn nhiễm phiền não. Bậc tin Phật tu hành nhưng không vâng lời hạnh nguyện, Phật phải Nộ cho bậc tu hồi hướng tu hành. Bậc tu ưa thích nương chìu Phật phải dụng Ái hóa độ cho họ lần tiến. Bậc tu Tịnh Biệt nằm sâu trong pháp giới Phật phải dụng ố tức phi tướng, bất tịnh cho họ hành nguyện được đầy đủ chân giác. Bậc tu loạn tưởng đảo điên Phật phải dụng thường lạc ngã tịnh cốt yếu cho bậc tu liễu ngộ. Sự diệu dụng của Phật cứu độ chúng sinh không thể nghĩ bàn. Vì chúng sinh Phật tùy thuận bệnh mà thị hiện cứu độ chứ Phật không có bị nhiễm bao giờ./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


37. Thuyết Minh Đồng Ứng

"Đối với tài liệu Phật Đạo là một linh dược tuyệt tác, biết rõ nguồn mê, do cá nhân tự mãn nên mới thành lập hai chữ tu hành và sửa lại bản thân, phải hành sự bên ngoài để tiếp thu bá thiên vạn lỗi lầm lẫn nơi Đồng Ứng." –T.V.

Tu hành cốt thực hành vạn pháp ở thế gian để tự tỏ, càng năng động càng thâm nhập sâu đậm, nhờ đó bước qua, nhìn lại mới thấy lầm sai của mình bị cuốn hòa đồng theo bá thiên vạn pháp đủ muôn chiều, làm cho bậc tu bị xuôi dòng không sao thoát ra khỏi nơi đồng ứng này được. Phải bền chí, kiên dũng mới tiếp thu bá thiên vạn lối mà tránh lầm lẫn, khỏi bị lôi cuốn nơi đồng ứng.

"Có nhiều bậc tu hành kiên(g) sợ đồng ứng tác quái, nên tư tưởng hiền lành cốt khỏi sa đọa." –T.V.

Bậc tu khi pháp động đến không hóa giải, kiên sợ bị chìm đắm, sẽ được hiền lành nhưng trí tuệ không phát sinh. Bậc không va chạm vạn pháp không thấy được lầm lỗi nên còn lầm lỗi. Bậc biết làm hết sai, bậc này được đúng. Bậc cho rằng có trí tuệ, không hạnh nguyện, trí này chưa thật trí cứu cánh, vẫn còn nghiệp thức vọng đảo.

"Có bậc thường xét lỗi lầm, tự nguyện sám hối, tầm phương hóa giải, nghiệp thức, nghiệp căn vọng đảo, chuyên trì tu tập bao nhiêu vẫn nhìn thấy chính mình đảo vọng, tìm nơi xa lánh, tận diệt trở thành Tiên Đạo hay hàng Nhị Thừa tu chứng." –T.V.

Có bậc tu rất chú tâm xem xét lỗi lầm, thành tâm sám hối cốt yếu chừa lỗi, xem xét từ tư tưởng đảo vọng cho đến căn tánh tạo nghiệp nhưng cũng không hết được loạn tưởng, không điều động được loạn tưởng, đã nhập cốc tu riêng một mình, không tiếp xúc với bất cứ người nào cốt xa lánh cái nghe, cái thấy, diệt loạn tưởng để được thanh tịnh. Thanh tịnh này là Tịnh Biệt nguy hại.

"Đối với Đồng Ứng thì như nhiên sẵn sàng tùy thuận theo sở nguyện của tứ loài trong vũ trụ. Từ nơi thượng cho đến hạ mỗi mỗi đều tùy thuận đồng ứng. Từ con người cho đến Tiên Thần Thánh Hóa phải lầm nơi đồng ứng." –T.V.

Theo quan niệm cùng tập nhiễm của mỗi giòng giống trong tứ loài thảy đều Như Nhiên Đồng Ứng đúng với giai cấp với tần số của nó. Từ hàng thượng sanh cho đến kẻ hạ tiện mỗi mỗi đều đồng đẳng ứng trực với từng lớp lớp của nó. Vì sao? Vì vũ trụ với tứ loài như con người, Tiên, Thần, Thánh vốn đồng thể. Tỷ như bọt nước đá, sương, tuyết, băng đều gốc từ nước. Tùy theo nhiệt độ và khí hậu mà nước đồng ứng thành bọt nước, nước đá, sương, tuyết băng. Nó sẵn sàng tùy thuận từng vùng mà thành hình khắp tất cả.

