6. NÓI VỀ BÁT NHÃ

Bát Nhã thì tất cả đều có sẵn. Bát Nhã là gì? Bát Nhã dịch văn tự là Trí Tuệ. Trí Tuệ đều có sẵn không mấy ai chẳng có, nhưng chênh lệch nhau nơi biết dùng rộng rãi thanh cao, chưa biết dùng trở thành vụng về nhỏ nhen đen tối. Do đó mới có Thiểu Trí, Trung Trí và Đại Trí, chớ Trí thì bình đẳng. Các bậc Tu Hành nhiếp thu các Trí làm cho Trí Tuệ mỗi ngày càng thêm tăng trưởng. Sự nhiếp thu buổi ban đầu phá mê giải chấp, sau có một trình độ Công Năng mới phát Đại Nguyện tu trên Phẩm Bát Nhã đến rốt ráo BA LA MẬT.

Tu Bát Nhã phải nhiếp thu tất cả các Trí Tuệ từng lớp, từng bậc về với chính mình, khi đặng rốt ráo liền đoạt đến BÁT NHÃ TRÍ. Các Trí Tuệ nhiếp thu không phân biệt Thiện Ác, Tốt Xấu, Hư Nên, Tịnh hoặc Bất Tịnh, sự Thủ Chấp hay không Thủ Chấp, từ nơi Tiến Bộ của Trí Tuệ hoặc Thoái Bộ nhất nhất đều nhiếp thu không thiếu sót.

Nơi nhiếp thu phải có cơ bản nhiếp độ. Bậc nhiếp thu phải là bậc Hỷ Xả Vị Tha trên mọi mặt, mọi hoàn cảnh, bậc nầy vững tâm giúp đỡ cứu vớt đồng với nhiếp thu đương sinh Bát Nhã. Bậc tu Bát Nhã thường xem con đường nhiếp độ làm mục đích, dù đứng trước Thuận hay Nghịch vẫn một lòng giúp đỡ, không vì nơi nào vẫn cứu giúp. Bằng tu Bát Nhã mà Thường Trụ Ngã hoặc Thiên Ngã, Nhân Ngã, Chúng Sanh Ngã để Thọ Ngã mà an trụ, đó chưa phải là bậc nhiếp độ tu Bát Nhã. Vì sao? Vì từ mỗi một Trí cạn cợt nhỏ bé đứng nơi tư thế THIỂU TRÍ, bậc nhiếp thu cho đặng bá thiên vạn trí THIỂU hay còn hơn thế nữa mới trưởng thành TRUNG TRÍ. Bậc đã có mỗi một Trung Trí phải nhiếp thu cho đặng bá thiên vạn Trung hoặc còn hơn thế nữa mới trưởng thành mỗi một ĐẠI. Từ một Đại nhiếp thu bá thiên vạn Đại mới trưởng thành ĐẠI TRÍ. Khi có mỗi Đại Trí thường phải dung thông nhiếp độ Từ Bi Hỷ Xả đúng với TÔN CHỈ ĐẠO PHẬT, hoàn mãn bá thiên vạn đại còn hơn thế nữa mới trưởng thành BÁT NHÃ TRÍ.

TỰ TẠI ĐẠI BI TÂM nói lên Bát Nhã Trí đã đặng thành tựu sung mãn, không còn gọi là Trí Bát Nhã nữa. Vì sao? Vì Trí ấy vượt qua bờ bên kia, văn tự dịch ĐÁO BỈ NGẠN hay BA LA MẬT, chớ nên lầm lẫn Bát Nhã Trí là Không Trí theo ngoại giáo thường chấp thủ.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

 

5. TỰ TẠI ĐẠI BI TÂM NÓI DẠY ĐỂ CHO CHÚNG SANH TỎ TÂM GIÁC NGỘ

Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn! Bản Thể Chân Tâm Bất Sanh Bất Diệt, Bất Cấu Bất Tịnh, Bất Tăng Bất Giảm. Do một khởi sanh Diệu Giác soi khắp Pháp Giới trở thành PHÁP THÂN. Chẳng khởi sanh diệt đó chính NHƯ LAI đồng hiệp TẠNG liền Diệu Giác Minh, gọi là: NHƯ LAI TẠNG. Tự phân biệt theo biệt phân nó là PHÁP GIỚI. Từng Pháp Giới lầm mê trở thành CHÚNG SANH GIỚI. Có chúng sanh cần phải Tu Tâm mà thu nhiếp đoạt BẢN THỂ CHÂN TÂM.

Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, đối với Chân Tâm thì không chỗ chỉ, nhưng kể từ hàng tu Tâm để nói lên có thể đưa đến Tâm Giác phần nào. Bậc tu Tâm qua các phẩm Hạnh Nguyện đoạt đến Tâm Thông. Lúc Tâm Thông vạn pháp đoạt đến Tâm Không. Thật chứng Chân Không, hạnh nguyện Tròn Nguyện Trọn Giác Bát Nhã Trí, Sở Đắc TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG. Nơi Tổng Trì soi khắp tỏ rõ thật biết tỉ mỉ không thiếu sót. Từ nơi Ẩn Mật Pháp đến Hiện Tướng Pháp tương sanh, từ ĐẠO PHẨM rốt ráo đoạt Vô Thượng Chánh Giác.

Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, đối với bậc Vô Thượng Chánh Giác không thể nào chỉ điểm được, vì sao? Vì Chân Tâm còn không thể chỉ điểm diễn nói được mà làm thế nào chỉ đặng Vô Thượng Đẳng Chánh Giác. Đối với pháp TỐI THƯỢNG còn có thể diễn nói chỉ dạy, chớ Vô Thượng Đẳng Chánh Giác không thể chỉ nơi Giác Vô Thượng được, mà chính Vô Thượng không bao giờ nói hay chỉ dạy, có nói có dạy chăng không phải lời nói dạy của Vô Thượng, mà chính lời nói dạy của TỰ TẠI ĐẠI BI TÂM nói dạy để cho Chúng Sanh có Tín Tâm mới Tỏ Tâm Giác Ngộ, gọi là TÂM truyền cho TÂM, TÂM TRỌN GIÁC.

Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, chớ nên lầm tưởng Vô Thượng Đẳng đã nói, đã dạy. Khi lầm tưởng như thế đương nhiên lòng Tự Mãn phát sinh Tăng Thượng. Tăng Thượng ấy do lòng Tự Mãn nên tự xưng Tối Thượng Chánh Giác, đó chính là tự mình lầm lẫn mất nơi Cung Kính, mất tinh thần Tối Cao Vô Thượng Chánh Giác.

Các Thiện Nam, hàng Thiện Nữ, nên biết tất cả Kinh Pháp Tam Tạng Kinh Điển đã từng diễn nói chỉ dạy, chẳng phải lời nói, lời chỉ dạy của Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, mà lời nói lời chỉ dạy kia chính là lời chỉ dạy của ĐẠI BI TÂM, TỰ TẠI TÂM vì thương xót chúng sanh mê lầm nên bị vướng vào Ngũ Độc, chịu nơi Sanh Tử. Chỉ vì cuồng tín vọng tâm mong cầu CHÁNH BÁO từng sát na nhịp nhàng may rủi, lúc sa cơ CHỊU BÁO than van buồn khổ điên đảo tưởng mơ thọ Nghiệp, thọ Chủng Tánh, thọ Tâm Sanh, mà phải thọ Chúng Sanh Giới, nên cách biệt Chân Tâm trăm vạn nẻo đường về Chánh Giác. Bởi nó như thế nên chi TỰ TẠI ĐẠI BI TÂM mới chỉ dạy Tu Tâm Hành Sự đầy đủ Pháp Môn Tri Kiến Giải Thoát.

Sự diễn nói của ĐẠI BI, nói lên lời nói thương xót Chúng Sanh quan niệm lầm lẫn sai biệt với Thể Tánh Chân Tâm, cốt đưa chúng sanh tu đúng, hành đúng đồng hợp Bản Thể mà CHÁNH GIÁC. Lời dạy của TỰ TẠI TÂM nói lên lời Tự Tại phá mê chấp, giải những vọng tưởng cầu mong sai biệt, dẹp tất cả những nghi ngờ, cốt giải các Năng Sở Kiến Tri an trụ.

TỰ TẠI TÂM nói lên các pháp Tự Tại, chỉ vì thương chúng sanh thường trụ, thường chấp, thường bị tập nhiễm vương mang vọng tưởng, thường hoài mong nơi Tu Chứng mau chậm, lại thường quan niệm mơ màng, nên Tự Tại Tâm mới nói: “Sự Tu Chứng nó không có thứ lớp, nơi Sở Đắc nó không có chừng đổi. Vì sao? Vì Phàm Phu nương nhờ nơi Nhân Duyên mà thọ lãnh. Còn bậc Tu Chứng nhờ vào CĂN CƠ mà Sở Đắc, do đó nên Tu Chứng không có thứ lớp.”

Đến lúc sự tu hành thuần túy, tùy Căn Cơ, tùy Trí Tuệ, tùy Phẩm Hạnh, tùy Hành Nguyện còn thiếu khuyết phải nói rằng tu hành nó có nhiều thứ bậc làm cho chúng sanh suy ngẫm chu đáo thật biết tỉ mỉ từng pháp giới, được Tinh Tấn, được Nhẫn Nhục và đến NHƯ TRÍ Thiền Định thật CHÁNH GIÁC.

TỰ TẠI ĐẠI BI, vì chúng sanh CẤU và LY nên thường nói pháp Tối Thượng Phi Đẳng, cốt yếu khi chúng sanh Cấu Nhiễm liền Xuất Ly cấu nhiễm. Lúc Chúng Sanh Ly chẳng Cấu thì liền nói pháp NHIẾP THÂU CẤU TỊNH, đó chính là pháp THIỆN XẢO. Cũng như Chúng Sanh TIN PHẬT quá Tín, thì nói rằng: Phải Tu Tâm giải nghiệp mới là Tin Phật, chớ chẳng nên ngồi quán tưởng mà có Phật. Đến giai đoạn chúng sanh Tu Tâm giải nghiệp CÓ, liền mang nghiệp HƯ KHÔNG Phi Tưởng thì lại nói phải nhìn, phải thường hướng về chư Phật tán thán Công Đức vô lượng vô biên chư Phật đã làm, ngày nay phải tự nguyện đang làm, cốt đem lại cho chúng sanh DIỆU GIÁC MINH TÂM soi khắp muôn phương không thiếu sót, từ nơi chiêm ngưỡng đến tâm cung kính cung nghinh mà sở đắc các pháp vi diệu, các Lý Sự chưa bao giờ biết hôm nay được biết, những gì chưa được thấy hôm nay nhờ Thanh Tịnh Bình Đẳng đến Đại Thanh Tịnh mà được Thấy huy hoàng không hai Tướng, thi hành nơi Hành Dụng Diệu Dụng nhận tỏ rõ nên mới xưng tán Như Lai.

