24. Ngài khóc vì chờ Tăng Ni quá lâu

Bậc tu hành cho mình là phải thì bậc ấy chỉ đứng một phía của đạo thôi. Bằng bậc tu hành tìm kiếm được tất cả đều là phải. Nó do một nơi nào mà có phải thì bậc ấy mới mong đến Phật.
–Vô Sư Kinh

Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật khóc cho Tăng Ni.

• HT Thích Thanh Từ đọc chê
một bài Giáo Ngôn của Đức Ngài viết dở.
Một hôm Ngài bảo tôi đi Vũng Tàu gặp chân tử Pháp Hương, tôi đem một bài giáo ngôn cho Pháp Hương đem tặng Hòa Thượng Thích Thanh Từ. Ông Thích Thanh Từ đọc chê viết dở.

Hai năm sau, tình cờ khi gặp tờ báo Giác Ngộ ở Sàigòn xuất bản, Ngài đọc bài nói về nhân duyên của Hoà Thượng Thích Thanh Từ. Đọc xong, Ngài Long Hoa Tăng Chủ bảo, lấy cái bàn, cái ghế thí dụ là còn có tướng mới thấy, trong bài không có đoạn nào chỉ về tự tánh. Ngài mới bảo tôi ráng cho Hoà Thượng này một bài giáo ngôn nữa.

Tôi đi Vũng Tàu gặp bà chân tử Diệu Minh, đưa cho bà một bài giáo ngôn nữa của Ngài viết tựa đề “Vạn Pháp Với Chúng Sanh” tặng Thiền Sư Hòa Thượng Thích Thanh Từ.

Hoà Thượng đọc xong nói: Viết gì kỳ quá, chê xong Hoà Thượng trả lại. Thì ra Hoà Thượng học, nghiên cứu chứ không tu tự tánh nên đọc không hiểu. Vậy mà viết chìa khóa tu Phật! Tôi về thưa lại, Ngài làm thinh.

• HT Thích Thông Bửu không cho Phật Tử tu theo Đức Ngài.
Cũng một hôm bà Diệu Phát ở Sài Gòn là Phật tử của Hòa Thượng Thích Thông Bửu ở chùa Quán Thế Âm Sài Gòn. Bà theo tu thiền Đức Long Hoa Tăng Chủ. Biết thế Hoà Thượng Thông Bửu la rầy bà Diệu Phát và bảo: Theo thiền tà đạo sau này điên, mày đừng về báo tao. Rồi hòa thượng cho một vị phó chùa đến nhà bà Diệu Phát dán bùa của ông ta khắp các cửa để trừ tà! Sau bà Diệu Phát về thăm chùa, Hòa Thượng giận mắng la om sòm vì bà vẫn tiếp tục tu thiền theo Ngài Đức Long Hoa Tăng Chủ.

• H
T Thích Minh Châu không có thời giờ đọc Như Lai Thiền của Đức Ngài.
Cũng một hôm tôi vào trung tâm nghiên cứu kinh ở Vạn Hạnh, Sài Gòn lúc 11 giờ trưa. Khi tôi vừa vào cổng lớn thì có một vị hộ pháp vô hình ra đón, tôi liền nói muốn gặp hoà thượng Thích Minh Châu (viện trưởng có bằng tiến sĩ Phật học).

Khi tôi tiến đến chánh điện, giờ này vắng vẻ, cảnh vật cũng yên lặng bỗng hòa thượng Thích Minh Châu y áo thiên thừa chỉnh tề cũng vừa từ trên lầu bước xuống đứng cạnh chánh điện.

Sau khi lễ Phật xong, chào hòa thượng tôi hỏi: Thưa hòa thượng, có phải hòa thượng là Thích Minh Châu không?

Hòa thượng trả lời: Phải, chính tôi.

Tôi tiến gần và thưa: Tôi có quyển Như Lai Thiền muốn cho Hòa Thượng mượn.

Hòa Thượng trả lời: Tôi không có thời giờ đọc.

 

• Tiếc thay không Tăng Ni nào nhận được một câu Kinh của Đức Ngài.
Những sự kiện trên, tiêu biểu cho giới tu xuất gia (Thiên Thừa Hạnh) thời Hạ Lai Mạt Pháp này, các vị có học trò theo tu khá đông. Các vị đều được gọi là hoà thượng, thiền sư, nhưng cũng lại tiếc thay không nhận được một câu kinh của Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật trong thời khai đạo ở thế giới Ta Bà này.

“Các bậc tu hành nên thận trọng lúc đang tu, khi thuyết pháp rất hay in tuồng Thánh Tăng hoặc Tiên, Thần, Thánh ý nhưng ngược lại chính bản thân nơi mình chưa hiểu đặng lời thuyết minh trên hay chưa đặng quả vị như thế để tương xứng chớ nên thọ ngã. Phật dạy nên nương vào công đức Như Lai mà thuyết pháp.

Chính nơi tự giác nói thảy đều là lời Phật ngữ nói, bằng chẳng dùng lời tự giác nói tức lời ma thuyết tưởng vọng nói. Đoạn này rất cần cho bậc tu hành lưu ý.” –T.V.

Ngài ngồi khóc chờ 'họ' đã quá lâu.
Qua những sự việc trên Ngài than: Tăng Ni bây giờ chăm học kinh, nghiên cứu kinh, gặp pháp gì nghịch ý liền chướng. Chẳng lẽ nhà bác học là bậc giác ngộ sao? Rồi Ngài ngồi khóc.

“Sau này Tăng Ni có đến, ông nói Tôi chờ họ đã quá lâu.” –T.V./-

Bút ghi trên đường hành đạo

TU VỚI MA, THỜI PHÁP ĐẦU TIÊN

Khoảng tháng 8 năm 2002 tại San Jose, Hoa Kỳ ông Nguyễn Phước (*) đến gặp Thiền Sư Bồ Tát Di Như xin học Đạo. Thiền Sư sau khi nghe qua hỏi: "Ông nói Tu Phật bằng cách đọc Kinh, đi Chùa, ăn chay rồi cũng ngồi thiền, làm việc thiện. Vậy ông đã gặp Phật bao giờ chưa?"

Ông Phước tỏ vẻ suy ngẫm: "Dạ thưa thầy(*) chưa bao giờ".

Thiền Sư: "Thế giới này bị điều khiển trùm khắp bởi Ma Tánh nên nó chính là Thế Gian chớ không phải Thế Ngay. Đã là Thế Gian thì Phật bị Ma che phủ kín suốt suốt".

Hớp ngụm trà, Thiền Sư tiếp lời: "Người như ông chưa bao giờ thấy Phật lại hăm hở tự cho mình biết Tu Phật thì ông chính là kẻ hoang tưởng. Thế gian này làm gì có Phật để Tu. Ngược lại ông đang bị lừa phỉnh để nhìn Ma ra Phật rồi tự ông chui đầu vào Tu với nó từ hết một kiếp cho đến sang muôn kiếp khác."

Đến đây ông Phước bỗng cảm thấy bị giật ngược vì lời nói vừa nghe lạ quá chưa bao giờ được nghe. Thiền Sư tiếp:

"Ông nghe đây: Hôm nay ông đang ngồi trước tôi đó là do Công Đức sâu dày của ông từ nhiều kiếp trước nên mới lãnh hội những lời minh thuyết này. Ông nên ghi nhớ rằng: ông phải Tu với Ma cho đến khi nào sạch Ma Tánh rồi thì tự nhiên Phật Tánh sẽ hiện ra với ông."


Lần đầu tiên ông Phước gặp Thiền Sư Di Như,
được truyền Mật Tôn ngay.
(*) Gọi Thiền Sư là Thầy như Thầy dạy học.
Pháp danh của ông là Tâm Tuấn, Ban Hộ Đạo.

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


23. Diễn văn được Đức Di Lạc chứng minh

Bài diễn văn Chân Phật Tử Pháp Khả đọc trước Đại Hội sau đó được Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật chứng minh.

Nam mô Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
 Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.
 Nam mô Giáo Chủ hiện tại Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
 Nam mô Di Lạc Tôn Phật.

Kính Bạch Đức Ngài, hôm nay, ngày 29 tháng 9 năm Mậu Thìn tức năm 1988, trong giờ phút tôn nghiêm với kim thân đầy kính ái, Ngài đang thị hiện chứng minh đại lễ. Với y áo thiên thừa chỉnh tề Tứ Chúng trong và ngoài nước tề tựu với tất cả tâm thành kính tín thành, con đại diện tứ chúng thời Hạ Lai Mạt Pháp, kính trình lên Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật con đường tu đến kết quả chân lý Tối Thượng Thừa hiếm có mà Đức Ngài đã tốn biết bao công ban cho chúng con.

Kính bạch Đức Ngài, chúng sinh giai hữu Phật tánh vốn viên minh sẵn có từ vô thủy vô chung, nhưng do tập khí nhiễm tham, sân mới hiện si mê, mới có ma tánh phủ kín che Phật. Ma tánh liền có Ma Lực làm cho tứ loài đều bị trị khó vượt qua được pháp giới của ma lực. Trên thực tế, muốn thoát khỏi vòng đai pháp giới của ma lực phải thành khẩn tìm cầu Bậc Thiện Tri Thức là Phật hay Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ đạo để tự mình tạo công năng, công đức tương ứng. Tùy theo mức độ Tin Vâng Kính mà được cứu độ bình đẳng lớp lớp.

Bậc tu lịch trình thứ tự đầu tiên phải niệm niệm sửa tánh, trong đó nhẫn nhục rất cần thiết để xem xét kỹ vạn pháp, bá thiên vạn lần nhẫn mới đặng bình tĩnh quan sát vạn pháp không bị thiên lệch, biết nhận định lỗi lầm do mình gây ra hay do hành động cá nhân, cá tánh của mình tác tạo thành nghiệp không phải do ai khác, Bậc Thiện Tri thức khai thị nhưng phải chính mình trực giác được nghiệp thức di chuyển không ngừng do cảnh, chẳng vương theo cảnh, chẳng dựa theo tâm. Trực giác được như vậy gọi là bậc tu có trí tuệ căn bản.

Bậc biết nhẫn, chịu sự oán hại, yên nhận khổ, không còn đọng vọng thì dù có đối diện vạn pháp thuận hay nghịch vẫn nhẫn nại, an nhiên tùy thuận, chọn lựa phương thức hóa giải, vận chuyển vạn pháp tùy thời gian, không gian đến một lúc nào đầy đủ công năng, công đức liền Trực Giác đặng Trí Tuệ Cứu Cánh. Từ đó tiếp tục hành thâm pháp giới tiến đến trí tuệ Bát Nhã. Trí này chính là kiếm bảy báu chém bất cứ vật gì dù rắn chắc đến đâu cũng tan vỡ. Bậc đạt được trí tuệ bát nhã không còn tâm sanh cảnh, thấy biết rõ tham, sân hận sanh ra si mê. Đã si mê bị lầm a tăng kỳ kiếp.

Phải tự nguyện bá thiên vạn lần nhẫn nhục, nhẫn nại nữa, vận chuyển vạn pháp gì cũng đúng mà phát sinh trí tuệ bát nhã, thâm nhập được sâu đậm vạn pháp, lúc đó nhận được hành dụng Như Lai Tạng mới ra chân như, tỏ rõ sạch sẽ nhẫn nhục liền Thị Chứng Vô Sanh Nhẫn Nhục. Đến lúc thành tựu sung mãn nhẫn nhục nó chính là Vi Trần Phật còn gọi là Phật Giới Nhẫn.

Cho đến vào bố thí, hóa giải tỏ rõ được Tâm Bi liền thị chứng Vô Sanh Bi nó chính là Vi Trần Phật còn gọi là Phật Giới Bi. Cho đến trì giới, tinh tấn, trí tuệ, thiền định, hóa giải sạch sẽ liền thị chứng vô sanh trì giới, vô sanh tinh tấn, vô sanh trí tuệ, vô sanh thiền định.

Nó cũng chính là vi trần Phật còn gọi là Phật Giới Trí, Phật Giới Tinh Tấn, Phật Giới Tuệ, Phật Giới Thiền Định, thảy thảy đều vi trần Phật. Từ hành động, lời nói cho đến tư tưởng đều lớp lớp thị hiện vi trần Phật, sát na Phật, cho đến vô lượng vô biên thảy đều thị chứng VÔ SANH lớp lớp.

Bậc tu khi hành thâm pháp giới được ai khen tặng liền như nhiên tỏ biết vui, khi gặp kẻ chửi mắng hoặc bị nhục liền như nhiên tỏ biết tái tê nhưng chẳng dính mắc oán hờn xâm chiếm toàn thân liền thị chứng VÔ SANH. Đó chính là Nhất Tâm đảnh lễ, liền trực giác tứ thời tự nguyện cung kính cúng dường Như Lai, chẳng còn ngã, sở hữu chi nơi thân mạng mới gọi là có thân mà không thân đặng Pháp Đảnh Như Lai, thấu đạt Trí Tuệ Bát Nhã, nhận chân được thật đúng các pháp vốn bình đẳng, thực hiện bình đẳng không ngăn ngại vạn pháp. Thị chứng tứ đại vốn vô sanh. Nó là thực tướng của chân như, xa lìa được sanh diệt.

Mỗi tánh đều hàm chứa nhiều phẩm chất cùng phẩm lượng thực tướng vô tướng, chúng vao vây diễn hóa. Tỏ rõ thực tướng hóa giải, không thủ cũng chẳng xả liền thấu đạt vô tướng, ngộ vô sanh.

Nương vào sanh, tỏ rõ sanh. Không sanh cũng chẳng diệt. Thị chứng vô sanh sanh.
Nương vào tử, tỏ rõ tử. Không cấu cũng chẳng ly. Thị chứng vô sanh tử.

Vậy vô sanh chẳng phải không sanh mà đương sanh tỏ thấu sạch sẽ liền thị chứng vô sanh. Trực giác: Giác niệm đó chính là niệm Bất Tử là chơn niệm cho đến cả cái niệm cũng không trong tất cả thời đều không chỗ đắm cũng chẳng chấp. Chơn Tâm hiện.

Nghiệp bao vây, diễn hóa ngăn chặn mỗi mỗi hạnh nguyện. Bậc có trí tuệ cứu cánh sáng soi, tỏ rõ hóa giải. Bậc chưa có trí tuệ cứu cánh liền củng cố nghiệp. Mỗi Nghiệp chính một tiểu ngã vũ trụ.

Tiểu ngã do ta lầm chấp mà thọ nhận nên làm chúng sanh. Nghiệp thấy nghiệp, chính nó thấy nó, nó ngăn che nghe thấy biết nơi ta rất tinh vi, ai cũng phải lầm, tỏ rõ liền thị chứng vô sanh nghiệp.

Cho đến nương vào sắc, hóa giải tỏ rõ sắc liền thị chứng Vô Sanh Sắc. Đấy là giác niệm sắc. Vô sanh cũng không, liền thị chứng liễu vô sanh. Nương vào thinh, hương, vị, xúc, pháp hóa giải tỏ tường liền thị chứng vô sanh thinh, hương, vị, xúc, pháp, tức giác niệm thinh, hương, xúc, pháp.

Tỏ rõ mỗi tiểu ngã, trực giác mỗi giác niệm. Tỏ rõ vô số giác niệm chính trực giác vô số tiểu ngã, chính vô số vi trần, sát na ma ba tuần, mỗi mỗi tỏ rõ hóa giải liền lạc trơn liền vô sanh hành dụng hợp hóa. Đó chính Vi Trần Phật Sát Na Phật. Phật tánh, Ma tánh chỉ là một, chúng đeo sát nhau như hình với bóng. Khi mê lầm Phật tánh ẩn trong Ma tánh, khi trực giác được Ma tánh không còn chỗ dung chứa thì cũng chính nó, Phật tánh hiện khắp khắp.

Mỗi chúng sanh đều hàm chứa nơi nó cái mầm chủng tử thiện cùng ác, về phương diện trực giác được chẳng còn có thiện ác gì nữa cả. Trong pháp tuyệt đối, tất cả pháp ấy chẳng còn là tội lỗi nó chỉ trở thành tội lỗi trong những điều kiện đã được minh xét chưa trực giác. Bậc đã trực giác cần phải thâm nhập hàng vạn pháp giới cho sung mãn công năng công đức để cho nó phổ chiếu rực rỡ đích thực của nó.

Thị chứng lớp lớp liền Đại Ngộ. Liễu sanh Đại Ngộ liền thị chứng Liễu Ngộ. Liễu ngộ thị chứng bất tử trở về bổn nhiên, như nhiên. Như nhiên chính bổn lai chúng sinh. Chúng sinh như nhiên rất gần chư Phật. Thể của chư Phật, đâu đâu cũng viên minh thường còn, bất biến sẵn lớp lớp từ vô thủy vô chung.

Vỡ lẽ ra mới biết không có chúng sinh đâu có Phật, không có vô minh đâu có giác ngộ. Khi đầy đủ công năng công đức thể nhập chúng sinh, cận kề mật thiết thì Phật với chúng sinh đồng một thể nên khi mê lầm bị vô minh thì Phật và chúng sanh xa nhau muôn trùng do tuần.

