Khá khen vạn pháp diễn tuồng,
Dù lời Kinh Điển vẫn luồng Không Gian.
Thế rồi cũng một thời gian,
Nương nhờ Kinh Điển mở màng Vô Minh.
Mới hay Diệu Pháp lộ trình,
Của Như Lai Dụng không hình Giác Nguyên.
TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Khá khen vạn pháp diễn tuồng,
Dù lời Kinh Điển vẫn luồng Không Gian.
Thế rồi cũng một thời gian,
Nương nhờ Kinh Điển mở màng Vô Minh.
Mới hay Diệu Pháp lộ trình,
Của Như Lai Dụng không hình Giác Nguyên.
TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Từ thuở ngàn xưa, nay gặp đây,
Rằng Nhân Duyên trước đã cao dày,
Chung vui an hợp Thời Sinh Nhật,
Giảng giải đưa qua thoát mộng này.
Tôi nhìn Chân Tử hợp hòa vui,
Trổi khúc Âu Ca chẳng sụt sùi,
Say đạo rồi đây cùng Tỏ Đạo,
Vui Tình Duy Nhất thuận giòng xuôi…
Hôm nay Hai Bốn tháng Mười Hai,
Vì Nguyện cùng ai xây Bảo Đài,
Để rõ mối giềng nghiêm chỉnh pháp,
Tốn từ Duy Nhất một không hai.
Tôi vui, vui sẵn Nguyên Đài,
Các ông nung chí miệt mài Chân Tôn.
Ngày mai đến chốn trường tồn,
Hợp Tam Thế hợp Nhất Nguyên song đồng.
Hay là lãnh Pháp Chân Không,
Hạnh Nguyền,Nguyền Hạnh,tỏ thông mối giềng.
Gặp nhau buổi lễ giao duyên,
Cũng ngày Hai Bốn lời nguyền năm xưa.
Dù cho lời nói sớm trưa,
Đều là Bảo Pháp quyết đưa trao người.
Ngày nay chính buổi vui tươi,
Tôi ông hợp nhất tốn từ Phật Tôn.
TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Kỷ niệm 24 tháng Chạp Kỷ Dậu (20-01-1971)
Tất cả diễn hành trổi khúc ca,
An nhiên Tịch Tịnh Phổ Di Đà,
Nhìn sang Tây Độ hương thanh thoát,
Ngó đến Đông Phương nhánh trổ hoa.
Cực điểm kỳ công xây Chánh Pháp,
Đương Lai Sanh Hạ mỗi mình TA.
Mấy ai đã hiểu Đông Tây diễn,
Một khúc Sơn Ca, vạn lối hòa.
Ý nghĩa thâm sâu khó hiểu sâu,
Tận dùng Hạnh Nguyện thoát mong cầu.
Giữa thời Đông Độ hòa Tây Độ,
Chỉ một cành hoa tát biển sâu.
Kỷ niệm thời VÔ THƯỢNG TÔN
Lúc 07g05 phút
Tôi thả hồn thơ giữa buổi Xuân,
Cúc vàng, Lan trắng đẹp bao tuần,
Phải chăng non nước Tình muôn thuở,
Nắng sớm sương non ngát ý trinh.
Tôi thả hồn thơ giữa lúc này,
Những cành sen nở đẹp Đông Tây,
Gió thanh thoang thoảng hoàn trăm nẻo
Xuân đến, năm sang với tháng ngày.
Tôi thả hồn thơ gợi những gì?
Gợi Tình Kim Cổ đẹp Thiên Y,
Nghĩ đôi bạn hữu hoa râm tóc,
Cung Chúc Tân Niên trọn Quế Chi.
Tôi thả hồn thơ để ngỏ lòng,
Tình Tôi Xuân mới đẹp song song,
Quý nương vạn quý về như quý,
Sửu thuộc tính gì ai biết không?
Tôi thả hồn thơ gởi viếng nhau,
Còn hơn vạn thiệp sắc khoe màu,
Lòng Tôi giao cảm Tình Thiên Trúc,
Vạn Thọ Trường Xuân vốn trước sau.
Hôm nay Tôi gởi lời thơ,
Miễn sao Tứ Chúng đến bờ Giác Nguyên.
Hương thơm đâu hẵn lời Nguyền,
Trọn Tình duy nhất hợp duyên không thừa.
Trao lời Tôi nghĩ sớm trưa,
Ngày Xuân gởi đến vẹn vừa Ba Thân.
TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Tôi chỉ vùng mây che mảnh Trăng,
Chỉ Sao nho nhỏ nháy tênh tăng,
Chỉ đồi rong phủ bên rừng thẳm,
Chỉ sóng lô nhô mặt nước nhăn.
Tôi nói những gì ai biết chăng?
Nói bờ sông lặng có cô Hằng,
Trăm hoa chen lá nương mùi gió,
Duy chỉ mình Tôi đã viếng thăm.
Tôi nghĩ những gì ai hiểu không?
Nghĩ nơi vạn nghĩ, nghĩ nơi lòng,
Nghĩ đường Thiên Trúc xa bao dặm?
Mà Tổ Bồ Đề gánh chữ Không.
Hãy xích lại đây Tôi chỉ cho,
Chỉ Tâm lầm lộn chịu thăm dò,
Nên hình Tam Thế là Tâm Pháp,
Nếu rõ toàn tâm khỏi đắn đo.
Pháp Tâm diễn khắp khắp phương phương,
Lầm bỏ lấy không lạc Vô Thường,
Bằng thấu trăm nơi Tâm vốn Pháp,
Chung gồm duy nhất, đắc Chân Thường.
TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Kỷ niệm 28-04-1971, Nha Trang
Vía Đức Đông Độ
Xác pháo mừng Xuân, trắng lẫn hồng,
Sân Chùa cành lá, cảnh chen bông,
Khói hương thơm tỏa, hồn Xuân thắm,
Bởi NGUYỆN khắp trùm núi với sông.
Một tấm lòng này đưa vạn cảnh,
Hai nương Tam Thế giải giao phong,
HẠNH dùng Bi Trí kiên giang hộ,
Trọn đến Hoàn ca giới vẹn đồng.
TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Soi gương lặng lẽ nhìn gương,
Thân hình thay đổi, vốn thường thế nhân.
Tuy vẫn biết đôi phần ái ngại,
Tuyết phong sương, nào phải do Ta,
Sớm mai rồi đến chiều tà,
Dù cho Phật Thánh...trải qua nẻo này!
Nhìn non nước, vơi đầy sương đọng,
Gợi tâm tư thêm bận đồng sanh,
Bao nhiêu năm tháng long lanh,
Thời bao khúc giải nơi lòng Phật Vương.
Hôm nay nhìn đến tấm gương,
Chớm tình quê cũ, in tuồng tái tê...
Nhớ lại thời xưa, đã quá xưa,
Tấm thân nào phải mảnh trăng thừa,
Hình hài Bạch Ngọc, da Hồng Cẩm,
Đứng trước triệu dân cung thỉnh thưa.
Ta chẳng phải vì vua trong một nước,
Cũng không làm Bá Tước, Hầu Vương,
Quyền Uy siêu đẳng bất nhường,
Trang Nghiêm Quốc Độ, Phật thường tới lui.
Thời Hạ Thế, ngụt ngùi đôi nẻo,
Kiếp Đương Lai, thắc thẻo hai nơi,
Đưa tay nâng đở Đạo Đời,
Chung Tôn đồng Giác, chính lời Chúc ngôn.
TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
ngày 29.06.1982
nhằm ngày 09-05 Nhâm Tuất
Bao nhiêu năm tháng bấy nhiêu ngày,
Thế sự nhân tình quá đổi thay,
Muôn mặt triệu lời xuôi ngược chống,
Trăm đường vạn nẻo biết sao đây?
Làm người khó gỡ Cao thiên hạ,
Thánh xuất nan Khai chính nghĩa hay,
Nếu biết chuyện đời chưa giải nổi,
Tu Thân hiện Kiếp thoát châu mày.
Thời Hiện Kiếp, đương thời Thánh xuất,
Càng lầm than các bậc khôn ngoan,
Nhân Trí nhân biết sống huy hoàng,
Chung cùng thế hệ vẹn toàn đâu vương?
Thời Hiện Kiếp, bước đường thực tại,
Hưởng vị Đời, thấu rõ Dại Khôn,
Cứ mặc nhiên suy tưởng bảo tồn,
Nơi trừu tượng chưa khôn như thiên hạ.
Chỗ Đắng Cay, nhận chân nhiều mới lạ,
Nơi Ngọt Bùi, cặn bã của triền miên,
Kẻ vô nhân ngỡ đủ vẹn tuyền,
Khúc tan rã chưa điên vẫn dại.
Thân Trí nhân duyệt qua từng thời đại,
Mình chính mình lẽ phải an nhiên,
Thân Tâm không trách oán phiền,
Vào đời vui cảnh thoát miền Thế nhân.
TỪ THẾ NHÂN Thọ Ký
Ngày 27-09-1980
tức ngày 19 tháng 08 năm Canh Thân
Ngày xưa Hoàng Nhẫn mở đề thi,
Suốt thấu Tâm minh có những gì?
Lục Tổ Viên thông không vướng mắc,
Huệ Năng Chánh giác lãnh Chân Y.
Hôm nay Pháp Tạng Hạ Lai truyền,
Khắp chốn vẹn vừa Duyên với Duyên,
Tận Giác Có Không, thông Nhất Trí,
Minh Tâm Như Tánh đẹp Chân Truyền.
Quý thay lời dặn Thế Tôn,
Nguyền xưa năm ấy vẫn còn nhớ đây.
Thời Hạ Pháp khó đắp xây,
Chứng Tu,Tu Chứng dẫy đầy khó phân.
Nghiệp Ma thọ ngã nhiều phần,
Chân Tông Mật Nguyện làm cân đo lường.
Bấy giờ tận tận tỏ tường,
Chứng tu rè rụt vấn vương thế tình.
Tu chứng Đức Trí Quân Minh,
Lòng trinh Vô Ngại không mình vì ai.
Trọn nguyền rạng rỡ Nguyên Đài,
Lìa danh, chẳng lợi, đâu nài Thế Nhân.
Miễn sao Chân thiện hoàn Chân,
Đưa nguồn Bảo Pháp chung ngân cúng dường.
Tôi biết đương thời khó đắp xây,
Hạ Lai Thượng Kiếp lạc Đông Tây,
Vạn ngàn Hoa Pháp hoa vương vấn,
Tạng rõ lầm mê, giải đọa đày.
Tôi biết rằng Tôi chịu sớm chiều,
Nhớ tình năm cũ trọn tiêu diêu,
Chân Ngôn còn nhớ môi Kim Ngọc,
Ngài nói những gì, nói quý yêu.
Tôi biết Tình Tôi khó tỏ tình,
Bởi thời Hạ Pháp diễn liêu linh,
Nhân Sinh nào hẳn Hoàn Hoa Giác,
Chỉ trải lòng Tôi một Lộ Trình.
TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
ngày 19 tháng Giêng, Qúi Sửu (21.02.1973)
Chân Nguyên nay sắp vãn hồi,
Cung nghinh mồng tám thêm trồi mười ba.
Tân Hợi Tạng trổ Phật Đà,
Thiên Nhân đồng hóa diệu hòa muôn phương.
Dưới chân Phật Đảnh chân thường,
Pháp Tạng Hội Thượng đương trương mình Rồng.
Để trao tuyệt đối Chân Không,
Kính dâng Sư Bổn lòng Trong suốt lòng.
Xin Ngài Chứng Thị Diệu Đồng,
Hợp Minh Tây Cảnh Lạc Tôn Chung Thường.
Cũng ngày mồng tám phương phương,
Là ngày mồng tám vỡ nguồn trầm mơ.
Tạng Chân Bảo Pháp đón chờ,
Cung nghinh Tam Thế, vần thơ dâng Ngài.
TĂNG CHỦ NHẤT TÔN PHÁP TẠNG
Lúc 18g 05 tại Trung Ương-Nha Trang
Kỷ niệm ngày 08-12 Tân Hợi (nhuận) 1971
