54. Đại Nguyện Xây Dựng Chúng Sanh Của Bồ Tát

“Bồ Tát Phổ Hiền nguyện: Giúp đỡ các Bậc tu hành về Tinh Tấn nguyện. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử nguyện: Giúp đỡ về Trí Tuệ nguyện. Thế Chí nguyện Tổng Trì Trí Hóa nguyện. Quán thế Âm nguyện Cứu Khổ Giải Ách nguyện. Còn tất cả chư Bồ Tát nguyện tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo nguyện. Khi bấy giờ Đông Độ phóng huỳnh huỳnh quang, bạch bạch quang nguyện cứu độ chúng sanh Trực Giác nguyện. Tây Độ A Di Đà Vãng Sanh Cực Lạc Quốc Độ nguyện. Tất cả Chư Thiên, Chư Tiên Thần Rồng Người chưa hề hay biết, làm sao các Bâc tu hành trong Tứ Chúng hiểu thấu sự việc Chư Phật đã làm, Chư Bồ Tát nguyện giúp đỡ chúng sanh thay lần bản chất, kiến tạo công năng.” –T.V.

Tất cả những Bậc tu cầu giải thoát, buổi ban đầu phải bước qua Độ Khổ Ách nên thường được Quán Thế Âm Bồ Tát giúp đỡ. Bậc tu giải khổ nơi thân tâm chính là Hạnh Quán Thế Âm Bồ Tát.

Lúc làm biếng tự ý thức vùng lên tinh tấn lướt qua vạn pháp chính là Hạnh Phổ Hiền nơi thân mạng đã đồng hợp. Có ứng đúng liền hiện. Lúc kiểm soi toàn thân tâm không còn chủng tánh chúng sanh là Bồ Tát Tánh hiện, Trí Huệ phát sanh nhạy bén Trực Giác thấu đáo là hạnh Đại Thế Chí. Lúc thuyết pháp chính mình nghe trước nhận định không còn trí hóa, trí sanh là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử nguyện.

Sự cứu độ của Chư Phật, Chư vị Thiên Tiên chưa bao giờ hay biết vì Chư Phật hiện Nhất thiết Sắc thân Tam Muội. Bậc chưa sở đắc Tam Muội không biết nổi nên Bậc tu còn tâm tánh chúng sanh không hề hay biết sự tận độ của Chư Phật thật là đúng.

“Xây dựng công năng và bản chất, Diện Mục nơi nó trực thuộc về chúng sanh Tứ Loài phải vươn mình xây dựng đối với Chư Phật, Chư Bồ Tát không thể xây dựng cho chúng sanh đặng, nên chi các Bậc tu hành dù cho tín tâm chưa chịu vươn mình lướt qua vạn pháp hoàn cảnh, chưa tự chính mình hóa giải mê lầm, nằm yên cầu vái thảy đều chưa đặng lấy một ngày tu.” –T.V.

Hàng Bồ Tát tu Bát Nhã Trí tổng trì Trí Hóa nguyện thấu đạt Giác Trí về Như Trí nên tứ thời đều niệm niệm hóa giải vạn pháp.

“Phật dạy Bồ Tát lìa Bản Ngã, không trụ mà trụ. Trụ mà không trụ, đó chính là ra vào hoàn cảnh tâm không quái ngại thọ pháp Đại Bi Tổng Trì bản chất. Nên chi có câu: Bồ Tát Vô Ngã nhiếp thâu về Đại Ngã Bát Đại. Còn chúng sanh hữu Ngã lầm mê." –T.V.

Không trụ mà trụ có nghĩa không chấp pháp nhưng biết sạch pháp. Tỷ như gặp chúng sanh mưu sĩ tôi không hành mưu sĩ nhưng tôi phải biết thấu đáo chủng tánh mưu sĩ tác hại như thế nào. Khi gặp họ tôi luôn biết cảnh giác nhưng không hiệp.

Trụ mà không trụ: Có nghĩa đang hành pháp giới soi biết tỏ tường nhưng đừng áp dụng không đúng lúc. Tỷ như khi còn Ngài khai dạy nghe thích quá đụng ai cũng giảng lại y theo lời Ngài làm cho Bậc không có bệnh học thêm nuốt vào sanh thêm bệnh. Sự khai thị của Ngài dạy cho hàng Bồ Tát phải không y Kinh mà không ly Kinh, áp dụng vạn pháp trong Tam Tạng Kinh Phật phải tỏ tường không trụ mà trụ, trụ mà không trụ.

“Bồ Tát thường đặt địa vị mình, cương vị mình hay thân mạng mình trong hoàn cảnh của chúng sanh, soi rõ, hiểu rõ, đồng biết rõ, để hóa giải cứu giúp chúng sanh không phân biệt lành dữ, tốt xấu, tịnh bất tịnh, làm cho chúng sanh được lợi, Bồ Tát không hổ thẹn vui mừng vì chúng sanh mà Bồ Tát gánh chịu, do đó nên chi Bồ Tát ra vào nhiều kiếp thọ lãnh pháp độ, nhiều tận độ chúng sanh mà Bồ Tát không có tội, chỉ có phước điền quá ư to lớn khó mà ai sánh kịp, mới gọi là Bồ Tát cúng dường Như Lai, làm cho Như Lai tán thán Bồ Tát, nên Bồ Tát sở đắc Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội.” –T.V.

Muốn thấu đạt chủng tánh Bồ Tát hàng Tôân Giả, Thánh Hiền năng thực hiện Vô Úy Thí để cúng dường Như Lai. Bồ Tát không quái ngại lành dữ, tốt xấu, tịnh bất tịnh làm cho chúng sanh thấy được cốt tận độ được chúng sanh tánh. Tâm được rỗng rang sở đắc tự tại. Có tự tại mới Tịnh Bất Tịnh, Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Kinh nghiệm cho biết phải hy sinh thật sự để tận độ chúng sanh tánh được Như Lai Phật khai mở ấn. Rất ít Bậc hành tự tại lại được sở đắc tự tại, chỉ thực hiện tự tại theo sở thích cá nhân. Có tu trong Long Hoa hội gặp Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc được thấu đáo pháp tự tại này.

“Tại sao con đường Duy Nhất Phật Thừa dễ nghe khó làm, hoặc giả dễ làm mà khó nghe? Vì công năng chưa đầy đủ theo từng lớp tu chứng nên chi dễ nghe mà khó làm. Bằng chưa thấu tầm quan trọng Chánh Báo, Thọ Báo trong Vô Lượng Nghĩa nên dễ làm theo dục vọng mà khó nghe lời Phật dạy.” –T.V.

Con đường Đại Thừa là hỷ xả, sửa, hóa giải chúng sanh tánh. Con đường Nhất Thừa gọi là Phật Thừa hoá giải sạch chúng sanh tánh, vận chuyển pháp cho đến thấu đạt nên nghe mau hiểu còn thực hiện chưa tròn, chưa kín, chi tiết chưa sạch Tướng Pháp như Chư Phật gọi là khó làm. Dễ làm mà khó nghe tức làm theo ý muốn chưa trơn liền như Chư Phật còn nằm trong nghiệp kiết sử nên nghe hiểu chưa tận, tự chủ chưa có làm đúng hoàn toàn như Chư Phật gọi là dễ làm mà khó nghe.

Hàng Bồ Tát lại nhìn nhận vạn pháp thuận nghịch, sướng khổ, bất luận hoàn cảnh nào chăng vẫn an nhiên không thấy hoàn cảnh. Vì sao?

“Vì Bồ Tát thâu nhận lấy Giác Tướng, tỏ pháp thành thử thoát sanh tâm không chướng ngại hoàn cảnh mà tự nguyện độ vạn pháp thuận nghịch đến chốn an lành, thâu nhận tỏ ngộ thôi. Về chủng tánh Phật không thấy chúng sanh, không thấy Bồ Tát, chỉ thấy tất cả thảy đều Đại Diện Như Lai Ứng hiện Như Lai, phẩm cúng dường Như Lai, bình đẳng Chư Phật. Do đó nên chi Chư Phật đối với chúng sanh quá gần, quá bình đẳng, quá an nhiên, quá thân cận, không thể nào dạy chúng sanh, không thể nào độ chúng sanh, duy chỉ có hàng Bồ Tát mới độ chúng sanh mà thôi.” –T.V.

Hàng Bồ Tát tu đến Giác Tướng vạn pháp mỗi mỗi đều Trực Giác thấy vạn pháp thuận nghịch, nghe thấy biết không lầm. Nhiều Bậc nói pháp rất hay nhưng pháp trước mặt không Tri Kiến được. Chủng tánh Phật Tánh chính là chủng tánh Như Lai. Bổn lai mỗi chủng tánh vốn nó như vậy, cần tỏ thấu mỗi chủng của nó mới dụng đúng thể tánh phẩm lượng, cùng trọng lượng mới hưởng Chân Lý. Chủng tánh Phật suốt suốt phân minh còn chủng tánh chúng sanh vọ vạy nên hai chủng tánh xa cách nhau hàng triệu do tuần không thấy nhau. Chủng Tánh Bồ Tát hướng thượng còn đang trên đường tận độ, đang tu tập pháp quân minh đến viên dung. Do đó, Chủng Tánh Phật đều có hàm chứa chủng Tánh Chúng Sanh nhưng không thấy chủng Tánh Chúng Sanh. Vì nếu còn thấy chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát là không phải Chủng Tánh Phật, chỉ thấy khắp đâu đâu cũng Như Lai Tánh hiện.

Phật với chúng sanh rất xa nhưng cũng rất gần. Xa vì chúng sanh bị nhiễm chẳng biết Phật. Còn Chư Phật từ chúng sanh tu thành nên biết tường tận chúng sanh. Biết từng lớp lớp không thiếu sót chủng nào có Bổn lai, có tác dụng của nó quá bình đẳng, nếu đem sử dụng phải bất bình đẳng từng lớp lớp. Quá an nhiên vì từ trong chúng sanh, biết rõ không lầm chúng sanh. Quá thân cận vì không chúng sanh làm cơ bản đâu có gì tu thành Phật. Không thể độ chúng sanh vì chúng sanh là chúng sanh, Phật là Phật đâu có lẫn lộn được nên không độ được. Chỉ tự chúng sanh đủ công đức,đủ hồi hướng có khả năng trực giác được thay đổi bản chất của Thánh, đến Bồ Tát mới đến Phật. Khi có Phật tánh mới hay chúng sanh là chúng sanh. Phật là Phật quá ư xa mà gần, gần mà xa. Thật tuyệt mỹ chỉ Chư Bồ Tát còn đang tu mới tự tại độ chúng sanh thôi.

Do hai chủng tánh Chúng Sanh và Phật có cách biệt nhau quá xa nên Phật ra đời chúng sanh không gặp được. Chỉ Bồ Tát trên đường Hạnh nguyện, Hành nguyện mới độ chúng sanh thôi. Giả sử có gặp đặng Phật cũng không nghe được lời Phật. Chỉ Bậc tâm chí hướng thượng như Bồ Tát, tâm chí lìa Ngã sống trong biển Như Lai chứ không sống trong Phật Pháp dù chưa phải Bồ Tát vẫn được gặp. Hầu hết chúng sanh chỉ gặp Phật qua hình tranh, tượng cốt gỗ, xi măng... chiêm ngưỡng tin cầu thôi. Chỉ Bậc Giác Tướng nghe khẽ cũng nhận ra Phật thị hiện bằng thân tứ đại như chúng sanh mà khác chúng sanh.

Tuyệt mỹ thay Mê với Ngộ, Phật và Chúng Sanh.

“Tinh tấn là một pháp môn toàn diện cho ba căn, từ hàng Tiểu Căn, Đại Căn đến Tối Thượng Căn thảy đều do Công Đức Phẩm thành tựu công năng mới đến Tinh Tấn Lực.

Tinh Tấn Lực nương vào Phổ Hiền Hạnh, những vị Đại Bồ Tát đã từng tu, nhờ Tinh Tấn mới viên thông chủng tánh của Tứ Thánh mới vi tế từng sát na vận chuyển luân hồi sanh diệt, diệt sanh pháp giới, do thế mà lầm mê trở thành chúng sanh giới. Đại Bồ Tát và Chư Phật chỉ hơn nhau tận cùng chưa tận tận mà thôi.” –T.V.

Tinh Tấn Lực, Hàng Đại Bồ Tát sau khi đã dụng được quân minh vạn pháp, pháp nào cũng nằm trong phẩm vô sanh nên không còn làm biếng. Đã không làm biếng đâu cần phải làm siêng. Làm siêng trường hợp này vẫn còn bệnh Y Kinh Bất Liễu Nghĩa.

Hàng Nhứt Thừa không làm biếng cũng chẳng làm siêng mới tỏ thấu vi tế vận chuyển sự luân hồi sanh diệt, diệt sanh vạn pháp. Đã không diệt cũng không sanh chính vô sanh. Hàng Đại Bồ Tát thấu đạt vi tế pháp giới, Chư Phật tận thấu vi tế pháp giới.

“Pháp môn Tinh Tấn khởi điểm từ thuở ban đầu nơi Thành Thật Tâm cùng Thiết Tha Tâm, mang lại cho các Bậc tu hành đương thời phát Bồ Đề Tâm cầu Đạo, những Bậc này thường qua hệ thống mến Đạo, say Đạo mà tỏ Đạo, Bất Thối Bồ Đề đến Bất Thối Bồ Tát tu Đại Bồ Tát. Những Bậc thiếu Tinh Tấn khó thành tựu. Tinh Tấn kèm theo Nhẫn Nhục mới có Trí Tuệ căn bản soi sáng dung thông cùng khắp Thiền Định gọi là Định Tuệ.” –T.V.

Những Bậc tu pháp môn Giác Ngộ đều phải mến Đạo đến say Đạo mới tỏ Đạo. Bậc không say Đạo tu thờ ơ, không thích tự tánh đào sâu các pháp không Giác Ngộ.

Trong kỳ Hạ Lai này Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc Tôn Phật thường nhắc nhở những Chân Tử Thành Thật Tâm cần say Đạo. Có vậy mới Tín Hạnh Nguyện lời Ngài mà thi hành không thối chuyển pháp nghịch, pháp chướng đối. Có động mới quyết tâm tinh tấn hóa giải thông suốt được Bất Thối Bồ Đề, Bất Thối Bồ Tát là đường đi của Đại Bồ Tát.

Bậc tu Bất Thối Bồ Đề đến Bất Thối Bồ Tát rất hiếm. Phải có căn cơ sâu dày: Chống đỡ, tháo gỡ tỷ mỷ vạn pháp thuận nghịch thật sâu không thiếu sót mới đúng tinh thần Bồ Tát được. Bậc tu tinh tấn kèm nhẫn nhục trơn liền sáng soi vạn pháp thấu đạt Bổn Lai không còn lầm được gọi là Chánh Định. Có Chánh Định liền có Tuệ viên thông nên việc gì hóa pháp cũng được vô sanh rốt ráo. Pháp môn của Chư Phật, Bồ Tát phụng hành thật tỷ mỷ, thật kín khi hóa giải, vận chuyển pháp, chứ không đơn sơ, không tổng quát một mặt như hàng Đại Thừa tu chứng.

Càng lên cao càng thận trọng pháp môn của Chư Phật là: Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật, Bi Chí Dũng, Tín Hạnh Nguyện, Giới Định Tuệ. Chư Bồ Tát lấy đó làm hành trang cho đến khi thấu đạt Giác Trí đến Như Trí, khai hoang trực chỉ lời chỉ dạy của Chư Phật.

“Hàng Bồ Tát chẳng còn tánh tự mãn, tự ái, tự tôn, tự ý, tự lợi cùng tự sanh. Vì sao? Vì tự mãn, tự ái, tự tôn, tự ý đều là pháp hư vọng nó thường sanh hay diệt, thường cấu hay tịnh, chưa hẳn thuộc về thể tánh Chơn Như của vạn pháp. Lại nữa, tự mãn, tự ái, tự tôn đến tự ý liền tự sanh Tăng Thượng sai lạc với con đường giải thoát. Bồ Tát thật tỏ rõ những tánh kia còn dung túng, còn tập nhiễm, còn cô đọng gìn giữ nó, dù cho thuyết pháp thuyết minh lời lẽ in tuồng như Phật chăng vẫn là lời Ma thuyết.” –T.V.

Từ chúng sanh bước qua chủng tánh Bồ Tát thật là khó. Vì chúng sanh đang thọ chủng nghiệp nơi chúng sanh tánh phải phát tâm tự nguyện bước qua mới có năng lực nhận được Bảo pháp. Lý hiểu biết Phật thì dễ mà giải quyết sanh tử thực hiện Chánh Giác khó khăn vô cùng.

Hàng Bồ Tát rất thận trọng xem xét nhiều Bậc tu khi chủng tánh chúng sanh chưa sạch, còn tự tôn, tự ý, tự mãn, tự sanh đều là pháp sanh diệt dù có thuyết pháp hay như Phật cũng là Ma thuyết không phải tu chứng. Hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát khi chứng xong Chánh Giác cũng không thấy chứng, cũng không tu, lìa Chánh Giác vào Chánh Định lìa Chánh Định nên hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội tận độ chúng sanh không thể nghĩ bàn.

“Hàng Bồ Tát khai trừ chủng tánh bỏn sẻn, thù hận, ganh tỵ và vặc mắc những tánh nầy không bao giờ trưởng thành Phật Đạo. Vì sao? Vì bỏn sẻn sanh nở thù hận ương hèn là nơi chốn trú ẩn của chủng tánh chúng sanh an dưỡng nơi Ngạ qủy, Súc sanh cùng Địa ngục. Lại nữa chủng tánh Bồ Tát chủ yếu nhiếp thu pháp giới cốt tường tận. Từ chủng tánh chúng sanh tánh của mỗi nơi, mỗi chỗ thọ nghiệp, tất cả vũ trụ Tam Thiên có hằng hà sa số khởi sanh. Từ nơi sanh ấy thọ chủng phát hiện cảnh giới, các cõi gọi là Thượng Sanh Hạ Kiếp không ngừng.

Bồ Tát kiểm chứng nơi thân tâm, nơi ngưỡng vọng Bồ Tát mới hay kẻ lười trễ là kẻ vặc mắc đứng thứ nhất, vặc mắc, lười trễ mới phát sanh nghi ngờ, nghi ngờ tự sanh ra muôn nghìn pháp giới, vô tận pháp giới là một nơi sanh diệt không ngừng.” –T.V.

Lắm Bậc tu lâu, thường vấp phải thọ chủng chúng sanh tánh vi tế nặng, sâu thâm. Dù tu đến mức nào, chưa sạch vẫn còn nằm nơi chúng sanh thành Phật. Phật với pháp giới chúng sanh đó thôi. Phật Đạo chủ yếu cứu chúng sanh giải nghiệp thoát sanh tử. Hàng Bồ Tát phải sạch nghiệp kiết sử là cần nhất. Nó vi tế khó thấy, lại quá ư tinh vi. Bậc tu tâm rỗng rang không thấy nó, phải công dụng công thức Diệu Quan Sát Trí mới thấu đáo nó.

“Do đó nên chi hàng Bồ Tát phát nguyện Tinh Tấn, phát nguyện Đại Nguyện Bi Chí Dũng lướt qua từng pháp giới hóa giải nghi chấp. Bồ Tát thật tỏ rõ nơi nghi chấp này, chưa hóa giải chủng tánh chúng sanh, còn cặn bã nào mang lấy nghiệp quả của chủng tánh ấy. Cũng như chén Ngọc Bích không bao giờ chứa đựng món ăn nhơ nhớp, hàng Bồ Tát nhiếp thu suốt thông vạn nẻo, lại còn phải phẩm chất hôi tanh, do cớ sự trên nên chi Bồ Tát hóa giải gạn trừ sạch sẽ chủng tánh chúng sanh thật thụ vào hàng Bất Thối Bồ Tát mà tu đạt.” –T.V.

Hàng Bồ Tát nhiếp thâu suốt thông vạn nẻo: nghe thấy đơn sơ nhưng thực hành khó vì còn một pháp giới chưa hóa giải suốt thông là còn mang lấy nghiệp quả của chủng tánh ấy. Do vậy rất nhiều Bậc xưng Phật bị trở thành Phật Giới. Cứ có 100 Bậc sở đắc Chân Lý Vô Thượng là có 99 vị vào thọ Phật Giới. Đã vào thọ Phật Giới do căn nghiệp, nghiệp thức, nghiệp chướng, nghiệp lậu, nghiệp trần, nghiệp kiết sử rất khó vô kể để thoát sinh.

Bậc chưa sở đắc dung thông đến viên dung, ra vào vạn pháp chưa thấu đạt quân minh Lý và Sự chưa tương song vẫn còn bị tự ý thành thử còn Tự Lợi. Đã thọ giới, các thứ nghiệp trên ngăn che khó nhận được sự thị hiện của Phật. Thực tế nó như vậy, còn lắm Bậc đã gặp đuợc lại thiếu Tin Vâng Kính cũng không sở đắc.

“Bồ Tát nhìn nhận tại sao các hàng tu chưa đến, chưa có một lý sự chứng minh, phải đi vòng với chúng sanh tánh mà thọ nghiệp. Do nơi chưa sạch sẽ, nên lý sự bất tương song chỉ tu nơi ngưỡng vọng đến mà chẳng đến. Còn hàng Bồ Tát không tu cầu đến mà đến, vì Bồ Tát tu sửa tận gốc nên tất cả vạn pháp hồi tôn không còn mới sạch sẽ.

Bồ Tát biết rõ căn nguyên của chúng sanh chủng tánh vướng phải lỗi lầm mà thọ nghiệp mang pháp giới thụ sanh còn cuộc sống hằng ngày do diễn cảnh, bối cảnh, nghịch cảnh, mãi lăn lóc nơi bối cảnh diễn cảnh chưa bao giờ đặng an nhàn như Bồ Tát.” –T.V.

Lý Sự chưa tương song có nghiã Đức Trí chưa tương song, Bậc tu phải chờ đến một thời điểm nào hoặc kiếp nào sung mãn Công Năng Công Đức gặp được Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ đang hành nguyện chờ thành Phật chứng minh cho vị này mới chính thức là Bồ Tát được cũng như một Bậc giỏi ngang với bác sỹ cũng phải chờ qua một kỳ thi quốc gia mở khi thi đậu được cấp bằng và phải được bổ nhiệm mới có thật quyền.

Đương thời Đức Di Lạc bảo: chưa được vị Phật chứng minh Bồ Tát có giỏi cũng không được Phật Lực ban cho. Đời cũng như Đạo tuy hai mà một. Tuy một mà là hai vậy. Hàng Bồ Tát tu sửa tận gốc có nghĩa tu sửa từng vi tế chủng nghiệp nơi thân mạng mình. Chỉ một đơn vị nhỏ nhất cũng tỏ rõ đến sở chứng vô lượng. Chỉ một diện tích cực nhỏ cũng không bỏ qua thấu đạt vô biên. Đó là Bồ Tát tu sửa tận gốc từng vi tế nên mới Hồi Tâm. Trước đó nó cũng chính là pháp giới khởi sanh, khởi diệt, cấu tịnh, tăng giảm tạo thành vòng đai luân hồi sanh tử.

“Hàng Bồ Tát thật tỏ rõ. Từ nơi tánh trí suy nghĩ nơi chủng tánh, do nơi tư tưởng phát huy hồi tưởng, tư tưởng làm chủ động của suy tưởng, trưởng thành Quán Tưởng đến Định Tưởng, mới phát hiện hành động cho nên mới gọi là: Tư tưởng làm mẹ đẻ hành động. Hành động này nó trực thuộc trình độ giai cấp của mỗi chúng sanh có mỗi hành động. Chủ đích nơi nó xuất phát tánh tình cũng là Tánh Trí hành động, không ngoài đồng hợp hóa giữa chúng sanh với nhau, hay bất hợp hóa mà có diễn cảnh thuận nghịch là hai con đường chúng sanh phải chịu lấy.

Bồ Tát thật tỏ, còn rõ hơn thế nữa nên chứng thị Vô Sanh. Thân khẩu ý liền lạc không sai lệch, nhờ như thế mới có uy nghi, uy thế của Bồ Tát. Bồ Tát liền tuyên thuyết: Nhất Ngôn Tri Kiến Phật làm cho tất cả nương nơi Bồ Tát, đó chính là con đường Bồ Tát độ chúng sanh.” –T.V.

Hàng Bồ Tát biết tỏ rõ tư tưởng làm chủ động của suy nghĩ nên nương theo suy nghĩ mà thi hành được sở đắc Vô Sanh. Nếu suy nghĩ mà không làm là Sanh Pháp. Bồ Tát thân khẩu ý là một không còn hai tướng được liền lạc, chỉ cần một lời, liền thấy biết không lầm gọi là Nhất Ngôn Phật Tri Kiến. Đuợc Tương Thông Phật Lực, khó nghĩ bàn, nơi Bồ Tát đã liền lạc Nhất Tướng vào Nhất Tâm Đảnh Lễ Chư Phật.

“Khi Bồ Tát viên dung nương nhờ nơi tu trì Chủ Quán, Bồ Tát thường quán thế, pháp môn quán thế của Quán Thế Âm Như Lai Phật là con đường tự tại của Bồ Tát, con đường này nhiếp thâu đầy đủ Tịnh Bất Tịnh thảy đều hiện thân cứu độ. Bồ Tát thường đứng trong diễn cảnh Bối Cảnh của chúng sanh mà cứu độ, do đó nên chi Bồ Tát mới viên dung nghe thấy biết tận tận, được gọi là: Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội.” –T.V.

Sau khi Bậc tu độ khổ được chúng sanh tánh nơi thân mạng, được chứng tri Bồ Tát, được Chư Phật ban hành chứng minh công nhận Bồ Tát. Lúc bấy giờ Bồ Tát tu pháp Quán Thế Âm Như Lai Phật. Nương nhờ nghe thấy biết nơi Như Lai Phật đặng vào sâu biển cả tỏ rõ sạch sẽ liền lạc Bát Nhã.

“Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Bồ Tát đã từng lìa Ngã cùng Ngã Sở không còn tự mãn, tự ý, tự lợi. Bồ Tát quân minh tha lợi, do đó nên chi tỏ rõ Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn làm chủ trì thực vô, vô thực, chứng tri Bát Nhã. Gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát không còn tập khởi, tập nhiễm trần lao, vì đã trải qua chủng tánh chúng sanh tánh cùng Bồ Tát tánh thực chứng.” –T.V.

Sở đắc Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội Pháp Môn là Bậc độc nhất nhưng phải còn thi hành hàng vạn pháp thần thông Tam Muội mới thực chứng lìa có lấy không tận tận không không đến nơi Giác Tướng Phật Tướng mới gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Khi đã vào Tam Muội tận thấu không sanh, không diệt liền dứt tập khởi, tập nhiễm trần lao. Lúc bấy giờ thấy rõ, biết rõ chúng sanh lầm lạc bị ở pháp giới các cõi cùng các cảnh giới trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

“Bậc Ma Ha Tát nhìn nhận, trước kia chúng sanh trí tuệ thuộc về viên dung Như Lai Trí. Như Lai thời không thể chỉ, còn viên dung Như Lai làm như thế nào để biện minh. Nhưng tập cẩm nang này cốt lưu cho tất cả các Bậc tu hành để nhận chân thật hiện vào con đường giải quyết tử sanh thành thử phải diễn giải trên.” –T.V.

Chúng sanh vốn thuộc trí tuệ viên dung của Như Lai, nhưng khi chúng sanh thọ chấp củng cố một chủng tánh thì chúng sanh vương vào Tạng Thức. Tạng Thức này cũng chính là hạt giống Như Lai nó trực thuộc Như Lai Tạng. Chúng sanh củng cố Tạng mình mà gìn giữ theo lý trí. Tốt xấu, đúng sai. Chung qui Như Lai thời không thể chỉ cố định được vì Như Lai vốn thể tánh như vậy. Chỉ hàng Bồ Tát Ma Ha Tát đã Giác Tướng sâu mới thấu đạt đuợc viên dung Như Lai, mới giải quyết được sanh tử, tử sanh.

Mỗi chúng sanh nhận lấy một Tạng Thức khác biệt bất đồng do chủng tánh thọ khác nhau sanh ra lầm lạc chạy theo sanh tử do đó không thể dùng văn tự để giải quyết nghiệp thức, nghiệp căn của chúng sanh, duy nhất chỉ Bậc tu vừa hiểu biết vừa thực hành gọi là Hành Thâm Pháp Giới mới nhận được viên dung nơi Như Lai hết lầm lạc.

“Bồ Tát Ma Ha Tát. Trước tiên phải là Bậc tu đạt Bát Nhã Trí, khi Bát Nhã Trí viên thông ra vào viên giác mới chứng tri Ma ha Tát. Bậc tu cần phải đi vào con đuờng Tứ Nhiếp Pháp cùng Lục Ba La Mật Đa thành tựu Bát Nhã Trí, đoạn trên đã nói: Chớ nên dùng Không lìa Trí mà an trụ xứ rất tai hại đường tu, sai với tinh thần giải thoát.” –T.V.

Bậc tu nghe quá nhiều nơi câu Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa. Nhưng đối với con đường Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành không rời Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa vì nó là môn sở trường của Chư Phật. Càng lên cao chừng nào Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa càng phải thấu hiểu chi ly sát với thực tại không còn tu tổng quát nữa. Nương nhờ Bát Nhã Trí trực giác thọ chủng vi tế nơi Tâm Thức mới thấu đáo Bát Nhã Trí. Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát nghe một câu, một lời nói, một cử chỉ nhỏ nhặt cũng tỏ thấu nơi Không Tướng mà thấy chớ chẳng phải dụng Không phải bị an trụ Không rất tai hại đường tu, sai với tinh thần Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo.

“Ma Ha Tát đã giải quyết ba chỗ dụng. Chủng tánh chúng sanh tánh, Bồ Tát tánh, tu đạt đến tận tận vô minh, vô minh liền tận, chưa bao giờ hàng Bồ Tát tận diệt vô minh, thành thử trơn liền, không còn Phật chủng là Phật tánh nữa. Bồ Tát thành Phật độ sanh, trải qua xây dựng Quốc Độ sắc tướng bất biến thường an bất diệt vậy.” –T.V.

Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát đã giải quyết xong ba chỗ dụng của Chúng sanh tánh, Bồ Tát tánh, Phật Tánh. Một là nương theo pháp giới tỏ rõ thâm nhập pháp giới để giải giới. Hai là nương khởi sanh, khởi diệt cốt sở đắc Vô Sanh giải quyết sanh tử. Ba là vào vạn pháp tu hành tỏ pháp Đắc Đạo. Giải quyết ba chỗ dụng trơn liền Bồ Tát tu đạt đến tận tận vô minh, thấu đạt sạch sẽ vô minh nên không còn Phật chủng nào vướng động nữa Bồ Tát xây dựng Quốc Độ vào Bất Tử.

“Hàng Ma Ha Tát rất thâm nhập lý chí của các lời Phật ngôn chỉ giáo hướng dẫn chúng sanh trên con đường giải thoát. Chư Phật dặn dò tất cả các Bậc tu hành chớ nên chấp trụ, lìa hẳn lý sự đảo điên mộng tưởng, phải tu cầu lãnh lấy sự tu cầu bằng pháp Vô Lậu, sẽ kết quả Vô Biên Xứ, Vô Định Xứ, tỏ Vô Tận Xứ rốt ráo giải thoát Niết Bàn hai cánh cửa Niết Bàn mà Chánh Giác cho nên Phật nói: Không đắc mà đắc. Không chứng mà chứng. Không đến mà đến. Không công đức mới gọi là công đức. Không thân mới gọi là thân. Những ấn chỉ Phật tôn này chỉ có hàng Ma Ha Tát, đã từng thấu.” –T.V.

Lý Chí có nghĩa Chân Lý chí tình của Đức Bổn Sư. Hàng Ma Ha Tát rất thấu đạt Chân Lý mới chí tình hướng dẫn chúng sanh tu tập theo con đường Tri Kiến Giải Thoát.

Công đức Hữu Lậu sung mãn mới Trực Giác công đức Vô Lậu, sẽ kết quả vô lượng vô biên rốt ráo giải thoát. Cho nên Chư Phật khai thị: Không công đức mới gọi là công đức, Không đến mà đến, Không Thân mới gọi là Thân. Đó là Tâm Ấn chỉ thẳng còn Trực chỉ hàng Ma Ha Tát đã thấu đáo nghe thấy biết viên dung, không còn một nghi chấp nào nữa, liền thấu đạt không công đức mà công đức. Không còn pháp thân mà vẫn pháp thân. Không thấy mình đắc mà đắc.

Hàng Ma Ha Tát hành thâm pháp giới từ thế gian đến xuất thế gian đầy đủ mà biết được chúng sanh nó thọ nhiễm như thế nào, nó phải lãnh như thế đó: Sướng khổ, vui buồn, thanh thô, đẹp xấu. Nó làm nó hưởng chớ chẳng phải ai ban cho nó. Hành thâm pháp giới được đầy đủ hàng Ma Ha Tát đứng nơi sắc tướng đã tận thấu đạt hóa giải vận chuyển Tam Muội quân minh liền lạc suốt suốt tuyệt mỹ là giải thoát chớ chẳng có chi là giải thoát.

Sắc tướng thân hình thuộc pháp giới cố định không bao giờ thay đổi mà nó đổi thay hết tất cả chủng tử từ nơi thân mạng nên còn gọi nó không khác mà khác. Hoàn cảnh khẳng định không bao giờ thoát khỏi nhưng nay đã có Phật Lực thị hiện hỗ trợ nên nó vẫn thoát sinh đến mức an lành ổn định.

Bậc như vậy không khác mà khác. Hoàn cảnh bế tắc không thoát mà nó vẫn thoát hoàn cảnh, Bậc này biết từng chi tiết chủng tử phải bổ sung những khiếm khuyết đầy đủ. Những Bậc tu hoài mong nơi tu sửa thực tế trí tuệ, công năng yếu kém khó vượt qua vi tế tử sanh nên rất khó hiểu. Vì pháp của Bồ Tát đi sát vũ trụ, mắt thấy tai nghe chi tiết, còn từ A La Hán mới mở mắt thuộc hàng Đại Thừa cũng không tường tận được pháp của Nhất Thừa.

Hiện nay trên quả địa cầu khoảng một phần tư Bậc tu theo đạo Phật nhưng rất hiếm Bậc tìm con đường giải thoát, còn nói giải thoát rốt ráo lại quá hiếm hoi Bậc phát tâm Đại Nguyện.

Các nhà khoa học hãy để ý xem sắc tướng gốc của nó vốn từ Thành Trụ Hoại Không. Nó tùy hoàn cảnh đồng hợp đồng hoá chớ không bao giờ có diệt. Bậc siêu đẳng Chánh Giác nương nơi nó tỏ rõ chớ chẳng diệt gọi là nương nơi sanh tử giải quyết sanh tử Trực Giác Bất Diệt. Khoa học lấy vật chất biến chế phát minh được những điều mới lạ làm cho con người sống đầy đủ tiện nghi cùng các loại thuốc cứu con người nhưng con người nào cũng sống với thời gian giới hạn rồi cũng phải chịu chung số phận đã an bài hàng ngày hàng sát na sống trong niệm sanh tử./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


53. Đạo Phật Triệt Thấu Siêu Đẳng Khoa Học

Đạo Phật rất tân tiến, không phải Đạo Phật cổ truyền, Đạo Phật chính là một nền tảng văn minh vô tận, chẳng phải Đạo Phật đem nhân loại tứ loài thụt lùi nghìn xưa cổ hũ, vì như thế cho nên

Đạo Phật thời nào cũng đặng tôn sùng sống động, thời nào cũng vẫn có đủ tài liệu chỉ dẫn cho tứ loài đến nơi Bất Diệt, đến chốn người với người sống chung với nhau an nhiên thoải mái, quí mến nhau như thịt với xương. Chỉ có khái niệm giữa con người và con người tự lợi, nên Đạo Phật chậm tiến mà thôi.

Bao nhiêu những lời xác minh mong sao cho Bậc Tín Tâm thức tỉnh, nhận lãnh lời Kinh Pháp thực hành hóa giải, đó chính là tu, chớ đừng nên tu theo tổ chức mà bê trễ chốn thực hành hóa giải thân tâm làm thế nào Tri Kiến Giải Thoát đặng?


–Chân Nguyên Thực Tế Luận Kinh

“Trong thế kỷ hai mươi nầy, nói lên chỉ có Phật Đạo mới triệt thấu siêu đẳng khoa học mà thôi. Thật khó hiểu khó nhận chân đặng. Vì sao? Vì Khoa học thực hiện bằng hiện vật kết nạp hóa chất, biến thể cấu tạo ra mọi hình thức các môn, các ngành thảy đều chứng từ cho tất cả thế giới con người có biện minh chứng thật. Còn Phật Đạo chứng tri tu chứng của mỗi vị dù vị ấy, thật tỏ rõ lời nói trên xác thật: Chỉ có Phật Đạo mới triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học chăng, vẫn chưa có bằng thể biện minh đặng, cho nên nơi hiểu biết chính mình là một chuyện, thông đạt tận thành minh thuyết là một điều, minh thuyết rõ ràng, biện minh có lối giải là một đường lối. Còn những vị nhận chân được là một câu chuyện đáng nói, cùng với được nghe để thực tiễn một điểm khó khăn nhất, trong bài Siêu Đẳng này vậy.” –T.V.

Nếu những nhà bác học, khoa học gia, triết gia cùng nhà tâm lý học chịu khó đọc, nhận định mới thấy Phật Đạo mà Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật trình bầy những điểm cốt yếu dưới đây, qúy vị sẽ xác nhận thời đại nào cũng chỉ có Phật Đạo mới có đủ Đức Trí triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học, Xã Hội Học, Tâm Lý Học.

“Phật đã tường tận thể tánh, cũng như nhà Bác Học đã tỏ rõ phẩm chất trọng lượng. Ngài vốn thấu con người có sẵn thể tánh: Như nhiên tự biết. Bỗng nhiên tánh nó phát sinh an nhiên thông cảm. Hồn nhiên tiến bộ thông đạt đến chốn rốt ráo triệt thấu, nó liền giải thoát lầm mê trên sanh tử.

Chính ra con người với vũ trụ, con người sống chung con người ngay bản thân mình chưa hiểu được mình, có nhiều lúc thân mạng chính mình còn phản bội lại mình thì làm sao kết quả mục tiêu con người mong đạt đến.” –T.V.

Nhà Bác Học, Khoa Học Gia... dù tài giỏi đến đâu cũng không khám phá được thể tánh nơi thân mạng mình. Khi vui lúc buồn, khi thoải mái lúc bực dọc, khi sáng suốt lúc rối loạn. Vì không khám phá được thân mạng mình nên nền Khoa Học, Y Khoa không triệt thấu hết vũ trụ di chuyển, điều động. Phật Đạo là một nền tản văn minh vô tận luôn giúp con người giải đáp số thực tế nhất. Nếu lấy cái học, cái nguyên cứu nhưng tánh trong thân mạng còn thay đổi, còn bị nó làm chủ nên sự hiểu biết của lý trí dù thông minh đến đâu cũng còn giới hạn.

Bậc Chánh Giác Thiền Sư khám phá được sự di chuyển, sự điều động thể tánh nơi thân mạng mình đến lúc tỏ thông đã hòa vào vũ trụ, như nhiên không còn dùng trí suy nghĩ, bỗng nhiên tánh nó phát sanh khám phá điều kỳ diệu trong vũ trụ và lúc già điều khiển cái chết ra đi một nơi đã định tùy ý đểù lai sanh nơi khác. Còn Chư Phật an nhiên thông cảm vũ trụ với thân tâm là một nên thời nào Phật Đạo cũng sống động có đủ tài liệu và phương tiện giúp nhân sinh. Hơn nữa ở hay vào Niết Bàn đều tùy ý quyết định.