Chính vì vô minh mà chúng sinh không biết Phật, chỉ Phật biết chúng sinh mà thôi. Đã vô sanh nên thị chứng Không Tướng mà Giác Tướng. Liễu vô sanh các pháp bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Liễu vô sanh thị chứng các pháp hiện đâu đâu cũng vi diệu đầy đủ sức đại từ đại bi.

Bổn lai của pháp vốn tự thể tuyệt đối, chính giao điểm này Tâm Chư Bồ Tát cung kính cúng dường chư Phật. Chính chỗ này Tâm Chư Phật mười phương ba đời thường trú, viên minh chẳng đổi dời, bất di bất dịch, vô thủy vô chung chẳng còn pháp nào cao hơn, thị chứng các pháp hiện đồng đẳng, đã đồng đẳng tâm liền vô thượng đẳng, pháp cũng vô thượng đẳng, trí cũng vô thượng đẳng. Chẳng còn tâm nào, pháp nào cao hơn. Bất khả tư nghì. Vì sao?

Vì nó vượt quá sự thuyết giảng, sự thực hành, sự tìm kiếm, suy nghĩ không thể lấy thí dụ thế gian mà diễn đạt đầy đủ được.

Pháp đồng đẳng thị chứng pháp Bát Nhã, tâm đồng đẳng thị chứng tâm bát nhã. Tâm này thoát khỏi tri thức, không còn dùng trí trong thân, không còn dùng thần thức suy nghĩ. Đó là chỗ tự chứng rất thâm sâu vi diệu như nhiên tự biết, hồn nhiên điều hành Như Trí gọi là chủ lực, nó cũng là Nhất Thiết Trí bước vào Bất Khả Tư Nghì.

Đó chính là con đường Như Lai Thừa hay Phật Thừa Tối Thượng. Con đường này không có lúc trước cũng chẳng có lúc sau vì nó nhịp nhàng viên dung theo nhịp chuyển vận của vũ trụ, cho nên không thể nói lúc trước ông ấy trông dễ mến, bây giờ ông ấy xấu quá không ưa. Vì Phật Thừa vốn nương vào hiện sinh tỏ rõ hiện sinh sạch sẽ hiện sinh nên tiên liệu đưa đón kín nhiệm theo vận chuyển Như Lai, giờ phút trước, sau chẳng dừng, nhịp nhàng nương tâm mình an nhiên hòa nhịp vào tâm vũ trụ. Tâm vũ trụ tức tâm Như Lai, nhờ Bình Đẳng Tánh Trí tỏ tường cùng hành dụng tinh vi mới thấu đạt liền lạc Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn.

Chủ trì được thực vô, liễu sanh liền lạc, lúc bấy giờ tâm mới hòa đồng chung cùng giao cảm vũ trụ, không còn bị vũ trụ sanh.

Đã vô sanh, các pháp đâu còn sanh và diệt. Pháp vốn thường còn nhưng biến hình tướng dưới nhiều hình thức cho đến nỗi bậc Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán cũng chưa đủ công năng công đức thấy hết chỉ hàng Bồ Tát đã thị chứng pháp Vô Thượng Đẳng mới biết hồi hướng đầy đủ để chư Phật khai cho sau trực ngộ sâu mà thấu đạt.

Bậc tu chưa tỏ thường lầm lẫn khi thấy hình tướng của pháp mất hay thấy tướng pháp sanh, vội cho là pháp sanh diệt. Thật ra các pháp vốn tịch tịnh viên minh, bất sanh bất diệt.

Bậc tu bị mang danh giả ngã tướng tức thị danh bị lầm thọ nhiễm cái ta, khi đã có cái Ta, tức có Của Ta, nhận sai lầm các pháp cho là sanh diệt. Do chủng tử Ta liền sanh chủng tử phiền não của Ta, nó ngăn che Vô Thượng Giác.

Khi tu hành đến lúc tự biết được các pháp vốn không sanh cũng chẳng diệt liền nương vào pháp hóa giải tỏ rõ không còn lầm pháp, tận tường pháp được an vui lạ thường.

Đến giai đoạn tâm liền lạc, tỏ ngộ trước sau tứ thời các pháp vốn đồng đẳng, liền chu đáo trước sau mới sở đắc viên dung, điều hành được vạn pháp, chuyển pháp chướng ngại, ngăn đón to lớn phủ kín như núi tu di tan biến, pháp đã hồi Tâm. Gọi là chuyển núi Tu Di vào trong hạt cải mà chúng sinh trong thế giới đó chẳng hề hay biết.

Bậc tu thấu đạt tứ thời Tâm Vô Thượng Đẳng, không còn thời gian cùng không gian rời rạc, liền hóa thân lúc nào cũng có ba đời Phật.

- Hư không không tận hiện Phật quá khứ.
- Trong hư không không tận khởi tác dụng, hiện Phật Vị Lai.
- Nương vào hiện sanh, hóa giải thấu đạt hiện sanh, Phật hiện tại.

Lúc bấy giờ bậc này hiện mỗi ngôn ngữ, mỗi cử chỉ, mỗi tư tưởng ứng cùng hóa hiện đồng một đại từ lực cùng Tam Thế, được tương thông Phật lực. Thị chứng vô vô minh diệt, vô vô minh tận, tứ thời an lành thoải mái, mỗi một chuyển động đều tự phát ra vi diệu pháp, thực hiện được vạn hạnh cho đến lúc hoàn mỹ mới chu đáo Nhất Hạnh. Đại bi nguyện rất sâu này của Bồ Tát chẳng có thể lấy cái tình của chúng sinh mà đo lường được.

Từ đó mới rõ, bậc tu không tạo được Vô Thượng Trí đều nằm yên nơi thần thức vọng loạn để biết chưa vào được đúng mức chiều sâu. Thần thức là chỗ dựa của sanh tử. Chỉ khi nào đầy đủ sung mãn nơi công đức hữu lậu, trong đó hàm chứa vô biên đại công đức hi hữu mới như nhiên thị chứng Công Đức Vô Lậu.

Nơi đây các nghiệp lậu hết vĩnh viễn, chẳng còn theo duyên mà tăng, tánh được thanh tịnh, được tròn sáng đâu đâu cũng là chủng tử vô lậu. Có đạt đến vô lậu mới trực ngộ vô úy, nơi các pháp chướng ngại, các nghiệp sinh tử đều hết, viên dung, không còn có chỗ sợ, hết khổ gọi là chánh đẳng giác vô úy.

Từ đó bát nhã hiển hiện, chính huệ không sanh, không phân biệt. Huệ không pháp, không phân biệt. Thực tướng bát nhã chúng sinh vốn đủ, chỉ do vô minh che không nhận được vô tướng bát nhã. Do đó chẳng được tam muội.

Vào được trí bát nhã, bậc tu mới từng lúc trong tứ thời hạnh nguyện được đầy đủ Thập Nhị Địa. Chưa thị chứng sạch sẽ Nhứt Thiết Chủng Trí bậc tu chẳng thể nào thực hiện được giác dụng, do đó chẳng bao giờ có vô thượng đẳng trí, dù cho bậc tu cố gia công tứ thời thiền tọa, học, nghiên cứu thiên kinh vạn quyển vẫn phải còn bị ở vị trí thần thức biết Phật pháp, khó thoát sinh nổi lý trí.

Bậc thực hiện được tận biết "Như Lai Vô Biên Thề Nguyện Sự" bậc này càng gần gũi chúng sinh, càng thấu đạt chúng sinh mà chúng sinh chẳng hề hay biết. Mỗi niệm niệm đều cảm ứng tương thông, hòa hợp đầy đủ Thập Nhị Địa, hoàn tất cửu Phẩm Liên Hoa vào Tam Muội mới tương thông Mười Phương Phật lực.

Kính bạch Đức Ngài, chúng con nguyện nương vào vạn pháp hiện sinh khéo thuyết, khéo dụng để tận tường hiện sinh đặng thị chứng vô sanh, chung cùng con đường bất tử với chư Phật mười phương ba đời.

Chân Phật Tử Pháp Khả Đại diện tứ chúng kính dâng.

Trước ngày Đại Lễ, Ngài đã biết tôi sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Trong giờ hành lễ Ngài khai thị tôi nghe như vầy:

“Này ông Pháp Khả, thiên thu vạn kiếp ông đã đi lầm lạc, nay ông gặp Ta, Ta đã thương mến độ cho ông, vậy ông hãy thương mến độ chúng sinh cũng như Ta đã từng thương mến độ cho ông.

Nếu có chúng sinh nào cầu Tri Kiến Giải Thoát, ông hãy dạy cho họ tri kiến giải thoát. Nếu có chúng sinh nào cầu giác ngộ rốt ráo ông hãy dạy cho họ giác ngộ rốt ráo. Này ông Pháp Khả, ông có nghe chăng, ông có nhớ chăng?”

Tôi đảnh lễ Ngài thọ lãnh lời thọ ký, tứ chúng trong đại lễ cùng đồng đảnh lễ theo bảy lạy. Sau đó Ngài khai thị có một số chân tử Pháp Tạng cùng nghe:

“Từ nay Tôi đã có một Bồ Tát thừa kế nối truyền Chánh pháp, Tôi hết lo sau này trên đường hạnh nguyện độ sinh nếu ông gặp Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, ông nên tôn kính, còn những bậc xưng hô Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư, ông hãy thân cận hòa đồng xem có phải vô thượng đẳng, vô thượng sư của chư vị này giống Chân Như mà tôi đã dày công đúc ra ông? Nếu chẳng đúng tâm ấn chân truyền thì ông phải biết Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư, học thuyết, giả thuyết chớ không phải chân thật.”

Thời Hạ Lai vũ trụ xuất sanh chỉ có một Chân Tôn chứ khó lòng có hai mà nếu có, ắt đã từng gặp Phật cùng thời rồi. Thời khoa học này có vị tu theo nghiên cứu Kinh, học kinh tự cho vô thượng đẳng vô thượng sư lại bảo không có các cõi, không có địa ngục, chỉ có thế gian. Sự kiện này khiến cho vô số chúng sinh sống thác loạn chẳng sợ ngày mai nhân quả ra sao. Đức Long Hoa Tăng Chủ ghi chép trả lời như sau:

“Từ Chư Thiên mà hết phước, phải sa địa ngục bị hình phạt gông cùm đói khát. Từ một lời nói tổn làm đoạn duyên Phật phải chịu nơi A Tỳ Địa Ngục hàng trăm kiếp, chừng nào kẻ kia phát Bồ Đề Tâm Nguyện thì chừng đó lời nói tổn kia mới đặng thoát sanh. Thật biết như thế nên thường khuyên nhiều người hãy phát tâm tu nguyện cốt giải Địa Ngục những kẻ phạm ngôn.” –T.V./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


22. Lời Khai-Thị trước ngày Bát Đại Niết Bàn

Đức Long Hoa Tăng chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị trước ngày Bát Đại Niết Bàn.

• Trước giờ phút Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn.
Bà Tạng Trình có hỏi, sau này Thầy đi rồi, ai thay Thầy dạy đạo. Lúc đó có Pháp Thao đứng cạnh bên. Ngài trả lời:

– "Thì Tạng Trình làm chủ lễ phát khăn tang." Bà Tạng Trình thưa tiếp:

– "Không, Tạng Trình muốn biết ai thay Thầy làm đạo tiếp." Ngài làm thinh không trả lời, Ngài thừa biết nếu bà Tạng Trình biết Ngài trao cho tôi tiếp nối mối đạo, bà sẽ làm dữ và kéo theo số chân tử thù hằn chờ sẵn, họ sẽ làm chuyện nguy hại giết tôi nên Ngài làm thinh.

Với tư thế gia đình, Ngài có viết tay trao tài sản cho bà Tạng Trình căn nhà số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng và còn bảo nên giải tán Hội vì Ngài thừa biết bà Tạng Trình chưa bao giờ đứng vị trí Hộ Pháp trong suốt thời gian Ngài hành đạo nên khó giữ gìn và khó điều hành mối Đạo được vẹn toàn.

• Đối với các Pháp Bảo Ngài còn dạy:

– Bậc nắm Tâm Ấn thừa kế mối đạo không ở Nha Trang.

– Qui Nhơn đất Phật nhưng không có Chân Tử xuất Thánh.

– Đà Nẵng tu hành cần phải lìa bản ngã.

– Huế tu thoát khỏi nghèo đói.

– Chỉ có Sài Gòn thọ lãnh được Biệt Tôn Vô Thượng Chánh Giác.

– Sau khi Tôi đi rồi chỉ có một vị làm Đạo theo gốc, số còn lại chỉ là bầy nhầy.

Rồi Ngài trao cho Pháp Bảo London đôi Hài. Ý nghĩa đi hành đạo để thâm nhập vạn pháp. Vì đã thấy rồi mới đi hạnh nguyện khỏi vấp ngã.

Tứ chúng Hoa Kỳ Ngài ban cho một cặp kiếng đeo mắt. Ý nghĩa phải tu cho có cặp mắt thấy vạn pháp. Thấy rồi mới đi hành thâm pháp giới được.

Ngài đã chứng minh thì không có sai. Cũng tại Trung Ương Hội Thượng, Ngài khai thị: “Cái cân tiểu ly cân vàng còn sai chứ tôi đã chứng minh thì không có sai dù một phần sai số rất nhỏ cũng không có.”

Vì sao? Vì Chư Phật đã Tận Giác Tướng nên không hề có sai. Chúng sanh giải quyết một vấn đề cũng còn theo cạnh, góc, trong khi Chư Phật tận thấu vô lượng vô biên nên hóa giải, điều động vạn pháp theo vòng tròn nên kín. Tất cả sự vọ vạy của chúng sanh và hành sự của các bậc Thánh chưa hoàn mỹ nên làm gì cũng không ra khỏi vòng tròn. Do đó mà không qua được Chư Phật, không hiểu tận như Chư Phật.

“Phật đạo thừa kế Nhất Tôn nên có sự bảo tồn Tôn Thể Chứng Minh Tâm Ấn. Vì vậy trong thời Lục Tổ Huệ Năng, bậc tu hành dù có Đắc Pháp hoặc đoạt đến chân lý Tri Kiến Phật cũng phải về lễ bái thọ lãnh chứng minh mới đặng vào Chân Bản Nhất Tôn Như Lai Tạng hoàn toàn Chánh Giác.” –T.V.

Lời Ngài khai thị trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này để nhắc nhở thời Lục Tổ dù bậc tu có đạt Tri Kiến Phật cũng phải có thừa kế chứng minh đến nay cũng theo y tôn, y chỉ rồi từ đó mới tu hành tiếp Phật Tri Kiến, từ đó mới Tương Thông Phật Lực theo mức độ tu chứng trong Cửu Phẩm Liên Hoa.

Cho nên những vị chân tử Ngài sau này có đắc pháp cũng phải được Bồ Tát thừa kế kiểm tra chứng minh mới được vào Nhất Tôn Như Lai Tạng, hoặc Tổ thừa kế thứ hai... nối tiếp mỗi thời chứng minh cho mới đặng. Chân tử Ngài, vị nào không theo đường Ngài đã vạch ra cho thời mạt pháp này đều là những vị tu ngang, tu dọc theo chí hướng quy định vẫn không được Tương Thông Phật Lực, chỉ được cái máy nói mà thôi.

“Trong thời gian qua tôi chứng minh giáo pháp là phẩm phương tiện cho tu hành, sau này có chân tử nào đắc đạo tôi chứng minh lại.” –T.V.

• Ngài tuyên bố bải bỏ chức phẩm Giáo Pháp. Từ khi đã ban hành Hịch Bồ Tát, Ngài tuyên bố bải bỏ chức phẩm Giáo Pháp. Sau bao thử thách còn lại bốn giáo pháp, Ngài cho đem áo, mũ về Trung Ương rồi đốt sạch và bảo: “Những chân tử Pháp Tạng từ nay không được xưng danh giáo pháp.” –T.V.

• Ngài ban cho y vàng chức Tôn Giả trở lại. Ngài ban bốn xấp vải vàng cho tôi, bà Tôn Giả Pháp Tùng, ông Tôn Giả Pháp Bang, ông Tôn Giả Pháp Kiến đi may bộ y vàng chức Tôn Giả trở lại.

• Ngài bảo tôi may y, áo, mũ Bồ Tát. Sau tại Chánh Điện nhà số 6 Huỳnh Thúc Kháng, Ngài bảo tôi may y, áo, mũ Bồ Tát. Tôi tiếp nối đạo tràng, dạy đạo khi còn Ngài được ba năm đến năm 1993 Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn, thì tôi đã điều hòa được đường tu theo vết chân Ngài cùng y tôn, y chỉ của ba đời Phật.

Cho mãi đến năm 1995, có chân tử tu đông đủ tôi mới may áo, mũ Bồ Tát do sự hành đạo mà như nhiên Như Lai đến nhắc, khiến tôi phải thực hiện theo lời khai thị của Ngài ngày xưa.

Tại số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang, một Bảo Tạng Kinh và Hịch cùng bảng chứng minh của Ngài do bà Tôn Giả Tạng Trình lưu giữ.

• Bà Chân Tử cất giữ riêng cho cá nhân. Bà Diệu Hạnh là một chân tử thường đánh máy Kinh và các bảng chứng minh do Ngài làm ra. Bà cũng hay cất giữ riêng cho cá nhân bà khi đánh máy cho Ngài. Ngài diệu dụng tuyệt mỹ nên chân tử nào cũng thỏa thích, cũng thấy tình yêu thiêng liêng cao cả nơi Ngài.