TỰ TẠI TÂM, nói lên các pháp Tự Tại không Chướng Ngại, cốt yếu mở đường dẹp lối cho chúng sanh. Chúng Sanh từ Trí Thức mơ màng đang sống nơi mê lầm hỗn loạn, nhiều Vọng hơn là Thực Thể, nhiều sự lầm lạc hơn là lần bước trên đường đi đứng đắn để được an vui trong lẽ sống huy hoàng. Khi Chúng Sanh tu tập theo lời liền nhận để biết, nhận đặng nghe, nhận mà thấy, thì nơi Nghe-Thấy-Biết thảy đều là chân thật, ít lâm vào nơi điên đảo phân vân nghi ngờ nơi Tâm Thức nữa. Pháp Tự Tại là một pháp cứu cánh, khi bậc đang tu hành mỗi ngày Cổi Giải Tâm, tạo nên Đạo Đức, càng phá mê chấp bao nhiêu thì càng hiểu biết thêm bấy nhiêu. Càng thi hành nơi LÝ bao nhiêu, thì phải thực hành nơi SỰ bấy nhiêu. Nương nhờ nơi LÝ SỰ tương song để tỏ ngộ, đó chính là pháp môn tu không lìa Thể Tánh. Bằng đương nhiên nghi ngờ nơi Thần Thức di chuyển CÓ KHÔNG và KHÔNG CÓ mà thọ chấp lấy mỗi một bên thảy đều điên đảo. Như kẻ nhìn Mặt Trăng, mắt lòa hai ánh xao xuyến, hai Tướng CÓ KHÔNG đều là Tâm vọng. Ví như cây SEN đang sanh sống thu hút màu mỡ, bỗng nhiên SEN nghĩ có hút bùn hay không hút bùn? Chỉ vì SEN kia tự nhận thấy bùn nhơ đâm ra như thế. Chẳng khác bậc tu hành đang tu Bi Chí Dũng, Giới Định Tuệ cùng các pháp môn, tự nhiên suy nghĩ CHÂN GIẢ, GIẢ CHÂN, xong trở lại suy tính NÓ CŨNG CHÂN MÀ NÓ CŨNG GIẢ. Nơi CÓ KHÔNG cũng thế, nếu SEN kia cứ mãi nhiếp thu màu mỡ đương nhiên ngày kia đặng có HOA. Bậc tu cứ mãi tu trì đương nhiên đắc quả, đó chính thật là minh xác vậy.

ĐẠI BI TÂM chỉ rõ để nói lên tất cả chúng sanh từ nơi CHÂN TÁNH sáng suốt của mình chẳng biết dùng nó, từ nơi TÂM GIÁC, TÂM THÔNG nơi mình không biết dụng nó. Chỉ nhận lấy SẮC TƯỚNG mà dùng, nhận lấy BỀ NGOÀI làm nơi minh xác, do Tâm thường mắc miếu năng phân bị biệt trở thành có giới hạn khác nhau. Vì vậy mới có từng Sắc Thái, từng Chủng Tộc đến Y Áo giai cấp. Lý Trí chẳng đồng đương sinh khắc biệt. Từ chỗ khắc biệt nên có tranh giành thù hận gây tạo hoàn cảnh đủ điều để mà suy nghĩ tính toán. Bởi nó như thế nên Tâm thường động vọng, tâm hay điên đảo, tâm thường cách biệt, tâm thường hay ghét thương, tâm thường hay luyến ái, tâm thường hay sợ sệt lo âu, ít khi tâm được thong thả thảnh thơi chỉ vì sáu bộ trên nên trở thành Tâm sanh tử.

ĐẠI BI TÂM thật biết đứng về Nhân Cách, Thiên Cách, Tiên cách, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục, tư cách của họ không bao giờ mong muốn như thế, nhưng vì trót mê lầm nên thường bề ngoài để mà CÁCH TƯỚNG, thường nhận lấy bề ngoài làm nơi hiểu biết tư cách cá nhân mình trở thành dị biệt thiểu trí lầm mê. Chẳng khác kẻ uống lầm Ngũ Độc mặt mày xây xẩm, đứng trước tấm gương nhìn trong gương thấy mặt mình quá to sợ hoảng la hét. Nếu kẻ ấy nhận biết mình đang lầm say Ngũ Độc mà thấy nó như thế, thì không bao giờ hoảng sợ. Bậc tu hành biết chính mình đang bị lầm lẫn sống theo ý thức vọng tâm, nay đã nhận nơi Tâm Giác để mà TỰ GIÁC thì không bao giờ sợ vạn pháp. Nơi Tâm Giác ấy chính là TRÍ TUỆ THIỀN ĐỊNH.

ĐẠI BI TÂM thật biết sự lầm mê của chúng sanh bỏ Tâm Giác mà phải nhìn nhận Sắc Pháp dị biệt nên mới nói: “TÁNH THÌ BÌNH ĐẲNG, CÒN SẮC TƯỚNG BẤT BÌNH ĐẲNG.” Bên ngoài không bao giờ Bình Đẳng, duy nhất Tâm Giác mới nhận thấy Bình Đẳng mà thôi. Nói đến bên ngoài từ sắc thái, chủng tộc, tướng mạng của mỗi dân tộc, y áo của mỗi bậc, sự hiểu biết nhiều ít, nặng nhẹ, khôn dại trở thành giai cấp thứ bậc khác nhau, đó chính là lẽ dĩ nhiên của nó phải như thế.

ĐẠI BI TÂM mới khuyên tu CHỦ QUÁN THIỀN TỌA để tự quán Thân Tứ Đại của con người, nhờ Thiền Tọa Chủ Quán nên mới nhận thấy con người, dù cho có trăm vạn người chăng thì mỗi một người có Ruột, Gan, Phèo, Phổi, Tim, Óc, Máu, Mủ, tổng cộng 36 thứ bất tịnh in nhau. Đồng với Nghe -Thấy -Biết đều nhau. Nếu sửa Tánh tu Tâm hoặc chịu khó học hỏi cầu lấy sự tiến bộ đồng nhau bằng tu tập liền đến Giác Ngộ đồng đẳng như nhau. Nhờ nhận biết như thế nên được Tâm Giác bình đẳng sở đắc Thanh Tịnh. Khi Thanh Tịnh Tâm thi hành Bình Đẳng Tánh Trí mới nhận biết được pháp môn Tọa Thiền cốt nhận được Tâm Giác để Giác Ngộ, chớ chẳng phải theo sự mơ ước ảo huyền nhập Thiền ra vào Cảnh Giới Tiên Thần để nuôi mộng trên hình thức SẮC TƯỚNG lầm mê như những kẻ nói trên đã bị đứng trước Sắc Tướng cầu mong.

ĐẠI BI TỰ TẠI TÂM minh xác thật thể nhìn chúng sanh đang đứng trước mơ màng viển vông quá ư lầm mê trong vạn pháp, do đó nên mới KHAI để cho nó THỊ, mới đến đặng cho nó NGỘ NHẬP bằng đủ phương tiện cốt đưa nó nhận chân để đến Giác Ngộ. Vì nó mơ màng viển vông lầm mê như thế nên có bậc hỏi nó: “Sống để làm gì?” Thì nó chẳng biết nói sao hơn là: “Sống để ăn.” Nếu hỏi: “Ăn để làm gì?” Thì nó lại nói: “Ăn để sống.” Hoặc giả bậc ấy hỏi nó: “Làm để làm gì?” Nó cũng chẳng biết nó mãi làm rồi để làm gì.

Do đó, lúc nó tu hành nó chưa nhận định được nó tu để làm gì. Dù cho nó có nhận định với mức của nó đã hiểu chăng đi nữa cũng không ngoài ra tu để tạo lấy Đức Tánh tốt, hoặc nhẹ bớt cho Tâm khỏi nghĩ viển vông bận rộn, hoặc tu để nhờ kiếp sau nhàn hạ. Chúng Sanh nó luôn luôn suy nghĩ, nơi suy nghĩ của nó không ngoài vạn pháp LUÂN HỒI.

May ra nó gặp đặng bậc Thiện Tri Thức Giác Ngộ mới tận tường chủng trí của nó mơ màng, nhiều viển vông thường cố chấp trên sự lầm lạc của nó, mới tùy phương thức nơi nó mà KHAI để cho nó THỊ, lập thể biết nó đã có sự TIN VÂNG mới ĐỐN đặng cho nó NGỘ, khi nó Ngộ mới khuyến khích cho nó thực hành cốt cho nó thật tỏ rõ để giúp cho nó NHẬP. Cứ đưa cho nó lần lần hiểu, đến lần lần biết, đến bá thiên lần KHAI, bá thiên lần cho nó THỊ, qua bá thiên lần ĐỐN, trọn đến bá thiên lần nó NGỘ, nó phải Hạnh Nguyện qua bá thiên lần như thế cho thật rốt ráo mới NHẬP hoàn toàn Giác Ngộ.

ĐẠI BI TỰ TẠI TÂM thật biết nơi mê lầm của chúng sanh, từ Biển Cả rộng rãi, từ Đại Hải Trí nó lầm bỏ để nhận lấy Bọt Nước. Do lẽ ấy nên chi chủng trí thấp kém khi gặp bậc Thiện Tri Thức khai thị cho nó, dạy dỗ cho nó, lần đưa cho nó Trí Tuệ, đối với nó chẳng bao giờ nó muốn thọ chấp để an trụ, do nó an trụ vì chính nó chưa biết. Bởi nó như thế nên chi chính miệng nó nói là Tâm nó chưa biết.

Vì lẽ miệng nói TÂM chưa biết, nên chi bậc Chỉ Đạo mới khuyên: “Miệng nói Tâm chưa biết thì cần phải học lại lời nói đã nói nơi miệng đi. Đến chừng miệng nói Tâm biết, hay Tâm đã biết miệng mới nói, đó gọi là GIÁC TÂM TỎ PHÁP.”

Tình trạng nầy thời đức Thế Tôn vẫn thường có chư Bồ Tát đã từng thuyết pháp có lúc thuyết thời pháp quá tầm tuyệt mỹ, chưa bao giờ có những lời thuyết ấy, mới về bạch đức Thế Tôn, Ngài nói: “Ông nương vào Công Đức của Như Lai mới nói được như thế.” Chừng đó Bồ Tát nhận biết khi miệng nói Tâm chưa biết cần học lại lời nói của miệng. Đối với chúng sanh đang đứng trước mơ màng, thích thú chuyện viển vông rất dễ lầm nhận, vẫn yên trí rằng chính miệng mình đã nói đương nhiên mình đã giác, dù muốn hoặc giả chưa muốn cũng bị lầm.

Do nơi lầm ấy mà phần nhiều nói: Tôi đọc tụng Bát Nhã hay tu Bát Nhã, chưa biết Bát Nhã là chi. Dù có trích yếu văn tự nhìn hai chữ Bát Nhã là TRÍ TUỆ vẫn chưa hiểu Trí Tuệ thế nào là Trí Tuệ Bát Nhã. Đôi khi quan niệm tùy theo Thiểu Trí mơ màng cho là trí tuệ rỗng không mà thủ chấp nơi không để đến nỗi không biết, không Tâm yên lặng, tịnh khẩu cầu lấy Thanh Tịnh.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

4. LÀM THẾ NÀO TU TÂM ĐỂ GIẢI CUỒNG TÍN?

Trước tiên, các bậc tu hành phải nhất tâm đem tư tưởng tu cầu thiết tha đến chư Phật mong Quả Bồ Đề Giải Thoát. Lúc bấy giờ mới phát Bồ Đề Tâm Nguyện. Bèn gìn giữ Tâm Nguyện, Tâm lướt qua các chướng ngại của hoàn cảnh thử thách, trong một thời gian Tâm trở thành THÙ THẮNG. Từ bấy giờ mới bước vào con đường tu cầu CHÁNH ĐẠO TÔN CHỈ GIẢI THOÁT. Bằng chưa thành tựu Tâm Thù Thắng thì có tu chăng nữa cũng vẫn đứng trước Lý tu CẦU PHƯỚC hay tu làm LÀNH lánh DỮ thế thôi.