Còn con người thì nó cũng tùy trình độ và giai cấp làm cho từng giới đồng ưa thích vẹn vừa, không hơn kém được. Đối với bậc biết cải tiến bản thân Đạo Đức đồng ứng giúp cho trí hóa từ phàm phu trở thành bậc Thánh Tăng cao quý xuất ly thế gian.

"Phật và chúng sanh chỉ hơn nhau nơi tận biết và chưa được biết. Nên Phật thời không có giới. Chúng sanh có giới bị mê lầm. Phật không giới tròn giác."
–T.V.

“Không giới” đây không phải ngồi yên, tránh né vào vạn pháp để không, phải vào vạn pháp thuận nghịch, hữu tướng phi tướng chẳng còn thiếu sót một pháp nào mới tận biết mà không giữ một giới nào.

Nghe qua thấy đơn giản nhưng thực hiện tận biết tròn giác phải qua lớp lớp vô lượng kiếp, chỉ trừ gặp Chư Phật đưa qua đến mức Bồ Tát, từ Bồ Tát tiếp tục hạnh nguyện ở những kiếp sau này chừng nào sạch tất cả giới mới mong thành Phật.

"Khi Đức Quán Thế Âm Như Lai Phật, cho đến sau này Quán Thế Âm Bồ Tát, sở đắc Viên Dung Bình Đẳng Đồng Ứng Như Lai, phát nguyện nơi Phổ Môn Kinh bất cứ mỗi một ai, tùy theo sở nguyện liền hiện thân thuyết pháp. Ngài nói: Bà La Môn, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di v.v... cầu lấy Ta, Ta liền hiện thân Bà La Môn, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thuyết pháp đó phải chăng đồng ứng hiện thân đồng đẳng không giới hạn biệt phân, trở thành tu quán Như Lai, đặng Như Lai thọ ký chăng?" –T.V.

Quán Thế Âm Như Lai Phật đã thành tựu viên dung bình đẳng, quán xét những âm thanh của tứ loài như nhiên đến. Còn bậc tu theo pháp môn quán xét âm thanh của tứ loài hóa giải độ khổ cứu chúng sinh, chính là Quán Thế Âm Bồ Tát những bậc này đều đã thành tựu viên dung bình đẳng đồng ứng với Như Lai tại vì sao?

– Vì: Thân, khẩu, ý bình đẳng là pháp thực tiễn vi diệu, không còn có gì so sánh được. Nghiệp của thân chuyển bình đẳng với lời nói. Nghiệp của lời nói đều do tâm sanh nên gọi nghiệp của thân bình đẳng với tâm. Thân khẩu ý bình đẳng thì đâu đâu cũng bình đẳng giống như biển cả đâu đâu cũng chung một vị mặn.

Chư vị đều phát nguyện, bất cứ ai tùy theo nguyện liền hiện thân thuyết pháp như có Bà La Môn cầu Ta, Ta liền hiện thân Bà La Môn thuyết pháp, có nghĩa Bà La Môn là hạng người ở giai cấp cao sang nếu cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Như Lai Phật thì người cầu này sẽ tự nghe được, tự nhận được trình độ giai cấp cao sang ở nơi tánh mình, biết phải làm sao cho hợp với giai cấp hiện tại một cách tự nhiên. Đó gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân Bà La Môn đồng ứng thuyết pháp.

Như có Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cầu Ta. Ta liền hiện thân Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thuyết pháp có nghĩa là người nam, người nữ giữ ngũ giới tự nghe được ý nghĩa ích lợi của giữ ngũ giới nên gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đồng ứng thuyết pháp.

