NHỮNG LỜI THƯA GỞI HAY – 4

Khi tôi viết những lời thưa gởi hay làm cho tôi nhớ lại. Trong thời năm 1967 đến năm 1969 là thời kỳ Đạo Phật bị phân đối quá nhiều, giữa Thiên Thừa Tu Sĩ và Nhân Hạnh Cư Nhân bị chiếc áo Thiên Thừa bôi bát.

Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm toàn bộ, ấn hành năm 1937, tôi đã đặng xem. Ngài nói: Nầy A Nan, ông nên nhớ đến thời Mạt Pháp. Bọn Ma Vương nó phá Ta từ bên ngoài không nổi, nó lại tồi phá từ bên trong, nó vẫn danh giả tu hành, ăn mặc như Ta, đăng đàn thuyết pháp, ngôn hạnh đều giống Ta. Nhưng có một nỗi cạnh tranh, nhai nuốt lẫn nhau quyền uy chức vị, tự hào cao cống, khó tường tận đặng bọn chúng. Lúc bấy giờ A Nan thưa thỉnh, bọn ấy như thế nào. Bọn ấy đều gọi là bọn Thích Tử. Lúc bấy giờ tôi mới xin thành lập Tôn Giáo, dùng áo Thiên Thừa làm nơi nghi lễ hành lễ, còn Tứ Chúng cuộc sinh sống hằng ngày, lấy Nhân Hạnh lăn chung với quần chúng không khác biệt dị phân giữa Thiên Thừa và Nhân Hạnh. Mới có câu thi:

“Đạo Đời hợp nhất, trường tồn Phật Tôn”. Làm định hướng đưa con người sống chung thực tế mà tu đạt chân lý hữu hiệu. Do nơi khắc biệt mà các Tôn Giáo Tu Chùa dùng chiếc áo Thiên Thừa đua nhau đến hỏi rất nhiều câu hóc búa. Có những vị, họ buộc tôi ẩm thực trường trai, hoặc ăn mặc Thiên Thừa thì họ đồng tình Nhập Môn tu học. Tôi vẫn an nhiên.

Có một hôm, vào khoảng 10 giờ sáng, Thị giả lên thưa. Vị Thượng Tọa ở tỉnh Thừa Thiên mong gặp. Tôi từ nơi Tịnh Thất bước xuống. Tôi nhìn thấy: Vị Thượng Tọa đã già hay quá già, ăn mặc Thiên Thừa, tay cầm chiếc gậy, vai mang Bao Đãy, tháp tùng theo Cụ có một chú tiểu lại quá trẻ ngây ngô. Hai bên gặp nhau vui vẻ vái chào, xong đâu đấy với bộ tách trà, bát hương còn nóng.

Tôi được biết pháp hiệu nơi cụ là: Nguyên Phong quản lý một ngôi chùa khá lớn tại tỉnh Thừa Thiên (Huế) tuổi thọ nơi cụ đã 72 tuổi.

Cụ liền thưa gởi: Tôi được nghe danh Thầy, nay tôi được biết Thầy, tôi có hai điều thắc mắc, tôi đã từng hỏi các Vị Sư, chưa đáp lại để tôi yên dạ, nay gặp Thầy tôi xin thưa hỏi, Thầy minh xác giải đáp cho tôi nói xong lặng yên chờ Tôi giải đáp.

Tôi nói: Kính thưa Cụ. Chỉ sợ chưa biết nghe chớ chẳng sợ không biết nói, nói mà nghe đặng mới nhận lời nói hay hữu ích, bằng nghe chưa đặng thì lời nói kia có nghĩa lý gì.

Cụ đáp: Thầy cứ nói, Tôi cứ nghe chẳng có chi mà Thầy không nói.

Tôi khen, hay lắm, hay lắm cụ cứ hỏi, tôi sẽ nói.

Cụ Nguyên Phong hỏi:
Tại làm sao, do duyên gì bậc mới tu, nhìn nhận thấy mình với Phật rất gần. Đến khi tu lâu thì thấy chính mình với Phật quá xa, mịt mù thăm thẳm hở Thầy?

Câu thứ hai: Tôi thường nghe hay nghe, Thầy nhập Chánh Định, như vậy có giờ nào Thầy ngủ không Thầy?

Tôi đáp: Nầy Cụ. Cụ hãy nghe câu chuyện Tôi kể ra đây, Cụ liền nhận thấu lời Tôi giải đáp câu đầu. Cụ liền gật đầu chấp nhận.

Khi có người mẹ, thường ngày, mỗi đêm mang con ra tắm rửa, đứa bé khóc la. Người mẹ chỉ nơi vách tường nói: Kìa Ông Kẹ kia kìa, con để mẹ tắm chớ Ông Kẹ bắt con. Đứa bé nhìn lên bức tường rồi im lặng.

Đối với bậc mới tu cũng thế. Ban đầu vọng tưởng sống trong thường tưởng. Đến mãi tu hành đã có tuổi đạo am tường Phật Pháp, vô biên thề nguyện học, hiểu biết tùy công năng, thông đạt tùy nơi Trí Tuệ Đạo Hạnh, nơi tỏ tâm nhìn nhận bản thân mình, so với Phật xa xôi là như thế. Cụ Nguyên Phong yên lặng gật đầu chấp thuận.

Qua câu thứ hai, Tôi nói: Thưa Cụ câu này dễ nói nhưng khó nghe, sự khó nghe, khó hiểu chưa nhận chân liền cho Tôi là bậc biện tài giải đáp. Nhưng Tôi cứ nói, phần cụ cứ nghe, để đặng thấu giờ nào, đặng gọi là giờ Tôi ngủ.

Hiện tại có Tôi, có Cụ, có nơi cơn sống Bất Tăng Giảm tỷ lệ một ngày đêm là 24 tiếng đồng hồ. Mỗi một năm chỉ 12 tháng, mỗi một tháng như thế trọn vẹn 30 ngày, nơi kiếp sống hạn lượng, không thể nào hơn kém.

Về phần nơi Tôi thời các Chân Tử, hiện diện thế gian cùng xuất thế gian hằng hà sa số, vô hạng lượng khó giải cho hết đặng. Như thế có giờ nào là giờ Tôi ngủ đâu.

Khi nói xong. Cụ Nguyên Phong, đứng lên bái đồng thời xưng tán, danh bất hư truyền. Cụ vui vẻ chuyện trò thân mật. Tôi mới nói với Cụ như thế nầy:

Giữa chúng ta gặp nhau, đến hiểu nhau đồng mến nhau, tôi muốn sửa lại pháp hiệu của Cụ, cốt kỷ niệm trong thời gặp gỡ, Cụ gật đầu, tôi nói hai chữ NGUYÊN HOÀN, Thượng Toạ vui mừng thọ lãnh. Đến hơn một năm sau, Tôi đặng nghe Cụ Nguyên Hoàn viên tịch.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

NHỮNG LỜI THƯA GỞI HAY – 3

Tôi không còn nhớ năm nào, tháng nào, nhưng tôi vẫn nhớ những lời thưa gởi hay mà ghi chép lại để giúp đỡ cho những bậc Tín Tâm nương theo, tu tập kết quả như tôi đó là lời chân thành nguyện vọng nơi tôi nó như thế.

Có một hôm, cách nay đã gần ba mươi năm về trước, khi bấy giờ say đạo mến đạo vô cùng, cố đánh đổi đời tôi với con đường Tri Kiến Giải Thoát, nhờ có say đạo mến đạo mà tôi hiểu được đạo pháp đôi phần, tôi thích thú nhất là NGHE THẤY BIẾT đều nằm trong Vạn Pháp, dù cho viễn thông đến đâu chăng vẫn trụ xứ nơi vạn giới diễn hành.

Tôi không ngờ! Chính nơi tôi không ngờ: Có một hôm trời bức nóng, phải mang chiếc chỏng tre, đặt dưới dàn hoa lý, tôi nằm ngủ yên, nửa mơ nửa tỉnh, chính tôi được thấy: Trời thanh gió mát, tôi đang đi trên thảm cỏ màu xanh, trước mặt tôi có từng hàng hoa đầy tươi sắc. Nhìn thấy từ xa có một Vị vừa đi tới, lúc đến gần tôi bộc miệng hỏi?

Thế nào ông đã hết bệnh chưa?

Ông ấy đáp: Môn nào, Pháp nào thảy đều Vô Thượng. Tôi từ tốn thỉnh cầu. Ông ấy nói: Chỉ có Mật Ấn Như Lai Tạng là tường tận Chánh Giác, giải xong từ giã đôi nơi.

Tôi bừng tỉnh, quay về hướng Đức Duy Ma đã đi mà bái tạ. Từ đó cho đến mãi sau tôi không còn bê trễ về Pháp Môn Tu Thiền nữa. Vì sao? Vì tu Thiền là pháp môn chứng thị minh xác, đứng trước lý sự phiên diễn hằng ngày, trước đôi mắt Nhãn Tạng quân minh nhìn nhận, không còn dùng suy để tưởng hay định tưởng sống theo lối sống trừu tưởng để thọ chấp.

Giờ đây tôi mới biết đặng tường tận, đường đi, lối về nơi sanh tử, nương nhờ nơi Thiền Trí mà đến Đại Trí, nhờ Đại Trí mới soi sáng chung khắp lớp lớp pháp giới mà tỏ rõ then chốt Như Lai Tạng để Tổng Trì Đà La Ni Tạng. Khi Tổng Trì Đà La Ni Tạng minh quân mới gọi là Chánh Định, duy chỉ có Thiền Môn mới tận tường vậy.