Bậc đã nung chí có công năng tạo Thù Thắng Tâm thực hành lướt qua các hoàn cảnh ngăn trở trên con đường tu mới nhìn thấy đó là: NGHIỆP hay MA NGHIỆP, chận đường bít lối, cản trở không cho mình tu. Khi lướt qua các Chướng Ngại trái tai gai mắt nghịch pháp thường thuyên diễn làm cho bậc tu hành phải nhiều cơn cố gắng giải tỏa, chừng đó mới nhận thấy mình Cổi Giải Tâm. Các chướng đối trái tai gai mắt của các Pháp nó không thực thể, lúc bấy giờ mới nhận thấy Tâm Thù Thắng rất có lợi là tạo thành Công Quả. Bậc tu nương nhờ nơi Thù Thắng mà ít vướng vào tội lỗi, tu đúng với tinh thần TÔN CHỈ Từ Bi Bác Ái, không buộc Tâm, đó chính là TU TÂM.

Sau khi có trình độ khá, nhờ Cổi Giải Tâm, Thù Thắng Tâm với Tự Tánh kiểm điểm soi biết sự lầm nhận từ Cá Tánh đến Trí Tưởng của mình cho mình là PHẢI, khi phần phải đã về mình Tự Nhận, đương nhiên nhìn thấy hành động của những kẻ chung quanh mình đều trái ý với mình, trở thành nghe trái tai, thấy gai mắt chướng đối. Đã chướng đối thì liền có bực tức, nào có ngờ đâu tự nơi mình tạo lầm lẫn mà trái lại cho tất cả kẻ khác lầm lẫn. Đó chính là cuồng mê, khi đang cuồng mê thì nơi Tâm Ý tin Phật vẫn bị vòng cuồng tín.

Lúc bấy giờ Tâm bắt đầu tu nơi thực thể soi giác, mới biết được nơi Tướng sai khác, có kẻ cao người thấp, có kẻ đẹp người xấu, gọi là Tướng Bất Bình Đẳng, nhưng Tánh thì Bình Đẳng giống nhau, ai ai cũng thảy đều có: Tánh nóng, tánh hiền, tánh giận, tánh hờn, tánh vui buồn, v.v... lần lượt soi nơi Tánh mình biết được Tánh người, từ đó thi hành Bình Đẳng Tánh Trí để nhiếp độ Tu Tâm.

Đến khi hiểu biết các Pháp Bình Đẳng nên chi từ Tịnh, Bất Tịnh, Thuận hay Nghịch, Tâm không còn quái ngại ngăn cách chướng đối. Nhờ Tâm không phân biệt nên phá Nghi Chấp Vọng Đảo, từ ấy Tu Tâm trong Lý Sự Đồng Song, Tâm liền suông suốt ít mắc miếu Sở Đắc THANH TỊNH TÂM. Tu trong thời gian Hạnh Nguyện Tự Lợi đến Tha Lợi chính mình được lợi là NHÃN TỊNH, NHĨ TỊNH. Nhờ Nhãn Nhĩ thanh tịnh nên chi trước kia cái NGHE Cố Thủ nó không ngoài THINH PHÁP, cái THẤY Chướng Ngại nó không ngoài SẮC PHÁP. Bởi Cố Thủ nên chi khi nghe không vừa ý liền ngăn cách. Lúc Thấy chưa Hợp Tâm liền Chướng Ngại Dị Phân. Vì lẽ ấy mà Tâm mắc miếu đủ cách, dù cho có cố nhiếp Tâm, kìm hãm Tâm không ích chi mà trái lại Tâm vẫn bị bên trong động vọng, đó chính là bậc chưa biết Tu Tâm để giải Cuồng Tín.

Bậc biết Tu Tâm trở thành Thanh Tịnh đến Nhãn Tịnh, Nhĩ Tịnh và bậc chưa biết tu tâm, đè ép Tâm Tịnh, hai bậc nầy khác nhau xa biệt. Vì sao? Vì bên ép Tâm để Tịnh Tâm tức nhiên Tâm bị Tịnh, Tâm bị Tịnh ấy phải xa lìa tiếng động bên ngoài, gạt bỏ cái Nghe chướng ngại, cái Thấy né sợ động Tâm ngăn cách khó tu đến thành tựu. Bậc nhiếp tâm Nhãn Tịnh, Nhĩ Tịnh đã từng đi trong chướng ngại, ngăn cách để nhiếp độ ngăn cách chướng ngại. Từ nơi bởi Cái Thấy, Cái Nghe Sắc và Thinh Pháp không còn chướng đối cách ngăn giữa hai Tướng kết chung về một Tướng.

Thế nào là Hai Tướng về Một Tướng? Tướng Nghe, Tướng Thấy là hai Tướng đều trả về trở thành TƯỚNG TÂM. Khi Thiện Nam, Thiện Nữ biết được Tu Tâm để giải cuồng tín thì cái Nghe, Thấy không còn là Bị Nghe hoặc Bị Thấy, mà nhận được Nghe, nhận biết Thấy. Đó chính là Chân Tâm Thể Tánh Thanh Tịnh mới đặng như thế.

Nhờ chẳng bị nên không ngăn ngại được Tự Tại dung thông, có dung thông mới nhận lãnh được lời Chân Pháp để Tu Tâm. Khi Tâm vướng mắc ngăn ngại thì tự sanh cách biệt giai cấp, khinh ghét thù hận chê bai đủ điều vạn cách. Lúc Tâm Thông mới nhận được TÔN CHỈ ĐẠO PHẬT rất nên chính xác ở nơi câu Từ Bi Bác Ái Bình Đẳng Chúng Sanh giai hữu PHẬT TÁNH. Phật Tánh mờ lu chỉ tại Tâm cuồng vọng, Tâm hết cuồng vọng thì Phật Tánh Quân Minh. Nếu tất cả chúng sanh Tâm quân minh thì chúng sanh Tâm thành Phật tất cả. Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn! Trên con đường Tu Tâm lướt qua các chướng ngại ngăn cách, học hỏi Giáo Lý, thực hành Hạnh Nguyện Tự Lợi Tha Lợi để thành tựu NHÃN TỊNH, NHĨ TỊNH. Tâm Thanh Tịnh tu thật là khó khăn, nhưng chưa khó. Vì sao? Vì có sẵn mục tiêu, có sẵn Ngự Tâm, có sẵn huân tập Thù Thắng Tâm để mà tu trên một đường lối rõ rệt với Tâm Giác nhận thức được. Đến giai đoạn Chân Phật Tử Sở Đắc CHÂN KHÔNG mới là giai đoạn khó khăn vô kể. Vì sao? Vì CHÂN KHÔNG, từ phát Bồ Đề Tâm tu qua các trở lực say Đạo, mến Đạo, hiểu Đạo, biết Đạo đặng Bất Thối Bồ Đề tu nơi Thể Tánh, dùng Thể Tánh thật tỏ rõ mà thành đạt TRI KIẾN PHẬT, mới Sở Đắc Chân Không Thật Chứng không hai. Khi Thật Chứng Chân Không liền thật biết không hai Tướng. Do mê lầm thường trụ chấp nơi Năng Sở Kiến Tri phải lầm theo vạn pháp, đương sanh khởi theo duyên khởi thọ chấp, đương diệt khởi mơ màng bất tín mà phải Sanh Tử, Tử Sanh vạn pháp. Nhờ thế mà Sở Đắc Chân Không thanh tịnh nhìn khắp Sơn Hà Đại Địa đều chân thật KHÔNG, quán Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Lục Đạo Chư Thiên đều Chân Không duy nhất. Tâm vô ngại mừng rỡ rỗng rang chẳng còn ngăn ngại lấy một pháp nào chứa đọng. Đó mới gọi là CHÂN KHÔNG THẬT CHỨNG TRI KIẾN PHẬT. Bằng đọc tụng hoặc giả liều lĩnh chấp nhận trong vòng Bị Biết Chân Không, nếu như thế gọi là BỊ KHÔNG thọ chấp.

Bậc Sở Đắc Chân Không đặng Tri kiến Phật phải tu trì Pháp Môn PHẬT TRI KIẾN mới trọn lãnh rốt ráo thành Phật, bằng chưa Thực Hành không bao giờ rốt ráo viên mãn thành Phật đặng. Đó chính là một yếu điểm khó khăn nhất như trên đã nói.

Pháp Môn PHẬT TRI KIẾN có những môn gì? Có hoàn toàn đầy đủ TAM THỪA chung lại một gọi là NHẤT HẠNH PHÁP MÔN. Khi thành tựu hoàn mỹ gọi là NHẤT TÔN PHÁP HẠNH. Nơi Nhất Hạnh Pháp Môn gồm có Tiểu Thừa, Đại Thừa và Nhất Thừa tu trì tu chứng trên Hạnh Nguyện, Lý Sự tương song, Đạo và Phẩm nhiếp độ (Phần Đạo Phẩm sau sẽ giải). Tất cả chư Bồ Tát sau khi Sở Đắc Chân Không nguyện tu trì Hành Thâm Pháp Giới, Bát Nhã Ba La Mật Đa, đồng nguyện Độ Sanh trong mỗi phẩm nguyện mà hoàn toàn Tri Kiến, hoàn toàn Giải Thoát.

Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, các bậc Tu Tâm đứng giữa Thật Chứng Chân Không thì thường hay tự kiểm điểm để thi hành Hạnh Nguyện nhiếp độ mê lầm cho rốt ráo thành Phật. Còn ngoài ra những bậc chưa thật chứng hoặc giả vừa Kiến Tri chưa đem đến nơi sát thật Sở Đắc vội Chủ Thủ thường vấp phải nơi vọng loạn đảo điên mà tự sanh Tà Kiến. Vì vậy nên Phật mới nói: “Mình tự nhận Sở Đắc chưa hẳn là Sở Đắc, đến giai đoạn Sở Đắc thì không nhận cũng vẫn Sở Đắc.”

Đối với bậc Sở Đắc Chân Không thì chẳng nói làm chi, nhưng sự Tu Chứng chia ra rất nhiều thứ bậc khó diễn nói cho đặng. Vì sao? Vì nó chính là một NGÃ BA chia ra rất nhiều ngộ nhận khác nhau, tùy theo Năng Sở Đức Trí mà thành tựu quả vị CHÂN KHÔNG.

Nếu là bậc căn bản Đức Trí Thật Chứng thì bậc này thường suy ngẫm kiểm soát Đạo Hạnh và Đức Trí nơi mình, nương theo Bát Nhã Tâm Kinh lấy Chân Không làm chỗ trú của Bồ Tát. Khi thực hành Hạnh Nguyện gặp phải các pháp hiện hành quá ư chướng đối thời quán Chân Không để Điều Ngự Tâm, trên cung kính ngôi Tam Bảo, dưới Đạo Hạnh Lục Hòa huân tập Đạo Tràng làm nơi Thường Lạc, làm các Phẩm Công Đức Hành Thâm Pháp Giới Tự Lợi Tha Lợi.