“Bậc Siêu Đẳng là Bậc đã từng tận thấu nguồn gốc phát sanh, con người lầm lạc chạy theo nó để cầu lấy hy vọng kết quả. Nền văn minh thế hệ lâu dài bền vững hay tan rã cấp thời duy nhất chính con người cần phải tận thấu nó mà tận dụng nó mới là một sự việc tối cần xây dựng. Con người phải thấm nhuần triệt thấu tánh tình mình, hoàn cảnh mình đúng sai tự tạo hay tự nhiên mà có hoặc như nhiên nó đến, tự chính mình có lý trí thông minh giải quyết ổn thỏa cao đẹp, cũng thật tỏ rõ tánh tình của mọi người, hoàn cảnh của mỗi từng lớp người. Những Bậc triệt thấu như thế Phật gọi là: Tri Kiến Phật, nơi Tri Kiến Phật là chỗ kiến nhận lời vàng Phật dạy, chớ chẳng phải gặp Đức Phật giao cảm cùng Chư Phật, đây là lời Ấn Chỉ không hai. Bằng con người mới hiểu mới biết hoặc giả học đòi trên văn tự để mà biết, chưa thực hiện đặng nơi lời trên đều sống nơi bị biết, chớ chưa triệt thấu thâm nhập.” –T.V.

Nguồn gốc phát sanh ra tất cả các vật trong thế gian này đều do thể tánh thông minh cao thấp khác nhau, đủ nhiều tầng lớp trình độ của các nhà khoa học. Con người phát minh ra rồi chạy theo để cầu lấy mà hưởng. Từ các nước phát triển đến các nước chậm tiến cũng không thoát khỏi đường lối độc nhất này, Chư Phật gọi là tạm biết còn lầm lạc vì con người học, nghiên cứu, suy nghĩ rồi chế tạo, biến chất mà có.

Trong khi Bậc Chánh Giác Thiền Sư tận thấu giải tỏa sạch sẽ tập khởi, tập nhiễm tánh chất nơi thân mạng, biết được tánh tình từng lớp lớp người, lớp lớp chúng sanh. Nếu Khoa Học Gia biết khám phá phát minh thân mạng mình được đời đời ích lợi hay chóng tàn phế thải đó là việc tối cần. Chỉ có Phật Đạo mới thực hiện được Như Trí Siêu Đẳng trong khi khoa học dụng lý trí suy nghiệm nên bị đào thải từng đợt, từ thế hệ này đến thế hệ khác không siêu thoát, không vượt được Phật Đạo.

“Bậc đạt đến Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác nói: Con người làm chủ vũ trụ, ta đã thành Phật các ông sẽ thành Phật, lời nói này chứng tỏ đưa con người toàn diện theo tài liệu Phật Đạo làm định hướng thực hành sẽ thấu tận Siêu Đẳng Khoa Học. Vì sao?
Vì lý sự nghe thấy biết kia là một nền điện tử bày hiện cho con người, con người chưa biết sử dụng nó liền bị điện tử điều hành. Khi triệt thấu nó thời chính nó trở lại cung phụng cho con người bất diệt.”
–T.V.

Lời Chư Phật là lời Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác: con người làm chủ vũ trụ. Bậc Thánh Tăng, Bồ Tát lo tu hành làm chủ thân mạng đặng khám phá làm chủ vũ trụ, được cái biết đem lại lợi ích thường còn cho con người, cho tứ loài. Tu hành như Chư Phật đã làm chủ được vũ trụ, đã triệt thấu Siêu Đẳng Khoa Học. Con người đi đứng, làm việc gì cho đến suy nghĩ... đều do điện tử có sẵn trong vũ trụ hướng dẫn hết trong cuộc sống.

Bậc tu được gặp Chư Phật, Chư Bồ Tát chỉ bày lần lần triệt thấu tất cả con người, sơn hà đại địa, cỏ cây đều do điện năng vũ trụ điều hành. Tu là điều hành lại điện tử vũ trụ cho đến khi Thành Quả điều động lại nó. Nhà khoa học biết tận dụng điều này sẽ siêu đẳng sử dụng điện tử vũ trụ.

“Sự việc và cơ cấu này các ông nào tận thấu thể tánh tướng tâm, vướng phải tiềm thức thao diễn trong cái thấy mà phân biệt dị biệt, liền tự mang lấy hóa chất nơi ý thức nên chi nhìn nhận thấy, trở thành cảnh sanh tình thành thử các ông phải nương nơi cảnh để mà sống, chạy theo sắc tướng cầu lấy an vui. Nếu không có sắc thì các ông không vui sống. Bằng chưa có tình khô héo bước đi, hai điểm này các ông đành theo sanh tử, đó chính là điều đáng kể nhất.” –T.V.

Tất cả khoa học gia đều bị có cảnh sanh tình. Tức khi có diễn cảnh, có hoàn cảnh vui, buồn…điện tử vũ trụ liền điều động thân mạng làm phát ra tánh tình. Bậc Thiền Sư lấy tình sanh cảnh tức điều hành lại tánh mình, dụng điện tử trung hòa không cho chạy theo diễn cảnh. Tâm đứng yên rồi điều động giải tỏa tức lấy tình sanh cảnh. Dần dần không còn sanh, được tỏ thông. Đã không sanh đâu còn tử. Thấu đạt bất tử, từ đó lời nói, cử chỉ đều siêu đẳng.

“Thời này khoa học chưa có danh chánh ngôn thuận trên thế giới. Thái tử tu đạt Vô Thượng Chánh Giác. Thái tử tận Vô Thượng Siêu Đẳng Khoa Học, tỏ rõ tỷ mỷ từng lớp lang di chuyển linh động thuyên diễn điện, điện tử cho đến siêu siêu điện tử chung khắp vũ trụ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đang sống động lưu hành.” –T.V.

Cách đây 2538 năm, thế giới này chưa phát triển thành hệ thống khoa học Đức Bổn Sư lúc đó đã tận thấu siêu siêu điện tử trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới đang lưu hành.

“Siêu Siêu Điện Tử nó cực kỳ tinh nhuệ, phẩm nó lưu hành, không chỗ nào nói lên từ ngữ đặng, không nơi nào gọi là nó đi, nó lại hay chốn đến, đối với Ngài triệt thấu nó mới thâu nhận đặng nó mà thôi. Do đó mới dùng từ ngữ là Như Lai Tạng. Còn chỗ hiện Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Rồng Người tứ loài văn tự Pháp Thân Phật.” –T.V.

Siêu siêu điện tử không nơi nào gọi là nó đi, nó lại hay chốn đến nghiã là chỗ nào nó cũng có, từ vô thủy vô chung cũng sẵn có chỉ tại khoa học không khám phá ra nay mới tìm ra được thôi.

Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị Như Lai Tạng chính là điện tử vũ trụ. Còn tất cả chủng tánh chúng sanh tánh trong vũ trụ chính là Pháp Thân Phật. Như vậy đủ biết từ Đức Bổn Sư nay lại đến Đức Di Lạc Tôn Phật cùng Chư Phật Mười Phương Ba Đời đều đã tận thấu siêu đẳng khoa học từ xa xưa. Sự khám phá điện tử để biết vũ trụ của khoa học cho đến thế kỷ 20 này so với Chư Phật thật còn quá xa vời chưa thấm vào đâu.

Siêu Điện Tử Phật Đạo gọi là Chủng Tử, tư tưởng là nguyên tử. Những hạt nguyên tử cấu kết thành phân tử cũng như Phật Đạo đã từng giải thích tư tưởng chứa nhóm thành chủng tánh. Ngày nay khoa học còn tìm ra nguyên tử cấu tạo bởi nhiều nơtron, Phật Đạo đã chỉ duyên khởi cấu tạo tư tưởng. Phật Đạo còn đi xa hơn là duyên khởi chính các giống vi khuẩn trong thân mạng cựa quậy tạo tư tưởng trong thân.

Tánh thấy trong thân hiệp tánh thấy trong vũ trụ sinh ra cái biết tùy trình độ, tùy giai cấp, tùy xứ sở, khoa học nay tìm ra các Gen di truyền. Phật Đạo đã triệt thấu siêu đẳng khoa học từ xa xưa.

“Tuyệt tác thay. Ngôn từ Phật thuyết Như Lai Tạng siêu siêu đẳng, vì thế Bổn Thể Như Lai vốn Như Vậy, lưu hành vãng lai, lai vãng chung khắp chẳng khác giọt nước cam lồ cưú an thiên hạ. Không thể hỏi hay nói: Có phải là giọt nước hay chưa phải giọt nước? Chính Bổn Thể là giọt nước. Đối với Bổn Lai siêu siêu Như Lai vốn như thế.” –T.V.

Thời Hạ Lai này đã tàn canh Đức Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác Di Lạc chỉ thẳng siêu siêu điện tử chung khắp Tứ Loài để tìm cách sử dụng chúng đặng Bất tử. Không nên bàn tán phê bình, chỉ trích từ cái học, nghiên cứu, cố tạo Thiền Trí đến Giác Trí là qúy nhất.

“Còn thế giới với con người, quả địa cầu đang quay quần Hư không Giới trong vòng Thái Dương Hệ, Bậc siêu siêu đẳng tỏ rõ tường tận chung khắp có từng vùng, có nghiã là ngoài vùng Thái Dương có hằng hà sa thế giới. Mỗi giới là một vùng, mức sống, lẽ sống, tầm sống, lối sống thảy đều sống chia ra Lai Sanh, Thượng Sanh, Hạ Sanh, Đương Sanh, sự sanh trưởng cao thấp tùy theo Điạ Giới, Tiên Giới, Thiên Giới làm Tam Giới, kiếp sống, mạng sống dài ngắn tuổi thọ cùng hiện vật dụng cụ vốn theo Thiên Khí Hiện, Tiên Thanh Ứng, Nhân Sanh Lực. Tịnh Độ Như, Như Lai Tạng siêu đẳng tùy giới cung cấp, trang trí đầy đủ không thiếu sót.” –T.V.

Khoa học hiện nay đang khám phá vũ trụ trong vòng thái dương hệ. Trong lúc đó Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã chỉ ngoài thái dương hệ có hằng hà vô số thế giới khác có sự sống, mức sống, lẽ sống cao thấp do thanh bai hay thô lỗ, cộc cằn, độc hại của tứ loài. Biết bao thế hệ nưã của khoa học cũng khám phá có giới hạn cũng không tìm ra các sinh vật vô hình đầy đủ được.

“Con người hiện tại đang sống ở trong Địa Giới này chưa bao giờ biết mình từ đâu đến, cho đến Chư Thiên hay Chư Tiên, Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc thảy đều chưa biết đặng. Bậc Chánh Giác siêu đẳng rành mạch rõ ràng tận thấu, nên Ngài mới ấn quyết con đường thoát sanh xây dựng thân mạng tự sanh từng cõi, từng tánh chất chi hợp hóa với thế giới chính mình ưa chuộng, mà tu tập tu hành đoạt như ý nguyện. Chẳng khác nào con người mong trở thành người quân tử phải tâm tánh quân tử, những bậc vĩ nhân hay siêu nhân phải có đầy đủ tiêu chuẩn vĩ nhân hay siêu nhân mà thành đạt.” –T.V.

Trên thực tế kỳ hạ lai này, trong Long Hoa Hội đã có đại diện bậc cao đạo các cõi như Chư Thiên, Chư Tiên cùng bậc ở Tịnh Độ Tây Phương tu Định Tưởng chưa nhớ quá khứ tiền kiếp của mình từ đâu lai sanh tại Việt Nam này. Còn các nhà bác học, khoa học... cũng chỉ biết khám phá vũ trụ theo lý trí suy nghĩ nên càng mơ màng sự tái sanh của con người và tứ loài. Lắm bậc không tin nhưng bậc có Thiền Trí, Giác Trí tu theo con đường chư Phật lại biết rất rõ từ 2538 năm đến nay đã lai sanh nơi nào tên gì, làm nghề gì. Biết từ đâu tới, biết sẽ đi về đâu nên biết sống đầy đủ ý nghĩa.

“Phật Đạo là một nền tân tiến hóa tạo con người thực tế tu cốt tỏ, hành cốt đạt ngay thân tâm mình thật biết tỏ rõ, sau khi mạng vong sẽ đặng về đâu rất tường tận quả vị mình sắp đến, do đó nên chi các bậc tu Phật không bao giờ sợ chết cầu sống, chưa bao giờ nhận lấy hơn thua được mất làm bước đi mà chỉ tu cầu tỏ ngộ.” –T.V.

Những nhà khoa học nào còn dùng lý trí suy đoán, những chính trị gia vô thần hãy đọc kỹ đoạn kinh trên để biết Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lặc xác nhận con người chết không chấm dứt mà đi đầu thai nơi đã hành tốt xấu tùy thọ báo, tùy chánh báo.

“Phải chăng Phật Đạo triệt thấu bản năng thể chất và tánh chất phẩm lượng của con người cùng vũ trụ Tam Thiên, đang sống hấp thụ cái gì, ảnh hưởng ra sao. Kết quả của nó như thế nào? Không khác vị đại lương y, hay một bác học đã từng thực hiện hóa chất cho hoàn thành, những món đồ dùng hay những viên thuốc cốt cứu chữa con bệnh lành mạnh không tổn thương cho con người chăng?” –T.V.

Khoa học, y khoa bào chế các thứ thuốc, giải phẫu cứu con người nhưng con người lành mạnh rồi đến tuổi già cũng tàn. Còn Thiền Sư siêu siêu đẳng chánh giác tận thấu bản năng tánh chất thể chất con người cùng Thiên, Tiên, Thần giúp đỡ như Đại Lương Y được lành tâm bệnh được bất tử, siêu siêu đẳng hơn khoa học hàng triệu triệu do tuần.

“Đứng trước thế giới, nhân loại hoàn toàn phế nhân bất lực cứu chữa con người, xây dựng con người thoát khỏi căn bệnh lầm mê, chứng bệnh điên loạn, nhiễm độc quay quần bất ổn trong kiếp sống do Tạng Thức gây nên Tiềm Thức tìm tòi theo những ý muốn của mỗi con người thảy ra sống còn lung lạc. Vì sao? Vì Như Lai là nơi an lành đứng thứ nhất như con người không bệnh lành mạnh an vui. Tất cả những con người ấy mang vào Tạng Thức thời Như Lai kia trở thành Như Lai Tạng.

Mỗi nhân loại giữ lấy một Tạng. Bá thiên vạn triệu vô số vô biên chúng sanh thành thử mỗi chúng sanh phải hứng chịu một giới hạn của Tạng Thức gọi là Chúng Sanh Giới.” –T.V.

Các nhà khoa học, nhân chủng học nghiên cứu từng quốc gia, từng sắc tộc có tập quán, phong tục, ngôn ngữ nhưng chưa chịu tìm ra gốc của các loài do thần thức khởi điểm gọi là Tạng họ gìn giữ lấy quan điểm đó thành ra giới nào cũng có Tạng Thức trở thành ngăn chia theo giới mà sống theo giới đó.

“Khi đã hình thành Chúng Sanh Giới thời mỗi người, mỗi bậc và mỗi vị, cho đến mỗi thế giới ngăn biệt nhau cùng nhau trưởng thành Tạng Thức, khai hoang tiềm thức, ổn định ý thức, do đó nên chi mới có tam giới chia ra từng địa giới đã nói trên.
Mỗi giới hiện vật trang trí như: Nhà cửa lâu đài cao ốc thành phố có cõi thanh ứng mà thành như cõi Tiên, cảnh Tiên có cảnh giới như nhiên đồng hiện hoa mỹ Ngọc Bích, Pha Lê, Xa Cừ, Xích Châu, Hổ Phách như Tịnh Độ quốc độ đồng niệm tưởng niệm mà thành tựu, trang nghiêm Bửu Châu, trang nghiêm thất báu.

Trang nghiêm quốc độ cực kỳ cao quý. Chư Bồ Tát hằng hà sa số Bồ Tát, cúng dường lễ bái chiêm ngưỡng Phật, trong sạch liền lạc an nhàn thanh tịnh, Đại Thanh Tịnh quốc độ không thể nào kể hết vô biên vô tận cao qúy, vô cùng thanh nhã khó nghĩ bàn, khó dùng văn tự để diễn đạt vậy.”
–T.V.

Khi đã hình thành chúng sanh giới thì mỗi xứ sở có một thế giới ngăn biệt nhau, đồng đắp xây thành cảnh giới sinh sống. Như cõi thế gian dùng sức lao động xây cất nhà, lâu đài. Cõi Thiên, cõi Tiên khoa học đành chịu không thấy, không biết cảnh giới sống thoải mái đầy châu báu này.

“Khi đã ở nơi Địa Giới trên mặt đất quả địa cầu này, toàn diện đều là ĐẶC CHẤT. Các ngành Khoa học không làm thế nào hơn phải nhận lấy đặc chất hiện vật mà hóa chất, từ một khởi điểm nghiên cứu đến thành công, đó chính là một sự thường nó phải như thế, vì địa giới chứ chẳng phải địa hóa mà đặng, nguồn gốc do phẩm chất nó như vậy. Sự lầm tưởng nơi thực hiện đúng với phẩm chất, đúng với tư thế có hòa mới có hiệp, không hòa thì chưa bao giờ hiệp, cũng như các Bậc tu hành rất cần Giác Tướng về Như Tướng chớ cầu Tướng Hóa Tướng đó chính là Bậc sai lầm vô lượng. Nhà Khoa Học nên chu đáo công trình thể chất hóa chất rất cần nơi hợp hóa năng lượng phẩm chất đúng theo công sự mới là Bậc đúng đắn. Không khác chất vôi gạch thì vôi và gạch hít nhau. Bằng bột đắp vào gạch nó chỉ dán chớ không hòa hít.” –T.V.

Đặc chất thuộc Địa đại là Đất, động vật, thảo mộc có thân lá cho đến con người có xương thịt thuộc đặc chất là Đất. Các nhà khoa học lấy các chất thuộc về Đại Địa gọi là đất để thí nghiệm, nghiên cứu ngoài ra không có gì ngoài đặc chất cả.

Địa giới chính là quả địa cầu có vô số đặc chất, lấy chất này chế biến ra chất khác không lìa giới Đại Địa được. Còn Địa hóa ý nói các cõi Thiên, Tiên hóa sanh mà có không cần đặc chất. Bậc Thiền sư biết ở cõi Tiên, cõi Thần các vật đều biến hóa mà không như thế gian pha chế các đặc chất phải mất thời gian khám phá rất lâu dài. Bậc Giác tướng vạn pháp rất hiếm, Bậc này biết dụng vạn pháp quân minh liền đến Như Tướng. Hàng Bồ Tát Giác Tướng, Bậc A La Hán Liễu Ngộ vẫn còn mơ màng Giác Tướng Đại.

Còn Khoa học lấy đặc chất này chế biến ra đặc chất khác tức lấy tướng hóa tướng bị giới hạn vẫn bị mê lầm theo sanh diệt.

“Nói về Thiên Khí hiện cõi Trời có 18 tuần trời, trong 18 tuần đều hấp thụ Thiên Khí. Hiện cao thấp khác nhau, nhưng tất cả Chư Thiên thảy dùng tài trí hiện, có phần cao hơn địa giới công lực kiến tạo nơi tài các cõi trời tinh xảo gấp trăm nghìn lần Địa giới nó vẫn tùy ở Tuần Trời mà xuất hiện. Từ y áo, cung điện, dinh thự, lộng phướng, xiêm y, rồng phượng mỗi mỗi lập Bổn lấy uy là gốc, lấy quyền là dụng, lấy thế làm danh, lấy châu là chi dụng. Ngoài ra không thể lấy ứng, lấy thanh bai lả lướt của Tiên mà trang trí đặng.” –T.V.

Quả địa cầu được bao bọc bởi bầu khí quyển, tất cả sinh vật cho đến con người đều sống nhờ không khí. Thiền sư Chánh Giác như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc lấy Như Lai Nhãn Tạng nhìn được Chư Thiên, Chư Tiên sống nhờ Thiên khí, tinh khiết, trong sạch còn bầu không khí của thế gian bụi hồng trần quá dơ bẩn.

Một hôm tôi nghe Ngài khai thị như vầy: Quả địa cầu chúng ta có trên 200 quốc gia. Còn 18 từng trời, cứ mỗi từng lớn hơn gấp ngàn lần quả địa cầu. Con người ở Địa giới tức quả địa cầu này dùng công lực kiến tạo là dùng sức lao động xây dựng nên. Còn các Cõi Trời dùng tài trí là dùng tinh thần đạt thần thông hiện ra vật dụng lâu đài, cung điện, y áo, thực phẩm v.v... nên cái gì cũng tinh xảo gấp trăm ngàn lần thế gian.

Ở các Tầng Trời người Thiên luôn tôn trọng Bậc cao đạo là lãnh tụ. Bậc lãnh đạo rất uy quyền, lấy quyền ban cho Thiên nhân trong Cõi Trời của mình những gì lãnh tụ muốn. Lấy thế làm danh là lấy tu chứng thần thông cao thấp được thế đứng quan quyền đi đứng đều được Thiên nhân trong cõi Trời xem là Bậc có danh giá. Lấy châu làm dụng là ở Cõi Trời châu báu, xa cừ, xích châu, mã não... làm đồ dùng, khác thế gian vật dụng đều lấy từ trái đất gọi là đặc chất như cái bàn, cái tủ, cái ghế... đều gốc từ cây hoặc kim loại trong trái đất.

Tiền làm bằng giấy, kim loại, vàng bạc đều từ trái đất. Ở Cõi trời ai cũng có thần thông do tu chứng cao cấp hàng Thiên mà được sanh về nơi đó. Nên không có ai là công nhân, lao động để kiếm sống vất vả.

Muốn ăn, mặc đều được thần thông hiện không thiếu chi, chỉ tu tánh tình cao thượng thương người, hiếu thảo cha mẹ, trung với thầy cô, không nói tục tằn, không hành động mưu sĩ khác với thế gian. Kể không hết ý nổi, chỉ Bậc đúng mức Như nhiên xuất định đến nơi mới được chứng kiến tường tận rất thực tế, chứ không phải tưởng tượng hướng một nơi gọi là Định tưởng để đến, cái thấy nầy còn ngoại giáo.

Đến nay thế kỷ 20 sắp dứt, thế kỷ 21 bắt đầu Khoa học dùng đặc chất khám phá, trong lúc Đức Thế Tôn nay Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc cùng khai như nhau. Những Bậc có thiên nhãn, thiên nhĩ chưa đủ lục thông của Chư Bồ Tát đừng vội cho là nói tưởng tượng nữa.

Còn Chư Tiên mức sống, vật dụng còn cao rất nhiều, thanh bai tinh xảo, không dùng bút mực nói hết được. Vậy mà Bồ Tát xuất định vừa đến là được qúy trọng, được đưa đón để họ chờ thọ lãnh pháp không kể hết được.

Con người sống ở thế gian dùng thứ gì không không ngoài trái đất cung cấp nên không rời khỏi Tâm Địa được. Do đó nhiều tánh độc trổ hình phải nhờ tu hành sửa tánh tinh tấn thực hiện, chớ tu sắc tướng quá nặng không sửa tánh khi chết cái khổ đem đến rất tai hại. Nếu là Thiền sư Chánh giác nghe được, đọc được phần này liền nhẹ cảm thông không nghi ngờ như các nhà Khoa học. Vì Khoa học lấy hiện vật dùng mắt thấy. Bậc siêu siêu điện tử thấy chẳng cần mắt nơi thân.

“Còn về Thanh Ứng, Cảnh Tiên hay Cõi Tiên chia ra Bậc Thiên Tiên và Bậc Thần là hai giới có hai đặc điểm cực kỳ về Ứng và Thanh cách biệt nhau xa hẳn. Bậc Thiên Tiên chủ tọa về cảnh Tiên hay Tiên cảnh thanh ứng rất cao, hoa mỹ tuyệt mỹ. Bậc Thần Tiên tư thế về cõi Tiên thời thanh ứng có phần thấp thanh thoát có phần nặng thô hơn Thiên Tiên, Chư Tiên vẫn lấy tài phép làm gốc, lấy hưởng thụ làm thanh ứng hiện, nên chi y áo, lâu đài cảnh giới thảy đều thanh chất ứng hiện, tùy những vị cao qúy thần thông mà thụ hưởng, hoàn toàn khai thác thanh ứng an vui hỷ lạc. Ngoài ra không thể dùng hiện vật hay tài trí. Cũng như Địa giới không thể áp dụng được TƯỞNG mà thành vậy.” –T.V.

Cõi Tiên cũng chia ra nơi ở sang trọng cao đẹp, thanh bai đầy hoa mỹ gọi là Thiên Tiên. Cõi Thần Tiên cảnh giới, vật dụng thấp hơn Thiên Tiên. Chỉ riêng con người nơi thế gian lấy hiện vật từ trái đất làm ra. Phải bằng nhân lực, nếu máy móc thay cũng là trí tuệ, tài năng sáng chế mới có. Ngồi tưởng không thực hiện không bao giờ có. Cõi Tiên, Thần Tiên ngồi tưởng, vào Định tưởng không làm cũng có theo ý muốn. Cõi Trời chỉ biết cõi Trời, cõi Tiên chỉ biết cõi Tiên, Thần Tiên chỉ biết Thần Tiên chứ không đủ quyền năng từ cõi Trời đến cõi Tiên được. Ngược lại các cõi cũng thế. Cũng như con người trên quả địa cầu chỉ đi được trên quả địa cầu thôi, ra ngoài đến hành tinh khác không thấy sinh vật khác vì họ vô hình. Hàng Bồ Tát thành quả đi khắp. Chư Phật tận thành nên 10 phương đâu đâu cũng viên dung có và đến được. Muốn hiện hay ẩn do Bậc tu cao thấp đúng tầm mức mới thưa thỉnh tận độ chúng sanh được.

“Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác đã tận biết cơ sở tánh chất, phẩm chất, trọng lượng của mỗi nơi chúng sanh hỗn hợp gây tạo nên chi Ngài mới vạch ra tu hành nhiếp thâu tận thấu tất cả Thể Tánh Bổn Lai của mỗi mỗi giới mà tỏ ngộ gọi là sở đắc vạn pháp tỏ pháp, chớ chẳng chi tỏ pháp.

Nền khoa học ra đời đã từng qua, đã từng biết mỗi chất nó là mỗi chất nơi nó. Phẩm của nó ra sao, lượng của nó thế nào. Khi bào chế hoặc lúc ráp bộ máy cho nó đã từng biết tỷ mỷ hình thành nó, sáng tạo đặng nên hình mà sử dụng khác nhau theo các chiều hướng như: Máy điện toán, điện tử, máy thu hình, máy phát hình, cùng thu phát thanh chẳng hạn, cho đến những viên thuốc trong ngành dược phẩm có đầy đủ tánh dược, có đủ phẩm cùng lượng hiệp hóa rất tỏ rõ không lầm lạc tý nào.” –T.V.

Bậc Siêu Đẳng Chánh Giác Như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã tận thấu tánh chất, phẩm chất, trọng lượng của mỗi chúng sanh nên Ngài mới lập ra pháp môn tu hành để cứu chúng sanh thoát khổ đi đến bất tử.

Còn nền khoa học ra đời đem tiện nghi từng thời đại làm cho con người sống thoải mái, thuốc giúp trị bệnh. Hai ngành đạo Phật và khoa học tiến song song nhưng khoa học chưa tìm được con đường bất tử nơi thân mạng.

“Đối với Chánh Giác Siêu Đẳng cũng như thế. Nhà Khoa Học khi chế biến còn dễ, vì chính tự tay mình hòa hợp chế biến, do nơi đầu óc thật biết của mình ráp các bộ phận hình thành bằng máy, những bộ máy kia toàn là hiện vật nó tùy thuộc theo lặng lẽ chấp hành nên rất dễ dàng điều động.

Còn Bậc Chánh Giác thật biết, biết tỷ mỷ còn biết hơn thế nữa, biết sự lầm lẫn, biết nơi tai biến, biết chỗ tác hại cuồng quay hư hỏng nơi đầu óc thân mạng con người, do nơi nào, do chốn nào mà nó lầm kêu vang sự cứu giúp nó. Nhưng trái lại Bậc Chánh Giác có quyền hướng dẫn khai hoang, phần con người phải phát tâm tự sửa tự giác đến Tự Thành, ngoài ra không có quyền bắt buộc sự việc này thật nan y khó giải. Nên Phật nói: Phật bất hóa độ vô duyên bất hóa độ Định Nghiệp.

Các Khoa Học Gia đành chịu sửa chữa bộ máy nơi con người, chính thân mạng mình cũng đành chịu với lầm mê trong con đường sanh tử. Đứng trong giai đoạn này, không riêng chi địa giới gánh chịu mà tất cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới, Tịnh Độ, rồng người chúng sanh đành chịu trở thành toàn diện đều là phế thân vô lượng kiếp vậy. Vì sao? Vì mỗi giới, mỗi chất, mỗi phẩm, mỗi nơi, mỗi chốn không thể nào vượt tầm số mình, vượt giới hạn trọng lượng mình để làm sự việc nào khác hơn chính mình làm, làm y như thế mà hứng chịu.” –T.V.

Các Khoa học gia, Bác học chế phi thuyền thám hiểm cung trăng cùng vũ trụ hãy suy ngẫm đoạn kinh trên. Chính Đức Di Lạc Tôn Phật viết trong thế kỷ 20 này. Hình ảnh Bửu tích Ngài để ở trần gian còn mới lắm. Nghi ngờ con người chết là hết thì hãy quay vào thân mạng mình tu sửa, Thiền định được chỉ dẫn cũng còn kịp thời gian được Thiền Sư Bồ Tát và chư Tổ thừa kế hướng dẫn để biết con người chết lai sinh tiếp nơi sống khác rất chân thật.

“Nhưng lạ thay. Hoàn cầu thế giới lầm tưởng Đạo Phật suy đồi Mạt Pháp. Sự lầm lạc này nó riêng từ cá nhân cá thể của mỗi một nhà nước. Nào ngờ các Bậc tin Phật tu hành quá đông, họ truy tầm cực điểm. Mỗi người, mỗi vị nương nơi giáo lý Phật, đến nỗi đọc tụng thuộc lòng từng chữ một, có hàng hàng lớp lớp. Nhưng lạ thay chưa thấm vào đâu, đó chính là đáng kể trong bài này.

Vì sao? Vì tần số chưa hoàn toàn thấu đạt Tứ Trí thì làm sao kết thúc chân lý giải thoát?” –T.V.

Tất cả chúng sanh hiểu biết theo sở thích cá nhân lầm lạc. Tứ trí chia ra bốn thứ lớp nhận định khác nhau nên khó biết nhau: Chúng sanh Trí gọi là Trí Hóa. Tiên Thần Trí gọi là Trí Sanh. Bồ Tát Trí là Trí Tồn từ như . Phật trí là Trí Tận.

Như Lai Tạng chung gồm Tứ Trí. Tất cả chúng sanh chỉ có Trí Hóa. Học, nghiên cứu trí hóa làm căn bản hiểu biết phát triển từng ngành. Bậc Vô Thượng Siêu Đẳng Chánh Giác như Ngài tận thấu Tứ Trí tức Như Lai tạng. Chúng sanh chạy theo trí hóa bị sanh vọng tưởng điên đảo. Phật đạo cho trí hóa là trùng trùng duyên khởi sanh diệt, diệt sanh.

“Trí Hóa là một nguồn máy phát huy, từ nơi thân mạng con người, nói chung lại là nguồn phát triển chung khắp vũ trụ Tam Thiên thế giới, nó nâng cao đời sống nhân loại trưởng thành khôn ngoan linh động trong các ngành, chia ra nhiều ngành như Khoa học kỹ thuật, các nghề nghiệp, các Bác sĩ, Kỹ sư, cho đến Bác học trong thế kỷ 20 nầy đang nhìn thấy, trên nguồn hiện sanh của thế giới không ngoài Trí Hóa mà ra.” –T.V.

Do quy chế Trí hóa mà từ nhà Bác học cho đến tất cả con người có khi vui lúc buồn, khi sướng lúc khổ, khi trầm tỉnh lúc nóng nảy điên loạn. Khi hòa đồng lúc bất đồng sinh ra khổ. Đạo Phật dạy chúng sanh thấu đạt Như Lai Tạng Tứ Trí nên không có tình trạng mê lầm như vậy.

“Phần Trí Hóa đối với Nhân Sanh, Thiên Sanh, Tiên Hóa chung khắp vũ trụ Tam Thiên là một điểm chính của Tứ loài, thành thử vũ trụ Tam Thiên phải bị sống Nhị Nguyên phân đối sướng khổ khác nhau, được mất có không chưa bao giờ thoải mái. Vì sao?

Vì Trí Hóa nó tùy thuộc bản chất của mỗi con người phát sanh trí hóa, dù cho Bác sĩ, Kỹ sư Bác học cho đến tầng lớp không ngoài Tứ Đồ là điều khó giải. Tứ Đồ là đạo đức hay phi đạo đức. Hung cường và Mưu-Sĩ-Đồng mà khó giải. Phật đạo cho trí hóa chính nguồn điên đảo hóa nên mới có: Tất cả hư vọng đảo điên.” –T.V.

Dù cho Bác sĩ, Kỹ sư, bác học cũng không thoát khỏi qui chế Trí hóa. Phải bị sống nơi Nhị nguyên là sướng khổ, được mất, có không... Chư Phật Giác Trí về Như Trí thật quá siêu đẳng. Phật đạo cho qui chế Trí Hóa là nguồn điên đảo bất tận.

“Bậc tận thấu siêu đẳng nói đến Tứ loài Nhân sinh và Tiên cảnh Tam Thiên Đại Thiên thế giới dù cho những Bậc thông thái hiền triết hoặc giả vĩ nhân hiện đại văn minh chăng vẫn nằm trong Trí Hóa hư vọng. Vì sao? Vì Trí Sanh vẫn hóa sanh, trí tồn bị tồn, tận thấu chăng vẫn tận thấu hiện sinh hiện vật chớ bản thân chưa bao giờ tận thấu con đường siêu đẳng.

Do đó nên chi con người bước vào con đường đạo Phật. Trước tiên hỷ xả tất cả các sự trong thân tâm mình, dọn cho sạch sẽ Trí Hóa, Nhất Tâm đảnh lễ chiêm ngưỡng lễ bái Phật, nương theo ngôi Tam Bảo tu hành theo đạo lý và giáo lý làm nền tảng cải hóa giải nghiệp.” –T.V.

Trí hóa còn sanh diệt gọi là Trí sanh diệt. Trí Tồn của các nhà Khoa học do thiên tư cá nhân nhanh thấu hiểu ngành nào của mình, vẫn qui chế bị biết vì còn suy nghĩ nên bị Trí hóa. Dù Bậc tận thấu cũng là do hiện vật từ đó Trí hóa phát sinh. Bởi vậy để thoát khỏi Trí hóa bị sanh diệt nhà Bác học, Khoa học gia cần sửa, dọn cho sạch sẽ thân tâm mình. Có nghĩa hỷ xả tất cả việc chướng tai gai mắt đến với mình đến lúc kết quả trí không hóa nữa dần dần phục hồi Giác Trí đến Như trí. Tận thấu Trí lấy nghe thấy biết tức lấy Như Lai Tạng cải hóa giải nghiệp được Như Trí. Bậc sống trong Như Trí thật tuyệt mỹ khó có cấp nào thấu hiểu nổi.

Chư Bồ Tát tu Bát Nhã Ba La Mật Đa thấu đạt Như Trí. Chỉ Chư Phật tận thấu Như Trí. Nghe thấy biết viễn thông khắp xứ.

“Phải tự tánh tỏ tánh hóa giải Trí Hóa, rất cần đến Bậc Thiện Tri Thức hướng dẫn, vì sao? Vì Trí Hóa đặng Trí Sanh căn bản vào con đường giải thoát là một vấn đề đưa cho những Bậc tín tâm từ một kiếp giải thoát đến vạn kiếp chưa giải thoát. Con đường tu Phật quan hệ nhất từ chỗ Trí Hóa về với Trí Sanh đúng với tinh thần giải thoát liền đặng giải thoát bằng không đúng với tinh thần dù có tu vạn kiếp vẫn sanh tử.” –T.V.

So đoạn Kinh trên Chân Phật tử phải hiểu, cầu giác ngộ cần gặp Bậc đã giải thoát đi trước cứu độ cho mới được. Gặp rồi nếu tin vâng kính trọn chỉ cần một kiếp là đến. Lắm Bâc được gặp Đức Long Hoa Tăng Chủ mà thờ ơ không có tinh thần cầu Giác ngộ đến lúc Ngài ra đi họ vẫn chưa Giác ngộ được... Còn thiếu tinh thần vạn kiếp nữa có gặp Bậc Chánh Giác cũng như không gặp. Thời Hạ lai lắm Bậc lấy trí hóa, trí sanh tưởng mình là Phật thật mê lầm truyền kiếp.

“Nơi Trí Sanh tùy vào Trí Hóa của mỗi vị mà tu đạt. Có vị chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, có Bậc chứng Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn. Có Bậc nương vào Bình Đẳng Tánh Trí mà đường tu chủ quán sơn hà đại địa sau Trí Sanh sở đắc Pháp thân.

Khi bấy giờ đã sở đắc không còn phải dùng Trí nữa. Vì sao? Vì trí huệ vị trí trong căn bản Trí hóa, thuộc về tư tưởng phát sanh, Phật đạo gọi là Bản ngã giả tưởng. Thời này có rất nhiều Bậc tu hành sai lạc với hướng tu, lấy Trí Hóa vọng cầu trí hóa nên chi bị biết thật nhiều, bị tu không ít do lòng mong mỏi Trí Sanh, thêm vào đó nhìn nhận học vấn lấy trình độ học vấn để hiểu biết chân lý, làm sao tận thấu đặng chân lý, do duyên căn này mà bị chứng Chân Không Trí Sanh tăng thượng tu theo tối sáng mập mờ, hiếm Bậc Thực Chứng Chân Không, bậc này vẫn nương nơi Đạo lý, không tách rời Đạo Hạnh chẳng xa lánh Đạo Tràng gọi là Hạnh Nguyện.” –T.V.

Bậc Đại thừa cũng tỏ rõ trí hóa sau biết trí sanh nhưng còn cạn chưa sâu như hàng Bồ Tát thấu đạt Trí Hóa. Trí tuệ, học hành, nghiên cứu thuộc trí hóa. Trí hóa thuộc tư tưởng khởi sanh. Trí hóa làm cho nhiều Bậc lầm nghĩ xưng mình là Phật. Giác trí đến Như trí thấu đạt trí hóa nên không còn lầm nó. Dù Bậc cao cống trí tuệ đến đâu cũng không ra khỏi vòng đai sanh tử của nó.

