5. DUYÊN KHỞI

DUYÊN KHỞI cũng là thoại đầu của CÁI MUỐN, cho nên tất cả các Pháp: Nên Hư, Mau Chậm, Lầm Mê hoặc Giác Ngộ cũng do Duyên Khởi mà làm đến THÀNH TỰU hoặc Sai Lầm thêm.

Duyên Khởi Pháp nó rất quan hệ, nó có thể đưa chúng sanh vào nơi chìm đắm tận cùng, mà nó cũng có thể mở thông các pháp để đoạt đặng VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC một khi biết dùng đến nó. Đó gọi là Bậc ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU.

Bởi Hành Dụng thuyên diễn của nó tuyệt mỹ tế vi như thế nên mới dể bị lầm mà Thụ Sinh ra CHÚNG SANH GIỚI, chớ nó chẳng tế nhị thì mấy ai lại lầm vì NÓ. Nên chi từ nơi trọn vẹn TÁNH CHƠN NGUYÊN BẤT NHỊ gọi Tánh Phật lại vì duyên khởi MUỐN lầm chạy theo Cái Muốn ấy mà biến thể lần theo nơi THỂ Bị Biến nhận là TA (mình) trôi dạt sanh tử.

PHẬT NÓI: Nó nghĩ thế nào liền sanh ra nơi ấy, vì nó Sơ khởi Kiến Chấp như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa nó đến Cõi thú vị như vậy, thành Định Mệnh như vậy. Đến NHƯ LAI cũng biết như vậy, Ngài còn biết hơn thế nữa, Ngài không Sơ Khởi chấp Sở Tri ấy NỘI TÂM chứng đặng TỊCH TỊNH, như Thật Biết sự Tập Khởi, sự Diệt Trừ các vị ngọt mà thọ, những nguy hại hiểm độc và sự XUẤT LY của chúng.

Nhờ biết như vậy, NHƯ LAI mới Giải Thoát hoàn toàn không có Tập Khí Sanh Tử. Những pháp ấy là những pháp sâu kín, khó Thấy, khó Chứng TỊCH TỊNH DIỆU MỸ vượt tầm lý luận suông, rất tế nhị, chỉ có người có TRÍ mới phân biệt đặng.

Những pháp ấy ĐỨC NHƯ LAI Chứng Tri Giác Ngộ tuyên thuyết và chính những pháp ấy những ai Chân Chính tán thán Đức NHƯ LAI mới đến.

So theo lời PHẬT nói trên thì Duyên Khởi là một pháp Viên Dung Tùy Thuận. Nếu Bậc Tu Chứng bằng cách nào mà vẫn còn Tập Khởi Xuất Ly cầu Chánh Báo đều là bậc Tự mình uống phải độc dược nguy hại. Bằng những bậc tu nào Tự Khởi tiêu diệt các nghiệp căn, thời chính bậc đó Bị Diệt trước Căn.

Bằng những bậc tu nào ham muốn đòi hỏi tăng thêm tài phép thì bậc ấy mê lầm hơn phàm phu, vào nơi BẤT CHÁNH Đạo.

Bằng bậc tu mà âm thầm cho mình là phải, chính là Chồi Khô Chấp Pháp.

THẾ NÀO LÀ BẬC TU CHỨNG TẬP KHỞI XUẤT LY CẦU CHÁNH BÁO ĐỀU TỰ MÌNH UỐNG PHẢI ĐỘC DƯỢC?

Những Bậc tu Đắc Pháp Tỏ Pháp, Hành Nguyện Độ Sanh qua các THUẬN - NGHỊCH Tâm không chướng ngại, đặng tự tại. Các pháp đều soi biết Đạo Hạnh tu tập đều là phương tiện đến Tri Kiến Giải Thoát nên không có sự Chấp Pháp, chấp trong Đạo Hạnh, trong khi tu tập diễn nói các Pháp đặng thông chẳng hạn.

Nhưng hãy còn Tập Khởi làm cho mãn nguyện hoặc nhập Niết Bàn hay Xuất Ly đặng viên tịch, hoặc Chánh Báo nơi nầy hay nơi nọ đặng hưởng hay không hưởng. Hoặc giả điều động Ba Cõi Sáu Đường, nắm vững hoặc chẳng nắm, hay làm Ba Đường Ác để độ kẻ nọ người kia, hoặc dùng Nhân Thiên đặng rốt ráo... Tất cả mà tập khởi thọ chấp đều tự mình uống phải độc dược.

THẾ NÀO LÀ BẬC TU KHỞI DIỆT CÁC CĂN,
CHÍNH MÌNH BỊ DIỆT TRƯỚC CĂN?

Những Bậc tu Tự Tánh hiểu biết mê mờ là do NGHIỆP bao trùm trở thành Vô Minh, xa lìa PHẬT TÁNH nên có THAM-SÂN-SI. Vì vậy mà Duyên Khởi Tập Khởi tiêu diệt Nghiệp Căn đi nơi Pháp Giảm mà thụ chấp. Từ nơi Giảm nầy đến Giảm nọ lần lần Giảm đến tận cùng bị vào KHÔNG PHÁP mà chấp nhận KHÔNG. Dù vô tình hay cố ý cũng bị Diệt trước Căn mà vào Phi Phi Tưởng vậy.

THẾ NÀO LÀ BẬC TU HAM MUỐN TĂNG THÊM TÀI PHÉP, BẬC ẤY CÒN MÊ MỜ HƠN PHÀM PHU?

Những Bậc tu tập khởi thụ chấp nếu Siêu Phàm làm THÁNH, quan niệm nơi siêu phàm phải có Thần Thông Tài Phép. Vì vậy nên tự Ảo Tưởng Chư BỒ TÁT và PHẬT có Thần Thông Tài Phép, nên chi tu hành đã có ý niệm LUYỆN THẦN THÔNG, gọi là Tu Luyện để có thần thông đặng mau sở Đắc làm Bồ Tát hay Phật vậy.

Vì có những tập khởi sai lầm đó thành thử mê mờ mù mịt hơn phàm phu. Vì sao ? Vì đang lầm mê điên loạn lại THAM cái điên loạn hơn để ưa tài phép.

CHẲNG KHÁC NÀO:Một ly nước kia cặn cáu, ly nước mờ tối, ít nhất phải đem lọc cáu cặn ra hết đương nhiên dù muốn hay không ly nước vẫn được trong suốt cùng khắp, khỏi cần Luyện hoặc Tu Luyện. Bậc tu TRI KIẾN cũng vậy.

NGƯỢC LẠI: Ly nước kia cặn cáu chẳng chịu lọc ra, lại tìm các PHẨM MÀU bỏ vào ly nước, làm cho ly nước trở nên màu: XANH ĐỎ VÀNG chẳng hạn gọi là siêu phàm đặng lừa bịp chúng sanh vào con đường vọng đảo điên loạn, mà ngược lại chính mình bị điên loạn hơn chúng sanh. Bậc ham muốn TĂNG cũng vậy.

Còn Chư BỒ TÁT và PHẬT, thời các Nghiệp cùng các Căn đều liền lạc, nên chi chẳng vì HỮU chẳng vì VÔ mà tập khởi thọ chấp, bởi Thân Tâm tịch tịnh viên dung mà Sở Đắc các pháp Tam Muội đến các Thần Thông Tam muội chẳng thiếu sót.

Khi Chư BỒ TÁT PHẬT dùng đến các thần thông ấy vì chúng sanh mà dùng để đưa chúng sanh từ nơi thế giới Bất Tịnh đặng vào nơi An Lạc mà dùng làm cho chúng sanh ấy không hay biết ngỡ là mình đến hay mình đặng, thật ra duy chỉ có Tha Lực Thần Thông Tam muội vậy.

LẠI NỮA: BỒ TÁT PHẬT dùng đến Thần Thông Tam Muội đưa từ Thế Giới quá ư cuồng loạn, làm cho thế giới ấy biến thành Tịnh Độ, mà tất cả chúng sanh trong thế giới chẳng hay biết.

BỒ TÁT PHẬT HÀNH DỤNG và DIỆU DỤNG Thần Thông Tam muội làm cho chúng sanh đặng Tri Kiến Giải Thoát trong một Sát Na chúng sanh không hay biết chi cả. Vì sao chẳng cho chúng sanh hay biết ? Vì chúng sanh bị Duyên Khởi Tập Khởi mà Thụ Chấp, lại ưa muốn tham lam quá độ nên không cho hay biết mà đặng, nếu hay biết thời hại cho chúng sanh ấy thêm vào CÁI MUỐN mà chìm đắm nơi Sanh Tử.

Các Bậc tu hành nên so theo những điều trên để mà tu tập. Nên làm cho các Nghiệp Căn liền lạc. Nên nương theo Duyên Khởi cầu lấy Hiểu Biết chớ Tập Khởi Thụ Chấp mà chẳng đặng rốt ráo vậy.

DUYÊN KHỞI chính là một thoại đầu lần mở mê lầm, khi các bậc tu NGHI CHẤP để PHÁ CHẤP đó chính là nương theo Duyên Khởi đặng tự soi biết, gọi là TỰ BIẾT. Bằng theo Duyên Khởi chấp nhận là Phải hay Đúng nó như thế, thì tự đem mình vào mờ mê. Tu tập chẳng lo nó đến, không lo nó Đắc. Chỉ lo nó tự cho nó là Phải mà nhận chịu theo Duyên Khởi thôi. Duyên khởi mà chấp nhận chính là mắc miếu theo 62 kiến chấp vậy.

NÊN PHẬT NÓI: NHƯ LAI biết tỏ rõ nó như vậy, mà chính nó Thụ Chấp Kiến Chấp thế nào, tự phát sanh và chịu lãnh lấy thế ấy. Tự sanh ra các cảnh giới thú vị theo như Khởi Chấp của nó cho là Thú vị Ngọt Bùi mà đắm say theo Tập Khởi Duyên Chấp.
NHƯ LAI biết còn biết hơn thế nữa, nhưng chẳng thụ chấp mà đặng hoàn toàn GIẢI THOÁT chẳng còn Tập khí Sanh Tử vậy.

NAM MÔ HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

4. NHÂN DUYÊN SANH

NHÂN DUYÊN SANH là Nhân Duyên nầy sanh ra kia, hay Nhân Duyên kia sanh ra nọ. Nhân Duyên khi kết hợp đầy đủ mới sanh, không thể nào thiếu mà sanh được, nên gọi là NHÂN DUYÊN SANH.

CHẲNG KHÁC NÀO VÍ NHƯ: Hạt cam hay hạt lúa kia không thể nào ngồi mà TƯỞNG nó là cây Cam hoặc cây Lúa thành tựu nó đặng. Phải Nhân Duyên đặt nó xuống đất hay gieo nó xuống đất cũng vẫn chưa đủ, do nhờ có: Sương, mưa, nắng, nước, Khí hậu và đúng thời tiết. Chung gồm đầy đủ pháp Nhân Duyên một thời gian tùy thuận nó TỰ SANH ra hạt lúa hoặc cây trái cam.

Tất cả các loài từ HỮU đến VÔ, trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Vũ Trụ đến nhân Sinh cùng với hoa màu cỏ dại, thảy đều nương Nhân Duyên Pháp để kết hợp đầy đủ mới sanh ra sự di chuyển thành hình. Nó chính là một pháp rất cần thiết, nó nương nhờ nhau đồng nuôi dưỡng lấy nhau mà sanh đặng tất cả đều toàn mỹ tuyệt vời. Sự tu hành cũng y như vậy không kém tí nào.

Kẻ tu cũng SƠ KHỞI đến sanh TÍN vào PHẬT ĐẠO mà tu đặng Sanh HIỂU ĐẠO đến BIẾT ĐẠO mà Tri Kiến Giải Thoát.

Nhân Duyên Sanh là một con đường DUY NHẤT, tất cả từ đời Hiền Kiếp đến Hậu Lai thảy đều nương Nhân Duyên tu hành để Khởi sanh CHỖ NGHI mà PHÁ CHẤP làm cho Trí Tuệ Tăng Trưởng viễn thông. Đó gọi là dứt trừ Nghi Chấp vậy, mà cũng là cố gắng siêng năng tu không ngừng.

PHẬT vẫn thường khen những Bậc khéo tu như thế, nên PHẬT nói: “Các ông cũng nên biết:BỒ TÁT thảy đều nương vào Nhân Duyên để ĐỘ SANH, còn đòi hỏi sự sanh trưởng Trí Tuệ không ngừng khó mà nghĩ bàn đặng việc Tinh Tiến. Vì sao? Vì từ một thế giới NGHI nầy phá ngăn chấp để đoạt đặng thế giới nọ. Nên chi từ một SÁT NA đi lại nghìn vạn ức thế giới không chướng ngại, đến lúc về chẳng một ai hay biết. Đó là Công Năng siêng cầu SANH TRƯỞNG Viễn Thông của Chư BỒ TÁT”.

Các bậc tu hành nên nương theo Nhân Duyên cầu KHỞI SANH NGHI mà PHÁ CHẤP để đặng từ CÁI BIẾT riêng rẽ đến CÁI BIẾT CHUNG CÙNG. Nếu tu mà mong muốn như vậy nên: Thân cận bạn bè anh em gần xa để được Khởi Sanh Nghi và đặng sự Phá Chấp đồng hiểu HỌ và hiểu MÌNH. Sau khi biết họ và biết mình cỗi giải thì TÂM Ý liền mở mang vậy.

Bằng không dùng như thế để mà tu, chẳng nương theo Nhân Duyên cầu SANH soi biết để tu thì không khác nào Hạt cam và Hạt Lúa cùng Đất, Nước, Nắng, Mưa, Thời Tiết và Khí Hậu như trên đã nói. Vì sao?

Vì tất cả nó chỉ biết lấy nó thôi, chớ chẳng biết do Nhân Duyên đặt nó xuống đất. Phần ĐẤT thì chỉ biết nó chớ chẳng biết nó nuôi hạt cam và lúa. Về SƯƠNG thì chỉ biết nó thôi chớ chẳng biết nó nuôi đất. Về phần MƯA thì chỉ biết nó chớ chẳng biết nó nuôi Sương. Về phần NẮNG nó chỉ biết nó chớ chẳng biết nó nuôi mưa. Về phần THỜI, TIẾT, KHÍ HẬU cũng chỉ biết nó thôi chớ chẳng biết nó nuôi Mưa và Nắng.

Tất cả sự MÊ LẦM bao trùm chỉ vì TỰ NGÃ DANH GIẢ cho mình là PHẢI là BIẾT nên ngăn Biệt phải Bị Biệt. Đã Bị Biệt thì Cái Biết đóng thành khuôn riêng tự sanh ra chướng ngại với nhau, cũng do chưa Biết nhau vậy.

Những Bậc tu hành được lợi thứ nhất là: nên từ Ngôn Ngữ đến Hiểu Biết nhau, từ Phẩm Hạnh đến Nội Tâm Đạo Đức. Muốn đặng như vậy thì phải nương theo Nhân Duyên Sanh mà được. Đi trong các Pháp THUẬN NGHỊCH, lại công nhận hai pháp Thuận Nghịch đều là Nhân Duyên Sanh thì đặng sanh trưởng Trí Tuệ Hiểu Biết cùng khắp được CHƠN GIÁC không xa.

Khi mà bậc tu đặng sự hiểu biết tỏ rõ thời ngược lại rất KÍNH NỂ và BIẾT ƠN tất cả kẻ lân cận xóm giềng đã Trợ Duyên cho mình đến ngày hôm nay đặng Chơn Giác. Vì sao ? Vì tu nhờ kẻ không tu mình mới đặng tu. Bậc Thiện nhờ kẻ Ác mình mới có Thiện,chớ không có Ác lấy đâu được Thiện?

CHẲNG KHÁC: Có LỬA NÓNG thì VÀNG mới trở thành CAO TUỔI hay nên nén thành THOI, chớ chẳng có Lửa thì Vàng kia vẫn phải lẫn trong ĐẤT BỦN.

Sự tu hành rất cần cho gặp các pháp ĐỐI TRỊ hay THỬ THÁCH càng nhiều càng qúy để tạo nên CÔNG NĂNG và TỎ NGỘ.

Việc tu hành phải cần gây Nhân Duyên cùng khắp mới thành tựu rốt ráo. Nhược bằng tu mà cứ âm thầm xa lánh Nhân Duyên sợ gây thêm Nghiệp Chướng thì chẳng khác nào: CHỒI KHÔ MỘNG LÉP (lời đó PHẬT thường nói). Đường tu PHẬT ít nhất là nó cũng phải có CÔNG NĂNG vun trồng HÀNH NGUYỆN ĐỘ SANH đặng tạo Nhân Duyên Sanh Trưởng mà thấu rõ các pháp Thâm Diệu.

VÍ NHƯ: Nơi vườn kia có một cây Cam cành lá tốt tươi, nhiều trái, tất cả ai nhìn thấy cũng trầm trồ ước muốn được một cây như vậy. Có người đến chủ cây Cam xin lấy giống về trồng, hàng ngày chăm lo bón phân tưới nước. Trong thời gian cây Cam nọ đầy đủ Nhân Duyên sanh Cây, sanh trái, người ươn trồng cây Cam được mãn nguyện. Việc tu hành ít nhất nó cũng phải vậy không khác mấy.

Các Bậc tu nên so với kẻ gieo giống Cam để tự tạo Nhân Duyên Sanh, con đường tu như vậy là con đường nương theo BỒ TÁT HẠNH đòi hỏi Cấp Tiến, mở rộng hiểu biết vì đặng nương nhờ các pháp, đi trong các Pháp không nhàm chán, cầu lấy phát sanh Thông Đạt.

LẠI NỮA: Có những bậc tự nghĩ than phiền bị sanh vào thời Mạt Pháp khó tu, khó chứng, khó mà Tri Kiến Giải Thoát hiện hành.

Phải chăng được sanh đời Hiền Kiếp dễ tu, dễ chứng, dễ Tri Kiến Giải Thoát?

Đó, những bậc tu như vậy, suy nghĩ như vậy thực là điên đảo cùng đảo điên. Vì sao?

- Vì thời nào cũng không sai khác mảy may, cũng vẫn có các pháp đầy đủ: THUẬN NGHỊCH, THIỆN ÁC, THAM, SÂN, SI, HỶ NỘ ÁI Ố ...in như khuôn không thiếu sót. Do tại mình thiếu CHÍ NGUYỆN, cho mình là khôn lanh, đạo đức, hiền lành, bảo thủ, Tự tánh, chẳng cầu Nhân Duyên Sanh nên không TU CHỨNG nổi. Chớ thật ra thời Mạt Pháp mới dễ tu, dễ chứng, dễ Tri Kiến Giải Thoát. Vì sao? Vì các pháp BẤT TỊNH lộng hành bao nhiêu thì pháp TỊCH TỊNH lại tỏ rõ bấy nhiêu, do vậy mà dễ tu.

CŨNG NHƯ: Các pháp ÁC CĂN lộng hành bao nhiêu thì mỗi pháp THIỆN CĂN được Tôn Sùng vậy.

VÍ NHƯ: Bàu sen kia hoa sen LỚN nhờ chất BÙN DƠ nhiều mà hoa sen trở nên ĐẸP. So như vậy đủ biết thời nầy rất thuận cho kẻ tu hành,cần nhớ lấy.

NHÂN DUYÊN SANH là một nấc thang cho CHƯ BỒ TÁT cùng với TAM THẾ PHẬT đã đi, nương nhờ nó đặng thành tựu. Các TỔ xưa cũng phải nương theo nó để cầu SANH TRƯỞNG nơi thế gian mà SỞ ĐẮC chớ chẳng đâu xa mà đến cả.

Nếu bậc tu hành nào lập pháp NHÂN DUYÊN cầu lấy sự Sanh Trưởng để HIỂU BIẾT phá MÊ MỜ. Đó chính là Bậc đã đi vào: ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN KINH vậy.

NAM MÔ ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN KINH

3. NHÂN DUYÊN

NHÂN DUYÊN tức là từ gieo NHÂN nầy đến DUYÊN kia, hay từ chỗ NHÂN kia đến DUYÊN nầy. NHÂN DUYÊN là một bước đi hay bước về. Bước về TRI KIẾN GIẢI THOÁT, hay bước đi MÊ MỜ. Khi đi mê mờ gọi là DUYÊN NGHIỆP. Duyên Nghiệp nó bị cái vòng đai của Ái Nịch và Ái Dục chìm đắm kéo lôi. Trong một thời nhờ Khởi Sanh gieo NHÂN đặng liên kết DUYÊN mà tu hành đến TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Nơi Nhân Duyên thì chẳng có lớn nhỏ, chỉ vì Duyên Nghiệp nặng nhẹ, nhiều ít mà có lớn nhỏ. Đã lớn nhỏ thời có ĐẠI và TIỂU NHÂN DUYÊN.

Bậc Đại Nhân Duyên khi chưa tu vẫn nằm trong Duyên Nghiệp của Ái Nịch Ái Dục. Đến lúc tu hành họ có năng lực cầu tiến bộ, họ cố gắng chịu đựng mọi hoàn cảnh thử thách, Tâm Ý siêng tu không ngừng : Họ xóa bỏ những Nghiệp chi làm cho họ ngăn cách trên đường tu để đặng Nhất Tâm hiểu biết mà Phá Chấp. Họ kiên dũng lướt qua các Nghịch Pháp, làm cho nghiệp lậu không thể nào xâm chiếm đặng họ, như vậy gọi là ĐẠI NHÂN DUYÊN.

Còn Tiểu Nhân Duyên khi chưa tu vẫn nằm trong Duyên Nghiệp của Ái Nịch Ái Dục không khác. Đến lúc tu hành họ biếng trễ ít tin tưởng vào tu PHẬT đặng Giải Thoát. Dù có tin chăng họ vẫn cầu phước để vun cho Ái Nịch và Ái Dục được sự đằm thắm thôi. Họ ít khi dùng năng lực để lướt qua mọi hoàn cảnh thử thách. Tất cả sự tu hành họ cho là phụ thuộc, còn Ái Nịch Duyên Nghiệp là chính tồn sinh ban cho họ vậy.

PHẬT nói: Họ là NỒI ĐẤT mỏng, chớ đụng vào mà họ bị vỡ. Đời sau các ông phải khéo tay nâng chìu, chớ làm cho họ Đoạn Duyên.

LẠI NỮA: PHẬT thường nói Bậc Đại Nhân Duyên là Bậc đã gieo trồng Nhân Duyên đầy đủ không thiếu sót, từ Hiền Kiếp cũng đã gặp Công Đức Cúng Dường, hôm nay sự tu hành đặng thù thắng Tâm sẵn rỗng rang, ít hay chấp nhất. Vì chẳng Năng Chấp mà đặng TỰ TẠI và VÔ NGẠI nên đặng TRỌN ĐẠI BI Các Duyên Nghiệp dù có chăng cũng chẳng làm chi họ. Vì vậy mà lướt qua Nghiệp Chướng nhẹ nhàng vào BIỂN CẢ ĐẠI GIÁC.

Còn Tiểu Nhân Duyên tuy chưa đặng sự đầy đủ như Đại Nhân Duyên, nên cố gắng tu tập bắt chước theo Đại Nhân Duyên mà đến. Không rụt rè cố chấp, đánh đổi những gì làm trở ngại Đạo Tràng, thâm tâm tham muốn. Cứ như thế một thời gian tiêu giảm các CHƯỚNG đồng với Đại Nhân Duyên không khác mấy.

Nếu như Bậc ĐẠI và TIỂU đồng gặp đặng THIỆN TRI THỨC chỉ bày sự tu tập thì đặng vào con đường BÌNH ĐẲNG, không còn phân biệt ĐẠI TIỂU. Vì sao? Vì ĐỒNG DUYÊN nên được sự cứu cánh tuyệt mỹ khó mà nghĩ bàn đặng. Nhưng cần nhất chớ nên BIẾNG TRỄ, hãy TIN VÂNG KÍNH theo sự chỉ bày của THIỆN TRÍ THỨC.

Sự TIN VÂNG ấy nó làm cho LÝ không chướng thì đặng SỰ không chướng mà thành tựu. Bằng chẳng TIN VÂNG thì LÝ chướng SỰ liền chướng, tức là chẳng làm thì đâu có đặng ?

Pháp NHÂN DUYÊN là một Pháp mà CHƯ BỒ TÁT thảy đều nương theo đó để ĐỘ SINH. Nó cũng là mục tiêu trong BỒ TÁT HẠNH. Chính là một ngõ để đón chúng sanh vào TRI KIẾN, chớ làm cho nó ĐOẠN. Nếu chẳng có Nhân Duyên thì dù cho có Phật hiện tiền cũng không thể nào ĐỘ đặng. Vì sao?

Vì:
PHẬT bất hóa độ VÔ DUYÊN
PHẬT bất hóa độ ĐỊNH NGHIỆP.

So như vậy đủ biết Nhân Duyên rất cần cho sự TU CHỨNG. Kẻ tu đoạn duyên khó mà Tri Kiến Giải Thoát, dù có gặp PHẬT cũng không giúp nổi vậy.

Chỉ duy có trường hợp sa vào ĐỊA NGỤC gặp ĐỨC ĐỊA TẠNG cứu thoát mà thôi. Đoạn Duyên chính là ĐỊNH NGHIỆP.

Nơi Định Nghiệp nó tùy nơi thời gian và Không gian của kẻ chấp nhận, đến khi nó cũng tùy DUYÊN KHỞI tự gieo NHÂN mà kết thành DUYÊN, lần lượt trên NHÂN DUYÊN đến trọn vẫn đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Nó do các LÝ CHƯỚNG cùng SỰ CHƯỚNG mà bị chấp ĐOẠN DỊ DIỆT thành thử cản ngăn chướng ngại cũng gọi là MA TÁNH hay MA CHƯỚNG để trôi theo đường SANH TỬ không ngừng.

Nếu bậc tu hành lập NHÂN DUYÊN PHÁP làm một nấc thang cho nó đặng liên tục cầu tiến bộ không ngừng thì đặng TỰ TẠI VÔ NGẠI và HOÀN TOÀN GIẢI THOÁT, không còn Tập Khí Sanh Tử, đặng VIÊN GIÁC NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG.

ĐỨC THÍCH CA NGÀI NÓI:
NHƯ LAI không đến, không đi, không sanh, Chẳng Đoạn - Dị - Diệt, VÔ THỦY VÔ CHUNG. CHÚNG SANH có đến, có đi, có Đoạn - Dị - Diệt và có Thủy có Chung, nên có Nhân Duyên để nương vào Nhân Duyên đặng CÔNG ĐỨC NHƯ LAI trọn vẹn.

NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT MA HA TÁT

2. VÔ NGÃ

VÔ NGÃ tức là: KHÔNG TA. Do chấp nhận CÁI TA mà có cái CỦA TA. Đã của Ta tức có riêng tư năng phân nên Bị Biệt từng nơi từng chỗ cùng với các vật dụng riêng của TA.

Do vậy mà có từng DANH NGÃ cùng TƯỚNG NGÃ như: Nhà, cửa, xóm, làng, thì có tên nhà của Ông A, xóm B, làng C chẳng hạn, chỉ vì tự đặt mà tự thành ranh giới biệt ngăn. Còn các vật dụng cũng có từng món, mỗi món đều có một tên để cho dễ nhận của ta hay của kẻ khác vậy.

PHẬT thấy rõ sự lầm nhận hình bóng huyển ảo cho là Mình, nên PHẬT nói Pháp Vô Ngã, là không có CÁI TA nơi đảo loạn để chúng sanh khỏi lầm nhận tu tập , nương vào Vô Ngã tìm lấy CHƠN NGÃ BẢN LAI đặng hoàn toàn CHÁNH GIÁC vậy.

Vì trót mê lầm tự nhận Nhân Thân ( là thân Tứ Đại ) hư dối của Ta, cùng với các dụng Nhơn Tướng ( vật dùng ) của Ta nương theo Tứ Đại để sống nhờ cầu lấy vật dụng làm nơi vui sướng, do bảo vệ Tự Ngã cùng với Tướng Ngã mà sanh ra tham lam sân hận, vướng mắc đua vạy hơn thua trong đường sanh tử vì Huyển Pháp lầm nhận Cái Ta hư dối làm Mình, chớ thật ra nơi thân Giả Hợp chẳng có CÁI TA, vì nó VÔ NGÃ.

Các bậc tu hành nên thực hành nhận định tìm trong Thân xem cái nào là cái TA ? Nếu chỉ nó ở trên đầu là cái Ta, thời trên đầu là tóc, còn dưới là: Trán Tai - Mũi cùng Miệng, đến Cổ - Ngực - Bụng - Rún, Tay và Chân. Còn ở bên trong thời có: Ruột, Gan, Phèo, Bao tử và Phổi cùng với Máu Mủ, Xương, Thịt không có cái chi gọi là CÁI TA cả. Còn nói gồm chung nó lại mới nhận nó là CÁI TA, thì một khi đã gồm chung nó lại cũng có thể gọi là nó là CÁI MI vẫn được, cần chi gọi CÁI TA? Như vậy, CÁI TA thật là Thị Danh Hư Dối vì nó BẤT NHẤT.

Lại nhận xem về các vật dụng như: Từ cái bàn qua cái ghế cùng lại giường, phảng, tủ lớn, tủ nhỏ, cùng với chén bát mỗi mỗi đều tự đặt cùng với tự mang Danh Ngã và Tướng Ngã cho nó chớ thật ra nó chẳng có CÁI NGÃ của nó.

LẠI NỮA: Tất cả vật dụng cùng với các loài thảy đều Bị Biến và Mê Lầm mang Danh Ngã cùng Tướng Ngã, thành thử cái Dụng máng cho: PHẢI LÀM và BỊ LÀM vậy.

THẾ NÀO LÀ PHẢI BỊ DANH NGÃ VÀ TƯỚNG NGÃ?

Cũng như: Từ nơi chất ĐẤT đem ra làm thành Chén Bát cùng Dĩa hay Độc Bình và các món đồ khác, mỗi món thảy đều có cách dùng của nó.

... Đó gọi là BỊ BIẾN mang Danh Ngã Tướng Ngã, chớ thật BẢN LAI nó là ĐẤT.

LẠI NHƯ: Bàn, ghế, tủ, giường hay tấm phảng nó cũng trường hợp trên. Nó từ Bản Lai là CÂY. Người thợ cưa ra vuông, tròn là GỔ, cưa từng miếng là VÁN, không còn gọi là Cây nữa. Đó, nó Bị biến và mang Danh Tướng Ngã qua Ba lớp vậy. Đến lúc tùy người thợ sử dụng đóng ra BÀN GHẾ, nó trở thành hình Bàn Ghế, thời cái Danh Ngã nó là BÀN GHẾ, nhưng Tướng Ngã nó khác nhau. Có khác nhau như vậy nên việc dùng nó mới khác, như: Cái bàn để ăn cơm hay để sách báo hoặc ly tách, chẳng bao giờ cái Bàn để ngồi. Cũng như cái GHẾ để ngồi, chớ chẳng bao giờ cái GHẾ để sách báo ly tách. Gọi là CÁI DỤNG mỗi khi thành hình thế nào thì dùng theo cái ấy của nó, chớ chẳng dùng sai chạy. Tất cả tủ, giường, phảng hay tủ áo và tủ bạc, mỗi mỗi đều theo thứ lớp DANH NGÃ TƯỚNG NGÃ tạo nên Hình Tướng.

Còn nói về THÂN của con người (Nhân Thân) bị chấp nhận Tự Ngã nên Bị Biến thành CÁI DỤNG của CHÂN NHƯ. Đã lầm lỡ chấp nhận Mình là Cái Dụng của Chân Thể, nên xa cách CÁI TA THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN, mà chạy theo Cái Ta đảo loạn Huyển Sanh. Vì sao? Vì nhận pháp Huyển làm Chân nên phải bị mang Danh Giả Tướng Giả, ngỡ Bản Ngã, Tự Ngã là mình. Vì trót nhận hình bóng Huyển là Mình nên nương theo bóng để cầu Thực, nhưng nó chẳng Thực vì vốn nó là Huyển Pháp.

Chẳng khác nào nhà Ảo Thuật kia lấy hình NỘM Giấy diễn tuồng ăn nói, xong rồi vứt bỏ hình giấy không thể nào làm cho trở nên THẬT đặng. Các Pháp cũng vậy, nó duy chỉ Giả Hợp mà thành nên khi hợp lúc tan, chỉ mê lầm nhận lấy nó mà bị Danh Ngã Tướng Ngã tư riêng tạo nên Nghiệp sai khác của Ta cái Ta hư dối mờ mê.

Khi đã trở nên Nghiệp thời có thanh thô, cao thấp và sướng khổ không đồng Chịu Báo hoặc Chánh Báo. Vì vậy mà có mỗi người một nghề, nghề ấy chính là Nghiệp để nương theo mà tạo cái sự sống. Đó cũng là Tự Làm phải Tự Chịu.

Các bậc tu hành nên nhớ: VÌ LẦM phải bị MÊ, do nơi MÊ mới có LẦM. Chớ không Lầm nào có nơi Mê ? Chẳng Mê là GIÁC. Cái GIÁC NGỘ ấy đâu phải là một hình tướng gì, nó duy chỉ là TỎ BIẾT trọn vẹn chung cùng. Còn mê mờ là CHƯA BIẾT mà ngăn ngại.

Bậc tu phải chủ quán VÔ NGÃ đặng lìa Tự Ngã làm cho các NGHIỆP tiêu giảm, thân tâm chẳng còn mắc miếu Huyển Pháp đặng Tỏ Tánh lại qua khỏi Pháp Chấp. Đó chính là một pháp môn TRI KIẾN GIẢI THOÁT vậy.

Hiện tại vì trót lầm mê nhận các pháp Huyển là mình, cái Hữu Ngã hư dối, cái Ta không bền, nên đóng thành khuôn Danh Tướng và Ngã Dụng của CHÂN NHƯ mà vọng loạn. Đó cũng gọi là: Phải sao chịu vậy trong khuôn khổ Hành Dụng do thọ chấp nên hình. Chẳng khác nào một món đồ kia chính nó là Đất, nhưng trót vỗ nên khuôn Chén Bát hay Dĩa chẳng hạn. Vì vậy mà hiện tại là một cái Bị Khuôn bởi trót lỡ nhúng tay vào nước Chàm. Sự tối cần là phải rửa cho sạch Nghi Chấp, tiêu giảm Tự Ngã Danh Tướng Ngã, nương vào Vô Ngã cho đặng Tỏ Tánh Viên Thông đến CHÂN NGÃ THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN. Nếu được như vậy gọi là Hành Nguyện.

Các bậc tu hành chớ nên than van một khi hãy còn lí bí vì Nghi Chấp, chưa đến Bản Ngã chung cùng mà hoài vọng Thoát Sinh chỗ kia hay chốn nọ, đó thực là điên đảo vậy.

Trong Nghiệp Lực một khi đã mắc miếu thời ai cũng có mang và cũng có chịu, chẳng riêng một ai cả, duy chỉ thanh thô, nặng nhẹ mà thôi, cần nên tu để cỗi giải.

Nó chẳng khác nào: Trót lầm lẫn làm trâu ngựa phải mang cày hay kéo xe, con người thì có kẻ sướng người khổ, nhưng chung lại tùy mỗi mỗi Nghiệp mà phải chịu lấy một HIỆN HÀNH thuyên diễn của nó.

CŨNG VÍ NHƯ: Con ngựa kia phải kéo xe hàng ngày, nó chẳng than van, một ngày kia xe hư, ngựa già liền đặng thoát sanh. Ngược lại : Nó bực tức phá chiếc xe thì người chủ lại đánh đập cùm xiềng, đóng chiếc xe bền chắc hơn, phải kéo lâu hơn mới hư nát.

Bậc tu hành nên nương theo ví dụ trên. Khi đang còn trong HƯ NGÃ nên cỗi giải chấp ngăn. Lúc GIÁC NGỘ Viên Thông nên Hành Nguyện theo mọi hoàn cảnh diễn tuồng cho TRÒN NGUYỆN. Lời PHẬT cũng có dặn như:Các ông chớ nên TẬN DIỆT ĐỊNH. Vì sao? Vì chưa TRÒN NGUYỆN.

Tất cả chúng sanh vốn nguyên MỘT THỂ, đồng với CHƯ PHẬT MƯỜI PHƯƠNG chẳng sai khác. Nhưng chỉ chấp nhận Pháp Ngã làm TỰ TÁNH cho là Mình. Chẳng khác nào một khối vàng kia đem chia vụn ra làm thành vật dụng, tự nhận xíu đỉnh nơi vật dụng là Mình, dùng Danh Ngã Tướng Ngã hơn là CHÂN NGÃ mà trôi dạt. Như theo Tự Ngã: Cà Rá, Bông tai hơn là KHỐI VÀNG vậy.

ĐỨC VĂN THÙ NGÀI NÓI: Nó là PHẬT chẳng chịu làm PHẬT, chỉ chịu làm chúng sanh.

Nó VÔ NGÃ nó chẳng chịu. Nó chỉ chịu nó HỮU NGÃ nên trôi dạt SANH TỬ LUÂN HỒI. Nếu nó không nhận Danh Ngã Tướng Ngã thì nó đồng với TAM THẾ.

CŨNG NHƯ: Các món ấy chính là VÀNG KHỐI, chẳng chịu nhận là VÀNG. Chỉ ưa nhận nó là Cà Rá hay Bông Tai mà thôi.

NAM MÔ TỰ TẠI VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT

1. VÔ THƯỜNG

Vô THƯỜNG tức là Không Thường, Vì luân chuyển vần xoay thay đổi biến dời, khi có lúc không, khi còn lúc mất nên gọi là VÔ THƯỜNG.

Tất cả Vũ Trụ đến Nhân Sinh muôn loài cùng vạn vật, từ HỮU TRI đến VÔ TRI đều hứng chịu Vô Thường Pháp mà xuôi dòng theo luật NHÂN QỦA ngăn thành giới hạn như: năm - Tháng - Ngày - Giờ - Giây cùng Phút. Vì vậy nên tất cả đều nhịp nhàng qui định nơi SANH DIỆT cùng DIỆT SANH bởi Sở Chấp in tuồng như thật.

Vô Thường là một sự mê mờ vì kiểm điểm, chớ thật ra vốn THỂ TÁNH linh động, chẳng phải TỰ NHIÊN hay NHƯ NHIÊN mà có nó, vì sẵn nó BẤT NHỊ, THƯỜNG CÒN, KHÔNG TĂNG, KHÔNG GIẢM, bởi phân chia cùng qui định nhận xét nên nó thành hình Vô Thường mà Thọ Chấp. Từ lúc Khởi Sanh đến khi Bị Diệt nhịp nhàng thứ tự có Bốn Pháp : THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG trong Vô Thường Pháp.

Lại nữa: Trót vướng mắc vào Vô Thường Pháp, trót bị xoay chuyển nơi: THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG, do đó dù muốn hay không cũng phải THỤ BÁO theo Pháp mà xuôi dòng buông chảy trôi dạt theo các Pháp nhịp nhàng xoay chuyển, đó là lẻ chung của Pháp vướng chịu sanh TƯƠNG ĐỐI PHÁP: Được Mất Có Không vậy.

Hiện nay bậc tu hành nên tìm nơi THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN để đặng TRI KIẾN GIẢI THOÁT. Tránh lầm lẫn: Được mừng, Mất buồn của Vô Thường thuyên diễn, đó mới gọi là TU PHẬT, cũng là CHÂN LÝ VÔ SANH.

ĐỨC THÍCH CA Ngài nhận thấy chúng sanh ngăn lầm phân biệt gìn giữ nắm bắt theo các Pháp, mong cầu nó dừng trụ để Thọ Hưởng, gọi là SỐNG CHẾT vì Pháp. Khi Pháp Dừng Trụ gọi là ĐẶNG, lúc Pháp Hoại Không cho là MẤT, tự phát sinh ưu phiền khổ sở như vậy thật là đảo loạn, nên PHẬT nói:Tất cả các pháp đều Huyển Hóa, nó như tia chớp chân trời, như bóng cây dưới nước, chớ nên lầm theo sự Diễn Tuồng của nó, chớ nên nhận nó là chân thật, đừng nhận chỗ Huyển Tưởng làm Chơn Tưởng.

Vì lầm theo các Pháp di chuyển từng lúc, từng hồi của nó mà cho nó là SANH DIỆT, lại chấp nhận từng ly từng tí của nó mà cho là MÌNH, mà tự mình bị nó điều động vướng mắc lấy pháp Tứ Đại riêng tư vòng quanh Sanh Tử.

Chẳng khác nào: một đám đông dân khờ khạo kia, cứ mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời mọc lên thì họ đồng vui mừng thích thú cho tồn sanh mặt trời. Đến chiều tối thì tất nhiên mặt trời lần lần lặn, họ lại sinh tâm buồn bả phiền trách khổ sở, cho là mặt trời Bị Diệt mất. So nơi ví dụ đó đủ biết sự xoay chuyển của PHÁP TÁNH như mặt trời linh động vậy, nhưng vốn nó THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN nào có Diệt Sanh. Nhưng bởi Diệt Sanh, Sanh Diệt là do lầm nhận từng hồi, từng lúc của nó chuyển mình phân biệt thành thử in tuồng như thật mà Thọ Chấp nên theo.

Ví như: Cái bánh xe có chín cây chân tăm, khi xe chuyển mình để chạy thời chín chân tăm lần lượt chạy quây từ trên xuống dưới, từ ngang qua dọc, không phải nó là NHƯ NHIÊN hay TỰ NHIÊN. Đó, bánh xe VÔ THƯỜNG cũng vậy.

Vốn PHÁP TÁNH nó vẫn Thường Trụ, Thường Trụ ở nơi điều động các pháp. Nếu các pháp chẳng di chuyển thì tất cả thua gang sắt, kém vô tri. Chẳng khác nào chiếc xe kia có chạy mới có sự công dụng, chớ xe mà không chạy thì chẳng phải là xe.

Bởi vì TỰ NGÃ tham muốn riêng tư từ Pháp CHẤP vị kỷ eo hẹp nên bị mắc miếu vào bánh xe, nắm lấy chân tăm của xe ngỡ là nơi an trú bền vững, nên chi để bị Tâm Ý đảo điên. Vì bánh xe xoay chuyển thành thử Vô Thường năng biến mới có nơi mong cầu dừng trụ ở chổ dừng quay bất động của các Pháp nữa. Do đó nên bị lầm nghịch mà điên loạn chớ chẳng chi cả.

Cũng như kẻ mong chiếc xe không chạy, thì thà rằng đừng tạo chiếc xe. Cũng như đừng nhận nó Thường hay Không Thường vậy.

Kẻ tu hành nên quan sát suy ngẫm tìm tỏ PHÁP TÁNH THƯỜNG CÒN BẤT BIẾN của nó. Khi mà rõ thấu đặng thời TÂM Ý rỗng rang, chẳng còn sợ sệt Vô Thường xoay chuyển của các Pháp diễn hành.

NÊN CHƯ VỊ BỒ TÁT VẪN NÓI: Các PHÁP thường còn. PHẬT TÁNH thường còn. MA TƯỞNG thường còn. CHÚNG SANH thường còn.

CHỈ VÌ: NGÃ, SỞ NGÃ cùng DANH TƯỚNG NGÃ. Do Tâm Năng Biến nên Bị Biến, lại tự nhận VÔ THƯỜNG nên bị mắc miếu vào VÔ THƯỜNG, chớ chẳng chi là: THƯỜNG hay VÔ THƯỜNG.

NAM MÔ ĐẠI NHỰT NHƯ LAI
PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT

DUY NHẤT PHÁP MÔN NHƯ LAI TẠNG

ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHÁP TẠNG THỜI HAI (Thời Một: Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thời Hai: Đức Di Lạc Tôn Phật.)

Sự tu hành theo Phật Đạo có nhiều lối và nhiều Pháp Môn. Tu lối nào hay pháp môn nào cũng chủ yếu về Tâm. Vậy Pháp Môn hay đường lối tu tập đều là PHƯƠNG TIỆN để phá mê chấp đặng Giác Ngộ, nên tu lối nào cũng đặng, chỉ mau hoặc chậm mà thôi.

Tuy hiểu rằng: TỎ TÂM là GIÁC, mà làm thế nào để TÂM tỏ? Vì TÂM thì kinh KIM CANG có nói: “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM”. Nghĩa là: TÂM không chỗ chỉ mới sanh TÂM. Như vậy, đã không chỗ chỉ, lấy chi để làm TÂM mà tu cho TỎ TÂM đến Giác Ngộ?

Vì sự khó ấy mà kẻ tu hành phải có đường lối hay Pháp Môn. Nơi đường lối hay Pháp Môn phải có vị TĂNG CHỦ hoặc Bậc THIỆN TRÍ THỨC đã GIÁC NGỘ chỉ bày tu hành mới thành tựu cùng tỏ Tâm Giác Ngộ. Nếu chẳng vậy: Thời tu cho có chứng tu, hay tu để cầu Phước . Vì sao? Vì đang MÊ tu bằng cách nào cũng vẫn trong thời Mê. Cũng như: Kẻ đang bị lạc đường không lối thoát, thì dù có dìu dẫn kẻ khác theo cùng với mình cho có bạn thôi, nó cũng không hơn kém. Do vậy, kẻ tu hành tối cần nương tựa theo PHÁP MÔN VÀ TĂNG CHỦ THIỆN TRÍ THỨC đã Tỏ Ngộ mới mong CHÂN GIÁC.

Nếu theo PHÁP MÔN DUY NHẤT PHÁP TẠNG mà tu, thời chung gồm tất cả CĂN NGHIỆP của Chân Tử liền dùng ĐẠI PHƯƠNG TIỆN chỉ bày. Chân Tử phải phát BỒ ĐỀ TÂM và Kiên Dũng lập GIỚI ĐỊNH TUỆ, nhất tâm tu không ngừng nghĩ

Lại nữa, kẻ tu cần phải sửa đổi để tạo lấy THIỆN CĂN cùng phải chịu tất cả các thử thách khi THUẬN lúc NGHỊCH của thế gian hiện hành để đặng Hiểu Biết thế nào là PHÁP. Nếu tỏ PHÁP liền đặng tỏ TÂM, như vậy gọi là: NƯƠNG PHÁP TỎ PHÁP, tức NGỘ PHÁP. Những điểm chính yếu con đường tu theo PHÁP TẠNG NHƯ LAI vậy.

Sự tu hành Pháp Môn PHÁP TẠNG y Tôn Chỉnh PHẬT THỪA DUY NHẤT, lại dùng ĐẠI PHƯƠNG TIỆN diễn nói :“PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN GIÁC”.

Tất cả các bậc tu từ lớn, nhỏ, trước,sau, đều theo phương tiện GIẢI THOÁT thôi. Đó chính là lấy TÂM tu TÂM, khi TỎ Tâm TẠNG GIÁC. Nếu kẻ tu không lập pháp cho TẠNG GIÁC thì khó mà thành tựu. Vì sao? Vì Trí Tuệ bị lầm các SỞ CHẤP nên TẠNG cách biệt mà BỊ BIỆT. Đã bị biệt liền mắc miếu thành mê mờ. Lúc đã phát Bồ Đề Tâm mà tu, trước tiên phải KIÊN DŨNG cho TẠNG GIÁC, lại làm căn bản để con đường tu hành không ngừng. Cũng cần tu trên căn bản GIỚI ĐỊNH TUỆ là mới Dung Thông cùng sự Quyết Định thành tựu CHÁNH GIÁC.

Khi nương nhờ Quyết Định mà TÂM Ý đặng thuần túy đến Hiểu Biết, và cũng có đôi chút Trí Tuệ suy ngẫm ấy để PHÁ CHẤP. Khi lần lượt Phá Chấp sạch Lý liền đặng Tỏ Tâm. Đó cũng là mức tu thứ hai căn bản duy nhất con đường tu PHÁP TẠNG, cũng là PHƯƠNG PHÁP và TÔN CHỈ PHẬT THỪA, nó cũng là cầm đuốc TRÍ TUỆ soi lần tới mà đi vậy.

Con đường DUY NHẤT là một lối tu Điều Hòa, không nặng nhẹ bên nào. Vì vậy mà không mắc miếu thọ chấp, đến chốn VIÊN DUNG TỊCH TỊNH, chẳng có TẬP KHÍ SANH TỬ. Lại nữa, kẻ tu chớ nên chán nản tự dìm mình xuống thấp quá, cũng chớ nên tự cao, tự nâng mình quá tầm hiểu biết.

Kinh DUY MA có câu: “Chớ nên cho mình là PHÀM PHU, cũng chớ tưởng mình là THÁNH. Vì tưởng Phàm bị thối, tưởng Thánh bị Tăng”. Do chỗ chấp đó mà tu bị nặng nhẹ không đều, khó Viên Dung vào CHÂN GIÁC.

Về con đường đến Chân Giác nó thật là vi diệu, thường gần đối với bậc ĐẠI CĂN THÙ THẮNG. Những Bậc ấy không có ảo vọng xa xuôi, chỉ lấy HIỆN TẠI làm căn bản tu. Cũng như : Đạp gai lấy gai mà lễ, hết gai liền hết nhức.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài vẫn nói rất đơn giản như câu: BỊ LẦM NƠI PHÁP HUYỄN HÓA, LẤY PHÁP HUYỄN MÀ TU, KHI HUYỄN SẠCH HẾT TỨC LÀ NGỘ”. Như chúng ta lầm mê vì trót nhận Huyễn Hóa là CHƠN, chẳng khác nào như kẻ đạp phải gai thời bị nhức, lễ gai đặng thì liền hết nhức. Khi hết gai thì cũng không còn gai để mà lễ. Nếu kẻ tu mà so như vậy chính là TU PHẬT.

Kẻ tu hành rất cần nơi cỗi giải các Chướng Nghiệp vặt mắc, đố tật. Những NGHIỆP ấy làm cho Tâm Tham sinh ra sân hận nó lại làm cho kẻ tu hành BỊ CHƯỚNG và cũng BỊ NGĂN trên hoàn cảnh Hành Đạo cùng với Trí Tuệ không Thông Đạt đặng.

Kẻ tu mà kiên cố cỗi giải thì liền TÂM Ý rỗng rang, TRÍ TUỆ mở. Cũng lại tu hành chớ nên vọng ước cao siêu một khi mà Tâm còn ngăn cách mê mờ, lí bí, mà phải bị sa vào lối tu TƯỞNG VỌNG. Những lối tu ấy rất nhiều kẻ bị mắc phải không thể nào đoạt đến CHÂN LÝ, mà còn bị lầm tu trên ẤN TƯỞNG, lại còn Thụ Chấp con đường tu PHẬT là vậy.

Do sự lầm sai biệt ấy mà PHẬT mới nói để chỉ thẳng cho các Chân Tử khỏi lầm, hoặc tu hành khỏi bị chìm đắm nơi Huyễn Pháp mà mắc phải nơi Ấn Tưởng ấy.

Kinh KIM CANG có Bốn câu như sau:

NHẤT THIẾT HỮU VI PHÁP
NHƯ MỘNG HUYỄN BÀO ẢNH
NHƯ LỘ DIỆT NHƯ ĐIỂN
ƯNG TÁC THỊ NHƯ QUÁN

Nghĩa là tất cả các Pháp Hữu Vi đều là mộng không thực, như hình bóng, như tia chớp, không thực có, nếu nhận lấy đều mù quáng.

Lời nói của Đức THÍCH CA Ngài thấy tỏ rõ chỗ lầm nhận vọng cầu của chúng sanh trên con đường tu hành sai lạc ấy mà Ngài chỉ bày thẳng, cốt để lại cho khỏi lầm, cho tất cả kẻ tu đặng đến CHÂN GIÁC.

Vậy kẻ tu nên thận trọng, chớ nên thọ chấp các Huyển Hóa mà nhận lãnh làm cho càng tu càng mê mờ thêm nữa, thà rằng đừng tu còn hơn.

Bốn câu trên là một hồi chuông thức tỉnh Hộ Trì cho các Chân Tử khi đã ngộ nhận lỡ thời mau gạt bỏ cầu tiến, chớ nên cầu mong phép tài nhỏ mọn, nó có thể làm cho con đường TRI KIẾN bị ngăn.

PHẬT còn nói ra từng PHÁP MÔN để chứng minh lối tu sai hay đúng như:

HIỂN GIÁO  là Pháp Môn Hiểu Biết mà Ngộ.
VIÊN GIÁO  là sự Hiểu và sự làm tròn khắp mà Ngộ.
ĐỐN GIÁO là tìm đặng Chơn Tánh tu mà Ngộ.
MẬT GIÁO là tu Tự Biết mà Ngộ.
THÔNG GIÁO là Phá Chấp tỏ rõ mà Ngộ.
TỊNH GIÁO  là dùng Công cho Tịch Tịnh mà Ngộ.
TIỆM GIÁO  là thủng thẳng tu không ngừng Nghĩ mà Ngộ.

Chớ chẳng bao giờ tìm thấy Kinh Sách nào PHẬT nói đến THẦN THÔNG GIÁO hay PHÉP TÀI GIÁO. Nếu tu hành y theo các Pháp Môn hay Tông Giáo trên mà tu thì đặng sự lợi ích khó nghĩ bàn.

Con đường PHÁP TẠNG là một con đường tùy thuận mỗi hoàn cảnh, mỗi nghiệp căn của kẻ tu mà chỉ bày. Lại cũng tùy mỗi GIÁO của mỗi Chân Tử ưa thích chỉ bày để mà tu.

Chung gồm tất cả các GIÁO trên của PHẬT dạy mà gom lại: DUY NHẤT PHẬT THỪA, cũng gọi là Pháp Môn KHÔNG HAI. Nơi PHÁP TẠNG LẬP pháp THIỀN TỌA để TỎ PHÁP tức là TỎ TÂM.

Đối với tình DUY NHẤT PHÁP TẠNG kẻ tu hành phải TIN VÂNG KÍNH theo sự chỉ bày của TĂNG CHỦ và phải dẹp bỏ tất cả LÝ CHƯỚNG để tu tập đến: SỰ LÝ KHÔNG CHƯỚNG đó là con đường tu tỏ TÂM cùng khắp .

DUY NHẤT ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHÁP TẠNG dụng TIN VÂNG KÍNH chỉ bày Quyết Định tu TRI KIẾN GIẢI THOÁT . Nếu Tin Vâng Kính chẳng trọn khó thành tựu.

BA ĐIỂM để cầu NHƯ LAI mà tu đến CHÂN GIÁC. Một là THUẬN. Hai là HÀNH. Ba là DỤNG.

1 - THUẬN: Thuận nương vào Như Lai để cầu NHƯ LAI. Không lấy SẮC TƯỚNG ÂM THANH mà cầu. Duy nhất chỉ THUẬN DÒNG mà đặng.

2 - HÀNH: Hành với NHƯ LAI để cầu NHƯ LAI. Không lấy chỗ CÔNG ĐỨC mà cầu. Duy Nhất nương vào CÔNG ĐỨC NHƯ LAI chung cùng mà đặng.

3 - DỤNG: Dụng NHƯ LAI sẵn ĐỒNG DỤNG. Nguyện nương vào NHƯ LAI để cầu THUẬN NGHỊCH ĐỒNG SONG đặng CHÂN GIÁC.

Hóa Thân Đức TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN Chứng Ký
Chính là Đức DI LẠC TÔN PHẬT
Hạ lai trần thế 1918 -1993

Lời mở đầu

Giáo Pháp: Kinh dành cho Đại Bồ Tát. Từ Giáo Lý Trên Con Đường Giải Thoát, Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật viết sâu thêm để đi vào con đường Nhất Tôn Pháp Tạng. Bồ Tát được thọ ký bước vào Hạnh Nguyện và Hành Nguyện Đại Bồ Tát đặng thọ lãnh từ Thần Thông đến Tam Muội qua các Hiện Thân đến Giải Thoát Viên Mãn Ba Thân.

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.

 

CẨM NANG CHỈ ĐẠO CHÂN TÔN

Ngày mùng 1 tháng 8 năm Giáp Dần

NGÔN LỆNH

Tôi Tăng Chủ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN, Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam ban hành Ngôn Lệnh cho tất cả Tứ Chúng Pháp Tạng trên toàn Quốc được rõ.

Sự tín tâm tu hành từ bấy lâu nay của Tứ chúng đối với Tôn Chỉ Pháp Môn tín tâm đáng kể, nhưng tín tâm chớ chưa quyết định Tín Thành và chưa thoải mái với mục đích nhu cầu Chánh Pháp, thường phân vân nếu quyết tâm tín thành biết có đoạt đến kết qủa Chánh Pháp chăng? Lối chỉ đạo của Bậc Chỉ Đạo có Toàn Chân để đưa cho bậc quyết tâm Tín Thành đến Chân Giác đúng với Sở Nguyện chăng? Đó chính là một mối nghĩ suy làm cho quyết định Tín Thành khó bề phát nguyện chung và riêng trên Thế Giới bậc tu nầy vậy.

Ngày nay Tôi ban hành ngôn lệnh nầy để chỉ bài Giáo Ngôn Thời 23. Mục đề: “CÁI MÊ CHÍNH NÓ KHÔNG GỐC” chia ra Tứ Thời của Nguồn Mê đặng cho Tứ Chúng nhận rõ biết tỏ Chánh Truyền Bảo Pháp vững Tâm đối với Bậc Chỉ Đạo, để Tín Thành theo lời chỉ giáo hết phân vân mà tu đến Tri Kiến Giải Thoát hiện tại.

Tôi có lời kêu gọi các Chân Phật Tử, Tứ Chúng từ Trung ương đến các Tỉnh Thị Hội, các Pháp Bảo Quận Hội, Hội Sở cùng Chi Hội trên toàn quốc hãy phổ truyền nhiều bận, hoặc biên chép hay phát hành để kính biếu cho các bậc mong cầu Chân Lý Tín Tâm tầm Đạo Tri Kiến Giải Thoát, làm cho nền Chánh Pháp qua khỏi cơn lầm lạc xây dựng Chánh Pháp trường cữu, đó chính là Công Đức Bảo Phẩm đối với bậc tu hành đứng thứ nhất vậy.

TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Hội Thượng, ngày 16 tháng 9 năm 1974

Vô Thượng Chân Tôn

Lục Đạo khi đã Hóa Giải Nhiếp Độ tường tận Chánh Giác thì liền tỏ biết tất cả tường tận, trọng lượng hóa diễn nơi nó, lúc bấy giờ mới phơi bày để cho Tín Chúng, từ hàng Bồ Tát tu tập đến Bất Thối Chuyển, Tâm không quái ngại, từ hữu lậu đến vô lậu tường tận, bằng chưa phải là hàng thật tu, thật chứng khó mà lãnh hội đặng Pháp Bảo VÔ THƯỢNG CHÂN TÔN nầy.

Các hàng hãy nghe đây:

Lục Đạo đã xóa mờ, duy nhất chỉ còn có con đường SÚC SANH GIỚI, làm một con đường vào Pháp Thân Quốc Độ tận rốt BÁT ĐẠI NIẾT BÀN.

Vì sao? Vì Súc Sanh Giới chính là một giới kết nạp huân tập hóa thành CHÚNG SANH GIỚI, Chúng Sanh Giới nó chính là Pháp Thân Phật, tận độ Pháp Thân rốt ráo BÁT ĐẠI NIẾT BÀN, đây chính là lời nói VÔ THƯỢNG CHÂN TÔN, riêng dành Chư Bồ Tát Nhãn Tạng Viên Thông.

Còn đứng về trọng lượng diễn hóa của Lục Đạo nó như thế nào, Tôi giúp cho các hàng hãy còn yếu kém chưa thọ lãnh được Vô Thượng Chân Tôn hãy nghe đây:

1. Đứng về THIÊN GIỚI: Định Tưởng Dục Tưởng.

2. Đứng về NHÂN GIỚI: Thường Trụ Thường Chấp.

3. Đứng về A TU LA GIỚI: Thường Chấp Thường Hoại.

4. Đứng về SÚC SANH GIỚI: Kết nạp Hóa Sinh.

5. Đứng về NGẠ QỦY: Tham lam giành xé.

6. Đứng về ĐỊA NGỤC: Chủ Thủ diệt vong.

Khi Lục Đạo tận tường mới hay Súc Sanh Kết nạp hóa sanh thành tựu sơn hà Đại Địa Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, giúp đỡ cho các hàng không nhiễm, không trụ nơi SẮC-THINH-HƯƠNG-VỊ thảy đều trơn liền Chánh Giác.

Bằng Dục Vọng dâm dục chìm đắm nơi SẮC-THINH-HƯƠNG-VỊ-XÚC-PHÁP, lầm lẫn theo kiến Dục tự tạo lấy Hai Tướng thỏa mãn đều nằm nơi Bị Sanh Pháp Giới.

Các bậc Nhị Thừa Tiên Thần trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chỉ vì dục vọng kiến tưởng mà sa ngã tu chứng Tiên Thần. Nhân loại nơi Ba Đường Ác chỉ vì dâm dục mà sa đọa vọng đảo tham lam, kiến tạo rất nhiều điều qúa đáng. Các bậc Tu Chứng qua các Pháp Giới tỏ thông Nhiếp Độ Lục Đạo không vướng mắc, lấy nơi SẮC-THINH-HƯƠNG-VỊ-XÚC-PHÁP làm phẩm trợ đạo, liền Đắc Đạo như lời Ta đã nói.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Ấn Chứng Lúc 12 giờ kém 15 phút
Ngày 5 tháng Giêng Đinh Tỵ