Bậc nầy thật biết Pháp Bất Tịnh, con đường Bất Tịnh không chướng ngại, nhưng không bao giờ thi hành dung dưỡng Dục Vọng của Bất Tịnh. Bậc nầy rất biết Nghịch Hành nhưng tùy theo Đốn Ngộ cho kẻ khác thi hành giúp đỡ nhưng không mất Đạo Hạnh uy nghi, từ ngôn ngữ ngạo mạn đến danh từ Tăng Thượng thật biết dùng đúng chỗ thuyết giải chẳng khác Sư Tử Hống làm cho tiêu dẹp Tứ Ma Ngoại Giáo, không một mảy may riêng ý mà thi hành. Vì sao? Vì gìn giữ Bảo Truyền ngôi Tam Bảo như gìn giữ Thân Mạng mình để cho kẻ khác khỏi đoạn duyên Phật, mà chính ra đã thực hành Đạo Hạnh tương song vào con đường NHẤT HẠNH. Do đó thường làm gương cho các bậc tu hành để nhất tâm dâng cúng Bảo Phẩm Báo Ân chư Phật.

Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, CHÂN KHÔNG là pháp chân thật của Không. Chân Không là nơi Tịnh Độ của Bồ Tát. Lúc Bồ Tát mặc áo giáp Chân Không của Như Lai để ra vào Pháp Giới, ra vào các pháp Tự Tại Vô Ngại thành tựu Đại Bi mà thi hành Bát Nhã Ba La Mật Đa vậy.

Theo tinh thần nói trên, các bậc tu Tâm nên nương theo đó mà tu. Chớ vì KHÔNG vô ký mà trụ, chớ vì quan niệm tu Đạo Hạnh thi hành phẩm hạnh độ sanh mà vương nơi thọ chấp, lầm lẫn Đạo Tràng. Bậc biết tu hành, trước cũng như sau duy nhất, gìn giữ trọn Đạo, đó là bậc Đại Trí Bất Thối sẽ kết quả hiện tại đến bờ bên kia vậy.

Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn, đối với bậc Sở Đắc Chân Không như trên đã nói, tuy nó có một ngôn ngữ, một văn tự, nhưng nó chia ra làm NGÃ BA, vì sao? Vì có rất nhiều ngộ nhận khác nhau của mỗi một ngã. Nó tùy theo Đức Trí, tùy theo Năng Sở Kiến Tri (theo nhận thấy biết của mình) mà thứ lớp thành tựu lấy quả vị Chân Không. Nên Ngã Ba ấy có BA LỐI như sau:

• LỐI THỨ NHẤT: Bậc nầy vẫn gìn giữ Đạo Hạnh, thường kiểm điểm lấy Đạo Hạnh của mình nơi sai đúng, trên cung kính ngôi Tam Bảo, dưới Lục Hòa Tín Chúng, thật biết các pháp chính là KHÔNG nên thường hay Tịnh Dưỡng Thân Tâm, huân tập thanh tịnh, vì như thế nên nặng về Tịnh, bảo tồn về ĐỨC nhiều hơn TRÍ. Sau khi thành tựu thật chứng TỊNH ĐỘ, còn bậc chưa Sở Đắc Chân Không tự tạo Đức Độ, gìn giữ Thanh Tịnh Tâm, chiêm ngưỡng đức Phật A DI ĐÀ, sau được độ gọi là TỊNH ĐỘ được Độ.

• LỐI THỨ HAI: Lối nầy bậc tu Tâm sau khi Sở Đắc Chân Không, nhìn nhận Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới do các pháp thọ chấp an trụ mà có, vốn nó không từ chứng tri nơi KHÔNG mà Tâm Vô Ngại, nương nơi Vô Ngại mừng rỡ không chấp trụ. Do không chấp trụ mà dừng lại nơi sở chấp KHÔNG. Tâm kia liền phát sanh tự tại, nơi tự tại ấy là tự tại của Tâm phát sanh, chớ chưa phải là Tự Tại Tâm thật chứng.

Tâm tự tại bị phát sanh buông lung phóng đạt, trở lại cho tất cả đang tu tập đạo hạnh hành nguyện là đang lầm mê, cho Đạo Tràng là nơi củng cố không giải thoát, liền bước vào Bất Tịnh Nghịch Hành làm thú vui theo Dục Vọng đảo điên cho thỏa mãn nhu cầu tham vọng, cứ ngỡ mình là Sở Đắc Tối Thượng thành Phật. Vì sao? Vì thật biết các pháp có thì liền có Phật, nên chi mới chấp nhận đơn giản PHẬT là PHÁP, mà PHÁP là PHẬT, chớ chẳng chi là Phật. Nào ngờ bậc nầy vừa Tri Kiến Phật, phải cần tu Pháp Môn PHẬT TRI KIẾN cho thật Giác Ngộ, thật tỏ rõ bá thiên vạn pháp rốt ráo mới thành PHẬT. Như trước đã nói qua do lầm lẫn nơi Chân Không Pháp mà phải lâm vào Ngoại Giáo, thuyết pháp bừa bãi Tăng Thượng, ngạo mạn, tự cho mình hoàn toàn Chánh Giác phải vào TÀ KIẾN CHỦ THỦ.

• LỐI THỨ BA: Bậc nầy cần lấy căn bản ĐỨC TRÍ tương song, bậc nầy Tu Tâm Thực Tánh, vẫn nương theo Đạo Hạnh Hạnh- Nguyện cùng các pháp môn nhận Thấy Biết hoàn mỹ. Huân tập Đạo Tràng để tỏ rõ Lý Sự Chứng Ngộ của từng bậc thường trụ chấp, thường vội chấp nơi năng sở kiến tri Tu Chứng từ hàng Thinh Văn, Duyên Giác đến A La Hán vì sao Thọ Báo Địa Ngục, vì sao Chánh Báo chư Thiên hay Tiên Thần, vì sao diễn hóa trở thành Tam Thiên... Bậc nầy cốt nhiếp thu tất cả các thứ vị của các hàng Chứng Tu để chính mình rốt ráo Thật Chứng.

Bậc thứ ba nầy không bao giờ nhàm chán Hạnh Nguyện độ sanh, vì sao? Vì Hạnh Nguyện độ sanh là món ăn của Bồ Tát, nhờ Hành Thâm Pháp Giới mới đặng thật biết vì cá tánh cố thủ, bản ngã tự thủ, sở ngã cùng ngã đều là nơi lầm lẫn tư riêng nên trở thành mỗi giới cố định, chịu nơi Sanh Tử Luân Hồi của pháp giới, chịu làm chúng sanh thọ nghiệp của mỗi giới. Bậc nầy nương nhờ Hành Thâm Pháp Giới mà nhiếp độ được bá thiên vạn ức pháp giới, rất tỏ rõ từng pháp giới, không còn lầm lẫn nghi ngờ gì tại sao có pháp giới. Tâm nọ liền sở đắc ĐẠI THANH TỊNH. Lại nữa, khi phát tâm Hạnh Nguyện độ sanh, nương nhờ trên con đường Hạnh Nguyện cứu giúp cho mọi người thoát khỏi nỗi đau buồn khốn khổ mà thật biết sự MÊ LẦM chính là khổ nhứt, không có hoàn cảnh nào khổ cho bằng LẦM MÊ.

Do được biết sự mê lầm gây tạo buồn khổ đau thương có hằng hà sa số kiếp như thế mà bậc nầy mới nhất Tâm phát Đại Nguyện chịu lấy cái Khổ cho tất cả nhân loại để duy nhất mỗi một mình mình thay thế cho tất cả trần lao. Nhờ Hạnh Nguyện cởi mở hằng vạn lối lo âu của mỗi người bị lo âu thoát khỏi lo âu. Nhờ Hạnh Nguyện như thế mới Thật Chứng nơi diễn hành của Sanh Tử Luân Hồi quá ư ghê tởm. Từ chư Thiên mà hết phước phải sa Địa Ngục bị hình phạt gông cùm đói khát. Từ một lời nói tổn làm đoạn duyên Phật phải chịu nơi A Tỳ Địa Ngục hằng trăm kiếp, chừng nào kẻ kia phát Bồ Đề Tâm nguyện thì chừng đó lời nói tổn kia mới đặng thoát sanh. Thật biết như thế nên thường khuyên nhiều người hãy phát tâm tu nguyện cốt giải Địa Ngục những kẻ phạm ngôn.

Nhờ Hạnh Nguyện mà thật biết rõ ràng vấn đề tu Tâm đoạt đến Bản Thể Chân Tâm rốt ráo chẳng phải ngồi yên mà Tâm nọ mới đoạt được, cũng không phải tu mới vừa Đắc Pháp Chân Không mà trọn giác Bản Thể đặng. Phải thi hành Hạnh Nguyện cùng với Hành Thâm Pháp Giới nương nhờ hai pháp môn trên phối hợp trở thành pháp môn Bát Nhã. Vì sao? Vì Hạnh Nguyện Hành Thâm Pháp Giới với mục tiêu nhiếp độ Thật Giác, chớ chẳng phải Hạnh Nguyện Hành Thâm mà thọ chấp an trụ nơi Hạnh Nguyện Hành Thâm. Nhờ mục tiêu chánh đáng ấy nên mới thành tựu Bát Nhã Đà La Ni Tạng.

Lúc bấy giờ mới nhận biết thật tỏ rõ các pháp môn phải tu trì không thiếu sót ĐẠO PHẨM, phải nhiếp độ tận tường. Từ Kinh Pháp đến thực hành Hạnh Nguyện phải đầy đủ mới đoạt đến TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG, mới nhận rõ ràng TÔN CHỈ chư Phật Từ Bi đã nói: “Tứ loài chúng sanh giai hữu Phật Tánh, Vì bởi mê lầm theo VỌNG TÂM mà chịu làm Chúng Sanh Giới, nó là Phật sẽ thành.” Từ nơi lời HỶ XẢ VỊ THA Phật đã nói lên: “Nó không bao giờ có nghịch hành hay bủn sẻn xấu xa, nó chính là Phật, chẳng chịu làm Phật, ưa làm chúng sanh nên phải như thế.”

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

3. NÊN KIỂM ĐIỂM MỚI GIẢI ĐẶNG BỆNH MÊ LẦM

Phật Đạo đối với các bậc tu hành rất cần các bậc tu phải tự kiểm điểm ĐỨC TÁNH của mình, kiểm điểm từ NGÔN HẠNH đến TRÍ TUỆ nơi mình, kiểm điểm tất cả những TÁC ĐỘNG TINH THẦN đến HẠNH NGUYỆN mới mong giải đặng bệnh lầm mê. Chính bậc Đại Trí chẳng vì THIỆN mà chủ thủ khoe khoang ỷ lại, không vì BẤT THIỆN của kẻ khác vấp phải mà mình lại khinh khi xa lánh. Bậc ít kiểm điểm lấy Tự Tánh nơi mình thì vẫn thường vấp phải nơi TỰ NGÃ CHẤP PHÁP không thế nào giải đặng bệnh lầm mê, đó chính là mục tiêu cần ghi nhớ.

Dù cho có bậc có TRÍ TUỆ THIỀN ĐỊNH chăng, nhưng chưa có Lý Sự tự kiểm để nhận đường tu hành của mình có Tự Ngã Cố Thủ không? Thì thật ra chưa phải là bậc đã tu vào con đường Chân Pháp. Bậc biết kiểm điểm chính có lợi. Vì sao? Vì ít xa lìa THỂ TÁNH để tu, bậc nầy không tu về một chiều Tham Vọng nên mới biết kiểm điểm Nghiệp Căn, Nghiệp Chướng cùng Chướng Nghiệp. Khi bậc chưa kiểm điểm, chẳng chỉnh trang Đạo Hạnh thì thường buông lung Tự Ngã phải lâm vào TÀ KIẾN hoặc lộn vòng nơi CHÚNG SANH GIỚI, chìm đắm nơi PHÁP GIỚI SANH DIỆT.