Các nhà Khoa học hãy tham khảo Trí Hóa, tìm cho ra Như Trí sẽ thấy một chân trời mới lạ trong thân mình và sẽ nhận được một thể sáng như nhiên không gì qúy bằng. Không con đường nào khác, hãy tìm về chân Chư Phật, vết chân chư Bồ Tát mà đi dù nhà Bác học ở tôn giáo nào, hoặc không tôn giáo vẫn đem lại siêu trí rất bổ ích cho bản thân cho nhân loại. Lúc đó mới thật biết chỉ có Phật đạo mới triệt thấu siêu đẳng Khoa học, lại được minh xác trí tuệ Bác học nơi thế gian với Như Trí của bậc Chánh Giác cũng nơi thế gian chứ chẳng phải ly gia cắt ái, cũng chẳng phải do ăn chay, không ăn chay, cũng chẳng phải do ở tu viện, ở chùa. Ở bất cứ đâu cũng được tự do thoải mái không lệ thuộc giáo môn./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


52. Tâm Tình Diễn Tiến Phật Đạo

“Hàng Bồ Tát tu hạnh giải nghiệp vì hàng Bồ Tát chứng tri thể tánh vận chuyển của Như Lai Tạng, nương nơi Như Lai mà giác ngộ thành thử giải nghiệp sạch nghiệp rốt ráo thành Phật, do đó nên chi Bồ Tát không bao giờ diệt nghiệp để tu cầu.” –T.V.

Hàng Nhị Thừa tu Phật thấy nghiệp thức thường chướng bị biến đổi đủ chiều hướng nơi Nghe Thấy Biết. Nó là thể tánh vận chuyển của Như Lai Tạng thấy phức tạp, khó khăn, liền tránh né để diệt nghiệp. Kết quả tu thành Tiên Đạo.

Còn hàng Bồ Tát nương nơi Nghe Thấy Biết tức nương nơi Như Lai, vận chuyển vạn pháp qua tất cả chướng ngại cầu Chánh Giác nên quyết tâm giải sạch nghiệp, không bao giờ diệt nghiệp để tu rốt ráo thành Phật.

“Trên con đường tu Phật, Chư Bồ Tát thực hành pháp môn Phật Thừa, Chủ Quán Như Lai, Quán Như Lai là một pháp môn Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác. Tâm qua tất cả bối cảnh nghịch cảnh giải nghiệp vướng mắc thọ chấp ngăn ngại của Bồ Tát, nhờ thường chủ quán mà thấy nghiệp di chuyển ra vào, năng chấp dị phân nơi thân mạng mình, cùng tất cả con người quần chúng nhân sanh, cho nên miệng nơi mình thường nói ra, thời kẻ kia bắt lấy, nghe qua tức giận hay vui mừng, thỏa mãn hoặc nghi chấp, từ thế nhân con người học chỉ sống nơi chỗ sống chạy theo nghiệp hơn là tự sống quân minh, do đó nên Chư Bồ Tát dẹp tất cả nhỏ nhen liên hệ khởi sanh nghiệp mà sống nơi sống sáng soi nghiệp thức tỏ ngộ mà thôi.” –T.V.

Chủ quán Như Lai có nhiều lớp là pháp môn Nhất Thừa tu thẳng đến Thanh Tịnh Tâm thông đạt Nhất Tâm mà hoàn toàn Tri Kiến Giải Thoát. Trước tiên hàng Nhất Thừa đã được hỷ xả sâu, nương nhờ pháp quán xét nơi Nghe Thấy Biết trong thế gian gọi là bất ly thế gian, lướt qua các pháp được hồi tâm, được rỗng rang, chẳng còn mắc miếu, sâu hơn Đại Thừa sạch nghi đến Đại Thanh Tịnh.

Nhờ thường chủ quán mà thấy nghiệp thức di chuyển ra vào làm lầm chấp nơi thân mạng, thấy tất cả đều chạy theo nghiệp không thoát sinh được. Nghiệp ăn sâu thành nghiệp căn, tỏ rõ tỷ mỷ khỏi lầm nghiệp Kiết Sử vi tế mới dẹp nhỏ nhen không sanh nghiệp, thân tâm thanh tịnh, được Thiện Tri Thức diệu dụng Biệt Tôn Đốn Ngộ để khai thị làm cho Bậc này sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Hàng nhất thừa là hàng không còn phân đối pháp, quân minh thực hiện tuyệt đối pháp, lấy Như Lai nương Như Lai không còn lăn tăn gợn sóng ngăn chấp. Nhận được pháp Đốn Ngộ thì Nghe Thấy Biết tỏ rõ, rỗng rang sở đắc được Bổn Lai Diện Mục của mình, của Như Lai Pháp được Đại Thanh Tịnh vào Nhất Tâm. Bậc tu hành chưa sạch lý, chưa được Bậc Thiện Tri Thức chỉ bày, còn chướng chấp nếu tu Đốn Giáo rất có hại vì không thi hành không biết làm sao cho sạch nghiệp lại dùng tâm tham, sân, si thuộc Đốn Môn liều lĩnh mang nuôi bệnh rất có hại là như thế.

“Có Bồ Tát thưa hỏi Phật: Bạch Thế Tôn, con lầm mê, càng tu càng thấy mê lầm, con có giải nghiệp đặng thấy nghiệp mà giải. Bằng con cứ an nhiên, con không bao giờ thấy nghiệp. Đức Thế Tôn Ngài hỏi: Ông thấy nó, ông lấy chi để mà thấy?
Bồ Tát đáp: Con thấy lấy cái thấy mà thấy. Ngài tươi cười nói: Cái thấy đồng với thấy không bao giờ đặng thấy, chỉ ngoài cái thấy mới thấy mà thôi.” –
T.V.

Rất nhiều Bậc tu thời Hạ lai không chú tâm thực hành hạnh nguyện giải nghiệp. Nghiệp rất khó thấy, nếu bậc tu tinh tấn nhận được nó cũng thấy cạn cợt không thiệt thấy hết. Có thực hành mới thấy nghiệp trổ mà giải. Phải dung thông, tâm đứng ngoài hoàn cảnh không vướng mắc, không bảo thủ cá tánh mới lấy cái thấy để thấy.

Cũng như chuyện người ngoài mình thấy rất rõ nghiệp của họ, còn chính nghiệp của mình lại không bao giờ thấy, dù Bậc chú tâm cũng không thấy hết được. Lấy cái thấy để thấy tức lấy Như Lai Nhãn Tạng để thấy.

“Bồ Tát tán thán, hay thay tán thán cứu tinh Phật Đạo. Con đang ở nơi nghiệp không bao giờ thấy nghiệp, con đang lầm lạc chưa bao giờ tránh đặng lý sự lạc lầm. Con nằm yên chưa bao giờ nhận chân Phật Đạo chứng tri. Con phải nương theo vết chân Bồ Tát Phật mới trưởng thành Đạo Phật. Con đã thật biết hay đã từng biết, sự diễn tiến đạo Phật, con nên tiến từng giai đoạn diễn hành cốt tỏ ngộ, nhận đặng tâm tình Chư Phật đã cứu giúp con, tình nơi Chư Phật chính là một mối tình không phương mà chúng con được cứu trợ nâng đỡ con từng bước tiến. Con đã từng tỏ rõ nghiệp là tự con ngăn chận hoài mong cái sống chỗ sống tự ngã do con. Thế mà lúc con xả ra cho thật hết nghiệp lại tự mang lấy cấu nghiệp nằm yên chờ chân lý giác ngộ.

Con đã từng nghe, sạch nghiệp mới dung thông tận thấy biết mà tri kiến. Bằng chưa dung thông thì chưa bao giờ sạch nghiệp. Bồ Tát tán thán xong bái lễ. Đức Thế Tôn gật đầu yên lặng chứng minh.” –T.V.

Hàng Đại Thừa hỷ xả tỏ rõ giải nghiệp. Bồ Tát biết chân lý có sẵn khắp nơi như lớp lớp bụi vi trần chung khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Nó là Pháp Thân Phật, hàng Bồ Tát biết sự vận chuyển mà thành Như Lai Tạng nên thường tâm niệm tin Phật – tin Pháp – tin Tăng để rốt ráo giác ngộ. Tâm tình Chư Phật luôn cứu giúp khắp muôn phương, Bồ Tát thức tỉnh liền đâu đâu cũng có Phật Lực cứu độ lúc diễn cảnh cho đến hồi cam go, khó khăn làm cho Bồ Tát sạch nghiệp, biết nghiệp do tự mình hoài mong, tự ngã phải mang cấu nghiệp.

Bồ Tát theo vết chân Chư Phật Bi Chí Dũng thực hành dung thông đến sở đắc viên dung tận thấy biết sạch nghiệp là cốt yếu. Khi đã sạch nghiệp Bồ Tát được nhẹ cảm, như nhiên thân cận Như Lai Phật thật không gì qúy bằng. Dù của cải đầy nhà Bồ Tát biết qúy Chánh Giác nên cái gì cũng dám đánh đổi để chung cùng với Như Lai.

“Con đường duy nhất các Bậc thảy đều bước qua không thể nào tránh được. Từ Đức Bổn Sư thành Phật đến hàng Bồ Tát nương theo qua từng cơn giải nghiệp, qua từng lý trí sáng soi, qua từng giai đoạn giải tỏa, nó càng nhịp nhàng bao nhiêu thì tâm tình Đạo Phật, giữa Đức Chí Tôn cùng Chư Tổ lại càng giao cảm bấy nhiêu. Có như thế nên chi các Bậc Bồ Tát không bao giờ củng cố quả vị. Vì sao?

Vì địa vị hay quả vị củng cố cũng đứng vào hàng hư vị danh giả, nên chi mới công dụng Lý Trí dung thông đương nhiên quả vị. Nhờ nơi Lý Trí dung thông là do xa lià Ngã cùng Ngã Sở, nhờ xa lià Ngã mà chẳng bao giờ có tự Ngã, tự tôn kết quả không man khai tướng Phật chỉ thể tánh đồng đẳng chung cùng với Phật mà thôi.” –T.V.

Bậc tu nào cũng vậy, từ hàng Bồ Tát đến thành Phật đều phải trải qua từng lúc khó khăn giải nghiệp, Chư Bồ Tát lúc đầu cũng phải dùng ý trí sáng soi, giải tỏa nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu, nghiệp kiết sử từng lớp lớp sau sạch nghiệp được kiến diện Như Lai. Chính vì khó khăn như thế nên Chư Phật rất giao cảm với Chư Bồ Tát. Phần Bồ Tát tri ân Chư Phật phải cầu tiến mãi không ngừng nên chẳng bao giờ củng cố vị trí tu chứng. Nếu củng cố là dừng trụ bị sa vào pháp giới đồng với Nhị Thừa tu chứng. Bồ Tát ý thức được như vậy nên không cầu hư vị danh giả, sống bình dị thân cận chúng sanh, nên chúng sanh, A La Hán không nhận ra được.

“Bậc Chánh Giác trong sáng lành lẽ, lời vàng Chân Lý từ Kim Thân phát hiện, tất cả Chư Bồ Tát mỗi bậc lãnh lấy Chân Lý mà tu hành thời gian sở đắc Chân Lý ra làm một vị Tổ thừa kế chỉ giáo. Các hàng Chư Tiên, Chư Thiên, Chư Thần, Chư Long Thần đồng với Chư Hộ Pháp đến Hộ Pháp Bồ Tát, nghe đặng mỗi một lời nói. Lời nói ấy lãnh hội đặng hay không do lòng cung kính Phật mà thọ trì lãnh lấy liền sở đắc pháp Chân Lý, hoặc giả tiếp nhận một hơi thở hay nhìn một ngón tay hay một ngón chân Phật đang bước nhẹ nhàng thoải mái để lãnh lấy Chân Lý, với hàng Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Hộ Pháp, Hộ Pháp Bồ Tát Ma Ha Tát, tận tường chu đáo rốt ráo Chánh Giác thành Phật.” –T.V.

Tu đến rốt ráo chân lý thành tựu Bồ Tát thật quá khó khăn. Nếu có thành tựu phải đợi nhiều kiếp gặp Phật chứng minh nhập thể mới thật sự đại diện Chư Phật tận độ chúng sanh. Còn từ Bồ Tát tu đến rốt ráo thành tựu Diệu Quả Bồ Đề như Đức Bổn Sư nay đến Đức Di Lạc thật hiếm hoi vô kể. Chư Bồ Tát được tương thông Phật Lực thừa kế chỉ giáo tất cả các hàng từ Hộ Pháp, Hộ Pháp Bồ Tát đến Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thần, Chư Long Thần nghe được một Pháp liền lãnh lấy sở đắc Chân Lý. Hàng Bồ Tát vì nhạy cảm, nhanh hiểu biết nên nhìn qua một cử chỉ, một ngón tay hay một ngón chân Phật diệu dụng cũng dễ thoải mái lãnh lấy chân lý chu đáo. Vì Chân Lý vốn sẵn có, chỉ bậc nặng nề do nghiệp khó nhận, bậc nhẹ cảm dễ tiếp thu, chỉ cần một cử chỉ nhỏ nhặt của Phật cũng cảm thấu nên Chư Phật và Chư Bồ Tát rất dễ cảm thông nhau qua Giác Tướng Đại./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


51. Về Với Chân Tôn

Bậc thấu đạt Như Lai tạng là những vị Đại Bồ Tát, đã từng bao quản cúng dường Như Lai, phụng hành tạng pháp của Chư Phật Nhất sanh Bổ xứ thành Phật, tất cả vạn pháp trơn liền, ra vào Viên giác.
–Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh

“Chân Tôn là một lối tu Phật thừa không trực thuộc pháp môn chỉ nương theo con đường Trung Đạo nhiếp thu tỏ tánh mới vào Phật thừa tu tập, chân tôn tường tận, pháp đảnh viên đạt Như Lai Tạng mà thôi.” –T.V.

Đại Bồ Tát là Chư Vị đã từng biết cúng dường Như Lai, từng tu cận kề sát thể với Như Lai, đã từng thấu đạt Như Lai Tạng vào ra vạn pháp trơn liền rốt ráo được về với Chân Tôn. Khi đang tu tập cầu tri kiến giải thoát để được ban hành chứng minh, những Bậc này còn phải tu hành pháp môn Phật Tri Kiến cho giác ngộ rốt ráo, muốn vậy phải thực hành hoàn toàn đầy đủ Phật Thừa còn gọi Tam Thừa, chung lại một gọi là Nhất Tôn Hạnh. Thấu đạt Chân Tôn.

Nhất Tôn Hạnh gồm có Tiểu Thừa, Đại Thừa, Nhất Thừa. Hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát còn gọi Đại Bồ Tát mỗi mỗi đều thị hiện Trung Đạo Tôn, con đường thị hiện sắc thân Tam Muội nên không còn bị gò bó giáo điều, không còn lệ thuộc pháp môn. Vì sao? Vì Bồ Tát đã trực giác biết thị hiện Như Pháp không còn y Kinh cũng chẳng ly Kinh, được thấu đạt Pháp đảnh Như Lai Tạng.

“Kể cả hàng Bồ Tát hạnh, Bồ Tát nguyện, lần nơi hạnh nguyện vẫn mơ màng, do đó mà thoái chuyển, phải tu hành Bát Nhã đến Bất Thối Bồ Tát vào Phật Thừa Chân Tôn Pháp Đảnh Chứng Tri Pháp Đảnh Như Lai Tạng. Do lẽ ấy nhiều Bậc lầm nhận sự lý kín nhiệm Như Lai, thật ra Như Lai không kín nhiệm. Nơi lầm lạc mơ màng cho đó là đóng mở Như Lai, thật ra Như Lai không đóng mở.” –T.V.

Những vị còn đang tu Bồ Tát hạnh, Bồ Tát nguyện chưa thành tựu Bồ Tát vẫn mơ màng chân lý vì thấy biết pháp giới chưa sâu đậm.

Hàng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát đã thấu đạt nơi Chân Lý Thực Tiễn, từng phút giây tường tận tỏ rõ tỷ mỷ sự di chuyển vạn pháp nơi thân mạng, thành tựu hỷ xả và vận chuyển được vạn pháp hồi Chân Tôn. Hàng A La Hán cao nhất đến Liễu Ngộ, tỏ rõ hỷ xả nhưng đây là khúc eo vĩnh cửu phải qua vận chuyển thành công vạn pháp mới bước vào Nhất Thừa không hai tướng.

Thời Hạ Lai này Chư Tổ quá khứ giỏi thuyết, giỏi hỷ xả, đến đó đứng yên. Đức Long Hoa Tăng Chủ phải vận dụng cho Khoa Thi nhưng rất nhiều vị còn kẹt ở Phật giới không qua nổi, có vị đã được khai con đường Nhất Thừa nhưng chung kết không thi đậu. Do vậy mà không được Ngài ban hành chứng minh. Vì sao? Vì không thấy, không biết sâu đậm nghiệp thức để thoát sinh cho sạch lại sinh chán nản làm tăng thêm nghiệp căn nghiệp kiết sử. Lắm bậc giảng Bát Nhã lại không thực hành đúng được Bát Nhã, vận chuyển pháp không tự tin, không khẳng định được đúng hay sai, còn mơ màng trở thành lý bí Bát Nhã.

Bậc tu không chuyên hoá giải vạn pháp mới có tối sáng không chừng nên lầm nhận Như Lai kín nhiệm, Như Lai đóng mở. Thật ra nghe thấy biết vốn Như vậy, Bậc tu thọ giới bảo thủ thành Không Như. Do đó mới biết Như Lai không kín nhiệm, Như Lai không đóng mở.

“Phật Pháp. Chính Phật thời không Pháp, mà chưa thọ Pháp thời không có Phật. Cũng như: Giác không còn mê, lúc đang mê phải tu cầu Giác.” –T.V.

Chính Phật thời không Pháp. Vì sao? Vì Chư Phật đã thành tựu Phật tánh, đâu đâu cũng đều hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, mỗi sát na là Vi Trần Phật, Sát Na Phật, dưới mắt Phật chỉ có Nhất Tướng đâu còn hai tướng nên Phật thời không Pháp.

Bậc đang còn tu phải nương vạn pháp, tỏ pháp, thấu đạt pháp đến tận thành pháp. Khi đã giác ngộ rốt ráo, nghe thấy biết không còn mê. Ngoài ra những Bậc tu còn đang mê lầm phải tìm chân tánh để tu, phải nhất tâm tự tánh tỏ tánh. Khi còn thấy nghi nghi chấp chấp, còn mơ màng chưa sạch sẽ Hoa Pháp Tánh là còn mê. Chúng sanh lầm mê nơi vạn pháp không thể kể hết được, Chư Phật rất khéo lưu lại Tam Tạng Kinh để giải mê, phá nghi chấp cốt nâng đỡ chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát Rốt Ráo như Phật. Vì vậy Phật không bao giờ có Pháp nào của Phật cả, chỉ giải mê lầm cho chúng sanh mà Phật hoá pháp đem đến bất sanh bất diệt cho chúng sanh, Thánh Hiền, Bồ Tát thôi.

“Bậc thấu đạt Như Lai Tạng thật biết, biết tỏ rõ, biết tỷ mỷ Như Lai Tạng thường còn, thường sẵn có cùng khắp không thiếu sót Như Lai Phật cho đến tất cả chúng sanh, rất bình đẳng dung thông. Do tại Đức Độ, do tại trọng lượng bản năng, rộng hẹp, dài ngắn, vuông tròn từng khía cạnh mà nhận lãnh. Khi đã nhận lãnh mỗi một hạt vi trần Phật nào thì thừa hưởng mỗi vi trần Phật ấy. Bằng nhận một khối hay một thặng hoặc giả một cân cho đến bá thiên vạn cân khối liền tự mình thừa hưởng chớ chẳng ai ban cho mình, phải tự chính mình mà đặng thành đạt tận thấu tận hưởng Như Lai Tạng chăng?” –T.V.

Bậc thấu đạt Như Lai Tạng thật biết tỏ rỏ, biết tỷ mỷ vạn pháp hồi Chân Tâm, không còn khởi sanh diệt, cấu tịnh, tăng giảm. Đó chính Như Lai đồng hiệp Tạng gọi là Như Lai Tạng đặng quân minh trực giác liền biết Như Lai Tạng vốn thường còn khắp nơi chốn. Từ Như Lai Phật cho đến chúng sanh đều bình đẳng từng lớp lớp.

Do tại chúng sanh tự phân biệt chạy theo biệt phân trở thành pháp giới. Pháp giới thì thiên hình vạn trạng như rộng hẹp, dài ngắn, vuông tròn. Mỗi giới đều vẹn vừa với nó mà nhận lãnh. Tự mình tạo mình phải lãnh chớ chẳng ai ban cho.

Mỗi pháp giới khi đã tu tỏ thấu đến Chánh giác thì nó là mỗi vi trần Phật. Một vị thành Phật có hằng hà sa số vi trần Phật, mỗi vi trần Phật có tính chất, phẩm lượng nơi nó, nên Bồ Tát thành quả A La Hán không sao hiểu thấu. Còn thành Phật như đức Vô Thượng Tôn Di Lạc cũng không có ai hiểu đầy đủ thể hiện của Ngài. Trừ trường hợp đến mức thi hành Đại Bồ Tát, Ngài mới Mật Ấn để thọ lãnh Như Lai Tạng mà hành tiếp cho đến Nhất Sanh Bổ Xứ thành Phật.

Thật không có chư Phật A Tăng Kỳ kiếp cũng chưa tìm đường đi tới suốt suốt được. Nói trên thực tế còn lý luận ai muốn nói gì cũng được. Phật duy nhất Phật thừa chớ chẳng có Tam Thừa. Do như vậy nên Chư Bồ Tát tin vâng kính đều là Duy nhất Phật Thừa còn chúng sanh căn cơ không đồng mới có Tam Thừa. Chư Phật nương theo để chỉ đạo khai thị.

“Bậc thấu đạt tận thấu rất cảm mến chúng sanh, rất thương mến chúng sanh chẳng khác thương mến, cảm mến thân mạng mình, không có bờ ngăn cách Phật và chúng sanh chỉ nhìn nhận mình tỏ rõ tỷ mỷ mà chúng sanh chưa thấu đạt thôi, chỉ nhìn nhận nơi mình vô biên Bảo Châu, vô số Kim Châu, vô lượng Bích Châu, vô xứ Thanh Châu, vô kể Hoàng Châu, nên chi gần gũi tất cả chúng sanh làm thầy trò, giả làm anh em hoặc vợ chồng, cha mẹ để đem bảo vật ban cho rất nhiều tư cách, rất nhiều vai tuồng tùy theo hình thức, phương diện, miễn chúng sanh chớm nở hoặc khởi điểm liền có năm thứ châu trao tặng, thế mà vẫn bị rơi bị rớt vì chưa biết sử dụng chớ chưa hề mất hẳn các thứ ban cho." –T.V.

Chư Bồ Tát Trực giác được vô minh sâu mới biết tường tận ý nghĩa bảo châu... trước tiên cũng từ chúng sanh tu tập đầy công năng công đức không còn bờ ngăn cách mà tận thấu các giống hạt châu, tận tường chúng sanh tánh. Từ đó rất thương mến chúng sanh, rất cảm mến chúng sanh như thương mến, cảm mến thân mạng mình.

Bồ Tát biết nhìn nơi mình lúc chưa Trực Giác còn là chúng sanh có vô biên nghi chấp, vô số sợ sệt, vô lượng nôn nóng, vô xứ mong muốn, vô kể ngẩn ngơ. Sau Bồ Tát nhất tâm Bi Chí Dũng, Giới Định Huệ, Lục Ba La Mật Đa không nhàm chán lướt qua vạn pháp nghịch, chẳng còn tập khí viễn vông. Không còn nghi ngờ hai Pháp thân cảnh, có không, đâu đâu cũng viên dung. Bồ Tát liền thấy biết lạ thay! Qua năm chủng tánh chúng sanh trên liền thấu đạt vô biên Bảo Châu, vô số Kim Châu, vô lượng Bích Châu, vô xứ Thanh Châu, vô kể Hoàng Châu. Tâm không động vọng, ý chẳng thối chuyển, nhập lưu 42 ngày qua bờ bên kia thấu đạt các diễn cảnh chính tâm Chân Như. Chỉ kém Phật 49 ngày đêm tận thành qua bờ bên kia, chỉ Bậc sở đắc mức tu chứng Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát mới cảm thông mà thôi. Ngoài ra nó vượt tầm nói năng, vượt tầm lý luận, vượt tầm hiểu biết.

Bồ Tát thật biết sống trong thế gian phải có cha mẹ, vợ chồng con cái, anh em, dòng họ. Bồ Tát giả mê hoá thân vẹn vừa cốt ban cho rất nhiều phương tiện khiến cho có bậc Trực Giác được con đuờng Nhất Thừa: Không khen cũng chẳng chê, không phải cũng chẳng quấy, không thiện cũng chẳng ác, không đạo đức cũng chẳng bỏ đạo đức, không hòa cũng chẳng đạp đổ ai, không gần cũng chẳng xa. Tất cả cũng không ngoài năm thứ châu qúi báu trên. Còn số đông không nhận lãnh được nhưng cũng không mất, nó chứa trong các hộc nơi Như Lai Tạng chờ đủ căn cơ nó hiện, chỉ lâu hay mau do nhất tâm mà thôi.

“Các ông nên nhớ kỹ, nhận định kỹ càng: Bậc Chánh Giác từ nơi Bảo Tạng Phật minh thuyết, Bảo Tạng này chung gồm năm châu báu nói trên, mang ra minh thuyết có đầy đủ Chư Bồ Tát phụng hành cho đến Chư Thiên kính bái chiêm ngưỡng Tạng Pháp, nên mới xưng tán Bảo Pháp Ngũ Châu lời vàng Phật thuyết.” –T.V.

Bậc tu nên quan tâm đọc kỹ, nhớ kỹ, nhận định kỹ lời của Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đây chính từ nơi Bảo Tạng Phật minh thuyết Chư Bồ Tát thi hành Nhất Tôn Hạnh. Còn Chư Thiên nhẹ cảm nên kính bái chiêm ngưỡng một thời nào Trực Giác bước vào Bồ Tát Hạnh, Bồ Tát Nguyện chừng đó mới biết Ngũ Châu chính lời vàng qúi báu biết chừng nào. Vật chất được đầy đủ, giàu sang, nhà cao sang cũng không ngừng sự tham muốn, không giải khổ đau do sanh, lão, bệnh, tử vì nó còn sắc vọng. Chư Phật thật biết bổn lai nguồn gốc chúng sanh không đảo vọng, tất cả đều có sẵn Viên Tịch Chách Giác, do Cái Muốn rồi nghĩ mà hành theo ý muốn trở thành tư riêng thành có sanh ra vạn pháp gọi là nghiệp đã là nghiệp liền bị nhiễm độc mà mê lầm chấp nhận mới có sanh tử luân hồi.

“Còn đối với chúng sanh nương nơi pháp tu học thọ pháp lần nơi pháp hóa giải hồi Tôn, về với Chân Tôn sở đắc Phật Pháp sở chứng Như Lai Tạng, tự tánh tỏ tánh, phi đạo suốt đạo, dung thông thấu đạt Như Lai Tạng, con đường này gọi là: PHÁP TẠNG.
Một chiều nhưng hai lối. Chư Phật thời cứu giúp chúng sanh dụng Bảo Pháp Ngũ Châu vị trí Tạng Pháp. Còn về phương diện chúng sanh nhận lãnh Bảo Pháp, phải nương tỏ pháp trở về Chân Tôn Bảo Tạng Phật Thừa Tri Kiến Giải Thoát.” –
T.V.

Bậc tu nơi vạn pháp hoá giải đến thấu đạt mới nhận diện được Như Lai Tạng gọi là Pháp Tạng, gọi là về với Chân Tôn.

Tu vạn pháp là một chiều khi tỏ rõ Như Lai Pháp nhập Tạng là hai lối, nhớ biết qúi Ngũ Châu nên trí tuệ tăng trưởng sáng soi nghiệp thức cùng vọng khởi, không còn chọn thanh bỏ thô, không còn chọn lành bỏ hung dữ, không còn chán chê sự thế vô thường sống chết đảo điên, không còn tu nặng nhẹ, được mất, có không mà dung thông Như Lai Pháp tỏ pháp, thấu đạt pháp hồi Chân Tôn Phật Thừa còn gọi là Nhất Thừa đó là con đường đi đến hoàn toàn Tri Kiến Giải Thoát.

Còn đối với chúng sanh thì năm thứ độc hại: Nghi chấp, sợ sệt, nôn nóng, mong muốn, ngẩn ngơ làm cho không thấy, không nghe, không biết đặng châu báu của Ngũ Châu nên phải được khai thông cho nhập Như Lai Tạng hồi Chân Tôn.

“Nơi thọ sanh ly diệt nầy, dù cho Bậc Thiền Trí cho đến siêu phàm, cho đến tỏ pháp chưa về với Chân Tôn vẫn nằm nơi pháp giới mơ màng không lối thoát. Sự đòi hỏi toại nguyện đáp số theo nhu cầu con đường tu hành giải thoát tử sanh nơi Bậc tín tâm tín đạo chưa hẳn là ít, cho đến nỗi phải hỏi Bậc Thiền Sư trong hàng Bồ Tát rằng: Làm thế nào, tu như thế nào giải quyết tử sanh? Thiền sư đáp: Làm theo sanh tử, tu theo sanh tử mà giải quyết tử sanh.” –T.V.

Thiền trí là do chủng nghiệp của chúng sanh mà có. Chúng sanh chia từng giới bị lầm mới có chướng đối nhau và cảm mến nhau thành nghiệp. Bậc có Thiền trí biết do nghiệp dẫn đi sanh tử luân hồi, chớ thể tánh vốn sẵn từ vô thủy vô chung an nhiên viên tịch sẵn có nơi chúng sanh. Bậc có Thiền trí, cho đến bậc siêu phàm làm Thánh mà chưa đến mức hoàn toàn Tri kiến Giải Thoát vẫn còn mơ màng chân lý. Vì sao?

Vì chưa ra khỏi vòng đai pháp giới của vũ trụ, vì còn về cõi Trời, cõi Tiên… còn giới thuộc qui chế chúng sanh giới. Bậc siêu phàm có thể chỉ đường cho chúng sanh tu hành về cõi Trời, cõi Tiên nhưng chủ yếu của Chư Phật đưa chúng sanh thoát khỏi vũ trụ, đứng ngoài vũ trụ, làm chủ vũ trụ, điều động vũ trụ mới Tri Kiến Giải Thoát con đường sanh tử.

Vậy làm thế nào, tu như thế nào giải quyết tử sanh? Chung cùng với chúng sanh, nương theo vạn pháp nơi chúng sanh hoá giải nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu, nghiệp kiết sử gọi là tu theo sanh tử để hết tử sanh.

Nếu Bậc Thiền Trí không theo thể tánh Thiền như trên mà huân tập định tưởng đều là ngoại giáo còn sanh diệt. Chư Bồ Tát khi Chánh Giác cũng có lúc dụng định tưởng, không bỏ cũng chẳng lấy vì đã thoát sinh khỏi pháp giới. Đó là đặc điểm của Nhất Thừa.

“Tu trên con đường giải thoát cực kỳ tế nhị từng phân lượng nơi Bậc chứng tri và thực chứng khác nhau, cứ mỗi nơi sở đắc có bá vạn đường tẻ khác nhau, chẳng khác nào : Bậc đắc pháp Thường Chân liền theo nơi đó tự nhận đồng đẳng thường chân là chân thật, chính ra nó vốn chân thật thường còn bất biến ở trong khía cạnh nào thôi, chớ chưa hẳn là rốt ráo Chân Tôn tận thấu.” –T.V.

Bậc chứng tri là Bậc tỏ đạo do từ lý trí để biết, Bậc thực chứng được các pháp Bình Đẳng, Phật tánh bình đẳng do không đảo vọng mà Bình Đẳng Tánh Trí. Đặng Bình Đẳng Tánh Trí thời mới đặng tỏ thông các pháp không lầm lạc sanh tử. Nếu theo lý trí là còn cái muốn để chứng đạo thì ý muốn là Bất Bình Đẳng đã Bất Bình Đẳng thời vọng loạn vậy. Cứ mỗi nơi sở đắc có bá vạn đường tẻ khác nhau. Vì sao?

– Vì Bậc xuôi dòng cứ cho sở đắc của mình là nhất, không tiếp tục chịu lìa Ngã, Ngã Sở để gặp Bậc Minh Đạo Thiền Sư từ hàng Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát đến chư Phật. Nếu gặp qua một vài câu đơn sơ cũng lợi ích vô kể, mới biết mình đang đứng ở mức nào của sở đắc, đang đi ở đuờng nào.

Vì vậy lắm Bậc chứng tri vô tình đi ngược lại con đường Tri Kiến. Mỗi Bậc tu có một trực giác rộng hẹp nên không bao giờ sở đắc đồng đẳng thường chân là thật được. Do tại pháp tánh nó bình đẳng viên dung vẹn vừa vô kể, nó có thể đưa Bậc sở đắc chưa rốt ráo lầm theo cái còn khởi muốn xưng Bồ Tát, xưng Phật không biết thấy hết tập khí sanh tử đến vô lượng, vô biên kiếp. Pháp tánh cung đốn Bậc muốn tuyệt mỹ khả thượng, khả hạ, nó là Bậc thầy của Bậc chứng tri còn ước vọng, mong cầu xa xôi mà chìm trong sanh tử chịu làm chúng sanh nơi các cõi mà không hề hay biết. Pháp tánh nương chiều tất cả Bậc tu còn cái muốn. Nó không phân biệt là ai, nó chỉ chiều cái muốn thật vẹn vừa nên không có Bậc chỉ đạo dễ lầm.

“Bậc trụ xứ thường chân, đương nhiên chưa đào sâu vạn pháp, biếng sanh lười trễ Phật pháp hoang mang. Một là nhiếp thâu thường chân về Tịnh Độ. Hai là nhiếp tâm tu luyện, ba là mơ màng Vô Minh pháp nhẫn không thể nào thoát sanh. Những Bậc đắc pháp thường chân tu đến chân thường rất hiếm. Vì sao? Vì thường chân là một bước đầu thân tâm bình đẳng phải tu trì đạt đến tận cùng bản thể tâm. Bản thể chân tâm chính là về với chân tôn cao qúy." –T.V.

Những Bậc đắc pháp thường chân tu đạt nơi Nghe Thấy Biết vào biển Như Lai pháp, từ đó đến chân thường tức tu thấu đạt Như Lai tạng.

Tu nơi Như Lai pháp không còn nặng nhẹ, không còn cấu tịnh, không còn tăng giảm, vạn pháp được viên dung từng lớp lớp. Tỏ rõ bổn lai từng pháp không còn lầm. Pháp hồi tâm, sở đắc Bản Thể Chân Tâm. Càng kiểm soát tỷ mỷ, từng chi tiết vạn pháp càng thấu đạt rốt ráo không còn cạn cợt. Những Bậc đắc Như Lai pháp tu đến chân thường rốt ráo rất hiếm.

Tỷ như tu giải Khổ đắc pháp độ Khổ, tỏ rõ Khổ, cần hoá giải pháp Khổ gọi là tận thấu tận diệt Khổ, phải tập thi hành độ Khổ, xem xét kỹ từng ly từng tý không còn kẽ hở, Khổ không chui vào tâm đứng mới sạch Khổ. Phải tu như vậy là rốt ráo về với Chân Tôn tận thấu. Đường đi chi ly kín là của Nhất Thừa mới bước vào biển cả Tam Muội được. Đắc bản thể chân tâm phải là Bậc thấu đạt đầy đủ pháp giới lớp lớp bình đẳng gọi là về với Chân Tôn. Không nên suy luận Nó cũng có. Nó cũng không. Muốn có liền có. Muốn không liền không. Nó không hai. Nó không có chỗ chỉ đều chưa đạt bình đẳng mơ màng phân hai không quyết định Duy Nhất.

Vì không quyết định được Bản Thể Chân Tâm nên chán ngán đứng yên về với tịnh biệt, gọi là Tịnh Độ. Thật ra Tịnh Độ thật sống động, thật tỏ tuờng bản thể Chân Tâm. Có Bậc không đứng yên tịnh để độ thì bước vào đường tu luyện thần thông tài phép cũng không về với Bản Thể Chân Tâm. Có Bậc chưa đủ pháp nhẫn chưa sở đắc vô sanh rốt ráo cũng không tỏ tường Bản Thể Chân Tâm.

“Các ông nên biết: Về với Chân Tôn là một cơ bản hoàn toàn giải thoát. Vì sao? Vì nhìn sâu thấy rộng tâm chí mở mang không vướng mắc. Thời Đức Thế Tôn còn tại thế, ông A Nan là em của Chí Tôn đang tu trì tỏ tánh, đang lướt qua pháp giới từng cơn, chưa về Chân Tôn, thành thử mới nghĩ: Đức Thế Tôn Ngài đang đi, đứng, nằm, ngồi. Cảnh giới ô trược, uế truợc trong cõi Ta Bà, rất cam lao, rất cực nhọc, có núi sông nơi cao chỗ thấp.

Khi bấy giờ Chí Tôn Ngài rất tường tận, Ngài từ Bửu Tọa bước xuống nói với A Nan rằng: Nầy A Nan theo sự suy đoán của ông sai biệt với Chân Tôn Vô Thượng Đẳng, sai tất cả những điều ông nghĩ sai, sai tất cả mục tiêu nhìn nhận nơi ông đều sai, không mảy may đúng với Chân Tôn. Đức Thế Tôn Ngài dụng thần lực Ngũ Châu khai hoang, A Nan trực thị, liền trạch vai đi bảy lần thưa thỉnh: Bạch Thế Tôn con nào ngờ công đức vô lượng Bình Đẳng Chân Tôn mà quốc độ Chí Tôn trang nghiêm đất liền chưa có nơi nào chỗ nào cao thấp cả. Chưa có chốn nào nơi nào ô trược, uế trược phiền não trược là năm thứ con vừa suy nghĩ. Lạ thay Kính bái. Chí Tôn im lặng chứng minh.” –T.V.

Thời Đức Thế Tôn, Chư Vị Tôn Giả, Thánh Hiền còn lầm tưởng rằng Thế Tôn đang sống nơi thế giới Ta Bà đầy ô trược, rất cực nhọc, rất cam go như núi sông nơi cao chỗ thấp Đức Thế Tôn Ngài rất tường tận sự lầm lẫn này của Tứ chúng, nên Ngài mới dùng Phật lực cho Thị Giả A Nan trực thị Quốc Độ của Thế Tôn là Chân Tôn Vô Thượng Đẳng đầy đủ trang nghiêm, tâm bằng phẳng mịn như nhung không hề có chút nào ô trược, phiền não trược, tứ thời luôn an lạc.

Thời Hạ Lai Mạt Pháp cũng diễn tuồng lầm lẫn như trên của Tứ chúng. Đức Vô Thượng Chân Tôn Di Lạc, Ngài cố nhắc nhở quốc độ của Chư Phật đầy trang nghiêm không hề có chỗ cao chỗ thấp, lại mịn như nhung, lại đầy đủ bảy báu, không có nóng lạnh bất chừng, tâm Ngài lúc nào cũng điều hoà. Tại Tứ chúng chưa đúng mức trình độ nhận lãnh nên mới có lầm.

“Đến một thời gian sau. A Nan thọ lãnh lời khai thị, về với Chân Tôn thị chứng, liền đảnh lễ thưa thỉnh như sau: Bạch Thế Tôn, sự lầm lạc nơi con vô cùng vô tận, do chốn diệt sanh lại qua nhiều kiếp. Mỗi một kiếp con ngỡ là cha mẹ nuôi con từng mâm cơm manh áo, từng chỗ tắm nơi nằm, cho đến vô số kiếp thảy đều như thế. Đến nay con mới rõ, chỗ thị danh lầm lạc ngỡ thật cha con. Nào ngờ chính con không thể ngỡ đặng. Ngài chính là cha mẹ của con. Ngài là Bậc đã nuôi con từ thân thể tứ đại hợp giả trở thành Kim Thân mã não.