Đây là một lời thưa thỉnh hay, tôi xin kể lại, may ra giúp những bậc tu cầu, đời này và đời sau nương nhờ tu tập.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
ngày 25-11-1983

NHỮNG LỜI THƯA GỞI HAY – 2

Khi bấy giờ vào ngày 13 tháng 10 năm 1983, sắp Đại Lễ Hạ Nguyên. Ta nằm trên chiếc giường nơi Tịnh Thất, giữa lúc mơ màng yên tĩnh. Có một số Chư Thiên ăn mặc chỉnh tề đồng nhau đến, vào lễ đâu đó xong, liền thưa gởi:

Bạch Thượng Sư, chúng tôi chưa tỏ rõ duyên căn nào mà nhân căn khó thoát sanh khỏi vòng nhân thế. Duyên Căn chi chúng con và Chư Thiên không tránh nổi vòng đai sanh tử để thoát qua những cảnh giới mà chúng con mong cầu. Chúng con đã từng tu, đã từng thực hiện nhưng sự kết quả tỏ rõ chưa tận tường, mong nhờ Thượng Sư giúp đỡ. Nói xong đâu đó ngồi yên.

Ta nói: Tôi khá khen cho các ông thưa gởi những điều hay, những điểm có ích lợi cho Nhân Sanh có hữu ích đến đường tu trì của các ông. Đồng thời Chư Thiên đặng điều vô cùng hữu lợi. Ta vì thân tâm nhiệt thành của các ông mà diễn nói:

Nhân sanh khó thoát khỏi nhân thế, vì sao?

Vì Nhân Sanh thường Trụ hay Chấp, do nơi trụ chấp ấy, mà phát hiện căn tánh Tự Hào cho chính mình là Phải, nên chi tu trì chưa sở đắc vội cho mình là đắc, ít bậc hiểu biết so sánh Nhân Phẩm, Thiên Cách, Tiên Căn mà tiến bộ, đa số hành động cử chỉ tâm thức nhỏ nhen so tính quá nhiều, ít bậc hướng thượng cao cống mà thụ hưởng, nên gọi nhân sanh sống theo TÂM ĐỊA thấp kém hơn các Cõi mà khó thoát sanh.

Còn Chư Thiên rộng rãi, nơi rộng rãi vướng vào quyền uy độc tôn, chí lớn cao sâu nhưng chí nầy lại ở vào chí địa phương tánh, do nơi địa phương tánh mới có sự tranh giành thảm sát, chia ra 18 Cõi Trời mà khó thoát sanh.

Đến chư Tiên, lòng không tham của cải, ý chí chẳng ưa thích quyền uy, lại bị nơi duyên căn thường hóa, do thường hóa nên hư vọng lại nhiều, sống theo Thần Thông hóa mà trụ xứ, tất cả các cảnh giới Chư Thiên thảy đều đấu tranh về Thần Thông hóa, nương nơi duyên căn hóa mà khó thoát sanh. Từ trong Ba Cõi, Sáu Đường, Tam Thiên Vũ Trụ, mỗi cõi đều có một duyên căn Thọ Ngã năng sở kiến tri củng cố gìn giữ lấy con đường sanh tử mà khó thoát khỏi.

Chư Bồ Tát mới công dụng Hành Nguyện, Đại Nguyện, Tâm Chí lướt qua từng diễn cảnh, bối cảnh thuận nghịch Tịnh Bất Tịnh, không chấp chẳng trụ xứ mà tu đạt Chánh Giác. Chư Thiên nghe giải đến đâu vui mừng tán thán, đồng nghiên mình kính bái, đồng thưa gởi:

Bạch Thượng Sư phải chăng Bồ Tát tu trì Vô Ngại mà tu đạt đến Đại Bi, bước vào Đại Nguyện cốt tỏ ngộ thu nhiếp tận giác TỔNG TRÌ ĐÀ LA NI TẠNG chăng? Cuối xin Thượng Sư ban cho nghĩa trắng để chúng con tường tận.

Ta nói: Vô Ngại tùy thuộc công năng trình độ, Đạo Hạnh với Trí Tuệ tương song, từ nơi vô Ngại Tâm, Vô Ngại Trí mà phát hiện chỗ Vô Ngại Hành, đó chính là Ba Thân hiệp nhất để phát sanh Vô Ngại nơi Đại Bi Tổng Trì Đà La Ni Tạng.

Bằng kiến vọng, dục vọng, hư vọng, tự ngã tự hào mà thành sự Vô Ngại thảy đều nằm nơi Nghịch Hành Ma Đạo Tăng Thượng phi nhân, chưa hẵn là Bồ Tát Vô Ngại cốt tu đạt Đại Bi các ông nhớ lấy.

Chư Bồ Tát nương nơi Công Đức Phẩm mà phát hiện Vô Ngại Tâm. Nương nơi Chỉ Quán xét xem Tánh -Tánh mà tỏ rõ Diệu Quan Sát Trí mới tu đạt Vô Ngại Trí, Bồ Tát Hạnh Nguyện tu trì Tận Độ, Nhiếp Độ, vì nơi tận độ chúng sanh tánh mới có Đại Bi Đại Trí, Đại Nguyện mà Tổng Trì Đà La Ni Tạng.

Khi bấy giờ Chư Thiên thưa gởi: Thế nào vào vòng Đại Bi Đại Trí, kính nhờ Thượng Sư vì lòng thương Chúng Sanh đời này cùng đời sau giải rõ:

Ta nói: Đại Bi và Đại Trí cùng một Thể Tánh cùng một hướng đi, không riêng khác. Trí Tuệ nhiếp thâu quan sát chung gồm cùng khắp Vũ Trụ Tam Thiên chớ chẳng phải Trí Tuệ đạt vào một Địa Phương trong mỗi một nước to lớn mà gọi đó là Đại Trí đâu. Vì như thế dung thông tu đạt như vậy nên mới gọi là Đại Bi trùm khắp, chẳng sống riêng một Cõi nào đâu thụ sanh, Chư Thiên vui mừng vô kể, vội nói:

Kính bạch Thượng Sư: Tâm Chí cao thượng Tâm Trí rộng rãi bao la, quan sát nhiếp thâu tận giác Tổng Trì Đà La Ni Tạng.

Tiếng reo nầy làm cho Ta thức tỉnh, vào khoảng mặt trời gần sáng thế nhân.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
ngày 13 tháng 10 năm 1983

NHỮNG LỜI THƯA GỞI HAY

Tôi còn nhớ. Khi bấy giờ vào khoảng trung tuần tháng 8 năm 1971, đương kiêm Vị Tăng Chủ Giá Lâm Quận Hội An Nhơn tỉnh Bình Định.

Đăng đàn Đại Lễ chứng minh xong, Ta nhập vào Chánh Định, trong căn phòng đầy đủ tiện nghi trang trí của Tứ Chúng. Đêm đã lần khuya, bên ngoài yên tĩnh, bỗng có ánh quang, kế đến Vị Thiên Nhân nương dòng quang bước vào đảnh lễ thưa gởi:

Bạch Thượng Sư, con xin Thượng Sư giải đáp những điều mà bấy lâu con chưa đặng biết, nay Thượng Sư giải đáp để cho con được biết, cùng lưu lại đời sau đặng biết, nói xong Thiên Nhân ngồi lại một bên thưa gởi.

Kính Thượng Sư. Con tự thấy lòng nơi con, từ khi con chưa phát Bồ Đề Tâm tu học, thời con đã từng hư vọng tham lam. Đến nay con đã tu hành càng mong mỏi, mong đợi truy tầm lòng ham nơi con gấp bội lần lúc trước, có đôi khi con cố tan dẹp bao nhiêu lại càng suy nghĩ bấy nhiêu, làm như thế nào khỏi Tham hở Ngài?

Khi bấy giờ Ta mỉm cười nhìn Thiên Nhân hỏi?

Này Thiên Nhân, khi ông mê lầm, ông tự đánh rơi chẳng biết bao nhiêu quyền lợi, đánh rơi tất cả Chân Thiện Mỹ và một số di sản của ông. Nay ông phát tâm tu hành, đòi lại chân thiện hoàn lai, như thế thời ông có tham chăng, vị Thiên Nhân nghe Ta nói, mừng rỡ thân tâm tỏa muôn nghìn huỳnh quang tia ánh chen lẫn hương đàm ngào ngạt cúng dường, xong thưa gởi tiếp.

Bạch Thượng Sư, con xin cúng dường tất cả đổi lấy đường tu, nhưng càng đánh đổi bao nhiêu thời vạn pháp diễn đạt, làm cho thân tâm nơi con có rất nhiều gây hấn mà con phải tự giải, nay kính xin Thượng Sư con phải làm như thế nào đặng tu, để tu đạt Tri Kiến Giải Thoát kính thưa Thượng Sư.

Ta lặng lẽ trả lời Thiên Nhân. Này Thiên Nhân, sự quan niệm nơi ông thật sai biệt, không đúng với hai chữ Tu Hành, vì sao? Vì nơi Tu Hành là những bậc thông đạt mới đặng gọi là tu hành. Đối với ông là bậc đang chữa bệnh mê lầm hóa giải từng nghi chấp đến nơi sạch chấp, nên gọi là bậc chữa bệnh chớ chưa phải là bậc tu hành. Khi bấy giờ vị Thiên Nhân nghe qua vui mừng vô kể, tán thán: Con chưa bao giờ đặng nghe, nay con mới được nghe, con là kẻ chữa bệnh mê lầm chớ chưa hẵn là bậc đã vào hàng Tu Hạnh, nói xong thi lễ, nương theo Thiên Quang mà về Thiên Giới.

Lúc bấy giờ Ta xuất định, nhìn chiếc đồng hồ trên bức tường treo đã 2 giờ 15 phút.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
ngày 24-11-1983

13. DƯỚI SỰ NHẬN ĐỊNH CON NGƯỜI VỚI VŨ TRỤ

Khi con người đã nhận định được Vũ Trụ với con người, thì con người mới biết đặng trong tập nầy quí vô giá, vì sao? Vì đứng trước quân minh, không có Đối Tượng một Tôn Giáo nào, một Khoa Học, Triết Học hay một Chế Độ nào để nói lên sự thật của Đạo Phật trong căn bản đưa con người biết nhận định giá trị nơi chính mình, biết Bản Năng cùng Khả Năng lý trí của con người, biết con người có tương quan với Vũ Trụ biết được chính mình là ỨNG THÂN ĐẠI DIỆN CHO VŨ TRỤ, biết được mình là Động Cơ phơi bày những món gì Vũ Trụ đã có sẵn, nay con người có Bổn Phận trách nhiệm phô trương phơi bày ra tất cả sự thật. Cho nên Vũ Trụ đối với Con Người. Con người còn tiến bộ lên gấp vạn lần hiện nay Vũ Trụ đã biết nó như thế.