• Tổng kết các Tôn Giả còn lại. Đến năm 1975, sau bao thăng trầm, Ngài diệu dụng Tịnh Bất Tịnh, hữu tướng cùng phi tướng, tổng kết còn lại các Tôn giả:

– Bà Tôn Giả Tạng Trình.

– Bà Tôn Giả Pháp Tùng.

– Tôn Giả Pháp Bang: Ông bỏ đi sau 3 năm, nhân duyên đi tảo mộ gặp Ngài gọi về. Sau bỏ đi một năm nữa. Rồi lần cuối tức giận Ngài, đi nửa năm cho đến khi Ngài vào Bát Đại Niết Bàn thì anh em kêu gọi, ông về Trung Ương nhưng không chịu lên thăm Ngài. Anh em thúc giục mãi ông mới lên thăm Ngài lần cuối. Ngài ôn tồn bảo: “Tôi biết ông đợi tôi chết rồi mới về.” Tôn giả Pháp Bang thuyết pháp hay nhưng còn phải thành công hành sự thâm nhập pháp giới nữa. Đây là một điều thật quan trọng cho một bậc Tôn Giả. Ngài chứng minh cho Tôn Giả Pháp Bang sau này sẽ giác ngộ.

Bà Tôn Giả Tạng Trình và bà Tôn Giả Pháp Tùng đã được Ngài chứng minh sau này sẽ Liễu Ngộ, mức tu chứng sâu hơn Giác Ngộ.

– Tôn Giả Pháp Kiến chỉ nói thao thao mà mắt không thấy pháp để hành sự. Ngài bảo Pháp Kiến sau này bị ngoại lai xâm nhập ráng tu cho Tri Kiến Phật.

– Tôn Giả Tạng Thân Ngài ghi vào kinh nhưng chưa cấp phát y áo và bảng chứng minh Tôn Giả.

– Tôn Giả Pháp Hậu: Chịu đựng giỏi, qua nhiều thử thách nhưng sau Ngài hủy bỏ chức Tôn Giả.

Ngài không bao giờ quên hay thiều sót với Tứ chúng tu hành quanh Ngài. Ngài ban cho thật bình đẳng không sai chạy một pháp dù nhỏ đến đâu. Trước năm 1975 còn khoảng 10 Tôn Giả cũng được Ngài chứng minh, nhưng những vị này, sau những đợt thử thách không chịu nổi pháp nghịch đã bỏ đi nhiều năm không về, hoặc lâu lâu mới về thăm Ngài nhưng tránh né anh em trong đạo tràng. Còn hàng Giáo Pháp, Tôn Giả có nhiều vị từ năm 1975 đến năm 1993 do hoàn cảnh khó khăn trong gia đình, trong đạo tràng bất ổn, rối rắm họ đi biền biệt không biết gì diệu dụng của Ngài cho con đường Đức Trí tương song.

• Đức Ngài chứng minh sau bao biến cố vẫn còn tu tập. Đại diện hàng Tôn Giả, Hộ Pháp ở Trung Ương và các Pháp Bảo Tỉnh tu Pháp Tạng sau bao biến cố còn lại vẫn tu tập, đến năm 1993 được Đức Ngài chứng minh.

Tại Trung Ương Hội Thượng Nha Trang:
1. Bồ Tát: Pháp Khả được đổi pháp danh Di Như.
2. Hộ Pháp Bồ Tát: Tạng Bửu được đổi pháp danh Vân Đường dạy con cháu Đề Bà Đạt Đa.
3. Bà Tôn Giả Tạng Trình.
4. Bà Tôn Giả Pháp Tùng.
5. Ông Tôn Giả Pháp Bang.
6. Ông Tôn Giả Pháp Thao (chưa có chứng lệnh).
7. Bà Hộ Pháp Diệu Hòa đã được khai thông Tạng Thức.

Hàng Tôn Giả dù tu tỏ Như Tạng cũng còn phải tu cho đến mất TẠNG mới vào NHƯ. Và một số chân tử tín tâm vẫn còn tu tập tại Trung Ương nhưng không nghe Ngài khai thị chứng minh cho ai nữa vào hàng Giáo phẩm.

Chỉ có một lần khi thành Quả Phật, Ngài chứng minh cho ba người: Tôi, Tôn Giả Tạng Trình, Chân tử Diệu Hạnh sẽ thành Phật. Chúng tôi đảnh lễ tri ân Ngài, sau đó Ngài bảo tôi nghe như vầy: Diệu Hạnh căn cơ Đại cường sẽ thành Phật Giới.

Pháp Bảo Tỉnh Thị Hội Quy Nhơn:
1. Bà Hộ Pháp Tạng Hiếu.
2. Ông Hộ Pháp Pháp Quảng cần tạo đạo đức.
3. Bà Hộ Pháp Pháp Liên. Riêng Tôn Giả Pháp Kiến, Ngài ban chứng lệnh không công nhận là chân tử tín thành nữa (bảng chứng lệnh còn lưu trữ).

Pháp Bảo Tỉnh Thị Hội Đà Nẵng:
1. Bà Hộ Pháp Tạng Sinh được Ngài chứng minh sẽ Giác Ngộ.
2. Hộ Pháp Pháp Thành cần tạo trí tuệ.

Quận 3 Đà Nẵng:
1. Ông Hộ Pháp Pháp Đáo.

Pháp Bảo Tỉnh Hội Thừa Thiên, Huế:
1. Hộ Pháp Tạng Chưởng.
2. Hộ Pháp Tạng Thoàn.

Pháp Bảo Thành Phố SàiGòn:
Năm 1981, Ngài cho tôi vào Sài Gòn mở Đạo, sau đó tôi dẫn dắt một số chân tử tín tâm hạnh nguyện đã trở thành Hộ Pháp. Hàng Hộ Pháp này tinh tấn làm Phật sự trong nhiều năm, tuy ở Sàigòn nhưng hành nguyện tất cả Phật sự ở trung ương đã được Ngài khai thông Tạng Thức.
1. Bồ Tát Di Như.
2. Hộ Pháp Tạng Khiêm.
3. Hộ Pháp Tạng Thắng.
4. Hộ Pháp Tạng Thông.
5. Hộ Pháp Diệu Trâm.
6. Hộ Pháp Pháp Cẩn.
7. Hộ Pháp Pháp Trực.
8. Tạng Thành in, phát kinh sau này làm Trưởng Giả. Như vậy, ông không tu giác ngộ nổi.

Đức Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn được 3 năm thì Tôn giả Pháp Thao và vài tín chúng tu chưa đủ tự tánh bị ma thuật dẫn dắt chạy theo bùa chú đã bị ngoại lai xâm nhập. Sau may thay Pháp Thao Trực Giác hồi hướng về lại Chánh Pháp.

Chân Tử Tạng Thanh mới vào tu, có xin tôi chụp hình Hịch Chứng Minh Vũ Trụ, Hịch Bồ Tát, Hịch Tin Vâng Kính. Tôi đồng ý cho chụp hình để nương theo Bồ Tát Hạnh tu hành. Tạng Thanh không được chứng minh, chỉ thuộc hàng Chúng Sanh Hộ Pháp mà tự xưng và làm sai trái Tôn Chỉ, rất nguy hại. Tạng Thanh rất cần tạo đạo đức.

Còn rất nhiều chân tử nữa ở Sàigòn tu hành theo Pháp Tạng nhưng không hạnh nguyện chung đường, chỉ có những vị trên đồng ứng lo hộ đạo ở Trung Ương.

Tại Thủ Đô Luân Đôn ở Vương Quốc Anh:
1. Hộ Pháp Tạng Thống.
2. Hộ Pháp Tạng Tế.
3. Hộ Pháp Pháp Vượng.
4. Hộ Pháp Pháp Hoàn.
5. Hộ Pháp Pháp Quí.
6. Hộ Pháp Pháp Trao.

Ông Tạng thống là vị Hộ Pháp tạo dựng mối đạo và nuôi dưỡng tín chúng tại Luân Đôn đầu tiên. Sau Hộ Pháp Tạng Thống được khai thông Tạng Thức, Ngài chứng minh sẽ được Giác Ngộ.

Bà Pháp Quí là một chân tử tín tâm cầu đạo đã được Ngài khai thông Tạng Thức, sau này trực giác sẽ giác ngộ.

Tại Hoa Kỳ:
1. Hộ Pháp Tạng Ảo cần tạo Đạo Đức.
2. Hộ Pháp Tạng Quảng.
3. Bà Hộ Pháp Diệu Hoàng đã được khai thông Tạng Thức.

Sau 10 năm Ngài Nhập Bát Đại Niết Bàn, một số Hộ Pháp ở Hoa Kỳ không tạo Đạo Đức, lại háo danh căn không thể hiện được tinh thần Hộ Pháp đã được xóa bỏ tên trong danh sách này.

Là Chánh Trưởng Ban Hộ Đạo Trung Ương và được thọ lãnh Hịch Bồ Tát Ma Ha Tát trước ba vị vừa Tôn Giả và tín chúng, tôi được Ngài khai thị lần lượt ghi chép lại. Chân tử Ngài gồm 3000 người, kết chung còn lại Bồ Tát, Tôn Giả, Hộ Pháp, như kể trên. Còn số đông gần 100 vị tín chúng ở các nơi vẫn tín tâm tu hành nơi các Pháp Bảo Pháp Tạng theo tổ chức.

Ngài chứng minh 36 vị Tổ nối truyền thừa kế xây dựng Chánh Pháp trường tồn 5000 năm. Cũng theo lời Ngài khai thị: Chư Tổ sau này tu chứng từ Giác ngộ đến Liễu ngộ tức A La Hán là cao nhất thuộc hàng Thánh, chớ nên xưng Phật trong khi công năng, công đức chưa đủ.

Khi đã gặp Ngài kiếp này, tất cả đều chứng kiến, sự tu hành vô cùng khó, tiến bộ từng bước một nên mai sau chớ có dùng thần thức phóng đại xưng Phật nữa. Nếu vị nào sau này có đắc pháp Vô Thượng Đẳng Chánh Giác cũng phải chờ đến bao giờ gặp Bồ Tát đã được chứng minh đắc pháp Vô Thượng kiểm tra, chứng minh cho mới vào Chân Bản Nhất Tôn Như Lai Tạng.

Ngài cũng lưu lại và ban hành Bảng chứng minh Tin Vâng Kính, các Tổ kế đời sau nên giữ gìn vì đó là y tôn, y chỉ của Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật đại diện Chư Phật mười phương ba đời.

Thời Hạ lai Mạt Pháp này, Ngài chứng kiến Chư Tổ, bậc hữu học xưng Phật dẫy đầy trong khi công năng công đức chưa đến mức đó.

Quý thay lời dặn Thế Tôn
Nguyền xưa năm ấy vẫn còn nhớ đây
Thời Hạ pháp khó đắp xây
Chứng tu, tu chứng dẫy đầy khó phân.

–T.V.

Chư Tổ, bậc chân tu sau này có sở đắc một trong ba phẩm hoặc cả ba như Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bình Đẳng Tánh Trí, Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn, những phẩm này giúp cho hành thâm pháp giới nhập Thánh, biết rõ bổn lai vạn pháp. Còn phải hạnh nguyện cho đến giác ngộ... đến liễu ngộ nữa mới trở thành vị A La Hán./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


21. Hịch Chứng Minh Bồ-Tát

• Bậc cả đời tìm chân lý thì một đời tìm chân lý.
• Bậc lượm lặt chân lý thì một đời lượm lặt chân lý, nếu suy nghĩ để tìm chân lý mà chưa nhận được thì một đời cũng chỉ suy nghĩ thôi chẳng nhận được.
• Duy chỉ có đức tin THIỆN TRI THỨC mà biết thôi.

– Vô Sư Kinh

Hịch Bồ-Tát thi hành Ma-Ha-Tát:

Xem lớn

 

 

 

 

 

 

 

Được trao Bảng Tôn-Giả. Tôi vào tu theo Pháp Tạng Phật Giáo được một năm, đến ngày 30 tháng 9 âm lịch năm 1970 trong Đại lễ chứng minh hàng năm, tôi được Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật chứng minh và trao cho Bảng Tôn Giả.

Sau 20 năm tiếp tục tu tập, tu hành qua muôn triệu gian lao khổ hải đầy thử thách, cùng những lần Ngài Diệu Dụng Phi tướng mục đích thi Đức Trí đầy chông gai, nhưng tôi vẫn chịu đựng, điều ngự, kiềm chế tất cả bộc phát hữu hóa của Ma nghiệp. Chân tử Ngài gồm 3000 đã bỏ tu không đến Trung Ương nhưng vẫn theo đường lối Ngài dạy tu ở nhà. Tại Nha Trang còn lại không quá 7 Chân tử, trong đó có tôi.

Một hôm Ngài bảo tôi phải làm tờ sám hối:

"Ông tưởng ông cúng dường vợ ông cho tôi hả, ông phải viết bỏ bê vợ con không lo đủ sự sống hàng ngày nên tôi phải hóa giải cho gia đình ông.”

Từ năm 1975 trở về sau, gia đình nào cũng bị đảo lộn cuộc sống cơ cực. Phần tôi bị đi tù cải tạo không lo cuộc sống gia đình nổi làm Ngài phải khổ vì Tôi. Tôi biết, tận độ chúng sanh tánh là cái gì đến cũng vui chịu, không từ chối vì bậc Chánh Giác khai mở mà không thuận theo ắt bê trể. Tôi đã Tin Vâng Kính viết tờ sám hối dâng lên Ngài.

• Được trao Hịch Bồ-Tát thi hành Ma-Ha-Tát. Bỗng 6 giờ 30 sáng ngày 23 tháng 7 năm 1989 tức ngày 21 tháng 6 âm lịch năm Kỷ Tỵ tại Trung Ương Hội Thượng, trước Chánh Điện nhang trầm bay thơm ngát khắp phòng, Đức Long Hoa Tăng Chủ tỉnh tọa trang nghiêm, đối diện Ngài gồm có tôi, Tôn Giả Pháp Bang, chân tử Tạng Thân, chân tử Diệu Hạnh ngồi như thường lệ thành nửa vòng cung. Ngài trao Hịch Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát cho tôi và khai thị tôi nghe như vầy:

“Này ông Pháp Khả, nay tôi ban Hịch Bồ Tát này cho ông. Chỉ một mình ông được Hịch này có đóng dấu và có chữ ký của tôi. Không có người thứ hai được bản chính này. Tôi có cho một số Chân Tử khác cũng Hịch này nhưng không có con dấu và chữ ký của tôi.”

Xong Ngài nhìn sang Tôn Giả Pháp Bang và khai thị rằng: Pháp Bang con phải tu hai, ba kiếp nữa mới bằng Pháp Khả bây giờ. Còn Tạng Thân sau này con lấy cái học dạy người ta. Ngài vừa dứt lời, tôi liền đứng lên, tất cả ba vị có mặt cũng đứng lên nghiêm trang. Tôi lạy Ngài 7 lạy để tri ân Ngài đã ban Hịch cho tôi từ nay là một Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát trong vũ trụ nối tiếp đường đi của chư Phật mười Phương Ba Đời.

• Vô minh, ganh tỵ với Hịch Bồ-Tát. Khi Ngài vừa vào Bát Đại Niết Bàn thì Bà Tạng Trình với tư cách là vợ, bà liền không cho tôi tổ chức Đại Lễ, còn Pháp Bang thì lén bảo người quay video cắt hết hình ảnh của tôi trong Đại Lể Trà Tỳ của Đức Ngài. Liền trong Đại Lễ Pháp Bang bị tai nạn té xe ngồi một chỗ phải bỏ ra về.

Còn chân tử Diệu Hạnh Ngài không dạy điều gì. Đối với chư Phật hai, ba kiếp nữa có nghĩa hai, ba đời Phật nữa. Vì trên thực tế một bậc tu còn nằm trong hố sâu vòng đai pháp giới là còn nằm trong vô minh triền miên đến vô số kiếp, rất khó tự mình vượt qua mê lầm đặng tỏ hết vô minh. Đại nhân duyên cao dày được gặp Phật Chánh Đẳng Chánh Giác hay Bồ Tát tạo dựng ra cho phá vô minh nhiều ít tùy bậc đó, mới tính một kiếp. Khi đã tỏ mới thông liền tự biết lối tu theo chư Bồ Tát, tiếp nối không còn lạc. Vì vậy kỳ này Ngài mới chỉnh trang lại, tu phải y tôn, y chỉ theo bảng chứng minh Tin Vâng Kính. Đó là đường đi của Chư Tổ, Chư Bồ Tát đến với Phật. Ai chê bai, tu tự ý cá tánh không đến được. Còn ông Tạng Thân lấy cái học dạy người ta. Có nghĩa học nghiên cứu kinh Phật giảng dạy bằng trí suy tưởng, bằng suy nghĩ, bằng suy luận. Bậc này chưa có trực giác.

• Ngài thọ ký chỉ đào tạo một Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát. Sáng hôm sau, như thường lệ mỗi khi từ Sàigòn ra Nha Trang tôi đến thọ pháp, Ngài thọ ký:

“Sau này ông lai trần dạy Chư Tổ và đi trong lửa cầu Diệu Quả Bồ Đề. Ông phải biết chuyến Hạ Lai một kiếp Nhứt Sanh Bổn Xứ này, trên lộ trình hành đạo Tôi chỉ có đủ thời gian đào tạo được một Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát mà thôi. Còn học trò Tôi sau này đói đạo họ đi tìm, ông dạy họ mới kết quả được.”