Rất cần đến TRÍ TUỆ, ĐẠO HẠNH tương song mới đoạt đến ĐỨC TRÍ vẹn toàn. Nếu có Đạo Hạnh chưa có Trí Tuệ mà cho đó là mục tiêu chính, thì bậc nầy thường tự tạo lấy VÔ MINH. Bằng có Trí Tuệ mãi tu theo con đường phá chấp, chưa có Đạo Hạnh, cho đó là mục tiêu chính, thì bậc nầy thường tự tạo lấy TÀ KIẾN. Một trong hai Pháp Hạnh trên phần nhiều các bậc tu chênh lệch, do lẽ ấy mà rất hiếm bậc tu đến TOÀN GIÁC.

Nói đến bệnh mê lầm thì không thể nào kể cho hết những nông nổi hành động của cái Mê, bậc tu nhìn biết được những lối Mê, nơi Chấp của kẻ khác, chớ ít khi nhìn lại cái Mê lối Chấp của mình. Bậc mà biết kiểm điểm mình và biết kiểm điểm của kẻ khác để tu mới gọi là bậc Sáng Soi TỰ TÁNH TỎ TÁNH.

Nói về những chỗ sai lạc trên con đường tu thì không thể nào nói được, vì sao? Vì còn lầm thì còn sai, chỉ nơi tự kiểm điểm biết được sai mới trở thành đúng. Lúc bậc tu biết tất cả kẻ khác lầm lẫn chính nơi mình đã bị lầm lẫn, thì Tâm chẳng còn trách ai cả mà đặng đến nơi CHÂN THỂ tu đúng với đường tu.

THẾ NÀO LÀ CHÂN PHÁP?

CHÂN PHÁP CHÍNH LÀ PHÁP KHÔNG CHẤP TRỤ.

Bậc kiểm điểm lần tiến không chấp trụ, đó chính là bậc tu không mất Chân Pháp, không lìa Chân Thể. Khi bậc tu Phạm Giới, phạm Lỗi Lầm nghi chấp liền phá nghi chấp, giải lỗi lầm, nói lên để giúp cho tất cả giải Nghi phá Chấp lầm lỗi, cốt để cho kẻ khác khỏi phạm giới, khỏi lỗi lầm nghi chấp, đó chính là bậc ĐỘ GIỚI Giải Mê không xa lìa Chân Thể, tu theo Chân Pháp.

Bậc đã biết tu nơi Chân Pháp là Pháp Không Trụ Chấp, bậc đã biết kiểm điểm ngược xuôi cốt Tỏ Tánh, phá mê lầm thì bậc nầy chẳng xa lìa Thể Tánh để nhiếp độ mà tu. Nhờ như thế nên chi lúc xem Kinh Pháp được biết tỏ rõ rằng: Không thể nào nhận định nơi suy tưởng của mình trong lúc hãy còn lầm mê mà suy đoán chấp nhận cho là mình đã lãnh hội đầy đủ Thời Pháp nơi Kinh Pháp được. Vì sao? Vì Kinh Pháp tùy theo trình độ Mê Lầm diễn giải, nên kinh pháp có rất nhiều chiều hướng khác nhau, không ngoài nói lên để bậc tu kiểm điểm phá Mê mà TRỰC GIÁC.

Đương thời đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài tùy theo bệnh Năng Sở Kiến Tri (thường chấp những nơi Thấy Biết của mình) mà chỉ dạy, tùy theo đố tật cố định mà giảng nói, tùy tất cả các bệnh từng lớp chỉ bày tu tập. Như trên đã nói mỗi một Pháp Môn là một dụng cụ cứu chữa mê lầm.

Đôi khi gặp đặng quyển Kinh nói: “TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH” hoặc giả câu: “NIỆM PHẬT LIỀN THÀNH PHẬT.” Lời Phật nói ấn chỉ quyết định. Đứng nơi Chân Tánh để tu, thì cần phải tu mới thành Phật. Đứng về Chân Thể mà thi hành thì phải tu sao từ nơi VỌNG LOẠN đến NHẤT TÂM NIỆM PHẬT, lúc bấy giờ mới thành Phật. Đó chính là bậc biết kiểm điểm giải đặng mê lầm vậy.

Các bậc tu chưa kiểm điểm trở thành TIN chưa đúng chỗ của lời VÀNG chư Phật đã nói, nên gia công Niệm Phật, niệm đến nỗi từ bước đi, đến khi đứng, qua lúc nằm, đang khi ngồi thảy đều Niệm Phật, mà thật ra Tâm đang còn vọng loạn đảo điên niệm, đó chính là một lối lầm mê vô kể.

Còn nhiều bậc tu chủ yếu phá Mê Chấp, gọi là hết mê thì Giác Ngộ, càng phá chấp mê bao nhiêu lại trở thành mê chấp bấy nhiêu. Càng lìa Bản Ngã bao nhiêu lại càng nâng Bản Ngã Tự Thủ bấy nhiêu. Những bậc tu như thế thiếu kiểm điểm, thiếu Tự Lợi trao đổi để Lợi Tha đến Tha Lợi.

Nếu các bậc tu nhận định kiểm điểm đặng lời Vàng chư Phật chính là lời ẤN CHỈ quyết định để chỉ đường cho các bậc tu phải đi đến đó, phải bước đi từng giai đoạn, biết từng chi tiết cho đúng với tinh thần mục đích, thì không phải là Phật cũng thành Phật. Khi đã vẹn vừa không thiếu sót từng Đức Trí đến hoàn mỹ thì không còn là sẽ THÀNH nữa.

Bậc đã biết tu thế nào là CHÂN PHÁP, biết HẠNH NGUYỆN để tu thế nào là CHÂN TÁNH, hiểu biết thế nào là THỂ TÁNH, nhiếp độ thế nào đặng RỐT RÁO, thì đã hiểu biết được MỤC ĐÍCH, TÔN CHỈ PHẬT ĐẠO để tu được thành Phật trong Hiện Tại, bằng chưa biết như thế thật khó thành.

Nói đến Tôn Chỉ, Mục Đích Đạo Phật như thế nào? Tôn Chỉ Đạo Phật các bậc tu hành phải thi hành TỪ BI BÁC ÁI. Nơi Từ Bi Bác Ái chư Phật đã nói lên đồng thời công nhận TỨ LOÀI bình đẳng, đối với Chúng Sanh thảy đều có PHẬT TÁNH. Từ Bi Bác Ái đến nỗi nói chúng sanh nó bị mê lầm chịu trong vòng Sanh Tử, nơi Tử Sanh Luân Hồi phải mang thân làm các loài súc vật trở thành: Noãn Sanh, Hóa Sanh, Thấp Sanh cùng Thai Sanh. Chính nó là Phật sẽ thành.

Tôn Chỉ Đạo Phật chính là một Tôn Chỉ Tối Thượng cao quý vô cùng. Nơi Từ Bi Bác Ái đã công nhận như trên, còn lòng Hỷ Xả Vị Tha hãy còn nói lên lời Diệu Dụng Hành Dụng như: Nó không bao giờ có những Nghịch Hành xấu xa. Nó không bao giờ có những trạng thái đê hèn bủn sẻn. Chính nó là Phật, chẳng chịu làm Phật, ưa làm Chúng Sanh nên nó phải như thế. Thật là lời nói đầy Hỷ Xả Vị Tha không sai chạy. Đối với bậc đã Giác Ngộ mới công nhận lời nói trên không HAI TƯỚNG mà tán thán đảnh lễ chư Phật đã đem tình Duy Nhất Vị Tha cứu độ chúng sanh mà thành lập Tôn Chỉ để cho các Chân Phật Tử nương theo tu hành dưới sự Chỉ Đạo Đức Chí Tôn vậy.

Mục đích Đạo Phật là mục đích GIẢI THOÁT. Các bậc tu hành hãy nương theo cho đúng Tôn Chỉ trên để mà tu, khi bậc tu thật hành đúng với Tôn Chỉ thì cần phải kiểm điểm lấy Tánh Tình Nghiệp Chủng của mình trước tiên, chớ vội phiền trách chê bai kẻ khác ở chung quanh mình, phải thi hành Lục Hòa, gặp phải sự lầm lẫn ngang chướng của kẻ khác chớ nên gây thù hận. Lúc bậc tu mang phải thù hận oán trách, chính là bậc tu mang phải bệnh Mê Lầm. Khi bậc tu cho kẻ nầy, người nọ ngu xuẩn, chính là bậc tu phải mang lấy ngu xuẩn của bệnh Mê Lầm. Tuy nói ra rất dễ, nhưng các bậc tu thi hành rồi biết đặng lời Chỉ Đạo của chư Phật, chính quá ư tối diệu.

Nầy Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn! Thiện Nam Thiện Nữ tu cầu đúng với tinh thần nơi TÔN CHỈ Đạo Phật đoạt đến Mục Đích GIẢI THOÁT, cần phải THÀNH THẬT và THIẾT THA TÂM cốt giải bệnh Mê Lầm, liền vào CHÁNH TÍN đến CHÁNH GIÁC. Vì sao phải vào Chánh Tín mới đến Chánh Giác? Vì bệnh lầm mê, chính là bị vương Cuồng Tín. Khi đang cuồng tín nghe Pháp vẫn cuồng tín. Đạo Phật dạy cho chúng sanh từ nơi Giải Mê, bớt cuồng tín lần vào Chánh Tín mới nhận rõ được lời Chánh Giác chân thật của chư Phật mà Giác Ngộ.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

2. MỖI MỘT PHÁP MÔN LÀ MỘT DỤNG CỤ CỨU CHỮA BỆNH MÊ LẦM

NÓI ĐẾN TINH THẦN CAO QUÝ CỦA ĐẠO PHẬT thì khó diễn tả, khó tán thán, chỉ trừ ra có công năng tu tập, tùy khả năng theo trình độ hiểu biết đến giai đoạn nào thời giai đoạn ấy tán thán thôi.

Còn nói đến các pháp môn thật tối diệu khó nghĩ bàn. Vì sao? Vì mỗi pháp môn thật hành tu tập, chính là mỗi một dụng cụ linh động cứu giải cho một pháp giới. Cứ kể mỗi Nhân Sinh lầm chịu một pháp giới (hoàn cảnh) nhất định, ngoài ra còn phải chịu rất nhiều pháp giới (hoàn cảnh) phụ thuộc. Đem so tính tất cả nhân sinh đang sống trên vũ trụ nầy thì thật ra vô số, gọi là hằng hà sa số nhân sinh. Lại đem mỗi một nhân sinh làm bài toán nhơn một lấy trăm thời kể ra vô tỷ triệu pháp giới. Thế mà liền có hằng hà sa số vô tỷ triệu triệu pháp môn cứu chữa.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài thật biết tỏ rõ tất cả chúng sanh trót lầm mê tạo thành Pháp Giới, phải chịu lấy một pháp giới nhất định, còn ngoài ra rất nhiều pháp giới phụ định trong cam khổ, nên phải làm Chúng Sanh Giới.

Từ Vũ Trụ đến Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, chỉ vì Duyên Khởi thọ sanh nơi Tướng Phần mong cầu nơi Chánh Báo Pháp Giới, Chịu Báo Pháp Giới. Sự lầm mê nguy hại nơi Sanh Tử Luân Hồi như thế nào, Ngài thật biết tỏ rõ, vì lòng Đại Bi mà diễn giải nơi Tam Tạng kinh điển chung gồm cứu độ cho tất cả Pháp Giới không thiếu sót, miễn chúng sanh thật hành tu tập liền đặng giải thoát Thật Chứng. So trên thì làm thế nào nói lên cho đúng với tinh thần Tối Thượng cứu giải vô biên Pháp Giới của Phật Đạo.