Tự tâm rốt ráo không có tánh thì ngã đồng ứng tự tánh không tánh. Pháp tánh này đồng đẳng không còn chỗ nào cao hơn, không còn giới hạn biệt phân, nghiệp phiền não đến không còn có sự trói buộc, cũng không có sự giải thoát. Chư Bồ tát nguyện trụ được Bình Đẳng, biết sử dụng vạn pháp nơi thân khẩu ý viên dung ắt được Thần Bí Gia Trì là chỗ nhập môn làm phương tiện. Bậc này ở khắp nơi đều viên dung bình đẳng đó là Mật Ấn, là Phổ Môn Bí Mật Trang Nghiêm từ thân bình đẳng viên dung này phổ chiếu hiện tất cả uy nghi, từ lời nói hiện uy nghi, âm thanh nào cũng là Chân Pháp. Còn tâm phổ chiếu hiện tất cả chủng tử, không có chủng tử nào chẳng phải là nhất thiết chủng trí, tất cả chủng trí đều là Tam Muội.

Bậc tu đã đến kiến diện Như Lai rốt ráo viên dung bình đẳng, chẳng ngoài Tánh Như được Như Lai thọ ký.

"Khi mở quyển kinh Hoa Nghiêm mới thấy lời Phật nói: Các ông nên biết Bồ Tát nương nơi Công Đức Như Lai. Tĩnh tọa an nhiên, đồng thuyết pháp cho vô số chúng sanh nơi mình đặng nghe pháp, lãnh hội lời thuyết ngôn, tất cả thảy đều đặng nhiều môn giải thoát, đó là những vị đã từng Cúng Dường Như Lai nên ngày nay mới nói như thế." –T.V.

Phật đã từng dạy nơi Kinh Hoa Nghiêm rất tỉ mỉ rõ ràng cho bậc tu tránh ngộ nhận nơi giả thuyết mà phải nương vào vạn pháp nơi nghe thấy biết, hóa giải, hỷ xả cốt hồi hướng tất cả ngăn chấp trong tâm cho trở về hư không gọi là nương công đức Như Lai thuyết pháp cho vô số chúng sanh tánh của mình được nghe, nhận định rõ được thoát sinh không còn chúng sanh tánh nào chấp trụ trong tâm. Đó là bậc biết Cúng Dường Như Lai là pháp môn giải thoát.

Khi thuyết pháp chính mình nghe lời mình thuyết trước, lời thuyết có khi đồng ứng như minh thuyết, tưởng chừng như Phật nhưng lý và sự chưa đồng song. Lý học quá nhiều, sự không hành làm cho bậc thuyết bị lý chướng. Chớ có thọ ngã ngộ nhận thì mới lãnh hội được lời kinh vô giá của Đức Bổn Sư nơi kinh Hoa Nghiêm. Đa phần thuyết pháp hay nhưng chưa phải đã hiểu lời thuyết được chu đáo, chưa được quả vị như thế, cần phải học lại lời mình đã thuyết nên cần nương vào Công Đức Như Lai thuyết pháp để tránh thọ ngã.

"Thuyết minh đồng ứng rất dễ lầm, dễ nhận, đối kẻ Thiểu Trí Đa Văn ưa thích kỳ vọng mà lầm nhận. Còn ngoài ra bậc tu cầu Chánh Giác biết tự trọng bản năng Công Đức Phẩm." –T.V.

 

"Bậc học hỏi, nghiên cứu hay dùng trí suy nghĩ nên nó đồng ứng tưởng mình đã giác, nghĩ ảo vọng không hóa giải, không tu sửa tánh làm chính, trở thành lầm nhận. Bậc thực tu biết tự soi xét thân mạng cùng khả năng để tự tạo lối tu thực tế ngay trong đời để tạo Công Đức Cúng Dường Như Lai gọi là Công Đức Phẩm.
Mỗi một khi buông thả nương vào đồng ứng thề nguyện học. Bậc này có trạng thái xét lại bản năng, đạo hạnh cùng đức hạnh cốt chứng tri căn bản, thật khó lầm nhận phút cuối của một thời đang tu."
–T.V.