Vì đưa lên web nên con dấu và chữ ký của Ngài được làm mờ để bảo tồn Chánh Pháp

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng vậy, khi Ngài Bát Đại Niết Bàn các vị Tôn Giả đều tự hào, nên không ông nào đến với Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả. Chỉ có Tôn Giả A Nan được Ngài sắp Tổ thứ hai mới gần Tôn Giả Ca Diếp mà thôi.

Thời này cũng quan niệm tôi và họ đều là chân tử của Đức Ngài nên dễ gì họ trực giác tỏ hết vô minh lầm lẫn. Thực ra khi một vị đã được Đức Long Hoa Tăng Chủ hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật ban hành Hịch Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát thì bậc này đã được nhập thể vũ trụ, đã được Tương Thông Phật Lực khó nghĩ bàn. Vị này được đầy đủ lực cùng công năng công đức khai thị cho tất cả Tứ loài cùng Nhân, Thiên, Tiên, Thần, Thánh, Hộ Pháp Bồ Tát như Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán, Bích Chi Phật trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới y như tôn chỉ của Hịch. Tất cả ai đi ngược lại, hoặc chê bai Bồ Tát đều bị bê trễ không những kiếp này mà còn vô số kiếp về sau.

Lãnh đạo tối cao của Pháp Tạng là Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật. Kế tiếp việc điều hành là Chánh Trưởng Ban Hộ Đạo Trung Ương. Ngài trao cho tôi nhiệm vụ này. Còn Ban Chấp Sự Trung Ương, các tỉnh, quận, xã cứ hai năm bầu lại một lần để tiếp xúc với chính quyền về các việc có liên hệ đến hành chánh.

• Từ Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát đến được
đổi Pháp danh là Di Như. Tết cuối của Ngài năm 1993, vào ngày 12 tháng Giêng sau Đại lễ khai nguyên năm 1993, Ngài dạy tôi:

“Ông Pháp Khả, ông là Thủ Khoa trong Hội, ông được đổi pháp danh từ nay là Di Như.”

Tôi đảnh lễ Ngài ba lạy thọ nhận sự ban cho của Ngài. Trước đó Ngài cũng dạy chung cho nhiều chân tử nghe là Ngài sẽ đổi pháp danh tất cả được lấy họ Di, nhưng chờ mãi không thấy Ngài đổi cho ai. Thì ra Ngài diệu dụng cho biết để sau này có bậc đổi pháp danh sang họ Di, sẽ không có ngạc nhiên hoặc không chê bai nói bậc đó tự ý.

Trên lộ trình tu cầu Chánh Giác, tôi đã từng bị nhiều người học trò, bạn bè, người thân thấy tôi Tin Vâng Kính Ngài tuyệt đối để cầu đạo, họ chê tôi là đồ ngu, đồ khùng, điên, là kẻ mất trí. Còn với thế gian thì tôi qua không biết bao khổ ải, chín lần chết đi sống lại vẫn bền chí cầu Diệu Quả Bồ Đề. Nhớ lại một kiếp quá khứ, kiếp này tôi đã gánh chịu khoảng 100 lần khổ hơn thời đi thỉnh kinh từ Trung Hoa sang Ấn Độ. Thật đúng, ai có qua cầu mới hay.

Ngài thường bảo với nhiều chân tử: “Tôi đã dùng cả khối vàng bằng thân người ông Pháp Khả mới đúc ra được ông ta, thật quả là một kỳ công.”

Sau khi được Ngài trao cho Hịch Bồ Tát, những lần từ Sàigòn đi Nha Trang thọ lãnh bảo pháp, Ngài thường đuổi tôi, la rầy tôi phản Ngài... Có nhiều chân tử của Ngài, thấy tôi bị như vậy họ vui mừng bảo tôi bị phế thải, sẽ có bậc khác lên thay điều hành việc dạy Đạo của Pháp Tạng.

Họ rất nóng lòng chờ đợi nhưng không thấy Ngài thay người mới ngược lại, tôi vẫn điều hành việc đạo cho Ngài. Số con cháu Đề Bà Đạt Đa rất căm ghét, càng lúc càng tăng, càng lộ rõ. Họ họp bàn thủ tiêu tôi ba lần nhưng cả ba lần tôi đều thoát hiểm nguy. Phần bên ngoài thế gian, công an thành phố Nha Trang cấm Ngài hành đạo. Ngài thừa biết, nếu tuyên bố ai thừa kế Ngài bậc đó ắt bị chính quyền, cộng thêm những bậc tu của Ngài chờ giết.

Chỉ một bản chứng minh có con dấu, chữ ký hay là diệu kế của Khổng Minh. Một buổi sáng Ngài dạy tại Trung Ương cho tôi: "Ông đã nhận được Hịch có con dấu và chữ ký của tôi ông làm Tổ Thứ Nhất."

Tôi đảnh lễ Ngài rồi lui ra. Ngài bảo: "Tôi thả ra mười bản như mười con lươn, không ai biết con nào mà chụp để cứu ông."

Sau vài ngày trao Hịch, gặp tôi Ngài bảo: "Ông về Sàigòn ngay không thì có kẻ giết ông". Lúc đó có bà Diệu Khiêm cùng nghe.

Thật vậy, sau này Ngài trao cho thêm khoảng mười Hịch Bồ Tát nhưng không có con dấu và chữ ký. Đa phần ai nhận được cũng hoan hỷ./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


20. Pháp Trụ Kinh

“Hồi Phật gần nhập Niết Bàn có di chúc với Tôn giả A Nan rằng: Sau khi ta đi rồi, đến đời mạt pháp các môn đệ của ta bỏ các giáo pháp, cứ tập theo cái thuyết không chánh đáng, chẳng chịu tu giới, tu định, tu huệ, lại nhóm nhau những đồ hung đảng ác, thấy ai có giữ được giới hạnh thì sỉ nhục chê bai. Vì cớ ấy nên các vị Thiên Long buồn sầu mà xa lìa, còn các vị Đại Thần và Trưởng Giả thì không sanh lòng tin kính Tam Bảo, làm cho Chánh Pháp muốn diệt.

Từ đó về sau đám tỳ kheo ấy tạo ác càng ngày càng lắm, rồi nhờ có những người tỳ kheo khác biết giữ gìn sự thanh tịnh tu hành, lại đem Giáo Pháp của Như Lai mà diễn nói cho loài hữu tình nghe, làm cho cả thảy đều được phần lợi ích. Khi ấy lại có các vị Quốc Vương, Đại Thần, Trưởng giả, Cư sĩ và những Thiện Nam – Tín Nữ đều sanh lòng thương tiếc Chánh Pháp của Phật, thờ phượng nơi Tam Bảo cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen, hết lòng hết sức ra hộ trì cho đặng trùng hưng. Đó là các vị Bồ Tát lấy cái bổn nguyện rất to lớn mà sanh ra đời ấy đặng giữ gìn Phật Pháp và làm ích lợi cho chúng sanh như vậy”.

Do như vậy mà Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc biết thời Mạt Pháp này khai đạo cho chúng sinh cầu Tri Kiến Giải Thoát họ phải Tin Vâng Kính bậc chỉ đạo mới tận độ cho họ có kết quả. Tỳ kheo thời Mạt Pháp, Đức Di Lạc cho hóa thân làm cư sĩ để đồng độ, dụng đời để chỉ bày tu tập nên được thanh tịnh hiện tại.

Thời Đức Bổn Sư, một hôm Tôn Giả A Nan ngồi Thiền thấy con voi to lớn, hùng vĩ đang đứng bỗng nhiên rũ mình ngã lăn ra và có vô số con giòi ở trong thân tuôn ra làm tan rã thân xác nó. Một lát sau, con voi lại rùng mình đứng dậy thì tất cả các con giòi rơi xuống và biến mất, con voi trở lại to lớn, hùng vĩ như cũ. Tôn Giả A Nan giật mình thưa với Đức Bổn Sư về câu chuyện trên. Ngài đã dạy rằng:

Con voi ngã lăn ra có vô số giòi tuôn ra là ý chỉ sau này thời Mạt Pháp Tăng Ni xuất gia, lớp con của Ta không tu tự tánh nên Chánh Pháp bị tồi phá trở thành Mạt Pháp. Sau con voi rùng mình đứng lên một cách hùng vĩ tất cả giòi biến mất ý chỉ sau này người cư sĩ đứng lên xây dựng lại Chánh Pháp./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


19. Hịch: Tin-Vâng-Kính

 

Phật Đạo duy nhất có một Tôn Chỉ Mục Đích như nhau. Phật Đạo thừa kế Nhất Tôn liên hệ mật thiết không sai chạy, nên gọi Nhất Tôn Tối Thượng. Dù cho vạn Phật ra đời trong vạn thời chỉ đạo chăng cũng vẫn có một Tôn Chỉ Mục Đích nguyên vẹn trong ba thời Phật Nhất Tôn (thời Thượng Kiếp, thời Hiền Kiếp và thời Hạ Kiếp) làm thế nào đưa tất cả đoạt đến Tri Kiến Giải Thoát, còn nói về thời Phật ra đời thì Ngài tuỳ theo thời Kiếp mà hoá độ.

–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Đặc biệt thời Hạ Lai, Pháp Tạng lập pháp Thiền Toạ để Tỏ Pháp tức là Tỏ Tâm. Với Tình Duy Nhất Pháp Tạng, Ngài quyết định bậc tín tâm phải TIN VÂNG KÍNH theo sự chỉ bày Của Bồ Tát. Vì sao? Vì thời Mạt Pháp học, nghiên cứu quá nhiều thành lý chướng. Nên phải Tin Vâng Kính để Lý Sự Không Chướng, tu đến chánh giác. THÔNG LỆNH Ngài trao như sau:

 

 

 

 

 

 

TĂNG-CHỦ NHẤT-TÔN
PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM Hội-Thượng, ngày 10 tháng 3 năm
Mậu Thân (1968)
Số.... /PTPGVN/HT/TC

THÔNG - LỆNH
-------------------

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT
NAM MÔ PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT

ĐÔNG-ĐỘ DƯỢC-SƯ LƯU-LY QUANG NHƯ-LAI
BẢO TẠNG PHẬT
TỊNH VƯƠNG PHẬT

CHỨNG-MINH BAN-HÀNH
PHÁP-TẠNG HỘI-THƯỢNG
Ngày 10 tháng 3 năm MẬU-THÂN.

CHỨNG-MINH:
TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG, Đại-Diện TAM-THẾ-PHẬT trọn quyền đảm- trách thi hành lành đạo theo TÔN CHỈNH BỔN NGUYỆN chung của TỊNH-VƯƠNG-PHẬT trên con đường PHÁP-TẠNG.

TĂNG-CHỦ có trọng trách CHỨNG-MINH cho các CHÂN-TỬ, cùng chứng-minh giữa thời MẠT-PHÁP, đưa tất cả TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT hiện tại. Vậy các Chân-tử chẳng tìm tòi đâu mà đặng giải thoát, chỉ: TIN-VÂNG-KÍNH.

TIN-VÂNG-KÍNH TĂNG-CHỦ liền ĐẮC.

Nếu mất: TIN, thời lạc-loài Sanh-tử.
Bằng nất: TIN-VÂNG, bị chì-đắm trong LỤC-ĐẠO để diễn-hành.
Nếu mất: TIN-VÂNG-KÍNH; Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh, Địa-Ngục cận-kề.
CHẲNG TIN: Không bao giờ Giải-Thoát.
KHÔNG VÂNG: Chẳng lúc nào đến và đặng.
CHẲNG KÍNH: Phải bị xa lìa Tánh-Trí, xa lìa BA đời Phật.

tiếp... 2./-

TĂNG-CHỦ NHẤT-TÔN
PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM Hội-Thượng, ngày 10 tháng 3 năm
Mậu Thân (1968)
Số .... /PTPGVN/HT/TC

THÔNG - LỆNH
-------------------
CHỨNG-MINH

...tiếp 2.-

TIN-VÂNG-KÍNH TRỌN là: CÔNG-ĐỨC HẠNH-NGUYỆN, là CÚNG-DƯỜNG TAM-THẾ, là THỌ-KÝ THÀNH-PHẬT, lại chung cùng Bổn-Nguyện PHÁP-TẠNG, được ĐỒNG-NGUYỆN, ĐỒNG-HÀNH cùng ĐỒNG-SỰ chung với BỒ-TÁT-PHẬT.

TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG CHỨNG-MINH :

Các CHÂN-TỬ tề-tựu :
Từ NHÂN-THIÊN, THIÊN-THẦN TAM-GIỚI LỤC-ĐẠO như : NHÂN - ATULA - SÚC-SANH - NGẠ-QUYû đến hầu hết ĐỊA-NGỤC tuân hành nghe lãnh tề-tựu;
Chư BỒ-TÁT-MA-HA-TÁT hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.
Chư LONG-THẦN-HỘ-PHÁP, HỘ-PHÁP BỒ-TÁT MA-HA-TÁT hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.
Chư ĐẲNG-ĐẲNG-THẦN - THIÊN-THẦN - NHÂN-THẦN cùng ATULA-THẦN - SƠN-THẦN - THUỶ-THẦN - HOẢ-THẦN - ĐỊA-THẦN và TỪ-BỘ-THẦN đều hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.

Đồng mời: Mười hai DƯỢC-XOA QUỶ-VƯƠNG ĐẠI-TUỚNG của ĐÔNG-ĐỘ DƯỢC-SƯ hộ-trì giúp-đỡ hiện-hữu.

Các vị hãy vì BỔN-NGUYỆN chung của TAM-THẾ-PHẬT. Hôm nay TĂNG-CHỦ thừa- hành thời Mạt-Pháp CHỨNG-MINH các CHÂN-TỬ, đồng thi-hành nhiệm-vụ chung cốt đưa tất cả TRI-KIẾN và GIẢI-THOÁT.
Vậy tuỳ theo mỗi CHÂN-TỬ mà hộ-trì giúp-đỡ nơi CHÁNH-BÁO và THỌ-BÁO phân-minh hiện-hành đúng-đắn hữu-hiệu.

Ngày 10 tháng 03 năm MẬU-THÂN
Lúc 12 giờ 01 phút
TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG
CHỨNG-MINH

 

Một hôm Đức Tịnh Vương khai thị tại số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, trên căn gác gỗ của Ngài, tôi nghe như vầy: "Khi tôi trực giác nhớ tiền kiếp quá khứ là Di Lạc, chẳng lẽ KINH tôi viết ra, lại ghi là Di Lạc sao coi được? Tôi phải dùng một cái tên khác đó là Tịnh Vương Nhất Tôn."

Bậc tu hành muốn gặp Đức Di Lạc, phải biết pháp môn của Ngài là gì? Pháp môn của Đức Di Lạc là tu trong SẮC – THINH – HƯƠNG – VỊ – XÚC – PHÁP ở trong đời mà không nhiễm. Tu hành như vậy mới nhận định được chân lý của pháp môn Đức Di Lạc.

"Còn Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là Giáo Chủ khai đạo ở cõi Ta Bà Thế Giới này chẳng lẽ Hạ Lai này tôi xưng Giáo Chủ nữa để dành ngôi vị của Ngài sao được. Nên tôi chỉ dùng chức vụ tối cao của Đạo gọi là TĂNG CHỦ để tỏ lòng Tôn Kính Đức Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Còn nói về hai chữ LONG HOA, khi ra đời hành đạo tôi cũng không treo bảng dùng chữ Long Hoa coi sao được? Do đó tôi phải xin lập HỘI PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM nhưng cũng có ý nhắc nhở chúng sinh ở thế giới Ta Bà này biết mà nghĩ lại là chính Di Lạc đã ra đời, lập lại Thượng Kiếp nên dưới hàng chữ Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam, tôi có viết Trung Ương Hội Thượng, nhưng cũng tiếc thay không một tu sĩ nào kể cả Tăng, Ni, Phật tử khi nhìn thấy tấm bảng lớn nền vàng chữ xanh da trời treo mà để ý hai chữ Hội Thượng." –T.V.

Tăng Chủ Tịnh Vương chính Đức Di Lạc Tôn Phật đứng ra nhận lãnh trọng trách khai đạo thời Mạt Kiếp do Đức Tịnh Vương Phật chứng minh.

Đức Tịnh Vương Phật chính là Như Lai mà Đông Phương thường quen gọi, cũng chính là Thượng Đế mà Tây Phương thường gọi, Đức Tịnh Vương Phật cũng chính là Đấng A La mà khối Ả Rập thường gọi. Ngài là "Tổng Thể Quyền Lực Vũ Trụ." Do mỗi nơi tự đặt tên khác nhau mà thôi.

Tất cả Chư Phật mười phương trước khi thành Phật đều phải gặp Đức Tịnh Vương Phật để được Ngài ban hành chứng minh mới đặng thành Phật để nhập thể vào Ngài trở thành một. Tuy một mà hai, tuy hai mà một là ý nghĩa như thế.