Thân mạng nơi con phàm phu tục tử, Ngài dưỡng cho con đặng chư Phật hiện toàn thân, lý trí nhỏ nhen vị kỷ, con nhìn không ngoài pháp giới bị sanh eo hẹp, nay đặng rộng rãi bao la chung khắp. Ngài cho con thực dụng Bảo Châu, đầy đủ Ngũ Châu làm món ăn hương vị, cùng với cơm Hương Tích Ngài nhận của Chư Phật mười phương, cốt nuôi con bất diệt. A Nan thưa thỉnh xong chiêm ngưỡng lễ bái.” –T.V.

Ngài nhắc nhở Tứ Chúng chính Chư Phật mới làm cho thân phàm trở thành Kim Thân, lại nữa tâm vọ vậy chúng sanh, Ngài nuôi dưỡng Phật hiện toàn thân, không có gì sánh bằng thực dụng Bảo Châu của Ngài đã thị hiện Hạ Lai ban cho./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


50. Tam Muội

Tam Muội gồm có bốn Bậc cao thấp, sâu cạn khác nhau:

 • Bậc Thinh Văn.
 • Bậc Duyên Giác.
 • Bậc A La Hán.
 • Bậc Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát.

• Tam Muội của Bậc
Thinh Văn: 
 ◊ Linh cảm được việc sắp xảy tới. Tỷ như: muốn đến nhà bạn thăm chơi, tự nhiên có pháp trục trặc. Kết qủa đến là không có bạn ở nhà. Tỷ như: đang đi tự nhiên buồn ngủ. Tốt nhất là đừng đi. Đi là có chuyện không may.

• Tam Muội của Bậc Duyên Giác:

 ◊ Cảm nhận được vạn pháp. Biết được vạn pháp. Hóa giải, vận chuyển được vạn pháp. Tỷ như: đi đến một nơi chốn đã được định sẵn, nhưng khi sắp đi hoặc đang đi có sự việc cản trở không đi đến nơi được. Đó là cảm nhận được sự việc đang trục trặc. Biết được liền dùng đủ phương tiện hóa giải vượt qua không còn chướng ngại ngăn chận. Bậc như vậy đã biết dụng vạn pháp gọi là vận chuyển vạn pháp được thông.
 ◊ Cảm nhận được là giải được cái mê thứ nhất.
 ◊ Biết được là tỏ cái mê thứ hai.
 ◊ Dụng pháp cho thông là tỏ cái mê thứ ba.
  *Giải được ba cái mê nơi pháp là Tam Muội của bậc Duyên Giác.

• Tam muội của Bậc
A La Hán:
 ◊ Thực tướng.
 ◊ Vô Tướng.
 ◊ Vận chuyển vạn pháp.

 √ Khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở giữa hội trường đưa cành hoa lên. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Ngài liền biết Tôn giả Ca Diếp sở đắc Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội pháp môn. Vì sao Tôn giả cười? Vì Tôn giả trực giác được:
◊ Thực tướng: Loại hoa gì.
 ◊ Vô Tướng: Loại hoa gì có pháp tánh đó, dùng làm gì, mùi vị...
 ◊ Vận chuyển: Dùng đúng. Tỷ như: loài hoa gì dâng cúng Phật, loài hoa gì cúng ông Táo...
 *Tỏ ba cái mê của mỗi pháp giới là thông suốt pháp giới. Mỗi pháp cần quan sát biết tường tận đến Diệu quan sát thấu đạt mỗi pháp có ba cái mê. Tam Muội tác dụng giải mê cho bậc tu rất hữu hiệu từ đó thi hành hóa giải hàng vạn, triệu tam muội mới thực chứng đến sở đắc chân lý không còn mắc miếu nơi pháp giới.

• Tam Muội của Bậc Bồ Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát:

 ◊ Biết rõ thông vạn pháp.
 ◊ Điều động thông suốt vạn pháp.
 ◊ Thấu đạt vạn pháp.
  *Hàng Bồ Tát biết rõ Bổn Lai Diện Mục của Pháp giới là trọng điểm rất cần thiết. Có vậy mới biết căn bệnh của chúng sinh mà tùy phương tiện hóa giải, vận chuyển sao cho đồng hợp đồng hóa đặng gần gũi thân cận tận độ chúng sanh.

Đến lúc tỏ thông vạn pháp, hành dụng được viên dung biết phân chia định hướng cùng bất định hướng vạn pháp được quân minh mới thấu đạt vạn pháp. Chỉ có Chư Phật mới tận thành. Bồ tát không tự mãn hành nguyện, hạnh nguyện cho đến một kiếp nào vào y đường Chư Phật mười phương mới vào Niết bàn.

Nhiều bậc thích tu mà không chịu tu sửa, thân lười trễ không chịu hành theo Bồ Tát hạnh nên không giác ngộ. Thân và tâm của Bồ Tát tiến đến chỉ còn một, chúng sanh thân tâm là hai. Tâm pháp tái hợp là một mới giác ngộ. Đã là một mới xuất nhập Chánh Định Tam Muội được.

Bậc tự tu theo quan niệm suốt kiếp này đến kiếp khác vẫn còn nằm trong Phật Pháp, Pháp Phật thêm lý chướng không sao đi đúng đường giải thoát được. Thời hạ lai Ngài đã chứng kiến nhiều bậc dùng định tưởng để xuất định thuộc ngoại giáo. Không thiền định không có trực giác chẳng bao giờ phát huy trí tuệ. Do những điểm trên mà bậc tu nhiều kiếp vẫn không kết qủa.

“Ngài ngồi tĩnh tọa trên tảng đá, như nhiên tịch tịnh, thả theo gió thoảng lần lần trong khi xuất định. Phong cảnh ở khu rừng Trảng, có những mõm đá lô nhô, bắt đầu in tuồng theo cơn Chánh Định của Thiền Sư...” –T.V.

Đoạn kinh ghi lại Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc xuất chánh định đến cõi Trời gặp Chư vị Thập Bát La hán đang hội thảo chân lý.

“Thiền sư đến ngôi chùa cổ, mái chùa cong cong hai cánh, vừa rộng vừa thấp, tựa như chim Phụng Hoàng trải cánh che chở khách thập phương. Ngài bước vào bên trong chùa có mười tám vị chia ra ba nhóm đang hội thảo về chân lý đường tu. Ngài dùng Nhĩ Viễn Thông, Nhãn Tạng Tam Muội Định, thấy rõ tai nghe không thiếu sót, Thập bát la hán không hề hay biết trong hội thảo có vị Đại Đại la hán dự...

Khi bấy giờ mười phương Chư Phật đồng nói lên câu chúc tụng Phật Vương (Di Lạc), xong đâu đó nói với Chư vị Bồ tát. Này các ông hãy đi đến Khánh Trang Tỉnh, Long Phụng Sơn, Long Bửu Pháp, có vị phật pháp hiệu Phật Vương (Di Lạc), thị hiện thời Hạ Lai. Vị này có nhiệm vụ chỉnh trang Phật Pháp, chứng thị Hạ Lai, tuyên thời Tứ Hạnh làm cho tất cả đang sống vật vờ, đang tu lầm lạc trở thành Chánh Pháp Tịnh Vương, Nhất Tôn Tứ hạnh, cốt đem đến điềm lành đưa về Chánh Giác. Các ông đến kính bái chiêm ngưỡng, thọ trì Tứ Hạnh, Ngài đã bổ ban Chư Bồ tát đồng đảnh lễ, phóng quang, nương nơi huỳnh quang, đồng đến lễ bái.

Tất cả các hàng Chư Thiên, Tiên rồng, Thánh hóa nhìn về Đông Nam, hương đàm trùm tỏa, nghe tiếng trên hư không phổ truyền, tất cả đều mang các phẩm cúng dường đồng đến bái lễ.

Khi bấy giờ tòa Long Bửu, các cánh hoa to bằng qủa Hồng đào, tựa như quả mâm xôi. Phật Vương thị hiện, mặc y áo Bạch Nhung, đầu đội Mão Bảo Trì màu trắng hồng nhạt, trên mão có chín búp hoa, mỗi búp hoa tỏa ra mỗi hào quang tia sáng gồm có Huỳnh quang, Huỳnh Huỳnh quang, Thanh quang có sắc Thanh Thanh quang, Hồng quang có sắc Hồng hồng quang, Hắc quang có sắc Hắc Hắc quang. Còn riêng Nhất bạch quang không có sắc Bạch quang. Ngài thị hiện đủ 32 tướng tốt bước lên hoa, hào quang tia màu vàng. Chư Bồ Tát, Chư Thiên Tiên cùng Chư Long Thần cho đến A La hán cùng Thinh Văn, Duyên Giác, nhìn không nháy mắt, đồng thanh xưng tán, chưa bao giờ nhìn thấy nay nhìn thấy.

Bỗng trên hư không xưng tán, do công đức vô lượng Phật mà thị hiện Vô Thượng Tôn, Vô Thượng Sắc, Vô Lượng Hương đầy đủ không thiếu sót. Ngài lên tòa Sư Tử an tọa. Tất cả các hàng chiêm ngưỡng lễ bái, xong đâu đấy theo thứ lớp, theo thứ vị đồng nhau tĩnh tọa. Khi bấy giờ Đức Phật Vương (Di Lạc) nhẫn 12 triệu phút. Mặt Ngài an nhiên bình dị hòa đồng với tất cả, làm cho các hàng thứ lớp thảy đều hoan hỷ, phấn khởi ái kính không còn mảy may hư vọng hoài vọng tập khởi. Ngài liền nói: Ta khá khen cho thời Hạ Lai Mạt Pháp nầy mà Thập Bát La Hán hội thảo. Chư vị Bồ Tát đang hiện hành, hàng hàng lớp lớp tu trì không nhàm chán, giữ gìn bảo pháp trường tồn.

Đối với các vị căn cơ chưa đầy đủ, trí tuệ chẳng viên thông nên chi trí hóa sanh ra vạn pháp an lành, đặng phước báo nhân thiên, đặng tu chứng từng phẩm hạnh. Bằng trí tuệ tối tăm trí hóa tự sanh các nghiệp. Sống trong cơn thăng trầm đủ lối. Tu nơi vạn ý uyên thâm vòng quanh khó thoát sanh tu đạt Chánh Giác.

Lý sự tín tâm, Nhất Tâm đảnh lễ Chư Phật thì có, nhưng đường lối chưa tận thâm làm sao đắc quả?

Ta vì các ông thị hiện đầy đủ, Cư Nhân Tướng, đầy đủ hoàn cảnh thâm vào sắc, Thinh, Hương, Vị mà bảo các ông đừng xúc pháp. Từ hàng Thiện nam tử đến hàng Thiện nữ nhơn, tu cầu ứng hiện, tu lấy thọ lãnh Nhân Thiên rất hiếm Bậc đang tu nơi Trực Hiện.

Ngài nói đến đây có vị Bồ Tát bước ra đi vòng bảy lễ chiêm ngưỡng lễ bái thưa gởi? –Bạch Đức Thế Tôn, con đã tu sạch hết chúng sanh, truy tầm lấy mỗi một chúng sanh đều không có, con kính nhờ Chí Tôn thương con khai thị cho con, làm như thế nào, tu bằng cách nào đặng tận giác quả Bồ Đề nguyện.

Hay thay! Khéo thay! Này Bồ Tát Bửu Tịnh, Ông tu sạch lý chúng sanh, chớ chưa tu đạt Bổn Lai của mỗi chúng sanh giới. Mỗi chúng sanh giới, bá thiên vạn chúng sanh hợp hóa trở thành pháp giới. Mỗi một pháp giới có hằng hà số số chúng sanh. Ông tận giác chúng sanh Bổn Lai Diện Mục. Ông tận thấu pháp giới diễn hành khi bấy giờ ông thị chứng mới tận thành tận giác.

Bồ tát Bửu Tịnh toàn thân thảy đều nở ra hoa Bửu Pháp, nhẹ nhàn tươi tỉnh, vui mừng xưng tán. Chưa bao giờ đặng nghe hôm nay mới đặng. Chí Tôn Vô Thượng Thị. Xong đâu đấy đảnh lễ ngồi lại một bên chiêm ngưỡng” –T.V.

Việc hóa độ chúng sanh đối với Đức Phật Vương Di Lạc thật không thể nghĩ bàn. Khi Ngài Hạ Lai thành Phật, được Chư Phật mười phương tán thán, được Chư Bồ tát, Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Long Thần cùng Tứ Bộ Thần chiêm ngưỡng cung nghinh. Mỗi lần Ngài xuất định tận độ là mỗi lần rung chuyển tam thiên. Trong khi rất nhiều vị xưng Phật lại nhờ định tưởng biết có Long hoa nhưng không gặp Ngài được. Nếu tu Trực Hiện mới đủ công năng công đức hàng Thánh, liền được vào Long Hoa chớ đâu phải chờ đợi nữa.

Đạo Phật luôn lấy tình thương cao đẹp vì vậy bậc chân tu tự xét lỗi lầm để không lầm lỗi. Tư tưởng cao độ chừng nào thì thần thông hóa chừng ấy. Những ai chưa nghe được, chưa hiểu được thì Như Lai tạng vẫn chứa cái nghe này, cái biết này vào các hộc, một ngày nào gặp Bồ tát thấu đạt chỉ khai một câu đúng của quá khứ mình đã nghe liền cái thể huyền bí tự nhiên nó trả lại cho mình. Mỗi người tu hành đúng tự tánh là mỗi ngày có tiến bộ là đường đi trong vũ trụ gần Chư Phật.

Con người có học thần thông hóa thông minh nhưng không tu vẫn còn mê mờ con đường sanh tử. Người không chấp không chướng thân người nhẹ nhàng dễ tiếp thu thần thông ra vô nhiều càng thông minh. Mỗi pháp đều có bổn lai của nó. Tỷ như Pháp của người thợ mộc chỉ biết gỗ và dụng cụ làm ra tất cả những gì thuộc về thợ mộc. Đưa thanh sắt không biết tỏ tường được.

Còn pháp của người thợ sắt làm cửa, đưa thanh gỗ không biết làm sao cho đúng. Mỗi nghề là mỗi pháp có bổn lai của nó, quen nghề gì thì thần thông vào người đó, ăn, ở, ngủ cũng thấy nó chui vào thân đứng. Cho nên bậc không tin không nghĩ thì thần thức nó không vô.

Tăng Ni sợ pháp nên phải ly dục cho thần thức khỏi vào đến khi thâm nhập Như Lai tạng mới biết càng tu cao độ, càng giỏi đường đi dung thông chừng nào càng nhanh biết thần thông chừng đó. Người thế gian thông minh lấy cái thần thức. Bậc Thiền Sư không lấy chẳng bỏ thần thức được nhập Như Lai Tạng nên sở đắc Thần Thông Tam Muội.

Thế gian lấy tai để nghe, lấy mắt để thấy, lấy đầu để biết nên thông minh còn hạn chế. Chỉ chư vị Thiền Sư lấy cái nghe để nghe. Lấy cái thấy để thấy, lấy cái biết để biết nên thông minh càng siêu đẳng thấu đạt thần thông.

Một người nào thành công một nghề là đã sẵn có Tam Muội rồi. Chỉ cần thực hiện một pháp biết được, pháp kia nó hồi lại hết và làm cho mình.

Chỉ có Thiền Sư nhìn nơi cái thần thức của chúng sanh mà biết tất cả. Thiền Sư nhìn một người biết ý nghĩ của người, biết tánh người nên tùy thuận bệnh thọ nhiễm mà khai thị mới giải mê lầm cho họ được. Chứ không phải đăng đàn thuyết pháp một lối mãi mà họ nghe rồi thực hiện được. Phải gần gũi, trang nghiêm khai thị cho từng lớp, từng pháp mỗi ngày dần dần mới tỉnh được. Trên thực tế dạy đạo cho người tu hành giác ngộ không phải dễ, nó rất khó. Bậc chánh giác phải biết tận dụng Đại Phương Tiện mới mong cứu bậc tu theo mình giác ngộ được.

Chúng sanh đa bệnh Bồ Tát phải lập đa hạnh tùy bệnh cứu độ. Cũng như Bác Sĩ giỏi: Khám bệnh cho thuốc bệnh nhân hết bệnh. Còn tụng kinh, nghiên cứu kinh, thuyết pháp bá thiên vạn pháp chúng sanh phải nghe hết nhưng một điều lầm lẫn là không biết phải dùng pháp nào, vào trường hợp nào, ở đâu. Cũng như cho con bệnh vào kho thuốc đụng thứ gì cũng cho là qúy đều lấy uống, tức nhiên bệnh không lành mà càng thêm bệnh.

Thuyết pháp không biết đúng bệnh mê lầm của mỗi chúng sanh cũng y như bắt người ta vào kho thuốc gặp thuốc gì cũng uống, dù cho thiên thu vạn kiếp tín thành cũng không bao giờ giác ngộ được. Thiền Sư phải dụng Tam Muội mới thuyết pháp thông được, người nghe cũng sẽ thông. Còn mê lầm mà thuyết pháp hay, người mê càng mê lầm, lý nhiều sinh chướng.

Bậc sở đắc Tam Muội phải thực hiện hàng bá thiên vạn pháp tam muội, hàng bá thiên vạn pháp thần thông tam muội mới trực giác biết tiền kiếp quá khứ. Tam Muội càng sâu đậm trực giác được nhiều kiếp qúa khứ. Trong Long Hoa có nhiều bậc tu nhớ được một kiếp qúa khứ mà không biết nhiều kiếp trước của mình được vì còn đang thâm nhập pháp giới, chưa tỏ pháp tánh sâu. Bổn lai pháp trước sau không thay đổi. Tỷ như một bậc ở cõi Tiên, cử chỉ tánh tình ra sao, khi hết kiếp lại sinh nơi thế gian bây giờ cũng y như lúc trước chỉ khác nhau khuôn mặt thôi.

Gặp Đức Long Hoa tăng Chủ theo tu đam mê, đức trí mỗi ngày mỗi mở mang được kết quả thực tiễn lắm. Đức Ngài thật tỏ rõ tuổi thọ nơi con người chưa bao lâu thì đến lão, bệnh, tử. Còn thời hiện tại chân lý bất sanh bất diệt ra đời cứu vãn nhân loại không thể nghĩ bàn. Chỉ cần nhận định được, không uổng phí kiếp hiện tại liền được vô lượng, vô biên tận biết mà giác ngộ.

Lời Chư Bồ Tát toàn lời trực giác chân thật, đều là lời thừa hành Chư Phật diễn nói. Còn lời tham vọng dục vọng tự ngã nói đều là lời Ma Ba Tuần giả thuyết. Ngài thị hiện ở thế gian nhưng mỗi lần xuất định đến các cõi đều được Chư Thiên, Tiên, Thần Thánh cung nghinh vui mừng không kể hết để được thọ lãnh Bảo Pháp. Trong lúc Phật tử không hề hay biết Long Hoa đã ra đời. Nay Chư Bồ Tát tiếp nối con đường đưa chúng sinh thoát khỏi sanh tử luân hồi, chúng sanh cũng vẫn còn mơ màng trông đợi kỳ ảo nơi núi Thất Sơn. Số đông thời Hạ Lai này, nhiều bậc tu chưa thấu đáo. Hiển giáo chuyên ròng hiển giáo. Tu Thiền quan niệm Mật Tôn siêu hình vạn tượng. Đốn giáo đụng đâu đốn đó không cần đến đạo hạnh. Tu Tiệm Giáo giữ gìn Tiệm. Nếu bậc tu không chung kết tổng hợp làm thế nào Chánh Giác được!

Đông Phương tìm chân lý tự tu học riêng nên có vị sở đắc được tâm ấn chỉ cần chân phật tử có tâm cầu đạo phải tin về tinh thần tu chứng mới truyền trao chân lý, dần dần hết vô minh được Chánh Giác. Đức Di Lạc Tôn Phật phải diệu dụng đường lối này trong thời Mạt Kiếp. Ngài không thể tập hợp đông đảo tại gia đình khi người cộng sản không chịu cho tạo dựng đạo đức.

Còn Tây Phương lấy hiện vật thực nghiệm công bố cho mọi người thấy biết nhưng bên cạnh cái hay lại có cái hại về sau thường bị hủy diệt. Đông Phương qua nhiều thế hệ đã biết từ lâu thân tâm con người trùm khắp vũ trụ, do tứ đại giả hợp tạo thành Ứng Thân cho vũ trụ nên trong thân, ngoài thân đồng nhất con người giao cảm tiếp nhận thần thông nơi vũ trụ. Tại Tây Phương không khai thác đúng mức nơi thân mạng nên chưa biết.

Phật Đạo không chấp nhận linh hồn, chỉ ghi nhận tư tưởng đại diện linh hồn. Linh hồn trùm khắp hư không vũ trụ mới có giác linh cảm ứng nơi linh hồn. Con người chưa nhận định đặng nơi tư tưởng khởi sanh, phải lần theo khởi sanh, khởi diệt đủ công năng công đức được tỏ thấu tư tưởng bất diệt mới có cảm ứng linh hồn, chừng đó trực giác thần thông. Linh hồn không hai tướng. Linh Hồn Tối Thượng sáng suốt bất biến, quang minh bất tận là Như Lai Phật. Phật Đạo cho là ĐẠI NGÃ cái Ta duy nhất. Cái Ta trong thân mạng con người hay Tứ Loài đều là cái ta tạm bợ gọi là TIỂU NGÃ giả tưởng. Đại Ngã là viên bảo châu. Tiểu Ngã là yến sáng. Dưới mắt bậc Chánh Giác linh hồn là Như Lai vốn sẵn đủ thần thông. Nó không cấu cũng chẳng ly. Nếu cấu nắm bắt gìn giữ hay ly là xa lìa đều sai lạc.

Con người khi thành hình thân mạng đầy đủ như nhiên có Nghe – Thấy – Biết. Chính là từ nơi Đại Ngã Linh hồn thể hiện để đồng ứng thân mạng xuất phát từ Như Lai nên Thần Thông vốn như nhiên từ Như Lai hiện. Trong chúng sanh cũng có đủ nhưng khi Đại Ngã thể hiện đến con người và tứ loài gọi là Ứng Thân còn gọi là Hóa Thân lại muốn nhận đặc điểm riêng liền bị phân chia, Chư Phật tường tận nên Ngài nói: “Tất cả chúng sanh giai hữu Phật Tánh" nghĩa là: Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh, đều có thể tiến đến thông đạt vũ trụ. Tu thực tiễn từng bước một sẽ đến chứ không thể dùng trí hiểu, không thể dùng thức để biết. Bậc tu muốn thanh tịnh một phút cũng không có được nên bị Ma Lực bao vây diễn hóa. Chư Phật khai ngộ, Chư Bồ Tát phải tin vâng kính đầy đủ mới tự phá vòng đai Ma Lực nhốt nhiều đời kiếp.

Đây không phải là việc tầm thường, cũng chẳng phải là việc nhỏ... Nếu bậc Nhất Tâm, Thiết Tha Tâm mà không hạnh nguyện trong vạn pháp thuận nghịch chỉ tránh né diệt pháp thì sự thanh tịnh này muôn đời kiếp cũng không thật thông. Đã không thông sao được Mật Ấn từ Như Lai Phật ban cho.

Nhiều bậc thấy được, biết được trong cái học, trong kinh điển chớ không thực hành tận độ chúng sanh tánh Tịnh Bất tịnh, Hữu Tướng Phi Tướng thì cái biết này cũng như chưa thấy chưa biết. Các pháp thần thông không hiện.

Thần thông vốn ở trong mê
Thông mãi thông đi thông lại về.

–T.V.

Vậy đâu phải tu cầu kỳ, cũng không phải học, cũng không phải cúng lạy cầu xin. Tạp nhập không dừng nghĩ là hình tướng không dừng nghĩ. Cứ hạnh nguyện ban ngày không tạo sanh diệt vạn pháp, ban đêm ít nhất là một giờ công phu Thiền, cần qua nhiều trở lực mỏi mệt, chán nản, buồn ngủ, đến lúc không còn tạp nhập trong lúc Thiền. Sau tứ thời đi, đứng, nằm, ngồi đều được thanh tịnh. Chân như hồn nhiên hiện liền biết thực hành vạn pháp không lấy cũng chẳng bỏ, không nặng cũng chẳng nhẹ, không hiệp không tan là Nhất Tướng là tánh thường trụ.

Thiền cần hàng Bồ Tát hướng đạo mới có đủ Mật Tôn, Mật Tôn giúp giải nghiệp thức, không còn vọng khởi nhưng phải nhẫn vì nghiệp thức tinh vi hơn con người. Nói thì nghe dễ còn thực hành không đúng đường khó đạt kết quả. Dù bậc tu tinh thần thiết tha nhưng chưa có trí tuệ vẫn lầm nơi cuồng tín. Vì thế nên chi Đức Long Hoa Tăng Chủ Di lạc mới lưu lại cho thế gian những gì cần cho bậc thiết tha tâm, thành thật tâm tiếp tục thi hành mà trọn hưởng chân lý, dưới sự chỉ đạo của Chư Bồ Tát bậc tu sẽ an tâm không còn sợ thất chân truyền nữa.

Còn nếu chưa gặp bậc Thiện Trí Thức nên tu Thiện Căn. Tinh thần thiện căn thiện chí cúng dường lập phẩm công đức, tín ngưỡng nơi Tam Bảo tinh thần như thế vẫn đáng qúy. Không nên ham muốn Thiền mà vọng cầu dễ bị Ngủ Ấm Ma gạt khổ muôn chiều. Tự xây dựng thân mạng trước nhất phải lo tu sửa. Không ai có quyền bắt ta chỉ nơi tâm tánh của ta tự nâng ta mà thôi.

Bậc trí dung thông nhờ nghịch pháp
Kẻ khờ chống đối tạo vô minh.
–T.V.

Bậc tu có nhẫn nhục, nhẫn nhịn, nhẫn nại được tỏ thông, biết thực hiện dung thông pháp sau sở đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Có dung thông được vạn pháp mới thấu đạt viên dung, con đường này tu đến Bát Nhã Ba La Mật Đa vượt hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán. Đó là hàng Bồ Tát được các thứ thần thông từ Như Nhiên, Hồn Nhiên hiện.

Đạt được Bồ Tát thần thông cần phải hành thâm pháp giới thuận nghịch chẳng thiếu sót liền đến tận độ chúng sanh tánh. Đó là Tịnh Phật Quốc Độ Thành Tựu Chúng Sanh. Hàng Bồ Tát đã thấu đạt hư không, chỉ Chư Phật mới thông đạt tận thành Hư Không không tận.

Chân không khác hư không. Đối với hàng Bồ tát Hư Không có nghĩa đã hạnh nguyện hành nguyện thấu đạt Như Pháp nhưng không chứa trong tâm. Bồ Tát biết để nó trong Như Lai Tạng từng các hộc, khi có pháp như nhiên biết, hồn nhiên thực hiện vẹn vừa không dư cũng chẳng thiếu. Vận dụng pháp xong nó trở về các hộc trong Như Lai Tạng. Nó là Mật Ấn Bồ tát biết lấy dùng.

Từ thời Đức Thế Tôn cho đến Hạ Lai Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc thị hiện, Ngài chỉ Chư Tổ, Chư Tôn giả trụ chân không trở thành vô tình, cần hóa giải vạn pháp mới mong sở đắc chân lý.

Vào Hư không ta không thấy hư không mà tận thấu hư không là Giác Tướng.
–T.V.

Giác Tướng hành dụng đầy đủ sẽ đạt Giác Tướng Đại. Giác Tướng Đại là tứ thời trong cuộc sống đều biết hiện thân giác không còn lầm lẫn khi dụng pháp thuận nghịch. Đủ công năng công đức từ Giác Tướng Đại liền đến Như Lai Đại.

Tình thâm hành dụng Chơn Như thủ
Tình thức Như lai Mật Ấn trao
–T.V.

Trong thế gian hay trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, bậc nào đàm luận đến Mật Ấn không thể nào vượt ra khỏi hai câu thơ Ấn Chỉ của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc. Có vị Thiền Sư liễu ngộ cũng phải chờ mất 18 kiếp được gặp Bồ Tát thừa kế ấn chứng mới nhập thể!./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


49. Mật Ấn

 

Tuyệt tác thay Đấng Chí Tôn Vô Thượng, Ngài đã thành Phật. Nay Ta lại thọ ký chúng sanh tánh sẽ thành Phật. Tuy nhiên hai lối trong ngoài, chung lại chỉ có một điều duy nhất, phải chăng tiêu biểu hoàn tất Ba Thân?

–Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh

“Lúc bấy giờ, toàn thân nơi Thiền Sư thảy đều mỗi lỗ chân lông có một vị thị hịên, chung quanh Thiền Sư có hàng hà sa số ứng trực thị hiện lễ bái, ứng trực thọ trì tán thán công đức vô lượng Thiền Sư, tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo. Thiền Sư minh thuyết giải bày, nói năng xong từng lớp lớp thọ trì, lớp lớp ái kính. Tất cả thảy đều thưa gởi. Mỗi chủng tộc của mỗi giới sanh mình. Thiền Sư cười vỗ tay, tất cả đều vỗ tay xưng tán. Thiền Sư nói: Lạ thay trên con đường giải thoát. Ngài liền thọ ký cho tất cả chúng sanh tánh sẽ thành Phật.” –T.V.

Tôi nghe như vầy: Đối với Minh Đạo Thiền Sư như Ngài khi thành Phật mỗi lỗ chân lông đều có một hóa Phật. Từ một lời nói, một cử chỉ, một tư tưởng đều hiện mỗi mỗi hóa Phật. Từng sát na hiện hóa Phật. Toàn thân Ngài có hằng hà sa số hóa Phật thị hiện chung quanh Ngài cung kính.

Ngài xuất chánh định đi đến bất cứ nơi nào, Ngài nhập chánh định ra vào Diệu quan sát trùm khắp. Ý Ngài muốn liền có hóa Phật cùng một lúc đi nhiều nơi hóa độ chúng sinh thật không thể nghĩ bàn. Trong lúc đó Chư Tiên, Chư Thiên chỉ đi được một vị trong toàn thân. Vì sao? Vì còn thọ một giới làm chính yếu, nên khi định tưởng thành, chỉ hiện một vị đi một chỗ, sau trở về lại thân mới hiện một vị đi nơi khác được. Chánh giác của Chư Phật nó vĩ đại đến nỗi không một Tiên, Thánh nào biết nổi.

Bởi thế bậc có được Thiên Nhãn, có bậc được Thiên Nhĩ vội xưng Phật thật lầm lạc truyền kiếp. Chúng sanh thấy nói đúng nhờ nhãn hoặc nhĩ của bậc tu này thấy cao siêu chớ nào hay chư vị Bồ Tát, Chư Phật biết họ còn xa hàng triệu triệu do tuần, chẳng thấm vào đâu, chỉ bằng một lỗ chân lông trong toàn thân Đức Thế Tôn, Đức Di Lạc thôi. Chư Tổ vị lai đừng vội xưng Phật nữa nhé.

“Khi bấy giờ Thiền Sư quá tường tận sự xuất nhập nơi Như lai Tạng, phân chia định hướng cùng bất định hướng, dung thông cùng bất dung thông Như lai, ứng hiện nơi pháp thân thị hiện, toàn thân Như Lai Chánh Giác. Từ mỗi một lỗ chân lông của Thiền Sư đến bá thiên vạn triệu hằng hà sa số không còn bờ ngăn nên đồng ứng hiện bá thiên cảnh giới, sa số các cõi thị hiện vẫn từ mỗi lỗ chân lông bước ra được gọi là Ứng Hiện Pháp Thân của Bậc Chánh Giác.” –T.V.

Đối với Minh Đạo Thiền Sư như Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc, xuất nhập chánh định tam muội là chuyện thường làm. Ngài định hướng xuất nhập hoặc không định hướng xuất nhập bất cứ vấn đề gì cũng sẵn tận tường, vì Ngài đã làm chủ Như Lai Tạng.

Dù giải quyết pháp dung thông hay không dung thông cũng không làm suy giảm vô lượng công đức nơi Ngài. Tất cả Pháp Thân Phật cũng hàm chứa Như Lai Tạng mà Ngài đã tận thành nên có thị hiện dung thông, bất dung thông vẫn là tận độ hòa hợp cùng Như Lai. Ngài đã từng thực hiện những kỳ diệu này đối với Tứ Chúng Pháp Tạng, nhưng trong đạo tràng không mấy chân phật tử nhận được.

Tôi nghe như vầy: Trong tam thiên đại thiên thế giới đều vốn có sẵn Vi Trần Phật, Sát Na Phật tức đều có sẵn thần thông. Tất cả không ngoài điện tử vũ trụ sai khiến tứ loài. Bậc tu khi chánh giác rồi thì ôm hết huyền cơ vũ trụ trong tay. Điện tử vốn nó biến hóa như thân của Chư Phật có hàng hàng lớp lớp Vi Trần Phật, Sát Na Phật thị hiện mãi mãi thường còn. Như y khoa nghiên cứu chừng nào ra chừng ấy...

Thành công cái ảo của khoa học là cái thật của nhân sinh. Bậc tu không chấp, không nghi, không chướng, vận chuyển vạn pháp được THÔNG thì nói và làm gì ở đâu đâu cũng THÔNG. Bậc thông pháp, thuyết để thông suốt là của riêng bậc đó còn bậc nghe chưa thực hiện thì đâu phải của họ.

Những gì chúng sanh nói và làm đó là trí hóa ra tư tưởng sinh giai cấp, trình độ khác nhau. Bậc thuyết pháp thông là trí hóa biết hết trở thành nhà biện tài. Lý này đè lý kia là biện tài.

Thần thông vốn ở trong mê
Thông mãi thông đi thông lại về

–T.V.

Tại sao? Vì bậc tu cùng chúng sinh ưa cầu kỳ sống ảo tưởng xa xôi tìm tòi thần thông ở chân trời hay ở chốn thanh vắng núi rừng.

Vậy thần thông của tứ loài đang sống ở chỗ nào? Chỗ nào tứ loài sinh sống chỗ đó đều có thần thông cả. Con người đứng được do trong ngoài đều có sức đẩy của thần thông. Khoa học gọi là các lực không gian tác dụng lên bề mặt của vật ép nó đứng, vì bên trong con người có dòng điện vũ trụ ra vào theo các lỗ chân lông. Khi con người hay tứ loài hết thở nó ngã không đứng được nữa vì dòng điện không còn ra vào thân được nữa.

Còn trẻ đi đứng vững, già đi đứng yếu, tóc bạc vì hào quang trong thân ra ngoài yếu, lỗ chân lông và chỗ trống trong thân là thần thông ra vô. Khi bậc tu đạt Chánh Giác thì điều động được Vi Trần Phật, Sát Na Phật từ mỗi mỗi lỗ chân lông trong thân ra vào vô ngại, tự tại đặng đại bi. Râu tóc là cặn bã của thần thông.

Tu hành tư tưởng tự tại, đại bi cao độ chừng nào thì thần thông hóa tương song chừng ấy. CON NGƯỜI KHÔNG CÓ CÁI BIẾT TRONG THÂN. Thần thông nó hóa. Trong vũ trụ nó vốn hàm chứa sẵn các hộc gọi là Như Lai Tạng.

Nếu cái biết nó nằm trong thân thì khi chết nó phải chôn theo và mất, đại đa số khoa học gia cũng cho cái biết ở trong thân, nhưng thật ra cái biết nằm trong vũ trụ, môn nào nó nằm trong hộc đó. Người vừa sanh ra cho đến khi lớn lên cái biết quá khứ tích trữ ở ngành nào, tập quán, thói quen, quan niệm sống ngành nào của bậc đó nay Như Lai Tạng phổ chiếu trở lại.

Tỷ như một người chuyên học tiếng Anh thì trong cuộc sống đi đứng nằm ngồi đâu đâu cũng toàn cái thể của Như Lai Tạng chuyên Anh Văn. Như Lai Tạng nó ra vô trả lại cho mình cái biết từ bốn phía. Tánh càng cao thượng chừng nào sự thông minh hiểu biết càng cao.

Càng thông minh cái biết càng xa gọi là Thánh Nhân, Thánh Thiên, Thánh Triết. Từ thượng cổ cho đến bây giờ con người lấy gì để tu. Lấy mắt để tu, lấy tai để tu, lấy đầu để tu đều kẹt ở tầm mức phàm phu. Lấy Như Lai Tạng chung cùng để tu cái gì cũng biết. Bậc biết tận dụng thân nơi kiếp này tu hành như vậy cho đúng đường Chư Phật, Chư Bồ Tát, lại biết thân cận để cầu đạo thì được chỉ dạy cho Như Lai Tạng trả lại, bậc tu nhận biết được tất cả đều thông.

Sao gọi là Như Lai Tạng? –Cái nghe của cái nghe, cái thấy của cái thấy, cái biết của cái biết. Do đó bậc tu cần lấy cái nghe để nghe, lấy cái thấy để thấy, lấy cái biết để biết. Nếu nhận định được sẽ nghe thấy biết không còn chướng đối không còn Đoạn, Dị, Diệt.

Đối với bậc giác xây đắp căn nào thì thông căn đó thôi. Giác ngộ chớ chưa phải toàn giác. Bậc giác ngộ rốt ráo mới toàn thông. Bậc toàn thông thâm nhập đầy đủ liền vào Chánh Định Tam Muội. Mỗi lúc mỗi nơi đều hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Tu vào con đường Nhất Thừa đúng nghĩa đương thời Đức Di Lạc Tôn Phật khai thị không phải dễ nhận.

“Trực hiện là nơi Bồ Tát Sơ Trụ đến Đại Bồ Tát thường dùng Trực Hiện cùng Cảm Hóa Hiện, cảm hóa hiện chính bậc thường thông cảm Tam Thế tam thiên. Xuất định dạo khắp các cảnh giới, gọi là cảm hóa hiện cho đến bậc tận thành, lúc bấy giờ mới Thật Hiện. Bốn tướng hiện trên vẫn còn nơi Pháp Thân Phật chu toàn thị hiện đồng đẳng từng lớp tu chứng, từng lớp chưa tu chứng đảo điên vẫn đặng thừa hưởng hiện. Nơi hiện cảnh ứng hiện chia ra làm hai nơi, gọi là chánh báo cùng thọ báo hiện chớ chưa hẳn Tâm Hiện hay Tâm Pháp, Pháp Tâm hiện vốn như nhiên Pháp Thân tùy thuận hiện. Vì sao? Vì như nhiên hợp hóa bản năng thể tánh đồng hiện thôi.” –T.V.

Từ thế gian cho đến Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thần, hàng Thinh Văn, Duyên Giác, A La hán dùng quy chế ứng hiện. Quán Thế Âm Bồ Tát mới tùy nơi mong muốn mà ứng hiện hóa độ. Có bậc tu hành chuyên tế lễ cầu ơn trên ban cho được linh thiêng thuộc ứng hiện.

Còn Trực Hiện là trực giác Tam Muội Pháp Môn. Có trực hiện mới tự giác nhận được Tam Thế thường trú khắp xứ lúc đó liền biết cảm hóa hiện. Hàng Bồ Tát trực hiện chỉ Đức Thế Tôn, Đức Vô Thượng Di Lạc mới có Thật Hiện.

Chư Bồ Tát quán sát trùm khắp mới thấy: Con người chỉ sống tạm nơi cái sống ở thế gian. Bởi vậy rất cần không những chỉ vật chất mà cả về mặt tinh thần nữa. Phần Thánh Đạo cứu giúp tinh thần. Từ Đạo Lão, Đạo Khổng, Bà La Môn, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Thông Thiên Giáo... Trong các tôn giáo thảy đều với đích nuôi dưỡng tinh thần, lúc con người chết được về cõi Trời hay về với Thượng Đế là duy nhất, thuộc quy chế ứng hiện, có cầu có linh thiêng, không cầu không có.

