THƯỜNG NHIỄM

Nhân sinh thường nhiễm bệnh hay lây,
Vì thế cho nên Nghiệp dẫy đầy,
Bậc trí khéo phương tầm lối giải,
Kẻ khờ vụng tính, đắm cuồng say,
Dù tu vạn kiếp hơn thiên hạ,
Trót nhiễm, trăm năm uổng tháng ngày,
Nếu rõ Nghiệp truyền hay mắc bệnh,
Ngã lìa Chánh Giác Đại lương Y.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Ngày 26-12-1970 (28-11 Canh Tuất)

VẾT CHÂN NGƯỜI CƯ SĨ

Người Cư Sĩ, vết chân người Cư Sĩ
Đạo hay đời tê tỉ sắt son,
Hiên ngang đâu há mỏi mòn,
Bên trong Bảo Pháp, ngoài choàng cư nhân.

Người Cư sĩ, nào cầu danh giả,
Lòng nhủ lòng,đồng hóa nhân sinh,
Dụng đời để chỉ viên minh,
Biết chăng,chăng biết lộ trình thế thôi.Người Cư Sĩ, khúc nôi tường tận,
Đâu nào đâu vướng bận non sông,
Tình chung vui sống nhịp đồng
Đạo tràng khắp khắp, nói không bến bờ.Người Cư Sĩ, lời thơ êm ả,
Nhiên như nhiên hồn thả muôn phương,
Cùng thế nhân đồng diễn tấm tuồng,
Đứng chung một cảnh không vương thế tình.

Người Cư Sĩ, xây nền Chánh Pháp,
Nguyền thề nguyền đền đáp ơn sâu,
Nên chi chẳng có danh cầu,
Miễn sao chân lý trước sau giải bày.

Người Cư Sĩ, vết chân người Cư Sĩ,
Bổn nguyện nầy chung thủy tình son,
Hai vai, một gánh không mòn,
Đạo Đời hộp nhất, trường tồn Phật Tôn.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Ngày 21-01- năm Tân Hợi ( l97l )

BỔN NGUYỆN LỜI THI

ĐẠI LỄ SUY TÔN

- Hóa Thân ĐỨC TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
- Chính ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT, Hạ Lai Trần Thế 1918 - 1993

TUYÊN NGÔN

THƯỢNG HẠ HÒA AN HẢO
SUY TÔN KHAI ĐẠO TRÀNG
NHẤT NGÔN TRI KIẾN PHẬT
HOÀN TẤT GIẢI THOÁT MÔN

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Chứng minh, ngày Rằm tháng Sáu năm Tân Hợi tức ngày 5.8. l971
tại Trung Ương Hội Thượng Nha Trang.


BỔN NGUYỆN LỜI THI

Ngài hiện thể trong thời dân nô lệ.
Tôi hiện thân giữa Chánh Pháp suy đồi.
Ngài dạy bày tỏ rõ khúc nôi.
Tôi tôn chỉnh những gì ngỡ chấp.
Ngài khai thị muôn dân tri đạo.
Tôi thâu gồm một mối Liên Tông.
Ngài thiên thừa Tạng Đảnh trường tồn.
Tôi nhân hạnh suy tôn chơn pháp.
Ngài vứt bỏ cung vàng điện ngọc.
Tôi cư nhân ngang dọc trổi lên.
Ngài xây thành Tam Bảo vang rền.
Tôi đưa sinh chúng bấp bênh trở về.
Ngài trao chân lý đề huề,
Tôi vạch Bảo Pháp tỉ tê tận tường.
Ngài ban chung khắp tình thương,
Tôi lãnh lời nguyện an khương hôm nào.
Ngài vì bi dũng tối cao,
Tôi vì chí nguyện trước sau khải hoàn.
Ngài thân kim sắc màu vàng,
Tôi lòng trong suốt kính mang dâng Ngài.
Ngài tường. Tôi tưởng đâu hai,
Chánh tri Sư Bổn, nào hoài chân tôn.
Miễn sao phá cạnh vuông tròn,
Ngài,Tôi xây đắp,không còn,không chân.
Vui vui nhịp sống song đồng,
Cười cười đôi thể,nhưng không bến bờ.
Say say đạo diễn nào mơ,
Tôi Ngài chung hộp,vốn thờ Giác Nguyên.
Bút ngừng. Dâng kính vẹn tuyền,
Suy Tôn Giáo Chủ lời nguyền Chứng Minh.

Kính dâng ĐỨC THẾ TÔN BỔN SƯ CHÁNH BIẾN TRI

Ngày 8.1. Canh Tuất, 1970
TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN Kính dâng tập 1

KHAI THỊ NGỘ NHẬP: BỐN TƯỚNG GIẢI THOÁT

BỐN BẬC THỌ LÃNH BẢO PHÁP NGỘ NHẬP

Khi bấy giờ TA nhập CHÁNH ĐỊNH, quán sát các bậc tu chứng thọ lãnh Bảo Pháp bất đồng, cho nên nơi hiểu biết chia ra từng thứ bậc, thứ lớp cạn sâu khác nhau, thường bị thối chuyển.

Nay TA tuyên đọc lời KHAI THỊ nơi NGỘ, NHẬP của Tứ Chúng thiếu khuyết, để Tứ Chúng tùy khả năng, tùy Hạnh Nguyện nơi mình cố vươn mình cầu nơi TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NƠI NGỘ NHẬP, BỐN TƯỚNG GIẢI THOÁT?

- Từ Phàm Phu thọ lãnh Bảo Pháp chưa thực hành Hạnh Nguyện nên Phàm Phu NGỘ NHẬP Giải Thoát nơi Phàm Phu, chớ chưa vào hàng Tiên Thần Giải Thoát.

- Hàng Tiên Thần thọ lãnh Bảo Pháp chưa thực hành nơi Hạnh Nguyện Hóa Giải dù cho có NGỘ NHẬP GIẢI THOÁT nơi Tiên Thần chớ chưa đứng vào hàng A LA HÁN GIẢI THOÁT.

- Từ A La Hán thọ lãnh Bảo Pháp NGỘ NHẬP, thực chứng GIẢI THOÁT nơi A La Hán chớ chưa đứng vào hàng BỒ TÁT.

- Từ Bồ Tát thọ lãnh Bảo Pháp NGỘ NHẬP liền tu chứng nơi Bồ Tát chớ chưa hoàn toàn GIẢI THOÁT nên chưa thể đứng vào hàng của CHƯ PHẬT.

1. THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NGỘ NHẬP CỦA PHÀM PHU?

Khi Phàm Phu đặng nghe lời KHAI THỊ của Bậc CHÁNH GIÁC, dù cho có NGỘ NHẬP hiện tại của hàng Phàm Phu chăng nữa, vẫn là nơi Chứng Tri Ngộ Nhập Tâm Hồn thư thái của Phàm Phu chớ chưa đứng vào TIÊN THẦN GIẢI THOÁT. Vì sao? Vì thiếu kém Đạo Hạnh sa sút Hướng Thượng Thanh Cao, Tâm đang còn dưới vặt mắc tham vọng. Lúc nghe Bảo Pháp dùng lý trí trình độ Kiến Thức Thọ Lãnh, nên lời Pháp kia chưa hẵn Phật Pháp lại là Phàm Phu Pháp nên chi có Giải Thoát chăng vẫn Giải Thoát của Phàm Phu chớ chưa đứng vào hàng TIÊN THẦN GIẢI THOÁT.

2. THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NGỘ NHẬP CỦA TIÊN THẦN?

Bậc tu Tiên Thần, hay bản chất Tiên Thần hoặc bậc Tiên Thần. Lúc nghe đặng thọ lãnh Bảo Pháp của Bậc CHÁNH GIÁC, cho đến nơi NGỘ NHẬP hiện tại vẫn là sự Chứng Tri Tâm Hồn Thanh Tịnh của Tiên Thần chớ chưa bước nơi THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG của Bồ Tát hoặc Hải Chúng Thanh Tịnh hàng A La Hán Chứng Tri thành thử chưa vào đặng hàng A La Hán có đâu đến THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT?

Thế nào gọi là THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT?

Bồ Tát thọ lãnh nơi Đại Hải Chúng của Pháp Giới Chúng Sanh mà tỏ ngộ nên chi gọi là Đại Hãi Chúng. Bồ Tát tu trì ra vào các Pháp Giới để Hành Thâm, ra vào chung sống với từng lớp con người từ TỊNH BẤT TỊNH mà Sở Đắc ĐẠI THANH TỊNH nên mới gọi là THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT.

Thế nào gọi là HẢI CHÚNG THANH TỊNH nơi A LA HÁN?

Bậc A La Hán chịu không nổi với Pháp Giới Chúng Sanh, do đó nhìn nhận nơi vọng loạn trước Vạn Pháp Tâm nương nơi Vạn Pháp mà trở thành Đảo Điên liền Nhiếp Tâm Thanh Tịnh, Diệt Vọng Loạn đặng Thanh Tịnh Tâm, đối với Tiên Thần công dụng Thanh Khiết Tâm mà an trụ nơi Tâm Thanh Tịnh nên chi chưa vào A LA Hán Giải Thoát chỉ đứng nơi cương vị Tiên Thần Giải Thoát.

3. THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NƠI NGỘ NHẬP CỦA A LA HÁN ?

Bậc A LA Hán đặng nghe lời KHAI THỊ của Bậc Chánh Giác cho đến Thọ Lãnh NGỘ NHẬP hiện tại của A La Hán chăng vẫn A La Hán Giải Thoát của A La Hán chớ chưa đứng vào hàng BỒ TÁT GIẢI THOÁT. Vì sao?

Vì A La Hán tu trì nơi hàng Nhị Thừa cố định NIẾT BÀN GIẢI THOÁT chớ chưa nhận TỐI THƯỢNG NHẤT TÔN GIẢI THOÁT, nên chi NGỘ NHẬP tùy nơi rộng hẹp mà thành tựu HỮU VÔ NIẾT BÀN nơi hàng nhị thừa tu chứng. Do đó nên chi lời khai thị đến Ngộ Nhập chốn Giải Thoát A La Hán chớ chưa đứng vào hàng Bồ Tát đặng.

Thời xưa Tổ BỒ ĐỀ ĐẠT MA hóa giải lời Khai Thị của Ngài mong cho hàng Nhị Thừa đặng tu chứng vào hàng Bồ Tát Thượng Thừa, Ngài mới đem lời nói quyết định ĐỘNG-GIÁC còn TỊNH để ĐỘ, vì hàng Nhị Thừa gìn giữ Thanh Tịnh Tâm chớ chưa trọn hưởng TỊNH GIÁC.

4. THẾ NÀO LỜI KHAI THỊ NƠI NGỘ NHẬP CỦA BỒ TÁT ?

Bồ Tát nghe đặng lời KHAI THỊ đến NGỘ NHẬP của Bồ Tát vẫn Chứng Tri Giải Thoát từng cơn từng thứ lớp nơi Bồ Tát chớ chưa đứng vào hàng của CHƯ PHẬT hoàn toàn Giải Thoát. Vì sao? –Vì Bồ Tát đang Hành Thâm Pháp Giới để nhiếp thu lần tỏ Pháp Giới, chớ Bồ Tát chưa thực hành Đánh Đổi Pháp Giới đặng TỰ SANH. Lại nữa: Bồ Tát còn nương nơi NHƯ LAI tu trì Bát Nhã, chớ chưa hoàn toàn HỶ XẢ Cúng Dường Như Lai để Thành Tựu Như Lai. Bồ Tát tu tập Hóa Giải Pháp Giới Độ Sanh chớ chưa TRỌN GIẢI để HÓA THÂN PHẬT. Do lẽ ấy nên chi Bồ Tát thường trú nơi Pháp của Bồ Tát chớ chưa đúng với trọn vẹn là Phật Pháp, vì chưa đúng với Phật Pháp nên chi Bồ Tát mới Đại Nguyện đem tất cả thân mình, Đầu Óc, Tai Lưỡi, Mũi Họng Cúng Dường Như Lai, cầu thành tựu đặng NHƯ LAI NHÃN TẠNG THỰC TƯỚNG VÔ TƯỚNG TAM MUỘI PHÁP MÔN đặng nói lên tỏ rõ đúng với Phật Pháp, khi Phật Pháp nọ chính là lời của Phật Khai Thị, thời Bồ Tát nọ nhìn xa, thấy rộng đầu óc sáng suốt khỏi lầm mê, lưỡi họng nơi Bồ Tát đem những Mật Ngữ ích lợi cứu giúp Chúng Sanh, đem lời nói ban trải khắp nơi, Bồ Tát thành tựu TƯỚNG PHẬT Chánh Báo Lời Vàng, thân mình trở nên KIM THÂN, trọn vẹn NHƯ LAI cùng PHẬT TƯỚNG. Đó chính là Bồ Tát thực hành Chứng Tri Phật Quả.

Bằng Bồ Tát gìn giữ nơi NGỘ NHẬP nơi Hiểu Biết trong cương vị Trí Tuệ, chưa thực hành CÔNG ĐỨC CÚNG DƯỜNG NHƯ LAI, chưa đánh đổi Pháp Giới để TỰ SANH, chưa Phát Đại Nguyện đem Thân Mạng Đầu Óc Tai Lưỡi Mũi Họng Cúng Dường thời Bồ Tát dù cho có NGỘ NHẬP Bá Thiên Vạn Pháp chăng nữa vẫn là Ngộ Nhập của Bồ Tát chớ chưa THÀNH PHẬT. Đây chính là lời nói Chân Thật nhất.

THẾ NÀO LÀ KHAI - THỊ - NGỘ - NHẬP GIẢI THOÁT?

Nầy các Chân Tử:

Nơi thực hành Tu Chứng nó phải có từng thứ bậc, chẳng khác nào tạo ra giống gì thời nó thành tựu ngay giống ấy vì nó như thế nên chi lời KHAI THỊ nơi NGỘ NHẬP nó vốn tùy theo Công Qủa cùng Đức Hạnh mà Chứng Tri, tùy nơi trình độ Công Năng mà Thọ Lãnh Bảo Pháp, lúc thọ lãnh đặng Bảo Pháp nơi Khai Thị, nó liền tùy theo TƯ TƯỞNG NGỘ NHẬN Đúng Sai của từng Bậc mà diễn hóa, Hành Gỉa vẫn ngỡ chính mình Ngộ Nhập đúng với lời Khai Thị của Bậc Chánh Giác, nào ngờ nó tùy thuận Sở Chứng của mình mà Ngộ Nhận. Đối với chân lý chỉ có một, đối với lời Khai Thị của Bậc Chánh Giác Không Hai. Nhưng trình độ Công Năng và Chí Dũng thiết tha tu hành chia ra từng lớp, từng bậc vì như thế nên chi Phật nói: “DUY NHẤT CHỈ CÓ PHẬT THỪA CHỚ CHẲNG CÓ TAM THỪA, TAM THỪA DO CÔNG NĂNG SỞ HỮU NƠI CHÂN TỬ NÊN MỚI CÓ NƠI BẤT ĐỒNG NGỘ NHẬP”

Hỡi các Chân Tử:

Pháp Môn KHAI THỊ NGỘ NHẬP GIẢI THOÁT, các Chân Tử phải lướt qua từng lớp, từ nơi Phàm Phu tu trì cần phát Bồ Đề Tâm Nguyện, từ nơi Tâm Nguyện phải Hành Sự Công Phu Công Đức cùng công phu tu tập Sửa Tánh cho trí tuệ mở mang, giúp đỡ cho người cùng qua các hoàn cảnh Tâm không nhàm chán, Tâm Khẩu Ý phải tu sửa cao đẹp, Trí Tuệ cần Hướng Thượng. Khi các Chân Tử tu hành đúng với hàng Tiên Thần đương nhiên qủa vị nơi mình đang đứng chung với Tiên Thần. Khi các Chân Tử tinh thần Chí Dũng đúng với A La Hán cùng Chư Bồ Tát thời đương nhiên đứng vào hàng La Hán hoặc Bồ Tát. Đó chính là lẽ dĩ nhiên nó phải như thế.

Bằng Trí Tuệ Hóa Giải mê chấp Ngộ Nhập Thông Thái, nhưng hành vi thấp kém, Lý Chí mưu sinh quá ư chênh lệch với Trí Tuệ thời nó vẫn chưa có nơi đúng đắn mà ngang hàng với Bồ Tát hoặc La Hán.

Nầy các Chân Tử:

Chân Lý Phật Pháp duy nhất chỉ có một. Nhưng trót mê lầm sa đọa nơi Thân Tâm thời Chân Lý trở thành BA yếu tố tu đạt trọn vẹn mới Thành PHẬT. Bằng công dụng Trí tuệ Sở Đắc lấy Chân lý thời đương nhiên mới có Trí Tuệ Thông Đạt PHÁP THÂN SỞ ĐẮC CHÂN LÝ chớ ỨNG THÂN chưa đạt đến Chân Lý. Nếu công dụng Đạo Hạnh Tu Trì kiên cố thời ỨNG THÂN SỞ ĐẮC CHÂN LÝ chớ PHÁP THÂN chưa Sở Đắc Chân Lý.

Sự sai lệch nó làm cho các Chân Tử từ nơi hiểu biết Ngộ Nhập thảy đều trôi qua như dòng nước chảy, nhìn lại đến mình thì thấy chính mình hiểu biết, nhưng sự kết qủa hiện tại chưa thấu đáo, đó chính là một mối lo nghĩ không nhỏ của các Chân Tử nơi thời Mạt Pháp nầy vậy.

Các Chân Tử nên tu hành nhịp nhàng bước qua BỐN TƯỚNG KHAI THỊ NGỘ NHẬP nầy cho đặng đầy đủ ỨNG THÂN ĐẮC CHÂN LÝ. PHÁP THÂN ĐẮC CHÂN LÝ liền Sở Đắc BÁ THIÊN VIÊN MÃN HOÀN TẤT. Đó chính là lẽ dĩ nhiên phải như vậy.

Hỡi các Chân Tử:

Thời Hiền Kiếp ĐỨC BỔN SƯ Hiện Thể ra đời. Ngài công dụng sự Tu Chứng Đạo Hạnh và Trí Tuệ song tu, khi thành tựu ĐỨC TRÍ TƯƠNG SONG CHÂN NGUYÊN TRỰC GIÁC, Bậc Sở Đắc Chân Lý liền Chánh Báo hiện tiền. Thời bấy giờ các bậc tu thường gặp gỡ các Tiên Thần nơi Chánh Định Tam Muội giao cảm tất cả Tam Thiên tùy Công Năng lớn nhỏ rộng hẹp giao cảm. Qua thời Hạ Kiếp Đương Lai dân tình khốn khổ, Lý Trí lại phát sanh mỗi con người có một ý nghĩ nơi bản thân TỰ TU hơn là nghe theo lời Phật dạy trong Kinh Điển, dù rằng có nhiều bậc đem Kinh Điển nghiên cứu để tu nhưng chính thật ra Tu nơi Lý Trí của mình hơn là tu theo Giáo Lý Kinh Điển, do lẽ ấy trở thành lạc hướng Giáo Lý nơi PHẬT TÔN sai lệch nơi Chánh Báo Chân Lý nên chi con người hiện tại, tu thì thật nhiều người tu, nhưng kết qủa hữu hiệu chưa nhận ra được nơi Tu Chứng của mình để làm Kim Chỉ Nam đi đến hoàn tất.

Nầy các Chân Tử:

Nói đến hàng tu hành chuyên chính ở kiếp Hạ Lai nầy đối với Phật Đạo, có Bậc công dụng Đạo Hạnh quá nhiều, Tu Thân từ cử chỉ đến lễ bái cúng dường Hữu Tướng xây chùa, dựng Tháp hành lễ không ngừng, trường trai tinh tấn. Khi Ứng Thân Sở Đắc nơi Chân Lý được tất cả Nhân Sinh cung kính hầu hạ lễ bái nơi lòng hoài mong dục vọng của con người chưa đem đến lợi ích chi nơi PHÁP THÂN Trí Tuệ Hóa Giải cho con người Hóa Sanh Sở Đắc Chân Lý, mà chính bậc Tu Thân vẫn mơ màng đường đi lối về nơi Chánh Báo tình trạng nầy Bậc tu hành phải Công Dụng Chiêm Ngưỡng để được thoát sanh nơi TỊNH ĐỘ.

Hỡi các Chân Phật Tử:

Nói đến Bậc thứ Hai của Thời Hạ Lai tu hành chuyên chính nầy đối với Đạo Phật. Bậc nầy vẫn PHÁT BỒ ĐỀ TÂM NGUYỆN Công Dụng lời ĐẠI NGUYỆN phát sanh chuyên ròng về Tự Tánh Tỏ Tánh sáng soi từng Pháp Giới nên nơi hiểu biết khá nhiều về Trí Tuệ, sở Đắc CHÂN KHÔNG ngang hàng với Ông TU BỒ ĐỀ trong kinh Kim Cang thưa hỏi.

Nhưng tại sao chưa đến Chánh Báo như Ông Tu Bồ Đề thuở nọ? Chưa đặng Đức Hạnh như ông Tu Bồ Đề thuở xưa. Đó chính là một câu hỏi để các Chân Tử thức tỉnh trong sự việc tu hành thiếu Đạo Hạnh, thiếu kém Công Năng trên con đường Hạnh Nguyện Bổ sung cho Trí Tuệ Giải Thoát.

Nầy các Chân Tử:

Bậc thứ Hai Sở Đắc Trí Tuệ thụ hưởng Pháp Thân nên chi hiểu biết Trực Giác chỉ thanh thoát về Trí Tuệ thụ hưởng nơi Trí Tuệ chớ chưa thọ hưởng được ỨNG THÂN CHÁNH BÁO. Bậc nầy nếu là Bậc căn bản nơi Giác Ngộ Tu Trì thời gian Bất Thối mới trọn tin Phật Đạo, mới công nhận Đạo Phật Chân Lý nơi PHẬT chính là một tài liệu Cứu cánh con người rất tế nhị bền vững đời đời, bằng Bậc nầy chưa đến căn bản Trí Tuệ liền sa đọa nơi Kiến Dục, công dụng sự khôn ngoan nơi mình để tạo cuộc đời sung sướng trên Nhân Loại, đó chính là bọn người làm cho Đạo Phật phải suy đồi Mạt Pháp, thật ra Phật Pháp không Mạt, chỉ vì bọn tu sai lạc nên Pháp nơi PHẬT bị lạc gọi là LẠC PHÁP.

Con đường tu duy nhất nó chỉ có MỘT, vì vậy nên chi vị Phật sau phải nhìn vào vết chân của vị Phật trước đã đi cùng đã thực hành mới kết qủa Thành Phật. Vị Bồ Tát cùng Chư Bồ Tát thi hành Hạnh Nguyện tu trì phải nương theo vết chân của Chư Bồ Tát đã từng Hạnh Nguyện, nay Chư Bồ Tát Hạnh đồng nương theo để Tròn Nguyện.

Đối với các Chân Tử, sự tu hành nó vốn phải như thế không sai chạy, cho nên Chư Bồ Tát Tâm Nguyện những gì KHÓ LÀM mà LÀM ĐẶNG, những chuyện KHÓ NGHE mà NGHE ĐẶNG, những thời gian KHÓ TU mà TU ĐẶNG mới mong thành tựu.

Cho nên:

Sông sâu Ta vẫn cố chèo
Núi cao, rừng thẳm ngặt nghèo phải qua.
Bồ Tát cho đến Phật Đà
Cùng chung một ngỏ, trải qua một đường.
Dù cho vạn nẻo, muôn phương
Bản Năng Trực Giác Chân Thường Giác Chân.

Đứng thời LẠC PHÁP Thất Chân Truyền Ta tuyên đọc, từ đời nầy đến đời sau nhớ lấy
BỐN BẬC THỌ LÃNH BẢO PHÁP KHAI THỊ NGỘ NHẬP HOÀN MỸ GIẢI THOÁT.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

 

CÁI MÊ CHÍNH NÓ KHÔNG GỐC

Tôi về Trung Ương Hội Thượng lúc 21 giờ ngày 24 tháng 7 năm Giáp Dần, tức ngày 10-9-1974, theo như thường lệ mỗi tối, tôi thảy đều về Trung Ương đặng gần Đạo Hữu, Đạo Tràng làm nguồn an vui duy nhất của đời tôi. Khi tôi về đến nơi nhận thấy có sự khác lạ khó nghĩ bàn hơn các buổi trước, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tỉnh tọa trang nghiêm, hiện diện gồm có ông Tạng Bữu, Tạng Nguyên, Tạng Tích, Pháp Bách, Bà Pháp Tùng, Bà Tạng Trình cùng một số Tín Chúng đang ngồi quanh Ngài lặng lẽ, Tôi bước vào lễ bái xong ngồi lại một bên, Ngài bảo tôi đem bút chỉ ghi chép Giáo Ngôn.

Ngài dạy:

Các Ông cũng nên biết: “CÁI MÊ CHÍNH NÓ KHÔNG GỐC”, Nếu Mê nó có gốc thì chẳng bao giờ tu Giác Ngộ. Ngài nói xong trầm ngâm chốc lát rồi Ngài dạy tiếp: Nhưng kẻ đã trót Mê thì cái Mê nó liền có nguồn Mê của nó để mà Mê.

THẾ NÀO LÀ NGUỒN MÊ?

DUYÊN KHỞI SANH TÂM đó là Nguồn Mê. Khi đã có Tâm Sanh, Tâm nó liền có TÁNH, đó là Nguồn Mê. Tánh ấy phải có THỨC, đó là Nguồn Mê. Thức thì linh động di chuyển không ngừng, bởi bậc tu hay kẽ chưa tu mong cho Thức ngừng an trụ mà trở thành NGHIỆP. Đó chính là nguồn Mê trong TỨ THỜI lầm lẫn từ trên xuống dưới để Thọ Chấp làm Chúng Sanh Giới vậy.

Hôm nay Tôi ra thời Giáo Ngôn này chủ yếu dạy, đồng chỉ rõ sự mê lầm của Tứ Thời để cho các Ông nhận định rõ biết khỏi Thọ Chấp, khỏi an trụ để mà tu, đồng thời lưu lại cho đời nầy, đời sau làm một hướng Chỉ Đạo, tu Tứ Thời trở thành mục tiêu tu chứng, từng cấp bậc cao, thấp khác nhau, rốt ráo hoặc chưa rốt ráo mà thành tựu vậy. Đó là thời Giáo Ngôn tùy nghi xử dụng tín dùng.

Các Ông cũng nên biết: Buổi ban đầu bậc tu hành bước vào ngưỡng cửa nhà Phật, phát Bồ Đề Tâm thì trước tiên phải thi hành GIẢI NGHIỆP, Nói đến Nghiệp, mỗi bậc tu đều có Nghiệp, kẻ chưa tu vẫn có Nghiệp, Nghiệp nó sai khác nhau tùy theo tư tưởng Thần Thức năng chấp trụ, tùy theo lớn nhỏ rộng hẹp của Ý THỨC mà trở thành Nghiệp, tùy theo Nghiệp Thức Thọ Chấp, nhưng cốt yếu muốn tu, phải giải Nghiệp mới tu.

Nghiệp thì thật nhiều vô kể, nó có đủ khía cạnh mà Thọ Nghiệp. Do lẽ ấy, nên bậc tu dùng đủ phương tiện, đủ phương pháp, tiêu trừ Giải Nghiệp. Sự Giải Nghiệp tùy theo trí tuệ lướt qua hoàn cảnh, tạo công năng Giải Nghiệp, cứ giải bớt Nghiệp bao nhiêu thì Trí Tuệ tăng trưởng Thọ Lãnh Bảo Pháp bấy nhiêu. Công Năng Giải Nghiệp giúp cho bậc tu mau đến Sở Cầu, Sở Nguyện thành tựu, dù tu hành chưa có kết quả chi cho lắm, nhưng có thật hành giải Nghiệp, đặng Phước Báo Nhân Thiên, khỏi sa ba đường ác Ngạ Qủy, Súc Sanh, Địa Ngục. Nếu tu hành quyết tâm trừ giải, đánh đổi lề lối nhỏ nhen của đời, để tiến đến con đường Đạo rộng rãi thanh thoát chứng quả, thì rất cần đến Pháp Môn Giải Nghiệp. Khi Giãi Nghiệp rạng rỡ liền đặng chứng tri Tiên Thần hay sanh về Cõi Trời nơi Tam Giới. Bậc tu thường tự soi lấy mình về Nghiệp còn nhiều hay ít thì hãy soi trên bước đường tu tập, trên con đường Đạo, nếu Duyên tròn không thiếu sót ấy là Nghiệp vơi. Bằng lơ là biếng trể cho rằng gặp chuyện nọ thế kia trốn tránh, đó chính Nghiệp đầy. Tôi có câu:

“DUYÊN TRÒN NGHIỆP VƠI
DUYÊN LƠI NGHIỆP ĐẦY”

Các Ông cũng nên biết, Tôi nói Tứ Thời của Nguồn Mê, Lý Sự Giải Nghiệp, mới thi hành phần nhất mà đã kết quả đáng kể là: MÌNH TỰ NÂNG LẤY MÌNH, PHƯỚC BÁO NHÂN THIÊN, hưởng các cõi Trời. Nếu bậc tu Nhất Tâm THẬT HÀNH, THẬT TU trong thời hai thì có lợi vô kể, một là đắc quả A LA HÁN, hai là BỒ TÁT HẠNH tu rốt ráo Tứ Thời thành PHẬT. Đây chính là lời tuyên rõ giữa thời HẠ LAI CHỈ ĐẠO, các Ông nên nghe rõ Thời Hai Tôi nói. Ngài dạy tiếp:

Thời Hai có hai lối tu, hai bậc tu. Một là Bậc NHIẾP THÂU THỨC, hai là Bậc KHÔNG NHIẾP THÂU THỨC.

THẾ NÀO LÀ BẬC TU NHIẾP THÂU THỨC?

Bậc tu thấy Thức thường di chuyển, tư tưởng động vọng quá nhiều mà trái lại sự mong mỏi của bậc tu đến Thanh Tịnh. Vì lẽ ấy nên NHIẾP THÂU bằng cách kềm chế động vọng, huân tập Tịnh Tâm, lìa bỏ Nghiệp Thức, Ý Thức dung dưỡng Thần Thức gọi là Tu Tịnh, chủ quán Định Thần Tưởng Thức, sau khi luyện Thần ép Thức đắc quả A LA HÁN là Bậc Nhất trong lối tu Nhiếp Thâu Thức nầy. Ngoài ra thiếu công năng được thành Tiên Thần. Đó là một lối Giải Nguồn Mê Thời Hai thu nhiếp, lại dùng Tư Duy Thức Tịnh thành tựu vậy.

THẾ NÀO LÀ BẬC TU KHÔNG NHIẾP THÂU THỨC?

Bậc tu hành KHÔNG NHIẾP THÂU vẫn nhận thấy Thức thường di chuyển, Tư Tưởng động vọng, Tịnh Bất Tịnh trăm phương vạn thức không đáng sợ , bậc ấy không nhiếp thâu Thức, vẫn nương theo Thức di chuyển, cốt yếu khi Nghi Chấp để Phá Chấp đưa về sự rõ biết Nghiệp Căn Chủng Tánh các Pháp di chuyển của Thần Thức Ý Thức, gọi là Trụ vào Thức mà không trụ Thọ Chấp. Phật thường căn dặn Bồ Tát: TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ cũng thế.

Các Ông nên nhớ, Bậc Tu biết giải Nguồn Mê của Thức, chính là Bậc biết nương theo Thức, cốt soi biết rốt ráo mạch lạc Bổn Lai của Thức, chuyên tu đoạt đến TỰ TÁNH TỎ TÁNH, chớ chẳng phải nương theo Thức mà an trụ thọ chấp nơi Thức. Nếu thọ chấp thì đương nhiên bị Chứng Tu của mình chỉ tu đến đó mà thôi. Nên Tôi thường dặn: NGHI CHẤP ĐỂ PHÁ CHẤP chính là tiến bộ chớ chẳng phải NGHI CHẤP ĐỂ CHẤP LẤY NGHI dừng trụ. Cũng như nương theo Vô Ngã tìm Chân Ngã cũng thế.

Đối với Thức nó chỉ có một ở trong Tứ Thời Nguồn Mê, nhưng linh động trên dưới, ngoài trong trở thành thanh thô, rộng hẹp, nặng nhẹ, phân toán. Do đó, nó phải làm ba lối khác nhau, để tiêu biểu cho sự Tu Chứng khác biệt, từ Phàm Phu đến Trí Thức qua Đại Thức Tiên Thần.

THẾ NÀO LÀ BA LỐI?

Lối thứ nhất THẦN THỨC, lối thứ hai Ý THỨC, lối thứ ba NGHIỆP THỨC.

– Lối THẦN THỨC suy tưởng thanh thoát, tìm hiểu rỗng rang, dị thoát cao siêu, soi khắp vũ trụ nhân sinh, Tiên Thần, Tam Giới. Nếu là bậc Tu Thiền thời Thần Thức di chuyển cùng khắp mười phương, qua từng Cảnh Giới cốt để tỏ ngộ, Thần Thức chính là một Nguồn Mê, dễ dàng đưa cho bậc tu hành lầm tưởng mà Thọ Chấp, ngỡ mình thành Phật, thành Tiên cao cống Tự Ngã. Do lẽ ấy nên Phật căn dặn: “Nếu chấp nhận mình Sở Đắc thì chẳng Đắc”. Vì sao? Vì Sở Đắc Định Tưởng đương nhiên bị lầm từ THẦN THỨC trở thành NGHIỆP THỨC chấp trụ. Các Ông thấy Ngộ là yếu tố nguy hại của sự lầm nhận chưa? Chúng tôi đồng thưa:

Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, thật nguy hại, nếu trong thời Chuyển Thức, chẳng có Bậc CHỈ ĐẠO thì chúng con rất dễ lầm nhận. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ gật đầu dạy tiếp:

Nói về THẦN THỨC nó có Bổn Tánh rổng rang lung lạc tùy thuận theo ưa thích nó liền đưa đến suy tưởng như ý nguyện. Nó lại di chuyển Đồng Ứng làm cho bậc tu thích thú vui vẻ hỷ lạc mà lầm nhận, vì Bổn Tánh nó như vậy, nên Bồ Tát thường dùng Thần Thức làm nơi an vui trong chốc lát Đạo tràng, Bồ Tát không Thọ Chấp.

Bậc Thiền Tọa gặp lúc Thần Thức dồi dào thường khi xuất thần đi vào các Cảnh Giới du hành. Lối xuất Thần này có hai lối khác nhau. Thế nào là khác nhau?

Bậc nương theo Thức, lúc Xuất Thần vào Cảnh Giới BIẾT ĐÓ CHÍNH LÀ NGUỒN MÊ CỦA DIỄN CẢNH, nên KHÔNG CỐ ĐỊNH CHẤP TRỤ để thụ thai vướng vào Nghiệp Thức Cảnh Giới. Còn bậc tu NHIẾP THU THỨC thường dung dưỡng Thần Thức, lúc Xuất Thần liền huân tập Nhiếp Thâu để THỤ THAI NƠI ĐỊNH TƯỞNG MÀ CHẤP TRỤ, tu đến thành tựu liền bị an trụ.

Các Ông nên nhớ kỹ, Thần Thức nếu nương theo để tỏ ngộ Sở Đắc PHÁP THÂN, thật yếu tố quan trọng, bằng Sở Chấp, Sở Trụ liền bị Tu Chứng đến mức trụ mà thôi, theo như lời Tôi đã nói trên.

– Còn về phần Ý THỨC, Ý Thức bổn lai của Ý Thức năng phân, nếu chấp thì bị biệt, lại năng tách, nếu thụ thì bị biết. Nó đo lường tỉ mỉ từng môn, từng tướng, từng hạt cát đến Vũ Trụ không thiếu sót. Bậc tu biết nó như thế, phải nương theo nó lập Đạo Hạnh, xem xét tỉ mỉ thật biết, nó chính là một cơ bản Tướng Phần Hạnh Nguyện thành tựu SẮC THÂN TƯỚNG PHẬT, Tịnh Độ Niết Bàn, Trang Nghiêm Cõi Phật, không thiếu sót Cảnh Giới, Từ Chư Thiên an hưởng hoan lạc, đến Phàm Phu tu cầu Phước Báo giàu sang. Cái giá trị kiểm kê của Ý Thức đối với Bậc Giác Ngộ nó như vậy, Bậc tu phải nương theo để thành tựu, bằng chưa biết dụng nó làm một quan điểm duy nhất để tu như nghiên cứu từng văn tự, ép xác, Đạo Hạnh cố định, tỉ mỉ Thọ Chấp thật khó tu. Đối với Ý Thức, mang nặng thì Phàm Phu nhỏ nhen eo hẹp, mà bỏ nó ra thì Phi Đạo buông lung Tà Kiến. Vì sự hệ trọng và ích lợi của nó như thế nên Phật căn dặn ĐỨC TRÍ TƯƠNG SONG. Vì sao?

Vì Ý Thức tạo Đức, Thần-Thức phát HUỆ. Ý Thức là PHÁP ĐỊNH, Thần Thức là PHÁP HUỆ, Ý Thức là ỨNG THÂN, Thần Thức PHÁP THÂN, các Ông nên nhớ kỹ. Ngài dạy đến đây, hớp một chung trà của Tín Chúng vừa dâng. Ngài dạy tiếp:

– Còn đối với NGHIỆP THỨC,
là một Nguồn Mê Thọ Chấp dừng trụ, Nghiệp Thức cũng gọi là Chấp Pháp, nếu một bên tu Đạo Hạnh hay một bên tu Trí Tuệ phá chấp để mà chấp, hai bên vẫn nằm nơi Nghiệp Thức, và Tọa Thiền Xuất Định để an trụ nơi Thiền Định, vẫn là Nghiệp Thức. Nói ra đây để các Ông nhận lãnh hiểu biết làm gương đo lường soi biết chớ không thể diễn giãi cho hết Nghiệp Thức trong giai đoạn Chấp Thủ.

Các Ông nên thịnh trọng nhớ kỹ thời Giáo Ngôn này, đồng lưu ý chú niệm TỨ THỜI NGUỒN MÊ, nó quan hệ nhất là thời hai về THỨC, làm cho các Bậc tu lẫn lộn, tự sanh hồ nghi bất tín trước Thần Thức buông lung, Ý Thức phân biệt hai đường một lối nan giãi, phải bị Nghiệp Thức chấp thủ mà sanh lòng ngạo mạn, Tâm sanh khinh mạn Chân Truyền Bảo Pháp cho rằng CHÂN LÝ NÓ CŨNG THIỆT MÀ NÓ CŨNG GIẢ. Do đó lúc tu sanh tâm Bất Tín tự hào, trở thành bừa bãi, tăng thượng đối với Bậc Chỉ Đạo, mất Tôn Kính. Chính chẳng phải do các Ông, do tu chưa chu đáo, giai đoạn Thức Nguồn Mê chưa hiểu biết tí nào, nên Thức chuyển đảo điên, lầm ngỡ rằng mình nhận đúng Chánh Đạo.

Đối với giai đoạn thời hai Nguồn Mê thuộc về THỨC, nó có lợi cho bậc nương theo VÔ NGÃ để rốt ráo nguồn Sanh Tử, tận tận Chủng Tánh Khởi Sanh, thật biết Pháp Giới Thọ Chấp, tỏ rõ TAM THẾ NHƯ LAI cung kính nghiêng mình Hạnh Nguyện, tránh né Thọ Chấp Tiên Thần, nó chẳng khác:

NGỌN ĐUỐC SÁNG SOI, NẾU VÔ TÌNH THỌ CHẤP MỪNG RỠ NÉM ĐUỐC BỊ CHÁY RỪNG, TẮT ĐUỐC TẠO VÔ MINH, THÌ PHẢI CHỊU CHÁY, CHỊU KẸT TRONG HANG SÂU RỪNG THẲM VẬY.

Khi bậc tu đi qua hai giai đoạn giải Nguồn Mê NGHIỆP và THỨC, thì bắt đầu Thanh Tịnh Tỏ Ngộ, Tự Tại Vô Ngại Dung Thông, biết lượng theo Thời Nghi mà Giải nói, biết từng Khởi Sanh của kẻ tu mà chỉ bày, trên Cung Kính CHÍ TÔN, dưới kiểm soi giúp đỡ, không còn lề lối ngạo mạn bừa bãi, đem Thời Pháp diễn giải đúng chổ phá Mê Lầm, chẳng Tự Ngã khoe khoang, thường Xuất Định giao du các cõi, lúc trả về chẳng vướng mắc vương mang. Lúc bấy giờ mới xét soi TỰ TÁNH để HÀNH THÂM BÁT NHÃ soi từng bậc, từng Cảnh Giới, từng Tam Thiên, từng Lý Sự di chuyển kết hợp diễn hóa tạo thành Cảnh Giới, tạo thành Quốc Độ Tịnh Độ muôn phương. Bậc này biết tỏ rõ, biết tỉ mỉ Nghiệp Sanh, Nghiệp Khởi, Nghiệp Trụ, Nghiệp Chấp, Thức chuyển, Thức Xuất, Thức Sanh, Thức Báo, Tự Tại ra vào VIÊN GIÁC như kẻ nguyện trú TAM BẢO để THỀ NGUYỆN HỌC. Bằng Thức chưa thông đạt, thân tâm liền chưa thoải mái, Lý hãy còn Chướng, Sự thì ngăn ngại cho nó thế nọ, nó thế kia, Trí vẫn vơ, lòng nghi ngại ngớ ngẫn tìm lối giải trong vòng lẩn quẩn áy náy. Như thế bậc tu hành cần phải tu nữa chớ vội thọ chấp rất nguy hại vô cùng. Khi Bồ Tát rốt ráo về Giai đoạn này mới thưa gởi ĐỨC THẾ TÔN rằng: CON KHÔNG CÒN LẤY MỘT NGHI. ĐỨC THẾ TÔN nói: Phải phải, lúc vọng động đảo điên sạch sẽ rốt ráo nó đâu còn Nghi để mà Nghi.

Khi trưởng thành trọn vẹn, giải trọn vẹn Nguồn Mê về TÁNH trong Thời Ba thì đương nhiên TỰ TÁNH PHỔ CHIẾU Sở Đắc các Pháp Thần Thông Tam Muội như Du Hí Thần Thông Tam Muội, Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, Chánh Định Tam Muội, cùng các Pháp Thần Thông Tam Muội khác vô kể, vô kể. Vì sao? Vì Bổn Tánh Tự Tại Vô Ngại Đại Bi của Bồ Tát hành dụng. Do lẽ ấy Phật nói: Con mắt Phật không thể nào soi khắp Hành Dụng của các Chư Bồ Tát đặng nên không thể diễn nói hết trong thời Giáo Ngôn này.

Lúc bấy giờ Bồ Tát trưởng thành Đại Bồ Tát thường dùng THƯỜNG TỊCH QUANG để cung kính NHƯ LAI, thường dùng DIỆU ÂM QUANG để đãnh lễ Chư PHẬT, thường dùng KIM SẮC QUANG đặng trang chỉnh QUỐC ĐỘ, thường dùng DIỆU SANH QUANG để CỨU ĐỘ CHÚNG SANH, làm cho tất cả Thường An, Thường Lạc. Đó chính là Bổn Nguyện Tự Tánh.

Đến giai đoạn thời tư tức là Tứ Thời Nguồn Mê, giai đoạn này thật là giai đoạn quá kể, nhưng vì mở màn để giải Nguồn Mê nên Tôi diễn nói để các Ông tự liệu từ đời này làm một CHỈ ĐẠO CHÂN TÂM để mà tu cho khỏi sai lạc, làm cho Chánh Pháp trường cửu chẳng suy đồi. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài dạy đến đây, bảo Tứ Chúng đãnh lễ nơi Chánh Điện, đâu đó xong, ngồi lại một bên. Ngài dạy tiếp:

Khi ba thời đã hoàn tất Nguồn Mê, đến thời thứ tư thuộc về TÂM, bước qua giai đoạn Tâm, thì CHÂN TÂM CHÁNH GIÁC Thị Hiện Viên Tịch, Viên Dung. Chỉ mỗi một gật đầu chấp thuận thì thay đổi Tam Thiên Ô Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sanh Trược thảy đều trở thành Tịnh Độ Trang Nghiêm. Một lời nói một nụ cười, Chân Đệ Tử Thọ Lãnh thì liền TRI KIẾN GIẢI THOÁT, Tự Tại Vô Ngại Muôn phương. "Mỗi một khơi móng tay, mỗi một lần xét đến thì dù cho Chân Đệ Tử bị Ma Ba Tuần nhiễm hại cũng phải rời rã tay chân, không còn quấy nhiễu. Thật quá kể quá kể, bậc Tứ Thời rốt ráo CHÂN TÂM CHÁNH GIÁC VIÊN MINH, không thể nào Tán Thán hết. Chỉ có Công Đức Phụng Hành, Tin Vâng trọn là Cúng Dường BẢO PHẨM thôi”.

Khi ghi chép xong, chúng tôi không biết nói gì hơn trong thời Giáo Ngôn này để tỏ Chân Thành xưng tán ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ cho vừa, không ai bảo ai đồng quỳ trước Ngài Chiêm Ngưỡng Lễ Bái thưa thỉnh:

“Kính bạch ĐỨC TĂNG CHỦ, Ngài đã vì lòng thương chúng con từ đời này đến đời sau làm một CẨM NANG CHỈ ĐẠO CHÂN TÔN để tu. Vậy chúng con xin Phụng Hành trước Ngài để Phụng Thỉnh từ Chân Tâm Chí Thành của các con lưu truyền đến Chân Tâm Chí Thành của các Bậc khác, gìn giữ Phụng Hành bất diệt.
Chúng con xin Ngài dủ lòng thương cho chúng con đặng tỏ rõ Thời Pháp này là thời hiệu chi để cho tất cả Phụng Trì?”

ĐỨC TĂNG CHỦ dạy: “Thời Giáo Ngôn này gọi là CẨM NANG CHỈ ĐẠO CHÂN TÔN. Nói lên cái MÊ nó không gốc.”

Chúng tôi đảnh lễ Phụng Hành.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Long Hoa hội Thượng ngày 24 tháng 7 năm Giáp Dần
Di Như “Phụng ghi để phổ truyền”

CHÂN NGUYÊN THỰC TẾ LUẬN

Bửu Tích. Máy chữ Royal của Ngài dùng viết Kinh.

MINH XÁC VỀ ĐẠO PHẬT

Đạo Phật là một mối đạo quảng đại trùm khắp đưa tất cả quần chúng, không phân biệt giai cấp, từ nơi bủn xẻn lòng vị kỷ Tâm eo hẹp tư riêng Cá Nhân Cá Tánh, đến nơi Vị Tha cứu giúp, nâng đỡ tự lợi đầy đủ mọi người, hơn riêng mình tự lợi. Nhờ lý sự quảng đại bao la, nhờ kiên trì ngự chế tư hữu nên đoạt đến Chân lý thực chất, sống hiện tại trên mọi vấn đề, trên các hình thức, giải quyết an lành ổn thỏa cho chính mình, đồng hữu ích cho tất cả, lại dụng ĐỨC TRÍ Hóa Giải tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh của những người thân cận đến thân mạng mình thảy đều đặng như ý nguyện, nâng đỡ các giai cấp, cứu vãn lý trí khó khăn đem con người Tự Tại Vô Ngại, sống an nhiên vui thú, không làm mất thể diện tư cách Đạo Đức trên mọi hình thức, mọi phương diện, nó lại bảo tồn kiếp sống như nhiên tinh thần đồng vật chất thoải mái. Đạo Phật toàn diện từ Thế Gian đến Xuất Thế Gian, chưa có mục tiêu nào ngoài Đạo Phật để đưa con người đi vững vàng bằng

Đạo Phật, cũng chưa có một Mục Đích nào đem cho con người đến nơi Toàn Thiện bằng Đạo Phật, đó chính là lời nói minh chánh. Nếu người nào, kẻ nào hay bậc nào thật hành sâu sắc thâm nhập đặng bao nhiêu thời mới nhìn nhận lời nói nầy là một lời nói đúng đắn, không có môi trường Cổ Võ, nói ra chủ yếu cho nhân sinh quần chúng noi theo tấm gương rạng rỡ tìm ra những gì chính Tôi đã nói.

Đạo Phật, đối với Quần Sanh Tứ Loài, Đạo Phật không khác nào là Hư Không vô tận hàm chứa bảo bọc cho tất cả các Hành Tinh cùng Quả Đất, nâng đỡ cho tất cả vạn Cõi, vạn cảnh giới cùng thế giới đặng an toàn, chỉ có con người, chỉ có những bậc nương theo gót chân Đạo Phật chưa thấu đáo Đạo Phật làm điều riêng rẽ mất giá trị của Đạo Phật, khiến Nhân Sinh hoài nghi bất tín, đó chính là mình tự phản lấy mình trước, chớ Đạo Phật không chịu trách nhiệm. Còn đối với Con Người chưa biết gì về Đạo Phật cho Đạo Phật là một nơi cuồng tín thuyết giả ngôn từ chớ chưa thực thi hành pháp, do những lẽ trên làm cho Đạo Phật phải chịu mang tiếng HẠ LAI LẠC PHÁP, chớ thật ra Đạo Phật không có Hạ Lai hay Lạc Pháp chi cả.

Tôi nhận trước cảnh lạc lõng bơ vơ, do nơi phân biệt dị chủng khó tu, khó đưa đến cho Nhân Sinh Chân lý hữu hiệu, khó minh xác Đạo Phật đối với Tứ Loài Nhân Sanh quần chúng, Đạo Phật chưa phải là một mối đạo bắt buộc con người phải đi tu, Đạo Phật bình đẳng không phong kiến, nên chi Đạo Phật mới phục vụ cho Tứ Loài Nhân Sinh tự giác, đó là trách nhiệm nơi Đạo Phật. Còn đối với bổn phận Tứ Loài, bổn phận Nhân Sinh phải Ái Kính Đạo Phật, chừng đó Đạo Phật mới tận tâm trao truyền Bảo Pháp, Lời nói đây là lời nói dĩ nhiên nó phải như thế. Khi mà Đạo Phật với con người ĐỒNG HÓA với nhau, thời Nhân Loài xã hội hoàn tất, gọi là:

ĐẠO ĐỜI HỢP NHẤT
TRƯỜNG TỒN PHẬT TÔN

Tôi biên tập CHÂN NGUYÊN THỰC TẾ LUẬN, không ngoài nói lên tinh thần Tối Thượng vị tha chung khắp, từ hành động đến cử chỉ, từ trong tư tưởng đến các việc làm thảy đều là Chân Nguyên thực chất, do tại dị biệt năng phân trở thành chưa toàn thiện, chưa toàn mỹ, chưa Chánh Giác.

Tôi nói lên để cho những bậc tu hành yếu kém ĐỨC TRÍ chẳng TƯƠNG SONG nên chi tu mới mỗi một PHÁP MÔN liền sanh Tự Ngã cho mình cao cống gây hấn chê bai, tự làm cho nền Đạo Phật mang tiếng Chánh Tà chướng đối nhau thành ra môi trường cạnh tranh Tông Phái. Khi các bậc tu hành nghe đến CHÂN NGUYÊN THỰC TẾ thì rất dễ nghe đồng với dễ hiểu. Nhưng đến lúc thực thi thâu đoạt đến Chân Nguyên phải lìa hằng hà sa số Bản Ngã, vô lượng Công Đức, vô biên Pháp Giới bờ ngăn, từ Thân Tâm chướng đối, đến NHÃN TỊNH Căn Trần đều thanh tịnh, lúc bấy giờ mới Tự Tại Đại Bi TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG Sạch Nghi hết chấp, bằng chưa phải như thế, thì nên tu trì Hóa Giải mê lầm cầu đến Chân Nguyên Chánh Giác.

Đạo Phật rất tân tiến, không phải Đạo Phật Cổ Truyền, Đạo Phật chính là một nền tảng văn minh vô tận, chẳng phải Đạo Phật đem Nhân Loại Tứ Loài thụt lùi nghìn xưa cổ hủ, vì như thế cho nên Đạo Phật thời nào cũng đặng tôn sùng sống động, thời nào vẫn có đủ tài liệu chỉ dẫn cho Tứ Loài đến nơi Bất Diệt, đến chốn người với người sống chung với nhau an nhiên thoải mái, qúi mến nhau như thịt với xương. Chỉ có khái niệm giữa con người và con người tự lợi, nên Đạo Phật chậm tiến mà thôi. Bao nhiêu những lời minh xác mong sao cho các bậc Tín Tâm thức tỉnh, nhận lãnh lời kinh pháp thực hành hóa giải, đó chính là TU, chớ đừng nên tu theo Tổ Chức mà bê trễ chốn thực hành hoá giải thân tâm làm thế nào Tri Kiến Giải Thoát đặng?

TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

Chân Nguyên bất nhị không hai, do đó nên không thể nào diễn giải hay chỉ bày ra cho chu đáo tròn khắp được, duy chỉ có Sở Đắc mới tường tận mà thôi, kỳ dư nói đến Chân Nguyên thảy đều Luận để giải, nơi luận giải cốt đưa con người đến thông đạt Chân Nguyên Thực Tế.

Khi con người tỏ rõ tường tận Chân Nguyên thời nhìn nơi nào hoặc giả đứng trước hoàn cảnh chi thảy đều Chân Nguyên Thực Tế cả. Bằng chưa đoạt đến thực tế của Chân Nguyên thì không thực tế chút nào cả, phải gia công cố chí để tìm tòi lấy Chân Nguyên áp dụng thế nào cho thực tế, chớ họ có ngờ đâu họ đang đứng nơi tư thế khắc biệt trở thành không thực tế, còn kẻ đang đứng trong không thực tế lại là thực tế với kẻ ấy thì sao?

Từ ở chỗ không thực tế Chân Nguyên ở nơi khắc biệt chưa đồng hóa, nên chi người đánh đàn trong cái thú vị của đánh đàn. Bậc thi thơ có hứng thú của thi thơ, mỗi mỗi sở thích của mỗi người chẳng món chi là không có sở thích cả, vì nó như thế nên mới có mỗi người, mỗi bậc thường sống theo sở thích của mình. Nếu có kẻ bất đồng cho đó là xấu xa, cho đó là mê tín, cho đó là ảo tưởng, hoặc cho đó là trái ngược đâm ra khinh rẽ chê bai chỉ trích, bằng cho họ đồng hành, đồng hiệp hay đồng hóa thì chính họ vẫn hào hứng như thường không còn chỉ trích hay phê bình như trên nữa, có phải là họ bị KHẮC BIỆT chăng?

Từ một tư tưởng của mỗi người cho đến vạn tư tưởng từng giai cấp, từng trình độ của mỗi bậc thảy đều Chân Nguyên, đến khi mỗi một tư tưởng hay vạn tư tưởng đem thi hành áp dụng theo tư tưởng từng phần, từng trình độ giai cấp của sự làm đến nơi kết quả, thảy đều nhận thấy thực tế hiện hữu.

Đứng về thực tế Chân Nguyên, mỗi mỗi đều sẵn có thực tế, nên chi khi áp dụng thật sự thì nó đồng đáp ứng theo nhu cầu cho tất cả từng lớp không sai chạy tí nào, duy chỉ chính mình chưa nhận định được vạn triệu cái PHẢI, nên mới lầm lẫn chê khen mà thôi.

Ví như có kẻ hiểm độc Tàn Ác thì nó có chỗ hiểm độc tàn ác thực tế của nó để đáp ứng nhu cầu trong tư tưởng cùng hành động của kẻ ấy, kẻ đó nào có hay biết, sự hiểm độc tàn ác nơi mình, lại tự hào khôn ngoan sống thực tế lẽ phải. Nhưng sau nầy đương nhiên bị chống đối tạo thành hoàn cảnh nguy hiểm sa đọa, lúc bấy giờ kẻ kia than phiền tìm chẳng ra manh mối chi về sự hiểm độc tàn ác cả, vì sao? - Vì bảo thủ nên chưa nhận định được, nếu lìa bảo thủ liền thật biết sự độc hiểm của mình đương nhiên thoát nạn.

Bằng có người thường gieo THIỆN PHƯỚC thì nó đã có chỗ thực tế của Thiện Phước, họ phải qua từng trở ngại tạo thành Thiện Căn, lúc thực hành họ thường nhận thấy sự Dại Dột nhưng cố tạo lấy Phước Điền, đến khi gặp phải hoàn cảnh trắc ẩn hay nguy hại, họ sẵn có sự an toàn vì tự tín Phước Điền, đương nhiên thoát nạn.

Nói về đời thì nó muôn mặt, trong muôn mặt ấy nó đã có sẵn Chân Nguyên mỗi mỗi đều thực tế, do lẽ ấy mà ai ai cũng chấp nhận mình PHẢI, từ trong tư tưởng đến hành động của mỗi người, khi bậc mong tìm mỗi một lẽ phải Chân Chính liền có trăm ngàn cái phải nó đến chỉ trích phán phê làm cho bậc nọ chẳng biết đâu là Phải, chớ nào ngờ đâu mỗi mỗi đều có cái phải Chân Nguyên.

Nói về Bổn Lai Thể Tánh Chân Nguyên có đầy đủ lớp lớp sống động thực tế mới thành. Ví như: Quả Địa Cầu có nhiều lớp Dân Giả, có nhiều Nhà Nước trên mặt đất mới gọi nó là: THẾ GIỚI HOÀN CẦU, còn mỗi một Nước phải có từng lớp giai cấp, từng lớp trình độ đầy đủ nếp sống cùng lẽ sống của mọi người. Không thể nào quyết định một giai cấp hoặc một trình độ ngang nhau hay một cái sống in nhau, gọi là một Nước đầy đủ.

Do nó như thế, cho nên nhà Tu không thể bắt anh Nông Dân phải tu, còn anh Nông Dân buộc người thợ rèn phải làm Nông. Người thợ rèn không thể bảo Nhà Buôn hay Thợ Rừng phải đi làm Thợ Rèn, vì sao? Vì Bậc Tu đã từng tu, cứ mỗi một nghề nghiệp có nếp sống rất thực tế nơi họ đã quen thuộc, do đó khó bắt buộc họ, mà phải nâng họ.

Thế nào là Bổn lai nơi Thực Tế? Bổn Lai thực tế nó đã từng quen hơi, quen tập quán, quen hoàn cảnh, quen xứ sở, quen tính nết, quen cử chỉ, vì như thế nên chi lối sống con người chẳng khác mấy với LOÀI CÁ BIỂN, loài cá biển nó sống với từng VỰC, nó từng quen thuộc dòng nước, dù cho dòng nước ấy có MẶN, TANH, HÔI theo mùi vị thích hợp với chúng nó thảy đều Thực Tế. Nếu đem loài cá ấy, thả theo nơi chỗ chủ định thì cá kia cũng khó mà sống thoải mái, chủ yếu của con người nó có đặc điểm: MUỐN CHO NÓ SƯỚNG, KHÔNG BAO GIỜ NÓ ĐƯỢC SƯỚNG. Nơi sướng của nó, chính tự nó tạo lấy nó, chừng đó nó mới thật là SƯỚNG.

Kẻ thường tình chưa bao giờ hiểu thấu. Duy chỉ Bậc VĨ NHÂN, biết mình và biết mọi người nên thực hành chân nguyên đi sát Quần Chúng lập đủ phương thức thích nghi nâng đỡ cho từng lớp Nhân Dân, từ giai cấp đến trình độ, cốt đem đến sự ích lợi chung, không bao giờ tổn hại bất cứ một ai cả.

Còn Phật Đạo chủ yếu phục vụ cứu giúp Tứ Loài tận tường Chủng Nghiệp, tận biết khả năng, tỏ rõ ưa thích, cốt đưa từng giai cấp trình độ, kể cả Thế Gian đến Xuất Thế Gian, Đạo Phật cứu vãn từng lớp lớp, Đạo Phật khuyến khích cho Tứ Loài Phát Bồ Đề Tâm, tùy theo khả năng thích thú mà lần đưa đến chốn Chân Nguyên Trực Giác.

Phật Đạo tận thấu CÁI MÊ NÓ KHÔNG GỐC, vì sao? Vì Chân Nguyên vốn sẵn Bất Tăng Bất Giảm, Không Cấu cũng chẵng Tịnh, không có Phật Thánh Tiên cũng không Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, cho đến Trình Độ Giai Cấp cũng không. Chỉ vì Cá Tánh riêng tư Quá ư phân biệt nên nó Bị Biệt, trở thành Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục có từng giai cấp trình độ, mới có Tiên Thần Phật Thánh, tự phát sanh ra các Cõi, các Cảnh Giới Tịnh Độ cùng Quốc Độ đầy khắp Chân Nguyên, gọi là: CHÂN THỂ bị sanh. Khi đã bị sanh cần phải thoát sanh nên cần lìa Ngã mới Sở Đắc Chân Nguyên vậy.

Đạo Phật thật biết con người, đến Chư Thiên Tiên Thần Thánh thảy đều ưa chuộng chính mình phải tiến bộ, nhưng ngặt vì tiến bộ với trình độ nơi mình, khó giải tỏa ra ngoài trọng lượng hiểu biết. Từ nơi con người nếu dụng trí của mình hiểu biết tất cả nếp sống con người, tánh tình chung khắp của con người, thời Bậc ấy gọi là VĨ NHÂN. Còn Chư Tiên, Chư Thiên, Chư Thần đến Thánh, nếu đem trí tuệ hiểu biết tất cả cũng được gọi là: Thiên Tiên, Hoàng Thiên, Chánh Thần, Thánh Tăng. Đằng này con người chỉ hiểu biết lấy con người nơi mình trở thành Cá Nhân, Cá Tánh, thủ chấp Thọ Ngã đương nhiên Thọ Nghiệp từng con người với con người, đó vẫn là thực tế không hai, cũng là lẽ thường trong con đường Sanh Tử.

Từ con người đến Chư Tiên, Chư Thiên, Chư Thần cùng Bậc Thánh, họ không bao giờ bảo thủ Cá Tánh, từng Cõi, từng Cảnh Giới, họ cũng không cố thủ tự ngã nhưng họ vẫn nặng về QUAN ĐIỂM, khi họ đã sống từng Quan Điểm thời họ có sẵn QUAN NIỆM, do đó mới có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, có sự tu chứng khác nhau.

Nếu con người đến Chư Tiên, Chư Thiên Chư Thần hay Bậc Thánh, khi có ý chí thoát sanh rộng rãi vượt tầm mức của mình, thì chẳng biết dùng chi hơn bằng tư tưởng, tư tưởng thường dùng thời nó lại lâm vào Ảo Tưởng trở nên mê tín xa lìa Chân Nguyên Thực Tế. Còn dụng lý trí để phán xét đương nhiên sinh tự ngã, duy chỉ có bậc THÁNH TĂNG mới biết sử dụng mà thôi.

Bậc THÁNH TĂNG lấy CĂN lập BỔN, cho nên căn tánh của Thánh Tăng giúp người không cầu báo, khi làm đặng một điểm lành chi thì Thánh Tăng lại thường nghĩ : Một triệu người đã từng làm điểm lành, ngày nay ta mới làm. Lúc gặp hoàn cảnh trắc ẩn làm tổn thương đến cá tánh, làm tổn hại đến thị danh vẫn không phiền trách, vì tự biết; một triệu người đã từng bị trắc ẩn, tổn thương, tổn hại đến hư danh giờ đây ta mới gặp. Bậc Thánh Tăng đã từng lướt qua các chướng ngại cầu lấy Chân Nguyên Trực Giác, rõ biết tất cả hàng triệu Bồ Tát vẫn lướt qua các trở lực cầu Vô Thượng, ngày nay ta mới lướt. Bậc Thánh Tăng phát ra vạn vạn Tư Tưởng lý trí, nương theo tư tưởng lý trí cốt thật biết tỏ rõ có hàng vạn vạn bậc đã từng phát ra tư tưởng lý trí, thọ chấp nơi tư tưởng lý trí mà an trụ trở thành Tiên Thần hay Ác Quỷ. Thánh Tăng thật biết nó như thế nên mới thực hành pháp môn VÔ NGÃ cốt tận Giác Chân Nguyên lãnh lấy Chánh Ngã sạch sẽ tỏ rõ không còn lấy một Tưởng hay lý trí chi cả.

Thánh Tăng lại thường đem nơi Tự Giác, giúp cho tất cả, khi Tâm Ý họ vướng đọng liền dạy họ CỔI GIẢI TÂM làm cho Tâm suông Giác Tuệ. Lúc tư tưởng ảo tưởng thời giáo ngôn giáo lý cốt cho họ nhận chân. Khi họ ngăn ngại từng nơi thì khuyến họ HÀNH THÂM PHÁP GIỚI. Lúc họ thờ ơ chán chê uể oải thời diễn nói Chánh Báo Chân Nguyên, thọ báo Địa Ngục. Khi họ mộng tưởng Phật Thánh Tiên thì nói Phẩm Công Đức Diễn Giải tất cả những sự việc Chư Phật đã làm cùng Bồ Tát đang làm, hiện nay các ông phải làm mới đoạt Quả Vô Thượng, mới thực thi đồng hành theo Bồ Tát-Phật đến Thành Phật. Nếu tu hành mà an nhiên mong mỏi mộng tưởng thì chẳng bao giờ đến mà đặng, nhờ diễn giải trên làm cho các bậc nhận thức đặng, họ đồng lý-sự song tu Chân Nguyên Trực Giác.

Khi các bậc tu biết được sự tu tập dụng CĂN tạo TÁNH, liền có Căn Tánh nhận rõ được CĂN CƠ từng lớp trong Pháp Giới, các bậc nầy mới nhìn nhận được Bậc Thánh Tăng lấy CĂN làm gốc. Còn Phàm phu nhân thế đến Tiên Thần các Cõi thảy đều dùng NHÂN DUYÊN làm lối đi, do lẽ ấy nếu có Duyên mới có hiệp bằng vô duyên thì thờ ơ lạnh nhạt, khiến cho các bậc lãnh Đạo mong cứu giúp cho Tứ Loài phải GIEO DUYÊN để đưa đến Giải Thoát.

Bậc THÁNH TĂNG vì Hạnh Nguyện Độ Sanh nên thường đứng chung các hoàn cảnh của mọi người, lại gia công Đồng Hóa các Giai Cấp, chủ yếu thật tu thật chứng thâm nhập mười lối tu, sau thành Phật trở nên MƯỜI DANH HIỆU như : Khi con người gặp sự bó buộc hay hoàn cảnh khó giải ngặt nghèo sinh ra buồn khổ, thì vị Thánh Tăng mới Hóa Giải khiến cho người kia vui vẻ an lành, nên mới gọi là: THẾ GIAN GIẢI. Nếu gặp các hàng Nhân Thiên Trưởng Giả, liền dùng phương thức Đạo Hạnh trang nghiêm hóa giải Mê Chấp, làm cho các hàng Trưởng Giả khâm phục, phát Tâm nguyện tu hành, được gọi là THIÊN NHÂN SƯ, đôi lúc Xuất Định lên các Cõi Trời, Cõi Tiên để giúp đỡ. Lúc các người gặp những trở lực từ nội tâm hay ngoại cảnh, sinh lúng túng than thở ưu phiền, bậc Thánh Tăng liền diễn giải Vô Úy Pháp, làm cho các người nghe, Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng qua các trở lực tạo nên an lành vui vẻ gọi là ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU. Đối với Thánh Tăng tùy tùy giúp đỡ đủ mọi từng lớp, đủ các việc làm thường TỰ LỢI và THA LỢI, giúp người sống hữu hiệu thực tại trên mọi vấn đề, trên các hình thức, giải quyết ổn thỏa, hóa giải tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh Hạnh Nguyện giúp đỡ từng giai cấp, cứu giúp lý trí eo hẹp, làm thế nào đưa cho con người an vui tự tại.

Bậc Giác Ngộ Thánh Tăng tận tường tỉ mỉ lời nói chân thật chớ chẳng phải lời nói diễn hóa, để cho đời nầy cùng đời sau được biết. Chân Nguyên sẵn có trùm khắp như thế, gọi là CHÂN NHƯ, nơi Chân Nguyên Chân Như đều duy nhất, chỉ vì Duyên Khởi hóa sinh ra hằng hà sa số, vô lượng vô biên chúng sanh giới, từ chúng sanh giới diễn hóa hằng hà sa số Thế Giới, cùng hằng hà sa số Cảnh Giới và các Cõi, từ các Cõi các Cảnh Giới tu trì thoát sanh hằng hà sa số TỊNH ĐỘ, QUỐC ĐỘ, nên mới gọi là: NGUYÊN THỂ, sự nguyên thể hữu tướng trùm khắp Chân Như gọi là: NHƯ THỂ.

Nơi Như Thể nó đồng một Thể Tánh GIÁC NGUYÊN, dù cho ở cõi nào, nước nào, cảnh giới nào, vẫn tôn kính Giác Nguyên duy nhất. Đứng về TƯỚNG trong các cõi, các Cảnh Giới Tam Thiên Đại Thiên thảy đều khác nhau, từ Ngôn Ngữ của mỗi cõi, mỗi cảnh giới nó tùy thuộc theo Thổ Âm, Thanh Dương mà phát sanh giọng nói, tiếng nói, như: Y Phục, Sắc Phục, Ẩm Thực, Đi Đứng Nằm Ngồi tùy theo Ý TRÍ tiêu dùng. Giai Cấp Trình Độ Tục Lệ theo mỗi Cõi, mỗi Cảnh Giới, hành sự Phổ Thông của mỗi Giới sử dụng, đến tín ngưỡng tôn sùng Chí Tôn tùy theo Đức Tín của mỗi nơi, cuộc Xưng Tán có khác biệt, nhưng GIÁC NGUYÊN đều như nhau.

Ví như trên Quả Địa Cầu tín ngưỡng tôn sùng Đức Phật, khi bậc Thánh Tăng Xuất Định đến một Cõi, hoặc một cảnh giới, phải tùy Duyên Cõi ấy, cảnh giới ấy mà giải nói Pháp GIÁC NGUYÊN, chớ không thể nào nói bằng Ngôn Từ xưng tán là lời nầy của Đức Phật, nếu diễn nói lời Đức Phật hay Tướng Phật thì họ không chấp nhận, vì sao? Vì chính họ chưa biết Đức Phật. Từ nơi đất của họ và cảnh giới của họ chưa bao giờ nghe biết Đức Phật thành thử họ không chấp nhận, hai nữa là họ có chấp nhận sợ tổn thương Đấng Tôn Sùng của họ, nên dùng Giác Nguyên tùy xứ sở thuyết pháp, đó chính lời nói thật.

Đạo Phật có TÔN CHỈ MỤC ĐÍCH đưa Tứ Loài đến Hoàn Giác, Đạo Phật lại bao la trùm khắp, chớ chẳng phải Phật Đạo chỉ nằm trong một nhóm nhỏ của Tăng Chúng, vì Đạo Phật rộng rãi nên đưa con người có mục tiêu tu chứng, đem cho con người đến đích Chân Nguyên Giải Thoát.

Một khi ĐỨC PHẬT thị hiện phải tùy theo thời cơ hợp hóa với Nhân Loại, chớ chẳng phải thời nào thị hiện y như nhau. Kể từ thời Phật thị hiện Thượng Kiếp, thời ấy Nhân Loại ưa chuộng ĐỨC TƯỚNG, nên A DI ĐÀ mới thị hiện TƯỚNG HẢO QUANG MINH. Đến thời Trung Kiếp, đứng vào thời PHONG KIẾN Nhân loài ưa chuộng Giáo Phẩm Thần Tiên, nên Đức BỔN SƯ mới từ trong Cung Điện thị hiện. Qua thời Hạ Lai chính thời ĐỒNG HÓA NHÂN SINH, lại đang diễn hành ĐỒNG ĐỘ phải thị hiện trong hàng DÂN GIẢ, đây chính lời thiết thực Chân Nguyên.

Bậc Thánh Tăng thật am tường, Phật không có pháp môn nào của Phật cả, chỉ vì Nhân Loài Tứ Chúng lý bí trong Chân Nguyên mới khai thị, từ nơi nào, đến chỗ nào, tu ra sao, hiểu biết như thế nào, Phật Đạo giải mê, hóa giải nghi chấp, làm cho Nhân Sanh tỏ rõ, Nhân Loài ích lợi, trí tuệ phát sanh bất thối lần tiến trọn vẹn Chân Nguyên.

Đạo Phật nung đúc lẫn cả tinh thần đồng vật chất; tinh thần làm ngọn đuốc lướt qua các trở ngại, vật chất tạo Công Năng tỏ biết, rất thực tế Chân Nguyên cho nên mới khuyến các bậc tu hành hãy tìm Chơn Tánh để tu đưa đến tỏ tánh Tự Giác. Phật Đạo thường nói: Khi một Nhân Sinh, muốn mình trở thành Vĩ Nhân, phải thu thập rõ biết hàng vạn nhân sinh mới thành tựu VĨ NHÂN. Bằng một vị mong trở thành Bồ Tát, phải thực hành Vạn Hạnh Bồ Tát, chừng đó mới thành Bồ Tát. Nếu bậc tu mong thành Đức Phật phải y Bổn Nguyện thi hành Vạn Phật mới thành Vị Phật, như thế có phải thực tế chăng? Trừ những bậc dụng tinh thần, thiếu vật chất hạnh nguyện nên chưa thâm nhập tỏ thông. Dụng vật chất hạnh nguyện thiếu kém tinh thần liền ít hiểu biết, tự sanh ra mơ màng thối chí. Trên đường tu Phật, nơi Tam Tạng Kinh không thiếu môn chi mà không vạch rõ Chân Nguyên phơi bày Chánh Giác, duy chỉ bậc tu hành thiếu kém Thành Thật cùng Thiết Tha đem đến cho lòng mình, chỉ lấy tu làm nơi nương tựa đời sống.

Bậc Thánh Tăng trên đường tu, vẫn nương nhờ Cơ Bản, Tâm Thành Thật thường kiểm điểm với lòng mình, nếu nhận thấy Đức Tánh của mình nơi nào yếu kém liền huân tập bổ sung, bằng dư ra thì phế thải gạt bỏ, cốt thành thật chỉnh trang đúng với mục tiêu Đạo Phật, thường Hướng Thượng cho đến đích Chân Như.

Nhờ như thế nên thiết tha đào sâu các pháp tỏ rõ Chân Nguyên Thông Quang Như Lai Tạng, Tâm Bình Đẳng, Chí Quân Minh thường hay Xuất Định lên các Cõi Tiên Thần thuyết pháp.

Lúc bấy giờ bậc Thánh Tăng thường dùng THƯỜNG TỊCH QUANG, PHỔ CHIẾU QUANG, DIỆU THANH QUANG để xem xét các cõi, các cảnh giới Tiên Thần, đến Chư Thiên nơi nào, chốn nào, bậc nào chưa hiểu, hoặc chưa lưu tâm đến Chân Nguyên Pháp Trí hay Quan Niệm mình khó tu, khó đến nơi Chánh Giác, liền Xuất Định lên đến nơi, hoặc đến liền tại chỗ mà khai thị.

Khi ấy Bậc Thánh Tăng mới quan sát về Cõi Trời LỤC DỤC THIÊN, nhận thấy đồng thời Kiểm Điểm cùng tự hỏi: Tại sao Thiên Dân lại được sanh về Cõi Trời nầy? Vì một số Thiên Dân ít nóng nảy, ít uy quyền, Tâm hòa dịu hơn trong Cõi Thiên, nên đặng Phước Báo về Cõi Trời Lục Dục Thiên an hưởng.

Về địa điểm Cõi Lục Dục Thiên cách Cõi Thiên đến Sáu Chục Triệu dặm, đứng về Tây Bắc Cõi Thiên, Cõi Lục Dục Thiên chính là một Cõi Trời Hưởng Thụ Sáu Điều Dục? Thế nào là Sáu điều dục.

Sáu điều dục là LỤC CĂN dục: Mắt thỏa Dục, Tai thỏa dục, Mũi thỏa dục, Lưỡi thỏa Dục, Thân thỏa Dục, Ý thỏa dục, hiệp với bên ngoài sống nơi Lục Trần dục.

Cõi nầy chính là một Cõi Ăn Chơi đầy hoa mỹ; Mắt luôn luôn nhìn những tòa lâu đài đẹp, gái đẹp, màu sắc đẹp, Tai luôn luôn nghe những tiếng nhạc hay khơi lên chẳng biết bao nhiêu Dục Vọng, nói ra toàn những lời ân ái thú vui.

Mũi thường ngữi hoa thơm, hương vị ngào ngạt. Lưỡi nếm đủ thức ăn cao lương mỹ vị. Thân va chạm rất nhiều THIÊN NỮ. Ý mong thế nào liền đến vui với thú ấy, ưa thích những gì thì cùng nhau tập hợp nhảy múa hát ca, cùng nhau chơi đùa suốt ngày đêm không bao giờ ngớt cả. Do lẽ ấy mà không bao giờ tưởng nhớ đến Chân Nguyên Bảo Pháp là chi, họ đồng quan niệm THỤ HƯỞNG suốt đời, họ không bao giờ suy nghĩ lúc thoát sanh đi về nơi khác. Tại sao họ lại không nghĩ lúc thoát sanh họ về nơi khác? –Vì kẻ bị thoát sanh chỉ biết mình bị thoát sanh, còn bao nhiêu Thiên khác thảy đều không hay biết. Lúc kẻ thoát sanh, đương nhiên nhận thấy mình mất cả thú vui, tìm nơi yên tịnh để yên trí, sau đó toàn thân bủn rủn, hào quang tắt, toàn thân liền trả về hư không, còn khi họ sanh thì do MÂY sanh, vì như thế nên không bao giờ nghĩ đến.

Bậc Thánh Tăng mới nhập vào Chánh Định xem xét kỹ càng, nơi LỤC DỤC THIÊN có những điểm gì đáng nói, nói làm sao, cử chỉ lễ nghi như thế nào, xưng hô ra sao, họ ưa thích những gì, đâu đó thật tỏ rõ tỉ mỉ, y như bậc đã từng ăn ở trong Cõi ấy, khi bấy giờ mới ra Chánh Định liền Xuất Định.

Bậc THÁNH TĂNG vừa đến Cõi Trời LỤC DỤC THIÊN thì toàn thân liền hóa ra SƯ TRƯỞNG, tướng mạo Y áo hợp tình hiệp cảnh, Chư Thiên nhìn thấy thời đem lòng ái mộ.

Lúc bấy giờ SƯ TRƯỞNG lần bước đi trong khuôn vườn Kỳ Hoa Dị Thảo, trước mặt nhìn thấy Tòa Lâu Đài, tai nghe nhạc trổi hòa với âm thanh tiếng sáo, gió thoảng mùi hoa thơm. Sư Trưởng đến phiến đá Cẩm Thạch trắng, trầm ngâm an toạ. Lúc bấy giờ Sư mới dùng LẬU TẬN THÔNG để tỏ biết, Sư mới đặng rõ CÕI LỤC DỤC cứ mỗi nơi, mỗi chỗ đều có một nơi LẠC THÚ thích hợp. Nơi nầy gọi là MAI THẢO TRANG, còn tòa lâu đài kia gọi là BẢO ĐÀN VIỆN, vườn Mai Thảo Trang có rất nhiều thứ Hoa lạ, có lắm thứ Cỏ đủ màu, mỗi màu đều có ánh quang lóng lánh in tuồng diễn múa, còn loài Mai Vàng, Mai Trắng, Mai Tím rất đẹp, cành mai tựa như Hoa Anh Đào Nhật Bản, Mai thứ nào nhụy vẫn trắng, có yến sáng Bạch Quang, mùi hương đủ các thứ hoa cảm mến, thật đúng với tinh thần hợp tình thi thơ hồn nhạc.

Sư Trưởng đang ngồi ngắm cảnh, bỗng có một Vị Thiên Nhân đến bái kiến, xong đâu đó ngồi lại một bên, thưa hỏi: Kính thưa Sư trưởng, Sư Trưởng có thích nhạc chăng?

Sư đáp: Tôi rất thích nhạc, đã từng tìm sống trong tiếng nhạc, nhưng đôi khi phải chán về nhạc, vì sao? –Vì nhạc có đánh mới có nghe, có nghe mới có thích, lại nữa: Có đánh chẳng muốn nghe, mà phải nghe, lúc muốn nghe chưa ai đánh. Nó có như thế nên Tôi tự nghĩ: Ta phải tìm thế nào cho đặng tiếng nhạc tự nơi Ta, không đánh ta vẫn nghe. Ông nghĩ thế nào?

Vị Thiên Nhân nghe qua, mừng rỡ thích thú liền đứng lên thưa nói: Đúng nó như thế, sự thật nó như vậy, đôi khi tôi vẫn bị như thế, tôi đang tìm nơi tự nghe chớ chẳng phải bị nghe, tiếng nhạc tự nghe là tiếng nhạc của chính mình, không đánh mà vẫn nghe.

Vị THIÊN NHÂN vừa nói xong, Chư Thiên cùng Thiên Nữ đồng nhau đến, thứ lớp ngồi chung quanh Sư Trưởng, Sư tuyên lại lời trên cho Chư Thiên, Thiên Nữ nghe.

Sư nói tiếp: Các Ông cũng nên biết, trước kia Tôi đã có từng sở thích như các Ông, Tôi thường chạy theo những gì ưa thích, lựa chọn môn chơi bời đúng nhu cầu tham muốn. Tôi còn nhớ, lúc ấy Tôi thích thú ẨM THỰC NHẠC THƠ, đến nỗi phải đi BẮC ĐẨU LÂU là nơi ăn uống đầy đủ hương vị, hòa với tiếng nhạc theo tâm hồn khoan khoái, đồng với món ăn thích khẩu đang dùng, thật là một nơi vẹn vừa theo tâm hồn thể xác, một chỗ tột đỉnh của Cõi Lục Dục Thiên.

Có một hôm Tôi đang đi về hướng Bắc Đẩu Lâu, dừng chân trên cây cầu NHẠN LONG VĨ, nhìn dòng nước Bích Thủy xanh xanh, có từng đoàn Bạch Hạc đang nhặt những cánh hoa trôi trên dòng nước. Chợt gặp SƯ LÃO đứng nhìn trên ngọn đồi Cổ Võ, lão chỉ cho tôi xem đoàn mây không vướng đọng, lượn trên gió bay qua các ngọn đồi. Khi bấy giờ lạ lùng thay! Tôi nhận thấy tâm hồn tôi đang đi trong mây gió, Tôi mới chợt nghĩ: Tại sao Ta phải tuân hành theo nhu cầu từng món ăn vật uống, tha thiết ước mơ theo sở thích từng cơn, nhận thấy nó như thế nên chi tất cả vật dụng cùng ẩm thực vẫn dùng, tùy theo sở thích vẫn thích thú, nhưng không bao giờ chìm đắm nơi SẮC THINH HƯƠNG VỊ phải chật vật vì nó, nhờ thế nên tâm trí rất an nhàn, mức sống được thoải mái không lệ thuộc theo nhu cầu. Nhờ đó chính Tôi tỏ rõ tất cả mọi Chư Thiên phải chịu điều khiển của Dục Vọng chớ chưa bao giờ Điều Ngự, kìm chế dục vọng trong lúc nó đòi hỏi, có phải như thế chăng?

Các Chư Thiên cùng Thiên Nữ đồng đáp: Đúng nó như vậy, thưa Sư Trưởng. Chính chúng tôi nhiều lúc tự nhiên sở thích y áo theo từng lúc, từng cơn, nào là y áo sặc sỡ, nào y áo đơn giản, đến nỗi khi quá thích chúng tôi phải đi đến HÀNG LÂM SẠN tìm cho đặng chỉ sợi HOA NHIỄU MAI để thêu dệt y áo chúng tôi từ bộ nầy đến bộ kia, từng buổi dạ hội nầy đến dạ hội nọ, chúng tôi chẳng khác nào loài Khổng Tước Oanh Vũ suốt thâu canh làm trò vui đầy dẫy giả tạo, vì sao? Vì có lúc vui chúng tôi chấp nhận có vui, khi chúng tôi đang cùng nhau dạ hội thích thú, chúng tôi đều chấp nhận có thích thú. Nhưng có lúc chưa vui bắt buộc nó phải vui đồng với Chư Thiên, lại có khi chúng tôi bực nhọc chưa thích mà phải làm in tuồng thích để đồng chung với bạn bè, từ nơi lệ thuộc nầy đến giả cảnh kia, chúng tôi thảy đều biết nó như thế, nhưng chưa biết làm gì hơn là phải sống theo sở thích cho qua ngày, đó chính lời nói ra của chúng tôi chân thật.

Sư Trưởng trầm ngâm giây lát nói:

Chính các ông chưa biết sử dụng, cũng như hàng vạn vạn Cõi chẳng khác các ông họ vẫn chưa biết sử dụng y nhau, do chưa biết sử dụng phải chịu chìm đắm nơi NGŨ DỤC trở thành LỤC DỤC ngày hôm nay. Các Chư Thiên cùng các Thiên Nữ hãy nghe lời Tôi hỏi sau đây để rõ biết sử dụng liền Sở Đắc CHÂN NGUYÊN ĐẾ. Sư Trưởng vừa nói đến đây, các hàng Chư Thiên Nữ đồng im lặng chiêm ngưỡng thọ trì.

Sư Trưởng hỏi: Các ông đưa cành hoa BẠCH HÒA MAI lên mũi để ngữi, thì các ông thụ hưởng hương vị gì? Chư Thiên cùng Thiên Nữ đồng đáp: Chúng tôi thụ hưởng hương vị của Bạch Hòa Mai. Nếu các ông đưa cành hoa DẠ THẢO LAN lên mũi để ngữi thì các ông thọ hưởng hương vị chi? Chư Thiên, Thiên Nữ liền đáp: Chúng tôi thọ hưởng hương vị hoa DẠ THẢO LAN. Sư Trưởng gật đầu hỏi tiếp: Bằng các ông đem cành hoa NHỊ HỒNG PHONG để xa các ông, thì nơi mũi của các ông ngữi đặng hương vị gì? Bạch Sư Trưởng, chúng tôi thảy đều thụ hưởng hương vị của loài hoa Nhị Hồng Phong. Nếu các ông đã từng ngửi hàng vạn thứ hoa, thì đương nhiên các ông đã hưởng thụ đặng hương vị hàng vạn thứ hoa của nó có phải như thế chăng? Thiên Nữ cùng Chư Thiên đồng đáp: Chính đúng nó như vậy. Sư Trưởng mỉm cười giải tiếp: Các ông hãy ngẫm lại xem; Ở Cõi Trời nầy có hàng vạn sở thích, mỗi sở thích thảy đều hương vị khác nhau, nhưng nó vẫn đồng sở thích, không khác mấy với hương vị của các loài hoa, nếu bậc ngửi hoa cốt thưởng thức tỏ rõ hương vị tánh chất nơi mỗi thứ hoa, không nhiễm trước, đó chính bậc cao cống làm chủ tất cả các thứ hoa. Bằng chìm đắm, say mê mệt mỏi bất cứ một thứ hoa nào, bất luận một giống hoa chi, thảy đều tự đem TIỀM THỨC nơi chính mình làm lệ thuộc, làm môn đệ nơi loài hoa ấy, do bởi chìm đắm mới có thú vị ngọt bùi sở thích SẮC THINH HƯƠNG VỊ mà bị TÂM sai khiến vào đường Sanh Tử, đó chính là nguồn gốc lầm mê vậy.

Khi bấy giờ Chư Thiên cùng Thiên Nữ, đồng đứng lên thưa gởi: Bạch Sư Trưởng, theo như lời hóa giải, thời cứ mỗi hương vị, mỗi tánh chất không phân biệt, tịnh hay bất-tịnh nếu tập nhiễm say sưa chìm đắm mong cầu thảy đều một con đường đưa ta đến chốn mong cầu, đến nơi tập nhiễm, đến chỗ say sưa tạo thành các Cảnh Giới thế giới hay các Cõi Tiên-Thần, Rồng-Người để Chánh Báo Thọ Báo không sai chạy, có phải nó như thế chăng? Mong Sư Trưởng giải đáp. Sư Trưởng liền nói: Đúng nó như thế, đúng nó như vậy, chính Bổn Lai nó đáp ứng liền lạc theo sở nguyện, theo nhu cầu, theo năng sở kiến tri chấp không hơn kém. Sư Trưởng vừa hóa giải xong, các Chư Thiên và Thiên Nữ Trực Giác: Diện Mục Chân Nguyên Thực Tế. Biết tỏ rõ tùy thuận chúng sanh lãnh lấy các Cõi.

Chư Thiên vui mừng không thể nói liền đồng rải hoa đầy đủ trăm màu, nhạc trổi xướng ca xưng tán đúng với nghi lễ Cõi Trời, có nhiều Chư Thiên lấy Bảo Châu Ngọc Bích Trân Châu, trải khắp chung quanh nơi Sư Trưởng an tọa, tỏ lòng tán thán vô tận, đồng nói lên chưa bao giờ nghe nay đặng nghe, thật vô kể vô kể.

Sau xong buổi lễ, ai nấy ngồi yên tịnh chiêm ngưỡng, có một Thiên Nhân đứng ra thưa gởi: Bạch Sư Trưởng, không nhiễm trước, đó là đặng thụ hưởng trên vạn lối CHÂN NGUYÊN ĐẾ. Bằng nhiễm thì hóa sinh trong các Cõi, như vậy con tính ra vô lượng Cõi, vô lượng Thọ Báo, vô lượng Chánh Báo nơi Chân Nguyên, nhưng chúng con ở ngay Cõi Trời Lục Dục sa đọa tập nhiễm quá nhiều, chúng con nghe Sư Trưởng hóa giải rất Chân Đế, nhưng lòng chúng con còn quái ngại, còn nghi ngờ, chưa minh xác đặng thể tánh chân thật của chúng con, không biết rằng chính mình có đặng đi trong Chân Nguyên Đế hay không, chúng con kính nhờ Sư Trưởng đem bằng cớ chứng minh để chúng con đặng Thị Chứng, lúc bây giờ lòng chúng con khỏi quái ngại, ngăn cách mà thực hành lãnh lấy Chân Nguyên, thưa gởi xong ngồi lại một bên.

Sư Trưởng liền khen: các Ông thưa gởi những điều lợi ích cho đời nầy cùng đời sau được Chứng Tri, Tôi vì các ông chỉ bày nơi thực tế để các ông đoạt đến Chân Nguyên, đó chính là một điều ích lợi vô kể, Sư Trưởng nói xong, bảo Thiên Nhân mang đến trước mặt Sư một quả trứng.

Vị Thiên Nhân mới bảo Thiên Nữ, chỉ trong chốc lát Thiên Nữ đặt quả trứng màu xanh xanh tựa như viên Cẩm Thạch, lớn gấp mười quả trứng gà, trên một chiếc khay hình bầu dục bằng vàng, trên khay lót chiếc khăn nhung hồng nhạt, dâng lên Sư Trưởng.

Sư Trưởng nâng khay hỏi: Đây là trứng chi? Chư Thiên đồng đáp: Bạch Sư Trưởng trứng chim Phụng Hoàng. Sư hỏi: Trứng Phụng Hoàng như vậy chất trong trứng nó là chất chi? Đồng đáp: Nó vẫn là Chất chim Phụng Hoàng. Sư Trưởng im lặng chốc lát liền nói: Trứng Phụng Hoàng chất vẫn là Phụng Hoàng, đúng nó như thế, nó chẳng bao giờ khác chất của nó, vốn nó như vậy, nó chưa bao giờ nói nó là sai khác, đó chính là như nhiên, chưa phải tự nhiên.

Các Ông cùng với các Cõi, đến các Cảnh Giới qua các Tịnh Độ cùng Quốc Độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đồng chung CHÂN NGUYÊN ĐẾ, đúng nó như thế, nó chẳng bao giờ sai khác Chân Nguyên Đế của nó, nó có từng thể chất riêng nhau, nhưng vốn nơi nó là Chân Nguyên Đế, không khác mấy với trứng chim PHỤNG HOÀNG chất trứng Phụng Hoàng, từ tròng vàng đến vỏ bên ngoài gọi là tròng trắng, chất nhớt, chất màu mỡ thảy đều là Thể Tánh của trứng Phụng Hoàng. Khi trứng kia nó có đầy đủ hơi mẹ liền hóa nở ra con chim, thời những chất chim thứ lớp thảy đều là CHIM chớ không còn phân biệt riêng nhau nữa, có phải như thế chăng? Chư Thiên, Thiên Nữ vui mừng vô kể đồng thưa: Đúng nó như thế, phải nó như vậy, kính Bạch Sư Trưởng giải tiếp. Sư mỉm cười vui vẻ nói: Các Ông vốn nơi Chân Nguyên Đế, lúc Chân Nguyên thành tựu, vạn vật cảnh giới các cõi Tam Thiên liền đặng thành tựu. Khi Chân Nguyên Đế viên mãn VÔ THƯỢNG ĐẾ thì tất cả thảy đều Vô Thượng Đế không còn là Cõi Trời Cõi Lục Dục hay Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới nữa, đó chính là lời thiết thành thiệt ngôn Tôi nói ra đây vậy.

Lúc bấy giờ Chư Thiên cùng Thiên Nữ, hân hoan đồng đứng ra đảnh lễ xin Sư Trưởng thọ ký, phát nguyện phụng hành. Khi ấy có một Thiên Nữ Tâm đang còn phân vân, qùi ra thưa gởi: Kính thưa Sư Trưởûng, chúng con là phận Nữ Thiên, mong Sư Trưởng kể cho chúng con được nghe tất cả trong Chân Nguyên Đế có bao nhiêu Cõi có bao nhiêu Cảnh Giới, đồng thời có bao nhiêu Tịnh Độ và Quốc Độ, để chúng con trọn lòng tin vâng lời Ngài chỉ giáo. Thưa gởi xong qùi nghiêm lễ lại một bên.

Sư Trưởng đáp: Nếu Tôi kể ra đây không bao giờ hết đặng, vì sao? Vì cứ mỗi một vị tập nhiễm thọ chấp trở thành một thế giới, có hằng hà sa số vị đã từng thọ chấp tập nhiễm liền ứng trực hằng hà sa số thế giới. Lại nữa có hằng hà sa số kẻ khắc nghiệt độc hiểm phát sinh ra hằng hà sa số Hỏa Ngục mà phải chịu cực hình đủ mọi phương thức, đủ mọi lớp lang chỉ vì nơi độc hiểm mà phát sinh ra như thế làm sao Tôi kể hết đặng.

Lại có hằng hà sa số, những bậc tu trì, phát hiện tu tự tánh tỏ tánh nơi Chân Nguyên Đế, nhưng thân tâm đang còn đầy dẫy tập khí, chưa đến mức NHÃN TỊNH QUÂN MINH, thường mộng tưởng đảo điên, lại thêm nơi đó nhận lấy ĐỊNH TƯỞNG an trụ, thường năng sở kiến tri cho mình Sở Đắc, những bậc như thế nên chi mới hóa sinh hằng hà sa số Cảnh Giới và các Cõi, tùy theo Đức Trí Công Năng Chánh Báo.

Lại có hằng hà sa số, nhiều bậc khó giải hết đặng, họ chuyên chú tu trì TỊNH ĐỘ, cầu báo nơi TÂY ĐỘ, đến lúc mạng chung thành tựu Tịnh Độ, nhưng tùy theo Công Năng sở chứng mà thọ lãnh Tịnh Độ, do như thế nên chi mới có hằng hà sa số Tịnh Độ vãng sanh Cực Lạc Quốc, đó chính lời thiết thành thiệt ngôn các ông nên nhớ lấy.

Cũng có vị thực hành chuyên chính, dụng Bổn Nguyện xây dựng Quốc Độ, nhưng chưa thành tựu CHÂN ĐẾ GIÁC NGUYÊN, khi thành tựu liền nhập HỮU VI QUỐC ĐỘ. Sư Trưởng vừa nói đến đây trầm ngâm im lặng, các Chư Thiên cùng các Thiên Nữ đồng thưa gởi: Kính bạch Sư Trưởng: Tu như thế nào, nhận lãnh ra sao mới đoạt đến VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẾ? Kính nhờ Sư giảng giải cho chúng con được nghe, cốt lưu lại đời sau làm ngọn đuốc sáng soi rốt ráo, thưa gởi xong đồøng về vị trí.

Sư nói: Tôi khá khen cho các ông, chính nơi mình đặng nghe, còn lưu lại đời sau đặng tỏ rõ, vì lòng tự lợi đồng với lợi tha nên tôi nói lời thành thật không hai tướng, các ông hãy nghe cho kỹ, lúc bấy giờ Chư Thiên, Thiên Nữ đồng ứng chiêm ngưỡng để lãnh hội bảo truyền. Sư Trưởng nhìn thấy sự chân thành nơi thích thú trong sạch, Sư liền nói: Khi bậc tu trì từ sơ khởi phát Bồ Đề Tâm, đến đoạt VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẾ, thật là Công Đức Vô Lượng, hằng hà sa số công năng chịu đựng không tập nhiễm, không thọ chấp, không Ngã cùng Ngã Sở, rốt ráo Chánh Ngã mới thành tựu VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẾ. Khi đạt thành Chánh Đế, liền Chánh Báo KIM THÂN, đồng hóa tận độ Pháp Thân viên mãn, rốt ráo Bát Đại Niết Bàn. Lúc bấy giờ Bậc nầy mới tỏ rõ. Vi diệu thay! Linh động thay! Tuyệt mỹ thay! Vì sao? –Vì bậc nầy thật biết tường tận, lúc đang còn làm HẠNH NGUYỆN BỒ TÁT, chính là lúc đang xây TỊNH ĐỘ của Bồ Tát, Tịnh Độ Bồ Tát cứu vãn những nhân vật có NHÂN DUYÊN cửu huyền thất tổ của Bồ Tát, hoặc giả bạn bè thân thuộc thảy đều được cứu độ vào Tịnh Độ Bồ Tát. Khi Bồ Tát NHẤT SANH BỔN XỨ thành tựu Chánh Đế, thời Bồ Tát thị hiện thân VÔ THƯỢNG ĐẾ, thực hành Bổn Nguyện, xây dựng QUỐC ĐỘ, cốt tận độ PHÁP THÂN cứu vãn Chủng Tánh Bồ Tát. Sau thành tựu Ba Thân Viên Mãn nhập BÁT ĐẠI NIẾT BÀN thì chủng tánh Bồ Tát liền đặng an hưởng Quốc Độ, còn Bát Niết Bàn cung phụng GIÁC NGUYÊN CHÁNH ĐẾ, đó chính lời thiết thành thiệt ngôn không hai tướng vậy.

Chư Thiên cùng Thiên Nữ nghe xong, đồng đảnh lễ xưng tán, công đức công năng toàn thiện toàn giác, chưa bao giờ nghe ngày hôm nay chúng con đặng nghe, chưa bao giờ biết tỏ rõ tường tận hôm nay chúng con biết tỏ rõ tường tận, chúng con không thể nào lấy chi để xưng tán cho vẹn vừa, duy nhất chúng con cung kính phụng hành, từ thời nầy đến thời sau đặng CHÂN NGUYÊN CHÁNH ĐẾ, xưng tán xong đồng lui gót. Sư Trưởng nở nụ cười hoan lạc.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
HỘI THƯỢNG, ngày 23-12-1976
tức ngày 3 tháng 11 năm Bính Thìn

17. THIỀN SƯ TĨNH TOẠ XONG

Thiền Sư tĩnh tọa xong, Ngài lẩm bẩm hai chữ: Thánh Hiền! Phật Giác! Hồn nhiên đôi mắt Thiền Sư in tuồng giao cảm mười phương sáng ngời tỏ vẻ vui tươi gật đầu nói: Thánh bổn tánh Hiền! Phật đại diện toàn chân Chánh Giác nên gọi Thánh Hiền! Phật Giác! Hai cấp Thánh và Phật. Có Chí Dũng Công Năng Tự Thành Phật Thánh, nào phải mong cầu xin mà đặng? Về Thánh Xuất thời chẳng thiếu chi, nhưng hoàn toàn Xuất Thánh rất hiếm. Vì sao? Vì con người chưa vẹn mười điều toàn Mỹ “Nhân Vô Thập Toàn", dù con người kết nạp bản năng toàn chân chăng Năm Ba Bảy điều vẫn phục diện học làm Thánh, vươn mình khai hoang làm Thánh Xuất. Thánh xuất có nghĩa giải nghiệp xuất Thánh, sạch nghiệp Viên Minh liền Tự Xuất, khi thành đạt không học vẫn Xuất Thánh. Thời Hiền Kiếp Phật Thánh đồng Thể Hiện, có Thánh Nhân như Khổng Tử, Thánh Thiên như Lão Tử, Thánh Triết Vô Thượng Thế Tôn, mới có Đạo Khổng, Đạo Giáo Lão Tử. Phật Giáo Thế Tôn, hàng Thánh Tăng Chư Bồ Tát hàng tu cầu Hạnh Nguyện tu cầu Diệu Quả thành Phật.

Các hàng Thánh mỗi vị chuyên một môn, mỗi một môn thâm nhập nhiều ngành, có hàng bá thiên vạn ngành, cũng như mỗi một pháp có bá thiên vạn pháp, trở về với Một Pháp, một môn nhiều ngành cũng thế. Bậc Thánh tùy theo đơn vị chuyên môn mà triển khai cho từng lớp Thánh Xuất, giải nghiệp Thánh Xuất không phân biệt vào giới nào. Vì sao? Vì Thánh Xuất do nơi Chí Dũng, Bản Năng, Năng Khiếu, Tinh Thần cao đẹp, tôn trọng Phẩm Giá Chủ Thể, Chủ Tánh bao dung thành Đức Tánh. Đức tánh phát Hiền Hòa, Hiền Lành, Hiền Hậu. Các bậc tu mong đạt ba điểm trên thời phải dẹp Tự Ái, Tự Cao, Tự Mãn, Tam Độc chúng sanh tánh. Tự Ái ngăn cách Hiền Hòa, Tự Cao cản ngăn Lành Mạnh, Hiền Lành, Tự Mãn củng cố học hỏi Tăng Thượng, chẳng Hiền Hậu, làm thế nào Thánh Xuất.

Bậc học làm Thánh chưa nâng chủ tánh thành Đức Tánh, chưa có Đức Tánh lấy đâu độ lầm mê? Vì sao. Vì Đức độ lầm mê, chúng sanh kém Đức mê lầm, cũng như bậc sáng mắt hướng dẫn cho kẻ mù lòa. Đây chính một sự dĩ nhiên. Khi Bậc biết pháp môn Hóa Giải, sạch Thiên Tướng, Nhân Tướng, Chúng Sanh Tướng, khỏi vòng thọ ngã Giả Tướng, đó là Thiên Nhân Sư. Bậc không vì lý mà chướng, không vì sự mà chểnh mảng thấp cao, Lý Sự Tương Song Tự Tại Vô Ngại Đại Bi, sự sự việc việc mỗi mỗi đều thâm nhập tài năng xuất chúng, qua các trở ngại không nhàm chán gọi là Điều Ngự Trượng Phu. Lại vì chúng sanh toàn năng giúp đỡ, toàn lực, toàn lý, toàn trí, tất cả chúng sanh an vui, Thánh Tăng an vui, gọi là Thế Gian Giải. Thực hiện Bi Chí Dũng, Giới Định Tuệ gần chúng sanh không mất Thánh Ý, thật thấu từng giới của chúng sanh, giới này thọ chủng tánh tình ra sao, Giới nào ngôn ngữ hành động như thế nào Chánh Báo, Thọ Báo như thế ấy, hình hài thân mạng lớn nhỏ dài ngắn Liễu Sanh sẽ đặng vào nơi Thai Sanh, Noãn Sanh hoặc ti tiện thấp sanh thảy thảy, nhận thấy tường tận không hai tướng gọi là Túc Mạng Minh.

Thiền Sư vừa giải đến đây, hai bàn tay Ngài đặt trên mặt bàn nhỏ, nhìn mười ngón tay, trầm lặng tiếp nói: Chánh Biến Tri là một danh hiệu Phật, bao la rộng rãi vô cùng, yếu tố sáng soi Quân Minh vô tận. Vì sao? Vì Trí Hóa Tâm Thức Biến Tri, nghề nghiệp biến trí, cải cách biến trí, biến trí tùy thuộc nghiệp, còn chánh biến tri thuộc Giác Tướng về Như Tướng Kiến Tri mà Tri Kiến Phật.

Thiền sư hai bàn tay đưa thẳng ngang tai rộng rãi mỉm cười tiếp nói: Chánh Biến Tri sai lạc thì Tà Biến Tri làm thế nào phân biệt? Như nhà Thông Thái, gắng tạo thành Thông Thái chỉ là một con người tạo thành làm thuê cho thông thái. Phải có căn bản nơi Chủ Thể Chủ Tánh cao đẹp vững vàng gọi là Đức Tánh bao dung đến thành công Thông Thái đó mới thật chính mình Thông Thái. Làm như thế nào, tu như thế nào Nâng Chủ Thể cùng Chủ Tính? Bậc Chánh Biến không khinh Tà Biến, Bậc Đạo Đức không ghét Phi Đạo Đức, Bậc Thánh Tăng không bãi bỏ chúng sanh thọ nghiệp. Đó chính là nâng Chủ Thể Chủ Tính. Bằng khinh ghét bỏ chê thì không khác nào mang Vàng pha lẫn Bùn Nhơ, làm sao Chánh Biến Chơn Giác?

Trí Tuệ Đắc nhờ giải nghi hóa chấp bước vào Chánh Biến Tri. Vì sao? Vì chánh biến tri từ nơi Tự Tánh sạch sẽ, Chủ Tánh Quán Chúng mà ra Đức Tánh, mới nhiếp thâu Vạn Tánh về Nhất Tánh Chánh Biến. Chẳng khác mấy: Vạn Hạnh về Nhất Hạnh, tôn trọng Phẩm Giá Lập Hạnh. Nơi vạn tánh mỗi chúng sanh, có một tánh củng cố, nhiều chúng sanh nhiều tánh củng cố nên mới riêng rẻ chướng đối nhau, chia ra vạn lối khó về một lối Nhất Tâm. Bậc tu phải tu vạn tâm về Nhất Thể, khỏi lầm lạc, được gọi: Chúng sanh lầm lạc, bậc Chánh Biến không lầm lạc, lầm lạc Tà Biến, không lầm, không lạc Chánh Biến Tri.

Tinh Thần chẳng là cái gì mà cái gì cũng đoạt đến. Tinh Thần Bất Khả Tư Nghị, khó nghĩ bàn đặng. Tinh Thần là Chủ Thể Năng Lực Như Lai. Vì sao? Vì Phật Ấn Chỉ Như Lai Vô Sở Tùng Lai, Diệt Vô Sở Trú, Cố Danh Như Lai. Hàng Bồ Tát Đại Nguyện: Như Lai Vô Biên Thề Nguyện Sự. Bồ Tát hành dụng phụng sự cứu giúp chúng sanh, chúng sanh là Hành Dụng theo Thể Dụng vận chuyển Như Lai, nên Bồ Tát đem hết tinh thần phụng sự thành tựu Chánh Biến Tri, Kiến Diện Như Lai Chủ Thể Năng Lực Như Lai Thọ Ký.

Tinh thần bậc tu cầu Diệu Quả Bồ Đề, Tri Kiến Giải Thoát phải đầy đủ Trí Tuệ Chí Dũng tinh thần, bằng yếu kém hoặc thiếu, khó đặng. Dù tinh thần thiết tha, chưa trí tuệ vẫn lâm nơi tinh thần cuồng tín, vì thế nên chi phải có bậc Thiện Trí Thức chỉ đạo mới mong kết quả. Chưa có hay chưa gặp Thiện Trí Thức nên tu Thiện, tinh thần Thiện Căn Thiện Chí, cúng dường Công Đức, tín ngưỡng ngôi Tam Bảo. Tinh thần như thế vẫn đáng kính trọng.

Bậc sẵn tinh thần cao, xuất gia hay tại gia. Tin Phật, Pháp, Tăng. Ngôi Tam Bảo, Y Tôn, Y Kinh, về Lý đọc tụng Kinh Pháp, về sự siêng năng Công Đức, tinh thần còn tu nhiều hơn thế nên nhớ: Nhược Dĩ Sắc Kiến Ngã, Nhược Dĩ Âm Thanh Cầu Ngã, Thị Nhân Hành Tà Đạo, Bất Năng Kiến Như Lai.

Một là Đọc Tụng kinh Pháp, dùng sắc kinh, chưa tụng Y Thánh nghĩa kinh, làm thế nào Tri Kiến? Hai là: Nghe thuyết pháp, chưa thọ lãnh an toàn, nhận định khiếm diện chưa đúng với tinh thần pháp, làm thế nào Kiến Tri Thánh Pháp? Ba là: Nhận Tà Biến, thực hành Tà Biến, lâm nơi sai biệt, khi lâm sai biệt thời phải trực thuộc tà đạo sai lầm. Bốn là: Nơi sai, nhận sai, thiếu tinh thần Phụng Hành, thế nào đồng chủ thể năng lực thấy đặng Như Lai? mới có câu:

Y Kinh Diễn Nghĩa, Tam Thế Phật Oan.
Ly Kinh Nhất Tự, Tức Đồng Ma Thuyết.

Cho nên y kinh diễn nghĩa chưa đủ Tự Giác, Phật vẫn bị oan bằng Tự Ái, Tự Cao, Tự Mãn thuyết giả Ngôn Từ, ngỡ là Minh Thuyết. Dụng Tâm Thức quán soi Tà Dục Kiến Dục, ngỡ Chánh Báo Vương Tôn Tăng Thượng Ma Thuyết, sai lạc Y Chỉ cơ bản Chủ Tính thiện căn Tà Biến Tri ngỡ Chánh Biến thọ nghiệp, không thể giải. Ngoài ra duy chỉ Tự Tánh Tỏ Tánh, đầy đủ Tinh Thần Bất Thối là hơn cả.

Tuyệt mỹ thay! Thánh Hiền! Phật Giác.

 “Phật ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh Vũ Trụ. Bồ Tát có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng: Chánh Báo, Phước Báo, Thọ Báo.”

 “Bồ Tát có quyền dạy và truyền Tâm Ấn từ hàng Hộ Pháp Bồ Tát, Tôn Gi, A La Hán, Tiên Thần.”

 “Bồ Tát Ma Ha Tát có quyền dạy và chứng minh cấp bậc Bồ Tát.”

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986.
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

16. THIỀN SƯ TỪ MÁI CHÙA TÂY BƯỚC RA

Thiền Sư từ mái chùa Tây bước ra sân Chùa Tháp, Ngài ngồi trên phiến đá ở góc sân, nhìn dưới chân đồi suy nghĩ thời pháp Sự Vật Hóa, Hữu Sanh Hữu Tướng, sống chết diệt sanh hóa thay đổi, đổi thay tứ loài chung khắp Bản Thể Tam Thiên rồng, người sinh mạng hóa, lý trí hóa, cho đến công lực công năng tự lực tinh thần vật chất, kiến tạo sáng lập không ngoài sự vận chuyển hóa. Tất cả thảy đều Hữu Sanh Hữu Tướng Hóa, Hữu Sanh Hữu Vật Hóa, cho đến cây cỏ núi sông, sanh nở không ngừng hóa, có hóa nên mới có hằng hà sa số các Cõi, Cảnh Giới, Chư Thiên Tiên Giới, Thần Giới, Thánh Hóa Giới. Cõi nào lối sống theo Cõi nấy.

Cảnh giới thế giới nào sinh sống nơi thế giới nấy, giới bị sống, không ngoài Chánh Báo Thọ Báo trong giới, gọi là Chúng Sanh Giới.

Thiền Sư nở nụ cười khoan khoái nói: Tự Hóa -Vật Hóa -Thần Hóa, ba hệ thống chung gồm nhau, trở thành một. Chúng sanh vẫn có sẵn Tự Hóa khắp khắp, quán soi Vật Hóa đến tinh thần đào tạo Hóa, thành ra mới có từng trình độ, giai cấp hóa trong vòng giới hạng hóa sanh.

Thiền Sư êm lặng nhìn trời Tây tiếp nói: Vòng Đai Pháp Giới, riêng mỗi một chúng sanh đều một Dụng thọ trì một Giới, biết yên phận không gây hấn nhau thời chẳng cách chi để giải nói. Vì sao? Vì thọ trì là đã chấp nhận, nhận lãnh làm chúng sanh giới, chúng sanh an hòa, sống yên trong Giới Dụng, khi biết rõ giới dụng nơi mình, liền đặng biết Giới nào Dụng nấy, miễn thực hiện Tròn Dụng là xây dựng Tịnh Độ Giới cho mình. Bằng toàn thể thực hiện đồng hiện Tịnh Độ Giới muôn phương Bồ Tát cúng dường, còn chi là Giới hay chúng sanh thọ giới nữa.

Nhân vật thì không thiếu nhân vật có hai hạng Nhân Tài cùng Thiên Tài, Bậc Thiên Tài phát triển thành Thánh Nhân, Thánh Triết chẳng hạn. Bậc Nhân Tài phát triển thế giới Vĩ Nhân hiện đại. Bậc có Tài Đức rất hiếm, có Tài chưa có Đức vẫn Nhân Tài thường nhân. Trí cùng Đức nó nâng Nhân Phẩm con người, dù có Tài cho mấy chăng vẫn không qua được Đức điều hành Trí, Trí kiểm chứng Đức trở nên an nhàn sung sướng nhất trần gian.

Thiền Sư nói đến đây nhìn cảnh trời mây bao la vô tận, chỉ có Tâm Hồn mới kiểm chứng trời mây, nỗi niềm Ngài đã từng bày tỏ thăng trầm chịu đựng bước đường tu chứng trời mây cùng Thị Chứng. Nên chi Ngài nói: Từ nơi Tinh Thần cao đẹp sạch sẽ, thì Tự Tánh không ngã về một bên: Tự Hào, Tự Ái, Tự mãn , Tự Tôn. Khi bấy giờ mới Sự Hóa Vật Hóa thảy đều trong sạch bình thoảng: Tự Hóa sẵn Bình, Vật Hóa chứng tri Tri Kiến, thì Thần Hóa dung thông Giải Thoát khổ ách nơi chốn lầm than khổ đau. Sự Hóa Vật Hóa Tự Hóa Vật Hóa Thần Hóa là Ngũ Uẩn Giai Không. Độ Nhất Thiết Khổ Ách, không ngoài vạn pháp như Huyễn Hóa.

Ngài trầm ngâm thẩm xét. Vũ Trụ bao la rộng lớn Bản Thể lại vô biên, còn pháp thân hàm chứa hằng hà sa số vô lượng vô biên chúng sanh giới. Pháp thời trùng trùng duyên khởi diệt sanh, sanh diệt không ngừng, chúng sanh lầm Ngũ Uẩn trụ chứng nơi Huyễn Hóa cầu an, làm cho Vũ Trụ Bản Thể dẫy đầy Pháp Giới Vô Minh, không thể lọt một mũi kim hay sợi tóc tìm ra ánh sáng Trí Tuệ, làm thế nào Giải Thoát hoàn Chân Thiện Mỹ với chúng sanh?

Thiền Sư nói: Hỡi các Thiện Chân Tử! Bậc Cầu Đạo Bồ Đề nên có Tinh Thần Tín Ngưỡng, nên Y Tôn Y Chỉ lời dạy Phật Tôn, chớ sai đường lệch hướng tinh thần tín ngưỡng. Vì sao? Vì tất cả Sự Hóa Vật Hóa cho đến tu cầu chưa có tinh thần tu học chưa bao giờ tu đạt đặng. Tinh Thần là một khởi điểm đầu tiên đến cuối thành công Thần Hóa, từ thờ ơ đến Chí Dũng Hóa, từ lười trễ biếng nhác, đến tinh tấn siêng năng, từ chưa tìm ra cái sống Tinh Thần Hóa tìm đặng cái sống an vui Bất Diệt. Chưa có tinh thần Tôn Đạo. Đạo nào Thần Hóa đặng thọ lãnh Giáo Pháp Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng Chánh Giác?

Thiền Sư nói: Vô Minh là gì?

Phải chăng vô minh điều chính chưa biết sanh ra đối tượng chấp, hóa mê, nên Hóa giải chấp mê, gọi là phá Vô Minh Mê Chấp, nhiếp thâu gần chúng sanh cốt tỏ thấu chúng sanh, các hành vi thọ ngã Giả Tưởng nhiếp thâu mình khỏi lầm, Giác Ngộ. Bậc tu cầu Diệu Quả, Nhất Tâm Hóa Giải Nhiếp Thâu, sạch sẽ, Tận Thấu, trưởng thành Phật Đạo.

Nơi Tự Hóa Vật Hóa Thần Hóa tùy theo thứ lớp giai cấp trình độ chúng sanh giới Tự Hóa, gọi là tùy nghiệp thức hóa như: Cảnh sanh tình, vui buồn sướng khổ hóa, tham vọng ưa thích hóa. Bậc tu cầu Diệu Quả lúc duyên khởi Tự Hóa Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức nghĩa là: Sắc, Hình Sắc hay sắc tướng về tiền bạc, công danh, hiện tướng tiền và công danh. Thọ, tham muốn tiền bạc và công danh, Tưởng tượng tiền bạc công danh. Hành, hành động theo Tâm Thức đạt cho đặng tiền bạc công danh, nguyện vọng khởi sanh của mình. Trên đây là lầm lạc Tự Hóa, chúng sanh Tự Hóa Sắc Thọ Tưởng Hành Thức là mức đo nghiệp để cổi giải nghiệp. Sắc Thọ Tưởng Hành Thức, một điểm Duyên Khởi, Giải nghiệp hay Thọ Nghiệp, Thoát Sanh hay Thọ Sanh nơi Kiến Dục. Tùy các bậc tu cầu dung lượng.

Tự Hóa không phải tự nhiên như nhiên hồn nhiên hóa, nó là Trực Ngộ Trực Giác không có văn tự nên mới có Liễu Ngộ, Đại Ngộ, Nó nương nhờ Tinh Thần Công Năng Sở Đắc Chứng Tri tu cầu Diệu Quả Hiện Sinh Hóa. Thiền Sư gật đầu nói: Đa phần các pháp môn chỉ có Thiền Môn chiếm trọn Tự Hóa Vật Hóa Thần Hóa mà thôi. Vì sao? Vì phải tu Tịnh Tuệ là Thiền Môn, Trí Tuệ rất cần phát triển từ nơi Tinh Thần cao đẹp Thần Hóa hiện sanh. Có Trí Tuệ mới Tự Hóa không lầm, Quán soi không lạc là Vật Hóa thành thử Tự -Vật -Thần Hóa do Thần Hóa phát huy, chưa có Thần Hóa thì chúng sanh nằm yên tê liệt. Tất cả chúng sanh sống chết vươn mình hay lười trễ chỉ có Tinh Thần phấn khởi linh động thanh thoát không ngoài Tinh Thần, Thần Hóa mà ra.

Thiền Môn -Tín Hạnh Nguyện mở đầu bước vào nhập môn, phải Tín Ngưỡng Giáo Môn. Dụng Hạnh Tọa Thiền gọi là Thiên Hạnh, Thề Nguyện Tu Tọa Thiền Bất Thối. Hành giả Thề Nguyện Tọa Thiền không ly tọa, chưa Đắc Đạo thề chưa lìa khỏi Cốc Thiền. Thiền Môn là một Tôn nâng Tinh Thần lẫn vật chất, khi Đắc Đạo xong, tinh thần lẫn vật chất thảy đều tu, gọi là Song Giáo hay Viên Giáo. Không lấy, chẳng bỏ nơi căn bản không ngoài Rốt Ráo Chánh Giác.

Phần Hóa chủ yếu có Tinh Thần mới Thần Hóa, Thần Hóa thân tâm thoải mái mới có Trí Tuệ Tự Giác, Tự Giác mới tự hóa giải nghiệp, nghiệp thì hàng hàng lớp lớp chúng sanh thảy đều có Nghiệp, Thần hóa từ Nhân Thiên Lục Đạo các cõi trong Tam Thiên đâu đâu vẫn có Nghiệp, nếu chưa có Trí Tuệ Thần Hóa thì làm thế nào giải nghiệp khi nghiệp an trú nơi nào phải công dụng nơi hóa giải dù cho tu học thuộc Bát Nhã Ba La Mật chăng nhưng chưa có Trí Tuệ Cứu Cánh Thần Hóa dung thông thời Bát Nhã kia vẫn chưa thâm nhập làm sao tu đạt rốt ráo. Thiền Sư nói xong đứng lên, rời khỏi phiến đá đang ngồi, bước đi về hướng Chánh Điện. Hai chú tiểu chờ sẵn hai bên, Ngài chiêm ngưỡng Tôn Phật chú nguyện cho chúng sanh nên vun trồng Cây Bồ Đề Tâm Nguyện thọ giáo lời Phật Vương.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986.
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.