Những tinh thần cao quý, yếu điểm tối thượng đã nói trên, nên chi Pháp Phật rộng rãi bao dung vô biên khó kể. Cứ mỗi một lời Vàng nơi Kinh Pháp Chí Tôn giải cứu độ mê lầm đến 84.000 vị tu hành trong một năm vương chấp. Riêng mỗi vị như thế có đến 100 lần nghi chấp, phá đặng chấp rồi lại nghi trong một năm, thật là tinh thần cứu cánh Tối Thượng vô kể. Kinh Pháp là CẨM NANG thường nhắc nhở lần đưa các bậc tu từ khởi đầu đến tận cùng Chánh Giác. Kinh Pháp chính con đường Chỉ Đạo Bất Diệt. Khi bậc có Thiện Chí tu hành thì kết quả hiện tại, vì vậy chư Bồ Tát nguyện thực hành tu tập rốt ráo thành Phật. Kinh Pháp đầy đủ LUẬT LUẬN tương song, TƯỚNG TÁNH đồng nhất để chỉ bày. Bậc tu đứng trước thời nào tu vẫn Sở Đắc, thời nào bậc tu hành có thiện chí quyết tâm thì thời ấy là Chánh Pháp chứng tri thật sự. Đương thời Chánh Pháp nhưng bậc tu chưa quyết tâm thiện chí thì vẫn phải chịu Mạt Pháp đối với Kinh Pháp.

Đối với Bảo Phẩm Kinh Pháp, Đại Bồ Tát thời quá khứ đồng nguyện hộ trì, nên chi có một linh động tối diệu đáng kể. Linh động tối diệu ấy, thường ứng trực trước giờ phút để giúp đỡ các bậc tu Thiện Chí nhất tâm tu cầu được như ý nguyện, Kinh Pháp lại những nỗi khó khăn nan giải đối với bậc tu. Khi Sở Đắc Chân Không liền diễn giải Chủ Quán Tam Muội Pháp Môn đến Hành Thâm đoạt Bát Nhã, nếu chưa rốt ráo có mỗi một khởi điểm nào vội Thọ Ngã thành Phật liền vương vào PHẬT GIỚI QUỐC ĐỘ.

Phần trên diễn giải Lý Sự Tương Song, tinh thần cùng mỗi Pháp Môn là một dụng cụ cứu độ mê lầm cùng tu chứng hiện tại đối với bậc Thiện Chí Quyết Tâm, tinh thần hướng thượng nương theo con đường Bồ Tát Nguyện để tu. Đến phần giữa nói rõ Thọ Chấp, Trụ Chấp nơi nào thì bậc tu phải chịu đang nằm nơi Pháp Môn ấy mà Tu Chứng an trụ với Chứng Tu chưa rốt ráo. Đồng thời chỉ rõ Kinh Pháp chính là CẨM NANG BẢO PHÁP.

Sau đây nêu lên tinh thần một vài quyển Kinh để các bậc tu nhận hiểu yếu điểm phẩm lượng của sự chỉ dạy Kinh Pháp thật là Bảo Phẩm vô lượng Đại Bi chư Phật giải Mê, phá Nghi Chấp Tối Thượng:

Kinh Duy Ma là quyển Kinh hóa giải. Khi bậc tu lầm nhận an trụ hoặc giả mơ màng vấp phải quan niệm Định Tưởng nơi mình chênh lệch, nặng nhẹ mỗi một bên trở thành chưa đúng với đường tu, chưa hợp với tinh thần Pháp Môn Giải Thoát. Ví như: Say Đạo dãi đải đời hay chìm đắm nơi Đời chưa có tinh thần Đạo hoặc nặng Thánh chê Phàm, hay tu Thiền thụ Thiền, tu Tịnh thụ chấp nơi Tịnh, làm cho đường tu trở thành Chủ Thủ mà chẳng đến nơi rốt ráo Giải Thoát.

Đối với Đạo Phật, bậc tu Phật căn bản là phải tu Pháp Môn Giải Thoát. Tu Pháp Môn Giải Thoát tư thế gìn giữ quân bình như: Trí Tuệ Hạnh Nguyện Viên Dung, Giáo Lý Đạo Đức chẳng thiếu, Thiền Tọa Trí Tuệ không hai, đó là Pháp Môn Giải Thoát. Bằng chưa có quân bình như trên hãy còn đang nặng nhẹ không sửa sang, thì việc tu cầu kia gọi là tu Phước Báo Nhân Thiên. Do như thế nên Kinh DUY MA đứng lên chỉ lời hoá giải khỏi bị chấp mê đặng đến nơi tường tận. Trong Kinh Duy Ma còn có một Phẩm chỉ rõ các bậc tu đã thành tựu đến mức Bồ Tát mong an trụ, thời Kinh ấy mới chỉ vào Phẩm “Bồ Tát lãnh lấy cõi Phật,” cốt để Bồ Tát thực hành Hạnh Nguyện Lý Sự đồng song, tu đúng với Pháp Môn Giải Thoát. Các bậc tu xem như sau nhận định:

Ông XÁ LỢI PHẤT tu Thiền THỤ THIỀN, gặp Ông DUY MA bèn bảo: “Ông chớ ngồi yên như thế mà được yên. Vì sao? Vì chừng nào chúng sanh (Chúng Sanh Tánh) đặng yên thì chừng ấy Ông mới yên...” Làm cho Ông Xá Lợi Phất thức tỉnh Giác Thiền. Từ nơi Thiền Tịch Tịnh Sở Đắc Như Lai Thiền soi sáng Thân Tâm thanh tịnh mới hay rằng chẳng phải thụ thiền suy tưởng mà Tỏ Ngộ.

PHẨM A NAN LẤY SỮA:

Ông A NAN chưa nhận được nơi Chánh Báo Giác Tâm, chỉ dùng nơi Thân Sắc Tướng Phần, mới có quan niệm đức Thế Tôn Như Lai bệnh, nên chi gặp Duy Ma giải nghi bằng cách vặn hỏi, làm cho A Nan lý bí. Sau một hồi mới nhận rõ Chánh Báo Vô Thượng Chí Tôn không còn nghi ngờ nữa.

PHẨM ĐẠI CA DIẾP:

Đại Ca Diếp đi khất thực chưa chu đáo quân bình, lấy Tướng Phần phân biệt. Gặp Duy Ma nói lên Pháp Công Đức Bình Đẳng Bất Nhị, Ông Ca Diếp tỏ thông Đức Tánh liền Sở Đắc Bình Đẳng Tánh Trí. Kinh Duy Ma là mỗi một tiếng trống thức tỉnh giữa các bậc tu đương cơn dừng trụ, chớ chẳng phải xem Kinh Duy Ma, Pháp Duy Ma mà Hoàn Giác. Kinh Duy Ma hóa giải tuyệt mỹ khó nghĩ bàn.

VỀ KINH THỦ LĂNG NGHIÊM:

Về Kinh THỦ LĂNG NGHIÊM, đức Thế Tôn, Ngài giảng nói tất cả về Vọng Tâm suy tưởng nơi Tướng Phần, Lý Đoán năng biệt Bị Biết. Ngài dụng Triết Học, Khoa Học, Hình Học Siêu Thoát Tối Thượng để giải Nghi, phá Ngăn Chấp tuyệt mỹ hoạt bát để cho phơi bày Tâm Thức bậc tu hành nhận rõ nơi Chủ Thủ của mình, đặng nhận biết nương theo Tâm Giác tu đến GIÁC TÂM mà Sở Đắc BẢN THỂ CHƠN TÂM.

Phần Ông A Nan thưa gởi toàn những điểm nghi ngờ nơi năng sở kiến tri vọng thức, cốt làm gương cho các bậc tu hành để tránh khỏi năng phân bị biệt của mình mà biết nhận định Tâm Giác, thật là một bộ Kinh đáng kể, lối giải thích của Tâm Thức tuyệt pháp.

Sau đây nói lên một công trình vĩ đại của những Bổn Nguyện Diệu Dụng Chư Phật, Hành Dụng chư Bồ Tát Nguyện cốt yếu nghiêng mình tán thán để các bậc Tu Hành nhận định rất có lợi cho con đường tu tập.

Khi các bậc tu lấy tinh thần Hướng Thượng, nhờ tinh thần ấy mới nhận định được Bổn Nguyện cùng với Hạnh Nguyện của chư Phật, chư Bồ Tát đang đồng xây lâu đài Bảo Pháp. Lúc bấy giờ các bậc tu không thể nào ngồi yên, phải giúp đỡ cho những kẻ thiếu Đạo Đức, thiếu Trí Tuệ, thiếu Khả Năng tu tập, đó gọi là Hạnh Nguyện, đồng nguyện chư Phật và chư Bồ Tát chỉ vì lòng Vị Tha Đại Nguyện không ngừng cốt đưa Chúng Sanh thoát khỏi nơi Sanh Tử, nên chi mới đồng nguyện như sau:

* ĐỨC ĐÔNG ĐỘ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI nguyện cứu độ chúng sanh đương khi lầm lẫn, nguyện đưa về TỰ GIÁC.

* ĐỨC TÂY ĐỘ A DI ĐÀ PHẬT nguyện cứu độ các chúng sanh đương thời lầm lẫn, liền được Vãng Sanh chốn lầm lẫn ấy mà đến nơi thoát nghiệp lầm lẫn. Sau khi chưa thành tựu hãy còn mảy may nào nguyện đến thời LÂM CHUNG đưa về TÂY ĐỘ CỰC LẠC gọi là TỊNH ĐỘ.

* ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT nguyện chỉ đạo Tối Thượng, nêu cao BA ĐỜI PHẬT, cứu độ chúng sanh thoát khỏi SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ, TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

* ĐỨC QUÁN THẾ ÂM nguyện thị hiện vạn vạn thân cứu khổ cứu nạn, từ Tịnh, Bất Tịnh, Tà Ma, Ngoại Giáo Sở Cầu liền được Như Ý Nguyện.

* ĐỨC ĐẠI THẾ CHÍ nguyện cứu độ chúng sanh suy kém Đức Trí, làm cho chúng sanh được Đại Trí Tổng Trì tu đến Bất Thối.

* ĐỨC PHỔ HIỀN HẠNH nguyện cứu độ chúng sanh tu không ngừng nghỉ, bảo trì Kinh Pháp. Nếu Chúng Sanh sanh phải thời kỳ Trung Pháp, Hạ Pháp thảy đều cứu độ Đại Hạnh không ngừng, được Tri Kiến Giải Thoát Nguyện.

* ĐỨC VĂN THÙ SƯ LỢI PHÁP VƯƠNG TỬ nguyện đem Trí Tuệ Tổng Trì Đà La Ni cứu giúp Chúng Sanh không bao giờ ngừng nghỉ. Chúng Sanh giữa thời nào cũng đặng sự Phổ Chiếu giúp đỡ đến Giải Thoát hoàn toàn.

* ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT nguyện gánh vác tất cả các Pháp để Chúng Sanh được thảnh thơi tu hành, nguyện đem tất cả BẢO PHÁP đương thời Hạ Lai cứu độ Chúng Sanh, đưa tất cả Chúng Sanh tu tập Pháp Môn SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP mà không Nhiễm, đặng Tự Tại Vô Ngại đến Tổng Trì Đà La Ni Tạng, TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

* ĐỨC THANH TỊNH DIỆU PHÁP THÂN TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT nguyện Diệu Hóa Hành Dụng, Ứng Thân từng lớp lớp cứu độ Chúng Sanh đủ phương pháp nguyện. Làm cho Chúng Sanh khởi Đại Tâm, đưa cho Chúng Sanh Thọ Ký từng lớp, Bảo Trì DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH, Phụng Hành Bá Thiên Vạn Ức Phật, hằng hà sa số Phật, Bảo Pháp Đại Thanh Tịnh Bất Diệt. Lúc bấy giờ ĐỨC ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT nguyện: Đức Thanh Tịnh Diệu Pháp Thân Hành Dụng Ứng Thân. ĐẠI NHỰT NHƯ LAI PHẬT MẬT PHÁP DIỆU HÓA BẤT DIỆT, cung đốn tất cả Bá Thiên Vạn Ức PHẬT, giúp đỡ Chúng Sanh thành Phật, hằng hà sa số PHẬT, ẨN HIỆN ĐỒNG ỨNG HIỆN.

Trên đây mới nêu sự Diệu Dụng cùng Đại Nguyện Hành Dụng chư Phật, chư Bồ Tát mới có một phần nào, còn rất nhiều phẩm nguyện, cốt để các bậc tu nhận định chư Phật, chư Bồ Tát, đối với lòng vị tha cứu độ, đối với Đại Bi giúp đỡ chúng sanh với Mục Đích Giải Thoát.

Khi các bậc tu hành nhận định biết được tất cả chư Phật đã Diệu Dụng, chư Bồ Tát Hành Dụng chỉ với mục đích cứu vãn Chúng Sanh, thì các bậc tu phải Hạnh Nguyện, phải thật tu, thật hành để báo ân chư Phật, để vãng sanh lấy Nghiệp Quả Mê Lầm mà tròn Chánh Quả với Chân Phật Tử. Nói đến Diệu Dụng Hành Dụng nơi lâu đài Bảo Pháp chư Phật, chư Bồ Tát đồng xây, thì thời nào vẫn có sẵn THỂ HIỆN ĐỘ SANH để đón nhận, kiếp nào cũng có bậc Giác Ngộ đón chờ. Với chân tình duy nhất Vĩ Đại, với một mục đích chu toàn cho Chúng Sanh Tri Kiến Giải Thoát.

Lúc các bậc tu hành quyết tâm thiện chí thật tu, chịu gánh vác giúp tất cả những kẻ chung quanh mình được Thiện Căn, Lễ Bái, Giải Khổ, Trừ Mê không nhàm chán, khi bấy giờ mới thật biết: MỖI PHÁP MÔN CHÍNH LÀ MỘT DỤNG CỤ CỨU CHỮA BỆNH MÊ LẦM, đó chính là Cúng Dường Báo Ân vậy.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

1. KINH PHÁP CHÍNH LÀ BẢO PHẨM ĐỐI VỚI BẬC BIẾT LÃNH HỘI ĐỂ TU

ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT không bao giờ bảo phải Xuất Thế, nhưng mục tiêu chỉ dạy tinh thần hoàn toàn Xuất Thế Tối Thượng Giải Thoát, như vậy có phải là Xuất Thế chăng?

Sau khi Ngài CƯU MA LA THẬP dịch kinh KIM CANG quyết chỉ pháp Như Lai cùng Bát Nhã Tâm Kinh hoàn mỹ thảy đều nói Thế Giới Tướng Phần, Thị Danh Thế Giới Giả Tướng đặng các bậc tu đến Chân Tướng rốt ráo tỏ rõ Bát Nhã Trí khỏi thủ chấp Giả Tướng. Nếu có bậc tu chưa vẹn, chưa rốt ráo vội chấp nhận sẽ bị Giả Tưởng Tướng Phần đắm tướng Bồ Tát tức phi Bồ Tát, đó có phải là môn tinh thần siêu thoát của Xuất Thế chăng?

Sự chỉ dạy, lối đón đưa các bậc đang mơ màng viễn ly điên đảo mộng tưởng liền được cứu cánh Niết Bàn, chủ đích lìa 62 kiến chấp nơi Tâm Kinh Bát Nhã tuyệt mỹ. Còn về Lý Chân năng sở kiến tri thủ ngã của các bậc tu lầm lẫn để lìa Tướng Ngã của Kim Cang quá ư tuyệt đích, rất có lợi cho bậc tu đến ngã ba HỮU VÔ để quán sát nầy, đoạt mục tiêu chính sở đắc Chân Không Thực Chứng, làm áo giáp Như Lai thi hành Hạnh Nguyện, nhiếp độ Tứ Nhiếp Pháp, Lục Ba La Mật Đa cùng Hành Thâm Pháp Giới không xa lìa Bi Chí Dũng, Giới Định Tuệ mà thực thi Bát Nhã Ba La Mật Đa hoàn tất Chánh Giác.

Phật Đạo mục đích chính TRI KIẾN GIẢI THOÁT, bậc tu đầu tiên chưa biết thì chẳng nói làm chi, đến lúc đã nhận định được giá trị biết tu rất cần thực hành qua từng Pháp Môn, sau lần mới hiểu mỗi Pháp Môn là mỗi cái dụng cụ cứu chữa từng căn bệnh mê lầm đến hoàn giác xuất thế mà chẳng xuất thế, rốt ráo là xuất thế.

Thời HẠ LAI nầy, có lắm bậc tìm đặng Chơn Tánh để tu, nhưng hiếm hoi bậc tâm Hướng Thượng dụng Trí Đà La Ni để nhìn theo vết chân Bồ Tát đã nguyện, hôm nay bậc tu phải thi hành thực hành nguyện ấy, từ nơi Chơn Tánh chung với Hạnh Nguyện là môn Xuất Thế. Bằng hiểu biết dụng Chơn Tánh suy tưởng phá mê, nhưng chưa thực thi Hạnh Nguyện, hãy còn dung dưỡng tâm trí điêu thoa theo nơi tâm thức dục vọng, chưa hẳn là bậc tu xuất thế, mà là kẻ đang học khôn giữa thế nhân nầy vậy.

Khi các bậc tu nghe đến văn tự hai chữ “XUẤT THẾ” thì tâm trí ngại ngùng ngơ ngẩn phê chỉ, vì sao? Vì quan niệm Hữu Vi Tướng Phần văn tự, hơn là dụng Tâm Giác rõ thông. Đối với Ông LA HẦU LA ngày trước con của Phật, gần Phật mà hãy còn nằm nơi quan niệm như các bậc tu thay, huống chi ai không quyền chỉ trích, đến lúc gặp ông DUY MA nói nơi Phẩm Xuất Gia cũng thế.

Phần nhiều trên sự tu hành đa số nhận định về tướng phần bị biết, rất hiếm bậc công dụng Đà La Ni Trí (Trí Thiền Định) nhận định Giác Tâm Thể Tánh, nên chi thường vọng loạn sai lạc hướng tu. Đối với Đạo Phật lấy Tâm Giác dùng Thể Tánh làm mục đích nhận định, lấy tướng phần làm Phương Tiện chỉ nơi Thể Tánh cốt Giác Nguyên. Chẳng khác vẽ con Chim Én để cho xem, đến khi ra giữa Trời gặp đặng con Chim Én nhận được, đó gọi là Tướng Phần làm PHƯƠNG TIỆN đến THỂ TÁNH GIÁC NGUYÊN.

Vì nơi nhận định sai biệt kia nên chi phải tu lìa Bản Ngã, Kiến Ngã cùng Sở Ngã cốt đem cho bậc tu đến nơi nhận định đúng với tinh thần mục tiêu liền Giác Ngộ, bằng chưa đúng hoặc sai biệt nhiều ít thảy đều gọi nó là Nghiệp Thức Vọng Đảo Điên Loạn cũng thế.

Đứng trước tình trạng khó nhận nầy, nó trở thành Vô Minh làm cho bậc tu hành có gặp đức Phật hay bậc đã từng đoạt Bát Nhã Ba La Mật Đa chăng cũng khó mà nhận định, chỉ trừ ra đầy đủ Công Năng như vị đã gặp mới nhận được mà thôi. Do lẽ ấy, dù cho có sao chăng nữa, đối với đức Phật hay vị đã Giác Ngộ vẫn phải tùy thuận nương theo nhận tưởng của các bậc tu hành, để cứu độ chữa trị, giải mê lầm, làm cho bớt vọng đảo, đưa cho nhận thức đặng TÂM GIÁC lãnh hội được kinh pháp. Đến chừng biết nhận, biết tu thuần thục, lúc bấy giờ mới có thể Phát Danh Chứng Thị.

Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp sự tu hành thực chứng thật hiếm, vì sao? Vì thời Thượng Pháp có Giáo Lý, có thi hành để tu, nên có THỰC CHỨNG. Đến thời Trung Pháp có Giáo Lý, có thực hành tương song liền có THỰC CHỨNG. Qua thời Hạ Lai Mạt Pháp có Giáo Lý nhưng kém thi hành, thành thử hiếm hoi Thực Chứng. Kinh Pháp Bất Diệt chỉ nương nhờ Mật Pháp. Nơi Kinh Pháp có thực hành liền có Sở Đắc, chưa thực hành thì Kinh Pháp kia trở thành Lý Thuyết. Tu có chứng tri chăng cũng là chứng tri trên Giả Thuyết Biện Tài, chớ chưa hẳn là THỰC CHỨNG.

Nên chi thời nầy, đối với bậc quyết tâm có thiện chí tu Phật cũng đã khó tìm, còn khó hơn nữa là bậc tu biết nhận, biết lãnh hội Kinh Pháp, khi nhận biết mới nhận thấy lời VÀNG trên những Thời Pháp, có nhiều chữ NGỌC trong mỗi quyển Kinh. Thời Pháp hoặc quyển Kinh thảy đều có một chủ điểm để chỉ dạy căn bản phá mê lầm hay hóa giải từng cơn Thọ Chấp.

Lúc ban đầu bậc tu hành chưa hiểu thì chẳng khác nào đứa trẻ thơ đang lạc lõng bơ vơ chưa hiểu qua Kinh Pháp tí nào, đến chừng giải trừ các Đố Tật xấu xa, giảm bớt Nghiệp qua các Chướng Ngại ngăn cách tự Tâm tỏ lần, bớt căn vọng loạn. Trong thời gian nhờ Công Năng mới biết dụng Tâm Giác nhận được NGHE-THẤY-BIẾT, chừng ấy công nhận Kinh Pháp chính là Bảo Phẩm đối với bậc biết lãnh hội để TU./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Lời Dẫn Nhập

Bảo Phẩm Xuất Thế Chơn Kinh. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật không bao giờ bảo phải Xuất Thế, nhưng mục tiêu chỉ dạy hoàn toàn Xuất Thế Tối Thượng Giải Thoát, như vậy có phải là Xuất Thế chăng. Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp, sự tu hành thực chứng thật hiếm, vì sao? Vì thời Thượng Pháp có giáo lý, có thi hành để tu nên có thực chứng. Đến thời Trung Pháp có giáo lý, có thực hành tương song liền có thực chứng. Qua thời Hạ Lai Mạt Pháp hiện nay có giáo lý nhưng kém thi hành, thành thử hiếm hoi thực chứng. Kinh pháp bất diệt chỉ nương nhờ Mật Pháp. Nơi kinh pháp có thực hành liền có sở đắc, chưa thực hành thì kinh pháp kia trở thành lý thuyết. Tu có chứng tri chăng cũng là chứng tri trên giả thuyết biện tài, chớ chưa hẳn là Thực Chứng.