Chỉ có Phật Giáo chủ đích đưa con người đến Chánh Giác, thoát sinh ngoài vòng vũ trụ. Vì sao?

Vì Phật Đạo đã tìm được Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới ngoài cõi Trời. Còn khoa học thực nghiệm những gì Phật đã khai thị hàng nghìn năm sau, nay mới tìm ra được.

Tâm Lý Học từng nghiên cứu từ tư tưởng sau phát hiện qua hành động, biết tất cả tâm lý con người để điều động giúp đỡ nhưng tâm lý học chưa biết được tinh thần với vật chất dung thông trong tạng thức của con người mà trưởng thành tất cả.

Triết học tận dụng tư tưởng lần đến tận thấu tư tưởng, tận cùng để tỏ tường từng lớp con người, trở nên thông thái chớ chẳng đến được tuyệt đích Giác Nguyên, chẳng thể nào giải được những gì mà Phật Đạo sở đắc, những gì mà Phật Đạo đã giải xong trên bước đường sanh tử luân hồi. Con người thường dùng tư tưởng nung đúc tinh thần phát sinh ra cảnh giới, sau lúc chết được về trong cảnh đó. Chỉ có chư Phật, Chư Bồ Tát Ma Ha Tát biết tỏ rõ, thấy đúng đắn không cố định, chỉ quán xét để giúp con người, giúp bậc tu ý thức Trực hiện đến cảm hóa hiện mà ra khỏi sanh tử luân hồi nhờ vậy bậc tu thấy biết tự ngã của mình gọi là Chánh Định Tam Muội.

Nếu bậc tu có tư tưởng cầu chánh giác sau được ứng hiện Chánh Báo. Chỉ cần tư tưởng ngoài bản giác liền bản năng phải bị ứng hiện thọ báo phân minh.

Chủng tánh chúng sanh vốn có sẵn trong tứ loài, chúng sanh tánh đó không đâu xa lạ mà chính là các giống vi trùng trong thân mạng. Khi chúng diễn âm trong thân thì đương nhiên con người phát sinh tư tưởng. Hằng hà sa số tư tưởng thì chủng tánh vi trùng có bấy nhiêu.

Bậc tu hay Thiền Sư thực hành thông thái bao nhiêu thì những giống vi trùng trong thân bậc tu hay Thiền Sư khôn ngoan bấy nhiêu. Đến lúc chết, thân tứ đại rã, cái biết thuộc Như Lai Tạng nó trả về các hộc trong vũ trụ. Khi sinh ra một thân mới nó liền phổ chiếu trở lại. Thiền Sư nhìn tánh tình, cử chỉ, lối sống hiện tại nhờ sở đắc Trực Hiện liền cảm hóa biết được tiền kiếp qúa khứ cùng vị lai chúng sinh, biết bậc tu lai sinh nơi đâu, từ đó mới hợp hóa siêu độ được. Trực hiện sâu biết được nhiều kiếp qúa khứ còn thì nhờ ứng hiện nhớ một kiếp. Nát địa mới trực hiện sâu thuộc hàng Bồ Tát Bất Khả Tư Nghì, Bồ Tát Bất Thối Chuyển.

Đến đây Ngài ngưng giây lát hớp chung trà rồi khai thị tiếp: Đến lúc Thiền Sư thành Phật các vi trùng trong thân Thiền Sư trưởng thành Bồ Tát hàng hàng lớp lớp thật hiện làm trang nghiêm đầy quốc độ. Do đó mới có Như Nhiên Tâm Hiện, Pháp Thân tùy thuận hiện.

Vì sao? Vì như nhiên hợp hóa do thể tánh vốn sẵn đồng hiện vi trần Phật, sát na Phật. Thiền Sư nghĩ đến đâu, hóa giải thế gian như thế nào, vi trùng trưởng thành Bồ Tát đến nơi hiện thân hình làm theo lệnh tuyệt mỹ để hoàn tất thế gian giải theo ấn quyết của Thiền Sư.

Thiền Sư đắc đạo liền có bá thiên vạn triệu chủng tánh nơi Thiền Sư đắc đạo gọi là Chân Lý Hải. Khi Thiền Sư đắc Vô Thượng Đẳng liền có bá thiên vạn triệu chủng tánh của Thiền Sư đắc Vô Thượng Đẳng gọi là Vô Thượng Đẳng Thế Giới Hải. Do đó khi cần dùng Thiền Sư chỉ ra lệnh liền trong một sát na có một, hai hay nhiều vô số Vi Trần Phật nơi thân Thiền Sư thật hiện. Bậc vào chánh định biết tất cả những con vi trùng trong thân mạng mình.

Thân chúng sinh là cái giả, vì thân người do đất, nước, gió, lửa kết nạp thành. Các con vi trùng nó cựa qua cựa lại, chạy qua chạy lại trong các mạch máu, trong các tủy xương... tạo thành cái biết của chúng sinh. Vì thân do tứ đại giả hợp nên cái biết của mình cũng giả, do đó bậc tu điều khiển được chủng tánh các con vi trùng trong thân mình được gọi Chư Phật hiện toàn thân. Lúc bấy giờ, mỗi lời nói, cử chỉ đều hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Tam Muội là Huệ bí mật của Như Lai, là Mật Ấn.

Bồ Tát là bậc đã được Chư Phật thử thách trao cho Trí Ấn bằng đại phương tiện thuận nghịch, tịnh bất tịnh, hữu tướng phi tướng. Khó mà biết trước được Diệu Dụng của Ngài nên dễ hồ nghi, dễ bỏ dang dỡ, chỉ một sai nhỏ là hỏng cả đường tu dầy công bấy lâu, phải tự sám hối sau đến sám hối lỗi lầm Ngài mới ghi nhận. Có bậc cho tu lại từ đầu.

Qua được, dung thông được mới trao Tâm Ấn. Tâm Ấn là Mật Ấn Như Lai, văn tự âm thanh không diễn tả hết được. Ngưng giây lát, Ngài khai thị tiếp:

– Các giống vi trùng ở trong toàn thân mỗi bộ phận hay mỗi cơ quan đều có mỗi loại vi trùng, chúng nó tiết ra chất nhờn nhớt, chất nhờn nhớt này chạy thẳng đến thận hóa thành tinh trùng. Tinh trùng chờ khi giao hợp thụ thai sinh ra con người, liền có cái biết tùy căn cơ của mỗi loài chúng sinh.

Do đó bậc có thiền trí, sáng soi thân tâm để phá mê thường chấp sau tỏ thông sở đắc Tam Muội. Nếu bậc tu dùng trí tuệ trí thức, nghiên cứu dù học giỏi đến như Bác học cũng chỉ là tu phước thiện thôi. Tu thiền thông đạt còn nghe được hơi thở cùng sự sống của các loài thảo mộc cùng qủa địa cầu nhịp nhàng di chuyển, cho đến các loài chim chung hòa với tiếng gió reo trở thành muôn vạn câu niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng không dứt. Bậc tu có tinh thần thiết tha, chưa có trí tuệ cứu cánh vẫn lầm nơi cuồng tín.

Thời Hạ Lai Mạt Pháp này Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc ra đời chỉnh trang Phật Đạo, Bậc tu lìa ngã vẫn còn nắm đường dây trực hiện được. Hai câu thơ Đức Ngài đã ghi:

Đương nhiên Mạt Pháp kia vừa dứt
Thời Chánh liền ra tiếp vẻ vang

–T.V.

Bậc sở đắc Chân Thiền tỏ rõ bổn lai từng chủng tánh nhờ tận giác nên biết rõ ràng Chư Thiên, Tiên, Thần, Thánh mỗi nơi bị nhiễm thế nào phải lai sinh vào cảnh giới ra sao. Từ chốn thọ ngã thi hành huân tập tự ngã để tạo thần thông tài phép ra sao, đều tỏ rõ tỹ mỹ tường tận không sai chạy mà nhập Chánh Định Tam Muội nhiếp độ. Đối với Chư Phật thì lục thông, thần thông tam muội không quan trọng bằng Tam Muội. Thế nên Chư Phật khai thị Chư Bồ Tát: Chánh định Tam Muội là chỗ tạm trú của Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát. Còn thực hiện Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội chưa sâu là thần thông tam muội của hàng A La Hán./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


48. Mật – Hiển – Đốn – Tiệm

 

Bậc thực hiện mười danh hiệu thật khó gặp vì bậc này đồng ứng với bổn nguyện Tam Thế mà thị hiện. Từ ngôn ngữ, hành động không khác với nhân sinh nên Thánh Tăng Bồ Tát cũng chưa biết, chỉ trừ Bồ Tát hạnh nguyện Bát Nhã Trí, dùng Giác Tướng mới nhìn đặng phần nào nên khó gặp.
 –Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Kinh

Bậc thực hiện mười danh hiệu để thành Phật phải thành tựu bốn duyên căn:

MẬT - HIỂN - ĐỐN - TIỆM

Bốn tướng của hàng Bồ Tát tu đạt đến THÔNG - ĐẠT - TẬN - THÀNH, cầu diệu quả Bồ Đề.

“"Làm thế nào mà đạt được Thông?

Thông nhờ Mật Giáo, có Mật mới có Thông, chưa Mật thì chưa Thông. Vì sao?

Vì Mật là Mật Ấn Như Lai Tạng, nếu chẳng Mật không Ấn, chẳng bao giờ Mật Ấn làm sao sở đắc để mà THÔNG.”" –T.V.

Thông nhờ Mật Giáo. Thế nào gọi là Mật. Bậc tu ý thức sửa tánh là chính, sau được tự tánh thấy tánh đến Minh Tâm. Bậc Minh Tâm từ lời nói đến việc làm đều hàm chứa Mật gọi là có Mật mới có Thông. Chúng sanh được nương nhờ sẵn có Như Lai Tạng nên tánh Nghe - Thấy - Biết chính là Bổn Lai cũng gọi là Phật Tánh nhưng Phật Tánh - Nhất Tâm - Chơn Như - Như Lai Tạng - Pháp Tánh - Pháp Thân - Pháp Giới là bảy báu của Chư Phật.

Tuy là bảy báu nhưng thể tánh vốn chỉ là một. Chúng sanh và Phật vốn sẵn nhưng vì một khởi sai lầm nơi chúng sanh mà thọ chấp thành bờ ngăn điên loạn. Như mặt trời kia bị mây che. Do đó Mật là Mật Ấn Như Lai Tạng. Đức Đại Nhựt Như Lai Phật khi đồng Như Lai, lúc hòa cùng Chư Phật. Tất cả bí mật kín nhiệm di chuyển do Ngài nắm giữ từ Thần Thông đến Tam Muội qua các Hiện Thân đến Giải Thoát.

Đức Đại Nhựt Như Lai Phật lại gìn giữ Tâm Ấn, Mật Ấn nên đối với Ngài chúng sanh không thể nghĩ bàn. Chư Phật có nhiệm vụ thọ ký và diệu độ Chư Bồ Tát.

"Nếu có một vị Bồ Tát tu vạn hạnh bên ngoài trí huệ suốt thông khi nghe Đức Di Lạc Tôn Phật thời Hạ Lai thị hiện dù đã biết hoặc chưa biết dù cho bậc đó sở đắc hoặc thành Phật thật sự đi nữa mà chưa biết nơi chứng minh Nhất Tôn, chẳng tin sự chứng minh, có lòng tự mãn ngã mạn thì cũng chưa đến nơi rốt ráo để nhập Đại Niết Bàn. Vì sao?

Vì chưa đặng thọ ký Nhất Tôn thì làm sao đến Như Lai Nhất Tôn chứng minh, đã chẳng đặng chứng minh thời làm gì có Đại Nhựt Như Lai ban hành thị hiện cảnh Đại Niết Bàn, do lẽ ấy mà bậc kia phải dùng Định Tưởng, đã Định Tưởng thời còn sanh diệt, đó chính là trọng yếu thứ nhất." –T.V.

Thời hạ Lai Mạt Pháp này Ngài ấn chứng đoạn kinh trên cho thấy muốn thành Phật dù sở đắc Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư cũng phải có Đức Di Lạc Nhất Tôn chứng minh. Tự ý xưng Phật là không chứng từ, là bị tự mãn sai lạc.

Nếu Đức Di Lạc Tôn Phật đã ra đi cũng còn Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát thừa kế, nếu không được vị này Tâm Ấn làm sao Đức Đại Nhựt Như Lai Phật thị hiện chứng minh. Cho thấy tu hành phải có quả vị. Phải có tôn ty trật tự, tự xưng chưa được chứng minh đều lạc lối. Đức Di Lạc cũng được Đức Bổn Sư thọ ký. Đức Bổn Sư cũng được vị Phật trước thọ ký. Còn tự ý đi sai lạc xưng Phật không bao giờ được Đức Đại Nhựt Như Lai Mật Ấn cả. Thời Hạ Lai quý vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư hãy suy xét lại lời ấn chứng của Đức Di Lạc.

Đã có thừa kế chứng minh là có Mật Ấn không nên tự ý xưng. Ngài nhắc đó là điểm đáng ghi nhớ cho các vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư cần hồi tâm nơi thời Hạ Lai này chớ có lầm lẫn nữa. Nếu sau này chỉ còn chư Tổ cấp Liễu Ngộ các vị Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư phải chờ Bồ Tát được thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thị hiện. Nếu bậc thật tu, kiếp này hãy sớm thức tỉnh theo lời thọ ký minh chánh của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật sẽ được lợi vô kể.

Ngài đã làm xong nhiệm vụ chỉnh trang Phật Đạo nếu vị nào tự ý dù ở Phương Đông, Phương Tây, Phương Nam, Phương Bắc mà không hồi hướng sự tu hành còn kẹt ở Định Tưởng là tướng sanh-diệt, tướng sanh-tử cần quan tâm.

“"• Về Đạt: Đạt nương theo Hiển, nếu không Hiển Giáo không Đạt.

 • Đứng về Tận: Không Đốn Giáo không Tận Giác. Đốn cho Tận, không Đốn không Tận.

 • Còn về Thành: Không Tiệm Giáo không Thành. Vì sao? 

 • Khi dùng Đốn là Phá Giải. Về Tiệm thời đạo hạnh sáng soi. Nếu Đốn không Tiệm bị Không Chấp, vướng vào pháp không.

 • Cũng như: Phá chấp không biết Duyên Căn tỏ chấp thì không bao giờ thành.

Chẳng khác nào: Phá nhà phải biết xây nhà là tu Đốn Tiệm tương song, phá nhà không biết xây nhà, như kẻ phá chấp mà chấp, không chấp bị chấp Không, chẳng bao giờ Thành Đạt.”" –T.V.

Bậc tu khi ý thức được tự tánh tỏ tánh thì từ lời nói đến sự sự đều có Mật. Đã có Mật liền đạt Hiển. Hiển Giáo đây là của Bồ Tát Tánh tu đạt còn không tự tánh mà tu Hiển là của phàm phu, lý thuyết, thuyết giảng, nghiên cứu gì cũng không thoát khỏi vòng đai của Ma Lực.

Khi Chư Phật nhận thấy Bồ Tát còn chưa suốt, có lúc còn vướng mắc mà Tự chưa đầy đủ Phật liền Đốn để phá Vô Minh, Bồ Tát được nghe thấy biết từ tỏ thông đến thấu đạt. Đốn cũng như phá rừng nhưng phải biết trồng trọt cây theo hàng lối theo tổ chức để có quả sinh ra của cải là Tiệm Giáo. Nếu đốn bỏ đi, đất trống cây dại sẽ mọc lại thì sự đốn kia cũng không tròn, cũng kẹt không tai hại, lại bị nhiễm không.

Nếu Bồ Tát cho đến chư Phật dùng Đốn Giáo là biết Chân Phật Tử đủ sức Tin Vâng, sau kết quả mới tự phát tâm kính ái. Cấp Nhị Thừa tu chứng Đốn không có cơ sở bị hỏng, hóa Tăng Thượng Mạn vì chưa chu đáo.

Đương thời Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc, Ngài để yên, vỗ về cho các chân tử không chịu tu, thích tu sao cho giàu có nên lớp này không bao giờ Ngài Đốn, chỉ dùng Tiệm cho trụ đạo hạnh nên họ ưa thích. Họ chẳng bao giờ biết Diệu Dụng của Ngài cho những chân tử cầu Giải Thoát.
“
Thông – Đạt – Tận – Thành chung gồm bốn tướng MẬT – HIỂN – ĐỐN – TIỆM.

"Do đó mà Ta nói:

Không Mật thì không Thông.

Không Hiển thì không Đạt.

Không Đốn thì không Tận.

Không Tiệm thì không Thành.

THÔNG - ĐẠT - TẬN - THÀNH là như thế.

Phật dạy: 

Đức Trí tương song
Chân nguyên Tận Giác."
–T.V.

Hàng Bồ Tát hành nguyện, hạnh nguyện ý thức bốn tướng Thông - Đạt - Tận - Thành, nên không tu riêng rẽ từng môn mà liên kết tùy lúc tùy thời điểm, ứng hiện cho đồng hợp Mật - Hiển - Đốn - Tiệm mới Tận Giác.

"Chư Phật có nhiệm vụ thọ ký và Diệu Độ chư Bồ Tát. Chư Phật chỉ dạy cho Chư Bồ Tát thành tựu Phật Quả và đồng thọ ký cho Chư Bồ Tát trong đường hạnh nguyện đưa Chư Bồ Tát Ngũ Nhãn, Lục Thông, Tam Thân, Tứ Trí đồng thành Phật." –T.V.

Cách đây 2538 năm Phật Lịch, Đức Bổn Sư đã thọ ký Bồ Tát Di Lạc sẽ thành Phật nối truyền và giữ gìn Chánh Pháp tiếp nối thêm 5000 năm. Trong khoảng thời vị lai Đức Di Lạc Tôn Phật cũng đã thọ ký và Diệu Dụng cốt tận độ cho được Mục Kiền Liên thành Bồ Tát cùng Thánh Chúng. Bồ Tát sẽ lai trần hành nguyện cùng hạnh nguyện cứu độ chư Tổ để gìn giữ Chánh Pháp. Vết chân đi trước bậc bước theo sau vẫn y nhau không khác mà khác. Không khác là chân truyền vẫn giữ còn khác là phương tiện đến Chân Tôn tùy mỗi thời mà Bồ Tát hành thâm nên không giống mà vẫn y tôn y chỉ ba đời Phật. Thế mới biết chỉ Bồ Tát mới Trực Giác: Khác mà không khác, không khác mà khác cốt Tận Giác đặng Ngũ Nhãn, Lục Thông, Tam Thân, Tứ Trí.

Còn bậc Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư tự tin là Phật sao lại dạy cho chúng sanh! Phật dạy chúng sanh là Phật của chúng sanh - kết chung chúng sanh niệm chúng sanh nghe. Phật khai ngộ được Bồ Tát, Thánh Chúng sau Bồ Tát thành Phật là Phật đủ mười danh hiệu. Mỗi lần thị hiện là rung chuyển Tam Thiên, đem lại lợi ích vô lượng cho chúng sanh không tu, còn lợi ích cho Thánh Chúng nối tiếp khuyên dạy đời chuyển ác trược, phiền não trược thành Tịnh Độ.

Nếu dùng vật chất, tiền bạc cho người đời tu, đạo sớm diệt vong không trường tồn. Chỉ khi nào bậc tu tự ý thức làm thiện được phước báo, còn tu hành được giải thoát là Chánh Báo thời đạo mới trường tồn bất diệt.
“
"Còn chư Bồ Tát Tín Hạnh Nguyện để lãnh hội các pháp và Chân Lý huấn từ của Chư Phật mà sở đắc. Chư Bồ Tát độ sanh với con đường hạnh nguyện Lục Ba La Mật Đa, thâm nhập pháp giới thành tựu Bát Nhã Trí, được trí tuệ vô ngại. Đức hạnh ứng thân rốt ráo từ hữu lậu đến vô lậu không hai, hoàn toàn giải thoát."” –T.V.

Thời Hạ Lai Mạt Pháp này Ngài khai thị bậc tu cần theo đường Ngài đã vạch ra, trước tiên phải Tin Vâng Kính bậc Thiện Trí Thức sau mới tỏ thông chân lý lại cần tín tâm, đạo hạnh tự phát thệ nguyện tu cầu Tri Kiến Giải Thoát gọi là Tín Hạnh Nguyện. Đức Ngài rất nghiêm túc, Chân Phật Tử không Tín Hạnh Nguyện chẳng bao giờ truyền pháp. Bậc Tín Hạnh Nguyện cạn, sâu cũng tùy căn cơ bậc tu mà được thọ lãnh chân nguyên.

Chư Bồ Tát Hạnh, nguyện không sống cao xa viễn vông, không trừu tượng như hàng Nhị Thừa tu chứng mà chỉ hạnh nguyện thực tế nơi Lục Ba La Mật Đa hơn nên trước mắt biết nhận định là việc gì hư sẽ là thầy của cái đúng. Nhờ đó Bồ Tát tu đến thấu đạt bình đẳng từng lớp lớp pháp giới chúng sanh. Bình đẳng mà bất bình đẳng.

Chúng sanh, sanh ra ai cũng như ai, thân cũng có đầy đủ các bộ phận, các cơ quan, cũng có hoàn cảnh như nhau, tại chưa biết soi thấu. Do tánh mà đổi cảnh, chớ cảnh vẫn là cảnh. Cảnh bất bình đẳng là Thọ Ngã. Đã thọ ngã là có cảnh. Không có Ngã là không có cảnh. Đường tu bước qua bất bình đẳng lớp lớp chúng sanh được trở về bình đẳng của tâm thanh tịnh. Suy ra tánh trí bình đẳng mới Tín Hạnh Nguyện được viên dung thấu đạt Bát Nhã Trí thực thể không còn pháp trừu tượng. Trí tuệ được tự tại vô ngại lúc đó hữu lậu vô lậu chỉ là một mà hai, hai mà một ứng thân thị hiện đúng không còn sai được hoàn toàn giải thoát sanh tử luân hồi.

Duy Vật đánh ngã Duy Tâm. Duy Tâm có làm thực thể thì Duy Tâm cũng là thực chất sẽ đi sát hơn Duy Vật. Thời Hạ Lai thực tế nhất còn cụ thể chứng minh nơi ban Hành Hịch Vũ Trụ, kết chung cho thấy Duy Tâm nương Duy Vật, điều động được Duy Vật sát thực tại. Có tu thành Tiên, Thánh, thành quân tử cũng phải theo con đường này. Khi thực hiện đúng là giác ngộ. Khi thực hiện sai bị khổ là mê. Thực ra mê, ngộ không chứng từ ghi chép được. Nó thuộc Tâm Ấn, phải Tin Vâng bậc Tâm Ấn thôi. Vì sao? Vì vạn pháp huyễn hóa cần có bậc thật biết theo đường đi vũ trụ tức Như Lai Pháp sẽ thực hiện được chân thật mà trở về thật.
“
"Thời kỳ nào Phật hóa độ tất cả chúng sanh và Bồ Tát? Thời Đức Phật ra đời, chưa có thể hiện Bồ Tát, thì Phật phải Hành Dụng đến Diệu Dụng chung một hai thứ gọi là Bồ Tát Phật. Khi chúng sanh Giác Ngộ hoặc đắc pháp thì Phật trở qua Đốn Pháp để cho chúng sanh hiện thể, thời này gọi là Phật hóa độ Bồ Tát.”" –T.V.

Thời nào có Phật ra đời, chúng sanh và Bồ Tát còn lẫn lộn trong Đạo Tràng. Phật phải hành dụng cùng diệu dụng để tuyển chọn bậc tu căn cơ sâu dày. Diệu dụng hữu tướng, phi tướng, bậc thật tu qua được, điều ngự tánh được đắc pháp hay Giác Ngộ. Sau Phật Đốn Pháp cho bậc tu sửa được hiện thân Bồ Tát. Bậc Bồ Tát đối với Ngài phải là bậc tu Tin Vâng Kính trọn, Tín Hạnh Nguyện tự giác cao độ mới Đốn cho sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Khi đã chứng minh Bồ Tát. Phật mới nuôi dưỡng riêng, pháp mỗi lúc mỗi khó, chỉ một sai nhỏ cũng chỉ thẳng bằng Đốn: La rầy, làm dữ, đuổi, đánh cốt tận độ chúng sanh tánh cho trơn liền, tâm không còn chớp động trước vạn pháp. Thời này Phật hóa độ Bồ Tát thật khó.
Những vị Tôn Giả được Ngài chọn phải chịu kỳ thi khó khăn trong phần hóa độ Nhứt Thừa này.

"Qua thời Bồ Tát hiện thân đầy đủ hoặc chưa đầy đủ thì Phật mới thi hành Tịnh Bất Tịnh, Thuận Nghịch quyết đưa chư Bồ Tát qua các trở lực ngăn ngại mắc miếu, thân tâm tập khởi, tập nhiễm trong lý sự chưa đồng đến đồng, chưa đặng đến đặng, chưa sở đắc đến sở đắc hoàn toàn thành Phật." –T.V.

Trên thực tại thế gian, kỳ Hạ Lai này Ngài hóa độ chỉ có một vị đắc Vô Thượng Chánh Giác, Ngài liền diệu dụng Tịnh Bất Tịnh quyết đưa Bồ Tát qua các trở lực cho thân tâm sạch hết tập khởi, tập nhiễm, không còn nghi.

Trong thế gian tâm còn vướng động là còn theo nghiệp. Bậc giải nghiệp, tỏ nghiệp giác từng vi trần của pháp. Giải được một pháp là vượt qua khỏi pháp giới đó, là thoát một kiếp sanh tử luân hồi. Bậc tu từ một pháp giải được làm điểm tựa tiến bước, phải qua hàng tỷ pháp giới mới giác ngộ. Một chữ là một pháp giới, một lời là một pháp giới, một hành động là một pháp giới... Như thiện ác, tốt, xấu. Sáng tưởng được thượng sanh, tối tưởng chính Địa Ngục.

Một hôm Đức Di Lạc Tôn Phật hỏi Tứ Chúng: Thử kiểm lại lâu nay tu những gì? Những gì thuộc thiện căn, thiện chí thì cứ theo con đường đó mà đi. Khi không còn vọng tâm, không ham muốn, thực hiện được lý sự đồng sẽ sở đắc chân lý. Tâm không còn vọng chẳng khác vạn pháp đều chảy ra biển cả hết. Bổn Lai Diện Mục của một pháp nếu biết được pháp sẽ Trực Giác, sau tâm liền lạc suông sẽ được nhạy cảm, chỉ cần một khẻ nhẹ cũng biết đủ gọi là Không Tướng thấy. Tu như vậy đem lại Chân Thiện.
“
"Nên Phật hóa độ khó nghĩ bàn, khó phê phán. Vì sao?

Vì Phật diễn ra các pháp chẳng thiếu sót. Từ Bồ Tát chưa bao giờ nhìn đặng, thời làm sao chúng sanh biết nổi việc hóa độ của Chư Phật? Làm cho sức lực công năng của Chư Bồ Tát chịu đựng tiến triển thọ lãnh đầy đủ của Như Lai Tạng mà rốt tận Bát Đại Niết Bàn.”" –T.V.

Bậc tu trong thời Mạt Pháp này thấy lối tu của Ngài khai có mới lạ, nhưng thật không khác với mười phương Phật Ba Đời. Phải cố sức tu chớ đừng phê pháp, chớ đừng phá pháp. Một vị còn mê lầm nói bậy, bậc tu kia nghe được tự kiềm chế lại, khuyên vị tu mê lầm chớ tự mãn, nếu được điều kỳ diệu cũng chớ nên khoe khoang. Đời sống chỉ biết có ăn, ngủ chẳng khác gì loài động vật, lại uổng phí một kiếp khó được tái sanh làm người lắm.

Bồ Tát làm việc gì cũng thật nhuyễn, nên một pháp đi qua dù nhỏ đến mấy chăng nữa cũng thấy biết tường tận, tỷ như trong một nghề nếu bậc tinh vi mà có ai vào làm lạng quạng là biết liền. Tu cũng vậy biết tỷ mỷ được thọ lãnh đầy đủ Như Lai Tạng.

Phật diễn pháp rất khó biết trước, càng cao pháp càng gai góc khó nhận nổi, chỉ biết kềm chế tánh mới qua nổi. Bồ Tát tu hành cần phá chấp, dụng trí tuệ tìm một pháp mới thì sau triệu kiếp Như Lai Tạng cũng cung đốn cho mình sống như vậy. Cũng như có làm là có cái sống, có tu sửa sẽ chứng ngộ. Dù bậc tu có gặp Phật lai trần mà không tu sửa Phật cũng phải chịu, không hóa độ được. Bậc tu chưa biết đường tu giác ngộ ra sao thì chớ nên vội phê phán chỉ trích bậc Thiện Tri Thức, chỉ cần tự mình hóa giải không chướng không chấp sẽ nhận biết được Chân Pháp.

"Sự hóa độ của Phật, chỉ có Phật với Phật biết, Phật đưa từng hàng Bồ Tát bởi tịnh hay thuận mà thọ chấp, Phật làm cho Bồ Tát ấy Tâm không phân biệt dị biệt, được suốt thông Tịnh, Bất Tịnh đến thuận nghịch thực thi rỗng rang trùm khắp đến thành Phật." –T.V.

Bồ Tát bị nhiễm lý kinh trụ xứ, Phật rất biết Diệu Dụng đưa Bồ Tát thoát nhiễm văn tự. Sau Bồ Tát tự ý thức tháo gỡ tập nhiễm không còn phân biệt, không còn bị Tịnh Biệt. Chủ yếu của Phật làm cho hàng Bồ Tát hợp hóa chứ không có diệt, nếu diệt pháp làm sao hợp hóa được, nếu diệt bị đứng yên chữ KHÔNG lại lấy văn tự làm sở chứng. Vô số bậc tu thời Hạ Lai tự gọi Thiền Sư ở vị trí này.

Có vị còn viết cả chìa khóa tu Phật mà khi đọc kinh Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật đưa tận tay không hiểu được lại chê bỏ đi. Đường lối hợp hóa của Phật là làm cho Bồ Tát nghi chấp sao qua được pháp nghịch mà phá nghi chấp, trí tuệ được suốt thông không còn quái ngại. Việc đáng làm là thực hiện dù khó khăn đến đâu, việc không đáng làm dứt khoát thật dung thông ra vào vạn pháp. Sau được viên dung thấy Nhãn Tịnh, nghe Nhĩ Tịnh, đến thật biết tỷ mỷ tận giác, không còn trụ chấp văn tự, sở đắc Bát Nhã Trí vào hàng Đại Bồ Tát chờ Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật.
“
"Phật hóa độ, tất cả nghi Phật thật ÁC, Phật hóa độ Chư Bồ Tát phải nghi thật là NGHỊCH, dù có ác hoặc nghịch chăng thời khó nghĩ bàn, vô lượng hóa độ, vô lượng diệu dụng Bồ Tát nhìn chưa thấu, thì phàm phu lấy đâu để hiểu? Phật chỉ vì Bồ Tát đứng yên thọ chấp mà phải hóa độ như thế, để được thọ ký và chứng minh của Như Lai."” –T.V.

Hầu hết chúng sanh tin Phật ra đời theo tu sẽ được vật chất đầy đủ, sung sướng lắm. Bậc được ở gần Chư Phật mới biết tu hành quá ư khó khăn, khó đến nỗi Chư Thánh Chúng phải bỏ chạy. Có bậc trốn luôn không dám quay lại nhìn nơi Ngài đang ở như đã xảy ra thực tế đời Hạ Lai này tôi đã chứng kiến. Vì sao?

Vì Bồ Tát chưa rốt ráo còn nhiễm ÁI, nhiễm vật chất, nhiễm danh vọng. Ba thứ nhiễm này tạo vòng đai sanh tử ngăn trở Bồ Tát làm nhiều kiếp đứng yên thọ chấp. Nhất là Bồ Tát hiện thân tướng cư sĩ thì ba thứ độc nhiễm trên nếu không có Phật vô lượng Hóa Độ, vô lượng Diệu Dụng, thực tế không có Bồ Tát nào vào, ra Giới nổi, không đủ sức tự tại tháo gỡ.

Chỉ Bồ Tát nào dày công đức cúng dường Như Lai, như nhiên vào hàng Đại Căn được tháo gỡ trước. Còn những vị bê trễ, an trụ, không hợp nên Phật không hóa độ được. Do đó mà khó. Vì vết chân Chư Phật, lộ trình thời gian không đủ, tuổi cao nên phải đợi vị Phật kế.

Lối hóa độ của Phật một là đưa Bồ Tát ra khỏi ÁI vì đang nhiễm ái. Lối thứ hai là cho vào ái sau lôi ra khỏi ái, cuối cùng Phật cho dung thông ái. Thấy mất ái ai cũng sợ, cũng gào thét nên thấy Phật ác, nghịch là vậy.

Qua được ái, sau không còn nhiễm ái nhưng ái không mất. Tiền hung hậu kiết, chưa nhận định được ái Bồ Tát bỏ chạy, phê phán chỉ trích Phật thật ác nên bị lầm phải đợi những đời Phật sau! Cho nên trụ La Hán còn tạm, nếu hạnh nguyện đúng Bồ Tát tận độ Hoa Pháp Tánh không ai làm nổi, phải huân tập nhiều kiếp mới xuất hiện Bồ Tát Đại Căn theo Phật cầu Diệu Quả Bồ Đề. Bởi vậy Phật làm Phật biết, chỉ Phật biết Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát biết chưa tận thì bậc tu ở dưới sao thấu hiểu.
“
"Bồ Tát Quán Tự Tại Vô Ngại phá nghi, phá tương đối, phá thân khẩu ý xuất ly đặng gìn giữ tư duy nên chưa tỏ rõ di chuyển Pháp Tánh, chưa biết được thường tánh thì làm sao chu đáo Diệu Tánh Niết Bàn. Bậc Bồ Tát như vậy mà bắt chước hóa độ nơi Phật làm hành dụng tác tạo Nghịch Hành, thật là nguy hại vô kể.”" –T.V.

Bậc tu chưa trực giác đầy đủ, còn dùng trí suy nghĩ gọi là tư duy, cũng chưa được Chư Phật ban hành chứng minh hành nguyện, hạnh nguyện cầu Diệu Quả Bồ Đề mà tự ý tạo pháp bất tịnh rồi cho là vô ngại, tự tại bắt chước Chư Phật. Kết chung đi ba đường ác, không tự tháo gỡ được sẽ thành Phật Qủi còn gọi Phật Giới thật nguy hại vô kể.

Đương thời còn Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc tại thế có bậc tu tự xưng Hoan Lạc đã tự tung tự tác, Ngài báo cho chân Phật tử tín thành thấy biết mà tránh. Ngài cũng không chứng minh làm Hộ Pháp, bậc này không hay biết nên tưởng tượng mình thành Phật như Ngài. Tự ý suy nghĩ tu hành sao cũng được nhưng theo tôn ty trật tự vết chân Ngài, bậc Bồ Tát đến hàng Thánh Chúng Ngài kiểm tra Đạo-Đời hợp nhất thường xuyên. Không có bậc nào dám tự ý khi chưa được Ngài khai mở vô minh cho trực giác. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác như Ngài chú tâm đồng hóa nhân sinh nên lối sống ăn ở cũng giống như tất cả tầng lớp con người, chỉ hơn nhân sinh, tứ loài Bản Giác thôi.

"Bồ Tát nên y kinh để liễu nghĩa, nên dạy chúng sanh nghe pháp cốt tỏ biết. Chớ chẳng nên y kinh bất liễu nghĩa dạy chúng sanh nghe pháp chớ nên thuộc lòng không hiểu nghĩa sau này sẽ bị biết, dạy chúng sanh thật biết hữu lậu thật rõ vô lậu. Hữu vô đều tỏ rõ, chớ vì hữu mà nặng, chớ vì vô để chấp. Lại cũng chớ vì hữu mà đoạn, chớ nên vô mà lìa, đó chính là Bồ Tát khéo cúng dường Tam Bảo, khéo đưa chúng sanh chẳng lấy cũng không bỏ." –T.V.

Pháp của Bồ Tát là pháp không Hữu cũng chẳng Vô. Không lấy cũng chẳng bỏ. Không y kinh cũng chẳng ly kinh. Đó chính là pháp viên dung không hai tướng, pháp của Nhứt Thừa hoàn toàn giải thoát. Thực hiện được pháp này bậc tu đã được Trực Giác lúc nào cũng tự tánh, chúng sanh tánh không còn vọ vậy nữa.

Hàng Bồ Tát biết sống cuộc đời thoải mái, lấy chân lý là người bạn trung thành nhất nên ý thức được trong cuộc sống người ta phản mình, người thân cũng phản mình, chính mình cũng phản mình. Chỉ có chân lý là trung thành với mình nhất, là nguồn an ủi cho mình quý nhất, nó đem đến cho mình thêm hiểu biết Bảo Pháp như lời của Chư Phật thật quý.

"Các hàng Thánh, Tiên cùng Chư Bồ Tát thảy đều công dụng tương song tu cầu quả vị. Nơi quả vị chủ yếu tương song mới đặng hóa thân Phật Tướng hay Bồ Tát Tướng. Mặc dù Bồ Tát, Phật không có tướng, nhưng nó phải có cái gì tương song mới hình thành Chánh Giác."
–T.V.

Phật không tướng, Bồ Tát cũng không có tướng. Giác tướng là tướng Phật, tướng Bồ Tát. Chư Phật khai ngộ Chư Bồ Tát tu cho thấu đạt Giác Tướng. Muốn vậy Bồ Tát phải tu từng các cõi, mỗi cõi có một sắc thái cao thấp, rộng hẹp, thanh thô, dơ sạch... khác nhau. Phật nói chúng sanh vọng tưởng điên đảo tham cầu nhiều hơn là thực tiễn, đòi cái lớn bỏ nhỏ nên không tu sạch các cảnh giới. Cõi nhân gian lấy sức lực xây dựng nhà, đền đài... cõi Thiên thì thanh thoát.

Lý và Sự cần tương song, bỏ lấy không chừng đổi sanh dị biệt. Nếu từ cái khởi điểm nhỏ cũng thực hiện thì Tánh Tướng được tương song sẽ tỏ rõ Giác Tướng. Chúng sanh tu có biên giới, Bồ Tát không biên giới nên ở trường học, ở cơ quan chỗ nào cũng tu được, chớ không phải vào chùa mới tu được. Tu có biên giới không bao giờ tỏ tường Giác Tướng Phật. Nó không biên giới lại vô lượng vô biên. Nhưng dù có việc khó khăn, lắt léo cũng phải hóa giải để nhận diện được Pháp Tánh là đạt được Giác Tướng sâu hơn hàng A La Hán.

Bồ Tát đi cùng khắp hạnh nguyện nên biết hết Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Từ đó biết có người đam mê, nghiên cứu đủ thứ, khi chết thành ông Thần... mỗi nơi thọ chủng sản xuất ra một vị cao thấp khác nhau do tư tưởng tạo thành nhờ đó tận tường Giác Tướng đến Chánh Giác.

"Đa số các bậc tu hành, tu thời chỉ biết mình tu chớ nào rõ tương song chính là nơi bảo toàn đức tánh quả vị, do lẽ ấy nên Bồ Tát không bao giờ làm ác, Bồ Tát chẳng bao giờ làm mất phẩm hạnh nên chi Bồ Tát lai sanh kiếp kiếp thảy đều không có tội lỗi, chỉ vì chúng sanh đồng ứng tương song cứu độ thôi." –T.V.