Hàng Tổ đắc pháp Chân Không, Giác Ngộ, hay Đại Ngộ hoặc Liễu Ngộ vẫn chưa có thể gặp được Đức Tịnh Vương Phật. Bậc giác ngộ rốt ráo hạnh nguyện đến khi đoạt Diệu Quả Bồ Đề thành Phật mới gặp được Đức Tịnh Vương Phật ban hành chứng minh.

Chư Phật và Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn đều được gặp Đức Tịnh Vương Phật. Đức Di Lạc Tôn Phật trước khi nhập Niết Bàn cũng đã được gặp Đức Tịnh Vương Phật đến ban hành chứng minh.

Trước giờ nhập Bát Đại Niết Bàn, Chư Bồ Tát, Long Thần Hộ Pháp mới hỏi sao Ngài còn gì nữa mà chưa ra đi. Đức Di Lạc trả lời: –"Tôi còn chờ Đức Tịnh Vương Phật đến chứng minh." Lúc đó Đức Di Lạc xả Chánh Định để dạy việc này. Sau đó Đức Tịnh Vương Phật đến, Đức Di Lạc liền nhập thể Bát Đại Niết Bàn.

Bồ Tát, Đại Bồ Tát khi đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác đều được Đức Tịnh Vương Phật đến gặp để chứng minh, nhưng khi viên tịch chưa thể được Đức Tịnh Vương Phật đến gặp. Chỉ khi nào lai trần, hạnh nguyện thành quả Phật thực sự, lúc đó Đức Tịnh Vương Phật mới đến ban hành chứng minh.

Còn hàng Tổ A La Hán giác đến cao nhất là Liễu Ngộ chưa có thể gặp được Đức Tịnh Vương Phật. Thời hạ lai nhiều vị xưng Phật không nằm trong Hộ Tịch Phật độ theo Tôn Chỉ, dù có Chánh Giác cũng phải vòng quanh trong lục đạo chờ một vị Phật kế Đức Di Lạc kiểm tra, chứng minh mới được nhập thể. Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc dạy rằng: Tỷ như trong một nước chỉ có một ông vua, khi vua cha băng hà truyền ngôi cho con và cứ thế tiếp nối. Thời này cũng vậy, bậc lãnh đạo đi, trao lãnh đạo mới sau này lên thay. Đường đời cũng không khác đường Đạo chân truyền là vậy.

Do đó nhiều vị không biết đường đi của Chư Phật quá khứ, phải tuần tự tu qua lớp lớp không thể thiếu sót mới được nhập thể. Tự xưng Bồ Tát, Phật đều không có Mật Ấn để điều động vũ trụ.

Cũng như trong một nước có nhiều vị đậu bằng tiến sĩ nhưng chỉ có một vị được vua hay lãnh đạo bổ nhiệm làm thủ tướng. Khi đã nhận lãnh Thủ Tướng cả nước đều nghe, chữ ký của ông Thủ Tướng tất cả dân trong nước phải nghe và tuân theo. Ai chống lại liền có lính đến hỏi tội. Còn những vị tiến sĩ kia hành sự cá nhân để sống, được nhiều hưởng nhiều, đươc ít hưởng ít. Chữ ký cũng không bao giờ có quyền như Thủ Tướng. Sau vị này mãn nhiệm vị khác lên thay cũng có quyền y như vị trước. Bậc Chánh Giác nhập Bát Đại Niết Bàn, Bồ Tát thừa kế duy nhất được trao Mật Ấn để điều hành cứu độ chúng sinh.

Do đó mà Đức Di Lạc bảo: "Hạ lai này Tôi lập lại kỷ cương đường lối tu hành". Nếu chúng sinh theo con đường Ngài đã lập ra, ắt là dân của nước Phật, bằng không dù nghiên cứu, học cao cũng quanh quẩn lai sinh ở thế gian hay vào cảnh giới khác mà thôi!

Nếu tin Phật tu Phật qua Kinh điển, qua hình thờ bằng gỗ, bằng xi măng, bằng giấy in hình Phật, khi lâm chung nếu thiện căn được sinh lại vùng có chùa, gặp lại Kinh Phật, tượng cốt rồi vào tu, cứ thế mà luân hồi.

Gặp Bồ Tát tin tu sẽ đi theo y tôn, y chỉ do đó mà Ngài đã chỉ đạo rõ ràng. Mất tin Tăng Chủ hoặc Tổ thừa hành kế tiếp, thời lạc loài sanh tử. Vì sao? –Vì tu chưa biết lúc nào là đúng sai mà không tin bậc đã tỏ biết con đường sanh tử ắt phải lạc nên phải tin. Bằng không, tu thế nào cũng được, hoặc y kinh vẫn không thoát sinh được.

• Bằng mất Tin–Vâng: bị chìm đắm trong Lục Đạo để diễn hành.

Đa phần bậc tu Tin theo Đạo Phật nhiều vô số kể nhưng TIN bậc Thiện Tri Thức đã giác ngộ thật khó khăn, phải chờ ngày nào nhận được chân lý mới TIN. Bậc tu tin Thiện Tri Thức đã khó, còn nghe lời Tin Vâng thi hành để ngộ càng khó hơn. Đã không Vâng, không thực hiện được theo sự chỉ bày của Bậc đã chánh giác sẽ không tháo gỡ được lục đạo gọi là chìm đắm trong Thiên, Nhân, A-Tu-La, Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh, Địa-Ngục.

– Đứng về Thiên Giới: Bậc tu hành định tưởng thường mong muốn gọi là dục tưởng.

– Đứng về Nhân Giới: Thường Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín. Khác ý liền chấp, lại không ưa. Thường trụ.

– Đứng về A Tu La Giới: Thường nóng tính, dễ phát sinh nên thường hoại lại thường chấp.

– Đứng về Súc Sanh Giới: Thường phát sinh, kết nạp để hoá sinh.

– Đứng về Ngạ Quỷ: Tham lam, tranh giành

– Đứng về Địa Ngục: Chủ Thủ, chỉ biết bạo lực, không nghe ai, độc tôn dễ bị diệt vong.

• Chẳng Kính: Phải bị xa lìa Tánh Trí xa lìa ba đời Phật. Kẻ không kính bậc Thiện Tri Thức không tin Phật, Pháp, Tăng không có thiện căn, tánh độc, hung bạo phải bị xa lìa ba đời Phật. Hiện tại không tin kính Phật thì quá khứ, vị lai cũng vậy. Lúc chết họ sống trong địa ngục, không nghe được lời nói đạo đức.

• Tin–Vâng–Kính trọn là: thuận cũng tin mà nghịch cũng tin. Không chấp, không chướng khi bậc Thiện Tri Thức dụng nghịch hành, cốt cho bậc tín tâm tỏ thông Như Lai Tạng. Đó là công đức Như Lai, cúng dường Như Lai nếu trọn tin, có nghĩa tận độ hết chúng sanh tánh của mình sẽ được Như Lai thọ ký thành Phật.

Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc dạy tín chúng cần phải cùng đồng nguyện, cùng đồng hành, cùng đồng sự với chư vị Bồ Tát –Phật đã đi trước để đồng chung hưởng chân lý mà Tri Kiến Giải Thoát. Nếu không cùng chung nguyện, không cùng đồng hành, không đồng sự, tu theo ý muốn sẽ không bao giờ đạt được kết quả vì lạc lối mà Đức Ngài mới Hạ Lai chỉnh trang lại.

Đoạn Kinh sau này Đức Di Lạc đã ghi:

“... Sơn thần – Thủy thần – Hỏa thần – Phong thần… đều hộ trì giúp đỡ hữu hiệu”

– Sơn thần: Thần sống ở núi, chân núi, gốc cây.

– Thủy thần: Có cảnh giới ở nơi nước sống nơi nước như ao, hồ, sông, biển.

– Hỏa thần: Có cảnh giới sống trong lửa, tắm lửa, ăn lửa.

– Phong thần: Có cảnh giới ở nơi gió, sống trong gió.

Còn vô số cảnh giới nữa dưới mắt Thiền Sư thấy thật rõ không sao kể hết được.

Một câu chuyện xảy ra ở vào thế kỷ 20, khoa học tiến bộ văn minh, phi thuyền lên mặt trăng, nghe lạ nhưng có thật: Một hôm, vào khoảng năm 1978, ở trại cải tạo A.30 Tuy Hòa, tôi có một người quen cải tạo chung tên là Hoa. Khi còn ở trại cải tạo Đá Bàn, anh ở tổ thợ rèn. Khi chuyển trại đến A.30 năm 1978 tất cả đều bị đói. Mỗi cải tạo viên được phát bốn (4) kg gạo mỗi tháng và một ít khoai mì. Ai ai cũng bị đói. Vợ anh Hoa đi thăm chồng có mang theo 10 kg gạo. Thấy tôi đói nhiều ngày, anh đem cho tôi một lon sữa bò gạo. Tôi nói với anh Hoa rằng “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Khi nấu lon gạo anh Hoa cho tôi, trước khi ăn tôi chú nguyện. Lúc đó tôi và anh Hoa đang ở trong trại cải tạo, còn vợ anh ta ở Tuy Hoà xa trại hơn 30 km. Đến mùa lúa kế tiếp sau đó, tất cả toàn nước Việt Nam bị hạn hán, lại sâu rầy lan khắp cánh đồng, cả nước lẫn vùng Tuy Hòa bị hư hại nặng, không có thu hoạch được lúa. Vợ anh Hoa vào thăm chồng báo cho anh ta biết, chỉ có đám ruộng của chị là trĩu nặng hạt, lại sai trái khác thường, trong khi ở chung quanh đám lúa của chị đều bị hư hết. Chỉ có ruộng chị Hoa là được mùa tốt. Cán bộ đến hỏi cách thức trồng, khen chị và gọi bà con nông dân đến xem đám ruộng trúng mùa của chị để học hỏi rút kinh nghiệm. Chị Hoa trả lời cũng trồng như những mùa lúa thường, cũng không chăm sóc đặc biệt nhưng không biết tại sao lại trúng mùa lúa như vậy!

Thế mới biết bậc tu tin vâng kính Chư Phật, thật tối cần để đạt kết quả hữu hiệu. Còn chúng sinh tin bậc trên, kính bậc Thánh, Thần, Trời, Phật đều có lợi thật. Còn nữa, thương yêu người dưới trướng của mình cũng được Chư vị tu quá khứ quý, tán thán, khâm phục.

Nói và hành phải đi song hành chân thật, chớ không phải giả dối chỉ nói lời hoa mỹ mà hành động lại diệt thần Thánh, Trời, Phật chỉ vào địa ngục vô gián quá ư khổ hãi!

Có lần Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc Ngài khai thị: "Có địa ngục hung bạo đến mức giam một chỗ khoảng 5000 người ác là chuyện thường. Họ luôn kêu la, rên siết không sao kể hết được."

"Đồng mời: Mười hai Dược Xoa Quỷ Vương Đại Tướng của Đức Đông Độ Dược Sư hộ trì giúp đỡ hữu hiệu."

Mười hai vị này đã ở quanh Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc để giúp đỡ kẻ Ác căn hồi tâm quay về Thiện.

Đức Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là tổ của Thiền Tôn đã cho 12 Đại Tướng hộ trì Chánh Pháp trong thời Đức Di Lạc hiện thể khai đạo và đang còn hiện tiền giúp đỡ các chư vị Bồ Tát xây dựng chánh pháp rất tích cực, hữu hiệu. Kẻ lấy cái tưởng còn vọng bình phẩm đều không đúng. Trực giác mới thật nghe thấy biết đúng.

“Vậy tùy theo mỗi chân tử mà hộ trì giúp đỡ Chánh Báo và Thọ Báo phân minh hiện hành đúng đắn hữu hiệu.”

Đến đây Ngài đã minh định sẵn, sự tu hành tùy theo mức độ Tin Vâng Kính của mỗi Chân tử đối với con đường đạo mà Ngài đã dụng Vô Lượng Công Năng, Công Đức vạch ra, sẽ được giúp đỡ. Nếu Chân tử cầu Tri Kiến Phật đến Phật Tri Kiến gọi là con đường giác ngộ đến giác ngộ rốt ráo sẽ được Chánh Báo. Còn Chân tử tu cầu phước báo cũng được thọ báo nhân thiên. Đối với chúng sinh tu hành ngoài con đường Chư Phật, tự ý theo cái muốn cũng được thọ báo phân minh thật bình đẳng lớp lớp./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


18. Sự tu hành thời Hạ Lai Mạt Pháp

Đoạn kinh dưới đây do chính Ngài ghi, lưu lại hậu thế:

“Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp, sự tu hành thực chứng thật hiếm, vì sao? Vì thời Thượng Pháp có giáo lý, có thi hành để tu nên có thực chứng. Đến thời Trung Pháp có giáo lý, có thực hành tương song liền có thực chứng. Qua thời Hạ Lai Mạt Pháp có giáo lý nhưng kém thi hành, thành thử hiếm hoi thực chứng. Nơi kinh pháp có thực hành liền có sở đắc, chưa thực hành thì kinh pháp kia trở thành lý thuyết. Tu có chứng tri chăng cũng là chứng tri trên giả thuyết, biện tài chớ chẳng phải là thực chứng.” –T.V.

Còn rất xa với Chư Phật khi nhân sinh chỉ biết cúng lạy

Sự tu hành không đem đến phá mê chấp để hiểu biết thì dù cho tu đến một ngàn kiếp cũng không lấy được một ngày tu. Đã là chúng sinh thì trí còn thấp kém, nếu đủ căn cơ, Phật ra đời ắt phải gặp. Căn cơ là các bậc từng tu cầu tri kiến giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, còn chúng sinh lấy nhân duyên nên sự tu hành theo ý muốn. Sự tu hành theo vọng cầu ý muốn nhưng không hiểu vọng cầu đó là cái gì, ý muốn nó sẽ đưa ta về đâu. Do đó ta phải HÀNH sẽ được lợi ích vô kể. Như thế nào gọi là Hành? Hành là chuyên tu sửa tánh, đó là đường đi HÀNH GIÁC. Hành còn có nghĩa Hành Thâm Pháp giới để tỏ giới. Mỗi pháp giới là một tánh, sửa nhiều lần sẽ thâm nhập được Thiện Căn không còn độc, lại tự mình thấy được tánh tỏ tánh. Bậc tu biết sửa sai lầm sẽ có Trí Tuệ. Trí tuệ là cứu cánh của giải thoát.

Đã là chúng sinh tất nhiên phải bị mê lầm, dù tu lâu đến đâu cũng không thoát được mê lầm, nên chi miệng nói là TÂM nó chưa biết.

“Vì miệng nói Tâm chưa biết nên bậc Thiện Trí Thức mới khuyên –Miệng nói Tâm chưa biết thì cần phải học lại lời nói đã nói nơi miệng đi. Đến chừng miệng nói Tâm biết, hay Tâm đã biết miệng mới nói, đó gọi là Giác Tâm Tỏ Pháp.

Tình trạng này thời Đức Bổn Sư vẫn thường có Chư Tôn Giả đã từng thuyết pháp, có lúc thời pháp quá tầm tuyệt mỹ. Thế Tôn mới khai thị: Ông NƯƠNG VÀO CÔNG ĐỨC NHƯ LAI mới nói được như thế. Chừng đó Tôn Giả mới nhận biết, khi miệng nói tâm chưa biết, cần học lại lời nói của miệng. Đối với chúng sinh đang mơ màng, còn vọng tưởng, còn viễn vọng rất dễ lầm nhận, vẫn yên trí rằng miệng mình đã nói đương nhiên mình đã giác, dù muốn hoặc giả chưa muốn cũng bị lầm.” –T.V.

Trong lộ trình hành đạo, đã có lúc Ngài gặp Hoà Thượng, Đại Đức, Tăng Ni ở chùa, Ngài khai một câu, chư vị này không nhận được lại giảng cho Ngài nghe cả chục câu! Có lần Ngài tìm đủ phương tiện làm cho sư Quân giới khất sĩ tin để khai cho Tri Kiến Phật nhưng vị này không đủ công năng công đức để thọ nhận. Cuối cùng Ngài hiện thân cho làm bạn. Sư chỉ khen Ngài biện tài giỏi chớ không nhận được lời khai thị của Ngài.

“Khi Đức Thích Ca chưa thành Phật, đang còn là tu sĩ, Ngài đến cung kính cúng dường, chiêm ngưỡng lễ bái Đức Nhiên Đăng Phật. Đức Nhiên Đăng Phật mới thọ ký thời Trung Kiếp thành Phật với hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau Đức Bổn Sư thể hiện chỉ đạo thọ ký Di Lạc Tôn Phật cùng các hàng Bồ Tát đến các bậc vô học, hữu học đều thành Phật của mỗi thời tuỳ hỷ, nơi Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đó là lời chân thành quyết định.

Thời này bậc tín tâm tu hành nhiều vô số, vô lượng, vô biên nhưng lại kém căn cơ nên rất hiếm thành Phật mà đa số thành Tiên Đạo gọi là Đắc quả. Đến sau này nữa càng sa sút chánh tín liền Đắc quả nơi THẦN –THÁNH ĐẠO.Thần đạo dùng bùa chú luyện thần thông trở thành cuồng tín phải chịu nơi sanh –tử –bệnh –lão –khổ.” –T.V.

• Thế nào gọi là Đắc Quả thành Tiên đạo?