Đức Di Lạc Tôn Phật viết xong Kinh Bảo Phẩm này tại
TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG NHA TRANG
ngày 10 tháng 09 năm 1974
tức ngày 26 tháng 08 năm Giáp Dần

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.

71. Phương Thức Tọa Thiền Và Bài Niệm Phật

Trước tiên vào tu Tọa Thiền phải niệm Phật. Hành giả rửa tay, rửa mặt, nếu tắm càng tốt, xong đâu đó đốt hương lên bàn thờ Phật bái lạy 3 lạy. Xong vào nơi Tịnh Cốc hay phòng riêng.

Ngồi bán già, hai bàn chân để ngửa, tay phải để dưới, tay trái đặt lên trên, hai cánh tay đồng duỗi thẳng, đặt hai bàn tay ngửa dưới rún giữa nhượng chân của bán già. Ngồi yên Tâm Thanh Tịnh giây lát, bắt đầu niệm Phật mỗi câu 10 lần, lúc chưa thuộc thì niệm mỗi một danh hiệu Nam Mô Tịnh Vương Phật độ 15 phút. Niệm bằng Tâm Niệm tức là niệm không ra tiếng, niệm bằng tư tưởng niệm. Niệm xong bái một bái.

B À I N I Ệ M P H Ậ T

- Nam Mô Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
- Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật
- Nam Mô Giáo Chủ Hiện Tại Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
- Nam Mô Bảo Tạng Phật
- Nam Mô Tịnh Vương Phật.
- Nam Mô Pháp Tạng Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát
- Nam Mô Đa Bảo Như Lai.
- Nam Mô Hiện Thân Tỳ Lô Giá Na Phật.
- Nam Mô Di Lạc Tôn Phật.
- Nam Mô Tối Thắng Quán Thế Âm Bồ Tát.
- Nam Mô Đại Nhựt Như Lai Phật.
- Nam Mô Diệu Âm Phật.
- Nam Mô Hộ Pháp Bồ Tát Đồng Thanh Tương Ứng Nguyện
- Nam Mô Chư Long Thần Chư Hộ Pháp Bồ Tát Ma Ha Tát Nguyện.
*******
–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Hóa thân Đức Di Lạc Tôn Phật

* Chú ý: Tọa Thiền niệm “Nam Mô Tịnh Vương Phật” bảy (7) lần.
 Niệm rất chậm, hơi thở đều theo tâm niệm.

• Trang Trí Chỗ Ngồi: Hành giả phải ngồi trên một tấm nệm, ngồi trên ván hay trên giường ngủ của mình có nệm càng tốt, chớ nên ngồi dưới đất không có nệm. Nếu hành giả có cốc riêng, phòng riêng càng tốt. Nên nhớ: Nhà có sẵn bàn thờ Phật thì đốt hương bàn thờ, bằng chưa có bàn thờ Phật thì trước khi tọa Thiền bái ba bái sau đó mới ngồi niệm Phật.

• Tọa thiền: Khi niệm Phật mặc áo rộng hoặc đồ bà ba mỏng. Niệm Phật xong bái một bái như đã nói trên. Bắt đầu ngồi Bán Già. Trước khi ngồi nên thay áo, mặc quần cụt, dây lưng nơi quần nên nới rộng, vì lưng quần bị thắt chặt lúc ngồi, các pháp chẳng thông hay bị đau lưng, hay bị đau ruột về sau. Pháp môn Thiền Tọa phải cho thong thả thoải mái. Lúc chỉnh trang xong Hành giả tọa Thiền tỉnh tâm yên lặng để nhập Thiền cho đạt đến dứt tư tưởng.

• Thế Nào Là Nhập Thiền: Nhập Thiền không phải cái hồn của Hành Giả nhập hết vào nơi Thiền mới gọi là nhập. Cũng không phải tọa Thiền vắng bặt không còn nghe gì ở bên ngoài mới gọi là nhập Thiền. Nhập Thiền không phải như là xác chết mới gọi là nhập Thiền đâu. Những quan niệm trên đều là sai hết, nên bãi bỏ ý định mong cầu trên.

Nhập Thiền hành giả tựa như say, như ngật ngật, thân mình lâng lâng, bồng bềnh nhè nhẹ tựa như ngồi trước mây gió hay giữa hư không, phần bên ngoài vẫn nghe tiếng động nhưng bên trong gìn giữ tịch tịnh. Khi hành giả gặp diễn cảnh nơi Thiền, cảnh ấy lâu mau, rõ hay chưa rõ đó là công phu tịch tịnh chưa vững. Có Hành giả không thấy chi cả thì lấy mức tịch tịnh lâng lâng, bồng bồng say Thiền. Các vị này nên cố gắng chớ nên thối chí. Rồi đến thời công phu đầy đủ vẫn đạt đến chí nguyện.

Tọa Thiền phải lấy Kiên Dũng làm đích không khác nào kẻ đi đường xa, cứ đi mãi nó sẽ đến. Khi thân chưa điều hòa, tâm chưa điều hòa, khẩu chưa điều hòa, nên có đêm công phu thoải mái, có đêm lại trầm đen tối. Phải kiên dũng, quyết tâm bền chí, quyết lòng qua bờ bến Giác. Vì tâm chí của Bậc tu Thiền như vậy nên đêm nào chán chính là đêm cố gắng đánh đuổi con Ma Lười Trễ.

Hành giả nên xem xét tùy theo thời tiết nóng lạnh, chỗ ngồi tọa Thiền bị nóng có thể cởi áo, lúc lạnh thì mặc áo./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


Chương VII: PHẬT Vương Minh Chứng

Phật Vương chính là Đức Tịnh Vương Phật có đầy đủ ba thân Viên Minh suốt thấu hạnh nguyện Chư Tổ hàng Bồ Tát, Chư Tôn Giả cấp A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác, Thinh Văn cùng hàng Hộ Pháp. Ngài sẽ minh chứng sự hạnh nguyện này bình đẳng từng Vị một không hề có một chút sai chạy. Hàng Bồ Tát Giác Tướng nhận được rõ ràng Chư Phật mười phương nên ý thức hạnh nguyện thấu đạt Như Lai mới Trực Giác sự minh chứng của Đức Phật Vương. Như Lai không có Tướng, Bậc Giác Tướng kiến diện Như Lai, nhập thể Như Lai là một vấn đề mà hàng Tôn Giả chưa tỏ thấu đầy đủ được nên phải Chí Dũng đặng hạnh nguyện được cận Thể của Chư Phật.

THỌ KÝ

Đức Thế Tôn Di Lạc thọ ký tại Trung Ương Hội Thượng số 6 đường Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang: Thời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát chủ trì Lục Đạo nương sức oai thần của Như Lai cứu vớt tất cả chúng sanh bị nghiệp báo phải thọ cửa Địa Ngục.

Đến thời Hạ Lai Đức Di Lạc Tôn Phật Hiện Thể, Ngài Địa Tạng đã mãn nhiệm kỳ, nay Bồ Tát Mục Kiền Liên đảm nhiệm cứu vớt chúng sanh thọ báo Địa ngục môn được thoát sinh. Lúc bấy giờ có Tôn Giả Pháp Thao và một số Hộ Pháp cùng nghe. Bồ Tát vì chúng sinh mắc vào Địa Ngục nên tùy lúc thị hiện vào Địa Ngục, chủ yếu chỉ dạy cho chúng sinh giải thoát khỏi Địa Ngục chớ Bồ Tát không có ở trong Địa Ngục cũng không ở trong ba cõi sáu đường. Vì Bồ Tát không lấy một cõi nào là cõi của Bồ Tát, do đó không nên đem Bồ Tát ra đứng giữa trời nắng ngoài nghĩa địa.

Nam Mô Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô Tịnh Vương Phật.
Nam Mô Di Lạc Tôn Phật.

Thật hy hữu thay chốn Hạ Lai Đồng Độ giữa thời đại Khoa học này mà từ năm 1957-1993 tại thành phố Nha Trang ở miền Nam nước Việt Nam Đức Di Lạc Tôn Phật đã hoàn tất tận độ nhân sanh và tứ loài về ĐỜI cũng như ĐẠO. Với lòng Đại Đại Bi, Đại Đại Chí, Đại Đại Dũng Ngài đã tận dụng Phật Lực vượt qua những tử nạn tai khiên và đã thành tựu cứu an nhân loài tránh Đại Thế Chiến Thứ Ba tiêu diệt sự sống trên quả địa cầu.

Những năm 1975 – 1993 Ngài đã nhiều lần cứu an dân miền Nam. Năm 1989 Ngài gỡ rối cho quốc gia đổi mới, dân chúng sống dễ thở hơn. Ngài còn thệ nguyện:

“Dù nhân sinh có bạc đãi Ta, Ta vẫn đưa con người Giác Ngộ.”

Ngài đã tận thành Thế Tôn Hạnh cùng đầy đủ: Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng


Chương VI: TÔN Giả Cúng Dường

Sau 37 năm khai Đạo, Đức Di Lạc Tôn Phật đã tuyên ngôn đào tạo được Hàng Thánh Chúng gồm Hộ Pháp, Tôn Giả, Bồ Tát thay nhau làm Tổ đặng xây dựng Chánh Pháp đem đến con đường giải quyết sanh tử luân hồi cho nhân sinh.

Tôi nghe như vầy: “Ba mươi sáu vị Tổ đây chính thật chỉ có vài vị chính cùng dòng tu giác ngộ, giác ngộ rốt ráo được chứng minh lai trần lên xuống tiếp nối nhiều lần thay nhau làm Tổ chứ không phải chân tử nào ngoài dòng sẽ vào làm Tổ được.” –T.V.

Hiện tại, Di Như Bồ Tát là Vị Tổ Thứ Nhất. Và tiếp tục cứ 20 năm một lần hay lâu hơn nữa sẽ có một vị Hộ Pháp hay một Tôn Giả lần lượt Giác Ngộ, hoặc Đại Ngộ đến Liễu Ngộ tiếp nối được truyền trao làm Tổ kế tiếp lập đời Hiền Kiếp. Chư Tổ giác cấp Thánh Hiền Hạnh Nguyện cúng dường báo ân Đức Thế Tôn Di Lạc cùng Chư Phật Mười Phương đặng tiếp tục hồi hướng quyết tâm cầu Chánh Giác.

Có một số Tín chúng phát nguyện viết thư trình, Ngài Ấn ký nên những vị này lầm tưởng mình là Bồ Tát... Điều này không đúng. Phải mất nhiều kiếp nữa Hạnh Nguyện đến khi được Vị Phật Hiện Thể chứng minh cho mới đúng. Ngài còn bảo rằng tự Ngài thấy đến trình độ tu chứng cấp nào Ngài ban hành lệnh ký và đóng dấu Tăng Chủ chứng minh mới đúng là Tôn Giả, là Bồ Tát./-

ĐỨC DI LẠC VÀ LONG HOA

GIỚI THIỆU
Chương I: Những Hoá Thân Của Đức Di Lạc
Chương II: Từ Đâu Ta Đến
CHƯƠNG IV: DI TRUYỀN BẢO PHÁP
Chương V: Lạc Quốc An Khương
Chương VI: Tôn Giả Cúng Dường
Chương VIII: Phật Vương Minh Chứng