Nhiều bậc tu nặng Đạo Đức kém Trí Tuệ. Có bậc trí tuệ khá lại kém đạo đức. Do đó dù tạo quả vị cũng không bảo trì được. Bậc tu cần tạo đạo đức và trí tuệ tương song mới bảo trì được đường tu có phẩm hạnh đạt quả vị. Tu tri Kiến Giải Thoát do căn cơ tự biết ý thức đức trí, tánh tướng, lý sự tương song. Gặp hoàn cảnh tánh tướng thực hiện qua được không còn vướng động tâm, giải tâm được giải thoát. Bồ Tát biết giải thoát từng khâu nhỏ, từng vi trần đó là bảo toàn quả vị. Bồ Tát dù va chạm đụng đến thế gian, tâm giải tỏa các pháp giới không còn vướng động đó là giải thoát, nên lai sanh kiếp kiếp đều không có tội lỗi, chỉ vì chúng sanh cứu độ thôi nên chẳng bao giờ mất phẩm chất hạnh nguyện.

Tu sao mà Thánh không biết, phàm không hay đó là Phật. Còn chư vị Thánh chỉ giữ điệu bộ Thánh nên ai cũng biết. Còn phàm vì không biết Phật và Bồ Tát nên nói ông này tu tầm thường quá. Tu mà Thánh biết, Phàm biết thì không ra ông gì, cũng không thành ông phàm hay Thánh gì hết. Đó là Nhất Tôn Phật đi như vậy, chỉ vì chúng sanh mà cứu độ thôi. Bồ Tát sanh trưởng trong gia đình nào đều chấp nhận rồi tùy thuận phải cải hóa, giải tỏa cho đẹp toàn vẹn. Có vậy mới cứu độ được Cửu Huyền Thất Tổ.

Tỷ như Phật hay Bồ Tát sanh vào gia đình ngạ qủi lấy tiền làm gốc, ai có tiền thì tử tế, Bồ Tát phải cải tạo lại, có tiền không tiền cũng được miễn là thoát sinh khỏi lý trí, chỉ lấy tình là thứ nhất, cải tạo ngay bản thân mình, mình chỉ trách mình mê, không trách ai hết. Cuối cùng hóa độ cả gia đình thoát khỏi ngạ qủi căn.

"Bồ Tát tu vạn hạnh, từ nơi Tịnh - Bất Tịnh không chướng đối với hàng tu cầu giải thoát. Trí tuệ nơi hàng tu Bồ Tát là trí tuệ bất thối chuyển, trí tuệ bất thối chuyển chính là Bát Nhã Trí, trí tuệ này không chấp trụ, không vì khởi niệm tương song, lý trí quan niệm tự cho mình là Bồ Tát lai trần cứu độ." T.V.

Bồ Tát dù tu tánh tướng, đức trí tương song cũng không chấp trụ tương song, đó chính là pháp môn không hai, đã không hai là nhất niệm. Vào pháp môn không hai Bồ tát lấy dân chúng làm nhà cửa, làm cuộc sống. Bồ Tát lấy tất cả chúng sanh làm bà con dòng họ. Nhờ chúng sanh mới có Phật Tánh. Nhờ mưu sĩ mình xem xét mình mới có ngay thẳng, nếu chúng sanh không mưu sĩ Bồ Tát cũng ngay thẳng thì đồng nhau không hơn ai, thì làm sao xuất sanh thành Bồ Tát được. Tổ là tỏ thông, Bồ Tát là thấu đạt nhưng chưa tận thành cho nên phải biết trực giác chớ chưa tận giác không nên chấp trụ.

"Bồ tát tự làm ra Tướng Phật vẫn chưa phải là Phật. Vì sao ? Vì Phật không có tướng. Phật chỉ thị hiện đầy đủ từng lớp lớp không thiếu sót bao trùm khắp khắp Phật Tướng." –T.V.

Bồ Tát gặp kẻ gây điều xấu, không hờn giận lại tùy hoàn cảnh hiện thân cứu độ thật đẹp, thật tròn khắp lớp lớp. Bảo châu nằm nơi nghịch pháp, Bồ Tát hành nguyện gặp người nói xấu, nguyền rủa đủ điều, Bồ Tát có quyền soi sáng là hơn hết. Đó là Đại căn, Đại trí. Họ xấu vì nghiệp chúng sanh Bồ Tát không giận hờn. Đó là Bồ Tát soi thấu ngàn phương. Do đó Bồ Tát không tướng mà giác tướng biết trùm khắp khắp Như Lai hiện thân cứu độ lớp lớp.

"Có khi một bậc từ trong A Tỳ Địa Ngục hoặc Vô Gián Địa Ngục, gặp đặng duyên lành của Bồ Tát tận độ, liền đặng thoát sanh lên Nhân Thiên. Bằng có bậc đang sống ở Nhân Thiên, giờ phút lâm chung mạng vong thoát khỏi Nhân Thiên, thụ sanh vào Ngạ Qủy, Súc Sanh hay Địa Ngục." –T.V.

Tốt và Xấu là hai, Thiện và Ác là hai, Thượng Sanh Nhân Thiên, Hạ Kiếp lưu đày, Bồ tát tu hết cái tốt được cái tốt nhưng không ghét cái xấu là độ xấu. Tu hết cái Thiện được cái Thiện nhưng không ghét cái ác là độ ác.

Thế nào là Thiện Căn để độ Ác Căn. Bậc tu không khinh kẻ ác căn đó là độ kẻ ác căn. Được một gọi là Nhất Tôn Hạnh còn gọi không Thiện cũng chẳng Ác vì độ hết ác căn rồi. Kẻ làm quấy sai trái mình không cho nó là quấy vì hoàn cảnh mê lầm của nó phải như vậy. Khi mình gặp hoàn cảnh tương tự cũng bị như vậy thôi. Kẻ khùng chưởi mình, mình giận chi. Bậc tròn giác thấy cái gì từ thân mình cũng có. Bậc tu đòi làm Thánh làm Bồ tát mà còn thấy hơn chúng sanh thì chưa phải là Bồ tát.

Mình cứ hạnh nguyện như vậy không thấy mình là Bồ tát chỉ thấy độ chúng sanh. Đương nhiên đầy đủ công năng công đức là bậc tu đã độ xong Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục A Tỳ, Địa Ngục Vô Gián. Chừng đó chỉ cần một câu niệm vì đã có lòng Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng chúng sanh đại duyên cầu liền được cứu độ. Bậc tu đã siêu độ được tánh mình, vận chuyển được ba cõi sáu đường không còn bị giới mới tận độ được chúng sanh.

Cũng có bậc căn tánh Nhân Thiên, khi gặp hoàn cảnh thuận lợi liền sanh tâm độc, mưu sĩ đoạt của, làm tổn hại kẻ khác. Khi thác sanh việc làm của chủng tánh độc, mưu sĩ nó trả về ngạ qủy, súc sanh, địa ngục là lẽ thường vì nó làm như thế nào thì nó về nơi ấy. Do đó mà Đức Di Lạc Tôn Phật mới khai thị có bậc ở trong địa ngục tối tăm đại duyên gặp đặng Bồ tát liền thoát sanh nhân thiên sung sướng phước báo. Còn có kẻ Nhân Thiên hay bậc tu xuất gia làm lỗi lầm tai hại bị sa Địa Ngục, Ngạ Qủy, Súc Sanh là như vậy.

"Một khi con người chán chê kiếp sống, mong giải thoát, phải nương nơi thụ sanh cổi giải cho đặng thoát sanh từng giai đoạn, nên mới niệm niệm cốt dứt bỏ từng quan niệm theo tấm gương của Chư Bồ tát cùng Chư Phật, đã từng hóa giải thoát sanh bá thiên vạn triệu pháp giới, đến tự tại vô ngại thoát sanh về với giải thoát." –T.V.

Bậc tu còn lầm lẫn đều bị thọ pháp giới dưới muôn ngàn hình thức. Nếu mong cầu giải thoát phải nương nơi giới, cổi giải mới qua từng pháp giới. Niệm niệm có nghĩa từng pháp cỗi giải, còn quan niệm là còn nghiệp thức, nghiệp căn, nghiệp lậu cần phải cỗi giải cho sạch. Bồ Tát thuyết pháp để chúng sanh giải gút. Chúng sanh tin cần cổi giải tánh nghi. Còn nghi còn giải. Hết nghi hết giải. Cũng như cái áo còn dơ là còn giặt mãi cho trắng.

Chúng sinh tìm chân lý bằng quan niệm phải tu như vậy, phải làm như vậy, khác ý họ bảo tà đạo. Tu bằng quan niệm bị nghiệp thức ngăn che dù có a tăng kỳ kiếp cũng không bao giờ giải thoát. Thường bậc tu nhìn hoàn cảnh người khác thì thấy được, còn chính hoàn cảnh của mình, mình không biết. Ta biết họ, ta giải cảnh đó thì ta được đúng. Làm mãi sẽ đến cơ bản chính là vô ngại, tự tại, đại bi, tri kiến giải thoát. Đâu còn bị thọ chấp pháp giới. Bằng niệm niệm nơi mơ ước niệm, tưởng niệm hoặc diệt bối cảnh niệm, đó là diệt pháp không đúng đường Chư Bồ tát đã đi, bị sanh trong vòng sanh tử.

"Nên chi chư Bồ Tát tu theo chí nguyện, lập hạnh nguyện, ban đầu nương nơi nguyện để tu, đến giai đoạn trực giác mới tường tận lướt qua các bối cảnh thuận nghịch, tâm không mắc miếu mới là độ sanh." –T.V.

Đối với Ngài trao cho hàng Hộ Pháp, Tôn Giả độ sanh, Ngài xem xét kỷ, thử thách dạy cho nhận định được chân lý sau trực giác mới cho thuyết pháp độ sanh. Ngài cũng kiểm tra các vị này nếu ở các tỉnh ba hay bốn tháng phải vào vấn an Ngài. Có bậc Ngài bỏ, có bậc tín thành Ngài đào tạo tiếp. Những bậc này số đông Ngài cho lập ba tâm năm nguyện y như Chư Tổ đã lập ra. Hàng Bồ Tát nguyện Ngài cho lập ba lần nguyện:

Lần thứ nhất Ba Tâm Năm Nguyện.
Lần thứ hai Chi tiết Nguyện.
Lần thứ ba Mật Nguyện.

Cả đời theo tu Ngài tôi được Ngài cho lập ba lần nguyện. Cũng có hai vị tôn giả nữa ở Trung Ương được lập ba lần nguyện như trên nhưng khi Ngài ban hành Hịch Bồ Tát Ma Ha Tát duy nhất chỉ có một được thọ lãnh trong toàn Long Hoa Hội Thượng.

Ngài từng khai thị: Chân Phật Tử bản năng chưa sửa chỉnh, tâm chí không hướng thượng, tư tưởng còn mơ ước ảo tưởng dù miệng thuyết pháp cũng nói cho có nói chứ không mang lại lợi ích thực cho chúng sanh. Bậc nói ra hay còn việc làm rỗng không, lý sự không đồng, chỉ sống nơi trừu tượng, bản thân còn đầy ma tánh vội dạy chúng sanh chỉ thêm vô ích.

"Tại sao không qua nổi chủ lực của Lục Đạo? Do mỗi một con người có một đích sống quan niệm lẽ sống của một tướng môn thì làm sao chủ lực được sáu đạo mà thoát sanh khỏi lục đạo." –T.V.

Đức Ngài trước Chánh Điện

Diện kiến với Đức Di Lạc Tôn Phật, được theo khi Ngài khai thị mới biết quá ư khó qua nổi chủ lực của Lục Đạo. Học, tu thì dể vì tu theo quan niệm còn thực tế phải có Ngài, bậc thành tâm thiết tha phải mất 20 năm mới ra khỏi chủ lực của Lục Đạo, mới qua nổi chủ lực của vòng đi pháp giới! Chẳng khác nào nhà khoa học chế tạo ra phi thuyền bay ra khỏi vòng đai bầu khí quyển, sống trong trạng thái không trọng lực, sau đó phải có lực quay trở về trái đất an toàn.

Vì vậy bậc ra khỏi vòng đai pháp giới, ra khỏi chủ lực lục đạo cùng ba cõi không dùng văn tự diễn tả được, cũng không sống cầu kỳ làm Thánh nên chúng sanh, bạn bè, thân quyến ở sát bên không hề hay biết. Chỉ có Chư Phật mới thực hiện qua nổi chủ lực của ma lực lục đạo. Nói thì dễ thực hành thắng ma lực được mới có chủ lực. Tự ý đâu biết phải thi hành ra sao nên không có ai qua nổi chủ lực lục đạo.

Càng học, càng nghiên cứu, không vận chuyển được vạn pháp nơi nghe thấy biết làm sao thoát sinh. Còn lầm chấp nó càng khủng bố để chúng sanh củng cố đứng yên trong chủ lực của nó. Hiểu biết là một chuyện còn thực hiện lấy lại chủ lực thật khó khăn vô kể.

Quan niệm lẽ sống của một tướng môn có nghĩa nơi thân mạng của mỗi chúng sanh tuy có hằng hà sa số tánh nhưng chỉ có một căn tánh chính mà thôi. Mỗi căn tánh là một tướng môn ngạ qủy, súc sanh, địa ngục, a tu la, nhân thiên... mà chúng sanh tự tạo bị nhiễm. Có chúng sanh sống tướng môn Địa ngục, có chúng sanh sống tướng môn súc sanh, ngạ qủy... Chúng sanh rất khó thấy, khó biết làm sao ra khỏi chủ lực lục đạo được. Bậc tu dù nhiều năm cũng vậy phải có cách thức của mỗi môn mới lần thoát sinh thôi.

"Ta phải vãng sanh bản thân, hồi sanh tu nơi bốn bài năm môn mà đoạt đến Cửu phẩm Liên Hoa tận thành chánh giác. Khi bấy giờ mới hay: Ngũ Uẩn Giai Không, Độ Nhứt Thiết Khổ Ách vậy." –T.V.

Hóa giải sạch hoa pháp tánh nơi thân mạng gọi là vãng sanh. Hồi sanh là cái sống thực không còn ma lực làm chủ nữa, lúc bấy giờ tu nơi bốn bài toán cộng, trừ, nhân, chia và năm môn là Giáo lý môn, Triết môn, Toán lý môn, Khoa học môn, Siêu hình môn. Bốn bài toán và năm môn bao gồm Tam Tạng kinh của Chư Phật. Đến lúc sở đắc chân lý mới biết lời khai thị tuyệt mỹ của Chư Phật.

Sở đắc Cửu Phẩm Liên Hoa là chín phẩm tu chứng lớp lang đầy đủ Đức Di Lạc Tôn Phật mới kiểm tra chứng minh vào hàng Bồ Tát, đại diện Chư Phật lai trần tận độ chúng sanh chờ đầy đủ thành Phật. Vậy hạ kiếp này những vị không gặp Đức Di lạc Tôn Phật mà bảo là Phật, Vô Thượng Đẳng, Vô Thượng Sư hãy kể chín phẩm sở đắc mới là đường đi của Chư Phật. Nếu là thực ắt phải biết, còn không, bị mang khai tướng Phật. Cửu Phẩm Liên Hoa chỉ có Đức Di Lạc Tôn Phật biết được, tận rõ được, chủ trì được mà thôi.

Chư Phật chỉ có một đường Nhất Tôn không hề có đường thứ hai, thứ ba. Chỉ bậc lầm nhận mới có nhiều đường khác mà thôi. Ngài còn căn dặn đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác phải hành thâm pháp giới chẳng thiếu sót mới chứng quả. Chớ không phải sở đắc Vô Thượng là thành Phật được đâu. Thật là mê lầm còn dày đặc, bị Phật Giới khó thoát khỏi chủ lực lục đạo, vẫn chưa xong độ Nhứt Thiết Khổ Ách.

"Bộ óc nơi ta, thân mạng của ta nó là giống gì? Ta chưa bao giờ biết rõ nó, nó chẳng cần biết ta nên ta ngỡ nó là ta, cho nó ăn hương vị đầy đủ, cho nó mặc sung túc chẳng thiếu chi, cầu nó gìn giữ trẻ trung sợ nó già nua sút kém nhưng chính nó nào đâu phải vậy. Nó là bộ máy ráp vần ghi nhận như nhiên ta có bổn phận phát ngôn thấy biêt. Nó cùng ta thẩy đều như nhiên, phần nó đã giải thoát từ lâu, nơi ta lại sống theo quan niệm, Thiền sư nói xong cười xòa lải rải." –T.V.

Như cái radio phải do từng bộ phận ráp lại đúng nó phát được tiếng nhờ Đài phát thanh. Nếu Đài phát thanh ngưng hoạt động cái radio không phát ra tiếng được. Nếu dòng điện tắc nó cũng không lên tiếng được.

Con người cho đến tứ loài cũng đầy đủ bộ phận như nhiên tiếp nhận được cái nghe, thấy, biết của vũ trụ nhưng người nào ưa thích môn nào thì nghe thấy biết nơi Như Lai tạng cung đốn cho như ý nguyện của nó mà thọ lãnh. Do lầm mà ai cũng cho thân xác này là ta, rồi lo cho nó sung mãn, không chú tâm đến cái nghe thấy biết ngăn biệt tạo ra vô số tánh tốt xấu, thiện ác, tạo nơi loạn trí trong thân mạng con người.

Có bậc khi thấy thích thú phát tâm tu thì lại không chú tâm tìm pháp môn giải thoát để tu. Ngày nay Long Hoa ra đời Đức Di Lạc Tôn Phật đã để lại cho nhân sinh con đường đi đến chân lý thật sống động tại thế gian này.

"Dại thay, khó khăn thay con đường giải thoát. Ta là con người nơi một con người. Chưa bao giờ biết đặng nơi con người, thì làm sao hơn con người mà giải thoát? Khi Ta biết, đã thật biết đặng con người thì lạ thay! Ta đã giải thoát dù cho có cho ta giải thoát khỏi con người. Nhưng Ta đã hoàn toàn giải thoát toàn bộ." –T.V.

Tính theo Phật lịch cho đến hiện nay Đức Bổn Sư đã nhập Bát Đại Niết bàn hơn 25 thế kỷ. Bậc tu Phật có hàng triệu triệu xuất gia lẫn tại gia. Lượng thì quá đông, Chân Phật Tử tu đạt đến đích giải thoát quá hiếm, do nơi chưa nhận định được thế nào là tu. Nơi chủ lực đòi hỏi bậc tu phải có căn tánh hướng thượng, căn tánh đại chí. Càng phát tâm bao nhiêu lại càng lầm lạc bấy nhiêu vì tu hư vọng, mất thể tánh tự tánh giải mê.

Tôi nghe như vầy: Thời mạt pháp bậc tu hóa giải dù đúng Phật ngôn nhưng không đúng thể tánh, càng hóa giải vô minh che Phật Tánh bao nhiêu lại càng thọ tánh xấu bấy nhiêu. Sự thông thái, trình độ mỗi cõi mỗi khác nhau vì hiểu biết bất đồng khác nhau, khó hiểu nhau. Tất cả mức sống , trình độ, vật dụng chỉ có hóa sanh kết tạo mà thành. Tất cả hiện vật trong vũ trụ thảy đều nơi vũ trụ hóa sanh chớ con người làm sao sáng tạo chất hóa. Con người chỉ lấy hiện vật có sẵn kết nạp gọi là biến chất dù cho con người tiến bộ đến đâu, khám phá vũ trụ dạo khắp hành tinh đem về thực nghiệm cũng không biết được PHI VẬT là chất chưa hóa, sanh ra vạn vật. Mỗi thế giới Tiên, Thần, mức sống trình độ, vật dụng tinh xảo tốt đẹp gấp ngàn lần thế giới con người.

Chỉ trừ con người dùng trí tuệ khám phá thân mạng, lúc khám phá xong chừng đó mới tỏ rõ con người, đã thật biết đặng con người thì lạ thay! Bậc đó đã hoàn toàn giải thoát.

"Con người với con người khôn khéo đến đâu khó nói lên thế nào con đường giải thoát, chỉ có bậc giải thoát mới bày rõ Chân Tôn, biện bày giải thoát. Dù cho nhất tâm tu đạt, tin chỗ giải thoát chăng, vẫn tin nơi quan niệm giải thoát bằng thể thức tuyệt dục ly thân cắt ái xa lánh con người trần lao cấu nhiễm là giải thoát." –T.V.

Một chúng sanh thông minh đến đâu mà Bậc Chánh Giác khai thị cho họ cũng phải nương chìu, dỗ dành cho họ một thời gian tin đạo, sau tìm phương tiện cho họ vâng lời thi hành lời dạy đặng hạnh nguyện. Đến lúc thuần thục mới lựa thế khai mở cho giải thoát. Thật khó vì chúng sanh sống theo quan niệm giúp cho họ tu phải làm sao, phải hành như thế nào, phải khai thị ra sao khi họ trực giác được là một kỳ công của Bậc Chánh Giác. Khi nhận định được, đến trực giác mới biết giác ngộ không phải tuyệt dục ly thân cắt ái, xa lánh con người trần lao mà phải nương những thứ đó hóa giải không còn nhiễm chấp, đến khi sạch nghiệp chờ gặp Bậc Chánh Giác khai giác ngộ.

Bồ tát hạnh nguyện độ sanh cốt đánh thức chúng sanh khỏi lầm lạc nên Bồ Tát chẳng bao giờ diệt pháp. Khi Đức Bổn Sư nhập Niết Bàn Chư Tổ phụng hành Bảo Pháp làm cho chúng sanh tiến theo con đường thiện căn thiện chí đúng nghĩa Thánh Hiền. Đến thời Tổ cuối là Lục Tổ song hành có Thần Tú xây dựng Đạo bằng tín ngưỡng, ông cho tăng thêm tán phách chủ đích nương nơi đó tu hành cho đến ngày hôm nay, thời Hạ Lai Mạt Pháp đa số bậc tu nặng triển khai sắc tướng âm thanh mà lập pháp. Kém về y chỉ tự tánh.

Nay thì Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc đã mở một con đường trở về Chân Tôn cho Bồ tát và Chư Vị Tôn Giả, Hộ Pháp hàng cư sĩ xây dựng lại Chánh Pháp. Trên đường hành đạo, thể hiện Long Hoa đã ra đời, gặp nhiều bậc tu bảo thủ môn phái nhận chấp vẫn bị mê, có số lại vô tư bị sa Tịnh Biệt vẫn lầm lẫn. Thật ra Tôn Chỉ Tịnh Độ vốn giác Tịnh đặng Độ mà thôi. Bồ Tát và phàm chỉ hơn nhau Ngộ và mê. Bậc trình độ Thánh Hiền ngang tầm mức tỏ chân lý mới nhận được. Ngoài ra giảng giải cho bậc tu chưa đến mức Thánh Tăng không thể nhận được nếu có cũng hiểu lờ mờ sanh dễ nghi chấp. Vì vậy mà Ngài lập lại tôn chỉ mục đích cần Tín Hạnh Nguyện mới nhận chân được.

"Bạch Thế Tôn chính con đã đưa tất cả chúng sanh Tri Kiến Giải Thoát. Sự lầm lạc nơi con giờ phút này không nói được. Con vướng bệnh mê lầm chính con phải chữa căn bệnh, khi bệnh hết mới đặng giải thoát. Con tu cầu đã từng thề nguyện, độ hết chúng sanh mới nhập Niết bàn. Bằng còn mỗi một chúng sanh chưa tận độ, con thề chưa nhập Niết bàn." –T.V.

Đoạn kinh này cho thấy ngụ ý Đức Di Lạc trước khi chánh giác cũng bửu sám lên Đức Thế Tôn để Chư Tổ sau đừng xưng Bồ Tát, Phật loạn như thời Hạ Lai Mạt Kiếp này nữa. Còn một chúng sanh tánh chưa tận độ tức chưa tròn đầy Đại Viên Cảnh Trí thì làm sao nhập Niết Bàn cho được.

Hàng Bồ Tát lâu lâu tùy thời cũng khuấy động vạn pháp, xem thân tâm có liền chưa mà tận độ chúng sanh tánh còn chưa xong. Vậy phải chờ thời kiếp nào diện kiến Chư Phật mới vào sâu tận độ nên bậc trí cạn tự hào xưng Phật hãy thận trọng hý ngôn.

Một hôm Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn phật nhập chánh định khai thị rằng ông Krishnamurti là một vị A La Hán còn rất xa mới lên đến Bồ Tát. Quả A La Hán tu đạt cao nhất là Đại Tiên rất nhẹ cảm dễ nhận biết nhưng những vi tế chúng sanh tánh di chuyển trong thân mạng chưa nhận được như hàng Bồ Tát thấu đạt thật sâu.

"Nầy hàng chư Tiên, các ông rộng hẹp chưa dung đồng bình đẳng, chỉ vì độc tôn bỉnh trị, do nơi ưa chuộng say đắm chốn uy quyền. Ta phải dạy sắc hương chớ vương trong pháp giới, buông thả tỏa muôn phương cúng dừơng tam thế chứng. Còn hàng thanh thoát của Chư Tiên do căn tánh hiếu kỳ, do lòng hữu hóa nên bị sống hóa sanh trưởng thành tài phép chìm đắm diệt sanh. Ta phải dạy tâm hành Kim Cang Đại Trí. Đến hàng Bồ Tát hiện tu đạt Phẩm Phổ Môn, cung kính phẩm cúng dường, rộng đường Bát Nhã vị.
Thiền sư vừa tuyên đọc xong, tất cả Rồng Người Tiên Thần Thánh Hóa cùng Bồ Tát trùm khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới tán thán. Chư Phật mười phương chứng minh đương thời Hạ lai Pháp Thân thị hiện giảng giải." –
T.V.

Tâm hành Kim Cang Đại Trí là tâm đã tu tự tánh đoạt Bát Nhã Trí. Không còn ảo vọng biết tu thực tiễn. Bậc có bát nhã trí không bao giờ bày ra công việc làm nhưng vạn pháp đến thì biết phải hành sự như thế nào cho tròn.

Thế nào là hàng Bồ Tát hiện tu đạt Phẩm Phổ Môn? Hàng Bồ Tát hiện tu đạt vạn pháp, độ nhất thíêt khổ ách, trực giác được trong tầng lớp lớp chúng sanh, có bậc tốt, tốt quá thành ngu. Càng tốt càng ngu nhưng dù thấy biết như vậy cứ tiếp tục đi tới tận cùng nghĩa vị tha. Đó là Chân Đế còn gọi là tu đạt Phẩm Phổ Môn.

Một chúng sanh làm một nghề gì đến giỏi tận cùng là chân đế đến thành công. Bậc này đã đạt Phẩm Phổ Môn. Như một bác sĩ hành nghề đến tận cùng của chân đế là nổi danh gọi là tu đạt Phẩm Phổ Môn.

Bậc tu toàn diện tận cùng của chân đế là Chánh Giác. Khi đạt đến chỉ cần một chân đế thôi thì bá thiên vạn chân đế khác nó đến cùng giống nhau hết. Bồ Tát rất cao, chúng sanh nói làm đủ điều cứ nhẫn nhục, đến khổ nữa nhẫn nại, đến khổ nữa nhẫn nhịn. Suy ra ai cũng phải nể hết. Đó là chân đế khổ, tu đạt Phẩm Phổ Môn.

Mỗi pháp là một chân đế. Chân đế là gì? Là chạy dài từ đầu kéo dài đến cuối cùng ở đầu kia là hết. Tất cả vạn pháp đều có chân đế. Đây là mê lầm, tận cùng mê lầm là tận giác, là chân đế. Bậc ác căn hành động thật ác, lúc ý thức được ác dẫn đến nguy hiểm nó đạt được chân đế liền hồi tỉnh đạt Phẩm Phổ Môn.

Tỷ như nước hôi thúi, đem lọc, lọc mãi hết cặn cáu, hết thúi hết hôi là nước sạch. Đó là chân đế. Hàng Bồ Tát phải hành, phải quan sát đến thành công Diệu Quan Sát là chân đế đạt Phẩm Phổ Môn độ nhất thiết khổ ách một cách thực tiễn, đâu có cầu vái van xin, đọc tụng tối sáng, chỉ hợp hóa bằng sự mới tu hành Quán Thế Âm Bồ tát, Tận cùng chân đế tận thành Quán Thế Âm Như Lai. Được chư Tiên Thần, Thánh cùng Bồ Tát khắp trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới tán thán, Còn Chư Phật mười phương chứng minh hiện tại Hạ Lai Đức Di Lạc thị hiện tận độ./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


47. Thời Kỳ Nhất Tôn Hoá Độ Nhất Thừa

"HÀNH DỤNG NHƯ LAI TẠNG"
Lộ trình Tu đi đến Vô Thượng Đẳng Chánh Giác của Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật.

 

Bồ Tát đi nơi Hữu Ngã mà thành Vô Ngã. Phàm Phu đi trong Vô Ngã mà thành Hữu Ngã.
Bồ Tát tu trì hạnh nguyện qua từng giai đoạn từ nơi Thanh Tịnh đến nơi Bất Tịnh từng lớp lớp chúng sanh, với chủ đích phụng sự cúng dường Như Lai thề nguyện Sự thành thử không ô nhiễm, không tập nhiễm chẳng mảy may chướng ngại sự việc mình đang hành, sự việc mình sắp làm ngày nay phải làm, chốn rỗng rang của Bồ Tát, duy nhất bậc tu chứng hạnh nguyện dung khắp mới tường tận mà thôi.

–BIỆT TÔN VÔ THƯỢNG ĐẲNG KINH

Thời kỳ Hoá Độ Nhứt Thừa, Ngài khai thị cho các bậc Tôn Giả tín thành, thiết tha đã từng qua pháp không chướng, không chấp. Cả đạo tràng Pháp Tạng có khoảng bốn hoặc năm vị Tôn Giả được dự vì từ hàng Thánh Hiền chuyển lên tu trì hạnh nguyện từ A La Hán đến Bồ Tát thực tế quá khó.

Đúng tinh thần Ngài biết trong vị lai Tôn Giả nào sẽ Liễu Ngộ mới khai dạy Nhứt Thừa để tu đến Giác Ngộ Rốt Ráo.

Tuy cùng chung trong hội trường nơi Đạo Tràng Ngài khai riêng cho lớp say đạo, cấp tu chưa say đạo đến không hề hay biết. Khi Ngài đang giảng mà có bậc nào không phải lớp say đạo vào ngồi nghe, Ngài liền chuyển pháp liền lạc cho hợp với trình độ của bậc này nên cấp tu thấp không hề hay biết Diệu Dụng của Ngài. Bậc Tôn Giả được Ngài khai hạnh nguyện, hành nguyện Bồ Tát, những bậc này thật tín tâm, nhẹ cảm những gì Ngài khai thị cho thi hành.

“Tuy nhiên các Ông cùng một lứa tu hành, cùng một môn tu trì Tri Kiến, nhưng thật ra giữa các ông với các ông trình độ, tư tưởng xa cách nhau quá ư nhiều bậc, chỉ vì quan niệm không đồng, pháp giới như vậy. Đứng về phẩm Bồ Tát đối với A La Hán, Duyên Giác, Thinh Văn xa hàng triệu do tuần.” –T.V.

Lời của Đức Vô Thượng Tôn rất chí tình một khi đã được ấn trao truyền thừa Bồ Tát Ma Ha Tát thì vị này thực tiễn là Thầy của họ trong vô số kiếp nữa, nhưng có quan niệm cùng chung một Thầy nên lắm lúc họ nói càn nói ẩu xem như trình độ ngang nhau. Bậc biết phải làm thinh vì cái Mê, cái Ta lầm lẫn của họ.

Sau Ngài khai thị: “Cũng như Tôi vì Diệu Dụng tận độ chúng sanh mà phải bị Nhân Sinh bạc đãi, vậy Ông phải tự nguyện nếu họ quay lại tìm, hồi hướng tùy chí nguyện ông dạy cho họ được Giác Ngộ, được Chánh Giác. Thực hành đầy đủ Như Lai vô biên thề nguyện sự ông mới tròn duyên tròn nguyện phẩm công đức cúng dường Như Lai mà thành Chánh Quả.”

Chư Bồ Tát là bậc tu hành đúng với Chân Tôn Chánh Tín. Bậc này đã nghe thấy biết tường tận pháp mê tín nên thường ngày tự có mạch sống thực tiễn liền lạc. Những bậc tu lâu năm tính theo tuổi kiết hạ, dù có tín tâm hay thiết tha tâm mà không thấy được chính mình bị mê tín, vẫn tu hành lạc hướng. Do đó không thể kể tu hành lâu năm hay mới tu. Cũng không tự thắp đuốc mà đi nổi.

Bồ Tát thường giải được mê chấp, đó là món ăn của Bồ Tát. Bồ Tát thường tự vận chuyển thông suốt vạn pháp di chuyển nơi tánh mình để pháp Hồi Tâm. Khi gặp hoàn cảnh khó vẫn an nhiên chú tâm hóa giải an lành. Đó là y áo Bồ Tát.

Bồ Tát đối diện trước nghịch cảnh dù gai góc gay cấn đến đâu vẫn tự quán biết rõ nhưng tâm không phiền trách đó là Bồ Tát Nhãn Tịnh, Nhĩ Tịnh liền có cái nhìn Chân Giác, quân minh vượt tầm tỏ thông cái thấy của A La Hán.

“Nhờ Đạo Hạnh kiên trì nên Bồ Tát mới đặng đôi mắt Nhãn Tạng vệ tinh soi khắp thế gian cùng xuất thế gian không lầm lạc.” –T.V.

Bồ Tát thường dùng ái ngữ cùng cử chỉ cao đẹp, làm cho chúng sanh ái kính, nhờ đó gần gũi chúng sanh mà biết tỏ tường nơi thếâ gian đến các cõi ngoài thế gian như Tiên, Thần không có lầm lạc. Bồ Tát biết từng Pháp Tánh từng Bổn Lai Diện Mục của mỗi mỗi chúng sanh bị thọ nhiễm ra sao, phải hành dụng như thế nào, Bồ Tát liền giúp đỡ tháo gỡ độc nhiễm rất kết quả khiến chúng sanh giải mê hết lầm.

Bồ Tát không hề chỉ thuyết pháp suông mà nhờ mắt Nhãn Tịnh, tai Nhĩ Tịnh, nên quan sát tỷ mỉ theo dõi chỉ bày chúng sanh áp dụng lối tu hóa giải ngay trong gia đình, trong chỗ làm việc. Sau kiểm tra chỉ bày ưu điểm, khuyết điểm dần dần chúng sanh bớt cái sai được cái đúng đến lúc không còn cái sai chỉ còn cái đúng. Bậc tu tín tâm được an lành thoải mái biết việc mình làm, ý thức lời nói dẹp tan được Vô Minh.

Hàng Bồ Tát không ngồi giảng Tham, Sân mà Hành Dụng, Diệu Dụng cho bậc tín tâm vào tham, vào sân sau va chạm bị hư hỏng thấy rõ mình bị tham, bị sân độc nhiễm liền tự tháo gỡ được an lành. Bồ Tát đã từng kề cận Chư Phật, đã từng trải qua tham, sân, si. Đã từng được Phật Diệu Dụng nay ắt phải biết cứu độ chúng sanh, cứu độ A La Hán được tỏ tường mà không dính mắc Tham, Sân, Si.

Thật khó gặp bậc biết hành dụng, diệu dụng chỉ bày Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh, Bồ Tát Hạnh.

“Bồ Tát biết công dụng Pháp Đảnh nơi đỉnh đầu Nhập Định Xuất Định diễn thông tam giới, có thể đo lường trọng lượng sắc thái nơi các cõi trong tam thiên vũ trụ, di chuyển từng sát na thoải mái, không khác nào các nước văn minh dùng phi thuyền khám phá vũ trụ, do nơi công năng kiến tạo tường tận không còn mảy may nghi chấp, bậc này thường nói: Ta chẳng còn lấy một nghi chấp nào cả.” –T.V.

Bậc tu đoạt được từ Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ đến Vô Thượng Đẳng Chánh Giác biết dụng pháp đảnh cao thấp rộng hẹp tùy mức tu chứng những bậc này đều nương theo thể tánh tỏ Thiền tức tỏ Thiền Tánh. Thể Tánh Thiền không khác với Pháp Tánh. Thể Tánh thiền nương chìu theo từng vọng khởi từng tà niệm của bậc tu chạy theo sự mong muốn thành giới hạn. Bậc biết nương theo Thiền tức nương theo Thể Tánh hóa giải mê lầm được biết rõ Thể Tánh vốn Viên Tịch, vốn sáng sẵn nơi Nhân Sinh. Lại tùy bậc tu hành thâm pháp giới tỏ rõ cạn sâu mà đoạt Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ, Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Những Bậc Giác Ngộ còn phải hành thâm vào Giới ra Giới, phải tinh tấn thi hành Tịnh-Bất Tịnh dung thông 10 năm, 15 hay 20 năm sau mới vào được Định. Nếu bậc tu Đại Ngộ sẽ được Đại Định, bậc tu Liễu Ngộ từ Đại Định lìa định vào Liễu Định. Bậc tu dám tiến sâu vào vô minh đúng mức liền thị chứng Diệu Âm, vào vô minh thêm nữa sẽ thị chứng không còn pháp nào cao hơn nữa... Nếu bậc tu đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác một thời gian sung mãn công năng công đức sẽ vào Chánh Định. Từ Chánh Định phải tu sống động nữa nơi Hữu Tướng Phi Tướng để từ Chánh Định vào sâu Thần Thông Tam Muội, tỏ tường trơn liền Tam Muội.

Bậc tu dù thuộc bất cứ pháp môn nào, tôn giáo nào cũng phải duy nhất tuần tự sở đắc từng phẩm như vậy. Đây là lộ trình Chư Bồ Tát đúng nghĩa đến với Như Lai Phật, Thượng Đế, Đấng A La không có con đường thứ hai nào khác. Ngoài ra đều là Man Khai Tướng Phật.

Phật thân và tâm là một. Còn chúng sanh thân và tâm là hai. Tu chừng nào thân tâm là một mới xuất định được. Có bậc thật giỏi, trí tuệ không chướng, không chấp, không mắc miếu khi Giác Ngộ một thời gian nhập định được nhưng lại không xuất định được. Chỉ dùng Định Tưởng để xuất Định theo Tiên Thần Trí, giới này nhiều vô số, thuộc ngoại giáo. Tu theo Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc mới thấy được biển cả bao la vô tận, phải đào, phải bới chẳng thiếu sót pháp mới có nhập, xuất Chánh Định. Thật khó khăn vô kể mà cũng an lạc vô kể, nó Bất Khả Tư Nghì, chẳng thể dùng văn tự giảng giải được.

“Quốc độ là hàm chứa trang nghiêm bảo pháp do Phật Lực hiện hành, Chư Bồ Tát an trú, do như thế nên bậc thiện căn, thiện chí đến mức nào chẳng làm thế nào nhìn nhận đặng.” –T.V.

Quốc độ chư Phật quá khứ cũng như quốc độ Đức Di Lạc Tôn Phật hiện hành đầy đủ trang nghiêm. Bậc tín tâm tu tập theo Ngài khi có hoàn cảnh đều được bảo bọc nơi Phật Lực đầy huyền diệu. Chư Bồ Tát đều được nương nhờ Phật Lực này tu hành. Khi bậc tín tâm cùng Chư Bồ Tát gặp hoàn cảnh không hóa giải nổi đều được Phật Lực đầy quyền năng, đầy mầu nhiệm chở che cho qua khỏi nạn tai khổ ải.