Chuyên học, nghiên cứu kinh sách, đi đứng thanh bai, chỗ ở đẹp đẽ khang trang, ăn chay trường, tu tịnh không tu pháp động. Gặp hoàn cảnh thuận an vui, gặp nghịch cảnh tránh, không ưa. Chọn sạch bỏ dơ... Tu như vậy lúc lâm chung được về cõi Tiên hưởng phước báo Nhân Thiên. Đến chừng hết kiếp ở cõi Tiên bị đầu thai làm người hay các cảnh giới khác tu lại từ đầu.

Thiền sư nào đã từng xuất định đến cõi Tiên mới chứng kiến sự thật: Ăn, mặc, đồ dùng đều có sẵn. Không cần làm cũng có ăn. Muốn gì vừa ước ao liền có. Dùng thần thông hoá ra nên được như ý muốn. Đồ đạc, vật dụng rất đẹp. Một điều đặc biệt là ở cõi Tiên không có ánh nắng mặt trời. Ánh sáng từ vách núi chiếu ra, lúc nào cũng nắng dịu, không khí như ở trong phòng có máy điều hoà. Ở ngoài đường không khí cũng giống như vậy.

Người Tiên tánh tình rộng rãi thương người nhưng còn tánh nóng, học trò không ai dám cãi lại Thầy, gặp người nào cũng nói năng hoà nhã. Hai câu thơ của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc ghi:

“Rượu Thiên Tiên uống hãy còn thèm
Mà nơi nhân thế xuân đem mấy lần.”
–T.V.

Ở cõi Tiên ngồi đánh cờ, uống rượu chưa tàn một buổi tiệc mà ở thế gian đã mất 3 đến 4 năm. Một năm ở cõi Tiên phải là một trăm năm ở thế gian!

Chư Thần ở cõi Trời hay dùng bùa chú, tính tình thương người nhưng rất nóng tính. Không khí ở cõi Trời cũng mát dịu như ở trong phòng điều hòa không khí. Cũng có vị như ở thế gian như Đình, Miếu, gốc cây cổ thụ, núi, sông. Hết kiếp vẫn sinh tử luân hồi. Do vậy mà sự tu hành đúng con đường Giác Ngộ thật khó khăn vô kể! Vì khó như vậy mà bậc tu hành phải có đường lối hay pháp môn do Bậc Thiện Tri thức đã Giác Ngộ chỉ đạo. Nếu không như vậy, thời tu cho có chứng tu, hay tu để cầu phước. Vì sao?

Vì đang mê tu bằng cách nào cũng vẫn trong thời mê, dù học thuộc tất cả các Kinh Phật hay nghiên cứu tất cả lời Phật cũng nằm trong bị biết, vẫn trong đường mê.

Tỷ như kẻ vào được kho thuốc, chẳng thiếu thứ chi, mừng quá nên thứ gì muốn uống đều tự do dùng, lại chỉ bày cho kẻ khác cùng uống với mình. Kết quả cả hai không những chẳng hết bệnh mà lại càng thêm bệnh.

Tỷ như kẻ đang lạc đường không tìm ra được lối thoát, thì dù có dìu dắt kẻ khác theo cùng với mình cũng bị lạc đường thôi, cuối cùng cũng chỉ là bạn không hơn kém. Do vậy, thời Hạ Lai Mạt Pháp này, bậc tu hành cần nương tựa theo pháp môn mà Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã lưu lại Bậc đã tỏ Ngộ mới mong Chân Giác. Cũng chính thời hạ kiếp này sự tu hành có vô số pháp môn, không pháp môn nào đưa con người đến chân giác mà Đức Di Lạc Tôn Phật phải Hạ Lai chỉnh trang lại lối tu hành có đường lối, pháp môn rõ ràng minh bạch cốt đưa chúng sinh thoát sinh, tử, lão, khổ.

Mỗi chân tử có mỗi Nghiệp Căn. Bậc chỉ đạo liền dùng Đại Phương Tiện chỉ bày. Còn phần bậc tín tâm, tu cần sửa đổi tánh tình để tạo cho được Thiện Căn cùng phải chịu tất cả các thử thách khi THUẬN lúc NGHỊCH của vạn pháp đặng hiểu biết. Nếu Tỏ Pháp liền được Tỏ Tâm. Tỏ tâm là Ngộ Pháp. Đó là điểm chính yếu của đường tu mà Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã vạch ra, sao cho không còn lạc lối tu nữa. Ngài thành lập pháp môn PHÁP TẠNG ý nghĩa chính là Long Hoa, y theo Pháp Tạng Như Lai còn gọi Là Phật Thừa Duy Nhất, dụng “Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác” để diễn Đại Phương Tiện.

Tất cả các bậc tín tâm từ Bồ Tát, Hộ Pháp Bồ Tát, A La Hán, Tôn Giả, Hộ Pháp, Chúng Sanh Hộ Pháp trước sau đều theo con đường Tri Kiến Giải Thoát. Những Bậc này Đức Tịnh Vương đều nung đúc trước tiên vào tu phải Kiên Dũng cho tỏ Như Lai Tạng còn gọi là Như Tạng, làm cho con đường tu hành không dừng trụ. Sau mới dạy cho tu căn bản GIỚI ĐỊNH TUỆ để được dung thông mà quyết định thành tựu Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ. Bậc cao thành tựu Vô Thượng Đẳng Chánh Giác./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


17. Đại Tập Kinh, Năm Thời Kỳ

 • Toàn thể con người khôn trước Triều Đại. Nếu Triều Đại biết con người khôn phải lần theo con người hướng dẫn.

 • Bằng Triều Đại rõ biết trách nhiệm Quốc Gia, có bổn phận gìn giữ an lành cho dân chúng, hơn là trị an dân chúng thì con người mau phát triển đặng Quốc Thái Dân An.

 • Nếu Triều Đại biết hưởng ứng sự tu hành để Chư Tổ hướng dẫn con người tu Tự Tánh Tỏ Tánh đặng Đạo Đức phát triển, nhà nhà được thanh bình sẽ có Quốc Thái Dân An.


– Vô Sư Kinh

 

TẠI SAO ĐỌC KINH KHÔNG HIỂU?


 Đức Bảo Tạng Phật khuyên Đức Di Lạc Tôn Phật viết Kinh.

 – Đức Di Lạc: Thưa viết đâu có ai đọc.

 – Đức Bảo Tạng Phật: Ông cứ viết đời này đọc không hiểu  những đời kế tiếp tu tự tánh họ đọc sẽ hiểu.

 

Theo Kinh Đại Tập, sau khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Bát Đại Niết Bàn, đến nay1995 đã 2539 năm được phân làm năm thời kỳ.

 • Một Là 500 Năm Thứ Nhất, Thời Kỳ Tri Kiến Giải Thoát. Trong thời này những chân tử của Đức Phật chịu tu theo y tôn, y chỉ, chịu tu SỬA TÁNH để TỰ TÁNH TỎ TÁNH, Minh Tâm, giải tật xấu, tu theo giáo pháp Phật, Thiền Định, Trí Tuệ thông Được Tri Kiến Giải Thoát.

 • Hai Là 500 Năm Thứ Hai, Thời Kỳ Thiền Định. Trong thời này phần nhiều các Chân Tử tu tinh tấn, trí tuệ thanh tịnh, y giáo lý Phật tu thiền định, tùy công năng, công đức mà được chứng ngộ hữu lậu của Tiểu Thừa, cùng vô lậu của Đại Thừa.

 • Ba Là 500 Năm Thứ Ba, Thời Kỳ Đa Văn. Trong thời này các chân tử y theo 12 bộ Kinh Phật mà tu hành, nghiên cứu, tranh luận Hiển, Mật, Đốn, Tiệm giáo. Con đường TỰ TÁNH TỎ TÁNH NHẸ DẦN.

 • Bốn Là 500 Năm Thứ Tư, Thời Kỳ Chùa Tháp. Trong thời này, phần nhiều Bậc tín tâm QUÊN HẾT TỰ TÁNH TỎ TÁNH, sự tu hành chẳng cầu giải thoát nữa, thích công đức hữu lậu, tu như vậy sau khi chết được Phước Báo Nhân Thiên.

 • Năm Là 500 Năm Thứ Năm, Thời Kỳ Người Tu Mất Hẳn Tự Tánh. Hay đấu tranh nhau, ghét, thương, ganh tỵ, nghi ngờ tồi phá lẫn nhau. Đặc biệt là chấp chỗ học vấn có bằng cấp cao, nghiên cứu nhiều Kinh Phật rồi cho mình đúng, tồi phá tranh giành, giết, hại nhau để đoạt danh, trục lợi.

Năm thời kỳ này kéo dài trên 2500 năm tính theo Phật Lịch, xã hội Việt Nam cho đến hiện tình hỗn loạn trên thế giới, đã rơi trong thời kỳ Mạt Pháp, khiến nhiều Bậc học giả cho rằng thời kỳ này đã đến lúc Đức Di Lạc Hạ Lai.

Như đã nêu ra ở phần trước, Đức Đại Lực Di Lạc Tôn Phật đã ra đời từ năm 1918 đến năm 1993 Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn. Trong 37 năm hành đạo ở quả địa cầu chúng ta, Ngài dụng thân Long Thọ, khai đạo cho các cõi Tiên, Thần, Trời nữa chứ không phải chỉ cho Nhân Sinh. Khắp trong Tam Thiên Đại Thiên Thế giới, Ngài đều từng lúc, từng khi xuất Chánh Định đến nơi khai đạo và đem lại tự do cho tứ loài.

Ngài nguyện gánh vác tất cả các pháp để chúng sinh được thảnh thơi tu hành như những bậc tín tâm đều biết. Qua Hịch chứng minh vũ trụ, Ngài đã hoá giải sạch sẽ độc nhiễm trên thế giới, ngày nay và hậu lai được tu hành, dần dần sẽ được an lạc. Ngài nguyện đem tất cả bảo pháp đương thời Hạ Lai cứu độ chúng sanh, đưa tất cả chúng sanh tu tập pháp môn Sắc, Thinh, Hương, Vị, Súc Pháp mà không nhiễm đặng tự tại, vô ngại đến Đại Bi, Tổng Trì Đà La Ni Tạng Tri Kiến Giải Thoát./-

Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc Pháp mà không nhiễmđặng tự tại, vô ngại đến Đại Bi, Tổng Trì Đà La Ni Tạng Tri Kiến Giải Thoát.
– Đức Đại Lực Di Lạc Tôn Phật 1918 – 1993 

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


16. Sự tái sinh của chúng sanh

Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc xác nhận có sự tái sinh.

Khoa học càng phát triển, càng văn minh tiến bộ chừng nào thì khoa học càng đem cái tiện nghi sung sướng cho con người chừng ấy. Do một số người chưa hiểu thấu đáo đã nảy sinh nghi ngờ về thuyết sanh tử luân hồi, nhất là ở Phương Tây. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi đã được chánh giác, Ngài thấy tất cả chúng sinh đều sanh diệt, rồi diệt sanh triền miên trong sanh tử luân hồi không lúc nào dứt. Ngài lại tường tận thấy người cao sang kẻ hèn hạ, người đẹp kẻ xấu, người sung sướng kẻ khốn cùng đều thọ báo bình đẳng theo những hành vi tạo tác của chúng sinh.

Ngài cũng đã từng khai thị: Chính ái nịch, ái dục đưa chúng sinh đi sanh tử luân hồi. Ngài còn bảo: Đây là kiếp cuối cùng của Như Lai. Từ đây Như Lai không còn tái sinh nữa. Với lòng Đại Bi thương chúng sinh trầm luân trong biển sanh tử, mà Ngài đã giáo hóa trong 49 năm cốt cho chúng sinh thấy được lầm lỗi của vô minh mà lo tu hành theo con đường Chánh Giác để thoát khỏi sinh tử.

Nay là thế kỷ 20, Đức Di Lạc nối truyền Chánh Pháp giữa lúc khoa học kỹ thuật của Tây Phương phát triển cực thịnh, Ngài đã ghi lại sự tái sinh của chúng sinh để cho thế gian biết lo lắng cho kiếp sống sinh tử mà cố tinh tấn tu hành:
“
–"Khi con người hấp hối, thì tiềm thức (hồn khôn) đã có một phần nào xuống hoặc lên ở một cõi nào rồi, còn phần xác đang nằm trên giường bệnh hấp hối. Tiềm thức nó lần lượt xuất, lúc trong thân con người xuất, nó không khác nào hơi khói trong thân bốc lên cứ tuần tự bốc lên mãi đến khi hết cả đầy đủ tiềm thức thì Vía Dại gọi là cặn bả nghiệp thức nó nhập xuống dưới chân giường, con người liền tắt hơi, cặn bã nghiệp thức họ thường gọi là: HỒN THƯ. Đối với con người lúc sanh tiền đang còn sống nó có KHÔN và DẠI nên mới có Hồn Khôn, Vía Dại. Cái Vía Dại này nó rất ảnh hưởng đối với con người, thoát sanh mau chậm hay còn ái nịch luyến tiếc bà con giòng họ của cải nhiều ít đều do nó lôi cuốn cả.

Khi tiềm thức bốc lên hư không, Tiềm Thức là một Chất Thanh, còn HỒN THƯ gọi là Vía Dại là Chất Thô, chất Thanh đang còn tập nhiễm nhiều ít chất Thô nên chi Tiềm Thức đã bốc lên hư không, nhưng vì tập nhiễm thành thử chưa dứt khoát về cõi đã sẵn mà thoát sanh hoàn mỹ. Nếu gặp đặng Thiền sư vị này chỉ nhìn vào xác chết đương nhiên hai bên không còn vướng vấp nhau nữa. Bằng gặp đặng bậc Đại Đức (Tôn Giả) lấy công đức nơi mình chú nguyện tự nhiên cũng đặng như trên.

Nên nhớ khi trong nhà tang chủ có người chết không còn có âm khí buồn lạnh đó là cuộc thoát sanh hoàn mỹ, nếu còn âm khí u buồn thì vẫn còn vong linh Tiềm Thức lai vãng, phải chú nguyện đặng thoát sanh.

Các ông cũng nên biết Tiềm Thức thanh chất nó có đặc tánh di chuyển đến nơi chánh báo hoặc chịu báo để kết nạp với Tiểu Ngã nơi cõi hoặc cảnh giới đó, còn HỒN THƯ VÍA DẠI nó nằm yên với Tiểu Ngã đã để lại kết nạp an trụ đứng yên. Cũng như con người đang ở cõi NHÂN được sanh lên cõi Trời. Còn HỒN THƯ VÍA DẠI, nó ở lại CÕI NHÂN kết nạp với TIỂU NGÃ nhân pháp mà an trú. Chờ chừng nào bậc kia đoạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, gọi là ĐẠI NGÃ BÁT ĐẠI thì chung gồm bá thiên vạn ức tiểu ngã thảy đặng trở về kết chung với BÁT ĐẠI gọi là Hoàn Mỹ, hoặc Chân Thiện Mỹ Hoàn Lai cũng thế.

Đối với con người tốt, hiền lành Đạo Đức đồng với Quảng Đại Quang Minh, dù cho di chuyển bằng cách nào đi nữa, đến 49 ngày vẫn được thoát sanh, trừ trường hợp ái nịch quá trớn, vong linh lai vãng quá nhiều thì bị sanh lộn kiếp ở trong gia đình. Như bà nội thương cháu nhiều không nở thoát sanh, lưu trú vãng lai thời bà nội lại đầu thai làm em của cháu nội hay làm con của con mình, trường hợp này rất nhiều do ái nịch bị sanh lộn kiếp.”" –T.V.

Năm nay tính theo Phật Lịch đã là năm 2539 ai còn nghiên cứu, học hỏi cho rằng con người chết là hết đã hoàn toàn lầm lẫn. Con chó nó thấy con người sống lâu hơn nó, nó tưởng rằng con người không chết. Con người nghe nói ông Thần sống lâu con người cũng tưởng ông Thần không chết. Con người nghe nói ông Tiên sống lâu, con người cũng lầm, tưởng rằng ông Tiên không chết. Ông Tiên thấy ông Phật Bích Chi hay A LA Hán sống lâu, ông Tiên cũng lầm tưởng ông Phật không chết.

Tất cả có tuổi thọ ngắn, dài khác nhau đều chết. Cho nên con người tưởng rằng về cõi Trời sống đời đời không chết là một lầm lẫn. Có cõi Trời sống đến hai ngàn (2000) tuổi một kiếp là cao. Không ai sống đời đời cả. Trừ bậc Vô Thượng Đẵng Chánh Giác tức Như Lai - Phật - Thượng Đế mới không còn sanh tử nữa mà thôi. Bậc Thánh được về cõi Trời sống được khoảng hai ngàn (2000) tuổi cũng phải chết lai trần tu hành tiếp, có Cõi Trời sống lâu hơn mười ngàn (10.000) tuổi một kiếp.

• Người Thiện Căn Chết Thoát Sinh Như Thế Nào?

Khi con người lúc còn sống tạo tánh tình hiền lành, hay giúp đỡ người khác không cầu lợi, người này tạo được phước, tuy họ chưa ý thức tu hành, họ không theo tôn giáo nào cả, chỉ hiếu thảo, thờ cúng ông bà, thương yêu cha mẹ lúc lâm chung, người này tùy giai cấp, tùy phước đức đã tạo nhiều ít từ trước, họ gặp duyên lành đặng thoát sanh vào nơi phước báo tốt đẹp, sống an nhàn.

Còn có những người lúc còn sống tánh tốt, hay giúp đỡ mọi người, thường đi chùa lễ Phật hay đi nhà thờ cầu kinh, hiếu thảo cha mẹ, ông bà. Những người này lúc lâm chung tùy phước đức đã tạo, gặp được duyên lành đặng thoát sinh vào nơi cao qúy, nơi này có chùa hoặc nhà thờ khi lớn lên đến tuổi bỗng thích đi chùa hoặc nhà thờ như đã hành động ở kiếp quá khứ.

Còn người tu sửa tánh xấu, bỏ đố tật xấu, thường hỷ xả, gặp hoàn cảnh khó lo hóa giải, lúc lâm chung được đại duyên lành đặng thoát sinh nơi cao qúy, làm con nhà qúy tộc, được gặp bậc Thiện Trí Thức dạy tu tự tánh tỏ tánh, sống được an lạc.

• Người
Ác Căn Chết Thoát Sinh Như Thế Nào?

“Khi con người lúc còn sống tánh ác nghiệt bị sanh chịu cơ cực hình không kể hết nổi. Nếu là người dân thường thì tội cá nhân chỉ lãnh một kiếp. Còn đối với vua, lãnh tụ, quan quyền một khi đã ác nghiệt phê chỉ làm cho hàng triệu con người phải lầm than đói khổ, làm cho người dân bỏ quê cha đất tổ chạy, gây bao cảnh đau thương mới nên tội A Tỳ Địa Ngục. Vì lẽ ấy mà bậc Minh Vương bậc Vĩ Đại cứu tinh mỗi lần phê chỉ ban hành thảy đều xem xét kỹ càng ích nước lợi dân mới dám phê chỉ.” –T.V.

Ban hành điều ác nghiệt sau lúc lâm chung đang nằm trong phủ Chủ Thủ, dù có đông đủ các cận thần hầu hạ chăng, lãnh tụ cũng bị những người dân chết oan, chết đau khổ họ cầm gươm, đao đến đâm chém, tiềm thức (hồn oan) lãnh tụ vẫn nghe la ó, hò hét, sợ hãi, miệng lẩm bẩm nói sảng vội vàng chạy trốn, dân chúng chết trong đau khổ đuổi theo hạch tội, xiềng xích lãnh tụ, mang về nhốt vào ngục tối A Tỳ Vô Gián.

A Tỳ Vô Gián là cõi cuộc sống bị áp đặt quá khắc nghiệt, ăn, uống, sinh hoạt luôn có sự giành giựt, không tôn trọng lẽ phải, nơi này không có chùa, đình, miếu, nên ai mạnh người đó được no, luật pháp không được áp dụng, chỉ có luật riêng của mỗi cá nhân là mạnh. Đặc biệt không hề biết gì nhân quyền chớ chẳng phải không có nhân quyền.

Nơi A Tỳ Địa Ngục con người luôn sống trong cảnh rùng rợn của sự tra tấn dã man, nhiều cảnh tra khảo hỏi tội còn khủng khiếp hơn nữa, không bao giờ kể hết những tội mà lãnh tụ và các tham quan hà lạm, hoặc lừa dối dân.

Nói đến cái chết ai nghe qua cũng sợ vì đối với con người sống lo âu, chết sợ sệt là lẽ thường. Còn đối với kẻ bảo chết là hết nên ở thế gian thường liều không sợ gì cả. Con người chết xuống cõi âm hay đến cảnh giới nào họ không bao giờ nhớ họ từ đâu tới. Họ vẫn tưởng ở cõi âm hoặc cảnh giới nó đang ở. Họ quên hẳn họ từ thế gian đến, họ sống tâm trạng như người khách, không hề nhớ ở thế gian mình có vợ, chồng, con cái, thủ lãnh... họ cũng không nhớ nhà cửa, của cải chi cả. Nó cứ đi lang thang mãi. Đến một lúc có một màng bao phủ chụp vào người nó, nó bất tỉnh đó là nó được vào thai.

“Đối với thế gian này cũng như thế, nếu có người nào ở cõi Thiên hay Cõi Âm hoặc Cõi Thần đến lúc mãn phần về Cõi Nhân, họ cũng ngỡ rằng mình ở nhân thế, họ vẫn đi rông đến khi nhập thai bị sanh họ thảy đều quên bản thân của họ ở đâu đến đây, đó chính là một cuộc thay đổi từng nơi này, đến cảnh nọ để mà sanh tử.” –T.V.

Muốn biết con người khi chết sanh về đâu, chỉ quan sát lúc còn sống từ hành động đến lời nói gây phước điền hay gieo ác căn làm nhiều người đau khổ. Căn cứ vào đó mới xác định đúng đắn họ chết sẽ sanh về đâu rất thực tế không phải do ảo tưởng hay dối trá được.

“Không khác nào với bậc dược sĩ pha các chất chế tạo từng món thuốc, chất gì pha với chất chi được gọi là môn thuốc để trị nhất định mỗi bệnh. Khi con người chết được sanh hay chịu sanh nó cũng tùy theo phẩm dược, tùy nơi chất phẩm đắng cay ngọt bùi nơi nó, lúc còn sống tạo thành mà vào cõi hay các cảnh giới đồng hợp với nó, nó liền hóa sanh nơi cõi ấy hoặc cảnh giới ấy sướng khổ tùy theo được sanh hoặc chịu sanh cũng thế.

Theo thói thường con người, lúc lâm bệnh nó có hai trường hợp đem con người thoát sanh, trường hợp thứ nhất con người bị đau NỘI THƯƠNG thuộc về đau THÂN XÁC, trường hợp thứ hai đau về THƯƠNG HÀN cảm nặng thuộc về TRÍ GIÁC. Hai trường hợp này thường hay bị con người lý đoán về cái chết nơi con người.

Lúc bị đau về THƯƠNG HÀN mê man bất tỉnh, miệng nói lẩm bẩm, sau khi chết, họ cho là người này chết sẽ bị tội chịu sanh khổ sở. Còn có người đau về thân mạng Nội Thương, lúc chết tỉnh táo, nói năng tỏ rõ, họ cho sẽ đặng lên Thiên Đàng hay cõi Trời. Hai lý đoán như thế không thật thảy đều sai chạy.

Nếu con người tự nhận biết được tỏ rõ, sau khi chết sẽ về đâu, thời nên biết lúc còn sống tạo cho đặng PHƯỚC ĐIỀN, tạo cho đặng ĐỨC TÁNH cùng nung đúc tấm lòng nhân đạo chính mình biết thương nơi khổ cực của mọi người, cũng như thương thân mạng mình, chính mình nên đem lời an ủi giúp đỡ cho những người chung quanh mình đã từng bị khổ, làm cho họ đặng an vui ví như mình an vui. Con người cứ làm như thế thời con người ấy sau khi tuổi già có lâm vào tình trạng mắc bệnh THẦN KINH, lúc lâm chung cũng thoát sanh lên cõi Thần hay cõi Thiên. Tâm trí họ liền sáng suốt, còn chứng thần kinh kia nó liền trả lại cho con bệnh thần kinh, chớ không vướng mắc gì đến Chánh Báo thân mạng, đó chính là lời chân thật vậy.

Con người đang ở hiện tại rất cần xây dựng đứng thứ nhất. Bậc đã tạo đặng cơ bản, bản năng làm con người chân chất cao đẹp, dù cho sau này chết bằng cách gì đi nữa cũng đặng Chánh Báo khang trang chớ không bao giờ bị sa địa ngục, ngạ qủy, súc sanh đâu mà sợ, làm con người hiếm người biết xét lại công việc mình đã làm thất đức, hiếm bậc gặp trường hợp họ gây tạo ác nghiệt đến nơi mình mà chính mình tha thứ cho họ.” –T.V.

Vui mình hưởng mình phải lo cái khổ của người dân, khi họ than phiền kêu la, mình phải xét lại hành động thiện hay ác mà dân phải kêu la. Người dân vô tội không đứng bên này hay bên kia bị khổ sao gọi là anh hùng trưởng thượng được. Con người ở trong giới không bao giờ thấy cái sai của giới mình hết được. Ngoài giới mới thấy. Do như vậy ở trong giới thấy sai, sửa sai liền có cái sai khác. Nếu có lớp người ngoài giới họ chỉ cái sai, cùng nhau sửa sai, đi đến chung cuộc tốt đẹp để cho dân khỏi than phiền trách móc. Đó mới là chân lý. Như các nước Tây Phương tiến bộ nhanh chóng, dân ấm no là nhờ vậy.

Bậc trưởng thượng về mặt tín ngưỡng không phân biệt tôn giáo nào, nếu tôn giáo nào dạy con người tín tâm biết làm điều thiện, biết kiên nhẫn, có lòng thương người mình nên để yên, không nên buộc phải làm như thế này, phải làm như thế nọ. Bậc trưởng thượng cai trị dân như thế này khi lâm chung sẽ được Phước Báo Nhân Thiên.

Người cho đàn cháu sát sanh thân mạng, lúc lâm chung thường bị loài mình giết đến đòi mạng, nếu không tin có Thần Thánh, giết bậc tu có đức độ cao hậu qủa ở địa ngục nhiều đời kiếp khổ sở không kể xiết. Đoạn kinh sau đây do Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di lạc ghi lại:

“Ta đã từng nhập vào chánh định, đã từng gặp các Chư Thần ở cõi Trời hay cứu giúp nhân gian, từ Thần Hoàng đến Thần Miếu qua Thần Thánh lại Thánh Quân cùng Thánh Mẫu thảy đều phàn nàn phiền trách với Ta rằng: Kính thưa Thiền Sư. Chúng tôi toàn Chánh Trực Quang Minh Thần. Chúng tôi không thiếu chi món ẩm thực hương vị ngạt ngào cao qúy, thanh thoát thơm tho. Chúng tôi thấy dương gian gây tạo ác nghiệp nên có ác căn tai nạn xảy đến cho họ liên miên. Họ lại có lòng thờ phụng cung kính van cầu chúng tôi, chúng tôi động lòng ra tay cứu độ cho họ thoát khỏi tai ách.

Mỗi lần chúng tôi giáng trần, đến nơi đình miếu thì hỡi ơi! Trước mặt chúng tôi họ đặt rất nhiều xác chết, thiêu đốt luộc quay. Chúng tôi làm sao nói đặng? Đứng nơi lòng thành hòa lẫn ác nghiệp, buộc lòng chúng tôi cứu nạn với lòng thành. Con người họ vì tục lệ, họ vì ưa thích nên họ tưởng chúng tôi ưa thích gà vịt, heo quay, bò tái, rượu nếp, canh xôi thật ra chẳng biết nói sao hơn, việc đó chưa phải tín chủ mà bọn tế lễ tham ăn dục lợi, khiến con người phải làm như thế. Chúng tôi mong Thiền Sư đương thời Hạ Lai này, nói lên lời nói giúp chúng tôi khỏi phải mang tiếng tế thần bằng lối sát sanh như vậy, thưa gởi xong liền chầu Trời.” –T.V.

Còn bậc Thánh dù bị đánh đập, bị hành hạ trong lúc lâm nạn không hờn giận kẻ đối phương, dù thoát sinh bằng lối xác thân khổ đau vẫn được đầy đủ chánh báo về với Như Lai. Tỷ như kẻ vua quan đóng đinh Chúa Jésus trên cây, sau phải bị mất nước, rời bỏ quê hương, bị đọa đầy. Đó chẳng phải là tấm gương để cho bậc lãnh đạo và con cháu làm bài học nhớ đời đó sao!

Khi còn đang cải tạo ở Đá Bàn năm 1976, lúc đang lao động, tôi gặp ông Thần Núi Đá Bàn đến muốn giúp đỡ. Tôi trả lời không cần và để xem sức tôi chịu gian khổ tới mức nào. Đến khi chuyển trại ở A.30 Tuy Hòa tôi cũng thường gặp Thần Núi khác đến vấn an nhưng tôi cũng không cần nhờ giúp. Người Vô Hình, Thần, Long Thần thân họ kết bằng mây, y như khói kết lại thành thân ăn mặc giống như hồi còn sống ở thế gian. Nhìn rất rõ ràng. Con người chết tánh xấu thành ma, tánh độc thành qủy, thân họ cũng kết bằng khói như mây. Khi đi dáng giống như con cá bị thương đang bơi lờ đờ.

Thấy lúc đang thức chứ không phải Thiền hay nằm mơ. Chỉ con mắt Thiền Sư mới thấy rõ ràng như tiếp xúc với người thường ở thế gian. Còn chúng sanh không thấy do tánh nóng, buồn khổ... làm ngăn che. Con mắt nhục nhãn của nhân sinh cũng không thấy được.

Chư Thần thường vị nào thân hình cũng vạm vỡ như người Phương Tây, nước da ngâm đen, có lòng thương người, nếu có người tin, xin vẫn thường được Thần giúp đỡ rất kết quả. Có một lần ở gần cầu Bình Sơn trong khu cải tạo A. 30 ở Tuy Hòa, ông thíêu tá công an trưởng trại cho xe ủi đất sang bằng một cái miếu Thần có từ lâu đời. Khi đi lao động ngang qua tôi thấy ông Thần Miếu ra chào tôi và phàn nàn, chỗ ở bị dẹp bỏ nay phải vào chân núi ở trong bụi cây.

Tôi trả lời: Thân tôi còn bị hành xác đây ông không thấy sao? Thôi hãy kiên nhẫn tu hành sau này đắc đạo Chánh Đẳng Thần qúy hơn. Thần Miếu hài lòng, sau này mỗi khi vào rừng làm củi ở vùng này tôi thường gặp ông đến dắt người đem cho tôi thức ăn. Vì chỉ tiêu của trại cải tạo mỗi tháng 6 kg gạo và thêm ít khoai mì sống, ăn ngày nào cũng đói, có lúc xỉu là thường.

Lúc đi cải tạo ở A.30, nhiều tháng liền tôi không được gia đình “thăm nuôi” vì nhà túng thiếu, một hôm lao động chặt 1,50 m3 củi chỉ tiêu trong ngày vừa xong, tôi đang ngồi nghỉ mệt, Thần Núi đến chỉ cho tôi một cây trầm, tôi hạ cây một hai anh em trong tổ lén đổi trầm lấy gạo sống qua ngày được gần cả tháng.

Vào năm 1988, từ Sàigòn tôi đi dự ngày Đại lễ Đản Sinh mồng 8 tháng 4 âm lịch ở Trung Ương Hội Thượng tại Nha Trang, lưu trú tại khách sạn 50 đường Nguyễn Hữu Huân cạnh bến xe đò liên tỉnh Khánh Hòa, tôi ở lầu hai tầng cao nhất của khách sạn, lúc 10 giờ sáng tôi thấy ông Thần to lớn đến độ tôi phải ngạc nhiên. Ông đứng dưới đất, đến lầu hai mới có nữa người còn nữa thân trên cao vòi vọi. Nói chuyện với tôi mà Thần phải cúi khom lưng rất khó nhọc mới ngang bằng phòng tôi ngồi, bàn chân ông rộng 1mét dài hơn 2 mét. Từ khách sạn 50 đến chợ Đầm Nha Trang hơn 2 km ông chỉ cần 4 bước đi là tới nơi. Ông hỏi thăm tôi sau khi đại lễ và về Trời.

• Cách Thức Đi Đầu Thai Của Người Chết

“Các ông cũng nên biết: Khi bậc đã có phước điền, có một đức tin làm lành thời có nơi chốn chứng minh, có vị Thánh đỡ đầu. Lúc lâm chung, tiềm thức bay bổng lên hư không, miệng liền niệm danh hiệu tôn giáo Đức tin của mình như: Kính lạy Chúa, hay kính mong Thần hoặc kính gặp Thánh tùy tùy mỗi con người tin mà phát niệm, liền khi đó có tia sáng Hồng Quang về cõi Thần, có tia sáng Thanh Quang về cõi Trời làm dân, có tia sáng Bạch Quang về cõi Trời làm Quan, có tia Huỳnh Quang về Tịnh Độ.

Có lúc con người thật tốt nhưng chưa đặng Đức tin vững, vừa lên đến hư không, vui mừng đi dạo khắp vũ trụ, nhưng không bao giờ thấy đặng các cõi, các cảnh giới, đến sau tâm thần bớt khoan khoái lờ đờ, khi tĩnh lúc mơ, nhớ đâu gặp đó, liền đến Thần Hoàng Miếu Võ mà ở liền trở thành Thần Núi Nhân Gian, hoặc gặp phải Tia Sáng Đủ Màu liền được về nhân thế mà thai sanh con nhà giàu có để tu hành.

Trái lại có bậc thật tốt nhưng quá chơi bời, đình trà tửu điếm. Lúc sanh tiền bạn bè thân hữu nhiều nơi, thường vui chung cùng chúng bạn. Đến giai đoạn trên dạo chơi khắp nơi, liền đến chốn ca xướng ăn chơi nhảy múa, liền nhập bọn ở nơi đó say mê lâu ngày vẫn bị tấm màn bao phủ thụ thai vào súc sanh giới. Nếu lối chơi thanh bai qúy phái mà có công đức cao dầy thanh thoát thì đặng thụ thai Cõi Trời Lục Dục Thiên an hưởng.” –T.V.

Đoạn kinh Đức Tịnh Vương đã ghi chép để lại cho thế kỷ 20 của chúng ta, chứng minh con người không phải chết là hết, mà còn trả nợ ở hành động, lời nói ở thế gian, sau đó nhập thai tùy xứ sở do mình gây tạo ra. Bậc tu có dày công đức rất thương chúng sinh lầm mê, không bao giờ có ý nghĩ hay hành động tổn thương đến chúng sinh bao giờ. Con người có quyền không tin tôn giáo, không tin bậc tu nhưng nếu chúng sinh cố ý va chạm, cố ý hại thì hậu quả nhiều đời kiếp không lường hết nổi, bị cảnh thảm sầu trong hiện tại và mãi mãi tương lai ở Địa ngục. Đây là hai sự kiện ở Nha Trang.

Ông Cũng làm an ninh Phường Tân Lập thành phố Nha Trang, không ưa Ngài Tịnh Vương, lập hồ sơ ghi tội bắt Ngài, lúc đó tôi còn ở trong trại cải tạo A.30. Đức độ như biển cả và chúng sinh không phước điền va chạm nhau, thình lình ông Cũng đang công tác bị tai nạn rất nặng ở cột sống nay phải nằm một chỗ không ngồi, không đi lại được như ngày trước nữa. Thật là tai họa. Hết phước ở thế gian, địa ngục môn chờ!

Ông cháu lên thay. Vào năm 1980 lúc tôi đi cải tạo về, ông cháu gọi tôi lên phường Tân Lập bảo làm tờ trình việc nhà và việc tu hành. Tôi biết ông muốn lấy cớ để bắt Đức Tịnh Vương.

Tôi nói: Chuyện đã qua rồi bây giờ ai cũng đang sống ổn định, khơi dậy không ai được ích lợi gì cả. Biết tôi từ chối, ông Cháu bảo, anh làm tờ trình tôi sẽ lo cho anh mua gạo 5 cha con theo gía nhà nước là 5 hào một kg. Thời buổi này, nhà nào cũng chạy gạo toát mồ hôi mới đủ ăn từng ngày. Trong gia đình người nào cũng phải lao động vất vả mới đủ gạo cho cá nhân. Một người chỉ làm nuôi nổi một người chớ không đủ sức nuôi hai, ba người. Tôi cũng nằm trong số kiếm ăn vất vả, nhà lúc nào cũng túng thiếu. Ngày nào nghĩ làm ngày đó không có gạo nấu. Tôi vẫn không có chút mừng khi nghe cho mua gạo với giá rẻ. Tôi biết đây là một thử thách, nếu tôi không trí sẽ mất hết công đức trong vô lượng kiếp đã gieo trồng vì bậc tu cầu giác ngộ chúng sanh không sao hiểu thấu. Cô thư ký Phường bảo có học mà ngu quá, có người bảo tôi khùng theo tu ông Thầy Tịnh Vương. Tôi vẫn làm thinh ra về.

Lúc này ông cháu đang tiến hành lập hồ sơ bắt Ngài bằng lối khác. Thình lình ông bị bệnh sơ gan cổ trướng phải nằm bệnh viện. Bệnh này thường hai năm hơn mới chết nhưng ông cháu chỉ hơn 20 ngày đã chết. Người dân ở chợ Mới Nha Trang đồn ông Cháu chết trông ghê lắm, thấy bu đông sau nhà ông tôi cũng vào xem. Bụng ông to, miệng hả rộng, mắt mở trông rất dữ. Ông bị thọ báo địa ngục môn rất rõ không sai chạy.

Sau đó chính quyền địa phương đến bảo gia đình ông Cháu dẹp bàn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, thay vào đó là hình ông Hồ Chí Minh được đặt lên và Đảng Cộng Sản địa phương đứng ra chôn cất thi hài ông cùng ban đặc ân. Nhà ông đã thi hành theo ý Đảng.

Trường hợp này chắc chắn ông đã thọ báo địa ngục môn không có ngày ra. Thời mạt kiếp có lớp lớp bậc tu, không tu bị kẹt không. Họ không tin có sanh tử luân hồi, không tin có Thần, Thánh, Trời, Phật. Họ bảo chết là hết vì họ không tu Thiền hoặc tu chưa đến nơi chốn kết quả quyết định. Cha mẹ, ông bà, thân nhân đối với họ chết là hết. Trong rằm tháng bảy hàng năm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di lạc đã từng làm lễ siêu độ cho thân nhân quá vãng của chân tử Ngài, khi xướng tên nếu chưa đi đầu thai họ đã gặp Hộ Pháp dắt về dự Đại lễ làm kinh ngạc một số chân tử hiện tiền./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


15. Mãi mãi là bài học nhớ đời

 

Ngài đang Khai Thị cho Chân Tử

Bài học nhớ đời cho hiện tại và mãi mãi cho hậu lai.

Vào khoảng năm 1980, một hôm ở số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, có một bà chân tử Pháp Tạng ở xa về thăm Đức Tịnh Vương. Sau khi đảnh lễ và vấn an sức khỏe Ngài, bà thưa rằng:

– Từ năm 1975 đến nay, con nghe nói hai đến ba lần, nhưng mới đây có người thân ở ngoài Bắc Việt Nam vào thăm, họ nói câu chuyện nghe qua con không tin và nghĩ rằng: chắc ở ngoài Bắc dân sống quá khắc khổ nên họ ghét người Cộng Sãn rồi đặt điều nói thêm. Lần đầu tiên con đi xe đò ra Bắc thăm bà con, khi xe chạy ngang qua địa phận tỉnh Hà Nam Ninh, chính tận mắt con trông thấy trên vách tường có viết hàng chữ lớn:

 *Thằng trời hãy đứng một bên

 

Để cho nông hội đứng lên thay trời

Lúc đó con mới tin họ nói thật. Con còn được nghe nói các chùa ở miền Bắc, tượng Phật được vứt ngổn ngang trong xó trông rất dơ bẩn. Tượng nào bằng đồng, cán bộ cộng sản đem đúc vũ khí súng, đạn.

Lúc bà kể tôi cũng có mặt. Ngài làm thinh không đề cập gì đến chuyện này và bảo bà, thời này nên tu hành sửa tánh. Khi bà ta đảnh lễ Ngài ra về tôi thấy Ngài đứng lên sửa soạn y áo chỉnh tề, đốt bảy cây nhang trầm cắm trên bàn Tam Thế. Bảy cây nhang biện minh cho bảy báu quyền lực siêu đẳng bất nhường của Chư Phật mười phương.

Ngài chứng minh cho thời Mạt Pháp, các pháp ngỗ nghịch tận cùng của chúng sinh gọi là tận thế. Chúng sinh dùng hai bàn tay và trí tuệ làm nên sự nghiệp không tin có Phật thì không có linh ứng là đúng với họ. Hành động thách thức Chư Phật, Thánh, Thần, các vị cũng hỷ xả chẳng chấp, nhưng trồng cam chăm sóc, vun xới ra cây cam, trái cam ngon ngọt. Trồng ớt chăm sóc ra trái ớt cay là như thế, không thể đổ lỗi cho ai, tại sao?

Hàng động, lời nói, ý nghĩ của mỗi chúng sinh qua rồi ai cũng tưởng nó không còn nữa. Đối với Thiền sư hiểu rõ nó không hề mất một ly. Nó cất giữ hành động, lời nói, ý nghĩ của mỗi chúng sinh trong từng ô của Như Lai tạng, đến thời điểm nó như nhiên trả lại cho chúng sinh. Mới đây khoa học cũng khám phá ra, họ bảo lời nói, hành động của con người không mất, nó chạy vòng trong không gian của vũ trụ.

Những năm sau đó, báo chí Hà Nội không dấu hết được, thỉnh thoảng đăng tin: Miền Bắc Việt nam liên tiếp đương đầu với các trận thiên tai, bão tố, lũ lụt được mô tả là hung hãn nhất thế kỷ, thiên nhiên cay nghiệt nhất thế kỷ đã tàn phá dữ dội chưa từng thấy trong lịch sử phát triển và tồn tại của người dân Việt Nam, gây mất mát nặng nề về vật chất cho miền Bắc, đặc biệt kéo theo sự tổn thương nặng nề về tinh thần làm họ rất lo lắng, hãi hùng.

Có khi báo đăng: Thiên nhiên không ưu đãi ta. Ta phải cảnh giác phòng bão chống bão. Dưới mắt Thiền sư phòng tránh thì được còn chống sao được? Mười năm sau, tôi còn nhớ năm ấy là năm 1989, một buổi sáng đẹp trời Ngài bảo tôi nghe như vầy: “Bây giờ thiên hạ họ tin Phật, đi chùa trở lại đông lắm.”

Chính chúng sinh, tánh càng xấu, càng độc nhiễm, không hấp thu được nguyên tinh là chất sống trong vũ trụ rất cần thiết. Tuổi thọ của con người bị giảm đi. Nếu để yên, tánh xấu mỗi lúc một tăng, tuổi thọ của loài người giảm cho đến khi còn 10 tuổi là một kiếp, do đó Chư Phật phải cứu một cách kín nhiệm cho họ lìa bỏ độc nhiễm. Tánh con người tốt sẽ hấp thụ nhiều nguyên tinh, tuổi thọ tăng dần trở lại.

Chánh giác là bậc đã làm chủ con đường sanh tử, đã trở thành bất tử nó thuộc con đường Phật Thừa Tối Thượng. Bậc này không ghét cũng chẳng thương, không thiện cũng chẳng ác. Bậc này thường diệu dụng đem cái tốt, cái siêu thiện tuyệt mỹ cho chúng sinh là đủ. Bậc Thánh Hiền ở vị trí giác chân lý chỉ là học trò, không đủ sức thực hiện nổi nên dù cho có ở một bên cũng không thấu hiểu việc tận độ chúng sinh của Chư-Phật, Như-Lai, Thượng-Đế được.

• Tiếng rên rỉ thành oán khí xông khắp Trời xanh Đức Di Lạc ra tay tận độ

Ai là người dân Việt dù ở thành phố hay chốn thôn quê, có cuộc sống quen tập tục cha ông để lại, mà nghe nói bỏ xứ sở đi đến một nơi rừng núi âm u, nước độc là không gì sợ hãi bằng! 

Nói đến chương trình kinh tế mới của miền Bắc áp đặt lên dân miền Nam, đến nay ai nghe qua đều phải bỏ chạy. Thật vậy tình hình kinh tế, đời sống miền Nam Việt Nam đang ổn định, đến năm 1975 cho đến nhiều năm về sau khi Cộng Sản miền Bắc chiếm được miền Nam, thực hiện theo chế độ vô sản của Liên Xô đã làm cho miền Nam mau chóng suy đồi, kiệt quệ. Từ nhà nhà cho đến xã hội, bỗng tiêu điều buồn bã một cách dị thường.

Người dân bị cưỡng bức đi kinh tế mới, rừng chưa được khai phá, đường sá đi lại chưa mở, nếu có cũng đường đất, đến mùa mưa đi lại quá khó khăn, xe đò lưu thông rất hạn chế. Khí hậu độc, nước cũng độc, gia đình nào bị đi kinh tế mới cũng đều có người bị bệnh sốt rét, chứng bệnh hiểm nghèo này ở các quốc gia chậm tiến như Việt Nam không đủ thuốc men chữa trị lành bệnh được. Thuốc nội địa không đủ mạnh để cứu chữa. Hầu như ai mắc phải căn bệnh này trong vùng kinh tế mới đều bị chết.

Nhà nước Cộng Sản phân loại: Gia đình chế độ cũ có người đi quân đội, công chức, gia đình buôn bán lớn cũng như nhỏ, miền Nam có khối gia đình thuộc dạng này, gia đình thuộc dạng tư sản, gia đình trí thức không dùng được. Tất cả thành phần này đều phải đi kinh tế mới theo lệnh cưỡng chế.

Chính quyền Cộng Sản lúc bấy giờ đã có kế hoạch đưa gia đình cán bộ ngoài Bắc vào trám chỗ trống những nhà miền Nam để xây dựng những thành phố đại kỷ nghệ theo quỹ đạo của Cộng Sản Liên Xô. Những gia đình bị đi kinh tế mới chỉ một, hai năm trồng trọt thất bại bị đói họ chạy về thành phố vì không còn nhà nên sống lang thang các vỉa hè khắp thành phố các tỉnh miền Nam.

Trước nổi kêu thống khổ của người dân Ngài ái hoài, ai có khả năng cũng đều lo chạy đi vượt biển. Số còn lại vô phương phải bị đi kinh tế mới. Tâm lý chung của thời này, hễ nghe nói đến tên gia đình nào bị bắt buộc đi kinh tế mới họ xem như là một đại họa, thà chết vượt biển chớ cùng đường phải bị đi kinh tế mới. Ai đi không lọt ruổi bị sa lưới về là bị tịch thu nhà, tài sản, và còn lại một con đường bị đưa đi kinh tế mới.

Lại một hôm, có một gia đình là chân tử Pháp Tạng tu theo Ngài từ trước 1975 chạy về kêu cứu và thưa với Đức Tịnh Vương rằng: xóm nhà đường Tân Trang thuộc bên hông chợ đầm Nha Trang, đang bị công an và du kích địa phương đến dỡ nhà gần 100 gia đình, đem xe chở bắt buộc phải đi kinh tế mới. Ngày mai họ sẽ dỡ bỏ nhà người chân tử của Ngài. Ngài ngồi bán già, trong tư thế Chánh Định ở Tịnh Thất số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang.

Sáng ngày hôm sau, công an và du kích địa phương đến chuẩn bị vô dỡ nhà tiếp, bỗng ông Lê Duẩn, người lãnh đạo số một của Cộng Sản Việt Nam từ Hà Nội vừa vào thăm thành phố Nha Trang ông đi ngang qua khu chợ Đầm, chợt thấy đồ đạc ngổn ngang, dân thì ngồi khóc, ông Lê Duẩn mới hỏi chuyện gì mà khóc. Sau khi nghe dân kể, ông quay lại la ông Tỉnh Ủy “–"Mấy chú làm ăn cái gì lạ vậy, nhà chưa cất, chưa chuẩn bị gì mà bắt người ta lên đó cho chết hả." La rầy xong ông bảo: “"Thôi ngưng đừng đưa đi kinh tế mới kiểu này nữa.”" 

Thế là những người ngồi khóc họ reo hò, vui mừng chạy vào dựng nhà lại khỏi đi kinh tế mới. Nhà người chân tử Ngài cũng được yên. Sau vụ hóa giải này Ngài theo dõi, chờ xem chính quyền có thay đổi kế hoạch không, nhưng sau đó tình hình chung cả miền Nam vẫn tiếp tục bị cưỡng bức đi kinh tế mới.

Ngài nhập chánh định yêu cầu Chư Thiên cứu độ người dân miền Nam xong Ngài xả Chánh Định. Năm 1977 toàn nước Việt Nam bị hạn hán, mùa màng bị hư hại chết khô vì thiếu nước, chỗ nào còn nước thì rầy tàn phá cũng khá nặng nề, lương thực dự trữ cũng bị cạn. Đến năm 1978 hạn hán kéo dài, dân cả nước bị đói, người dân kinh tế mới ăn cả củ chuối để sống qua ngày. Đến lúc củ chuối cũng không còn, họ ăn lá cây. Đói quá họ chạy đến các cơ quan của nhà nước ở kinh tế mới xin cán bộ giúp cho gạo để sống đỡ nhưng tất cả gạo, ngô, khoai đều không còn.

Lúc bấy giờ người đảng viên Cộng Sản không kiềm chế và quản lý ngươi dân được nữa. Tất cả đều tháo chạy về thành phố, ở đầy các vỉa hè dọc đường phố, hình dáng, áo quần rách rưới lang thang. Tỉnh nào cũng đầy người ở kinh tế mới bị nạn đói chạy về sống ở vỉa hè đường phố. Còn nhà của dân khi bị bắt đi kinh tế mới số đông đã bán rẻ như cho không những người cán bộ. Chỉ cần một hay hai chỉ vàng là mua được một căn nhà, thậm chí có nhiều nơi người dân chỉ lấy tôn, cây, còn cả cái giàn nhà vách gạch xây bỏ trống, chỉ xin phường, khóm là có nhà rất dễ dàng.

Tiếng oán than của người dân lan tràn, họ chạy vào chùa cầu xin, lễ Phật trở lại như trước rất đông. Ở thế bắt buộc không sao tiếp tục cưỡng bức người đi kinh tế mới, cộng sản phải cho ngưng chương trình này. Dân cũng giảm cường độ chạy đi vượt biển. Ngày nay người dân miền Nam được sống yên ổn ở thành phố, không phải bị đi kinh tế mới đều do lòng Đại Bi thương xót chúng sinh mà Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã ra tay nâng đỡ Đạo Đời.

Nếu Chư Thiên, Long Thần Hộ Pháp không ra tay, để đến khi hàng triệu người chết ở rừng sâu nước độc mà Nhà Nước thấy cái sai, sửa sai thử hỏi còn mấy ai sống được? Như cái gương sờ sờ trước mắt Tây Bá Lợi Á của Cộng Sản Liên Xô, cả triệu người chết, gia đình đau khổ, ly tan không một chút động tâm sao gọi là cách mạng được./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng