15. HÔM NAY ĐÚNG BẢY NGÀY

Hôm nay đúng bảy ngày, Thiền Sư niệm niệm Kinh Đàn đi vòng dưới Chân Đồi, niệm niệm từng bước một. Cầu Chư Phật Chư Bồ Tát nguyện giúp đỡ cho tất cả chúng sanh phát Bồ Đề Tâm đặng Trí Tuệ Cứu Cánh. Trí Tuệ Viễn Đạt, tu cầu Tri Kiến Giải Thoát. Chương trình kinh đàn này, mỗi ngày Kinh Đàn một vòng, bảy ngày Kinh Đàn bảy vòng, xong Tĩnh Tọa Minh Thuyết Phật Ngôn. Thiền Sư Nhất Tâm Vị Tha, Chí Nguyện Tha Lợi, chung khắp Pháp Môn Giải Thoát. Vì sao? Vì Ngài thật rõ thấu Tôn Chỉ Mục Đích Tu Phật. Bình Đẳng Dung Hòa, Dung Thông Sở Đắc, không pháp môn nào lớn nhỏ cao thấp tuyệt đối không hai. Vì Bất Bình Đẳng do lầm mê, dị biệt khoảng cách, thành thử Bất Đồng có vô lượng, vô biên, hằng hà sa số chướng đối ngăn ngại nhau, nên chi trở thành chúng sanh, khó nghe, khó nhận, khó hiểu làm thế nào biết đặng lời Phật Ngôn: Bình Đẳng Đại Hải cho đến Đại Hải Chúng, Thế Giới Hải, Chư Phật Hải, Bồ Tát Hải, Chúng sanh Hải. Khi Đức Phật đang còn ngôi Bồ Tát, Ngài phải tu tánh Bình Đẳng đối với chúng sanh mà sở đắc Bình Đẳng Tánh Trí, dụng Tánh Trí chủ quán đồng đẳng chúng sanh, sở đắc Pháp Nhãn. Hồi Hướng Công Đức không nhàm chán tu đạt Diệu Quang Sát Trí. Nhìn hàng Bồ Tát Trí, soi lại chúng sanh trí, bên Bồ Tát thoát sanh hóa độ chúng sanh, còn phần chúng sanh thường chấp ưa trụ nhỏ nhen eo hẹp, Bồ Tát vị tha cứu độ, hóa độ, thân tâm Bồ Tát chung cùng chúng sanh trưởng thành Đại Viên Cảnh Trí tu Nhất Thiết Trí thành Phật. Khi bấy giờ Phật nói: Chúng Sanh Chư Phật không riêng khác, chỉ Mê Ngộ mà thôi.

Nói đến tư thế Thiền Sư. Ngài đang ở ngôi chùa tháp mục nát, ngọn tháp mất chỉ còn nền tháp. Ngài che mái chùa bằng lá, chính giữa làm Chánh Điện, có Tượng Phật, bàn Phật bằng vôi. Đức Phật Bàn Phật lâu năm đã phai màu cũ kỷ. Ngài chỉ có chõng tre, chiếc bàn nhỏ, tấm kệ để kinh, chiếc giường đóng tạm, đồ đạc đặt ở nhà Tây. Ngài thường ngồi nhìn xóm làng xa xa ẩn hiện chen lẫn vườn cây rừng lá. Đời Thiền Sư duy nhất Bộ Đầu Óc mới mẻ, tinh thần khoát đạt bình dị Như Lai Phật thoải mái.

Thiền Sư Ngài đi kinh đàn xong trở về, Ngài bước lên tam cấp, từ chân đồi đến sân chùa tháp, có trên năm mươi cấp bước của Ngài. Vừa đến sân hai Chú Tiểu chạy ra đón bái. Thiền Sư giao cho hai chú, mỗi chú một phần việc, Bao Đãy và chiếc gậy. Ánh nắng đã lên cao. Ngài thay áo, ngồi vào chiếc chõng, dùng tách trà chậm rãi tôn nghiêm. Ngài nói: Tuyệt thay! Đức Thế Tôn Ngài đã từng đánh đổi tất cả Tâm Huyết, lời Vàng lưu lại đời đời nhắc nhở từng bước tu nhỏ, cho đến Đại Lực, Đại Hùng, Kiên Nhẫn, Kiên Trì trong Tam Tạng Kinh Điển, từ lầm mê trưởng thành Giác Ngộ không thiếu sót. Các Bậc tu không biết lấy chi tán thán báo ân cho xứng đáng.

Thiền Sư êm lặng đưa đôi mắt vô tư, khuôn mặt trầm tư của Ngài khó diễn giải. Ngài ngước mặt lên in tuồng bày tỏ cùng ai nỗi niềm tâm cảm lời Bảo Sám, lời Bảo Sám vừa tri ân Chư Phật, vừa minh thuyết lời vàng. Ngài nói: Có Tỏ Tánh (sửa Tánh) mới Minh Tâm. Có xét lỗi lầm, không lầm lỗi. Có Hạnh Nguyện mới có phát Tâm. Có Hành Dụng đặng chu đáo. Hành Dụng chưa tu Tứ Nhiếp Pháp Lục Ba La thì chưa Hiền Hòa thấm nhuần Đạo Pháp, đã chưa thấm nhuần Đạo Pháp làm sao có Từ Tâm, làm sao sáng soi Nghiệp Thức mà Giác Ngộ? Tứ Nhiếp: Đồng Hành Nhiếp, Đồng Sự Nhiếp, Ái Ngữ Nhiếp, Vị Tha Nhiếp. Bậc tu chưa thực hiện Bi Chí Dũng, tựa bằng xác chết chưa chôn, lười trễ đứng yên, khó qua trở lực vạn ngành pháp giới. Nếu chẳng thông Giới Định Tuệ thì vô minh, làm thế nào lãnh hội lời vàng Phật dạy? Bằng chưa Tín Hạnh Nguyện, Ba La Mật Đa, nằm yên bất di chuyển, nương nhờ Pháp Giới cải tạo hoàn cảnh đón đưa thần linh phù hộ, lâm nơi tu cuồng tín.

Thiền Sư vừa nói đến đây, Ngài ngã mình trên chiếc chõng dưỡng thần một lúc. Chú tiểu đã thay tách trà hai lần, Ngài ngồi dậy, nhìn về hướng Chánh điện tiếp nói: Tu hành không tự thân chí nguyện sửa sai lung lạc, chính mình phải vãng sinh nơi mình, không ai mang ngộ đến cho, giải mê mình đặng. Bậc tu tận lực giải nghiệp thức, căn trần, cấu ly, cấu nghiệp, ly nghiệp, ác tâm, ác ý, ác nghiệt, do Thân Khẩu Ý tự mình chướng đối, nghi ngờ bị biệt đủ hình thức lầm lạc vô cùng. Lúc phát tâm tu Phật Tự Tâm hóa giải, từ nơi nhỏ bé trưởng thành rộng rãi, Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi. Bằng chưa phát tâm, dung dưỡng xem kinh pháp không giải vô minh, dù cho xuất gia tu chùa hoặc giả tu núi bao nhiêu năm chăng, cũng chưa có một ngày tu.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986.
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

14. BỒ TÁT GIẢI

Bồ Tát giải nói xong êm lặng, sau Ngài tiếp: Nhẫn Nhục, Trí Tuệ Thiền Định. –Trí Tuệ Nhẫn Nhục Thiền Định nầy khai hoang Trí Tuệ phát triển. Nhẫn nhục có hai lối: Lối thứ nhất Bị Nhẫn Nhục. Lối Thứ Hai: Bậc có Bản Năng Điều Ngự Bản Thức, dụng nhẫn nhục kiềm chế Tâm Thức khỏi dục vọng, tranh giành hơn thua mà nhẫn nhục vì nhẫn nhục lìa ngã, ngã sở, đúng với tinh thần Trí Tuệ Thiền Định, vì sao? –Vì Tâm Thức động vọng, Thiền định là Tịnh Tâm, đã Tịnh Tâm Trí Tuệ. Trí tuệ lìa tất cả nhận thấu tất cả, Trí Tuệ không mắc miếu nơi đâu, thì đâu đâu thảy đều tận thấu. Còn phần tâm thức động vọng từng hồi, hồi nào cũng phải lần quấy tùy chúng sanh phải quấy, nào do nơi tâm, tuy nói tâm đặng mà không đặng mảy may nào cả, chỉ cuồng quay Tâm Thức mà thôi.

Tịnh Tâm Thiền Định vốn chung Trí Tuệ. Không Tịnh Tâm Trí Tuệ vẫn không. Không Thiền Định nào phát huy Trí Tuệ? Bậc tu phải có Bản Thức kiềm chế Tâm Thức. Bản Thức phải có yếu tố năng lực kiên trì Chí Dũng thù thắng Tinh Tấn Bất Thối Tâm, Nhẫn Nại Bất Chuyển Bồ Đề, đánh đổi qua từng giai đoạn tu chứng, từ Phàm Phu trưởng thành Thánh Ý, Tri Kiến Giải Thoát.

Lời vàng hướng dẫn chỉ dạy. Nghe đặng là khó, nghe đặng thực hiện chưa đặng phải Kiên Trì Thực Hiện đặng càng khó hơn, vì sao? Vì nghe đặng, nhờ dẹp điên đảo loạn tưởng nơi Tâm Thức mà nghe đặng, còn thực hiện chưa đặng vì yếu kém thực lực công năng, nên chưa thực hiện đặng. Bậc tu phải cần tu hơn thế nữa mới thực hiện đặng.

Đương thời cuối thế kỷ hai mươi, cận kề hai mươi mốt đa số tu tự tánh tỏ tánh nghiên cứu nhà Phật cũng khá nhiều. Phái Thiền Tôn ưa chuộng không ít, có nhiều nước thành lập cơ sở khang trang, nhiều nơi Tu Thiền cần trí tuệ, vừa nghiên cứu vừa Tu Thiền hoặc Tu Thiền Dưỡng Sinh, Tọa Thiền Võ Đạo Thần Giao Cách Cảm. Những chỉ tiêu Tu Thiền trên thảy đều trực thuộc về Nhân Thiền hay Nhân Thiên Thiền là tốc độ cao nhất. Vì sao? Vì Thiền Dụng Tâm Thức mà Tu Thiền chưa Trí Tuệ Cứu Cánh Thiền. Trí Tuệ Cứu Cánh mới là Như Lai Thiền Tri Kiến Giải Thoát.

Phật Đạo mục đích đưa Tín Chúng giải thoát. Phật đã từng nói: Tướng giải thoát từ lâu, Tâm chúng sanh mắc miếu chưa giải thoát. Nên chi Tu Thiền đặc điểm về Tâm truyền Tâm Liễu Ngộ. Khi đang Tu tập Thiền Tọa chớ nên chấp trụ trụ chấp, lâm vào Tâm Thức đảo điên cuồng vọng. Hành giả có đầy hiểu biết năng khiếu, kiên trì Chí Dũng lập trường mới tu Thiền đặng.Vì sao? Vì dụng Bản Thức cai quản Tâm Thức, lìa Thức hồi Tâm, có nghĩa lìa vọng về Chân sở đắc Trí Tuệ Tâm. Tại sao Trí Tuệ Tâm? Vì Tâm độc lập trơn liền, chen lẫn Thức trở thành Tâm Thức, Thức thời động vọng trở thành Pháp, Hành Giả Tọa Thiền tỏ Pháp, Thức không còn, Tâm về với Tâm nên gọi Trí Tuệ Tâm. Tu Thiền chủ yếu phát Trí Tuệ Cứu Cánh, ấn quyết tâm, tuệ phát trực nhập đắc tâm, trực ngộ Chân Giác, lìa Chân Chánh Giác, tu như thế Như Lai Thiền.

Tôn Phái Thiền. Tùy theo Tâm Thức của mỗi hành giả mà hướng giáo, không tùy thuộc học hỏi Văn Tự Tu Thiền, vì Thiền Môn không tự. Bậc Thiền sư thấu đạt Tâm Thức lưu động phiên diễn tất cả, nên tùy nơi mỗi hành giả lập Tông Ấn giáo Tu Thiền. Các hành giả bổn phận Tín Hạnh Nguyện bất thối tự lập phát huy Thiền Tông. Tu Thiền không có cấp bậc nào mà có cấp đẳng Thiền. Phái Thiền có Chủ Thể. Chủ tánh Thiền Tôn đi sâu Bản Năng tìm lực chủ trì phổ chiếu làm con đường Giác Ngộ, bản năng tự lập duy nhất. Có ý nghĩa vạn Pháp duy tâm. Vũ Trụ bản thể thân tâm duy nhất không hai. Dưới mắt Thiền Sư, thấu đạt tất cả, tất cả đều Thiền Sư, ngoài không có Từ Ngữ nào giải đặng.

Thiền Tôn một Giáo Môn cực điểm đánh đổi mê lầm về với Giác Ngộ Tận Giác. Khi hành giả nhập Môn Tu Thiền Vị Thiền Sư chứng minh nhập môn. Lễ nhập môn xong, hành giả tu tập Thiền Tọa, tối đa hai thời Thiền Tọa, ngoài ra vị Thiền Sư giáo huấn từng vị hành giả riêng còn nghi luật thời Tâm Khẩu Ý, kiểm soát Thân Khẩu Ý kín nhiệm, mỗi tháng hai lần phát hiện Tâm Thức, mãi mãi từ ba năm đến bảy năm lúc nào tỏ ngộ nguồn mê nơi Tâm Thức, thường chấp, thường trụ hoặc hay trụ chấp thiệt hại như thế nào, đâu đó sạch sẽ, lúc bấy giờ mới làm Đại Lễ Nhập Lưu. Nhập lưu mỗi một hành giả, biệt lập ở riêng mỗi vị một cái Cốc, công phu Thiền Tọa. Tứ Thời Công Phu. Trước khi vào lưu cốc, các vị thảy đều Thề Nguyện. Có vị thề: Tu chưa Đắc Đạo, thề chưa rời khỏi cốc.

Tinh thần Tín Hạnh Nguyện tọa thiền. Tôn Phái tu thiền cực điểm. Khi đã hiểu sâu lý sự lầm mê do nơi Tâm Thức, dùng Bản Thức cực điểm lời nguyện tinh thần bất khuất giải trừ Thần Thức Viễn Vong trở về với Nhất Tâm giải thoát. Thiền Tôn tận dụng Hiển Giáo Mật Tôn gọi là Viên Giáo, Tiệm Giáo, Đốn Giáo là bước tu toàn diện, đầy đủ viên dung Tri Kiến Giải Thoát. Đa phần thời Hạ Lai nầy nhiều bậc chưa thấu đáo. Tu Hiển Giáo chuyên ròng Hiển Giáo. Tu Thiền quan trọng Mật Tôn Siêu Hình Vạn Tượng, Tu ròng Thiền Học Đốn Học, Tu Tiệm gìn giữ Tiệm, nếu không chung kết, tổng hợp làm thế nào Liễu Đạt Chánh Giác.

Đặc Điểm Thiền Tôn, Bậc kém Tọa Thiền, đảo điên động vọng, nơi động vọng đảo điên trực thuộc Tâm Thức, dụng Bản Thức ngự chế động vọng đảo điên. Khi hành giả tọa thiền khá đặng Tịnh Tâm, nhờ Tâm Tịnh thời Tâm Thức cải hóa, trở thành Thần Thức, Thần Thức Tâm Thức thảy đều trong vòng mê loạn tham muốn. Một bên Tâm Thức do Thân Tâm, còn một bên Thần Thức, Tâm Hóa tinh thần lung lạc nên gọi là Thần Thức lưu hành qua từng vọng tưởng. Thiền Tọa phải kiên trì không trụ xứ Thần Thức, Bản Thức vẫn ngự chế không trụ xứ Thần Thức, Thiền Tọa di chuyển chung khắp, các cảnh giới các cõi, Thiên Biến Vạn Hóa làm cho hành giả ưa chuộng mà trụ xứ, hành giả có trí tuệ Huệ Nhãn tránh khỏi lầm lạc. Bằng chưa tu đạt đến, không nên tu, không nên chấp trụ một pháp nào, vui mừng Tự Ngã một Cõi nào, bằng chấp trụ đều mù quáng. Miễn ngự trên Thần Thức di chuyển khắp khắp Tam Thiên, Đại Thiên Thế Giới, bất luận cao thấp cảnh giới thảy đều nương nơi Thần Thức tỏ ngộ Thần Thức Thiền Tánh.

Nơi Nghe Thấy Biết Bình Đẳng, nhưng Bất Bình Đẳng, giai cấp trình độ. Có tu, chưa tu, có chứng, chưa chứng, kể ra không hết đặng. Khi nghe, lúc thấy, được biết cùng chưa đặng biết sai biệt nhau. Tận Giác Chánh Giác Đồng Đẳng nhau. Tu Phật Đạo Phật rất Bình Đẳng vì lầm mê Giác Ngộ xa cách nhau khó diễn giải, khó nhận lãnh, được gọi là Bất Khả Tư Nghì, khó nghĩ bàn.

Bậc Thiền Sư: Dưới sự nhận định, xa cách hẳn Bậc Hành Giả đang tu Thiền Tọa. Vì sao? Vì Bậc Thiền Sư nhìn nhận Tổng Quát, do đó Thiền Sư nói: Một nơi phải, hoặc cái phải của một chúng sanh cho là phải, trong giờ phút đó Vũ Trụ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới có hàng Bá Thiên vạn triệu chúng sanh đồng cho phải, gọi là Thế Giới Hải Phải. Mỗi một chúng sanh cho là Quấy, thì liền có Bá Thiên vạn triệu chúng sanh cho là Quấy, gọi là Thế Giới Hải Quấy. Khi Đức Phật thọ ký Bá Thiên vạn Phật đồng thọ ký. Mỗi một vị đắc chân lý liền có Bá Thiên vạn triệu đồng đắc chân lý, gọi là chân lý Hải. Một Bậc Đạt Vô Thượng Đẳng, liền có Bá Thiên Vạn Triệu Bậc Tu Đạt Vô Thượng Đẳng, gọi là Thượng Đẳng Thế Giới Hải.

Từ chốn Tâm Thức lầm mê, có Bá Thiên Vạn Triệu lầm mê nơi Tâm Thức, vô lượng vô biên đại mê, cuồng mê, vọng mê Tâm Thức Hải. Bản Năng phải ngự chế xem xét lỗi lầm, qua từng cái Mê sạch sẽ hết thức giải mê Giác Ngộ. Từ nơi, Tâm Thức Hành Giả Tọa Thiền trở thành Thần Thức, Thần Thức rộng rãi bao la, thanh thoát cực điểm, Đại Lung, Đại Lạc, Đại Cường, Đại Vĩ, lên xuống cuồng quanh, Thiên biến vạn hóa theo Chơn Thể Pháp Tánh. Hành giả lầm nhận vui mừng an trụ hoặc giả ưa chuộng thích thú cho đó cực điểm không ai bằng, liền thọ chủng Thần Thức lâm vào Ngoại Giáo.

Bằng bậc kiên trì tận thấu Tâm Thức liệt hạ tranh giành, Thần Thức tham lam Đại Vọng, không Nhiễm chẳng Lìa, Tròn Giác. Ví như bậc đã tự mình phát hình nhìn xem vũ trụ thuyên diễn, một tấm tuồng mê ngộ, Chánh Giác.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT,
Kỷ Niệm Trung Thu năm Bính Dần 1986.

Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

13. NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ

Bậc Nhất Tâm Đảnh Lễ, Thân Khẩu Ý giải nghiệp, bậc này thường đánh đổi thân mạng, niệm niệm tu cầu diệu quả Bồ Đề, không phân biệt, Tâm nhập định đặng biết chúng sanh chung khắp đều tu, mỗi mỗi tu theo Hạnh mình. Từ nơi giải Tâm, đến giai đoạn đặng rõ lầm mê, nguồn mê nó như thế, Tâm trơn liền không còn chướng ngại tu đạt Vô Ngại Đại Bi Tâm, nương nhờ Công Đức, vượt hẳn thế gian Chứng Tri Bình Đẳng. Hồi Hướng Công Đức siêu thoát Tâm tỏ rõ Diệu Pháp sở đắc Diệu Quang, Sát Trí, Nhất Thiết Trí thành tựu Chánh Giác.

Thiền Sư vừa nghĩ đến đây. Ngài rời khỏi tảng đá đang ngồi, đứng lên, chân bước đi, miệng lẩm bẩm: Dại thật, dại thật, cho những bậc lầm mê, trên con đường Diệu Quả. Thường Tưởng tức Phi. Thường Tình tức Đọa, mãi gìn giữ năng sở thường tình, mộng ảo Tri Kiến Giải Thoát, lề thói thường tình ưa thích tất cả mọi người chiều chuộng tâng bốc an vui, hơn Tâm tự tạo nguồn vui bất tận. Nơi thường tình nơi sống quần chúng thường sống phẳng lặng mơ hồ, như con người sống của con người như thế. Nếu Bậc vươn mình cao cả hơn, không mong cầu chỗ thường tình làm quan hệ, cũng chẳng cho nó làm tầm thường, miễn cao hơn thường tình, hơn tầm thường, nơi mình đang trụ chấp biết chỉ trích, chưa tự xét mình, chính mình tầm thường hơn ai hết. Biết suy, biết xét, chưa thực hiện mình đang biết, đây chính là Con Bệnh thường vấp phải.

Đối với Ta, thật biết tỏ rõ nó như thế, nên không vướng mắc, đầy đủ chủ lực nguồn sống, thật là cuộc sống Huy Hoàng trước mọi sự việc, kể cả gay hấn, nghịch ngợm bằng phương thức nào, vẫn có sự sống Bất Diệt nên chi sự sống thông với sự sống của tất cả không có khoảng cách nhau, vì vậy nên chi không có Đoạn Dị Diệt vạn pháp suông chảy, tâm vui vẻ thoải mái trơn liền, đương nhiên sự sống nó sống.

Thiền Sư vừa nghĩ đến đây, nở nụ cười thoải mái. Ngài nói: Ta và tất cả sanh ra để làm gì? Để Ăn, để Mặc, để Sống ư? Thật vớ vẩn nơi vớ vẩn, chịu nơi khuôn khổ thường tình vạy vọ lâm nơi tầm thường bị sút kém thua thường tình, thì làm sao thông cảm sự sống, cùng nhau thoải mái? Đứng nhân cách tầm thường hay thường tình kẻ ưa thích chỗ này, người lại ưa nơi nọ, có những mong đợi hoài vọng khao khát, tâm trạng khác nhau. Khi bước vào con đường tu Phật, chưa đủ Công Đức Công Năng để giải tỏa lòng tham vọng đang còn, các khía cạnh nơi nghiệp Tham. Không Tham Lam tiền bạc, vẫn tham vọng đủ chiều hướng hư danh, Tu vấp phải qua nhiều nghiệp thức. Bậc bình dị nương Vô Ngã để tu, khỏi tham mơ vọng đảo, lầm ngã giả tướng, Minh Tâm đến không dị biệt thoát sa đọa.

Thiền Sư đưa tay hái cành lá, Ngài ngồi lại tảng đá, nét mặt cảm mến như nhiên. Ngài nói: Tướng Giải Thoát từ lâu. Cây cỏ núi sông, Hoa quả vẫn làm tròn Bổn Phận dung dưỡng nhân loài. Nay Ta nói lên Tâm Hồn Giải Thoát. Thế nhân mấy Ai biết đặng Ai? Họ chỉ nhìn nhau bằng đôi mắt tầm thường. Ta chỉ biết Ta là đủ. Vì sao? Vì nó như thế. Khi Đức Thế Tôn đang còn tại thế. Chưa chắc nhân sinh nhìn đặng Ngài Vô Thượng, Ngài đã từng công bố, chưa hẳn có bậc đã tin Ngài. Lúc bấy giờ tinh thần Tối Thượng Quả Vị Đẳng Đẳng Giác. Chỉ Ngài thấu Ngài mà thôi. Ngài nhập Niết Bàn lời Vàng sáng rạng, Ngôn Từ trở lại Bảo Châu. Cao Qúy thay! Vô Lượng Công Đức Phẩm thành Xá Lợi.

Có lẽ, có lẽ. Bổn phận Đức Chí Tôn đã tròn Bổn Phận. Nay Ta tiếp tục phải làm tròn, miễn tất cả Nhân Sanh ưa chuộng xem với Tâm Hồn giải thoát vẫn toại nguyện không khác. Đức Bổn Sư thành Phật Chánh Giác. Ngài nói: Bá Thiên Vạn Ức Phật Chánh Giác. Nay Ta thành Phật Chánh Giác. Nào Đức Ngài Tuyên Minh Ngài Chánh Giác thành Phật mỗi một mình Ngài đâu. Đối với Ta vẫn như thế, các bậc đang tu, đồng tu đến mức độ như Ta cũng có Thế Giới Hải bậc như Ta, bậc đồng nguyện rộng rãi phát tâm Hồi Hướng Công Đức Phẩm, Ta tuyên minh cho tất cả, các bậc tu cầu Diệu Quả phải Hồi Hướng Công Đức Cúng Dường Như Lai chính lời này Tối Thượng.

Thiền Sư nhìn hư không không tận. Ngài nói: Hư Không như nhiên hay dĩ nhiên? Thế nhân thường tình hay tầm thường. Đó là dĩ nhiên do Tâm chưa thoan thoát, Tâm Chí hay Thân Tâm chỉ Định, viễn tượng như thế nào thì nó ra thế ấy. Phải chăng hiện tượng Giác Minh hay viễn tượng nó ra như thế. Cuộc mơ hồ mãi diễn tấm tuồng lầm mơ, lúc đã lầm mơ, thời mãi lầm mơ phải tu cho tận cùng lầm mơ, sạch lầm mơ mới trở về Tự Tánh tự tánh vẫn chưa đủ, phải Tỏ Tánh Minh Tâm mới hay Chơn Thể Hư Không tận tận kiến diện Phật Tướng. Bồ Tát phát tâm dũng mãnh, tu nơi Tâm dũng mãnh, Tối Thắng vạn cảnh cách ngăn. Chí Không nhàm chán, năng lực bồi dưỡng thêm đến giai đoạn Trí Lực. Trí Lực là một Trí chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Trí này chịu đựng tất cả, tùy thuận tất cả, dung hòa tất cả, nhiếp thâu tất cả trưởng thành Nhất Thiết Trí.

Lại nữa: Trí Lực Công Đức Phẩm cúng dường Như Lai Phật. Trí Lực trải qua vô tận thế giới Đại Hải Trí thành đạt Nhất Thiết Trí. Trí Lực khó giải hết đặng, dù mang tất cả Tam Tạng Kinh để tán thán Công Đức Phẩm. Bồ Tát độ sanh trải qua hằng hà sa số kiếp, mỗi kiếp có Vô Lượng Công Đức thời Công Đức ấy nhiếp Trí, nhiếp Tuệ, sáng soi khắp Diệu Quang, Phổ Quang, hằng hà sa số Quang, thành đạt Năng Lực, Tìm Lực, Chủ Lực, Nhẫn Nại Lực, Bất Thối Chuyển Lực, Tận Tận vượt tầm bên kia lực mới có Nhất Thiết Lực tận tận hoàn Chánh Giác. Thiền Sư nhìn Hư Không tận tận cũng thế.

Thiền Sư nét mặt thay đổi theo chiều hướng. Ngài nói: Vạn Pháp hằng hà sa số vô biên trùm khắp nguồn mê mãi diễn bất tận, lúc đang lạc lõng lầm mê. Trí thời Đại Hải Vô Tận, Bậc tu Phật nhỏ bé tựa như con thuyền bé nhỏ trên biển Như Lai vô tận, làm thế nào giải thoát độ nhân sinh? Nếu sớm biết điên đảo viễn vong tu cầu mộng ảo về với Thành Thật Tâm. Thiết Tha Tâm cùng Thù Thắng Tâm. Ba Tâm cứu vãng chẳng biết bao nhiêu bậc Giải Thoát. Thế nào kết quả Thành Thật Tâm? Bậc tu thành thật với Thân Tâm mình, xây dựng Đức Trí, Phước Báo, Phước Thiện, Thiện Căn, Thiện Chí Nhất Tâm đảnh lễ. Miễn tâm tình phục vụ Thiện căn. Giúp đỡ mọi người không cầu báo, cứu vãng mọi người không cầu đáp. Lời ngay thật khuyên can, khuyến khích làm cho chẳng đoạn duyên Phật. Vì tất cả mọi lớp người hơn mình, miệt mài chu toàn, Công Đức Công Năng thật tu đối với tinh thần, xét lỗi lầm không lầm lỗi thành thử không kinh sợ phạm lỗi phạm giới. Thị chứng Hoan Hỷ Địa. Hoan Hỷ Địa Hành Thâm Pháp Giới ra vào Pháp Giới làm lợi ích chúng sanh không nhiễm giới, trải qua các thuận nghịch Tâm không kinh sợ, hoan hỷ vì Thiện Căn cứu giúp xây dựng cho tất cả lìa ngã, nương theo Vô Ngã để tu không làm tổn thương Công Đức, bồi dưỡng Công Đức Hồi Hướng Cúng Dường. Do lẽ ấy nên chi Cấu Ly là món ăn trong sạch Vô Ngại Đại Bi Tâm. Vì sao? Vì Thành Thật là Chơn Tâm, Vốn Chơn Thể vạn pháp, vạn pháp trong sạch, cấu ly, ly cấu đều trong sạch. Chỉ chưa trong sạch bởi Tâm Thức qua qua lại lại, dị biệt năng phân bị biệt lầm lẫn mê ngộ làm sao tĩnh giác? Bậc Hoan Hỷ Địa thâu nhận Tâm Địa Quán nơi chúng sanh, bậc này thường quán chúng Bình Đẳng, nhìn nhận nơi Bất Bình Đẳng đã lầm lạc chúng sanh. Tâm chưa thông vì năng sở chấp. Bậc Hoan Hỷ Địa, Tâm Hoan Hỷ, Tánh Hoan Hỷ, Thiện Căn Giác Trí Hoan Hỷ, thấu đạt Tự Tánh giao cảm Chơn Tâm? Vì sao? Vì Thành Thật Tâm, Thiết Tha Tâm Thù Thắng tất cả nên không có năng sở kiến tri thành thử không còn lấy một chấp.

Thiền Sư chống tay, bàn tay nâng lấy trán. Ngài gật gù nói: Chưa Thành Thật Tâm, làm sao thiết tha tâm? Đã không thiết tha làm chi có Thù Thắng? Ba điểm này là một khởi đầu Công Đức Phẩm, Công Đức Phẩm chưa có Thù Thắng Tâm thì Công Đức nọ trở thành Công Đức cầu Báo Phước Báo Nhân Thiên. Công Đức Hồi Hướng mới là Công Đức Thành Thật Thiết Tha cúng dường Như Lai Phật.

Thiền Sư nhìn theo cành cây, gió đẩy đưa, cành cây theo chiều gió đưa đẩy. Ngài nói: Con đường tu cầu Diệu Quả Bồ Đề, Tri Kiến Giải Thoát, tu không thể nào Tăng hay Giảm thiếu hoặc dư, cũng không thể nào ôm lấy hay vứt bỏ. Cũng như thiếu kém thời phải bổ sung, còn Tăng lên, đương nhiên giảm xuống, nó có qua có lại, có tới có lui, mới thông đặng con đường lui tới, tới lui. Tâm không nhàm chán sở đắc từ Nhân Địa, Thiên Quan, Nhãn Tịnh, Quân Minh Trực Ngộ. Bằng nghiên cứu, khảo cứu, viễn vọng, hoài vọng, lý trí đến cơ bản được gọi Đắc Chân Lý, không thể nào ôm ấp chỗ đắc ấy để đứng yên. Vì sao? Vì chân lý Vô Sở Đắc, chân lý con đường tu cầu, theo chân lý đến Chánh Giác nào phải chân lý hoàn toàn giác ngộ đâu? Gọi là không ôm lấy hay vứt bỏ, không bỏ cũng chẳng lấy. Nếu Tâm còn nghi ngờ, Trí chưa khoát đạt, thì phải Y Tôn Tam Tâm Công Đức Hồi Hướng, đến Bát Nhã Tâm kinh tu hành, chớ nên dừng trụ.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

12. THIỀN SƯ VỪA TĨNH TỌA

Thiền Sư vừa tĩnh tọa xong quang cảnh bên ngoài an nhiên tịch tịnh, hư không vô tận lặng lờ gió mây hòa đồng nơi không khí, pha lẫn vạn chất cây lá rừng reo, trở thành mùi hương vị thuốc trường sanh.

Thiền Sư đưa đôi mắt chung đồng, nở nụ cười thoải mái chào đón Vũ Trụ Tam Thiên, Ngài gật đầu in tuồng vừa giải xong cơn Đại Định Tổng Trì. Thiền Sư khẽ nói: Do Lầm Nên Hữu Hóa. Ta muốn kêu lên lời nhắc nhở với cố tri. Còn nghi phải tu cho sạch sẽ chỗ nghi. Còn chấp hãy bước lần cho sạch chấp. Chớ nên vì chấp mà đứng yên. Chớ vì chỗ nghi mà an trụ, cho đó là rỗng không vô ích. Đến giai đoạn tỏ rõ mới nhìn nhận vạn pháp diễn hóa, vốn thể như nhiên thành thử vạn pháp không sai hai tướng, mà Ta cùng chúng sanh đang lầm bị lạc, gánh chịu hai chữ Tín Mê đang đi theo Hữu Hóa ngộ nhận mới có lý sự trách ẩn dị phân mãi lầm sanh tử.

Bậc Đại Giác Chí Tôn Ngài đã tận tường, cái Mê không Gốc mà trái lại Có Nguồn, vì chúng sanh Hữu Ngã mà gây ra, nên ấn chỉ chúng sanh lìa ngã, nương vô ngã tầm Đại Chơn, nương theo trăm sông, lần về biển cả. Thiền Sư Ngài nói đến đây ra chiều suy ngẫm liền tự thán: Khó khăn thay trên con đường vào Chánh Giác. Ta đã từng trải qua bao nỗi khúc eo vô cùng tận, nay đạt đến Biển Cả khó phân như thế nào cho tất cả đang vật vờ nơi cơn mê chưa Hồi Tỉnh. Sức nơi Ta là sức Đại Dương. Còn công năng chúng sanh khác nào bọt trôi theo cơn sóng gió.

Ngài tự thán xong Thiền Sư đưa Chánh Niệm giao cảm Chư Phật mười phương rung chuyểnTam Thế Chư Phật đồng thọ ký lời huyết tâm Thiền Sư cảm ứng. Đâu đó xong xuôi, Thiền Sư giải nói: Này các Bậc Cố Tri Vĩ Nhân Đại Trí, tu cầu con đường song tu Hiện Giác, những vị này, chưa bao giờ được gặp nay gặp với Ta, bất cứ một nơi nào đáng kể, miễn nhận chân Minh Thuyết thực hành đó chính là cố tri nay gặp gỡ. Bằng gặp gỡ đương thời sống chung một mái, bê trễ ương hèn dù cho đọc tụng chăng vẫn chưa nhìn đặng Ta một ít nào cả. Thật phí thay, thật uổng thay cho một đời chưa gây tạo.

Thiền Sư nói tiếp: Con đường giải thoát phải tận gốc mới thấu nguồn mê. Từ thế gian đến xuất thế gian thảy đều là nguồn giải thoát, miễn nhận chân đặng liền lãnh lấy giải thoát môn. Bằng vu vơ chưa nhận khó vào biển cả của Đại Dương mà giải thoát.

Thế Nào Là Biển Cả Đại Dương Chúng Ta Phải Thâu Nhận Lầm Lẫn?

Từ một khởi sơ khai. Nhiếp thâu hoàn tất chẳng thiếu sót mảy may tận giác. Sự nhiếp thâu này lìa ngã cùng ngã sở chớ nặng nhẹ Thánh Phàm chớ vội vàng chấp nhận.

Thiền Sư khải niệm xong, Ngài hớp một hơi trà lúc bấy giờ Ngài hướng dẫn. Nầy các ông, các bậc cố tri nay Ta kể các vị cùng Ta hãy nhìn nơi Hư Không Vô Tận. Nhìn đến Sơn Hà Sông Núi đang chung sống cùng Ta. Bản thân Ta tìm phương giác ngộ. Tự tánh nơi Ta hóa giải chấp mê, diệt trừ bản ngã trên lý sự tu hành Ta cùng các ông dẫm nát, nó mãi kéo dài, có từng vạn triệu kiếp người, kiếp thiên tiên hay thọ sanh vào nơi các loài cầm thú, thăng trầm làm quỷ làm ma không dứt. Do đó nên chi mới có. Phật Thánh thường còn. Chúng sanh thường diễn, đến bao giờ chấm dứt giữa Phật với chúng sanh, tìm ngộ bị mê ở nơi mê thấy ngộ.

Lạ thay! Đứng Thánh tự tăng, ở vào phàm sa đọa. Khó khăn thay, tu tịnh vướng động tâm. Sửa sai lầm, sanh chứng tật.

Lạ lùng, khó khăn thay, lầm sai nên hữu hóa. Thân Tâm động vọng lệch sơn hà. Ngày nay Ta đã rõ làm thế nào phân tánh, vạch hướng cho tất cả bị lầm sai? Thiền Sư suy ngẫm đến đây Ngài nói:

Sơn Hà Đại Địa quả đất cỏ cây toàn diện như nhiên diễn hóa, sự diễn hóa này thuộc về Thể Tánh như nhiên tự hóa, do đó hòa hợp với tất cả chúng sanh Tứ Loài không sai chạy. Nó chẳng khác nào: Con trăng tròn chiếu sáng. Trăm kẻ nghìn người ai cũng công nhận con trăng gần mình hơn ai cả.

Khi vui nhìn cảnh cũng vui,
Lúc buồn cám cảnh sụt sùi tái tê.

Có người tự hỏi? Do Ta hay do Cảnh? Lắm bậc đã từng hiểu do tại nơi Ta. Nhưng chính Ta chẳng biết làm thế nào cho hơn cảnh tình ấy. Bậc khéo lượng, bậc này sẵn có đầy đủ trí thức cùng kiến thức, gọi là Tâm Đạo biết thương mình và thương mọi người, không lạm dụng không lừa dối mọi người hay áp dụng tình sanh cảnh, có thể nói đứng vào hàng quân tử.

Thiền Sư còn nhớ, có một độ xa xăm Ngài trực nghĩ. Ta phải thâu nhận lầm lẫn chính mình mà đào sâu vạn pháp. Ta phải tận khắp chu du cốt tận thấu duyên căn lầm mê cùng giác ngộ. Khi lầm sanh nơi Vũ Trụ với con người tỏ rõ con người cùng Vũ Trụ mới là giải thoát môn. Bằng tận thấu duyên căn Đại Ngộ nên chi Ngài nói:

Quả Đất hình thành nó vẫn từ mỗi một điểm nhỏ kết nạp hóa ra đầy đủ không thiếu sót mới thành hình quả đất. Bậc mê lầm phải tường tận duyên căn chung khắp khi mới sơ khai, đến giai đoạn kết nạp, lúc đã kết nạp đầy đủ tiềm năng, đầy đủ chất phẩm và trọng lượng, trái đất kia liền như nhiên hợp hóa sanh ra núi sông, cây cảnh. Diện núi sông biện minh ra địa giới địa hạt củng cố từng nơi, do tâm thức con người nơi thấp chỗ cao, tầm sâu hay nông cạn, từ nhỏ đến lớn như nhiên diễn hóa, có đầy đủ ý nhị khó giải hết nơi tập này trên văn tự trừ ra bậc có đầu óc rộng rãi cân đối mới tạm hiểu lời Ta nói mà thôi.

Khi bấy giờ. Thời quá khứ không thể nói thời ấy trải hằng bao nhiêu thế kỷ. Đức A Đề Phật là Vị Phật đầu tiên ra đời, cùng với quả đất hình thành tất cả cây cỏ núi sông, tứ loài sanh trưởng đầy đủ không thiếu sót. Thời bấy giờ, con người chỉ biết thân mạng mình giống con người, ngoài ra chưa hề có kỳ vọng chi cả. A Đề Phật ở tại khu rừng, Ngài kiểm chứng cây cỏ núi sông Sơn Hà Đại Địa mà Giác Ngộ.

Ngài nói: Tuyệt tác thay, thiên nhiên sơn hà cây cỏ trời mây với Ta là Một, hợp hóa đồng thanh tương ứng hiện giác. Thế mà con người ngỡ con người với sơn hà cây cỏ núi sông là Hai, thật sai lầm vô hạn.

Đức A Đề lúc bấy giờ Ngài sẵn có thể tánh đồng đẳng với Sơn Hà Vũ Trụ, nên chi thường nhập Chánh Định kiểm chứng bao quảng cùng khắp, Ngài nói: Mắt nhìn thấy Hư Không ta đặt thân mình vào tận Hư Không, Ta không còn thấy Hư Không mà tận thấu Hư Không là Giác Tướng. Ta ra vào vạn pháp Ta không nhiễm trước Ta chưa thấy vạn pháp diễn hóa ra sao, mà Ta thấy vạn pháp như nhiên diễn hóa, đó là Ta chứng thị như nhiên Thể Tánh vạn pháp.

Vạn pháp nó rất gần Ta, mà nó thật rất xa ta có hàng vạn triệu bá thiên dặm khi ta chưa nhận chân nó, lúc ta đang còn vướng vấp đảo điên do lầm nên hữu hóa, chỗ hữu hóa này có thể nói là Bị Hóa che mờ Thể Tánh Như Nhiên nên chi trực giác hơn Bị Giác là như thế.

Đối với Đức Bổn Sư Ngài biệt tài siêu đẳng chưa có vị Phật nào trải khắp chu du, kinh điển diễn đặng như thế. Tất cả những vị nào, từ đời nầy đến đời sau nương theo kinh pháp Ngài đặng giác ngộ, bằng hình thức không y kinh mà chẳng ly kinh thảy đều tu đạt Chứng Thị.

Thiền Sư vừa giải đến đây. Ngài đứng lên đi qua đi lại bảy lần tri ân Bổn Sư Chí Tôn Vô Thượng Ngài nói: Giờ đây con mới thấu. Không Sai. Không Đúng. Đều Đúng Mười Phương. Tận Tận Tường Tường chẳng vương, không vấp.

Hay thay, vi diệu thay. Con đường Bồ Tát Hạnh Nguyện, cao qúy thay Đại Nguyện phát tâm rộng rãi cao đẹp tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo mà Đức Chí Tôn ban bố Chư Bồ Tát phụng hành phải trải qua nhiều trở lực mới tận thấu Chân Như. Có đi vào cơn mê thực tiễn mới thâm nhập cái mê mà Giác Ngộ, có kiểm chứng thực hành mới nhận chân được do lầm vương nơi hữu hóa. Bằng dùng Sắc tự quán kiểm chứng hay thinh hương vị thứ kiểm chứng thảy đều sai biệt với Chánh Giác. Nếu đứng trước khuôn mẫu của mỗi một con người có Tướng Tốt, hoặc giả tướng xấu chưa hẳn đã tốt hay xấu. Hãy nhìn tinh hoa vận chuyển có thủ hay có xả. Bằng thủ nhiều liền dục Sắc, dục Thinh danh giả, dục Hương khoe tài, khoe đức, dục Vị ưa củng cố vị thứ thảy đều là con người giả danh nơi danh giả mà thủ.

Bằng xả nhiều là kẻ trôi sông tiêu cực mang lấy hư vô chẳng làm chi hữu ích, hai hạng con người nầy chưa hề hay biết sử dụng. Họ thảy đều quan niệm Thân Tâm lìa ngã cùng Ngã Sở, mà trái lại Thủ vẫn Ngã, Xả đều là Ngã. Chẳng khác nào Cấu chưa đặng mà Tịnh vẫn không xong.

Thiền Sư trầm ngâm in tuồng kiểm chứng, không khác mấy vị Đại Lương y, xem xét mạch lạc đặt viên thuốc cứu chữa bệnh mê lầm, làm cho con bệnh nhận chân may ra thấu nhận. Ngài nói những vị tốt nhất là Bậc Thủ để kiểm tra, Xả liền tha thứ, Thủ đặng sáng soi, Xả đặng trơn liền, nơi tinh hoa vận chuyển của những vị này đã từng thực hiện, từ thâm tâm cho đến ngoại giới liền lạc trơn tru nên chi hay nói: Ta Tha Thứ, Lỗi Lầm Cho Tất Cả. Ta Không Bao Giờ Lầm Lỗi. Bằng Ta chưa tha thứ Lỗi Lầm, Ta phải gánh chịu Lỗi Lầm.

Làm như thế, tu như vậy mới nhận thấu nơi Chúng Sanh Tánh bị lầm nên vạn pháp Hữu Hóa. Càng hữu hóa bao nhiêu lại càng sanh diệt bấy nhiêu. Bậc càng Hữu Hóa càng đi nơi sanh diệt của hữu hóa mà thân tâm sáng soi nhịp nhàng của hữu hóa vận chuyển tỏ ngộ, vận chuyển lưu hành nơi thể tánh nó, những bậc này đối với con đường Chánh Giác rất gần. Vì sao? Vì nương mãi hữu hóa tận thấu hữu hóa liền sở đắc Niết Bàn Không Hữu chẳng Vô mà Chánh Giác.

Thiền Sư Ngài nở một nụ cười. Ngài nhìn mặt đất trơn liền đã từng nuôi dưỡng trăm nghìn cây lá. Ngài nói: Lời Ta nói không bao giờ họ tin nơi Ta Chánh Giác. Tâm Ta trơn liền, ai đã hiểu đặng Lòng Ta. Ta thường nói: Ta Không bao giờ tiếc thân mạng thì tài sản vật dụng Ta nào có sá chi. Thân mạng Ta, Tài sản vật dụng Ta bảo toàn, chính ra Ta bảo toàn Quả Vị, Không dư thiếu trơn liền, thì vận chuyển lưu hành nào kém khuyết, toàn Thiện toàn Chốn Viên Dung chung khắp. Đây lời Ta nói tất cả những Vị như Ta thảy đều như thế cả.

Thiền Sư vừa nói đến đây. Ngài có vẻ mặt đăm chiêu, đương chiều suy nghĩ thầm nói: Nếu Ta nói tất cả con người đang lầm nên bị hữu hóa. Khi đảm phá hoặc hóa giải cho con người, thì gốc của con người toàn diện đang theo hữu hóa làm như thế nào tận gốc hữu hóa. Khi bấy giờ mới tận đặng nơi chốn thực tiễn thường còn biết sống và lẽ sống an nhiên không còn đúng sai hai chữ chạy vòng thay Chu Kỳ trái đất. Chính nó là một con đường thẳng. Không nhiễm hữu hóa, sáng soi tất cả sự việc lý trí của hữu hóa mà đạt thành căn bản chân lý thực tiễn. Tài liệu này không ngoài tài liệu Tam Tạng Kinh Điển mà Đức Bổn Sư đã từng hướng dẫn, nay được gọi là lời vàng Bảo Pháp cho con người và thế giới đang chiêm ngưỡng nghiên cứu chưa tận thấu tu đạt. Vạn Pháp Như Nhiên. Chúng Sanh hữu hóa lầm lạc, hai thái cực này nó mãi diễn. Chư Phật cùng Chư Bồ Tát đã dày công hóa độ. Khi chỉ thẳng chúng sanh tánh lãnh hội vòng quanh, lúc diễn giải Vòng Quanh lại có Bậc Trực Ngộ, cho nên lý sự mê ngộ nó chẳng có chừng nói nơi Văn Tự, điểm chính nơi nó chỉ có Công Năng đầy đủ Không Kém sót là hơn tất cả.

Thiền Sư nghĩ về Thiền Tôn. Ngài nói: Thiền về một Môn. Chân lý thực tiễn, chung gồm Hiển Giáo và Mật Tôn phát sanh Trí Tuệ, trí tuệ này có chỗ học mới biết, hay những điều chưa học như nhiên Năng Khiếu đặng biết. Những bậc Tu Thiền sai lệch chưa có Trí Tuệ, chưa hẳn đã là Bậc nhập lưu tu Thiền. Nói đến Chứng tri mà tu đạt tận cùng của Thiền Trí khó giải nơi văn tự. Vì sao? Vì Môn Thiền là một môn hỗ trợ công năng Đức Tánh nên chi Tâm truyền Tâm Liễu Ngộ Thiền Sư. Từ nơi nhìn nhận của Hiển Giáo và nhà Thiền Tông Không Khác mà thật khác thành thử Môn Thiền là môn chứng Đạo.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

11. NHÀ THIỀN SƯ HIỀN TRIẾT

Đến nay nhà Thiền Sư Hiền Triết, Thiền Sư đã từng dẫm nát, đã từng trải qua tứ phương năm hướng chung hợp Đạo Đời, Đời Đạo qua chẳng biết bao trở lực cùng tỏ rõ thế nhân, tự tạo lấy hiểu biết thật biết đến quá biết về với thân mạng, chẳng còn nói hai chữ hơn thua hay được mất, Nhà Thiền Sư Hiền Triết hay nghĩ đến hai câu:

Vết chân dẫm nát nhân Thiên Giới.
Lưu lại trần gian nửa đoạn đường.

Thiền Sư chẳng cầu tỏ, những gì về thoát lý, thoát chân, thoát vọng, thoát khởi, thoát tập, thoát nhiễm, những điều ấy đối với Thiền Sư thảy đều vô lý. Thiền Sư cũng không lấy chi làm lạ, chỗ tư tưởng suy diễn luận diễn, kiểm chứng hay quán chúng soi, điều hành vọng hoặc phân chia tỉnh nơi thân mạng, trí hóa soi, hàng ngày, dù cho Thiền Sư không bao giờ khởi nó vẫn Dụng chưa bao giờ Muốn nó vốn Hành những điểm này quá ư quen thuộc đối với Thiền Sư.

Vì sao? Vì đúng thời khóa, nó vẫn Thoát, đúng lúc an nhiên nó lại Suy... Đúng nơi hợp hóa nó Tự Quán sáng soi. Còn nơi phân chia tĩnh Tọa suy ngẫm chân nguyên mục đích nơi Thiền Sư nói lên lời cao đẹp, vạch rõ đường lối Chí Tôn Phật Thế, lúc Chí Tôn còn tại thế đã thuyết minh mà tất cả chưa hiểu đặng làm cho cán cân tu học chênh lệch hai bên, mất chân giá trị bảo pháp lời vàng tâm huyết.

Thiền Sư đã từng Trực Giác Tự Ngộ, nó không có chứng từ ngôn thuyết, nó tận thấu lời Chí Tôn trải qua ghi chép Tam Tạng Kinh Điển, không thiếu sót dư thừa vẹn vừa từng lớp lớp tu học. Kinh điển này có hai điều cần phải nhắc nhở cho tất cả những bậc tín tâm tu học. Thứ nhất kinh pháp phải mãi luôn theo Chư Vị Bồ Tát cốt nhắc nhở, thứ hai đưa đón những bậc phát tâm. Do hai điểm trên mà Thiền Sư ưa thích nhất. Ngoài ra Thiền Sư chưa bao giờ thêm bớt đường hướng Chí Tôn. Thành thử Tĩnh Tọa suy ngẫm không ngoài chân nguyên chủ đích nơi Thiền Sư cả.

Sự quen thuộc, quá ư quen thuộc đối với Thiền Sư. Mỗi buổi sáng tinh sương, Ngài ngồi bên dòng suối, an nhiên thanh thoát, kiểm chứng Tổng Trì tất cả, cùng tất cả, kiểm nhận Ngài đã từng qua những khúc eo nào trên con đường tu hành. Lúc khai hoang đặng, Thiền Sư miệng lẩm bẩm tán thán, có khi Ngài xoa đầu đập vế vun vai in tuồng nắm bắt bảo châu ngọc bích. Có một hôm Thiền Sư đứng lên đi vòng bảy vòng dọc ngang bờ suối, Ngài bước trên từng tảng đá hình trăm voi, xong đâu đấy tĩnh toạ an nhiên kiểm trì con đường Trung Đạo.

Thiền Sư tĩnh tọa rất lâu, khuôn mặt Ngài thay đổi từng lúc, có khi Ngài gật đầu hay mỉm cười in tuồng thỏa thích, Ngài nói: Tuyệt tác thay, an lành thay Chí Tôn Vô Thượng. Kể cả hàng bá thiên vạn triệu thế kỷ, cho đến ngày nay. Thế giới với con người sống trên mặt đất liền, cho đến Tiên Thần Thánh Hóa hay Thánh Triết Thánh Nhân, hoặc nhà Tiên Tri Vĩ Đại lần lượt ra đời, ngự trị đời chẳng biết bao thời cuộc đổi thay, thay đổi di chuyển không ngừng bấy ai là Bậc Nhân Thập Toàn, từ nơi ưu hoặc khuyết nó không ngoài Tương Đối Có Không là hai con đường lựa chọn mãi miết đổi theo xây lâu đài mộng đẹp trên lối sống tương sanh con đường tương đối, cho là được mất có không vinh dự, thật đáng buồn cười thay hư vọng?

Thiền Sư suy tưởng đến đây châu mày nói: kẻ ngu xuẩn nhất chính Ta. Kẻ hư vọng tham cầu mang Phật Đạo vào con đường lệch lạc mà công nhận tu cầu giải thoát môn. Ta hiếu kỳ lựa chọn một trong hai điểm Thanh Thô Thiện Ác. Ta ngỡ Thanh là Phật Đạo. Thiện tạo Giác Chân tu lấy một chiều, còn một hướng ta đành vứt bỏ, may mắn thay, nếu ta huân tập nung đúc Thiện Căn. Ta phải lầm tu nơi Phước Báo. Bằng không nhận thanh hương có lẽ lúc hình thành sa vào Tiên Đạo thì sao? Tuyệt tác thay. Hôm nay mới thâu nhận con đường Trung Đạo Tôn chính một con đường duy nhất, thâu nhận tất cả hai bên. Thiện ác có không mới tu đạt tuyệt đối thoát khỏi tương sanh mới điều hòa không chênh lệch. Té ra Phật Đạo tâm chí dung thông, tương đối chốn lầm than, tuyệt đối nơi giải thoát lành mạnh khỏi dị phân nào ngăn cách dị biệt nơi kinh điển đường Trung Đạo mà Đức Thế Tôn đã ấn chỉ trong thời hiền kiếp, đường hướng chỉ đạo cho tín chúng phải thực hiện hai bên, phải đồng hóa tương đối mà sở đắc tuyệt đối mới mong Giác Ngộ. Nó cách xa Bá Thiên Vạn Triệu thế kỷ trước, nó gần nhất đối với thế kỷ hai mươi này, thế mà chính ta đã lầm lẫn, thời làm sao các bậc tu hành tránh khỏi sự lầm lạc như Ta?

Thiền Sư suy ngẫm đến đây, Ngài thở dài nhìn bóng cây ngã bóng, Thiền Sư đứng lên bước đi từng bước một, Ngài nói: Ta ngu, chắc hẳn từ vô thủy đến nay tất cả con người thảy đều ngu hết, cho đến Chư Tiên Thiên vẫn phải mờ mê, dù có nói ra tất cả thảy đều cho Ta là kẻ đi chăn bò thuê mướn, cổ truyền Phật Đạo, nào có ngờ đâu. Đức Thế Tôn cùng Ta có một chí nguyện cứu vãng quần sanh hãy tu vào con đường Trung Đạo đoạt lấy tuyệt đối tương đồng mà chung hoàn Chánh Giác.

Thiền Sư suy ngẫm đến đây Ngài bèn chỉnh đốn y áo, quay mặt hướng Đông lễ bái bảy lần, Ngài âm thầm thưa gởi: Bạch Thế Tôn Vô Thượng, Ngài chính Bậc Chí Tôn vuông tròn chung khắp, đồng đẳng bá thiên vạn triệu, bá thiên vạn hạnh, vô lượng vô biên Công Đức Phật về với Đẳng Đẳng Tôn Chánh Giác, do đó cho nên dưới mắt Phật thảy đều đồng đẳng Như Lai, vô phân biệt tính, vô thọ chủng lai, vô hoàn thể giác, vô xứ xứ trụ, nay con xin kiểm chứng thừa lệnh thuyết minh, giúp đời nầy, đời sau nương Trung Đạo Tôn tu đoạt Giác Chân trùm khắp.

Cao quý thay dưới mắt Phật đồng đẳng quân minh bậc chánh giác là bậc toàn diện Chư Phật hiện toàn thân, từ một hơi thở cho đến lời vàng minh thuyết thảy đều hiện Phật đều xưng tán sát na vi trần Phật, không còn hai tướng, chẳng có chỗ kiểm chứng hai bên, Ngài còn ấn chỉ nơi kinh pháp vạn Hiệu Vạn Phật.

May thay Ta thực hiện hòa hợp, thực hành tự quán qua nhiều trở ngại nhiếp thu tu cầu Giác Tướng về với Như Tướng viễn thông, tận thấu mà tường tận Pháp Thân tỏ rõ nguồn phát hiện thị hiện sát na Phật, vi trần Phật, thanh quang Huỳnh Quang Phật. Mỗi Chư Vị thị hiện thảy đều do Công Đức vô lượng nơi Ta, chính Ta không ngoài ai là bậc đã xây dựng cho Ta, nếu đời này hoặc giả đời sau, lãnh hội đặng lời Ta đã nói trên, thực hành tự lực cùng tha lực, tự lợi và tha lợi đồng đẳng sự việc Chư Phật đã làm nay Ta phải làm, Chư Phật đã khai hoang đường hướng cho Ta, nay Ta phải có nhiệm vụ tha lợi cho những bậc khác, để báo ân Tam Thế Phật, gọi là tự độ cùng tha độ.

Thiền Sư vừa nói đến đây. Ngài ngửa mặt nhìn hư không in tuồng bày tỏ, sự lạc lỏng nhận chân với con đường tri kiến quá khó, mỗi một quan niệm nhỏ sai, xa xăm vạn dặm cách biệt nhau với con đường giải thoát vô tận cùng, duy nhất chỉ có hóa giải nương theo Trung Đạo bước lần Từ Bi Hỷ Xả liền trơn. Được mất không mừng hoặc buồn khổ, hơn thua chẳng lấy đó làm chứng từ. Có hay không xem đó nó đã từng lai vãng. Thuận nghịch do lòng mong muốn quan niệm mà ra, phải trái chưa hợp tình chưa hợp lý với mỗi con người. Ta thật biết, còn biết hơn dòng đời trôi dạt, các bậc tu hành hay phân đối mà mãi mãi không xong chạy theo hàng Nhị Thừa Tu chứng làm thế nào để minh tỏ con đường Trung Đạo Nhất Tôn, sở đắc Pháp Thân vẹn toàn Chánh Giác? Dù Ta có kêu gọi khuyến tu có hàng vạn lời kêu gọi, nó chẳng khác nào Tam Tạng Kinh Điển lời vàng Vô Thượng Chí Tôn đã từng phơi bày hơn hai nghìn năm mấy ai đã xem đến?

Thiền Sư Hiền Triết vừa suy ngẫm thuyết minh xong quay về chòi lá, dòng suối đá với trăm hình con voi êm lặng, sỏi đá lôm chôm cây rừng mát mẻ, ánh nắng vàng rạng rỡ lá rừng phe phẩy như chào đón Thiền Sư.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

10. BẠCH THƯỢNG SƯ TRƯỚC KIA CHÚNG CON CHƯA RÕ VÔ MINH

Bạch Thượng Sư, trước kia chúng con chưa rõ vô minh. Nay nhờ Thượng Sư ấn chỉ bổn phận thân mạng nơi chúng con phải thực tiễn, phải tận lực, phải sáng soi các căn nghiệp phân đối, ngăn cản để lướt qua từng giai đoạn ngăn chấp nghi ngờ dị biệt, từ lúc nay chưa đặng nghe, hiện giờ đặng nghe, những điều từ khi nay chưa bao giờ biết nay thực biết, còn những gì chưa biết, mà cứ mãi thờ ơ lười trễ, tâm chí phân vân, nghi ngờ bỡ ngỡ đó chính là vô minh. Té ra vô minh là chưa tỏ, té ra vô minh là chưa biết cùng chưa nhận chân đặng, nói xong đồng an tọa.

Thượng Sư lặng thinh. Ngài nói: Khá khen các ông biết nhận chân lời khai thị. Lời nhận nầy khó diễn nói chỗ nhận chân, cạn sâu tùy mức độ sanh của mỗi vị, mà thâu nhận, vì sao? Vì nó chẳng khác người buôn ngọc, người buôn ngọc này buôn lâu năm từng trải. Khi gặp đến Ta, được Ta cho viên ngọc, thời người này nhận chân giá trị viên ngọc bảo châu vui mừng vô kể. Bằng kẻ chưa bao giờ thấy ngọc nay Ta đưa viên ngọc, kẻ ấy tâm chí đang còn phân vân, chưa quyết định nó là viên ngọc, thì làm sao sử dụng ngọc Bảo Châu? Đối với nhận chân lời khai thị ngộ nhập nó cũng như thế, lời khai thị Phật thừa không hẳn lời nhiều hay ít, sự giác ngộ nhận chân vi diệu vô cùng, bậc Đại Thặng đã từng thoát sanh qua từng lớp, chỉ mỗi một khẽ động đơn sơ liền tiếp nhận viên thông. Còn những kẻ xuẩn ngu dù giảng giải trăm kiếp chưa bao giờ tỉnh ngộ. Thời Đức Thế Tôn còn tại thế. Ngài đưa cành hoa. Ma Ha Ca Diếp mỉm cười sở đắc Thực tướng Vô tướng Tam Muội Pháp Môn thì sao?

Thượng Sư vừa dứt tiếng. Hàng Ma Ha Tát đứng lên tán thán, hay thay cao qúi thay. Bổn phận và trách nhiệm, Phật với chúng sanh, tu học Phật Pháp và Pháp Phật mà chưa thấu Duyên Căn nơi thân tâm hóa giải chúng sanh rốt ráo giai thành Phật Đạo, thì dù cho có tu vạn kiếp vốn thật ngoài da, chưa hề phá tan vô minh đang lộn vòng theo Pháp Giới thọ chấp, nương trong Pháp Giới cầu lấy hư vị được mất tốt xấu làm của mình, trưởng thành chúng sanh giới. Chúng con đã từng bước qua, đã từng trải qua. Nhưng ngược lại chúng con chưa hề hay biết, nay đặng Thượng Sư khai hoang, chúng con đã từng tu tập Bát Nhã, soi tận Pháp Giới thâm nhập Pháp Giới là một vòng đai sanh tử luân hồi, nhưng chưa hề hay biết toàn thân của chúng con đều mang tất cả chúng sanh giới, bị giới ấy nó đè nén bao phủ nên chi chúng con dù cho thật tỏ, thật biết, thật khôn ngoan như Phật mà chưa tận thấu bằng Phật, là một duyên căn khó tỏ bày. Nói xong đồng ngồi xuống vị trí.

Thượng Sư Thiền Sư, nhìn hàng Ma Ha Tát sáng tươi bình dị, nhìn hàng Bồ Tát trang nghiêm dũng mãnh, nhìn hàng Hộ Pháp cương nghị bất chuyển, nhìn Chư Thiên uy nghi cương trực, nhìn đến lớp lớp hiền từ, toàn diện thứ lớp đều sạch sẽ.

Thượng Tọa nói: Khi chúng sanh giới điều động thể hiện Thân hình Thân Mạng của các ông phải chấp hành theo giới nó từ Lý đến Sự, từ Trí Tuệ đến Hạnh Nguyện phải tùy theo mức độ mà khai trương hiểu biết. Sự hiểu biết kia không ngoài giới mà biết, các ông chưa bao giờ quá tầm hiểu biết của Giới. Nó không khác Cái Thấy đang nằm trong Cái Thấy chưa bao giờ hiểu biết lý sự lầm lạc nơi mình. Chừng nào tận độ chúng sanh giới, vượt tầm Giới ra ngoài cái thấy mới thấy đặng lầm lạc đó là một lẽ Như Nhiên, nhờ gia công tu hành mới nhận thấy.

Các ông cũng nên biết, trách nhiệm Chư Phật khai hoang trực chỉ nơi Tam Tạng Kinh Điển, rất có giá trị vô cùng toàn diện lời kinh thảy đều đưa các ông về với Chân Tôn Chánh Giác, bản chất lời vàng của Chí Tôn Vô Thượng giải các ông sạch nghiệp dung thông tận độ chúng sanh hoàn toàn giải thoát, chỉ vì các bậc tu hành chưa chịu thực hành do đó nên chưa bao giờ nhận đặng kết quả chỗ đến và chốn về của Bảo Pháp.

1. THẾ NÀO LÀ CHỔ ĐẾN CHỐN VỀ ?

Thượng Tọa Thiền Sư hỏi đến đây, liền có hào quang Huỳnh và Bạch Quang, từ đỉnh đầu phát hiện chạy vòng quanh bảy vòng chung quanh Thượng Tọa, xong đâu đấy địa chấn đất chuyển, các vị như Sơn Thần, Địa Thần, A Tu La Thần, Tứ Bộ Thần ứng trực lễ bái Thượng Tọa gật đầu nói tiếp.

Nầy các ông. Như kẻ làm công kia, còn được phú nông cho dùng hai bữa cơm và ba chén thóc trong mỗi một ngày thay, huống hồ chi các ông gia công tu hành, cố công tu tập và tu trì, từng pháp môn Chư Phật đã để sẵn mà chẳng hưởng đặng chi sao? đó là những điều phi lý, quá ư phi lý của kẻ xuẩn chưa nhận chân đó thôi.

Các ông hãy nghe đây: Thế nào là tu chỗ đến, chốn về với Giác Tướng tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo? Hãy nghe đây nhận lấy lời chân thật. Nơi pháp môn Tứ Nhiếp Pháp, Đồng Hành Nhiếp, Đồng Sự Nhiếp, Bố Thí Nhiếp, Vị Tha Nhiếp cho đến Lục Ba La như: Bố Thí, Trì Giới, Nhẩn Nhục đến Trí Tuệ về với Thiền Định Giác Trí gọi nó là Thiền Trí.

2. NƠI THIỀN TRÍ NHƯ THẾ NÀO ?

Thiền Trí là một căn bản Nhiếp Thâu Đồng Hành, Đồng Sự nhiếp tỏ thấu nghiệp chủng, nghiệp căn, nghiệp lậu, của bậc Đồng Đạo của thân hữu gia tộc cùng với thân mạng mình, có khi dùng Bố Thí cảm hóa nhiếp, lúc vị tha độ nhiếp. Tu như thế, đạt như vậy mới là một chốn đến giác chân. Bằng đồng hành, đồng sự hơn thua soi bói chỉ trích hơn thua, cạnh tranh thù ghét, thời chưa bao giờ có chỗ đến cùng chốn về. Tứ Nhiếp pháp, đồng hành, đồng sự để hành động cho có bạn đồng hành vui cười làm lối sống, đó gọi là tu Phật Pháp với Pháp Phật mà thôi, chưa đặng về với Giác Chân con đường giải thoát.

Thượng Tọa lặng lẽ, nhìn lớp lớp yên lặng thọ trì. Ngài nói tiếp: Đó là bốn bộ nhiếp thâu đồng hòa tỏ ngộ. Còn lại bốn bộ dung thông phá tan chướng ngại như Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục đến tu đạt Trí Tuệ Thiền Định.

Trí tuệ Thiền Định là một trí tuệ dung thông trùm khắp, chưa bao giờ có bộ óc địa phương thọ ngã riêng tư cho mình, thật biết thương mình cùng thương khắp thế gian xuất thế gian không còn chướng đối dị biệt, trí tuệ Thiền Định là một trí tuệ hướng thượng, trải khắp Tam Thiên đồng với Như Lai thề nguyện sự. Rất hiếm bậc làm đặng, đang còn thiếu khuyết tài trí. Pháp Thí và Vô Uý Thí nơi phẩm bố thí mà ra.

Trì giới đối với bậc Thiền Định đã từng tu Bát Nhã Ba La Mật Đa thời thịnh trọng quả vị, quan trọng Trí Tuệ và Đạo Hạnh chính mình, nên chi có hai điểm mà bậc trì giới nên làm ngoài hai điểm này chớ nên làm, thế nào là hai điểm nên làm? Một là thọ pháp lãnh hội lời khai thị nên làm. Hai nữa mặc nhiên không nói năng giải nói cho những kẻ thọ ngã, để bao quảng an nhiên quả vị chớ nên phá giới của những bậc củng cố đang trì giới thủ giới tu hành.

Tinh tấn kèm theo nhẫn nhục mới có Trí Tuệ căn bản sáng soi dung thông cùng khắp Thiền Định gọi là Định Tuệ.

Bằng tu thiền cốt phát sanh trí tuệ, chẳng bao giờ trí tuệ, dù cho có trí tuệ nơi thiền chăng vẫn là tập khởi, loạn sanh đảo điên, điên đảo theo hoài vọng, mộng tưởng gọi nó là trí tuệ chưa hẳn trí tuệ căn bản giải thoát nên nhớ lấy. Nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới hoặc bố thí củng cố thảy đều là bố thí, trì giới tinh tấn, nhẫn nhục tu cầu pháp môn phước báo chớ chưa phải là chốn đến Chân Tôn Giải Thoát. Các ông hãy thực hiện Ba La Mật Đa lìa nơi chỗ tu, đến nơi quả vị.

Khi bấy giờ hàng hàng lớp lớp thảy đều xưng tán, thảy đều nói năng bày tỏ những gì đã tu, những điểm nào sai biệt của từng lớp, từng thứ vị tu chứng mà chưa bao giờ từ bỏ, nay mới nhận chân đồng nói lên:

Bạch Thượng Tọa Thiền Sư. Từ lúc nay chúng con ngỡ là nghiệp, tưởng là vô minh nào ngờ chúng con chưa chịu thực hiện tu hành các pháp môn ấn chứng của Phật, miệng chúng con đọc tụng Tín Hạnh Nguyện mà chưa hẳn là tín hạnh nguyện, ý chúng con nói Bi Trí Dũng, Giới Định Tuệ mà ngơ ngẩn chưa thi hành đúng với con đường Chí Tôn hướng dẫn, đa phần tưởng niệm, đa số đào sâu các pháp, hóa giải nghi chấp đưa đến chỗ chấp nghi tâm sanh đồ chúng. Hôm nay thượng sư khai thị chúng con trực ngộ mới hay, trên con đường tu tập, tất cả pháp môn thảy đều nhiếp thu, cho đến Đạo Tràng nghiêm túc, thảy đều là phẩm trợ đạo, mới gọi tu là phương tiện giải thoát. Bằng mãi tu, mãi tập, mãi hành, mãi lý, mãi sự mà chưa thực hành Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa cốt thâm nhập về với chốn độ chúng sanh làm sao tận thành Phật Đạo, hiện giờ chúng con mới thật rõ lời Phật Nguyện khai hoang rằng: Độ hết chúng sanh Ta mới nhập Niết Bàn. Bằng còn mỗi một chúng sanh thề chưa nhập Niết Bàn.

Các hàng vừa dứt tiếng, thời hàng Bồ Tát Ma Ha Tát xưng tán, hay thay cao quý thay. Chư Phật khéo hướng dẫn, Thượng Toạ Đại Sư khéo khai hoang con đường Ba La Mật Đa thâu gồm tất cả các pháp môn trở về với Tận Độ chúng sanh. Chính ba la mật đa là mạch lạc trơn liền trăm sông trở về biển giác, chính thực hiện toàn diện pháp môn là biết công dụng Bảo Pháp giải tỏa tất cả căn bệnh mê lầm sạch sẽ trơn liền, đời này và đời sau, nên nương theo lời khai hoang trực chỉ này mà sở đắc.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1985,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

9. TRÍ HOÁ LÀ CHÚNG SANH VỌNG TƯỞNG ĐIÊN ĐẢO

Trí hóa là chúng sanh vọng tưởng điên đảo. Sống theo cuộc sống đảo điên. Phật đạo nói từ nơi khởi điểm rằng: Trùng trùng duyên khởi diệt sanh, sanh diệt.

Trí hóa là một nguồn phát huy, từ nơi thân mạng con người, nói chung lại là nguồn phát triển chung khắp vũ trụ Tam Thiên Thế Giới, nó nâng cao đời sống nhân loại trưởng thành khôn ngoan linh động trong các ngành như khoa học kỹ thuật, các nghề nghiệp, các bác sĩ, kỹ sư, cho đến Bác học trong thế kỷ hai mươi này đang nhìn thấy, trên nguồn hiện sanh của thế giới không ngoài Trí Hóa mà ra.

Trí Hóa hiện sinh chưa hẳn con người học hỏi mà nó phát huy mạnh, nó do nơi Thiền Sư đầu não riêng của mỗi người mà phát huy mỗi lối, có hàng bá thiên vạn người liền có bá thiên vạn trí hóa, nó khắc khe thay Đồng với Bất Đồng là một hiện tượng khó phân tách ra được.

Phần Trí Hóa đối với Nhân sinh, Thiên sanh, Tiên hóa chung khắp vũ trụ Tam Thiên là một điểm chính của Tứ Loài, thành thử vũ trụ tam thiên phải bị sống nhị nguyên phân đối sướng khổ khác nhau, được mất có không chưa bao giờ thoải mái. Vì sao? Vì Trí Hóa nó lại tùy thuộc bản chất của mỗi con người phát sanh trí hóa, dù cho Bác sĩ, Kỹ sư, Bác học cho đến tầng lớp không ngoài Tứ Đồ là điều khó giải. Tứ Đồ là đạo đức hay phi đạo đức. Hung cường hay Mưu Sĩ Đồng mà khó giải. Phật đạo cho Trí Hóa chính nguồn Điên Đảo hóa nên mới nói: Tất cả hư vọng đảo điên.

Do đó nên chi con người bước vào con đường đạo Phật, trước tiên hỷ xả tất cả các sự việc trong thân tâm mình, dọn cho sạch sẽ trí hóa, Nhất Tâm đảnh lễ chiêm ngưỡng lễ bái Phật, nương theo ngôi Tam Bảo tu hành theo đạo lý và giáo lý làm nền tảng Cải Hóa Giải Nghiệp.

Những bậc tu hành, các bậc tu hành tùy theo tín ngưỡng, tùy trọng lượng bản năng đường hướng suy tưởng mà phát hiện trí hóa chia ra nhiều lớp mà tu hành, cho nên cùng một quyển kinh, một lời Phật dạy mà nơi hiểu biết khác nhau trong con đường tu tập, nguyên do trí hóa quan niệm của mỗi vị xuất phát từ nơi thân mạng.

Khi Sở Đắc Không Còn Phải Dùng Trí Nữa. Vì sao? Vì trí tuệ vị trí trong căn bản trí hóa, thuộc về tư tưởng phát sanh, Phật Đạo gọi là bản ngã giả tướng.

Lúc bấy giờ Thượng Tọa Thiền Sư nhập Chánh định, ngay trên chiếc chõng ngoài vòng trời, mây ngưng gió vừa thoang thoảng, gồm tất cả ánh quang rạng sáng bên ngoài thị hiện Long Xa, Càng Cát, Bửu Châu, Lọng Phướng pha lẫn nhạc Trời, Chư Thiên tề tựu, hàng hộ pháp chỉnh tề, Chư Bồ Tát đủ mặt, trong hàng Bồ Tát Ma Ha Tát cận kề lãnh giáo, Chư Bồ Tát, Hộ Pháp thọ trì phụng giáo, ngoài ra có hàng chưa bao giờ nghe đặng, nay đặng nghe, thêm vào đó có bậc nương theo công đức để mà nghe, xưng tán sự khai thị vào con đường Nhất Tôn tu tập, đồng nhau ứng trực, đồng nhau nhất tâm tu cầu giải thoát.

Thượng tọa an nhiên, phóng Cửu Quang từ đỉnh đầu, lần lượt Cữu Quang tỏa khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, vũ trụ rồng người, hàng hàng lớp lớp rải hoa chào đón lời khai hoang trực chỉ. Xong đâu đấy Ngài thâu hồi Cửu Quang đồng hóa Thường Tịch Quang. Ngài ngồi an tọa, nhìn khắp các hàng đang ứng trực thỉnh giáo. Thượng Tọa Thiền Sư xuất định từ Thường Tịch Quang công bố:

Nầy tất cả Thượng Sanh Vương Giả Chư Thiên Tam Giới đến các hàng Bồ Tát tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo, cho đến các hàng hàng lớp lớp Hộ Pháp thọ trì, Chư Tiên hưởng phước, kể cả phàm phu nhân thế, đến Càng Cát Long Xa dù cho có dũng mãnh trang nghiêm hay cứu độ tận độ muôn ngàn thế giới thọ lãnh bảo châu chăng vẫn chưa bao giờ hay biết vạn lối độ sanh như thế nào ứng dụng, chưa bao giờ hay đặng Chư Phật đã làm gì, chúng sanh cầu báo nó ra sao mà đi vào con đường giải thoát độ sanh giai thành Phật Đạo.

Nầy tất cả Vương Giả cùng Chư Bồ Tát lớp lớp hàng hàng Hộ Pháp, Hộ Pháp Bồ Tát, trước khi Ta công bố hữu lợi cho các ông, ích lợi cho các vị đời nầy đến đời sau khỏi còn nhọc sức tốn công Chư Phật, làm sáng tỏ lối đi cho tất cả những bậc tín tâm tu cầu giải thoát. Ta đã trang nghiêm sử dụng hạnh, nghiêm túc ngôn, phổ thỉnh Chư Phật mười phương, nêu rõ lời khai hoang lưu lại thời nầy cùng thời sau, làm cho tất cả rõ biết, rõ thấu rõ tận chính thân tâm mình phải có bổn phận tự độ lấy mình gọi là Độ Sanh, ngoài ra nhiệm vụ của Chư Phật, cương vị Phật có khai hoang vạch lối, để cho các bậc tu đạt, thấu đạt, tận đạt lời khai thị trực ngôn mà giác ngộ.

Thật cao quý thay lời công bố của Thượng Sư Ngài trực chỉ khai hoang. Các bậc tu hành, phải tỏ ngộ chính bản thân mình phải bồi dưỡng chuyên chính lo tận độ chúng sanh, chớ Tam Tạng Kinh Điển chỉ khai thị là trọng trách Chư Phật đang làm cùng đã làm, nay các bậc tu cầu giải thoát, rất cần giải thoát chúng sanh chưa giải thoát thời bậc tu lần theo vết chân để giải thoát căn nghiệp, cấu nghiệp, giải thoát vô minh.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1985,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

8. KỶ NIỆM NGÀY KHAI NGUYÊN PHÁP TẠNG, 12-1 BÍNH DẦN, 1986

Thiền Sư đang ngồi trên chiếc chỏng tre, đôi mắt nhìn ra khu rừng đầy cây cối. Buổi sáng hôm nay Ngài tỉnh táo mặt tươi nhuận, in tuồng nghĩ ngợi hân hoan những gì nơi Ngài mà Ngài sắp nói, chỉ lẩm bẩm nơi miệng còn tám hôm đến ngày Sinh Nhật, gần mười bốn ngày Tết Nguyên Đán đầu xuân,Ta thực dụng đã sáu mươi bảy năm nhanh chóng thật.

Thiền Sư mang đôi hài, bước khỏi chõng tre, ngồi vào chiếc ghế, bẻ cành củi khô, viết dưới mặt đất! Phật. Phật nói Phật nghe, chúng sanh chỉ nghe, chúng sanh lại tự ý nói. Thiền Sư viết xong cười xòa, Ngài tiếp. Chưa bao giờ chúng sanh lãnh hội đặng lời Phật nói, vì chúng sanh quan điểm,

Phật nói đều là lời Phật Giới. Chúng sanh đang nghe chỗ nghe kia đều là nơi nghe giới sanh, làm thế nào nhận lãnh để nghe lời Phật nói?

Lạ thay! đối với Phật Ngài luôn luôn giải Giới bởi chúng sanh giới lầm mê, do đó mới hóa giải mọi bề, trái lại chúng sanh thêm mê mọi cách, cho nên thường nhiễm dơ sạch, sạch dơ, tốt sanh xấu diệt, do đó Phật tận thấu từng cơn, cho đến chừng nào trơn liền mới cảm thông lời Phật nói.

Khó khăn thay cho sự lầm mê vòng đai Pháp Giới, di chuyển linh động làm sinh chúng nhiều kiếp thọ sanh, đối với thân mạng Ta phải lên xuống thăng trầm mới tận tường Pháp Giới tỉ mỉ Diện mục Bổn lai từng lớp lớp. Nhiều khi Ta nghĩ lại, nhiều lúc phải phân vân, chúng sanh nó tuy gần, nhưng tuyệt tình xa vời vợi. Ta không còn nói năng hay chờ đợi. Tận dụng thể chân phát hành Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng, chính tình lời chỉ thẳng trực chỉ tận Giáo Ngôn mong mang đến chốn trường tồn để tri ân Tam Thế Phật. Thiền sư nói đến đây, Ngài nhìn vùng mây trải nhìn lại lá vàng rơi nhìn đời sau Tận Thế, Ngài bèn vỗ vế đứng dậy xoa tay, châu mày nghĩ ngợi, Ngài đến chiếc chõng nằm dài chưa dám nói.

Bỗng bên ngoài con bướm bay thẳng vào nhà, bướm chưa biết lối ra, còn đang bay qua bay lại. Thiền Sư nhìn nói, nở nụ cười tươi, Ngài nói: Nầy bướm, chính mày là Pháp Giới, mày có giới hai cánh bay, có giới đôi lông mày, sáu chân mày đều là Giới. Bổn Lai Diện Mục bay lên đáp xuống, thực dụng những mật hoa. Vì kiếp mi đậm đà xinh xắn, do hoa nở sinh, Ngài đứng lên cầm chiếc quạt giấy, đưa bướm bay bổng ra ngoài.

Đối với Thiền Sư Ngài thường nghĩ về vấn đề Pháp Giới. Ngài bước đi trên thảm cỏ xanh, nhìn lại bàn chân của Ngài đã có sẵn từng Giới cùng với Thị Danh nào là Thị Danh ngón cái, ngón giữa, cùng ngón út, bàn chân, gót chân, mỗi mỗi đều là Giới cùng thị danh cả. Ngài nhớ lại Kim Cang Kinh, lời dạy của Như Lai. Nó chẳng phải là: Thế Giới nhưng thị danh Thế Giới, Ngài so lại. Nó chẳng phải là: Ngón tay ngón chân đầu cổ tai họng, nhưng thị danh nơi nó là ngón tay ngón chân đầu cổ tai họng. Bướm kia nó cũng đầy đủ giới cũng vẫn có thị danh.

Thật hay thay cho thị danh danh giả để cho nhân sinh tứ loài nương nơi đó mà giao cảm nhau trong một nước con người với con người đồng hiểu biết từ ngữ ngôn ngữ nhau. Đứng nơi thị danh Pháp Giới thời từ hoàn cầu thế giới nó có quyết định như nhau, tuy vốn thị danh nhưng thị danh chung kết đều giới. Đến giai đoạn tỏ Giới thời nhận chân là: Nó chẳng phải Pháp Giới, Thị danh là Pháp Giới, chính thật Pháp Giới. Cũng như nó chẳng phải là thế giới, nhưng thị danh thế giới, thật là thế giới.

Thiền Sư đã qua từng khúc eo Pháp Giới. Từ nơi Tâm Chí Quán Chúng của Ngài. Tạng Thức sáng soi ý thức, trưởng thành Pháp Giới, do ý thức cố thủ nên gọi nó là Nghiệp Thức, bằng ý thức không thủ thời như nhiên vạn pháp diễn hành từ pháp nầy đến pháp kia, chẳng có chi gọi là Pháp Giới. Trường hợp nầy, Thiền Sư đã từng trải qua, chỉ vì nương nhờ Tâm Chí mà soi tỏ đặng bằng chưa đến mức độ công dụng tâm trí thì chưa bao giờ tỏ rõ Pháp Giới cùng Nghiệp do đâu mà phát sanh. Vì sao? Vì đa số, cho đến những bậc tu đại tín thành, chưa có chí dũng thời toàn nương nơi Tâm Thức để tu.

Thiền Sư nói: Tâm Thức và Tâm Chí nó chỉ một thể mà hai lối dụng khác nhau. Tâm thức nó thao thức chuyển hình thành được gọi là Tâm Pháp chung một, thành thử tỏ Pháp liền tỏ Tâm, Tâm không ngoài Pháp. Nhưng Tâm kia bậc tu hành chưa có Chí Dũng trải qua các Pháp thì làm sao tỏ Pháp cùng Tâm? Bậc được dùng Tạng Thức để soi Nghiệp Thức chính là những bậc sẵn có Chí Dũng, Chí Dũng nương nhờ Công Đức mà có, chưa có Công Đức chưa phát sanh Chí Dũng.

Thiền Sư nghĩ lại. Vạn Pháp như huyễn, lướt qua khỏi nhìn lại mới nhận chân nơi huyễn của nó. Bằng đứng yên làm sao kiến tri cho đến chỗ huyễn thành Chân? Thiền Sư rất cần Bổ sung những điểm chi thiếu khuyết trên bước đường tu hơn là tu cầu tiến thân trong quả vị. Vì sao? Vì Chưa Bi Chí Dũng, chưa Tín Hạnh Nguyện thời làm thế nào, kết quả đặng chỗ Chánh Tín Chân Tôn hay Đạo Hạnh cao dày chỉnh trang Tịnh độ? Nếu chưa Nguyện thời làm như thế nào thu đoạt toàn năng trọng thành Ba Thân Viên Mãn?

Thiền Sư rất biết thật biết. Trí Bát Nhã viên dung, trên con đường tu hành nghiêm túc là một điều tối quan hệ cho tất cả những vị Đại Chí Đại Bi nương nơi Đại Nguyện mới thâu đạt phá vỡ Vòng Đai Pháp Giới. Bằng tu yên chờ đợi, tu lợi riêng mình, lặng thinh Tịnh Nghiệp ra vào chưa biết, cầu miết chẳng thông, chưa đồng bao giờ kết quả.

Vì sao nó như thế? Vì Pháp Giới duy nhất có một từ ngữ chung gồm bao phủ lầm mê. Nhưng nó lại có Ba lối phát hiện Pháp Giới. Tu đạt chung khắp gọi là Ba Thân Viên Mãn, bằng sai lệch thì khó khăn trở về Chánh Giác.

Bậc tu rất cần nhiếp thâu Ba lối là như thế?

THẾ NÀO LÀ BA LỐI NHIẾP THÂU?
– Một là: Tưởng Tưởng phát hiện Pháp Giới.
– Hai là: Hành Động Thuận Nghịch Pháp Giới
– Ba là: Nguyên Tướng Bất Diệt Pháp Giới.

Nguyên tướng Pháp Giới là hiện tướng Sơn Hà, Đại Địa, Tứ Loài cho đến cảnh giới các Cõi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Hoàn Cầu, nói chung hữu sắc hữu giới, hữu ngôn hữu giới, hữu tưởng hữu giới. Gọi là nguyên tướng Pháp Thân Bất Diệt.

Về tưởng tưởng phát hiện Pháp Giới, khởi điểm là tư tưởng nhận định thấy tư tưởng, khi hiện tưởng liền thấy biết hiện tưởng, lúc quán chúng cùng khắp liền tỏ thấy quán chúng, nó có nhiều viễn tượng lành mạnh tối sáng nên nó là Thực Tướng Vô Tướng Tam Muội chưa khẳng định minh sát, chỗ có và nơi không phải tu hành nơi Pháp Môn Tam Muội.

Tư tưởng thể tánh nơi nó khởi sanh, khởi diệt. Khi chẳng còn sanh diệt, diệt sanh qua từng giai đoạn thì nó là Thường Tưởng. Lúc chuyên chú để soi nó lại được gọi là Định Tưởng. Bằng tìm tòi chân lý, tìm hiểu lý chân, tìm gần đủ cách, cho nó thị danh Tiềm Thức, phân biệt từng môn, từng lớp lang lớn nhỏ gọi đó là Ý Thức năng phân. Bao quản tỏ thấu từng phần chẳng câu nặng nhẹ gọi nó là Tạng Thức, hợp tánh Như Lai để phơi bày Pháp Giới gọi đó là Như Lai Nhãn Tạng.

Tư Tưởng Pháp Giới, từ thế gian đến xuất thế gian. Từ Chư Phật Chánh Giác cho đến chúng sanh lầm mê tu cầu Chánh Giác gọi là Vòng đai Tam Thế, đường lối Phật với Chúng Sanh thành Phật.

Lại có Tam Giới Chư Thiên trở thành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cho đến rồng người. Mười Tám cõi Trời quản lý thế gian. Mỗi giới, mỗi cõi nói chung đều là Tư Tưởng, về Chánh Báo Thọ Báo bất đồng nên cao thấp khác nhau về lý tưởng mà thụ sanh lớp lớp không ngoài trong Như Lai Tạng Giới.

Thiền Sư, Ngài nghĩ đến đây lặng thinh, hai tay nâng lấy chiếc đầu, tóc Ngài đã trở thành trắng nhiều, đen ít lâm râm giữa Tam Thế. Chúng sanh và Phật lần tiến, Ngài thở một hơi dài như tiếp nối hư không vô tận. Thiền Sư nhìn lên nói: Bậc tu đạt Ba Thân viên mãn Chánh Giác, nhìn lại quãng đường dài đã trải qua rất tường tận chu đáo, tuy nhiên như thế mà vốn nó có mạch lạc thụ sanh cùng thoát sinh ra từng thứ bậc. Chánh Báo cùng Thọ Báo chẳng sai chạy tí nào chẳng mảy may nào dư thiếu. Còn bậc đang tu thời chưa biết mình tu những gì để mà tu, thật khó khăn thay nơi mê chỗ giác.

Lúc bấy giờ Thiền Sư. Đắn đo chưa muốn nói, dù Ngài nói ra nó chẳng dư, không thiếu của lời Đức Chí Tôn đã từng diễn giải nghìn xưa. Nay Ngài tuyên đọc lại với một chân lý chung gồm mà lời biện minh hơi khác của thời cơ Ngài đương nói, để khai hoang mở lối Tam Thân Tứ Trí hợp hòa Chánh Giác.

Thiền Sư an nhiên nói: Thật khéo thay. Khó khăn thay cho con đường giải thoát viên mãn ba thân, nó phải kết hợp đầy đủ các giáo môn, mỗi pháp môn đều có trợ giúp vào con đường viên mãn, chớ chưa hẳn mỗi một pháp môn tu Thiền mà liễu thông tận giác. Bằng không tu Thiền thời chưa Đắc Đạo. Tọa thiền chứng tri đắc đạo, tận tường pháp Giới thâm nhập viên thông, môn Thiền chủ động bấy nhiêu thôi. Nực cười thay, cho kẻ tu Thiền đòi phải thấy, cái thấy nơi thấy của kẻ tầm thường như thấy Trời Phật Tiên Thánh, thấy những gì mà điên đảo đảo điên vọng khởi để mà thấy, chớ nào có chủ tâm cho mình thấy nghiệp, cho tỏ đặng tâm, cho khỏi sai lầm mắc vào pháp giới, mới thật cái chánh kiến tri mà đặng tri kiến.

Đối với Thiền Sư đã từng trải qua, những gì Chư Bồ Tát đã làm, Thiền Sư vẫn tu để làm, những gì Chư Phật đã đi qua, nay Thiền Sư nương nơi đó để đặng đi. Ngài nói đến đây trầm ngâm lặng lẽ, sau liền nói tiếp, Thiền Sư nhắc lại: Phần trên Ngài đã phân tách một thể mà hai dụng, hai lối tu hành khác nhau như: Tâm Thức và Tâm Chí cùng một thể, nhưng những bậc tu hành dùng Tâm Thức, thường tiêu cực tu cầu hơn là dụng Tâm Chí tu đạt giải thoát. Vì sao? Vì Tâm Thức thuộc về Sắc Pháp chiêm ngưỡng. Sắc Tướng tác dụng Chánh Báo Nhân Thiên, ngoài ra nhìn thấy toàn diện hoàn cảnh an nhiên thanh tịnh qua hoàn cảnh, chưa nhận chân là Pháp Giới, hóa giải pháp giới từng cơn liễu ngộ, đến cuối cùng, bậc tín tâm tu tập phải qua Pháp Giới Cõi Trời Sắc Cứu Cánh, liền sắc tướng về nơi Như Tướng mà giải thoát, hai nữa sau khi tuổi thọ lâm chung phải Tưởng Niệm, hoặc không Tưởng Niệm mà vào Chánh Báo Hữu Dư Niết Bàn hay Vô Dư Niết Bàn chưa vẹn Tam Thân Duyên Mãn Tu Phật trong lúc đang tu, rất quan hệ khởi điểm như thế nào, đến kết chung toại nguyện như thế ấy, đó là thường.

Còn về Tâm Chí để tu cầu, thì Tâm kia phải có Chí đương nhiên Huệ nọ phải có Định. Định Tuệ tức là Chí Tâm cho nên Đức Chí Tôn Ngài nói: Chí Tâm Qui Mạng Lễ, phải chăng có Chí cùng Nhất Tâm Đảnh Lễ.

Cao đẹp thay những vị biết sử dụng Chí Tâm để tu cầu giải thoát. Vì sao? Vì Tâm Chí nó trực thuộc về Tạng Thức tu gần Như Lai Tạng, mới thám sát đặng Pháp Giới đảm phá Vô Minh. Còn Tâm Thức là lòng tu theo ưa thích Pháp Giới hơn là Tự Tánh Giải Giới.

Thiền Sư Ngài nói đến đây lắc đầu suy tính. Đạo Phật chủ yếu các bậc tu hành phải tự phát tâm Chí Dũng mới thọ trì bảo pháp tỏ rõ lối tu mà lướt qua từng pháp giới thâm nhập khỏi chốn lầm mê, chớ tu nơi ngưỡng vọng làm sao tỏ pháp? Mấy ai đã từng biết, chính Thiền Sư vẫn chưa ngờ, Chí Dũng Tâm mới thông. Tu nơi Tạng Thức tâm đặng bao dung, chí nương nơi hướng thượng nhờ như thế nên Chánh Báo thọ hưởng trong Tam Thiên, Đại Thiên Thế Giới tùy theo thứ bậc mà thọ lãnh cảnh giới, hơn là ý thức thọ báo eo hẹp nhỏ nhen chịu nơi Pháp Giới thọ sanh trong vòng Sanh Tử.

Phần hai về: Hành động thuận nghịch pháp giới vẫn có tầm quan trọng, không kém phần tưởng tưởng pháp giới Tạng Thức sáng soi, các ông nên chú ý.
Hành động là một biểu tượng quá khứ tiền kiếp gần nhất, hiện kiếp này lai sanh. Nó cũng ảnh hưởng do tập nhiễm của tánh tình nhiễm trước chung quanh bè bạn dòng họ mà ra. Bậc tu hành chuyên chính quán sát thật biết trên con đường tiến bộ tu cầu của mình có hai điều đáng kể nhất cần phải thực hiện. Thế nào là hai điều đáng kể? Một là hóa giải pháp giới cốt tường tận pháp giới là điều đáng kể. Hai nữa là hành động làm cho những người chung quanh mình cảm mến, tán thán cốt thực hiện thuận hành để nhiếp thu Pháp Giới đó chính là điều đáng kể. Từ nơi khởi điểm thật biết hai điều đáng kể nên chi bậc tu hành chuyên chính mới chứng tri Vô Sanh Pháp Nhẫn mà thực hiện Nhiếp Thu Pháp Giới tận tường Pháp Giới nơi Pháp Môn Vô Sanh Pháp Giới, Vô Diệt Pháp Giới đặng tường tận Pháp Giới. Nếu tường tận Pháp Giới mới thấu đạt đặng Bổn Lai Diện Mục pháp giới mà tận giác Tam Thân tận thành viên mãn.

Sự trọng yếu của phần hai, lối hai này đáng kể nơi trọng trách thành đạt, nên Phật dạy phải thực hành Tứ Nhiếp Pháp, phải đồng hành và đồng sự nhiếp giữa các bậc cùng chúng sanh, cốt hoàn toàn không thiếu sót mà viên mãn. Có Đồng Hành Nhiếp, có Đồng Sự Nhiếp, có thực hành nguyện cùng Hạnh Nguyện mới chu đáo Hiện Nhất Thiết Sắc Thân trên bước đường hành động.

Thiền Sư Ngài suy tính đến đây Ngài thở dài, miệng lẩm bẩm: Lạ thay, tác tệ thay cho quan niệm lầm sai của chúng sanh. Ta nói đến Tứ Nhiếp Pháp Lục Ba La Mật Đa thì họ chẳng nghe đặng tí nào. Vì danh từ này họ đã từng đọc, từng biết họ đều quan điểm tầm thường quen thuộc. Đứng nơi lý trí của họ, nếu bậc tu đào sâu thực hiện Tứ Nhiếp Pháp, khi thật tỏ mới cho Ta nói ra đây chính là một điều thiết thực. Hành động nhiếp thâu hợp hóa giữa mình cùng tất cả mà sở đắc Hiện Nhất Thiết sắc thân, đồng hành đồng sự là một pháp môn Đạo Hạnh tối thượng, liên hiệp với Như Lai, đặng Như Lai thọ ký thành Phật. Hành động thuận và nghịch đều là Pháp Giới, chỉ có đồng hành đồng sự nhiếp thâu tường tận mới thâm nhập Pháp Giới trưởng thành ba thân viên mãn mà thôi.

Còn lại phần ba là: Nguyên Tướng Bất Diệt Pháp Giới, phần nguyên tướng bất diệt này vô cùng siêu đẳng có hằng hà sa số lớp chúng sanh nhìn nhận khác nhau như chung cùng thảy đều sống trong nguyên tướng pháp giới, bằng thoát khỏi vòng đai pháp giới thì mới hay chính mình lầm mê, sự nhận thức của mình sai biệt nơi chốn nguyên tướng bất diệt để tìm tòi cảnh giới Niết Bàn siêu hình vạn tướng do sự lầm mê mà phát sanh hoài vọng đảo điên nơi mộng ảo.

Khi bấy giờ có một vị đến thưa gởi Đức Thế Tôn: Bạch Thế Tôn. Ở nơi đây nó là Đời Ngũ Trược ác thế hay Bồ Đề Bất Diệt? Ở đây là thế gian hay Tịnh Độ Niết Bàn con Kính nhờ Đức Thế Tôn chỉ giáo.

Ngài nói: Ở đây cũng là Đời Ngũ Trược ác thế. Nó cũng là Bồ Đề bất diệt nào sanh? Nó vẫn thế gian, Tịnh Độ Niết Bàn, Ngài dạy xong lặng thinh không nói.

Vị kia thưa hỏi? Con kính nhờ Đức Thế Tôn Ngài quyết định một từ ngôn. Niết Bàn hay Tịnh Độ. Thế gian hay Bồ Đề con nhận lãnh làm ấn quyết. Đức Thế Tôn Ngài đáp: Nầy trưởng giả, Ta không thể ấn quyết nơi nầy, chốn nầy chỗ nầy, địa giới nầy là nơi chốn chỗ Niết Bàn hay Tịnh Độ. Vì sao? Vì ấn quyết Tịnh Độ Niết Bàn, ông không tu, chưa chứng đang còn sanh tử, tử sanh trong vòng đai pháp giới, lâm nơi Ngũ Trược ác thế tử sanh, thì lời ấn quyết kia Ta hoàn toàn chịu trách nhiệm hư dối sao? Bằng Ta ấn quyết nó là thế gian, nó đầy ngũ trược, ác trược thế gian. Ông tu hành tinh tấn giải giới lầm mê chứng tri Niết Bàn, tỏ rõ Bồ Đề an lạc thì trái lại lời ấn quyết nơi Ta là không thật sao?

Thiền Sư đang suy nghĩ câu chuyện trên của vị thưa hỏi Đức Thế Tôn, Ngài vô cùng tán thán Đức Chí Tôn thấu nguyên tướng, thị hiện đầy đủ cho từng lớp chứng tri giác tướng sắc tướng cùng với tận tướng Niết Bàn của Ba đơn vị Chánh Báo, Thọ Báo nơi phàm phu sắc tướng chốn Bồ Tát Giác Tướng cùng Chư Phật tận tướng. Lành thay khéo thay cho nguyên tướng Bất diệt.

Hay thay, tuyệt tác thay, cho Thượng Cầm Hạ Thú vẫn thường còn hàng hàng triệu triệu năm chưa bao giờ mất tướng. Đến con người tướng của người đời đời không mất tướng, triệu triệu vẫn còn nguyên, lại như Tiên Thần Thánh Hóa, Chư Phật, Thánh Tăng thảy thảy bất diệt. Tại sao nói nó bị diệt, do lầm mê phát sanh cớ sự.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1986,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

7. KHI BẤY GIỜ THIỀN SƯ NHẬP XONG CHÁNH ĐỊNH

Khi bấy giờ Thiền Sư nhập xong Chánh Định, Chánh Định là nơi ra vào quán xuyến trùm khắp, quán xuyến từng thân mạng đến các hình tướng, hằng hà sa số các thân mạng tứ loài sống chết từng lớp, tồn sanh sanh diệt nơi tất cả chúng sanh, họ chỉ nương nơi Túc Mạng mà ấn định sự ấn định nó không ngoài Thần Túc tư tưởng và trình độ trực thuộc và gìn giữ, nên mới có từng cảnh giới, từng mỗi cõi, rộng hẹp khác biệt nhau của mỗi cõi, mỗi một cõi đồng Chủng Tộc, trùm khắp đồng thể tánh. Thiền Sư Ngài đã tận tường từ chốn, nên sự giao cảm đối với Ngài thời trùm khắp Vũ Trụ Tam Thiên, không ngoài từng Pháp Giới vận chuyển Pháp Thân.

Thiền Sư đã từng nhiếp độ thâm nhập Chu đáo tận tường của mỗi giới sanh, ảnh hưởng thâm nhiễm nên mới có một chủng tộc, toàn diện pháp giới như thế có hằng hà sa số vô lượng vô biên chủng tộc, tuy nhiên sai khác nhau nhưng đồng đẳng, an lành nơi Pháp Thân, gọi là Pháp Thân Phật. Đối với Thiền Sư là Bậc Chánh Giác.

Đứng nơi Phật Pháp bất ly thế gian giác để diễn giải Pháp Thân thì nó không khác mấy với Hoàn cầu thế giới trên quả địa cầu gọi là Pháp Thân. Mỗi một nước có một đường hướng chế độ, hoặc mỗi một gia đình có một nếp sống trong gia đình gọi là Pháp Giới. Mỗi một con người có mỗi định hướng theo trình độ giai cấp mình, do bản tánh chủ định gọi là chúng sanh giới. Từ trong chúng sanh giới đến Pháp Giới kết nạp nhau trở thành Pháp Thân Phật. Bậc Chánh Giác tận tường chu đáo từ nơi chúng sanh giới toàn diện Pháp Giới không thiếu sót gọi là Chánh Giác. Đối với Thiền Sư cũng như thế.

Khi bấy giờ Thiền Sư quá tường tận sự xuất nhập nơi Như Lai Tạng, phân chia định hướng cùng bất định hướng dung thông cùng bất dung thông Như Lai. Nên chi Thiền Sư hợp hóa Như Lai, ứng hiện nơi Pháp Thân thị hiện, toàn thân Như Lai Chánh Giác. Từ mỗi một lổ chân lông của Thiền Sư đến bá thiên vạn triệu hằng hà sa số không còn bờ ngăn nên đồng ứng hiện bá thiên cảnh giới, sa số các cõi thị hiện vẫn từ mỗi lổ chân lông bước ra được gọi là Ứng Thân Pháp Thân của Bậc Chánh Giác.

Lúc bấy giờ toàn thân nơi Thiền Sư thảy đều mỗi lỗ chân lông có một Vị thị hiện, chung quanh Thiền Sư có hằng hà sa số ứng trực thị hiện lễ bái, ứng trực thọ trì tán thán Công Đức Vô Lượng Thiền Sư, tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo. Thiền Sư minh thuyết, giải bày, nói năng xong từng lớp lớp thọ trì, lớp lớp ái kính. Tất cả thảy đều thưa gởi. Mỗi chủng tộc của mỗi giới sanh mình. Thiền Sư cười vỗ tay, tất cả đều vỗ tay xưng tán. Thiền Sư nói: Lạ thay! Trên con đường giải thoát, Ngài liền thọ ký cho tất cả Chúng Sanh Tánh sẽ thành Phật.

Thiền Sư đứng lên, bước ra ngoài sân lều lá, miệng lẩm bẩm. Tuyệt tác thay đấng Chí Tôn Vô Thượng, Ngài đã thành Phật, Ngài thọ ký chúng sanh sẽ thành Phật. Nay Ta lại thọ ký chúng sanh tánh sẽ thành Phật, tuy nhiên hai lối trong ngoài, chung lại chỉ có một điều duy nhất, phải chăng tiêu biểu hoàn tất Ba Thân?
Tại sao như thế? Giác thời có Giác mà vốn chỗ tận thành vẫn chưa. Tướng Tánh vốn tương song khi đang Diệu Dụng Hành Dụng, mà thân tâm tự chia hai lối thành thử thực hành và trí tuệ nó vẫn chưa đồng, làm cho các bậc tu hành dù cho tín thành cực điểm, đầy đủ trên con đường giải thoát chăng, vẫn suy nghĩ hai chiều làm sao tận thành cho đặng. Ta thật rõ tận tường có nên phơi bày để đời nầy cùng đời sau thực hiện tận giác chăng?

Khó khăn thay một khúc eo vĩnh cửu chỗ Giác với tận thành, nói đến các Bậc Giác thời thật nhiều mà tận thành quá hiếm, đừng nên hoài tưởng Giác chính là Thành các Bậc dùng Trí tu hành vẫn từ nơi Giác Trí đặng Như Trí. Bằng dùng Hạnh để Tu Đạo Hạnh thời nó lại đứng vào hàng Nhất Tướng về với Như Tướng, Tướng mà Như Như là trang nghiêm tướng nơi Thập Bát La Hán chớ nào Tận Giác. Đến hàng Bồ Tát từ nơi Sơ Trụ Bồ Tát cho đến Đại Bồ Tát Ma Ha Tát vẫn tận độ chúng sanh giai thành Phật Đạo, chớ Pháp Thân chưa tận dụng vẫn chưa tận thành thì sao? Duy nhất chỉ có Đức Chí Tôn Bổn Sư Vô Thượng mà thôi.

Ta phải nói sao đây, phải bày biện như thế nào, thật khó khăn thay cho từng lớp căn cơ tu chứng, phân đối với chung hòa. Lời Ta diễn giải toàn lời Công Năng tu đạt toàn diện không hai. Khi Ta diễn giải với Tâm Chí Nhất Tâm của Ta thì nó nghe ưu tú đặng 70 phần trăm. Bằng Ta viết ra từng lời nói diễn giải nó không ngoài văn tự minh thuyết. Các Bậc từ đời này cho đến đời sau đọc tụng chưa hẳn đã lãnh hội vẹn toàn, dù bậc tín tâm thông hiểu chăng vẫn thông hiểu với hàng thinh văn gặp đặng duyên mà Giác, chớ chưa tận sâu lời ta đã nói, đây là lời Ta nói với hàng đã từng biết xem Kinh, đã từng Tu với Tự Tánh. Nếu Bậc tu Y Kinh chưa Liễu nghĩa thì làm sao thấu đặng lời Ta? Thiền Sư tự thán xong cũng vừa đúng ngọ thọ trai.

Cơm nước do các nhà hảo tâm mang đến cúng dường tuy không đầy đủ lắm, nhưng Thiền Sư thực dụng tạm qua ngày đơn giản. Theo như thường lệ, mỗi lần thọ trai xong, Thiền Sư thả chiếc võng treo xuống, hai tay nhún hai đầu võng thật kỹ càng mới đặt lưng nằm xuống, có một lúc, có một cụ già ở cuối xóm, mang chiếc võng lên cúng dường, Cụ già thưa với Thiền Sư: Bạch Thiền Sư, con từ thuở còn trai, làm nghề đan võng, đến nay tuổi già không còn làm nghề đan võng nữa. Con niệm tình ái kính đối với Thiền Sư, mua một ít dây gai, tự tay đan chiếc võng để cúng dường, xin Thiền Sư thương con thâu nhận, Thiền Sư gật đầu, cụ bái tạ ra về.

Thiền Sư lẩm nhẩm tư tưởng phát sinh, đang giải nói hồn mơ: Thật hay thay! Như Lai Dụng, lời này của kinh pháp mà Đức Thế Tôn ấn chỉ có hai lối hành dụng và thực dụng của Như Lai, chung gồm chỉ có chữ Dụng.

Từ Hành Dụng của Như Lai là vận chuyển vạn pháp trùm khắp Tam Thiên, thế gian, xuất thế gian, rồng người, tất cả các sự việc hoàn cảnh hằng ngày cho đến đi, đứng, nằm, ngồi, mỗi mỗi lớn nhỏ thảy đều hành dụng của Như Lai, chung gồm không trong ngoài của Như Lai Hành Dụng.

Còn về Thực Dụng, nơi Tứ Loài Chúng Sanh ăn uống Thực Dụng hằng ngày sinh sống thảy thảy được gọi là Thực Dụng.

Các Bậc tu hành đến các vị Thiền Sư đa số giác ngộ nương nhờ nơi va chạm nghịch cảnh bối cảnh Hành Dụng mà Trực Ngộ, hiếm bậc khi đang Thực Dụng mà Trực Giác, nơi các món ăn Như Lai Thực Dụng. Vì sao? Vì Thực Dụng là Bổn Lai. Lạ thay nơi hiểu biết hoặc giả nghiên cứu nơi văn tự nó trực thuộc về bộ óc tạm biết mà các hàng Thinh Văn Duyên Giác đã từng tu.

Nếu đem sự hiểu biết áp dụng thực hành nơi hiểu biết thực hiện thì tự biết kia đặng nương vào Công Đức Hành Dụng Như Lai mà Trực Ngộ thì thâm sâu biết chừng nào, vấn đề này đã có nhiều bậc tu hành theo pháp môn Như Lai Trực Giác không ít, còn tu tận thành rất hiếm, Vì sao? Vì Trực Giác nương Công Đức Như Lai mà Giác, còn tận thành bậc tu đã tỏ ngộ tường tận Thông Đạt vạn pháp diễn hành mới có đầy đủ Công Năng, chính mình xây dựng tận thành Chánh Giác, lúc đến đây Thiền Sư nở nụ cười tươi, ngọn gió thoảng qua, nơi hư không đủ màu, đủ sắc quay quần Vũ Trụ tạo thành luồng gió nhẹ nhàng, thoải mái với Thiền Sư.

Thiền Sư bừng tỉnh, bóng cây đã ngã dài, Ngài đứng lên treo lại chiếc võng về chỗ cũ, Thiền Sư vẻ mặt trầm ngâm suy nghĩ, Ngài bước lại hạ thấp mái hiên đóng khuôn cửa sổ, cùng hai cánh cửa lớn của lều lá, Ngài đưa tay lấy chiếc gậy cùng chiếc Nón đội lên đầu nhẹ bước ra đi về hướng Tây Bắc.

Ngài xem con đường vào rừng sâu tảng đá, lên thác xuống gành không khác với con đường đạo ngày trước đã từng đi qua, tuy chân vẫn đi, nơi tay phải có sẵn lợi khí, lợi khí nầy là Trí Tuệ tan dẹp đóng ngăn, lợi khí chiếc gậy là vạch đường trổ ngỏ sau cho người khác họ đi. Lợi khí trí tuệ giải quyết từng giai đoạn thoát khỏi quan niệm chính mình vấp phải đứng yên, cho đó là: Trí tuệ cứu cánh giải thoát, chớ chẳng chi giải thoát.

Mỗi lần Thiền Sư suy nghĩ như thế, bản thân Ngài thấy nó hay hay, Ngài cho đó là Niệm Niệm. Chư Phật nghìn xưa niệm niệm gọi là niệm niệm Phật.

Thiền Sư đang đi nửa đoạn đường, gặp hai chàng trai gánh than đi tới, nhìn thấy Ngài, vội để gánh bên đường chờ Thiền Sư đi qua kính bái. Có đôi lúc Ngài nghĩ lại, khi Ngài mới đến an trú tại địa phương nầy có người cho Thiền Sư là ông Thợ Mộc, kẻ cho là Thầy Thuốc Nam, đủ thứ, đủ người nghĩ đến Thiền Sư. Đến sau nầy dựng nên lều lá, khi dân địa phương dừng bước ghé chân đỡ cơn mệt nhọc mới rõ là Bậc Thầy Tu, may thay có người ưa thích đạo, ưa tìm hiểu lý chân, chuộng pháp môn Tu Thiền, kính nhờ Thiền Sư chỉ giáo, nên chi có một số người mang thức ăn cúng dường, mới đặng ở yên sống tạm trong địa phương nhỏ bé.

Thiền Sư vừa đến chân rừng thì trời chiều mát dịu, có những con chim nhỏ quấy rầy ríu rít trên cành cây, Ngài mãi đi đến đồi đất cao nhất an tọa đỡ nơi. Lặng nhìn xa xa có những xóm nhà lẻ tẻ chen lẫn cây xanh. Thiền sư lẩm bẩm, Ta hãy đi đến với Mười Tám Vị La Hán, họ đang hội thảo xem xét có những gì, nghĩ xong Ngài trầm ngâm lặng lẽ, nét mặt thay đổi không ngừng, Thiền Sư lắc đầu nói: Vi diệu thay cho Pháp Thân Ứng Thân, làm thế nào tất cả những bậc tu hành thâm sâu tận thấu, cho đến Chư Bồ Tát khẩn cầu hết mình tu cầu Chánh Quả, hết toàn năng kiến tạo Bát Đại Niết Bàn cũng chẳng thấm vào đâu, thời làm sao Nhân Sinh Tứ Loài phàm phu hiểu đặng.

Hôm nay chính Ta tận thấu, nó khác hẳn với lúc đang tu, rất tận tường trọng lượng bản chất linh động thể chất hợp hóa vi diệu dung thông vô cùng không tận, ứng hiện, trực hiện, cảm hóa hiện đến tận thành thực hiện nơi Pháp Thân chu toàn cho tất cả từng lớp lớp chúng sanh cầu vái đến Chư Thiên Tiên ứng hiện Chư Thiên liền ứng hiện do nơi ứng hiện của trình độ quy chế chúng sanh giới mà Pháp Thân tùy nơi ứng hiện, thành thử các bậc tu hành chuyên ròng tế lễ cầu lấy linh thiêng ứng hiện hơn là Trực hiện. Ứng hiện là quy chế của Thế Gian cho đến hàng Thinh Văn Duyên Giác cùng A La Hán, ứng hiện là chỗ tu hành cầu vái van xin. Còn Trực Hiện là nơi Trực Giác Tam Muội Pháp môn. Nên Quán Thế Âm mới tự nguyện tùy nơi sở nguyện của Chúng Sanh mà Ứng Hiện. Đến hàng tu tự tín bản năng, tự tín công năng công đức kết tạo thời thọ hưởng nơi qui chế Trực Hiện, trực hiện là nơi Bồ Tát Sơ Trụ đến Đại Bồ Tát thường dùng Trực Hiện cùng Cảm Hóa Hiện, cảm hóa hiện chính bậc thường thông cảm Tam Thế Tam Thiên. Xuất định dạo khắp các cảnh giới, gọi là Cảm Hóa Hiện, cho đến Bậc Tận Thành, lúc bấy giờ mới Thật Hiện. Bốn Tướng hiện trên vẫn còn nơi Pháp Thân Phật chu toàn thị hiện đồng đẳng từng lớp tu chứng, từng lớp chưa tu chứng đảo điên vẫn đặng thừa hưởng hiện, nơi hiện cảnh ứng hiện chia ra làm hai nơi, gọi là Chánh Báo cùng thọ báo hiện. Chớ chưa hẳn Tâm Hiện hay Tâm Pháp. Pháp Tâm Hiện, vốn như nhiên Pháp Thân tùy thuận hiện. Vì sao? Vì Như Nhiên hợp hóa Bản Năng thể tánh đồng hiện thôi, Thiền Sư giải xong thi vịnh.

Ta soi nơi Tấm gương dày.
Đưa tay, nhảy múa, phơi bày mặt gương.
Pháp Thân vi diệu khôn tường.
Tùy công năng Đức. Tùy phương hiện hình.

Ngài thi vịnh xong bốn câu, Ngài đứng lên sửa bộ áo, lấy chiếc gậy cầm tay, thong thả đi vào rừng sâu là nơi Thiền Sư an dưỡng tọa Thiền, dọc đường Ngài gỡ những cành gai, Ngài nhặt một ít củi khô để lại phòng đêm lạnh đốt lên, xong đâu đó, hớp một hơi nước, Ngài ngồi tĩnh tọa trên tảng đá, như nhiên tịch tịnh, thả theo gió thoảng lần lần trong khi xuất Định. Phong cảnh ở khu rừng trảng, có những mỏm đá lô nhô, bắt đầu in tuồng theo cơn định của Thiền Sư.

Thiền Sư đến ngôi chùa Cổ, mái chùa cong cong hai cánh, vừa rộng vừa thấp, tựa như Chim Phụng Hoàng trải cánh che chở khách thập phương. Ngài bước vào bên trong chùa có 18 vị chia ra ba nhóm đang Hội thảo về Chân lý đường tu. Ngài dùng Nhĩ Viễn Thông, nhãn Tạng Tam Muội Định, thấy rõ, tai nghe không thiếu sót, Thập Bát La Hán không hề hay biết, trong hội thảo có Vị Đại Đại La Hán dự.

Các Vị La Hán, về phương diện y phục thì đủ màu sắc, tùy theo Địa phương giới. Phần sở thích mặc do cử chỉ hành, mỗi vị đều có nét vẽ trang nghiêm ngôn hạnh tất cả ai nhìn thấy phải kính nhường.

Trong ba nhóm, mỗi nhóm có sáu vị, sáu vị ngồi hình tròn, nhóm ngồi về phía Tả, nhóm ngồi về phía Hữu, còn một nhóm ngồi ngay trước Chánh Điện Trung Ương. Dưới nền chùa trải bằng ngọc thạch màu xanh, những cây cột làm toàn mã não đính kim cương trở thành đỏ trắng lấm tấm sáng, mùi thơm hương thoảng, có những tiếng nhạc do các cây cảnh giao động tự trở thành thật thanh tịnh tao nhả thay cho Như Lai thị hiện cảnh đoan trang khả ái của Bậc La Hán tận thành Như Tướng.

Nhóm thứ nhất về phía Tả Hội Thảo: Thân Tứ Đại giả tướng, chốn trần lao ô trược nhiễm trược khó tu, Chúng ta hãy tìm phương thức xuất thế ly thân trừ vọng. Ta truy tầm bản chất bất diệt hư không kiến tạo Tinh Khí Thần, Ta sống nơi Tinh Khí Thần viễn thông bất biến thời làm sao thân mạng hủy tiêu?

Nhóm thứ hai về phía hữu hội thảo. Nhóm này sở đắc thần thông, toàn diện sáu vị phát quang từng tia sáng, thâu nhận đặng nhóm tả đã hội thảo trên, đồng vỗ tay cười xòa nói: Tinh Khí Thần ở đâu mà có? nếu có chăng thời có cả từng lớp thân mạng của Tứ Loài chúng sanh trùm khắp, chớ nào phải hư không có, còn các chốn lại không? Tinh Khí Thần là một thể chất Túc Thần, cùng túc mạng được gọi là Thần Túc Thông cùng Túc Mạng Thông. Nay chúng ta phải huân tập nơi Thân Mạng, huân tập Thiện căn mới nhiếp thâu trí tuệ tu đạt Túc Thần làm căn bản, lấy đạo hạnh trang nghiêm làm bước đi tư tưởng định tưởng làm quả vị, tu như thế, làm như vậy mới mong tu đạt huyền cơ. Ta chớ nên vì ô trược, mạng trược, xa lánh ngồi yên trở thành chồi khô, mộng lép. Trước kia chúng ta truy tầm Chân đế, vẫn suy tính như trên, có lúc lăn mình tìm thuốc trường sanh bất lão, nay chúng ta thảy đều rõ biết, trường sanh ở nơi đầu não chúng ta sẵn có tinh thần, khí phách, khi Ta sa sút tinh thần chưa bồi dưỡng sung mãn liền đâm ra nản chí, lúc tinh khí thần sung mãn thì phát sanh trí tuệ viên thông. Lúc Đức Trí Viên thông đương nhiên tu đạt.

Nhóm thứ ba, là nhóm Trung ương, ngồi chính giữa, nhóm này ngồi yên lặng thu nhận rất an nhiên, thu nhận từ ngọn gió thoảng đưa hay di chuyển, chung gồm đầy đủ sáu pháp thần thông. Nên chi đồng nghe tiếng nhạc trời trổi khắp mười phương, họ lại đồng thấy thanh quang, huỳnh quang, bạch quang, hồng quang cùng mỗi mỗi hào quang di chuyển, báo hiệu điềm lành hoặc hung bạo, họ vẫn nghe, vẫn nhìn nhận cuộc hội thảo của hai nhóm kia không thiếu sót. Nhiều khi nhóm nầy thường nghĩ. Lạ thay, Lạ thay! xuất ly rồi nhập cảnh, đến thanh thoát, đặng bình an, do đó nhóm trung ương công dụng an lành duy nhất.

Bỗng nhiên có một vị trong nhóm. Vị nầy đứng vào hàng đầu Bậc La Hán. Khuôn mặt thay đổi từng lúc từng hồi, từ chỗ ngạc nhiên nầy sang ngạc nhiên khác nói lên.

Lành thay! Lành thay! huyền cơ vận chuyển ánh quang chúng ta bị mờ thay vào dòng quang rạng rỡ vận chuyển cho đến nỗi mặt đất rung rinh, thân hình nhẹ nhỏm. Các ông nào hay biết, thì làm thế nào vọng tưởng tu đạt huyền cơ Vũ Trụ, làm thế nào đòi ngự trị vạn pháp trọn vẹn bất sanh an lành bất tử? Vị nầy nói vừa dứt Huỳnh Quang tỏa khắp phơi bày, làm cho tất cả hào quang của các bậc La Hán chưa còn nhìn thấy. Tiếng nhạc cùng với hương đàm lần đưa thơm ngát, có từng cánh hoa từ hư không rải xuống khắp sân chùa, tựa như trải tấm nhung hoa. Ngôi chùa Phụng Hoàng tự biến dần trở thành Tòa Lâu Đài Long Bửu Tự, tất cả toàn diện đính ngọc Bảo Châu, nền thêu dệt bằng kim cương ngọc bích hoa vàng lấm tấm mã não trân châu. Các vị A La Hán đứng lên, trở về đơn vị gần cổng chùa Long Bửu, thật cao quí thay cho bảy dòng quang đưa lượn theo chiều sóng nhạc đẩy đưa, in tuồng đón mừng bậc Chánh Giác.

Khi bấy giờ Mười Phương Chư Phật, đồng nói lên câu chúc tụng Phật Vương, xong đâu đó nói với Chư Vị Bồ Tát. Nầy các ông hãy đi đến Khánh Trang tỉnh, Long Phụng Sơn. Long Bửu Pháp, có Vị Phật Pháp Hiện Phật Vương, thị hiện thời Hạ Lai. Vị nầy có nhiệm vụ chỉnh trang Phật Pháp, chứng thị Hạ Lai, tuyên thời Tứ Hạnh làm cho tất cả đang sống vật vờ, đang tu lầm lạc trở Chánh Pháp Tịnh Vương, Nhất Tôn Tứ Hạnh, cốt mang đến điều lành đưa về Chánh giác, các Ông nên đến Kính bái chiêm ngưỡng thọ trì Tứ Hạnh Ngài đã bổ ban Chư Bồ Tát đồng Đảnh lễ, phóng quang, nương nơi Huỳnh Quang, đồng đến bái lễ.

Tất cả các hàng Chư Tiên, Tiên Rồng Thánh Hóa nhìn về Đông Nam, hương đàm trùm tỏa, nghe tiếng trên hư không phổ truyền, tất cả đều mang các phẩm cúng dường đồng đến bái lễ.

Khi bấy giờ tòa Long Bửu, các cánh hoa tự động kết thành tràng hoa to bằng Quả Hồng Đào, tựa như quả mâm xôi. Phật Vương thị hiện, mặc y áo Bạch Nhung đầu đội mão Bảo Trì màu trắng hồng nhạt, trên mão có chín búp hoa, mỗi búp hoa tỏa ra mỗi hào quang tia sáng gồm có Huỳnh Quang, Huỳnh Huỳnh Quang, Thanh Quang có sắc Thanh Thanh Quang. Hồng Quang có sắc Hồng Hồng Quang, Hắc Quang, có sắc Hắc Hắc Quang. Còn riêng Nhất Bạch Quang không có sắc Bạch Quang. Ngài thị hiện đầy đủ 32 tướng tốt bước lên hoa, hào quang tia màu vàng. Chư Bồ Tát, Chư Thiên Tiên cùng Chư Long Thần cho đến hàng A La Hán cùng Thinh Văn Duyên Giác, nhìn không nháy mắt đồng thanh xưng tán, Chưa bao giờ nhìn thấy nay nhìn thấy. Bỗng trên hư không xưng tán, do Công Đức Vô Lượng Phật mà thị hiện Vô Thượng Tôn, Vô Thượng Sắc, Vô Lượng Hương đầy đủ không thiếu sót. Ngài lên tòa Sư Tử an toạ. Tất cả các hàng chiêm ngưỡng lễ bái, xong đâu đấy theo thứ lớp, theo thứ vị đồng nhau tĩnh tọa.

Khi bấy giờ Đức Phật Vương nhẫn mười hai triệu phút. Mặt Ngài an nhiên bình dị hòa đồng với tất cả, làm cho các hàng thứ lớp thảy đều hoan hỷ, phấn khởi ái kính không còn mảy may hư vọng hoài vọng tạp khởi, Ngài liền nói: Ta khá khen cho thời Hạ Lai lạc pháp nầy mà Thập Bát La Hán Hội Thảo. Chư Vị Bồ Tát đang hiện hành, hàng hàng lớp lớp tu trì không nhàm chán, gìn giữ bảo pháp trường tồn. Đối với Các Vị, căn cơ chưa đầy đủ, trí tuệ chẳng viên thông nên chi Trí hóa sanh ra vạn pháp an lành, đặng Chánh Báo nhân thiên, đặng tu chứng từng phẩm hạnh. Bằng Trí Tuệ tối tăm trí hóa tự sanh các nghiệp. Sống trong cơn thăng trầm đủ lối. Tu nơi vạn ý uyên thâm vòng quanh khó thoát sanh tu đoạt Chánh Giác.

Lý sự tín tâm Nhất Tâm Đảnh lễ Chư Phật thì có, nhưng đường lối chưa tận thâm làm sao đắc quả? Ta vì các ông Thị Hiện đầy đủ. Cư Nhân Tướng, đầy đủ hoàn cảnh thâm, vào sắc thinh hương vị mà bảo các ông đừng xúc pháp. Từ hàng Thiện Nam Tử đến hàng Thiện Nữ Nhơn, tu cầu Ứng Hiện, tu lấy thọ lãnh Nhân Thiên rất hiếm bậc đang tu nơi trực hiện.

Ngài nói đến đây có vị Bồ Tát bước ra đi vòng bảy lễ Chiêm ngưỡng lễ bái thưa gởi? Bạch Thế Tôn, con đã tu sạch tất cả chúng sanh truy tầm lấy mỗi một chúng sanh đều không có. Con kính nhờ Chí Tôn thương con khai thị cho con, làm như thế nào, tu bằng cách nào cho đặng tận giác quả Bồ Đề Nguyện.

Hay thay, khéo thay nầy Bồ Tát Bửu Tịnh. Ông tu sạch lý chúng sanh, chớ chưa tu đạt Bổn Lai của mỗi chúng sanh giới. Mỗi chúng sanh giới bá thiên vạn chúng sanh hợp hóa trở thành Pháp Giới. Mỗi một pháp giới có hằng hà sa số chúng sanh. Ông tận Giác chúng sanh bổn lai diện mục. Ông tận thấu pháp giới diễn hành khi bấy giờ ông Thị Chứng mới tận thành Chánh Giác.

Bồ Tát Bửu Tịnh toàn thân thảy đều nở ra hoa Bửu Pháp, nhẹ nhàng tươi tỉnh vui mừng xưng tán. Chưa bao giờ đặng nghe hôm nay mới đặng, Chí Tôn Vô Thượng Thị. Xong đâu đấy Đảnh lễ ngồi lại một bên chiêm ngưỡng.

Các hàng La Hán, các hàng Thinh Văn, các hàng Duyên Giác cùng với Hộ Pháp, cho đến Hộ Pháp Bồ Tát đồng Đảnh lễ thưa thỉnh. Trong khi thưa thỉnh có cả Chư Thiên cùng hàng Chư Tiên lễ ứng cầu thỉnh.

Bạch Thế Tôn thương xót chúng con khai thị cho chúng con có điểm lành, có nơi nương tựa trên con đường Chánh Pháp, có một lối sống, từ đời nầy cho đến đời sau nương nơi lời vàng của Đức Thế Tôn ban hành tường tận, khỏi lạc, khỏi sai, khỏi ngờ, tránh chấp, một khi chúng con trưởng thành Phật Đạo, tỏ rõ lối đi dù chúng con hiện tại say mê, ngày mai trực giác. Thưa gởi xong, bỗng nhiên toàn thân Phật Huỳnh Quang rạng rỡ ngay nơi ngực Ngài phát hiện Thanh Quang, Bạch quang tỏa khắp bảo tòa. Ngài nói: Hay thay lời các ông thưa thỉnh có lợi ích cho Chánh Pháp, có một lối sống tu đến tận thành, Ta vì tất cả thị hiện xây dựng cho tất cả. Các ông hãy nghe đây:

Đối với trên con đường Phật Đạo trưởng thành thật là Vô Lượng Công Đức, Vô Lượng Công Năng, nó lại có vô lượng chốn sai chỗ đúng, Vô biên sai lạc, lạc sai, nghi chấp và chấp nghi. Nơi nghi chấp chính là nơi thiếu tinh tấn. Hai lẽ trên trở thành nghi chấp cùng chấp nghi bằng Công Năng Công Đức đầy đủ, Tinh Tấn không ngừng thì làm sao không thành đạt. Công Năng Công Đức Tinh Tấn là chìa khóa giải mê lầm. Nó ví như: Kẻ nọ có đi thời có đến. Bằng chưa đi làm sao đến đặng mà mong. Tinh Tấn nó cũng như thế. Tinh Tấn quá ư hệ trọng, Công Năng Công Đức không vừa. Nên chi Đức Phổ Hiền nguyện độ phẩm tinh tấn, đưa chúng sanh Bất Thối Bồ Đề, giúp Chư Bồ Tát Bất Thối Bồ Tát vào Biển Cả thành Phật. Khi gần thành Phật, đến lúc thành Phật mới chu đáo Phổ Hiền Hạnh là chính yếu đường tu không hai, con đường giải thoát. Vì sao? Vì tinh tấn mới nhiếp thu Tứ Hạnh, hoàn mỹ vẹn vừa Pháp Thân tỏ rõ Thật Hiện mà Chánh Giác.

THẾ NÀO LÀ TỨ HẠNH ?
– Thứ Nhất: La Hán Hạnh.
– Thứ Hai: Thinh Văn Hạnh.
– Thứ Ba: Duyên Giác Hạnh.
– Thứ Tư: Bồ Tát Hạnh.

Chung gồm Bốn Hạnh được gọi là Tứ Hạnh. Vìsao? Vì Phẩm Hạnh của những Bậc A La Hán, gọi là Hạnh Tướng Phật. Nếu an trụ tướng ấy thành đạt Tướng Phật thời gọi là Bích Chi Phật, bằng tu hành Hạnh La Hán nó lại tùy nơi tu chứng cấp bậc an trụ thì Chánh Báo từ hàng Thiên Tiên, Địa Tiên, trở nên Ứng Hiện Trực Hiện Tam Thiên, Đại Thiên Thế Giới gọi là Tam Giới.

Bậc tu La Hán Hạnh, nương nơi Tứ Hạnh Tu cầu Chánh Giác thời, tận dụng Kinh Điển làm ngón tay chỉ, xem Kinh cốt Liễu nghĩa không chấp tự kinh thâu nhận Trực Giác, gọi đó là thực hiện Thinh Văn Hạnh.

Bằng tùy Duyên cảnh thuận nghịch mà Trực Giác. Không vì Thuận, chẳng vì Nghịch, tâm phân đối chướng ngại nơi Tịnh, Bất Tịnh mà thối chuyển chấp nghi, duy nhất trực giác mà đặng, gọi là thực hiện Duyên Giác Hạnh.

Khi Ba Phẩm Hạnh trên đầy đủ, đương nhiên phát tâm dũng mãnh vào con đường tu hành Bồ Tát Hạnh. Vì sao? Vì Hạnh Bồ Tát tùy căn mà trực hiện Bổn Lai diện mục nơi Bồ Tát. Khi Bồ Tát trực hiện Ứng Thân nơi Bồ Tát, Bồ Tát giả mê, như nhiên có Phẩm Hạnh đầy đủ có uy nghi có những lời chánh đáng nằm sẵn Tự Tánh của Bồ Tát xuất ra, không lệ thuộc giáo điều, nhưng không làm hại Kinh Pháp của Đức Thế Tôn hướng dẫn. Vì sao? Vì những lời trực giác kia toàn lời thị hiện Chư Phật nay Bồ Tát thừa hành nên phát lời nói ấy. Các ông chớ nên phê phán lời trực giác, tự giác nói ra, hoặc giả chấp nghi mà dừng trụ thời không bao giờ đến quả Bồ Đề, nay Ta vì thương các ông nên nhắc nhở để các ông khỏi tổn thương con đường tu đạt. Ngài vừa nói đến đây thời trong hàng Thinh Văn Duyên Giác cùng La Hán, Chư Thiên đều đứng lên thưa gởi:

Bạch Đức Phật Vương chúng con đang đi trên đường nầy, chúng con đang đứng trong đàng nầy, chúng con đang tu trên con đường nầy. Nếu chờ cho mãn kiếp, nếu chờ cho đúng thời, nếu đợi cho đến lúc, chưa gặp đặng Phật, chưa gặp đặng Đại Tăng thì mới làm sao tu cầu Chánh Giác? Xin nhờ Đức Phật Vương cứu giúp chúng con khai thị.

Ngài liền phóng quang nơi Pháp Đảnh, tỉa ra chín dòng quang, nét mặt tươi đẹp vô cùng tận, nở nụ cười tựa như triệu nghìn hoa đàm xòe cánh Ngài nói: May thay! May thay! Các ông là những Bậc gặp lúc, những Bậc đặng gieo căn duyên lành vô triệu kiếp bị lung lạc trong các lối đi, gặp Bậc Thiện Tri Thức chỉ đường hướng dẫn thì làm sao lạc lối mà sợ sệt van xin?

Ngài vừa nói đến đây tất cả vui mừng vô kể, đồng Đảnh lễ, đồng chiêm ngưỡng, đồng ái kính chẳng khác cha lành cứu bày con đói khổ. Các tuần Trời reo tiếng nhạc, các Cõi Tiên trải hoa đầy đủ màu sắc, toàn là các giàn hoa qúy nhất thảy đều trải đến cúng dường. Ngài lặng yên thọ ký Công Đức cho tất cả, Ngài nói:

Các ông hãy nghe, các ông hãy thọ trì đọc tụng, Tứ Hạnh đồng đẳng như nhau, không lớn chẳng nhỏ, không cao chẳng thấp, bằng thiếu khuyết một trong Tứ Hạnh khó mà thành. Phải chăng các ông đã đặng sự đồng đẳng tu hành thực hiện Tứ Hạnh mà Giác Ngộ Chánh Giác chăng? Tất cả đảnh lễ thọ trì, phụng hành kính bái.

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1985,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.

5. DƯỚI MẮT THIỀN SƯ ĐÃ TỪNG SÁT THẬT

Duới mắt Thiền Sư: Đã từng sát thật. Ta đã từng thấy, bộ óc đã từng xem xét, dù nói ra họ đang bị sanh vạn kiếp, mãi theo đuổi thụ sanh, làm sao cho lời Ta nói thật.

Họ ngỡ thế gian là khổ, họ chỉ mong thoát khổ nơi tâm khảm hoài mong làm như thế nào thoát khỏi trần lao, họ tu trong một kiếp tu, chưa bao giờ nghĩ đến hiện tại, nơi hiện tại lướt qua hóa giải đặng thoát sinh. Họ mong tu giải thoát cầu lấy giải thoát, nhưng chưa bao giờ giải thoát, khắc phục để thực hiện, mỗi một khi bị va chạm đến chỗ của họ đã từng thụ sanh.

Dù cho họ tin tưởng ngoài thế giới loài người có chẳng biết bao nhiêu thế giới sung sướng thanh nhàn đẹp đẽ gấp trăm nghìn lần nơi nhân thế. Họ mơ ước đến nơi đặng sanh trong cõi đó bằng ước mơ tưởng niệm, chớ chưa hóa giải cốt tu đạt đến chỗ Giác Niệm.

THẾ NÀO LÀ GIÁC NIỆM.

Giác Niệm là những bậc đã từng huân tập, biết tỏ rõ, làm Thiện được sanh Thiên an hưởng, làm ác phải sa đọa làm thân trâu ngựa, sống trong hoàn cảnh cực hình, do đó nên chi làm Thiện bằng cách nào vẫn thụ sanh trong chốn Thiện mà thụ hưởng, còn Ác phải sa đọa vô cùng. Chính Ta đã từng sát thật hai nơi nên tư tưởng dung thông thanh thoát thiện căn, đào tạo Thiện Chí, truy tầm giác niệm về với chính Ta mà đặng thoát sinh bất diệt.

Ta không vì Thiện mà an trụ, không vì ác mà thù hận ghét vơ, cũng không vì tốt tham cầu, nơi xấu vứt bỏ, từ nơi thực hành quen thuộc, ban đầu Ta cố gắng để dung thông đến giai đoạn, mới nhận thấy quen lần sống nơi Bản Chất, nó làm cho Ta bất ngờ nghĩ lại, thời chính Ta đã hóa giải vạn triệu lần lướt qua từng giai đoạn thụ sanh, nếu Ta đứng lại nó không chấp, vẫn bị thụ sanh trong chấp không vậy.

Ta nhịp nhàng kiểm soát từng duyên Khởi Sanh Diệt, Diệt Sanh, mới nhận chân nơi nó, cuộc sống hàng ngày chẳng biết bao sanh diệt, khi mơ màng chưa phân định thời tìm công việc hằng ngày để làm cho giải cơn tịnh biệt, vì tịnh biệt là nơi an trú trụ sanh của lười trễ nằm yên, phải làm chủ động thụ sanh tịnh biệt.

Nương nhờ nơi chủ động vạn pháp nên không Trụ Chấp hai bên có không Thiện Ác mà huân tập đặng Giác Chân, lần nơi Pháp Giới Hành Thâm, cốt làm sao đặng thâu nhận Giác Tánh. Ban đầu tu như thế, thực hiện như vậy, huân tập nhiều Giác trở thành Đại Giác. Nào ngờ đâu đã từng, từ đầu đến cuối chỉ có Thụ Sanh và Thoát Sinh qua từng Sanh Diệt không trụ chấp mà hoan hỷ Giác Niệm, mới hay Niệm Giác nó diễn hóa thay đổi từ thân tâm hồi sanh Giác niệm.

Khi toàn thân đều hóa, lý trí viễn thông, theo thứ lớp tỏ rạng, mới hay nơi chốn thụ sanh, trở thành bá thiên vạn ức nơi chốn, nơi nào chốn ấy, từng lớp lang thể chất của nó đã sẵn, vì Bổn Lai Diện Mục của nó như thế. Tại bản thân mình nuốt nó vào thì nó hóa như thế, biết làm sao mà nói nó đặng. Chỉ trường hợp nuốt nó vào rồi kinh nghiệm, lại nhả nó ra, giác Chân Tướng nó, được gọi là Giác Niệm, đến khi đầy đủ toàn khắp, gọi là toàn thân hợp hóa tận thành./-

ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT
Khai Thị năm 1983,
Thiền Sư Bồ Tát Di Như ghi chép lại.