Có hạnh nguyện tu hành trong thời Hạ Lai Mạt Pháp gặp được Đức Di Lạc Tôn Phật mới nhìn nhận Phật Lực của Ngài đầy bao dung, tận độ chúng sanh khó nghĩ bàn. Những bậc càng Tin Vâng Kính, Ngài càng mở pháp nghịch. Có lắm lúc không chịu nổi bỏ đi nhưng dù có xa lánh ở đâu cũng được Phật Lực cứu độ hồi tỉnh, không khác nào Tôn Ngộ Không được cái vòng kim cô dính trên đầu do tâm Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ.

Số Chân Tử không phải thành phần xây dựng Đạo, họ ở vòng ngoài của tổ chức Trung Ương không hề hay biết. Thế mới biết cùng đạo tràng, cùng một hội trường mà lối tu thọ lãnh Chân Pháp của Ngài khác xa nhau triệu triệu do tuần. Thế cho nên dù bậc tu thiện căn, thiện chí đến mức nào chăng nữa mà không lập pháp xây dựng Chánh Pháp vẫn không hề nhận biết đường Đạo tận độ chúng sanh.

“Sau khi thành Phật thân tâm là Như Lai trùm khắp. Đối với bậc Chánh Giác thân vốn Như Lai, đó chính như nhiên không hai tướng.” –T.V.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký Bồ Tát Di Lạc thời Hạ Lai Mạt Pháp thành Phật. Lúc bấy giờ Đức Di Lạc đã sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Ngài đã phải Hạnh Nguyện hành thâm Pháp Giới. Đến nay đã được 2539 năm Phật Lịch mới thành Chánh Quả Phật. Thật khó khăn vô kể! Thời này Ngài quán xét lại có lắm bậc sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác học thuyết, giả thuyết mà hạnh nguyện vạn pháp còn cạn cợt vội xưng Phật trở thành Phật Giới bị lầm mê.

Như đã trình bày phần trước, vị Phật trước phải dạy chu đáo rồi thọ ký cho Bồ Tát thừa kế sau sẽ thành Phật. Nếu không, dù Chư Bồ Tát nào có sở đắc cũng vòng quanh lục đạo không sao nhập thể được, Vũ Trụ tức Như Lai không công nhận.

Phật phải có thể hiện hàng Thánh Chúng và Bồ Tát Thượng Thủ. Còn tự xưng Phật mà dạy chúng sanh, sau này chúng sanh niệm chúng sanh nghe, còn xa chân lý và vô minh dầy đặc nên không nhập thể vũ trụ được, phải học chư Tổ, chư Thánh cho xong đã.

“Nơi kinh Duy Ma, ông A Nan xin sữa, ông Duy Ma quở trách: Ông A Nan, ông chớ nên nói thế, Như Lai bất diệt, Như Lai nào có bệnh, ông nói như thế bọn ngoại giáo nghe, họ tự sanh lòng sanh diệt, làm cho A Nan bở ngỡ chưa phân định được, liền bưng bình bát trở về. Sau đó trên hư không mới gọi: Ông nên lấy sữa để Đức Thế Tôn dùng. Vì tất cả chúng sanh đang bệnh nên Phật mới thị hiện bệnh, chớ nào phải Ngài bệnh.” –T.V.

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Vị Cổ Phật Duy Ma giải thích cho ông A Nan để cho đời sau khỏi lầm: Chúng sanh Tướng và Tâm là hai còn sanh diệt. Hàng Nhị Thừa cũng còn sanh diệt. Còn Phật Tướng Tâm là một. Thân Phật tức thân Như Lai. Đức Bổn Sư và Đức Di Lạc đều đoạt được Kim Thân nên thân tứ đại muốn ở hay vào Niết Bàn đều tùy ý. Chúng sanh tánh chư Phật không còn bệnh gọi là Phật Tánh. Chúng sanh tánh Tứ Chúng tu theo Ngài còn bệnh nên Đức Bổn Sư mới thị hiện thân Tứ Đại bệnh để chỉ cho Tứ Chúng biết.

Thời Đức Di lạc tôi đã từng chứng kiến, Ngài bảo quyết ban Bảo Châu cho Tứ Chúng nhưng số đông đều bị lầm Đức Vô thượng Tôn Di Lạc bị bệnh tai biến mạch máu não. Vì tất cả chúng sanh đang bị bệnh thiếu trí nên Đức Di Lạc Tôn Phật mới thị hiện bệnh tai biến mạch máu não. Ngài nhớ lại Đức Bổn Sư bảo Ngài thời Mạt Pháp phải thị hiện thân điên loạn để tận độ chúng sanh nên Ngài bắt đầu đuổi, khai trừ, làm dữ các Chân Tử vòng trong, cho số Chân tử vòng ngoài quậy, canh giữ, đuổi để bậc tín tâm không vào thăm Ngài được. Vì lúc này Ngài đang mở khoa thi lần thứ hai.

Những lần Chân Tử thuộc vòng trong thấy tình hình khó khăn không về thăm, Ngài liền nhắc, nhưng khi nghe tin đến thăm liền bị Ngài đuổi, bậc hỷ xả phải ở ngoài phòng chờ dịp nhìn qua cửa để thăm Ngài. Ngài dụng nhóm con cháu Đề Bà Đạt Đa, thừa dịp này họ lộ diện ác căn rất rõ đểõ đuổi số Hộ Pháp, Tôn Giả, Bồ Tát tín thành đang ở quanh Ngài. Vì có thị hiện bệnh tai biến mạch máu não nên Ngài mở cho đánh mới hợp với như nhiên, chính Như Pháp. Còn như Hòa Thượng Tế Điên không bị bệnh não mà thị hiện Phi Tướng nên không phải Như Pháp, thuộc La Hán Hạnh.

Bà Tạng Trình hàng Tôn Giả ở sát bên Ngài cũng lầm, cứ nói Ngài bệnh, thật ra Kim Thân tức Như Lai nào có bệnh, Tứ Chúng bệnh Ngài mới thị hiện bệnh để đưa qua ngăn chấp, nghi chấp làm cho họ thọ lãnh bảo châu tức Như Pháp. Còn những kẻ thừa dịp trổ hình chướng đối được dịp tha hồ đem lòng xấu xa, ganh tỵ cố đánh, giết hàng tín tâm tu vòng trong đã thể hiện rõ con cháu Đề Bà Đạt Đa thuộc Ma tằng quỷ quái, hải tặc sơn lâm. Ngài thị hiện bệnh não cho đánh đập dữ dội một số trên 10 vị trong danh sách vòng Trung Ương vì nó là Như Pháp nên không ai chấp chướng trái lại tìm đủ cách phục vụ cho Ngài khỏe. Vào Nhứt Thừa tu khó khăn vô kể!

“Thật cao quý thay! Có mỗi một điểm tựa nhỏ mà Chánh Báo vô tận, thân tâm bao dung, biết trọng cho tất cả mọi người, tha thứ cho tất cả mà tự đặt mình vào cương vị quá ư tuyệt mỹ. Do đó nên chi Bồ Tát phát Đại Nguyện rằng: Như Lai vô biên thề nguyện sự.”
–T.V.

Chỉ cần nhận chân được Như Pháp nơi Ngài thị hiện để tận độ chúng sanh tánh, chỉ một khởi điểm nhỏ liền vào con đường Tri Kiến Giải Thoát mà Chánh Báo vô tận vậy. Dù bị đánh đập, vẫn không giận Ngài, không oán hận con cháu Đề Bà Đạt Đa gây tác tệ, thân tâm được bao dung, được xem như phẩm trợ duyên nghịch hành, thật quá ư tuyệt mỹ.

Hàng Bồ Tát mà chưa thấu đạt được Kim Thân Phật Lực thì chưa nhẹ cảm thấy hết Như Pháp. Như Pháp chính là Vô Sư lúc bấy giờ mới tự giác thi hành Ma Ha Tát được. Tề Thiên trong Tây Du Ký là tượng trưng cho Trí của Tam Tạng Pháp Sư, dù cho Tề Thiên Đại Thánh có làm được việc siêu phàm, nhảy xa cuối chân trời vẫn được Chư Phật bảo bọc, có nghĩa lúc nào Phật Lực cũng hiện hành tận độ. Cho dù Tề Thiên Đại Thánh có tài trí đến đâu cũng phải tôn Pháp Sư Tam Tạng làm Thầy chỉ giáo cho. Ý chỉ có Trí phải có Đức. Đức Trí tương song mới Sở Đắc Chân Nguyên.

Trong Long Hoa Hội Thượng, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc thường chỉ bày rất chu đáo cho những bậc có Trí phải thi hành tạo Đạo Đức cho tương song. Có Trí sống trong đời lanh khôn hơn Nhân Sinh nhưng làm theo Trí, ăn trên thiên hạ rồi cũng đến lúc sụp đổ nát tan trông thê thảm, nên cần tạo đạo đức mà trí kém còn có lợi cho đời hơn. Những vị hộ Pháp cần tạo Đạo Đức là những vị đạo đức kém. Cần chú tâm quán xét kỹ, phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, phải bình tĩnh chọn lựa ác và thiện trước khi hạnh nguyện để khỏi rơi vào ác căn.

“Bậc tu hành lúc qua trở lực, khi tận thấu diễn hóa vạn pháp mới biết đặng không có Ma Tánh, qua từng trở ngại vi tế, do nội tâm phát hiện mới liễu thông sự ngăn cách cản trở nơi Ma Nghiệp, nơi nghiệp lực của Ma Lực nó rất đáng kể. Khi các bậc tu hành qua các trở lực, nhiếp độ trong sạch căn tánh liền Chân Giác ba cõi, sáu đường trở thành tự tánh Pháp Thân, rốt ráo Pháp Thân mà Chánh Giác Bát Đại.” –T.V.

Trên thực tế Bồ Tát tu hành theo sự chỉ đạo của Đức Di Lạc Tôn Phật thật khó khăn vô kể, cứ mỗi lần hành nguyện là mỗi lần bị pháp cản ngăn, nó liên tục làm tê liệt bậc chí nguyện Bồ Tát. Đến nỗi nhiều Tôn Giả phải bỏ cuộc, hoặc dang dở thấy khó sinh ra chán cũng bỏ. Số này rất đông mặc dù họ thông chân lý, cuối cùng thích ngồi thuyết pháp dễ hơn nên bị thọ chủng Thinh Văn Hạnh không sao lập Duyên Giác Hạnh cho tròn được.

Hiếm hoi lắm Ngài mới có được một Bồ Tát vượt qua được các trở lực, mới thấu đạt vạn pháp diễn hóa. Chừng đó mới tự giác không phải do Ma Tánh. Chỉ cần ý thức vượt qua từng trở ngại nơi thân tâm thành một, không còn Ma Nghiệp gọi là nghiệp lực cản ngăn. Vừa độ khổ vừa chí bền theo nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát mới chí nguyện gần Phổ Hiền Bồ Tát vào Nhứt Thừa được.

Tất cả bậc tu cho đến chúng sanh vì còn làm biếng mới phải làm siêng gọi là Tinh Tấn Hạnh Nguyện, chứ một khi đã không còn làm biếng thì đâu cần làm siêng tinh tấn. Nếu tinh tấn nữa vẫn là bệnh. Pháp của Nhứt Thừa, Bồ Tát việc đến biết làm nên không sanh pháp. Chúng sanh còn làm siêng làm biếng nên còn sanh diệt. Tương đối pháp là mê lầm. Tuyệt đối pháp là Giác. Đến lúc làm gì cũng đúng liền Thị Chứng Vô Thượng Đẳng Chánh Giác.

Bậc tu hạnh nguyện không ngoài ba cõi sáu đường, sạch sẽ trơn liền tự đạt được rốt ráo Pháp Thân Bát Đại. Bát đại là tám (8) Đại đều được như nhiên Đại Thanh Tịnh: Địa Đại, Thủy Đại, Phong Đại, Hỏa Đại, Hư Không Đại, Tạng Thức Đại, Như Lai Đại, Giác Tướng Đại.

“Bằng chưa Chánh Giác, nơi tự tánh, tự ngã pháp thân thời thảy đều Pháp Giới Phật Giới. Khi đã vương nơi Phật Giới an trụ Pháp Thân, thời gian liền thị hiện Tam Giới độ sanh Tận Giác Vô Thượng Đẳng Chánh Giác Bát Đại Niết Bàn.” –T.V.

Bậc an trụ nơi Phật Giới bị bản ngã, Pháp Thân chưa hạnh nguyện đầy đủ, cần phải đi trong ba cõi, sáu đường độ sanh chẳng thiếu sót pháp giới nào nữa mới gọi là Tận Độ. Có Tận Độ mới mong được Tận Giác Vô Thượng Chánh Giác Bát Đại Niết Bàn. Tận độ thật quá khó khăn. Vì phải hành pháp lạ nên chẳng mấy ai qua nổi.

Muốn thấy vật lạ. Phải làm sự lạ.
Pháp lạ khó nghe. Cần hỷ xả.
Tất cả thiện ác. Không chấp không chướng, tâm ý dung thông.
–VÔ SƯ KINH

Làm sự lạ phải cầu Chư Phật Chánh Quả khai thị, vận chuyển vạn pháp lạ được mới thấy điều kỳ diệu. Pháp lạ khó nghe. Nghe gì cũng không chướng đối, cũng không nghi chấp cần tỏ tường pháp tánh rồi hỷ xả đến lúc khó nghe mà vẫn nghe một cách tự nhiên tâm trơn liền không nhàm chán lại còn tìm đủ phương thức cầu tiến không ngừng.

Cái nghe, cái thấy phải hạnh nguyện tự giác như vậy. Đến cái biết dù nhỏ cũng chú tâm quán sát chẳng lơ là, còn cái biết dù lớn cũng không tự mãn, tự kiêu. Càng độ chúng sanh tánh càng hiểu biết rộng thêm cũng vui mừng, nhưng không trụ mừng. Đến tận biết sở đắc Vô Thượng Chánh Giác. Tu như vậy không bị thọ Phật Giới. Bởi vậy mở đầu khai kinh, Tôn Giả A nan ghi: Khai kinh kệ, Vô Thuợng thậm thâm vi diệu pháp. Nơi bá thiên vạn pháp khó gặp Phật Vô Thượng Chánh Giác có đầy đủ chủ quyền Phật Lực thành Phật. Nếu gặp được Phật là căn cơ sâu dày mầu nhiệm mới nhận lãnh lời văn đắc Chân Lý bảo trì, lại nguyện giải toàn Như Lai Pháp thành chân thật nghĩa.

“Thời quá khứ tiền thân Đức Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật còn hiện thân Bồ Tát gọi là Thường Bất Khinh Bồ Tát nơi kinh Pháp Hoa:

Khi bấy giờ Thường Bất Khinh Bồ Tát sở đắc Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội. Nhìn thấy tất cả chúng sanh đều là ứng thân Phật thị hiện. Ngài đặng biết đồng ứng Như Lai, làm hàng bá thiên Vạn Hạnh đi, đứng, nằm, ngồi đầy đủ tư cách tốt xấu, sạch dơ. Ngài liền đến từng người lễ bái thưa gởi: Chính các ông là Phật. Tất cả thảy đều cho Thường Bất Khinh điên. Chớ nào hay nào biết đặng bậc say sưa đánh cờ kia mà say sưa Đạo Phật tu vẫn thành Phật. Kẻ chơi Tiên chìm đắm nọ mà tu trì chìm đắm tỏ ngộ vẫn đặng thành Phật thì sao? Đó là không giới tròn giác vậy.” – T.V.

Bồ Tát sở đắc Tam Muội mới hành dụng tận độ chúng sanh tánh theo một con đường duy nhất mà Chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai đều phải trải qua một lối, phải chung một đường. Ngài nhìn thấy tất cả chúng sanh vốn có Phật Tánh, vốn sẵn có bá thiên vạn hóa thân, thân nào cũng là Phật hiện cả nhưng vì mê lầm do tham sân si rồi tranh giành hơn thua đủ muôn ngàn lối nên Phật tánh bị che ẩn không hiện được.

Chư Bồ Tát nào cũng phải biết thị hiện xác thân này vạn hạnh mới tận độ hết chúng sanh tánh nên Ngài lập hạnh làm cho chúng sanh khinh chê để phơi bày hết pháp tốt xấu, sạch dơ. Từ đó xem xét tâm đã trơn liền chưa, nếu thấy còn chớp động phải tự nguyện hành dụng cho sạch gọi là tận độ. Thực hiện xong Bồ Tát thành tựu hạnh Thường Bất Khinh có nghĩa chúng sanh khinh chê mà Bồ Tát không thấy có bị khinh chê, không thấy oán hờn mà lại càng hỷ xả để cúng dường Như Lai.

Cho nên chư Bồ Tát không một pháp nào chẳng hạnh nguyện, cốt để tự độ và tha độ. Chúng sanh, bậc Nhị Thừa thường khinh chê Bồ Tát nên bị bê trễ không theo kịp con đường Chư Bồ Tát đã đi. Thật khó có cơ hội gặp lại để cầu Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo.

Hàng Nhị Thừa thấy hạnh Thường Bất Khinh của Bồ Tát, vội hùa theo nguyền rủa bị tổn thương không còn bảo trì công đức thật tai hại ắt bị sa Địa Ngục thọ báo.

Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi còn hạnh nguyện Bồ Tát đã thực hành hạnh nguyện Thường Bất Khinh đến thời Hạ Lai Mạt Pháp Đức Di Lạc Bồ Tát cũng lập hạnh Thường Bất Khinh sau lập Trang Nghiêm Hạnh thành tựu Phật Quả. Đường đi trước và sau của Chư Bồ Tát cầu Diệu Quả Bồ Đề phải hiện Sắc Thân Tam Muội mãi cho đến khi hoàn toàn viên mãn. Không có con đường nào khác, chỉ duy nhất một con đường Nhứt Thừa này để thành tựu vào Tối Thượng Thừa.

Chúng sanh thấy hạnh nguyện Bồ Tát chớ nên chướng đối mà bị tổn thương quá to lớn, cũng chớ nên dung dưỡng trông đợi ảo mộng tối tăm. Hãy nhìn, hãy nghe nơi thị hiện sắc thân Tam Muội của Bồ Tát mà sở đắc tự biết Không Tướng đến Giác Tướng. Giác Tướng là Tướng Phật.

Bồ Tát cầu Diệu Quả Bồ Đề không lập giáo môn chỉ do chúng sanh đa bệnh mà Bồ Tát phải đa hạnh. Thời Hạ Lai vẫn không lập giáo môn chỉ tùy căn sâu cạn, tùy duyên lơi, duyên thiết tha mà hóa độ thôi. Bồ Tát ắt phải am tường đường đi của chư Phật hiện tại vừa Bát Đại Niết Bàn nên chỉ chuyên hóa giải quan niệm tạo thành nghiệp cứu độ chúng sanh. Trong hư không không thấy vết chân Chư Phật nhưng Bồ Tát tìm lại được dấu vết Chư Phật đã đi nay theo không hề có lạc đường.

Trong hư không, không còn dấu vết mà tìm được dấu vết mới thật vi diệu nên Bồ Tát nhất tâm cổi giải an lành như nhiên cho chúng sanh cùng hàng Nhị Thừa, hàng A La Hán tu chứng mà thôi. Bởi vậy kẻ say mê đánh cờ, bậc thọ nhiễm Tiên Đạo nếu lìa chấp, lìa chướng gặp Bồ Tát vẫn được chỉ dạy thoát chìm đắm đặng Giác Ngộ. Phẩm Phật Quốc trong kinh Duy Ma như sau:

“• Trực tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không đua vậy sanh sang nước đó.
 • Thân tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó.
 • Nhẫn nhục là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ 32 tướng tốt sanh sang nước đó.” –T.V.

Tu lâu lên chức Đại Đức, Hòa Thượng mà khi già bệnh hoạn rồi hôn mê chết do tại sao?

Thân theo tư tưởng, nói sao làm vậy nên còn đang làm chúng sanh Hộ Pháp tức Chúng Sanh Tăng. Do đó thân với tâm là hai. Chừng nào chịu tu sửa đến lúc tâm nghĩ như thế nào thân làm y vậy là một thì sở đắc chân lý.

Thích suy nghĩ, học, tụng kinh, xem kinh rồi thuyết giảng thì hay. Còn chịu khó, chịu khổ làm để sửa tánh, sửa tật xấu thì không làm, Thân Tâm thành hai là chúng sanh. Chân lý chỉ có một đường duy nhất là Giác. Nhiều bậc rất tin tướng Phật, cốt Phật mà không chịu tu Tâm. Có lúc Tâm chịu tu mà thân không chịu hành nên không có Trực Giác. Chư Bồ Tát Thân Tâm là một, Tâm và Pháp tái hợp làm một đó là Tịnh Độ của Bồ Tát.

Bậc tu còn tâm thức động vọng nên cần Thiền Định đạt Tịnh Tâm. Đã tịnh tâm đương nhiên tịnh độ của Bồ Tát chừng đó mới có Trí Huệ. Trí Huệ không mắc miếu nơi đâu thì đâu đâu cũng đều là Tịnh Độ được tận thấu Trực Tâm.

Thiền Định và Tịnh Tâm vốn là một, nếu là một liền có trí tuệ. Không Thiền Định không phát triển Trí Tuệ, không có Trực Tâm. Nương nhờ Thiền Định mới Giác. Thời Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật, Ngài dặn dò rất tỷ mỉ, nhiều bậc tu làm biếng Thiền Định hay gặp hoàn cảnh khó khăn bỏ Thiền nên Ngài dỗ dành khuyên bảo không khác ông cha thương đàn con còn dại khờ.

Bậc tu còn thân tâm là hai, dù tu lâu năm khi chết vẫn còn sanh tử chớ không đi đâu được. Khi thân tâm là hai thì tâm và pháp cũng là hai nên phản nhau cũng như bậc tu theo chư Phật, tâm muốn tu giác nhưng pháp đến mình chê. Rõ ràng tâm và pháp là hai nên không được về Tịnh Độ. Khi thành Phật chúng sanh tánh đã được thanh tịnh cũng được trả về Quốc Độ Chư Phật, được sanh sang Phật Quốc.

Nhẫn nhục mà biết hóa giải vạn pháp trong Đạo Hạnh sẽ trực giác Tịnh Độ của Bồ Tát. Còn gọi là Nhẫn Nhục Tam Thừa. Chúng sanh nhẫn nhục cứ làm thinh không tu sửa, không hóa giải, thời gian hóa khờ không có trí tuệ.

“Bồ Tát nương nơi Công Đức Như Lai. Tĩnh tọa an nhiên, đồng thuyết pháp cho vô số chúng sanh nơi mình đặng nghe pháp, lãnh hội lời thuyết ngôn, tất cả thảy đều đặng nhiều môn giải thoát, đó là những vị đã từng Cúng Dường Như Lai nên ngày nay mới nói như thế.” –T.V.

Bồ Tát không soạn bài chuẩn bị giảng, cũng không nghiên cứu kinh để thuyết pháp bao giờ. Bồ Tát thân cận Tứ Chúng cùng chúng sanh, nương vào họ lập công đức tu hành thực tiễn, nhận chân được nghe thấy biết chính là Như Lai Pháp tùy căn bệnh của chúng sanh, cùng căn bệnh bậc tín tâm rồi từ đó thuyết pháp đúng thọ chủng, thọ nghiệp của họ, làm cho chúng sanh cùng bậc Tín Tâm tỏ thông Giác Ngộ. Chính hạnh nguyện như vậy mà Bồ Tát được nhiều tài liệu, nhiều môn giải thoát để Cúng Dường Như Lai đặng thành Phật.

Bồ Tát dần dần trực giác chu đáo Thinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, La Hán Hạnh tận thấu không còn ưa thích cá nhân cá tánh, chỉ nương pháp Như Nhiên nơi mình, nơi chúng sanh, nơi bậc tín tâm để tận độ.

“Thời bấy giờ có vị Thiền Sư Bồ Tát, sở đắc thần thông, dạo khắp tam thiên thế giới rồng người. Khi dùng Lậu Tận Thông biết đặng nghiệp lậu chúng sanh. Dụng Tha Tâm Thông tỏ rõ tâm trí rồng người. Dùng Túc Mạng Thông quán sát tuổi thọ từng các cảnh giới. Dụng Thần Túc Thông tận rõ nơi thọ ngã chư Thiên Tiên.” –T.V.

Có tu ở gần Đức long Hoa Tăng Chủ mới chứng kiến Ngài có đầy đủ Lục Thông thị hiện nhiều vô số vi diệu pháp, để tận độ Tứ Chúng trong đạo và nhân sinh cùng tứ loài thời Hạ Lai Mạt Pháp này. Ngài biết tất cả nghiệp căn, nghiệp lậu của từng Chân Tử, lúc nào cũng khai thị cho họ tháo gỡ đến tỏ thông nghiệp lậu. Bởi vậy, Ngài thường diệu dụng phi tướng cho bộ Trung Ương nhưng số này vẫn tin vâng kính Ngài. Những bậc cùng tu trong Long Hoa Hội mà thờ ơ, ở vòng ngoài không khi nào biết rõ diệu dụng của Ngài. Họ được Ngài hoá độ thuận hành, cuộc sống được sung túc vật chất như ý họ mong cầu.

“Thiền Sư Bồ Tát tận dụng thường dùng Ngũ Nhãn, Lục Thông, đo lường tất cả Nhân Thiên, Tiên loài thảy đều chánh báo bị sanh gây tạo thân hình, thân mạng không thực thể. Vị Thiền Sư Bồ Tát ngạc nhiên tự thốt ra nơi cửa miệng: Lạ thay! Có thân mạng chưa có chủ quyền, sống theo sanh diệt đồng ứng chưa tận giác chỉ là con nộm mà thôi.” –T.V.

Đức Di Lạc trong thời Hạ Lai Mạt Pháp này chứng thị tất cả bậc tu từ nhân sinh đến Tiên Thiên do nghiệp chủng mà bị sanh thân mạng như đã hành động. Ăn ở, sinh sống, tập nhiễm như thế nào thì khi chết lai sinh về nơi ấy mà thọ hưởng Chánh Báo, Thọ Báo phân minh.

Có thân mạng chưa có chủ quyền: Thân mạng không tu Tri Kiến Phật, Phật Tri Kiến thì không có chủ quyền Phật Lực. Chỉ có Ma Lực nên thân mạng bị nó sai khiến không kiềm chế được, thân chỉ là con nộm múa may quay cuồng theo người tạo ra con nộm.

Bậc tu không theo vết chân chư Bồ Tát ắt bị Ma Lực sai khiến. Thân làm theo ý Ma Lực điều động phải sống sanh diệt tức theo sanh tử luân hồi. Bậc tu dù tín thành, thiết tha mà chưa thấu đáo đúng đường dây sanh tử thì có tu bao lâu chăng vẫn bị sanh tử luân hồi như chúng sanh. Thời Hạ Lai Ngài dùng Ngũ Nhãn, Lục Thông khai thông đường đạo cho Tứ Chúng trong 37 năm tại thành phố Nha Trang, Sàigòn, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế nhưng số nhận được sở đắc chân lý cũng quá hiếm. Tu hành khó như vậy mà nhiều bậc chưa tỏ đường dây sanh tử vội xưng Thánh, xưng Phật là do Ma Lực làm chủ điều động. Chính nhiều bậc bị nó xâm chiếm toàn thân mà không hề hay biết. Thật lạ thay cho sự tu hành Thọ Ngã.

“Nay ta công dụng Thần Thông đồng ứng Nhãn Tạng Trí Hóa đặng biết vẫn lầm nơi pháp giới tận biết, từ ngoài đến trong từ trên đến dưới mà chưa Tận Giác thân mạng nơi ta, chưa thấu tường tận bản thân thị chứng đường dây sanh tử, thì làm sao tận giác?

Vị Thiền Sư Bồ Tát tự hỏi xong, lặng lẽ đến một phiến đá an dưỡng, đồng soi khắp thân tâm qua hàng trăm tuần nghìn lớp lớp, thời gian tận giác Chứng Thị Chánh Giác.” –T.V.

Ngài Khai Thị cho các Chân Phật Tử.

Khi Ngài còn đang hành nguyện, Đức Di Lạc nhắc nhở lớp Bồ Tát theo sau cần tự soi khắp thân tâm từng lớp lớp chúng sanh tánh, từng tư tưởng khởi sanh khởi diệt mới mong tận giác từng tư tưởng mà thấu đạt Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông đến Chánh Giác. Chính Ngài còn phải soi khắp thân tâm tỷ mỷ rồi ghi chép lại để Bồ Tát đi sau cũng phải tận tâm tu, tự soi như vậy nếu không dễ bị Ma Lực điều động. Một hôm có một chân tử theo Ngài ở Bình Định trời nóng bức sau cơn Thiền Định ông này mong có gió đến cho khỏe, bỗng gió thổi mát lạ thường. Vị này liền mừng rỡ tin mình đã đồng ứng với Như Lai vũ trụ, sau tự cho là đã giác.

Ngài ôn tồn khai: Chưa có chủ lực, chưa Chánh Giác mà ước gì có đó là Tưởng. Thuộc loạïn động do Ma Lực điều động chớ nên thọ chấp. Cứ hóa giải, cổi giải chừng nào Trực Hiện mới thật. Ma Lực rất tinh khôn nó biết hết, thấy hết, nghe hết ý nghĩ nơi ta nên hóa cho ta bị lầm. Nếu không có Ngài, thật bị lầm truyền kiếp. Ma ba tuần trong ta nó chỉ chờ một sơ hở nơi cái muốn, cái vọng là gạt ta, chớ nên vội tin nó. Nhiều bậc còn bị nó gạt là ông này, ông nọ, nó nói tới nói lui làm bậc tu tin lầm nơi nó.

“Phật ra đời tùy căn cơ, căn tánh lần đưa cho chúng sanh tánh biết Hướng Thượng mở mang tâm thức trở thành Bồ Tát Tánh. Bồ Tát Tánh có đồng thể chất bao dung giúp đỡ từng lớp chúng sanh không quái ngại, lấy sự tiến hóa nơi chúng sanh giới về với chính bản thân Bồ Tát an vui. Phật Tánh cũng như thế.” –T.V.

Mỗi chúng sanh tánh chính là mỗi tánh. Mỗi con người cho đến Chư Thiên, Chư Tiên có vô số tánh gọi là có vô số chúng sanh tánh. Chư Phật ngự trên tòa sen, tiêu biểu mỗi cánh sen là một chúng sanh tánh, Phật đã điều ngự. Ngự chế được tất cả chúng sanh tánh nên mới ngồi trên tòa sen. Hoa sen sống ở bùn dơ hôi tanh. Phật ngự trên tòa sen tiêu biểu cho trong thế gian có đầy đủ chúng sanh, tánh tình tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố, thường, lạc, ngã, tịnh. Từ thế gian Ngài kiên trì tu hành, mỗi khi gặp diễn cảnh nan giải liền hướng thượng. Hướng thượng là chủng tánh Bồ Tát. Có hướng thượng tâm thức được khai thông rộng rãi, bao dung lại biết tận độ chúng sanh đi vào con đường vô sanh không còn quái ngại, Bồ Tát được an vui. Còn chúng sanh khi gặp lúc khó khăn, gay cấn tánh tình vặc mắc xấu xa gọi là Ma Tánh phải sống trong biển khổ sanh tử.

Khi tu hành đến Chánh Giác, tất cả chúng sanh tánh sạch dơ, tốt xấu không còn bị nhiễm được sung mãn công đức gọi là Phật Tánh. Trong mỗi cánh sen có một vị Phật ngự, đó là Phật Tánh. Chư Phật diệu dụng lúc tận độ chúng sanh lấy ra dùng, nó thường còn, bất tăng bất giảm, lại vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Điều ngự xong chúng sanh tánh Chư Phật tận thành Phật Tánh, danh hiệu Điều Ngự Trượng Phu là một trong mười danh hiệu của Chư Phật mười phương.

“Khi Bồ Tát tự nguyện cúng dường Như Lai Phật. Chư Bồ Tát đồng hiện đồng hóa, trở thành Mật Thể và Như Tướng, vì như thế nên chi Bồ Tát mới hóa thân sơn hà đại địa chủ yếu mát mẻ Như Lai, Ứng Cúng Chánh Biến có từng lớp lớp, từ cây cỏ đến suối đào, từ ẩm thực đến hoa quả. Thế giới gọi là Thiên tạo.” –T.V.

Đứng về cái nhìn nơi Phật, từ kẻ ăn mày khổ sở đến hàng vua chúa, quan quyền đều là Bồ Tát hóa thân vạn hạnh. Cho nên Bồ Tát cần phải tự nguyện hành thâm pháp giới đủ vạn hạnh chẳng thiếu sót, chủ yếu cúng dường Như Lai mà tận thấu Như Tướng, Như Tướng chính là Mật Thể. Cho đến sơn hà đại địa, cây cỏ cùng thiên nhiên đều là hóa thân Bồ Tát từng lớp lớp. Thế mới biết nương nhờ nơi chủng tánh hướng thượng thực hành tinh tấn được kiến diện Như Lai quá ư to lớn vậy.

Chúng sanh không dám đánh đổi, hơn thua, nhỏ nhen, bủn xỉn, keo kiệt thuộc ma tánh bị ô nhiễm thì làm sao hiểu thấu được Bồ Tát hạnh nguyện vạn hạnh. Dưới mắt Phật chỉ thấy Bồ Tát không thấy có chúng sanh. Vì sao? Vì tất cả chúng sanh tánh đối với Chư Phật đã trở thành Bồ Tát tánh, Phật Tánh nên dưới mắt Phật chỉ thấy Bồ Tát. Còn bậc tu chưa Chánh Giác chưa gặp Phật chứng minh tâm ấn cũng không tự xưng là Bồ Tát được.

“Đồng thời chư Bồ Tát hiện hàng hàng lớp lớp pháp giới để thọ giới đầy đủ trang nghiêm cung thỉnh Như Lai Phật cúng dường ngôi Tam Bảo tất cả các Bảo Châu, Ngọc Bích, Xa Cừ, Mã Nảo, San Hô, Hổ Phách cùng Long Phướng Xe Giá, kèn trống tiễn đưa đón rước Chư Phật mười phương tề tựu đàm luận cùng thảo luận. Bồ Tát chủ yếu chứng tri công đức, Bồ Tát tự nguyện, an trú pháp giới cúng dường, từ đời đời kiếp kiếp. Có như thế, hành như thế nên chi Chư Bồ Tát thảy đều là cái dụng của Như lai.” –T.V.

Dưới mắt Phật không thấy chúng sanh, chỉ thấy đâu đâu cũng hiện Bồ Tát Tánh, Phật Tánh trùm khắp từng lớp lớp. Mỗi Phật Tánh là một pháp giới có phẩm chất riêng gọi là Bổn Lai Diện Mục pháp giới. Tất cả đều cung kính đầy đủ trang nghiêm trong thể Như Lai Phật cúng dường Như Lai Phật những vật quý nhất như Bảo Châu, Ngọc Bích, Xa Cừ, Mã Não...

Mỗi Phật Tánh hay mỗi Hóa Phật thảy đều hiện Tịnh Bất Tịnh trong thể Như Lai càng làm tăng thêm sự trang nghiêm để cúng dường Như Lai. Bồ Tát Tánh, Phật Tánh là cái dụng của Như Lai, Chư Phật sử dụng rất tận tỏ tường. Mỗi Bồ Tát Tánh là hóa thân của Bồ Tát nên tự an trú pháp giới trong thể Như Lai, vì sẵn chủng tánh hướng thượng mới được gọi cúng dường Như Lai Phật đời đời kiếp kiếp từ vô thủy vô chung nên Bồ Tát được tăng trưởng Chánh Báo.

“Khi bấy giờ Bồ Tát mong Tri Kiến Phật thì làm như thế nào để Tri Kiến? Bồ Tát phải giải giới, Bồ Tát phải tận độ chúng sanh giới, do đó nên chi Bồ Tát nhìn thấy tất cả đều là vạn pháp ràng buộc chúng sanh chịu giới cực khổ, Bồ Tát nguyện đem thân mạng, trí huệ, tay chân, đầu cổ bố thí chúng sanh thoát khỏi pháp giới, làm nơi an lành của Bồ Tát Nguyện.” –T.V.

Hàng Nhị Thừa tu hành chưa có chủ lực để điều động vào giới ra giới. Bồ Tát phải là bậc đã trực giác được Bồ Tát Tánh nên vào giới ra giới được dung thông. Chúng sanh giới còn chìm trong chủng tánh riêng tư, không siêu độ được phải bị trị trong vòng đai pháp giới tức trong biển khổ. Bồ Tát đem hết tâm trí, tín thành làm đủ phương tiện Hữu Tướng Phi Tướng giải giới cho chúng sanh thoát khỏi pháp giới. Bồ Tát không có ô nhiễm hỷ, nộ, ái, ố nên cứu độ tất cả chẳng còn ô nhiễm vạn pháp. Bồ Tát vì lòng bi nguyện đem thân mạng, trí huệ, tay chân, đầu cổ bố thí cho chúng sanh chẳng thiếu thứ gì nơi Bồ Tát làm cho chúng sanh được an lành. Đó chính là Bồ Tát đem hết tâm lực, đem cả bộ óc, đem cả thân mạng chú tâm hóa giải cho chúng sanh đạt được vào giới ra giới, tròn giới... Chánh Giác.

Còn ở hàng chúng sanh, tâm tánh eo hẹp, trí nông cạn không thể nào tự thắp đuốc mà đi được. Trong thời Hạ Lai nhiều bậc tu đến được với Long Hoa, được tu hành quanh Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc có đầy đủ hàng Tôn Giả, Chư Tổ thời xưa mà cũng phải khó khăn lắm mới hiểu một phần nào thì làm sao cấp chúng sanh vào giới ra giới cho được. Còn đầy vô minh không thể nào có tự tánh được.

“Bồ Tát nguyện ra vào địa ngục giới, lãnh lấy sự khổ đau ngục hình, hoặc giả hứng chịu kẻ kia mắng chửi hành hạ thân mạng, để cho chúng sanh hóa giải nghiệp lậu đặng thoát khỏi ngục hình. Nguyện như thế, làm như vậy Bồ Tát làm nơi an lành của Bồ Tát Nguyện.” –T.V.

Trong Lục Đạo phải kể Địa Ngục Môn là nơi Bồ Tát phải vào để thực tiễn, chịu ngục hình, chịu sự khổ đau, chịu hành hạ thân mạng, chịu sự chửi mắng, chịu đủ điều tủi nhục để hóa giải cho sạch nghiệp thức, nghiệp lậu. Có như thế Bồ Tát mới thoát khỏi chốn ngục hình. Có đầy đủ công đức sung mãn mới tận độ chúng sanh thoát khỏi Địa Ngục Môn.

Trong thời Hạ Lai này chính Đức Di Lạc trước khi thành Phật cũng phải vào thọ ngục hình ở Địa Ngục Môn của cộng sản nơi mật khu tỉnh Bình Định Qui Nhơn, tất cả là 26 tháng. Ngài cũng phải bị hành hạ thân xác đủ hình thức cốt tận độ chúng sanh tánh của Ngài, sau thoát khỏi ngục hình nơi Địa Ngục môn Ngài mới thực chứng mà tận độ nhân sinh, Tiên, Thần cùng tứ loài trong ba cõi sáu đường. Có hạnh nguyện như vậy Bồ Tát mới đi vạn hạnh thực chứng. Bồ Tát được Lý Sự tương song, Tánh Tướng tương song, Đức Trí tương song.

“Lúc Bồ Tát hành nguyện đồng với hạnh nguyện, Bồ Tát không bao giờ nhàm chán, Bồ Tát say sưa nơi nguyện. Vì sao? Vì bản năng thực thể mong đợi Tri Kiến, do đó nên chi Bồ Tát lìa tất cả mà không nhiễm ái, cúng tất cả mà không nhiễm chấp, đưa tất cả mà không nhiễm trần cấu.” –T.V.

Bồ Tát hành nguyện có nghĩa thi hành vạn pháp phải học hết cái Sự nơi Bồ Tát, nghe thấy biết, từng tiếng, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng gì biết tiếng đó. Đặc điểm không giới nào bỏ, không giới nào lấy. Đó là tu bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Cho dù gặp hoàn cảnh tức vạn pháp sướng khổ, mưa gió, trời long đất lở cũng không bỏ tu đó là tu bất sanh bất diệt nên trái đất dù có bị hủy diệt Bồ Tát vẫn không bị tiêu diệt. Vì sao? Vì nhiều cái không tướng mà biết sâu hơn bậc La Hán. Bồ Tát sống trong Bồ Tát Tánh, chỉ một câu nói đủ biết người đó như thế nào. Nhờ hành vi đụng chạm tức tri kiến giai cấp gì.

Bồ Tát hạnh nguyện xây dựng chánh pháp thật khó vì phải chỉnh trang lại đường dây khai ngộ Phật Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nay nhân sinh tu sai lạc. Tri kiến một pháp là vạn pháp tri kiến được. Đắc một pháp là vạn pháp đắc được. Trong cùng một đạo tràng, Bồ Tát nhìn thấy nhiều nhóm đồng tu tạo thành Liên Hoa nhìn người đứng đầu dở là biết trong nhóm đó đều tu dở. Biết người đứng đầu kia giỏi thì biết nhóm đó đều giỏi hết gọi là Liên Hoa Tôn. Đức Di Lạc chọn Chân Phật Tử trong Trung Ương Bộ để hành nguyện, hạnh nguyện là như vậy. Sau Bồ Tát thâm nhập, không còn ái nhiễm, không còn nhiễm chấp mới làm chủ hết vi trần rồi còn phải hóa cho chúng sanh tu theo Bồ Tát được giác ngộ, Bồ Tát mới thành Phật.

“Bồ Tát hành nguyện, hạnh nguyện như thế vươn mình đánh đổi như vậy Bồ Tát sở đắc pháp giới tận biết đặng pháp giới kết nạp trở thành vợ con, chồng vợ, trai gái, nam nữ phải chịu nơi pháp giới trăm phương ngàn cảnh, sướng khổ do nơi lầm lẫn chìm đắm nặng nhẹ mà thọ nghiệp, thọ chủng, thọ ái, thọ tử liền sở chứng vô sanh.” –T.V.

Bồ Tát hành nguyện có nghĩa là thi hành pháp Phi Tướng chẳng sợ tiếng khen chê, chẳng phiền trách sự khinh ghét, chẳng cần khổ tâm lời nguyền rủa từ nơi chúng sanh. Bồ Tát hạnh nguyện có nghĩa thi hành pháp Hữu Tướng làm chúng sanh ưa thích ái kính thuộc Đạo Hạnh, Bồ Tát chẳng thấy vui mừng dù thật biết vạn pháp vốn tịch tịnh.

Từ một khởi điểm nhỏ là mấu chốt gom hết vi trần có lúc phải đánh đổi, Bồ Tát mới sở đắc đầy đủ vòng đai pháp giới tạo vợ chồng, con cái, anh em, giòng họ, thân quyến. Mỗi một gia đình có nếp sống riêng. Đắc một pháp giới thì các pháp giới khác cũng diễn y như vậy, chỉ khác nhau tính chất như chua, ngọt, tốt, xấu. Tự nhiên Bồ Tát thông đạt có thể tìm được một pháp giới để chứng ngộ được Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Từ một pháp nhỏ tỏ hết pháp giới. Tu từng môn làm sao thông? Đó là khai tâm ấn.

“Khi bấy giờ Bồ Tát lấy Đạo Tràng làm thú vui tạm trú, lấy mức tiến làm món ăn nơi ở hàng ngày, lấy bao dung rộng rãi xây dựng Tịnh Độ của Bồ Tát. Bồ Tát hành thâm pháp giới, nhiếp độ hóa giải pháp giới! Từ nơi vinh Bồ Tát nhìn nhận thoảng qua không lấy đó làm nơi trụ xứ. Từ chỗ nhục Bồ Tát chẳng tái tê nhưng chẳng lấy đó oán hờn.
Bồ Tát Nhất Tâm đảnh lễ tự nguyện tất cả thân mạng đều cúng dường Như Lai, chẳng còn chi nơi Bồ Tát, đặng pháp đảnh Như Lai thọ ký. Bồ Tát liền sở đắc tận giác tất cả pháp giới, Bồ Tát liền đặng giải giới, đặng Chư Phật thọ ký lãnh lấy ứng hiện thân Bồ Tát.” –
T.V.

Trong Long Hoa tận độ, Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc phân định rành mạch cho bậc tu từ Hộ Pháp đến Tôn Giả, A La Hán, Tinh Văn Hạnh, Duyên Giác Hạnh, cho đến Hộ Pháp Bồ Tát đều phải tu theo một con đường: Đạo Đời song tu cho hợp nhất. Mỗi vị đều làm các ngành nghề ở trong đời từ lao động tay chân cho đến giáo viên, giáo sư, kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ...tất cả đều lấy đó làm phương tiện tu hành cầu Giác Ngộ.

Khi có một vị trong đạo tràng nơi Long Hoa sở đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác được kiểm tra chứng minh Bồ Tát thì Ngài ấn quyết bậc này chỉ lấy đạo tràng làm nơi tạm trú hành nguyện, hạnh nguyện. Đối với đời Ngài xem như đã đủ không sinh nhai qua nghề nghiệp nữa mà phải thực hành Đạo Tràng duy nhất để tu hành tiến đến thành Phật.

Còn cấp Thánh Hiền tu đạo đời. Đến Bồ Tát Chánh Giác không hiền cũng chẳng dữ, không thiện cũng chẳng ác, không sanh cũng chẳng diệt. Có tu hành như vậy mới giải giới đến viên dung pháp giới. Bồ Tát lên trên cao cũng không bỏ ở dưới gọi là hành nguyện không cao cũng chẳng thấp. Nếu còn bỏ, còn lấy không bao giờ sở đắc Chánh Giác được.

Một hạt đất, một hạt cát nào nằm dưới đáy chân núi thì nó rất rắn chắc rất mạnh. Bậc tu nào chịu vạn pháp xoay thì người đó công năng càng lớn, kết chung sở đắc chân lý. Còn ngồi thuyết pháp nghiên cứu không qua nổi hoàn cảnh thì chỉ thuyết cho hay, cho vui thôi. Đó là khai ấn.

Thế gian làm việc ở đời dần dần phát triển. Còn bậc tu cầu Tri Kiến Giải Thoát thì trổ nghiệp. Đừng chán nản, cố tinh tấn. Vì một tánh thọ nghiệp phải hóa giải mất mười kiếp tu hành. Tỷ như tánh lừ đừ, nghe xong ra khỏi đạo tràng tánh đó nó trở lại lừ đừ. Bậc tu thọ lãnh pháp giới như vậy, cố thủ gọi là Kim Cang Tạng vì thọ lãnh một pháp củng cố muôn tỷ kiếp không giác ngộ được. Bậc tu không thể cầu vái van xin khi tu hành không chịu cổi giải. Nhưng biết lìa ngã, phát nguyện tìm gặp tu theo bậc đã biết là Bồ Tát đang thi hành Chánh Quả Phật thì chỉ một kiếp quyết Tin Vâng Kính trọn liền sở đắc. Khi đã tỏ tường thế nào là chân pháp là thiện pháp liền kiến diện Như Lai, đặng gặp Chư Phật thọ ký, chừng đó mới được công nhận đã có ứng thân Bồ Tát hiện khắp pháp giới, quán chúng khắp khắp gọi là Du Hí Thần Thông Tam Muội vậy.

“Bồ Tát trải qua vạn hạnh, vạn nguyện, Bồ Tát mới nhìn nhận: Tất cả chúng sanh giới, từng hàng Nhị Thừa tu chứng cho đến Tiên Thần Thánh Hóa chỉ hơn nhau nơi Thanh và Thô, chớ nghiệp chủng nơi chúng sanh tánh còn nguyên vẹn.” –T.V.

Những pháp lớn, pháp thô bậc Nhị Thừa tu chứng dễ thực hành được, qua được. Còn những pháp nhỏ gọi là pháp thanh qua không được, không thấy được nên chưa có Nhãn Tịnh. Bồ Tát tỏ Bổn Lai Diện Mục nơi thô, thanh, vi tế được Thanh Tịnh. Tánh và cốt cách trước sau đều y nhau như quá khứ, còn tướng mạo thay đổi dạng tùy giới. Bậc tu không tỏ nơi thanh, nơi vi tế chỉ thấy thô cần phải tinh tấn tu cho đến đam mê mới có đủ tinh thần. Chừng một thời gian nào nhớ tiền kiếp quá khứ.

Những bậc ngồi kiết già thuyết pháp không được tự nhiên. Gặp trường hợp nào cũng thuyết pháp được vừa trình độ, vừa đúng nghiệp chủng cứu độ được chúng sanh đó là Bồ Tát. Đức Di Lạc Tôn Phật khéo thuyết từng căn bệnh của chúng sanh, ai gặp cũng thích thú, quý mến, ái kính. Ở ngoài nhìn vào thấy Ngài là cư sĩ có vợ con rườm rà lộn xộn. Thật sự bậc say đạo gặp Ngài theo tu kết quả thấp nhất cũng được Phước Báo Nhân Thiên.

Đã là chúng sanh, thọ nghiệp chủng còn nguyên vẹn, chừng nào phát tâm sửa tánh tu một thời gian tỏ tường vạn pháp làm gì cũng đúng là ngộ. Còn làm gì cũng không biết đúng hay sai, hoặc làm gì cũng sai thuộc pháp thô là mê. Nếu biết vạn pháp huyễn hóa, thực tu với tâm chân thật một ngày nào sẽ trở về với cái thật./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


46. Đức Di Lạc Thọ Ký Tái Sinh Trong 350 Năm Sau

...Lúc bấy giờ nhìn tôi Ngài nói: Ta đến thời Hạ Lai Tận Độ sự mê lầm Chúng Sanh đưa về Phật Tánh Chánh Giác. Nếu bậc nào nghe Ta tin Ta đứng nhìn Ta bằng phương thức nầy hoặc phương thức nọ liền đặng Tri Kiến Giải Thoát. Bằng cứ mãi nhìn, mãi nghi chấp thì đến Ba Trăm Năm Chục Năm Sau, Ta mới thị hiện để chứng minh Tận Độ, nói xong Ngài truyền đọc:

Chừng nào trái đất rẽ đôi.
Hai hàng thiên giới ta ngồi chứng minh.

Kỳ thi Long Hoa đợt một đã xong, nếu bậc tu hồi hướng lìa Ngã ắt được gặp Long Hoa tại Việt Nam đang trở mình tận độ chúng sanh vào Như Lai Tạng đặng nhận được con đường Tri Kiến Giải Thoát rốt ráo. Nếu chần chừ, lưỡng lự, nghe không nhận lãnh được thì 350 năm sau Ngài lại thị hiện để chứng minh việc làm của Bồ Tát cùng Tôn Giả tận độ chúng sanh. Ngài đã đoạt quả Vô Thượng Bồ Đề như Chư Phật mười phương thì không còn dạy tỷ mỉ qua lại từ đầu làm chi nữa.

Năm 1993 Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn, Ngài đã chứng minh 350 năm sau Bồ Tát và Chư Tổ hành đạo đem lại lợi ích to lớn, thực tiễn cứu độ chúng sanh. Số đông Nhân Sinh trên quả địa cầu này đều theo hạnh Cư Sĩ tu theo Chơn Tánh.

Lúc bấy giờ hàng Xuất Gia thấy được mối Đạo của Chư Phật lưu truyền nay đã rẽ đôi đều đem lại lợi ích thực tiễn cho giới Tân Tăng: Xuất-Gia, Cư-Sĩ. Lúc đó 17 tuổi, Ngài từ hạnh Thái Tử, thị hiện ở quốc gia khác theo thể chế Quân Chủ Lập Hiến, có hai hàng Quan Đại Thần từ Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Tướng Lãnh, Tổng Giám Đốc, Tỉnh Trưởng gọi là Thiên Giới dưới quyền Ngài ngồi trang nghiêm. Ngài chứng minh Chư Bồ Tát, Chư Tổ đã thực hiện việc dạy chân lý thực tiễn cho chúng sanh một cách bình đẳng.

Ngài chứng minh để vào quả vị tu chứng trong vũ trụ nên Chư Tổ tùy bậc tinh tấn tu hành hạnh nguyện mà thọ lãnh quả vị. Sau đó chư vị xuất gia còn lạc pháp tự biết phải quay trở lại chân lý thực tiễn của Đức Vô Thượng Tôn Di Lạc.

Quan cận thần lúc đó không đâu xa lạ mà chính là Bồ Tát, Chư Tổ, Chư Hộ Pháp lai sinh Cư Sĩ lớp Thiên Giới lúc bấy giờ học hành rất cao, từ bác học, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư... gặp Ngài trở lại một lần nữa. Chứng minh xong Ngài liền tuyên bố nhập Bát Đại Niết Bàn mà không cần ở lại hưởng gì của thế gian.

Tôi nhớ lại những diễn cảnh trước Ngài, những mê lầm Tứ Chúng trong đó có tôi nữa, làm cho Ngài phải chịu chẳng biết bao nhiêu lời giải, chịu biết bao chỉ vì Nghiệp Chủng Chúng Sanh Tánh mà ra. Tôi băn khoăn, về đến nhà với tấm lòng man mác.

Gần lúc nhập Bát Đại Niết Bàn Ngài lại bảo: 

"Cũng có thể Tôi lại Hạ Lai thế gian, lúc 17 tuổi nhớ tiền kiếp Tôi ở lại thêm khoảng 8 đến 10 năm nữa, để ra đời Tận Độ một lần nữa nếu thấy Chúng Sanh trên Quả Địa Cầu bị đe dọa tận diệt."

Ra đời tại Quốc Gia nào, nơi nào, Ngài đã khai thị cho Đại Bồ Tát.

HỘI THƯỢNG, ngày 20 tháng 4 năm
06-06-1992
ẤN TRUYỀN
–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Ngài căn dặn kỹ Chư Tổ, cấp Tôn Giả, A La Hán cùng chư Hộ Pháp tu hạnh Thánh Hiền. Nếu vị nào lầm lẫn tự đi Phi Tướng tức pháp Bất Tịnh cần phải có Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát chỉ đạo cốt thoát khỏi vòng đai Pháp Giới. Bằng không bị sa ba đường ác rất nguy hại trong vô lượng kiếp.

Chư Tổ, Tôn Giả, A La Hán, Hộ Pháp nếu sau này hạnh nguyện mà không gặp Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát cũng phải thận trọng chớ tự ý phóng đại xưng Phật, xưng Bồ Tát nữa. Làm như vậy bị Tăng Thượng còn bị mang khai tướng Phật, lại làm mất pháp bảo trì từ lâu đã tu tập.

Không nên xưng Phật, Bồ Tát loạn như thời Mạt Pháp mà Đức Ngài đã chứng kiến, phải đầy đủ công năng công đức và còn phải chờ khi gặp Bồ Tát thi hành Ma Ha Tát chứng minh mới được tương thông Phật Lực chính thức trở thành Bồ Tát. Phật Vương như Ngài không những chỉnh trang đường tu lưu lại hậu thế cùng trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới mà còn sắp xếp trật tự, ổn định cho chúng sanh trên quả địa cầu nầy.

Chư vị Tổ mới đắc Chân Lý, xem xét kỹ có vận chuyển Tam Muội làm an lành trong Tứ Loài được không? Nếu không chớ có xưng Phật, xưng Bồ Tát nữa. Hãy thận trọng bảo trì quả vị Thánh Hiền để Chư Thiên, Nhân Thần, Địa Thần, Thượng Đẳng Chánh Thần, Tứ Bộ Thần hộ trì xây dựng Chánh Pháp./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


45. Vì Sao Kinh Sấm Nhận Định In Tuồng Thực

“Khi Kinh Sấm phát sinh, chính do lòng chân thành biểu lộ, đương nhiên chân tâm sinh vạn pháp chân như. Vạn Pháp ấy gốc Tâm Sanh, đã sanh pháp liền có Phật chứng, Phật chứng đó chính là Phật của Pháp, chớ chưa phải là Phật Trí Nhất Tôn Chánh Giác.” –T.V.

Kinh Sấm ra thi thơ do tu định tưởng của Tiên Thần Trí. Dù có thành tâm tu cầu thì định tưởng vẫn là Tâm Sanh vạn pháp. Phật hiện đây là Phật của Pháp chứng tri chứ không phải Phật Trực Giác của Chánh Giác Chứng Minh. Định tưởng thuộc Nhị Nguyên. Trực Giác thuộc Nhất Tôn. Do đó chúng sanh mới bị lầm chấp.

“Theo Kinh Sấm, lòng chân thành Nhân Chứng lúc có bậc tin vào kinh pháp, chân thành với kinh pháp liền đồng với chân như quần chúng mà phát hiện in tuồng thật với bậc chân thành chớ chưa thực với kẻ bất chân thành nên mới có câu: Linh Tự Ngã Bất Linh Tự Ngã, Cảnh và Tình hợp với bậc Tình và Cảnh chớ chưa hợp với người Vô Tình diễn cảnh đó chính là lời chân thật nhận định in tuồng thật của Kinh Sấm. Nếu gọi là đúng với tinh thần của Kinh Sấm chớ chẳng đúng với Phật Trí. Phật Trí theo lời bảo truyền của Đức Phật Không Hai, nên chi nhận định như sau:

 – LONG HOA TẬN ĐỘ: Nhận định Đồng Nước Hội Tề.

 – DI LẠC TÔN PHẬT: Nhận định Đồng Thể Tương Sanh.

 – THẤT SƠN KHAI DIỄN: Nhận định Nhất Cảnh Hỏa Khai.”

Chúng sanh vốn có cảnh sanh tình cũng như có nhơn là có quả, không có nhơn là không có quả. Do đó có tin là linh ứng hiện, không tin không có linh là như vậy. Người không tin là người Vô Tình nên Pháp Tánh không hiện gọi là không linh.

Còn bậc tu sửa theo chân lý thực tiễn con đường trực giác thuộc trí tuệ. Khi thấy cảnh nhà Ngài, các con và vợ gây hỗn loạn bậc này liền điều ngự kiềm chế tánh chướng, sau hóa giải Hoa Pháp Tánh nên người được nhạy cảm, hiểu biết được tỏ thông, lại thấy được nhận định sai lầm trông chờ Long Hoa của các bậc tu dùng Định Tưởng trở thành lầm truyền kiếp.

LONG HOA TẬN ĐỘ: Tánh độc cùng tất cả tánh xấu đều đua nhau trổ hình qua vợ và sáu người con, Ngài gánh chịu không phiền trách.

NHẬN ĐỊNH ĐỒNG NƯỚC HỘI TỀ: Các bậc tu từ Chư Tổ cho đến Hộ Pháp thời Đức Bổn Sư ngày nay đều hiện diện hội tề tại Long Hoa theo cư nhân hạnh. Di Lạc Tôn Phật: Ngài đang hiện từ trong Pháp Bất Tịnh đến Đại Thanh Tịnh.

NHẬN ĐỊNH ĐỒNG THỂ TƯƠNG SANH: Chư Tổ đều tương đồng hòa hợp với Ngài nên đồng sanh Phật Trí. Những vị quanh Ngài đều hộ trì và thi hành lời Ngài khai đi hóa giải đủ phương tiện miễn sao phát sinh trực giác là tất cả đều mong đạt cho được.

THẤT SƠN KHAI DIỄN: Chư Tổ quá khứ Chư Hộ Pháp đã nhận định được bà vợ và sáu con của Ngài chính là núi Thất Sơn.

NHẬN ĐỊNH NHẤT CẢNH HỎA KHAI: Chỉ duy nhất có diễn cảnh ở nhà Ngài đang vang nổ là Thất Sơn chứ không có núi Thất Sơn Châu Đốc nổ đâu mà chờ đợi theo kinh sấm. Nhận định theo Nhân Sanh, Tiên Thần không bao giờ gặp Long Hoa được.

“Đứng phương tiện nhận định Thất Sơn thì Đức Bổn Sư Ngài Hiện Thể tại Ấn Độ, còn Thất Sơn tại Cam Bốt cùng Việt Nam tỉnh Châu Đốc, do như thế Phật chẳng ấn truyền khó mang ra nhận định. Nhưng đứng về LONG HOA TẬN ĐỘ đến cây Long thọ Di Lạc, đồng thể thì đương nhiên liên hệ với Thể Hiện. Khi Hiện Thể một nơi nào hoặc một nước nào lấy nơi đó nhận định. Trái lại đặt trường hợp Thất Sơn, chính phải để bối cảnh diễn cảnh chung quanh Đức Di Lạc, gọi là Nhất Cảnh Hỏa Khai. Có nghĩa hoàn cảnh thuận nghịch trước sau trên dưới trong ngoài thảy đều Pháp Độ Thời Đông Độ. Đức Ngài chịu lấy cứu độ Chúng Sanh Tứ Loài gọi là Đại Lực Tôn Phật.”

Pháp Độ Thời Đông Độ: Thời Hạ Lai Mạt Pháp là thời Đồng Độ. Bậc tu và chúng sanh đều được độ vì sao? Vì các pháp diễn hành tận cùng, bậc tu, bậc không tu đều bị diễn cảnh quá sức chịu đựng làm cho chúng sanh tánh được phơi bày chẳng thiếu sót độc nhiễm.

Đến tận cùng nó thấy nó quá độc nên kiêng sợ tự hồi tâm quay về điều thiện vì có Vô Thượng Tôn Di Lạc ẩn mật điều động Như Lai Tạng đang chuyển mình. Bậc tu lẫn bậc không tu đều được kín nhiệm tận độ gọi là thời Đông Độ Hiện Giác. Còn tứ loài cũng được cứu độ như Hịch Chứng Minh Vũ Trụ ở phần trước. Do đó mà gọi là ĐẠI LỰC DI LẠC TÔN PHẬT.

“Có hai trường hợp Nhất Cảnh Hỏa Khai như: Pháp Độ nơi Ngài Xuất Gia, hoặc Tận Độ nơi Ngài Cư Sĩ Tại Gia. Hai trường hợp trên tuy khác nhưng diễn cảnh đều như nhau: Ngài Xuất Gia liền có sáu Ông Đạo và Bà Chủ Chùa. Bằng Cư Sĩ Tại Gia vẫn có Sáu Con Một Vợ đồng có Tứ Chúng như nhau.”

Nếu Đại Lực Di Lạc Tôn Phật thị hiện mà từ núi Thất Sơn nổ không có cha mẹ sanh ra thì hình thức khai Long Hoa như thế nào cũng không như nhiên. Bởi vậy có hai trường hợp Ngài thị hiện thực tế.

Một là xuất gia ở chùa cũng phải có Phật Tử cùng bà chủ chùa, mỗi người một cá tánh vẫn phải chịu Lục Đạo diễn cảnh để Ngài tận độ. Hai là Ngài hiện Cư Sĩ vẫn phải có bà vợ và các con cùng Tứ Chúng, mỗi người một cá tánh cũng phải có Lục Đạo diễn bối cảnh để ngài tận độ. Nhận định thực tế biết được Ngài khai Long Hoa tại Việt Nam.

“Sáu ông đạo hay sáu con tiêu biểu Lục Đạo. Mỗi Ông Đạo, cùng mỗi người con thảy đều mỗi ông mỗi tánh khác nhau, đến cử chỉ mỗi mỗi khác nhau hành động đều chẳng giống nhau, do lẽ ấy mới gọi là Sáu Đạo. Lúc nào hợp nhau đem câu chuyện Đi, Đứng, Nằm, Ngồi nơi Ngài bàn tán, có khi đến nhà bà chủ chùa hoặc Mẹ mà nói. Ngài thật biết như thế, Ngài thường nói Sáu Ông là Sáu Đạo diễn hành chớ nên chấp nê gì chúng.” –T.V.

Ngài hiện Cư Sĩ, sáu người con của Ngài không hiểu được Diệu Dụng của cha nên mỗi người một tánh hành động chống lại mỗi kiểu khác nhau của Lục Đạo diễn hành.

Số Chân Phật Tử tín thành còn rất ít vẫn bình thản đến với Ngài, mỗi lần hàng xóm nhìn thấy gia đình bất ổn mà vẫn có bậc tu còn theo Ngài, họ cười chế diễu, nhìn với cặp mắt khinh khi, người nhà các Phật Tử nầy lại cấm tu làm dữ, còn con trai của Ngài đánh đập không cho vào thăm Ngài. Có người con gái gọi công an bắt nếu ai còn lui tới gặp Ngài. Thật sự bậc tu lì lợm lắm, mắt thấy, tai nghe chuyện phi pháp mà vẫn tín tâm lẫn tránh, thừa dịp gặp Ngài như thường.

Ngài bảo đó là pháp vô quái ngại, phải thực hiện không nên chấp sáu người con của Ngài diễn cảnh Lục Đạo. Một số rất ít bậc tu còn lại cũng tin Ngài nhưng thỉnh thoảng mới về. Số đông 3000 Chân Tử trốn biền biệt.

Sau khi việc bất ổn đã xong số mới vào tu cũng rớt nhiều vì nghe kể Pháp Bất Tịnh họ thấy lạ quá không tin. Số còn lại vẫn tin. Cuối đời Ngài còn khoảng 100 Chân Tử chỉ nghe nhưng không có dịp chứng kiến cảnh nổi lôi phong.

Lúc đó tôi đi cải tạo, vẫn được nghe tin việc Đạo đầy đủ nhưng vẫn chí dũng nhận được Chân Pháp, hóa giải chúng sanh tánh. Lúc ra cải tạo vẫn tu hành theo sát Ngài như thường.

“Từ nơi Nhân Trí bất đồng với Phật Trí, từ cử chỉ tu tập của hàng Nhị Thừa cùng Nhất Tôn khắc biệt, nên chi càng khuyên giải bao nhiêu thì sáu Ông Đạo chung với Bà Chủ Chùa hiệp nhất. Bà vợ với sáu con một con đường phê chỉ trách móc đủ đường, đủ lối. Khi nghe Ngài là Phật, khó tin càng thêm tăng cường càng thêm diễn hành đủ thứ lớp. Ngài chưa biết nói hơn, vì nhận định bất đồng, nên mới phát sinh phê chỉ, mới có những chuyện rối rắm. Đối với hàng tín chúng có bậc nhận định đặng còn có bậc vẫn mơ màng khó hiểu Diệu Dụng Đức Ngài giữa thời Hạ Lai Tận Độ, nên Ngài mới làm bài thi nói lên đối với Ngài có hai trách nhiệm. Một là CHỈNH TRANG PHẬT ĐẠO. Hai là TẬN ĐỘ HẠ LAI.” –T.V.

Sáu con của Ngài thuộc Nhân Sanh Trí cùng các bậc tu Nhị Thừa nhận định khắc biệt với Phật Trí nên: Con và vợ Ngài không tin Ngài là Phật lại còn tìm đủ mọi cách ngăn cản sự Diệu Dụng của Ngài mỗi lúc càng tăng cường làm vang nổ khắp thành phố Nha Trang ai ai cũng nghe cũng biết. Còn Chân Phật Tử Ngài hàng Nhị Thừa sợ quá trốn và bỏ tu gần hết.

Trong số này phải kể trên 10 vị Tôn Giả quen tu xuất gia nhiều đời kiếp không chịu nổi Phi Tướng cũng lui về am cốc ở tư gia. Hàng Hộ Pháp rớt cũng nhiều. Đó là thời Hạ Lai Lạc Pháp Ngài thị hiện tận độ chúng sanh, làm cho chúng sanh nhận định được lối tu sai lầm ảo tưởng của Nhị Thừa đặng trở về lối tu Trực Giác kết quả vô biên xứ vào biển cả.

“Phần thì diễn hóa bên trong, phần mặt ngoài lại vào thời Hạ Lai Lạc Kiếp quá ư khó khăn đối với sự việc, cứ mỗi một gia đình bất ổn, hay một ngôi chùa sự sự việc, xảy ra mất thanh bình liền bị nhà nước đưa vào những vùng cấm địa, do đó Ngài và Tứ Chúng lặng yên, chỉ trông cậy đến Đại Lực Hóa Giải, Ngài thật biết nhưng chưa bao giờ nói.” –T.V.

Từ năm 1975 biến cố lịch sử miền Nam Việt Nam bắt đầu hỗn loạn, Ngài liền trực giác thấy cần phải khai mở Long Hoa sang giai đoạn cao đạo. Ngài mở Pháp Bất Tịnh ra đời cho phù hợp với Như Lai Tạng đang di chuyển cực mạnh đúng với Như Pháp.

Bậc tu nhạy cảm có con mắt Như Lai Nhãn Tạng mới thấy biết. Quá hiếm hoi mới có Chân Phật Tử thấy biết, còn phần Ngài vẫn yên lặng khai pháp cho phát hỏa náo động. Số đông bậc tu của Ngài ngơ ngác, ngỡ ngàng trước diễn cảnh hỗn loạn cả ngoài thế gian lẫn trong đạo. Cùng thời gian này việc gia đình, việc trong Chùa có xảy ra ồn ào, lộn xộn liền bị tổ dân phố báo cáo, tức thì khóm phường cho đi kinh tế mới, sống trong cái tử trước mắt ai cũng lo sợ tự giữ gìn bản thân và gia đình.

Ngài không dấu, lại mở cho tất cả thấy biết Pháp Bất Tịnh có vợ bé nên con, vợ Ngài trổ đủ diễn cảnh A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục chống lại cha, chồng. Có lắm lúc cùng đường hết phương hóa giải, Ngài phải trông cậy vào công năng, công đức đã tích lũy trong vô lượng kiếp gọi là Đại Lực làm an lành. Chỉ Chân Phật Tử tình thâm, cao hơn là tình thức mới cảm thông cùng nhau che chở cho qua từng giờ, từng ngày để không bị chính quyền đưa đi kinh tế mới hoặc nông trường.

Pháp diễn như thế, Tôn Giả, Hộ Pháp không có ghi tên ở phần trước sợ quá chạy trốn, sợ bị vạ lây nên bỏ mặc Ngài chống đỡ.

Chính Ngài khai thị tôi nghe như vầy: “Sau này khi Chánh Pháp Long Hoa ra đời nhiều Chân Phật Tử của tôi đã bỏ trốn, họ sẽ huênh hoang lớn tiếng vỗ ngực xưng tên là học trò Phật Di Lạc. Họ sẽ ngồi nói dóc nhưng lại thuyết pháp rất hay, pháp bị giác. Ông nhớ loan truyền cho nhân sinh đừng lầm lẫn những kẻ nói Lý mà Sự bỏ không hạnh nguyện.” –T.V.

Tứ Chúng thường về thân cận bên Ngài, khi Ngài ngồi im lặng, lúc Ngài hóa giải chấp mê, Ngài chỉ dạy không thiếu sót, ngặt vì trí tuệ và trình độ chưa nhận lãnh được hết. Ngài xem Tứ Chúng không khác mấy đàn con. Ngài thường nói:

Tôi vui khi các ông thọ lãnh Bảo Pháp, Tôi thích khi các ông hóa giải mê lầm, vì thế nên Tôi có bài thi...

...Thiện chân tử là nguồn an ủi
Pháp Tạng nầy chung buổi ấm êm
Miễn sao dưới mái gương thiềm
Chung vui toàn giác nỗi niềm tôi mong.

Lúc gia đình Ngài đang diễn cảnh vang rền, Chân Phật Tử nào quyết tâm tu theo Ngài cầu Tri Kiến Giải Thoát đều được dạy tỷ mỉ không thiếu sót. Nhưng không phải bậc tu nào cũng nhận lãnh thông pháp như nhau nên chia nhiều trình độ trí tuệ không đồng. Số Chân Phật Tử tín thành, thù thắng vượt bao khổ ải, khổ hải được Ngài chỉ đạo hóa giải mê lầm mà tri đạo, có bậc giác ngộ, có bậc hoàn toàn Giác Ngộ.

Sau cùng chỉ còn Thiện Chân Tử là niềm vui của Ngài vì có bậc đoạt Giác Ngộ đến Toàn Giác. Nghe lời Ngài nói, xem đến tình thi Tứ Chúng Ái Kính vô cùng không có bút mực nào kể nổi.

Có một hôm Ngài ngồi thư thả,
Chúng dâng trà, Ngài tả thi thơ,
Anh em Đạo Chúng chực chờ,
Ngài cười vui vẻ, lặng lờ trao thi.
Chúng Tôi muốn nói những gì...
Ngài liền giải đáp bài thi vang rền.
Sáu ông Đạo, Sáu con tên,
Có thêm bà vợ, vang rền Thất Sơn.
Khi bấy giờ Tứ Chúng đứng lên,
Đọc tuyên sáu Đạo sáu tên Thi rằng:
 
KHÁNH tận Nhân Sinh chẳng nói năng.
TƯỜNG chưa Minh đạt, nổi lôi phong.
ÂN thường Vân Lệ rơi tơi tả,
OANH luyện trùng dương, khắp Tứ Phương.
XOA dịu cảnh tình, chiều nắng dịu.
THU MINH Vương Đế trổ an bang,
HIẾN thân Tam Thế, Tiên Thần chứng.
Dâng quả KIM LÊ, Pháp BẢO ĐÀN.
Ấn Chỉ III
Dưới Sự Nhận Định Bất Đồng
–T.V

Khánh tận nhân sinh chẳng nói năng. Người con gái đầu của Ngài bị câm từ khi mới còn nhỏ, lớn lên cuộc sống lăng nhăng trốn cha mẹ, không khuyên bảo được. Cô Khánh là biện minh cho Địa Ngục môn.

Tường chưa minh đạt, nổi lôi phong. Người con trai thứ hai của Ngài tên Tường không hiểu việc làm của cha, chưa thông đạt Diệu Dụng của Phật chính là cha mình, làm Ngài và Tứ Chúng phải khổ lụy. Thuộc Súc Sanh Pháp hay phát sinh gây bất ổn.

Ân thường vân lệ, rơi tơi tả. Người con trai thứ ba tên Ân thấy cảnh gia đình bất ổn thường nóng giận khóc la gào thét, đập phá. Biện minh A Tu La.

Oanh luyện trùng dương, khắp tứ phương. Thường đi đây đi đó hoặc đến nhà bà con thân nhân than phiền việc gia đình. Thuộc Ngạ Quỷ, là người con gái thứ tư trong nhà tên Oanh.

Xoa diệu cảnh tình chiều nắng diệu.
Người con gái thứ năm tên Xoa thường an ủi mẹ. Thuộc Nhân Pháp.

Thu Minh Vương Đế trổ an bang. Thu Minh là con gái út thuộc giới Thiên trong nhà. Sau khi khai Long Hoa nổ vang rền, đường Đạo trong Tứ Chúng đã có bậc đoạt kết quả. Sáu người con nêu trên tiêu biểu cho Lục Đạo.. Đối với Thế gian Ngài Diệu Dụng làm cho thế giới tránh nạn thế chiến thứ ba không còn sự đe dọa tàn phá của hai phe Tự Do và Cộng Sản.

Tuy Ngài không phải vì vua nhưng ẩn danh không khác vị Minh Vương của Thế Giới. Còn Đạo tận thành Chánh Quả Phật. Đạo Đời song toàn hợp nhất. Thật xứng đáng là vị Phật thừa kế đạt danh hiệu Thế Tôn.

Hiến dâng Tam Thế, Tiên Thần chứng. Hiến là tên người vợ của Ngài. Việc Hộ Pháp của bà trong gia đình cho Ngài được khỏe là dâng Tam Thế, được Tiên Thần chứng minh, sau hết kiếp được thoát sinh về nơi cảnh giới ấy mà an hưởng.

Dâng quả Kim Lê Pháp Bảo Đàn.
Đạo được kết quả Long Hoa Hội Thượng đem đến Chánh Giác tức Pháp Bảo Đàn. Tứ chúng đọc tụng Thi xong đồng thanh đảnh lễ ra về. Tôi còn nhớ Đức Ngài thường diễn cảnh, từ nơi tánh này qua tánh khác mà mãi luôn luôn Ngài nói đó chính là Diệu Dụng Phật Tánh, tôi thắc mắc nghi ngờ càng nghi ngờ thêm lên mãi, chỉ vì tôi tu trì vẹt phá Vô Minh phơi bày Phật Tánh, tôi tin Phật Tánh là một tánh toàn thiện, toàn thuận, nếu hơi nghịch tôi quá ư khó chịu. Có một hôm tôi đến đảnh lễ Ngài bày tỏ những điều tôi chưa nhận định đặng, Ngài mỉm cười nói:

"Ông hãy nghe Ta nói, rất có lợi từ đời nầy cho đến đời sau nhận định thế nào là PHẬT TÁNH. PHẬT TÁNH chung gồm tổng quát tất cả Tánh nơi Chúng Sanh Tánh đang thọ chấp, không phân biệt Tốt Xấu Thiện Ác, Tịnh cùng Bất Tịnh gọi là Phật Tánh Nhất Tôn. Nhận được Phật Tánh thật khó nghĩ bàn. Phải tu sửa, cổi giải thực tế áp dụng trong đời sống mới nhận Chân Lý được. Xem kinh, học, nghiên cứu không hạnh nguyện, trụ nơi Lý chẳng phải Phật Tánh thực thể.

Phật Tánh không khác mấy với kho tạng hàm chứa tất cả Bảo Châu đủ màu sắc, đủ hình thức, đủ các yến sáng đen, trắng, vàng, đỏ... Từ khi Tạng tung lên trời trải khắp Như Lai, kẻ chưa tỏ lấy mỗi một hạt châu đến vài hạt châu theo ý mình muốn, cho đó là Bảo Châu. Còn ngoài ra chẳng phải là Bảo Châu, kẻ ấy nhận như thế, là Chúng Sanh Tánh, còn bậc thu nhiếp bá thiên vạn tánh, Vô Lượng Vô Biên Tánh chung gồm Vô Thượng Vô Đẳng Tánh Chánh Giác Phật Trí. Vì sao? –Vì tất cả thảy đều là Bảo Châu đâu có khác? Tánh nó vốn như tánh phát sanh ra từng lớp lang, từng giai đoạn trở lên vốn tánh Như Như có gì lạ đâu mà ông phải phân biệt đến dị biệt tánh nầy cùng tánh khác." Tôi nghe vô cùng mừng rỡ, tôi liền đảnh lễ xưng tán Đức Ngài đã ban cho Tôi Bảo Châu vô tận.

Lắm bậc tu đạt được chân lý vội vàng xưng Phật bị Phật Giới. Hãy thực hiện thực tiễn theo vết chân Ngài vừa đi, cùng đồng hành đồng sự với Bồ Tát Ma Ha Tát đặng hy vọng vào đúng đường Nhất Tôn. Lúc bấy giờ nhìn tôi Ngài nói:

"Ta đến thời Hạ Lai Tận Độ sự mê lầm Chúng Sanh đưa về Phật Tánh Chánh Giác. Nếu bậc nào nghe Ta tin Ta đứng nhìn Ta bằng phương thức nầy hoặc phương thức nọ liền đặng Tri Kiến Giải Thoát. Bằng cứ mãi nhìn, mãi nghi chấp thì đến Ba Trăm Năm Chục Năm Sau, Ta mới thị hiện để chứng minh Tận Độ." nói xong Ngài truyền đọc:

Chừng nào trái đất rẽ đôi.
Hai hàng thiên giới ta ngồi chứng minh./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng