MÙA XUÂN GIAO HẸN ( Ra Đời )

Xuân giao hẹn, mùa Xuân giao hẹn,
Lời hứa cùng non nước bao phen,
Rượu Thiên Tiên uống hãy còn thèm,
Mà nơi Nhân Thế, Xuân đem mấy lần.
Xuân Ta hẹn, Lan vừa chớm nở,
Cúc Huỳnh Hoa, hé mở Trần Gian,
Khi Ta đi xuân đúng khải hoàn,
Lúc về nhẹ bước Thu sang lỡ làng.
Trời Sắc Giới trang hoàng mong đợi,
Cõi Dục Thiên hoa rải khắp nơi,
Lọng vàng Cửu Báu rạng ngời,
Chiếc xe Thất Bảo đến nơi đợi chờ.
Xuân giao hẹn, hãy cùng Ta đến đó,
Ta mang về THẾ THỌ nhân gian,
Từ đây thêm đẹp Đạo Tràng,
Khắp trong Tam Giới, hưởng tròn năm Xuân.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Kỷ niệm xuân Tân Hợi (1971)

Ấn Chỉ III: DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH BẤT ĐỒNG

Thất Sơn bảy ngọn núi dài
Chừng nào vang nổ, vương đài khai hoa!

TIÊN-THẦN dùng TƯỞNG tương sanh,
NHÂN-SANH có TƯỚNG trưởng thành Thông-Minh.
Bồ-Tát HẠNH NGUYỆN trung-trinh,
Thâm-nhập PHÁP-GIỚI Tự mình viên THÔNG.
PHẬT thời DIỆU-DỤNG song đồng,
Tùy CĂN-CƠ HOÁ nói không bến bờ.

THIỆN CHÂN TỬ là nguồn an ủi,
PHÁP TẠNG nầy chung buổi ấm êm.
Miễn sao dưới mái gương thiềm,
Chung vui toàn GIÁC, nỗi niềm TÔI mong.
Có một hôm Ngài ngồi thư thả,
Chúng dâng trà, Ngài tả thi thơ,
Anh em Đạo Chúng chực chờ,
Ngài cười vui vẻ, lặng lờ trao thi.
Chúng Tôi muốn nói những gì ...
Ngài liền giải đáp bài thi vang rền.
Sáu ông Đạo, Sáu con tên,
Có thêm bà vợ, vang rền Thất Sơn.
Khi bấy giờ Tứ Chúng đứng lên,
Đọc tuyên sáu Đạo, sáu tên Thi rằng:
KHÁNH tận Nhân Sinh chẳng nói năng.
TƯỜNG chưa Minh đạt, nổi lôi phong.
ÂN thường Vân Lệ rơi tơi tả,
OANH luyện trùng dương, khắp Tứ Phương.
XOA dịu cảnh tình, chiều nắng dịu.
THU MINH Vương Đế trổ an bang,
HIẾN thân Tam Thế, Tiên Thần chứng.
Dâng quả KIM LÊ, Pháp BẢO ĐÀN.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Mậu Ngọ (1978)

TỰ THÁN CẢM THI ngày Trung Thu Đinh Tỵ

Chí Tôn. Ngài thấu chăng Ngài,
Thượng Sanh. Hạ Kiếp diễn hai thứ tuồng.
Ngài Thái Tử triệu đời vang tiếng,
Tôi Cư Nhân bốn biển nào hay,
Bên vai Bao Đãy ăn mày,
Chung thời một hướng, phơi bày hai phương.
Nói ra thiên hạ xem thường,
Nào ai đã thấu con đường hóa sinh.
Thời hạ kiếp sống mông mênh,
Thượng Sanh tuy thế dân tình ấm êm.
Hạ Kiếp điên đảo sanh phiền,
Phần tôi gánh chịu lời nguyền hạ lai.
Sức kiệt sức. Gối vùn vai,
Chí còn vận chuyển Phật Đài còn xây.
Làm xong dân chúng sum vầy,
Bóng này đã khuất. Đông Tây khó tìm.
Nhắn lời. Tôi chẳng nói thêm,
ẤN CHỈ tư. Bảo Phẩm chân truyền Nhất Tôn.
Khuyên Phật Tử khéo bảo tồn,
Non còn bảo vật, nước còn trơ trơ.
Còn tình Chân Tử đón chờ,
Thời còn Thể Hiện giải mơ phá lầm.
Trăm năm Ta nhớ trăm năm,
Lời thơ Cảm Thán. Trăng rằm trung thu.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
11-07-1977

HOÀI CẢM. Huyền Châu Tử

TÌNH. Họa Nguyên Vận

KỶ NIỆM THI của Huyền Châu Tử

T ì n h

Tình nguyện triền miên tự thủa nào,
Tình thương ban rải cuộn nao nao,
Tình qua biên giới hòa duyên bách,
Tình vượt không gian hội suối đào,
Tình giống đèn trời linh động thủ,
Tình như ngọc tánh sáng ngời trao,
Tình theo cánh gió về muôn hướng,
Tình ngự thuyền sen định bể xao.

HUYỀN CHÂU TỬ
năm Kỷ Dậu (1969)

BỘ PHẢN GỎ

Chẳng trung ba tấm ghép nên hình,
Tiếng PHẢN nhưng mình vốn trắng trinh,
Cốt GỎ thân bền trơ mặt láng,
Kẻ chà người lết vẫn làm thinh,
Một mai nước lở, dâng tràn ngập,
Ba mảnh nghinh ngang cứu độ bình,
Già trẻ các loài đây ghé bến,
Chẳng cầu mồm mép,chẳng cầu vinh.

BẢO Y KHÁCH tức TỊNH VƯƠNG
năm Kỷ Dậu (12-02-69)

XUÂN MỚI NĂM BÍNH THÌN. Xuân đầu tiên Hai Miền ăn Tết

DẸP LÁ LAY

XUÔI NGƯỢC