Bậc có tâm trí quyết tu cầu giải thoát không hề câu chấp từ lời kinh, tinh tấn tu cho bản năng được suông sẻ, từ hành động đẹp cho đến tánh tình thiện căn làm cơ bản, không mơ tưởng kỳ vọng cao xa, chỉ trực nhận tánh, luôn giữ gìn tâm điều hòa, giải sạch tánh để thanh tịnh tâm. Bậc như vậy giờ phút bỏ thân xác ra đi cũng không có một tư tưởng khởi vọng ảo tưởng. Chỉ thực tế tu sửa nên không có một pháp lầm nhận./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


36. Lý Sự Tương Song

“Từ khi Thái Tử Tất Đạt Đa thành Phật, kinh điển là một tài liệu quí giá, quí ở nơi nung đúc con người từ nơi mê lầm tác quái trở thành vĩ nhân cao quí sống với nhân loại bình đẳng thân yêu cứu vãn nhân loại vạn vật tránh điều ghét bỏ sát hại lẫn nhau, đồng nương theo tài liệu thực hành lý sự tương song trực giác, gọi là Tri Kiến Giải Thoát.” –T.V.

Từ khi Đức Bổn Sư ra đời khai đạo, chúng sinh từ chỗ vô minh tối tăm trở nên hiền lương, có bậc thiện căn Phước Báo Nhân Thiên, có bậc Thành Thánh, có bậc vĩ nhân Bồ Tát, Thành Phật, thật pháp môn đem lại tình yêu cao quý ngay cả cho tứ loài, loài súc sinh cũng không được giết hại.

Lý sự tương song có nghĩa, tạo đạo đức, kết quả tri đạo, thực hành tu tập sửa hết tánh xấu, đố tật xấu làm cho lý sự tương song. Bậc giảng đạo thuyết pháp hay mà tánh không sửa đổi được gọi là lý sự không đồng, kết quả đạo không tri kiến được. Nếu thi hành sửa đổi thân tâm tốt, thì giáo lý hợp với việc làm là một, bậc tu sẽ một lúc đầy đủ theo tần số của mình mà Như Nhiên Trực Giác.

“Hiện nay trên một nghìn năm trăm năm, sự lãnh hội điều hành bị sai lệch, thực tu chưa đầy đủ công năng đúng với tinh hoa Phật Đạo, hiểu biết không đồng khó phát triển, lại thêm vào nơi tài liệu y kinh trở thành giáo điều lạc hướng, dù có kết quả chăng vẫn kết quả nơi nhận định của mỗi bậc tu hành chớ chưa có năng lực trực chứng.” –T.V.

Từ khi Đức Bổn Sư nhập Bát Đại Niết Bàn đến nay đã trên 2500 năm. Trong khoảng 1000 năm đầu Chư Tổ, Chư Bồ Tát còn lưu truyền Chánh Pháp, còn lại 1500 năm sau các bậc tu hướng dẫn chúng sanh dần dần bị sai lệch, không chú trọng sửa tánh, giải nghiệp để hóa giải ma lực, chỉ theo y kinh giảng giải, học nhiều giáo điều cố thủ nên không có tự tánh tỏ tánh, do đó không có năng lực trực giác làm sao chứng ngộ được. Hiểu biết, nhận định qua học hỏi, nghiên cứu chỉ là hiểu biết giả thuyết nó quá xa cách con đường Trực Giác Chứng Ngộ.

“Thật là thuốc hay, linh dược cứu trợ vô cùng tuyệt tác, nhưng chưa biết sử dụng thì sao? Vì nó như thế nên làm cho chúng sanh và Phật Đạo tự mang Mạt Pháp.” –T.V.

Lời vàng quí báu từ nơi Kim Thân của Đức Bổn Sư khai thị đã đem lại lợi ích vô số kể, nhưng đến thời này gọi là thời Mạt Pháp Đức Di Lạc Ngài chứng kiến trên lộ trình hành đạo của Ngài đâu đâu cũng không còn quan tâm đến hóa giải ma nghiệp nữa nên ma lực xâm chiếm tràn lan làm cho Mạt Pháp thịnh hành./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


35. Nhất Tâm

22. Lời Khai-Thị trước ngày Bát Đại Niết Bàni Tập Kinh, Năm Thời Kỳ17. Đại Tập Kinh, Năm Thời Kỳ17. Đại Tập Kinh, Năm Thời Kỳ16. Sự tái sinh của chúng sanh15. Mãi mãi là bài học nhớ đời12. Hịch CMVT, phần 3