Chưa hẳn Con Người đứng về tinh thần, chưa tin hẳn về ĐẠO PHẬT, chỉ vì chưa có bậc khai sáng để cho con người đặng nhận chân, đem đến cho con người có một nguồn sữa tươi Tin Vâng bất tận. Do đó mà hiện nay mới Lạc Pháp sắp tắt nguồn sữa thời con người đang mong muốn háo danh. Thời hiện tại con người không còn háo danh nữa mà con người đang tìm nguồn sống mới, nguồn SỐNG MỚI ấy là Thực Tại Hưởng Thực Tại, Đạo Phật nói lên tất cả sự thật trong thực tại. Thực Tại đó phải thực hành mới hưởng thực tại. ĐẠO PHẬT dùng mắt NHÃN TẠNG quân minh đưa con người biết quan sát mới phương tiện lập Pháp Môn THIỀN. Đạo Phật thấy con người thường ĐỐI TƯỢNG nên Đạo Phật bảo Lìa Ngã cùng Sở Ngã. Đạo Phật biết sống riêng rẽ từng người, từng khối nên Đạo Phật mới dạy, Hành Thâm Pháp Giới, nhiếp độ chúng sanh tánh. Đạo Phật thấy con người tham của hay cướp giựt giành xé nhau nên dạy: Các Pháp như Huyển, nên Từ Bi Hỷ Xả tha thứ cho nhau, chỉ điểm NHÂN QUẢ, chứng tỏ lãnh chất gì thời chịu lấy chất đó, đặng chất chi hưởng chất đó. Đạo Phật chỉ dạy, diễn giải toàn là tháo gỡ từ đường kim đến sợi chỉ của những sự rối ren con người lần đưa con người khám phá Vũ Trụ, cốt để con người nhận định được Vũ Trụ với Con Người mà Giác Ngộ.

Đạo Phật từng phân định con người theo trình độ nhận định đúng sai, sai đúng nên mới có sự Tu Chứng từng bậc như: Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán cho đến Bồ Tát cùng Phật nữa. Đến chừng Tín Chúng tự cho mình là: Thinh Văn, Duyên Giác, A La Hán hay Bích Chi hoặc Bồ Tát đến danh hiệu Phật. Thì Đạo Phật nói: Nếu con người nhận định mình là Bồ Tát hay Phật thì chưa phải Bồ Tát hoặc Phật, vì sao? Vì mục đích Đạo Phật đưa giác ngộ Vũ Trụ với con người, chớ chưa phải Đạo Phật đưa mình đặng thứ vị Bồ Tát hay Phật nên chi Đạo Phật mới nói những lời trên. Đạo Phật dạy con người lần bước tiến để nhận định đặng Vũ Trụ nên đức Bổn Sư, Ứng Thân Tất Đạt Đa, giảng giải 49 năm cốt đem con người Liễu Ngộ, con người lầm tưởng lời thuyết ấy là chủ đích, nên Ngài nói: “TA KHÔNG BAO GIỜ THUYẾT PHÁP hay câu NGÓN TAY TA CHỈ CHÂN LÝ, CHỚ CHẲNG PHẢI NGÓN TAY TA LÀ CHÂN LÝ.” Có phải Đạo Phật đưa từng lớp con người Khám Phá Vũ Trụ chăng?

Hóa Thân ĐỨC TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Chính ĐỨC VÔ THƯỢNG TÔN DI LẠC
ẤN GIÁO HỘI THƯỢNG, ngày 8 tháng 7 Đinh Tỵ
(ngày 22-8-1977)

12. BẬC THÁNH TĂNG THOÁT SANH NHƯ THẾ NÀO?

Bậc chuyên chính giúp đỡ cho con người không cầu báo, đi trong cái KHỔ đặng an vui vì cốt thật biết cái Khổ của con người nên chi bậc nầy không thấy Khổ. Bậc nầy thường tìm nơi bệnh tật ngăn chấp, bệnh tật lười trễ, bệnh tật nằm yên, bệnh tật tham vọng, bệnh tật GIẢ TƯỞNG, bệnh tật bảo thủ, nên chi lúc đau đớn bệnh tật bậc nầy tìm không ra nơi bệnh tật đau đớn, trở thành thấy mình không có bệnh. Bậc nầy chuyên chú vào nơi hiểu biết tăng trưởng hằng ngày, nhìn đến sự khai thông là một nền tảng trẻ trung mới lạ nhất, nên chi không tìm đặng chỗ LÃO nơi mình. Bậc nầy thật biết tỏ rõ con người đua chạy theo KHỞI SANH Bị Diệt trong Giả Tưởng lìa bỏ TIỂU NGÃ Thể Tánh để tu hành nhiếp thu Giả Tưởng thật biết Giả Tưởng là NGHIỆP cấu tạo Sanh Tử, khi bậc nầy rõ đặng khỏi lầm lẫn CHỨNG VÔ SANH, về với TIỂU NGÃ, bậc nầy tu theo BÁT NHÃ lấy Bát Nhã cốt nương theo VÔ NGÃ về với CHÂN NGÃ gọi là ĐẠI NGÃ chứng tri rốt ráo, biết tỏ rõ Sanh Tử Thọ Báo Chánh Báo nó như thế nào rành mạch, gọi là: Giải Quyết SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ Chánh Giác.

Mục tiêu của THÁNH TĂNG trọn vẹn có bấy nhiêu đó, nên chi từ bậc Sở Đắc Chân Không Sơ Trụ Bồ Tát dù cho có thoát sanh như thế nào chăng cũng là: ĐỘ SANH.

Từ bậc Sơ Trụ Bồ Tát trở lên, từ Hạnh Nguyện Hành Dụng Nhiếp Thâu LỤC ĐẠO sự thoát sanh ít nhất có Ba Kiếp THƯỢNG SANH về Cõi trên như: Cõi Trời, Cõi Tiên, Thần, tùy thuận mà Thượng Sanh, đến Ba Kiếp HẠ LỢI thoát sanh về Cõi dưới như: A Tu La, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Bồ Tát vòng quanh Lục Đạo trong Sáu kiếp, khi nhiếp thu Lục Đạo rốt ráo mới Chứng Tri Đại Bồ Tát, đến kiếp thứ Bảy, Bồ Tát thành tựu Tịnh Độ Bồ Tát. Kiếp thứ Tám và kiếp thứ Chín Chứng Tri Bồ Tát Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật, đến kiếp Bồ Tát thành Phật là chính kiếp thứ Mười, từ kiếp thứ Chín có câu:

THƯỢNG SANH ĐÂU XUẤT TÔN
HẠ LAI VÔ THƯỢNG ĐẲNG

Thiền Sư vừa nói đến đây nhìn chúng tôi, Thiền Sư trầm lặng chốc lát nói tiếp:

“Các ông đang nghe những lời Tôi nói rất chân thật, các ông chớ nên nản chí, đối với việc Đời, khi các ông xây cất mỗi một cái nhà nó cũng phải đầy đủ cửa lớn, cửa nhỏ, nơi tắm, nhà bếp đến chỗ nơi để đại tiện không thiếu sót mới thành đặng cái nhà. Còn về việc Đạo, việc khám phá Vũ Trụ với con người cũng phải tỏ rõ tỉ mỉ mới đoạt đến mục đích hoàn mỹ, chớ chẳng nhẻ mới biết qua thô sơ đơn giản mà đã gọi là làm chủ Vũ Trụ sao? Khi bậc đã Vô Thượng Đẳng thời không còn chỗ phân biệt Vũ Trụ với con người hoàn toàn Chánh Giác, đó mới gọi là NHẤT THỂ.

Từ nơi Sơ Trụ Bồ Tát thoát sanh Ba kiếp THƯỢNG SANH hay HẠ LỢI nó tùy thuộc nơi Bồ Tát tu theo Đạo Hạnh, Bồ Tát Đạo Hạnh NHÂN THIÊN thời thoát sanh Thượng Sanh trước. Bằng Bồ Tát Đạo Hạnh Ngạ Quỷ, Súc Sanh thời thoát sanh HẠ LỢI trước. Từ Hạ Lợi hay Thượng Sanh Bồ Tát phải hành thâm nhiếp độ cho tỏ rõ mới bất thối chuyển, nếu chưa triệt thấu thì Bồ Tát thường bị Thối Chuyển hoặc chạy theo Tà Kiến thoát sanh mơ màng không tìm đặng lối thoát.

Khi Sở Đắc CHÂN KHÔNG phải tu Hạnh Bồ Tát, phát Đại Nguyện gọi là Bồ Tát Nguyện, lập Đạo Hạnh gọi là Bồ Tát Hạnh, thi hành Hạnh Nguyện tu Bồ Tát mới đặng tâm không nhiễm trước gọi là Sơ Trụ Bồ Tát. Bậc Sơ Trụ Tâm không nhiễm vạn pháp, nhưng chưa biết sử dụng vạn pháp thành thử mới thực hành trong Sáu Kiếp cốt nhiếp thu Lục Đạo mà tận giác Lục Đạo, chừng đó mới tỏ rõ tỉ mỉ Sanh Tử Luân Hồi, Sanh Tử chính là một sợi dây thuyên diễn BỆNH, LÃO, KHỔ vậy.

Bồ Tát Sơ Trụ Chứng Tri. Trước ngày Lâm Chung Bồ Tát thường hay biết trước, vì sao? Vì hằng ngày Bồ Tát quán thấy ở trên đời, làm kiếp con người quá ư cực khổ, con người lối sống giả tạo, vạn pháp thực hư, nhân tình ít thích hợp với tâm khảm của Bồ Tát, Bồ Tát kiên cố nhẫn nại, kiên cố nhiếp thâu cho rồi lấy một kiếp, Bồ Tát quán các Cõi, quán Niết Bàn, quán thân Tứ Đại Giả Hợp, Bồ Tát lại nhớ Hỷ Xả nương theo Bát Nhã tu tập. Có Bồ Tát cố định Trường Trai cốt thanh tịnh ẫm thực. Bồ Tát an lành bằng lối giúp đỡ cho con người chỉ dạy cho con người được hiểu biết Đạo Phật. Bồ Tát tu hạnh ĐẦU ĐÀ, tu hạnh NHẪN NHỤC, tu hạnh LỄ BÁI CUNG KÍNH tất cả Tam Thế Phật, Bồ Tát nhận lấy Nghịch Cảnh giúp cho con người được an nhàn, Bồ Tát không sợ lời xâm xĩa, lời mắng nhiếc miễm làm sao sự xâm xĩa, mắng nhiếc kia không vào tâm của Bồ Tát sân hận, thù hằn là Bồ Tát an vui đứng nhất. Nói đến Hạnh Nguyện nơi Bồ Tát thật vô kể, vì Bồ Tát tùy mỗi vị thi hành hạnh nguyện, chung lại Bồ Tát mong thành Phật phải thực hành VẠN HẠNH NHIẾP THU mới đến Bất Thối Bồ Tát, đến khi Bồ Tát thành Phật phải thực hành VẠN TƯỚNG mới thành Phật, các ông nên nhớ.

Lúc Lâm Chung Bồ Tát Sơ Trụ tùy theo Hạnh Nguyện Bồ Tát mà Bồ Tát thoát sanh, nếu Bồ Tát Đạo Hạnh khang trang liền có mùi thơm ngào ngạt tất cả thảy đều vắng lặng, Bồ Tát nhìn thấy tia sáng, sau tỏa khắp phòng hoặc giả Cốc hay tịnh xá, Bồ Tát liền đặng thoát sanh lên cõi trên như các Cõi Trời chẳng hạn. Đến khi đặng sanh, Bồ Tát sanh vào nhà Dân Thiên hay nhà Quan Thiên hoặc nhà quý tộc hoàng gia tùy theo Công Đức Bồ Tát mà thành tựu.

Bồ Tát chưa biết đặng chính mình ở đâu lai sanh nơi nầy, tại sao mình đặng sanh hay bị sanh vào nhà dân giả. Vì sao? Vì Bồ Tát đặng thoát sanh lên đến Cung Trời liền được tiếp vận với TIỂU NGÃ THIÊN NGÃ còn Nhân Ngã trả về Nhân Ngã để cho VÍA DẠI gìn giữ theo như trên đã nói.

Khi bấy giờ Bồ Tát, tâm thần sáng sủa nhìn đến sự sung sướng không bền vững, Bồ Tát được cha mẹ mến yêu, được trải hoa để Bồ Tát yên nghỉ, được Ẫm Thực cao lương mỹ vị, đặng y áo Gấm Tố Thiên, được tắm bằng nước Bạch Hương Thủy. Đặng Thiên Nữ chăm sóc mang hài Huỳnh Long, được chư Thiên yêu quí. Bồ Tát đương nhiên chưa thỏa mãn, chưa đặng lẽ sống khoan khoái nơi lòng, Bồ Tát thường tụ tập chư Thiên, thường nói năng giúp chư Thiên những điều cao quí. Đến một thời nào đó Bồ Tát phải nguyện NIỆM PHẬT, NIỆM PHÁP, NIỆM TĂNG tu trì chuyên ròng thuyết pháp. Nên nhớ rằng: Bồ Tát một khi nhất tâm tinh tấn được sanh vào cõi tu trì trong Mười Tám từng Trời ở Cõi Thiên. Đó gọi là Bồ Tát Tinh Tấn, đứng thứ nhất trong hàng Sơ Trụ Bồ Tát.

Bằng có Bồ Tát được thoát sanh lên Cõi Trời sung sướng, đờn ca sáo thổi cùng với Thiên Nữ múa hát đắm say, chạy theo Ngũ Dục mãi chơi bời, đôi lúc thấy lòng mình chưa toại nguyện, bày thêm nhiều cuộc vui say, nó cứ thế mãi, sau mãn phần một kiếp trở lại HẠ LỢI thoát sanh vào SÚC SANH GIỚI mà thi hành Hạnh Nguyện, đến một hoặc hai kiếp, tùy thuận hợp hóa nơi nguyện mới Tái Sanh, nói đến chủ yếu của Bồ Tát, Bồ Tát phải đầy đủ tỏ rõ nhiếp thu LỤC ĐẠO, khi Bồ Tát thực hành nhiếp thu Lục Đạo, đó chính là pháp môn LỤC TỰ DI ĐÀ, pháp môn Lục Tự Di Đà sở đắc hoàn mỹ đương nhiên Bất Thối, gọi là BẤT THỐI BỒ TÁT.

Đối với bậc Sơ Trụ đến bậc Bất Thối cùng chư Phật, khi lai phàm vẫn GIẢ MÊ để Đồng Hành, Đồng Sự, Đồng Ngôn cùng Đồng Đẳng. Đến một thời nào đó Bồ Tát Phát Nguyện tu hành lần tiến đến mức mình đã sở đắc từ ngàn xưa.”

Thiền Sư nói đến đây căn dặn chúng tôi hai, ba lần Ngài nói:

“Khi bậc Bồ Tát GIẢ MÊ rất mau ĐỐN NGỘ của mức Bồ Tát Đốn Ngộ. Qua đến giai đoạn chưa đặng ngộ của thời trước thường hay dừng trụ, giai đoạn nầy phát sanh ra nhiều Tự Ngã, nhiều ngạo mạn, nhiều lầm tưởng mà chấp trụ. Bồ Tát nên Phát Tâm DŨNG MÃNH NGUYỆN trọn kiếp Cúng Dường Tam Thế, tinh tiến không dừng trụ, thì nó liền qua cơn Thọ Ngã, qua cơn Ngạo Mạn, qua cơn lầm tưởng đến mức Bất Thối.

Bậc Bất Thối Lục Đạo tỏ thông, lục đạo viên đạt, biện tài Vô Ngại, đạo hạnh dung minh. Bậc nầy tỏ rõ đường đi lối về của con người chạy theo Lục Đạo, làm con đường thay đổi, di chuyển gọi là SỐNG CHẾT, mang lấy Cá Tánh, gìn giữ Cá Nhân cho mình hiểu biết, ưa thích dạy đời, hơn là chính mình phải học trùm khắp phải bị Sanh Tử trong Lục Đạo. Do đó nên Thân Tâm Bất Thối chuyển, được gọi là BẤT THỐI BỒ TÁT.

Bậc Bất Thối. Khi thoát sanh lâm chung bậc nầy đang bệnh nằm nơi giường, bậc nầy lúc Chết vẫn chưa biết mình Đã Chết. Tiềm Thức (hồn) ngỡ mình đang còn sống, thân mình nhẹ nhàng khỏe khoắn hết bệnh, nhìn thấy Tứ Chúng ra vào lễ bái như thường lệ. Nếu là Cư Nhân vẫn thấy Gia Đình sinh sống như lúc bình thường.

Đến bảy ngày sau, đương nhiên được biết mình Chết, nếu bậc bước vào Bất Thối tuyệt đỉnh, bậc nầy an nhiên không còn TẬP KHÍ, không còn ÁI NHIỄM bước ra đi dạo khắp các Cảnh Giới, giao du các TỊNH ĐỘ, lễ bái A Di Đà, một là an trú Tịnh Độ, hai là phát Đại Nguyện Lai Trần, nếu lai trần xuống đặng làm vua minh chánh, làm quan đại triều, làm lãnh tụ cứu nước, cứu dân an lành, giải khổ ách nô lệ. Bậc nầy dù tái sanh nơi nào trong lục đạo cũng đặng làm thủ lãnh cứu nguy, chớ không bao giờ làm thường dân cả, vì sao phải làm Vua hoặc làm Lãnh Tụ? Vì có làm Vua hay làm Lãnh Tụ sau nầy mới có Trang Nghiêm thành Phật, trước tiên làm Chủ giúp Dân, sau làm Chủ Vũ Trụ, đó chính là lẽ đương nhiên nó phải như thế.

Bậc Bất Thối khi Tái Phàm nó đã có sẵn CHỦ ĐÍCH TIN VÂNG vào kinh điển, vào mục đích nơi mình đang đi, đang thực hành. Như nhất khi vào một Pháp Môn nào để tu trì thì đã có sẵn lập trường cao quí nhất là Tin nơi pháp môn, quí pháp môn đã có sẵn đức tánh bất thối chuyển.

Còn nói đến ĐẠI BỒ TÁT, thật khó nghĩ bàn, khi bậc Đại Bồ Tát giả mê, bất khả Thượng Hạ thảy đều học hỏi tu hành, không vì bạn bè mà không học, không vì kẻ giai cấp nghèo nàn mà không học. Tự Tôn cao quí bậc THẦY, tự trọng thân hữu bạn, tự mến thương giai cấp mà tự mến. Bậc ĐẠI BỒ TÁT tất cả công việc chư Phật đã thi hành ngày nay Đại Bồ Tát phải làm, Đại Bồ Tát thu gọn tất cả những gì còn thiếu sót, những gì A Tăng Kỳ kiếp chưa làm đến nay Đại Bồ Tát phải làm. Đại Bồ Tát nhìn biết những môn Bồ Tát chưa làm, bằng tánh chất thua kém, bằng ý chí chưa rộng, bằng Lề Lối biếng trễ, bằng đối xử với mọi người chưa chân thật đang còn chênh lệch nhau, nay Đại Bồ Tát phải thực hành không thiếu sót.

Vị Đại Bồ Tát chưa bao giờ suy nghĩ việc nơi mình giúp đỡ rộng hẹp, lớn nhỏ đối với con người, hoặc Tâm Tánh mình VÔ NGẠI để mình đặng ngôi thứ Bồ Tát. Do nơi không so tính hơn thua rộng hẹp, lớn nhỏ đối với mọi người nên hóa độ được KHỔ ÁCH.

Đại Bồ Tát nhìn tất cả những hiện vật Vũ Trụ đã hóa sanh có tất cả hình sắc, nếu kẻ nào nhìn thấy hình sắc nơi hiện vật, mà cho là Đã Biết, thì thật ra chưa biết chi cả, vì sao?

Vì lúc nhìn những hiện vật thấy đặng thực chất hóa sanh ra nó mới thật là biết. Có nhiều vị sống trong hình tướng thứ vị hơn là sống nơi mức tiến hóa của con người. Nên chi Đại Bồ Tát sống theo nếp sống tiến hóa Vũ Trụ, hơn là ở nơi Thứ Vị của Bồ Tát phải chịu nằm trong Vũ Trụ Bị Sanh. Do lẽ ấy nên Đại Bồ Tát không bao giờ suy nghĩ mình là Đại Bồ Tát, duy chỉ mục đích thật biết tỏ rõ tất cả Động Cơ và Phụ Thuộc Cơ của Vũ Trụ hóa sanh Sơn Hà Đại Địa cùng vô số thế giới, mỗi mỗi đều có mức Sống cùng lối sống khác biệt, nhưng đồng cái sống.

Đại Bồ Tát không bao giờ cầu báo NIẾT BÀN, cầu báo Tịnh Độ các Cõi chư Thiên, Tiên, vì Đại Bồ Tát thật biết chính mình tạo những gì, chính mình có nơi đó chớ nào phải van xin cầu khẩn mới có, do biết NHƯ TƯỚNG cùng NHẤT TƯỚNG mà tâm không bao giờ suy nghĩ vẩn vơ, suy nghĩ mong đợi duy nhất Hạnh Nguyện thực thể mà đặng.

Đại Bồ Tát khi lâm chung cũng như thay nơi ở, tâm không quái ngại, nên không có TẬP KHÍ. Lúc Tái Phàm hoặc Tái Sanh nơi nào tùy Đại Bồ Tát đến nơi thai sanh mà Thị Hiện tái sanh.

Bậc Đại Bồ Tát NHẤT SANH BỔN XỨ THÀNH PHẬT, khi Bồ Tát Bất Thối kiếp thứ Chín chưa tròn Hạnh Nguyện đến chừng kiếp thứ Mười Hai mới thành Phật, vì phải tu trì đến mức Đại Bồ Tát mới đặng Thọ Ký Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật.

Bậc NHẤT SANH BỔN XỨ THÀNH PHẬT, bậc nầy đã tỏ rõ tỉ mỉ tất cả vạn pháp di chuyển thay đổi nơi nó như thế nào, đặng thành tựu ra sao. Từ Chủng Tánh Chúng Sanh đến Chủng Tánh Bồ Tát, phân định giữa hai trạng thái cử chỉ, đồng thời nơi Nghe, Thấy, Biết nó như thế nào thảy đều tỏ rõ thật biết rành mạch. Cũng như biết tỏ rõ tỉ mỉ Vũ Trụ từ nơi Thể Chất, các chất nơi Vũ Trụ hợp hóa ra sao, đặng hóa sanh những gì, từ Sơn Hà Đại Địa đến Nhân Sinh, Thiên Sanh thảy đều biết rõ nơi thọ chấp thứ bậc thành hình vậy.

Bậc nầy khi Lâm Chung, đã biết trước rõ ràng tỉ mỉ, bậc nầy định hướng nơi an trú để sau Hạ Lai thành Phật. Bậc nầy lại sửa soạn quét dọn an bài đâu đó trước ba tháng hoặc bảy tháng mới lâm chung. Bậc nầy trước khi thoát sanh đã căn dặn tất cả Tín Chúng từ cử chỉ đến sự hệ trọng trên con đường Giải Thoát. Nhưng bậc nầy chưa biết sau nầy chính mình Hạ Lai trong một nước nào, vì sao? Vì dưới mắt bậc Nhất Sanh Bổn Xứ, nước nào cũng bình đẳng như nhau nên chưa lưu tâm đến. Đến ngày lâm chung, đến phút lâm chung chư Phật nghìn phương đồng đứng lên Thọ Ký "NHẤT SANH BỔN XỨ THÀNH PHẬT.”

Thiền Sư vừa nói đến đây trời cũng về chiều, số người cùng Thiền Sư ra về, mối tình cao cả Thiền Sư đã nói, anh em tâm niệm cảm kích vô cùng khó tả.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

11. THỂ CHẤT TÁNH CHẤT NGUYÊN TINH NHƯ THẾ NÀO?

Thể Chất Nguyên Tinh là Nguyên Chất của Vũ Trụ, nơi Nguyên Chất nó rất tinh vi linh động, nó cũng là Chất Sống Nguyên Thủy triệu triệu xưa, nên gọi là NGUYÊN TINH.

Tánh nơi nguyên tinh tất cả Vũ Trụ đến Sơn Hà Đại Địa, Cây Cảnh, Núi Sông đến muôn loài vạn vật thảy có nó đáp ứng đem cái sống linh động tăng trưởng cho tất cả, nếu vật chi thuộc về thiên nhiên hóa sanh đều có chất nguyên tinh dung dưỡng, bằng nhân tạo thì chẳng có chất nguyên tinh bồi dưỡng, vì vậy nên chi thiên nhiên hóa sanh sống lâu bền bỉ, còn nhân tạo mau hư, mau hủy diệt.

Tánh Chất Nguyên Tinh không làm cách gì ngăn chận nó nổi, nó có thể xuyên qua bộ xương để cung cấp bộ xương đặng sống, nó xuyên qua mạch máu, gan phèo phổi cùng bao tử cho đến các tế bào để đem chất sống cho con người, con người từ bấy lâu nay chỉ biết mình đầy đủ thân thể ruột gan không thiếu sót là SỐNG, khi ốm đau hoặc thiếu ăn thân thể uể oải bệnh rồi chết, chớ nào ngờ nơi ăn uống bồi dưỡng cả vật chất lẫn tinh thần không có nguyên tinh thì con người thiếu linh động, thiếu chất Sống con người phải chết.

Chất NGUYÊN TINH là một chất động cơ thúc đẩy trong thân thể con người dù cho đầy đủ bộ phận đi nữa chăng, không có chất Nguyên Tinh cũng không thể nào thúc đẩy các bộ phận làm việc, khi các bộ phận không làm việc thì con người không thể sống. Từ Vũ Trụ đến vạn vật đều phải như thế.

Chất Nguyên Tinh nó xuyên qua cũng như lằn điện tử, các lằn sóng điện phát thanh hay vô tuyến truyền hình, dù cho con người đậy kín thế nào nó xuyên qua cũng đặng. Nếu con người biết dùng chất Nguyên Tinh thời con người sống lâu tùy nơi mình gìn giữ nó.

Các bậc tu Tiên đến lúc gần thành Tiên vẫn dùng chất nầy để bồi dưỡng thân thể tráng kiện, họ gọi là SANH KHÍ, có phái dùng chất Nguyên Tinh tập trung nơi tinh thần xuất định lên các cõi Tiên Thần được gọi là TINH KHÍ THẦN, chất nầy sẵn có trong Vũ Trụ trùm khắp. Con người mau già hoặc chậm già vì lo nghĩ ưu phiền thì chất nguyên tinh ít thu nhận được trở nên hư hao gầy ốm, nếu giải buồn phiền ưu tư lòng thoải mái tươi đẹp thì chất nầy nuôi dưỡng mãi lâu già.

Chất Nguyên Tinh nó giúp cho bộ óc hữu hiệu nhất, theo Khoa Học họ đem bộ óc con người ra thực nghiệm nào là bộ óc đường máu hở hoặc giả bộ óc xanh xanh tím tím là thông minh, hoặc lớn hay nhỏ tùy theo nơi thực nghiệm Khoa Học mà minh xác. Đối với nhà Thần Thoại Học họ chỉ thân tâm thoải mái, mỗi sự việc chi đưa đến họ tìm các hóa giải, khi tư tưởng khởi sanh, mặc nhiên để tư tưởng phát sanh họ liền hóa giải tư tưởng liền mở mang lần tiến. Không khác nào người khai mương nước đọng đến đâu khai thông đến đó, đối với bậc mở mang bộ óc cũng như thế. Chưa phải con người họ đã ngu, chỉ vì chưa biết sử dụng khai hoa bộ óc, biết khai hoa đến đâu thời chất nguyên tinh động cơ thúc đẩy đến đó, miễn con người đừng cố thủ lấy mình đương nhiên thông thái. Phần nhiều những nhà Thông Thái Học họ ít muốn mang những câu chuyện bé nhỏ vào thân tâm, nên chi họ tiếp nhận nơi bộ óc nhiều sáng kiến, họ chỉ lấy sáng kiến hay hóa giải theo Triết Học nên được bộ óc tiến hóa.

Đối với các Cõi như Cõi Tiên họ dùng THANH làm vi bản, chất Thanh nhiếp thu đặng nhiều Nguyên Tinh Chất đồng hòa hợp với hư không trở thành thanh thoát mà đặng chất Nguyên Tinh cung cấp nhiều nên chi tuổi thọ họ sống lâu. Còn con người từ chất hư không, chất khí hậu đồng hòa chất nguyên tinh nó có pha lẫn chất thô nên tuổi thọ chưa đặng bao nhiêu, do đó nên công dụng về tinh thần nhiếp thu chất nguyên tinh để nuôi thân.

Bậc TIÊN ĐẠO thường dùng cặp mắt có một chiều ưa xuất trần lao, lọc bỏ chất Thô tạo thành Thanh Chất thành ra riêng có mỗi một phần lấy mình huân tập thành hình. Còn đối với dưới mắt Thiền Sư soi nhìn trùm khắp nên thật biết đặng chất NGUYÊN TINH quí vô giá, nơi nào, chỗ nào cũng sẵn có chất nguyên tinh, miễn con người dụng tâm vui vẻ, dùng trí sáng soi, dùng thân ăn ngủ điều độ, tất cả những chuyện vặc mắc bỏ qua nuôi lấy tinh thần thư thả liền nhiếp thu nguyên tinh vào để nuôi thân mạng. Chất nầy tinh vi nguyên thể tùy theo tư tưởng trình độ cung cấp tăng trưởng không ngưng, duy chỉ ưu phiền, tự mang lấy buồn bực thì nó tiếp thu rất ít, chỉ xuyên qua nuôi thân thể phần nào biết cách sử dụng lấy nó có ích lợi vô kể. Nguyên Tinh nó không có thẩm quyền đem đến Cái Biết viên thông cho con người, nhưng nó có Tánh Chất viễn thông chạy mãi không ngừng, nhờ tất cả các chất phối hợp nhau trở thành Cái Biết viên thông tự tại, nếu như không có nó thì tất cả nằm yên đình trệ tất cả không có lấy Tia Sống, chính nó là một nguồn sống nơi hy vọng của con người, lúc con người có tia sống, có hy vọng để mà sống, chớ nên đặt hy vọng ấy thái quá đến ngày kia đến nơi Tuyệt Vọng thì chất nguyên tinh bị đình trệ nguy hại vô cùng.

Nguyên Tinh là một chất Sống, nó có đều đặn từ thời Vô Thủy, thời nào đối với chất nguyên tinh không giảm, không khí thì có thời đầy đủ, có thời giảm chớ nguyên tinh không giảm, duy chỉ con người ưu tư buồn phiền theo diễn cảnh mà giảm đó thôi, chớ thật ra nguyên tinh không giảm. Tại sao không khí bị giảm? Không Khí bị giảm do trái Đất già chưa đủ chất nên bị giảm.

Kể từ ngàn ngàn năm xưa, chất nguyên tinh vẫn một mức trung bình không tăng giảm. Nhưng thời xưa con người ít tư tưởng, ít phóng đạt nên ít có Bối Cảnh, con người thời ấy rất bình dị đơn giản, họ sống một lối yên thân đều đặn. Các ông nên nhận thức, họ sống bình dị đơn giản, chớ không phải con người sống vô tư, nếu con người thời đại nào mà cái lối sống vô tư yên phận hèn yếu bạc nhược, nếu sống bạc nhược vô tư yên phận thì cũng ít thu nhận đặng Nguyên Tinh, nên nhớ lấy.

Thời xưa tuy nhiên ít tư tưởng nhưng tư tưởng khỏi lầm vào Giả Tưởng quá nhiều như ngày hôm nay, họ có một tư tưởng thực chất, họ có một tinh thần bất khuất tất cả những điều vô lý trí, họ đầy nhiệt huyết kiên hùng, họ cũng xây dựng thành quách, họ cũng đắp đặng con đê vạn dặm ngàn khối đất ngăn nước khỏi hại dân, do nơi tư tưởng thực chất đều đặn mà thu nhiếp Nguyên Tinh bồi dưỡng thân thể tráng kiện, sống lâu trăm tuổi, trong thời nầy con người có thể làm được, cũng vận động cơ thể cho mạch máu điều hòa, tinh thần vui vẽ liền thu thập đặng chất nguyên tinh, thân đặng tráng kiện, ý chí phục vụ giúp cho con người sống trong căn bản thiết thực.

Con người sống trong thời tiến bộ bao nhiêu lại càng công dụng sức khỏe bấy nhiêu, càng văn minh bao nhiêu lại càng làm cho tinh thần thoải mái bấy nhiêu, nên y học, khoa học mới phục vụ cho con người đứng trước thời đại tiến hóa. Đối với Đạo Phật vốn có nền văn minh tột đỉnh, vốn có sẵn đức tánh tiến bộ cung đốn giúp con người bất thối trước giai đoạn khó khăn, do tại con người đa số hèn yếu không vươn mình theo như lời Đạo Phật dạy phải THÙ THẮNG giải quyết khó khăn, phải tranh đấu bản thân nơi nghiệp thức, chớ lười trễ cầu an mà trở thành CHỒI KHÔ MỘNG LÉP, chớ nên tâm chí hẹp hòi làm cho con người lầm tưởng Đạo Phật TIÊU CỰC. Đạo Phật rộng rãi bao la, khám phá Vũ Trụ chớ ngồi yên chờ sẵn mà thiên hạ lầm nhận Đạo Phật bé nhỏ, dù vô tình hay cố ý chính mình tự đem Đạo Phật vào LỔ CHÂN TRÂU.

Đạo Phật đã từng biết nơi tuổi thọ của con người bị tiêu giảm lần xuống, vì nơi giả tưởng tâm ý ngăn cách quá nhiều trở thành eo hẹp. Từ nơi hấp thụ Nguyên Tinh bồi dưỡng đầy đủ trở thành nguyên tinh yếu kém nhiếp thu vào thân thể thiếu hụt mà tuổi thọ phải tiêu giảm. Con người nào có hay biết tuổi thọ bị tiêu giảm lần chính mình tự gây tạo ra nó, lại quan niệm trời bắt giảm mình, hoặc thời nầy hay thời nọ tăng tuổi hoặc giảm tuổi, nếu con người biết được vì quá lo âu, quá sợ sệt làm giảm tuổi thọ thời con người thư thả thân tâm để tiếp nhận Nguyên Tinh tuổi thọ bắt đầu nâng cao lần. Theo tài liệu của Đạo Phật, con người từ khởi sanh thì chưa biết được có từ bao thế kỷ, đến lúc khai sanh con người tuổi thọ 8.000 (tám ngàn) tuổi một kiếp, sau bị tiêu giảm lần đến nay không đầy một trăm năm một kiếp, một kiếp hiện tại gọi là một thế kỷ. Như thế thời chắc hẳn con người thảy đều biết rõ, nhưng con người chưa biết tại sao tiêu giảm, chưa biết đặng chất NGUYÊN TINH là một chất SỐNG đem đến cho con người. Các Tôn Giáo thi hành tâm thanh thoát tư tưởng khoát đạt, trí tuệ bao dung thì chính những bậc ấy chỉ biết có bao nhiêu đó thôi, nào có gì khác nữa. Giờ phút nầy Hạ Lai Mạt Pháp sắp tàn canh, Chánh Pháp đã ra đời đem đến Nguyên Tinh chất hoa khai Tạng trổ cho con người biết đặng chất Nguyên Tinh làm tăng tuổi thọ mà thực hành hưởng lấy.

Đối với con người nghe được, biết được ban đầu thi hành thì rất khó, chớ các bậc tu Thiền chẳng lấy chi làm khó, dù ít nhiều vẫn thi hành đặng. Bậc Thiền Tọa đến mức khá cao thực hành một thời gian sở đắc CHÁNH ĐỊNH TAM MUỘI thì hoàn toàn điều khiển, hoàn toàn sử dụng Nguyên Tinh, nhờ nơi thúc đẩy không ngừng phát sanh rốt ráo nên mới đoạt đến Vũ Trụ tương quan nhịp nhàng chung Chánh Định.

Chất Nguyên Tinh rất có lợi cho các bậc tu Thiền Tọa, nhưng nó có hại cho một số ít chưa hiểu gì về Pháp Môn Tu Thiền, nên chi Công Phu say đắm nơi Thiền, sự huân tập nhiếp thu Nguyên Tinh quá nhiều mà trí tuệ kém, tư tưởng phát khởi lòng tham muốn mau trở thành PHẬT, THÁNH, TIÊN, họ chỉ theo quan niệm tu thiền thành Phật. Còn đứng về tinh thần chất nguyên tinh để nói: Nguyên Tinh là một động cơ thúc đẩy theo vạn tư tưởng nơi con người đã mong muốn, chớ nó không thể lái con người theo sự chuyên chính Nhất Tôn, nên chi Đạo Phật nói: “NÓ NGHĨ THẾ NÀO, NGUYÊN TINH LIỀN ĐƯA NÓ ĐẾN NƠI ẤY.”

Nguyên Tinh tùy thuận theo ý nghĩ Hòa Hợp Hóa Sanh, nếu nó hòa hợp nơi chất chi liền hóa sanh trong chất ấy, như nó vào máu liền hòa hợp trong chất máu hóa sanh, nó vào xương hay tế bào, nó liền hòa hợp xương cùng tế bào hóa sanh. Khi con người cần dùng nơi tư tưởng nó vào tư tưởng hợp tinh thần hóa sanh. Do lẽ ấy Triết Học Zen bên Nhật Bản có một phái dụng nơi Nguyên Tinh bồi dưỡng nuôi thân, có rất nhiều Tông Phái họ dùng quan niệm để tu luyện thảy đều do chất Nguyên Tinh cung cấp.

Sự lầm tưởng nơi con người, tự mình tu luyện, tu thân, tu tinh thần, tu hiểu biết phá mê chấp, tu trong Vạn Hạnh cốt được tỏ thông, hoặc giả thực hành cốt chứng ngộ. Đứng tư thế tự mình cấu tạo, tự mình hóa giải, tự mình tự giác thảy đều là một phương tiện đi đến hoàn toàn thực chất Nguyên Tinh sống động Vũ Trụ với con người Đồng Thể, cho nên Đạo Phật bảo hãy nương theo VÔ NGÃ, lần tiến đến Đại Ngã Viên Giác liền TỰ THỂ hóa sanh, khi Tự Thể hóa sanh mới thật biết mình Đại Diện Vũ Trụ, đại diện Vạn Pháp Ứng Thân Nhất Thể.

Nơi lầm tưởng của con người chẳng có vị nào tránh khỏi, thời xưa đức Bổn Sư, lúc đang còn là vị Thái Tử Tất Đạt Đa vẫn theo quan niệm giải quyết SANH, TỬ, BỆNH, LÃO, KHỔ, Ngài theo phái Trần Kiều Như tu khổ hạnh chưa tìm đặng nguyên lý tinh thần thiếu thốn. Sau đến cội Bồ Đề tịnh dưỡng tinh thần bồi dưỡng hiện vật như thường, thân tâm dung hòa mới đoạt Vô Thượng Chánh Giác. Ngài tự nói: “Lạ thật! Lạ Thật! Chúng Sanh nó đầy đủ bổn tánh, đầy đủ thể chất, đầy đủ quán xuyến, nó không thiếu sót những gì nơi chư Phật, nó vốn có như nhau. Duy chỉ có Mê Lầm chưa tỏ ngộ bị làm chúng sanh, nếu nó Giác Ngộ vẫn thành Phật.”

Câu nói trên của Thái Tử, bằng chứng Nguyên Tinh dung khắp, nuôi dưỡng Vũ Trụ với con người Bình Đẳng, con người có đầy đủ Tánh Chất, đầy đủ Lý Trí khả năng, thực hành thoát khỏi Vũ Trụ. Nhưng con người nhận sai mục tiêu, nhận sai mục đích chính yếu, nên chi có sự bê trễ thành thử ưa thích những điều gì không làm mà đặng, không thực hành mà đến, vì nó như thế nên đứng yên một chỗ không hơn kém đối với con người hay con người ta cũng thế.

Con người có nhiều lúc đứng trước sự việc khó nghĩ, đâm phân vân từ những bậc có tu theo Đạo Phật hoặc chưa tu cũng thế, họ tự hỏi lấy: “CÁI NGỦ CÓ PHẢI NHƯ CÁI CHẾT CHĂNG?” Cái ngủ với cái chết hai cái khác biệt nhau, nói ra con người làm sao nhận tin được, vì sao? Vì con người đã từng ngủ, chớ chưa ai đã từng chết để nghe lời nói thật. Nói đến cái chết, có kẻ đã bị chết rồi sống mới nghe đặng lời kể là thật.

Còn đối với cái ngủ là một lối an dưỡng Thân cùng dưỡng Trí. Ban ngày con người từ nơi Linh Hồn mang phải xác thịt mệt nhọc vô cùng, còn phải làm việc lo lắng hằng ngày. Tối đến giấc ngủ để an dưỡng thân, an dưỡng trí làm cho thân đỡ mệt, trí khỏi lo, con người có sức khỏe thì cái ngủ nó rất ngon, bằng yếu về thân hoặc mệt về trí, đêm nằm thường thấy chiêm bao. Chiêm bao là một cái trí Giả Tưởng hoặc mệt trí hay trí bị giao động trước bối cảnh, có trường hợp sức đang khỏe nhưng khí trời bất thường thay đổi vẫn bị thấy chiêm bao. Chiêm bao thuộc về Giả Tưởng, thuộc về Tâm Ý, thuộc về sức khỏe, thuộc về giao động, còn về thật hay không thật do sự tin hay lòng tin của con người để báo điềm trước, đó thuộc về Thần Thức Giả Tưởng kết hợp một phần nào nơi Tiểu Ngã để thấy.

Nói đến CÁI CHẾT, nghe qua ai cũng sợ sệt, vì đối với con người SỐNG lo âu, CHẾT sợ sệt. Thật ra con người đã gặp cái chết mới nhận định được cái chết rất nhẹ nhàng, thoải mái, không khác nào để một gánh nặng về Thân Thể con người trên bốn chục ký lô. Cái Chết thoát sanh, nó tùy theo Cảnh Giới, tùy theo thân mạng thay đổi TRÍ NHỚ.

Khi con người đang bệnh, đến lúc chết liền thoát khỏi thân mạng đau đớn trên giường bệnh, nên nó nhận thấy nhẹ nhàng là do chỗ đó. Chết xuống CÕI ÂM hay đến Cảnh Giới nào, chính nó cũng quên hẳn rằng nó từ Nhân Gian đến nơi nầy hay nơi nọ, nó vẫn tưởng nó ở Cõi Âm hoặc Cảnh Giới nó đang ở, nó tựa như Du Khách chớ chưa bao giờ nó nghĩ Bà Con hay nhà cửa chi cả, nó cứ đi hà rông mãi, đến khi nào đó đương nhiên nó bị một màng bao phủ chụp vào người nó, nó bất tỉnh đó là nó được vào Thai, đến kỳ nó bị sanh ra như thường lệ. Đối với ở Thế Gian nầy cũng như thế, ở thế gian nếu có người nào ở Cõi Thiên hay Cõi Âm hoặc Cõi Thần, đến lúc Mãn Phần về cõi Nhân, họ cũng ngỡ rằng mình ở Nhân Thế, họ vẫn đi rông đến khi nhập Thai bị sanh, họ thảy đều quên bản thân của họ ở đâu đến đây, đó chính là một cuộc thay đổi từng nơi nầy đến cảnh nọ để mà Sanh Tử.

Nói đến Cái Chết ĐƯỢC SANH hay BỊ SANH vào các CÕI hay CẢNH GIỚI thấp, cao, sướng, khổ không căn cứ lúc LÂM CHUNG (chết) êm đẹp hay trầm trệ, mê mang hoặc tỉnh táo trong lúc đau bệnh mà Chết. Chỉ căn cứ đương thời con người đang lúc Sống từ nơi Hành Sự đến Ngôn Từ, Ngôn Hạnh gây tạo phước điền hay Tàn Phá ác nghiệt, căn cứ như thế mới đúng đắn họ chết sẽ đi về đâu.

Con người chết được về Cảnh Giới sung sướng hoặc khổ đau nó rất thực tế, nó không phải thần thoại hoặc giả dối đặng, nó không khác nào với bậc Dược Sĩ pha các chất chế tạo từng món thuốc, chất gì pha với chất chi được gọi là Môn Thuốc để trị bệnh nhất định mỗi bệnh. Khi con người chết Được Sanh hay Chịu Sanh nó cũng tùy theo Phẩm Dược, tùy nơi chất phẩm đắng cay ngọt bùi nơi nó, lúc còn sống tạo thành mà vào CÕI hay các CẢNH GIỚI đồng hợp nơi nó, nó liền Hóa Sanh nơi cõi ấy hoặc cảnh giới ấy sướng khổ tùy theo Được Sanh hay Chịu Sanh cũng thế.

Theo thói thường con người, lúc lâm bệnh nó có hai trường hợp đem con người Thoát Sanh, trường hợp thứ nhất con người bị đau NỘI THƯƠNG thuộc về đau Thân Mạng, trường hợp thứ hai đau về THƯƠNG HÀN cảm nặng thuộc về Trí Giác. Hai trường hợp nầy thường hay bị con người lý đoán về Cái Chết nơi con người. Lúc bị đau về Thương Hàn mê man bất tỉnh, miệng nói lẩm bẩm, sau khi Chết, họ cho là người nầy chết sẽ bị tội chịu sanh khổ sở. Còn có người đau về thân mạng Nội Thương, lúc chết tỉnh táo, nói năng tỏ rõ, họ cho sẽ đặng lên Thiên Đàng hay Cõi Trời. Hai lý đoán như thế không thật thảy đều sai chạy.

Nếu con người tự nhận biết được tỏ rõ, sau khi Chết sẽ về đâu, thời nên biết lúc đang còn sống tạo cho đặng PHƯỚC ĐIỀN, tạo cho đặng Đức Tánh cùng nung đúc tấm lòng Nhân Đạo, chính mình biết thương nơi khổ cực của mọi người, cũng như thương thân mạng mình, chính mình nên đem lời an ủi giúp đỡ cho những người chung quanh mình đã từng bị Khổ, làm cho họ đặng an vui ví như mình an vui. Con người cứ làm như thế thời con người ấy sau khi tuổi già có lâm vào tình trạng mắc bệnh THẦN KINH, lúc lâm chung cũng thoát sanh lên Cõi Thần hay Cõi Thiên. Tâm trí họ liền sáng suốt, còn chứng Thần Kinh kia nó liền trả lại cho con bệnh Thần Kinh, chớ không vướng mắc gì đến Chánh Báo thân mạng, đó chính là lời chân thật vậy.

Con người đang ở nơi hiện tại rất cần xây dựng đứng thứ nhất. Bậc đã tạo đặng cơ bản bản năng làm con người chân chất cao đẹp, dù cho sau nầy Chết bằng cách gì đi nữa cũng đặng chánh báo khang trang chớ không bao giờ sa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh đâu mà sợ, làm con người hiếm người biết xét lại công việc mình đã làm thất đức, hiếm bậc gặp trường hợp họ gây ra tạo ác nghiệt đến nơi mình mà chính mình tha thứ cho họ. Cũng như đức Chúa Jésus, phe phái đánh đập Ngài, bắt Ngài đóng đinh nơi cây Thánh Giá. Ngài không hờn giận kẻ đối phương, Ngài nhìn giọt máu rơi trong lúc lâm nạn, Ngài còn thốt ra lời: “GIỌT MÁU CỨU THẾ” Ngài thoát sanh bằng lối khổ đau, Ngài được CHẾT lên Thiên Đàng có phải là Đức Tánh lòng Nhân Đạo mà Ngài đặng Chánh Báo chăng?

Từ đức Chúa Jésus đến các bậc Thánh Tăng mong ngày chính mình ĐƯỢC CHẾT, những bậc nầy coi sự chết là một cuộc hóa sanh ưu tú nhất. Nên chi có một vị Tăng Già đang đi ngang qua khu rừng dưới chân núi, bỗng nhiên gặp con Cọp từ xa đi lại, hai bên đụng đầu nhau, vị Tăng an nhiên không sợ cái chết, mong mình được chết, làm cho chú Cọp kính nể cúi đầu tránh vị Tăng Già làm cho Thế Giới ngạc nhiên, như thế có phải thần thoại không? Đối với con người biết rõ trong tay mình có Đạo Đức thời đứng trước mọi sự việc gớm ghê họ thảy đều an nhiên, trông mọi sự việc xảy đến nơi, nhưng mọi việc đó không bao giờ xảy đến.

Những bậc đã từng biết rõ về vấn đề SANH TỬ, nên không bao giờ sợ chết, còn mong cái chết đưa đến cho bậc đã từng tỏ rõ về Sanh Tử. Thuở xưa có hai người bạn thân với nhau, cùng ở chung nhau một ngôi Chùa, đồng nhau một Thầy. Sau khi vị Hòa Thượng mãn phần, hai người cũng đã tỏ rõ đường đi lối về của Sanh Tử, gọi là giải quyết Sanh Tử Luân Hồi, hai vị tuổi mới vào lối bốn mươi chưa phải là tuổi Được Chết, hai vị bằng tìm cách yên thân để chờ viên tịch (chết trọn). Vị thứ nhất nói với vị kia rằng:

“Chú nên ở lại Chùa tạm mượn Chuông Mõ chỉ dạy các chú Tiểu sống cho qua ngày, còn tôi đi giao du khắp đó đây giúp đời, nếu hai ta cùng đi thì bỏ ngôi Chùa không ai coi ngó.” Bàn định xong Sư Trưởng ra đi, trong vòng mười lăm năm về sau. Một hôm Sư Trưởng đi ngang qua Chùa trong buổi chiều nghe tiếng mõ trong Chùa vang dội, nhìn thấy chú Tiểu đang quét sân, sư trưởng gọi chú tiểu đến hỏi:

“Nầy chú Tiểu, có thằng Tâm trong đó không?”

Chú Tiểu nhìn Sư Trưởng sợ hãi, chắp tay thưa: “Dạ có.”

Sư Trưởng vừa cười vừa nói:

“Cháu nói lại với thằng Tâm Ta giảm thọ cho nó mười năm, nó được chết sớm.”

Nói xong bỏ đi.

Chú Tiểu vào Chùa, cũng vừa lúc Hòa Thượng đã công phu xong. Chú Tiểu bái thưa:

“Bạch Hòa Thượng, con ra ngoài ngõ trước cổng Chùa đang quét sân, bỗng nhiên gặp một vị Sư, trán rộng, thân mình cao, tay cầm chiếc ô, hỏi con rằng:”

Vừa nói đến đây Hòa Thượng mừng rỡ hỏi liên tiếp: “Thế nào, thế nào, vị ấy đã nói gì với con?”

Làm cho chú Tiểu lính quýnh, không dám thưa vội, phần Hòa Thượng nóng lòng mong chú Tiểu đáp, chú Tiểu bạch:

“Kính thưa Hòa Thượng, con nói ra con sợ lỗi tăng thượng đối với Ngài, xin Ngài tha lỗi cho con mới dám nói?”

Hòa Thượng gật đầu, chú Tiểu thưa:

“Vị Sư hỏi có thằng Tâm ở trong Chùa không?”

Con đáp: “Dạ có.”

Vị Sư nói tiếp:

“Cháu, ta giảm thọ cho nó mười năm, mong nó được chết sớm.”

Vị Hòa Thượng nghe xong vỗ tay vui mừng, chế một chung trà thưởng thức lời nói của vị anh cả thương em đang mong đợi Được Chết.

Sau đến thời Lục Tổ Huệ Năng, lúc Ngài sắp nhập Niết Bàn, Tứ Chúng u buồn than thở, Ngài nói:

“Các ông chớ nên buồn phiền, đáng lẽ các ông nên vui mừng vì Ta đã biết đường đi lối về SANH TỬ, có chi mà phải buồn.”

Thiền Sư vừa nói đến đây, số người đồng thưa:

“Kính thưa Thiền Sư, con đường Tử, khi bậc đã biết nơi hiện tại đang lúc còn sống, tạo Đức Độ đến Vị Lai đặng thoát sanh vào nơi cao quí, vào chốn an nhàn Chánh Báo. Chúng tôi mong Thiền Sư giải cho chúng tôi được nghe nơi thoát sanh của con người từ Phàm Phu đến Thánh Tăng có khác nhau như thế nào? Bọn Ác Nghiệt Bị Sanh nó ra sao?”

Thưa gởi xong yên lặng chờ nghe. Thiền Sư nói:

“Nói đến sự ác nghiệt bị sanh chịu cực hình thời nó vô kể. Nhưng các ông cũng nên biết, nơi thường dân tục tử, dù ác nghiệt đến đâu chăng cũng là một tội bé nhỏ, riêng mình, mình chịu chỉ có một kiếp, chỉ trừ trường hợp làm cho những bậc tu hành tạo phước điền đoạn duyên mới đáng kể. Đứng vào hàng Vua Chúa, Quan Quyền, một khi đã ác nghiệt Phê Chỉ làm cho hàng triệu con người phải Lầm Than đói khổ, làm cho vạn vạn than phiền mới nên tội A Tỳ Địa Ngục, ví như Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý, Vua Thành Thang cất Bá Lạc Đài, bọn Hắc Nô bắt con người Mò Trai Lấy Ngọc, vì lẽ ấy mà bậc Minh Vương, bậc Vĩ Đại Cứu Tinh mỗi lần Phê Chỉ ban hành thảy đều xem xét kỹ càng ích nước lợi dân mới dám Chuẩn Ký.

Khi một vị Vua Chúa ban hành điều ác nghiệt sau lúc lâm chung đang nằm trong Cung Vàng Điện Ngọc, các quan hầu cận đầy đủ chăng, Tiềm Thức (hồn) vẫn nghe la ó hét hò, không khác nào toàn dân hãm thành đổ bộ, khiến cho Tiềm Thức nhà Vua sợ hãi, vội vàng ngồi dạy, bị toàn dân tay cầm gươm đao đến đâm chém, khi bấy giờ nhà Vua đâm đầu chạy, bọn người đuổi theo hạch tội, xiềng xích nhà Vua, mang về bỏ vào Ngục Tối, trường hợp Ta nói trên thường nó như thế, nó còn hơn thế nữa kể không bao giờ hết những tội mà nhà Vua hoặc quan tham hà lạm, hoặc quan lừa dối dân để cướp của.

Còn đối với con người Hiền Lành hay Phước Đức hoặc Tánh Tình tốt thường giúp đỡ mọi người Quảng Đại Quang Minh, nhưng họ chưa có mục đích nào để đến nơi Thoát Sanh, họ đứng ra ngoài Tôn Giáo hết thảy. Khi Lâm Chung, nói đến trang thái con người lúc Lâm Chung duy chỉ dưới mắt Thiền Sư mới nhìn thấy, ngoài ra con người thường chưa thấy được. Lâm Chung nó tùy theo giai cấp, phước đức, giai đoạn duyên lành mà nó xuất hồn thoát sanh.

Con người trước ngày lâm chung, đương nhiên họ nhận thấy buồn hoặc nhận thấy lờ cờ vô căn cứ, đôi lúc có người tự thán với bà con giòng họ. Đến ngày lâm bệnh, nếu họ may mắn gặp vị Thiền Sư đã từng xuất định cầu cứu, thời vị Thiền Sư nầy không phải chữa bệnh cho họ trên giường bệnh mà vị nầy xuất định đi các cõi xem TIỀM THỨC (Hồn) nó đã có phần nào nằm ở Cõi nào hợp với bệnh nhân, liền tháo gỡ trả về dương thế tự nhiên lành bệnh qua cái chết. Nói đến con người chết nó không có số mạng chi cả, nó chỉ biết cách chữa trị, biết lối bồi dưỡng hay chưa biết nên nó phải chết mà thôi. Con người sắp gặp phải bệnh nặng nó vẫn có triệu chứng nầy.

Khi con người hấp hối, thì Tiềm Thức (Hồn Khôn) đã có phần nào xuống hoặc lên ở một Cõi nào rồi, còn phần xác đang nằm trên giường bệnh hấp hối, Tìm Thức nó lần lượt xuất, lúc trong thân con người xuất, nó không khác nào hơi khói trong thân bốc lên cứ tuần tự bốc mãi đến khi hết tất cả đầy đủ Tiềm Thức thì Vía Dại gọi là cặn bã nghiệp thức nó nhập xuống dưới chân giường, con người liền tắt hơi, cặn bã nghiệp thức họ thường gọi là: HỒN THƯ. Đối với con người lúc sanh tiền đang còn sống, nó có KHÔN và DẠI nên mới có Hồn Khôn, Vía Dại, cái Vía Dại nầy nó rất ảnh hưởng đối với con người, thoát sanh mau chậm hay còn ái nịch luyến tiếc bà con giòng họ, của cải nhiều ít đều do nó lôi cuốn cả. Khi Tiềm Thức bốc lên hư không, Tiềm Thức là một chất Thanh, còn Hồn Thư gọi là Vía Dại, là chất THÔ, Chất Thanh đang còn tập nhiễm nhiều ít chất Thô nên chi Tiềm Thức đã bốc lên hư không, nhưng vì tập nhiễm thành thử chưa dứt khoát về Cõi đã sẵn mà thoát sanh hoàn mỹ. Nếu gặp đặng vị Thiền Sư, vị nầy chỉ nhìn vào Xác Chết đương nhiên hai bên không còn vướng vấp nhau nữa. Bằng gặp đặng vị Đại Đức lấy Công Đức nơi mình chú nguyện tự nhiên cũng đặng như trên. Nên nhớ khi trong nhà Tang Chủ có người Chết không còn có Âm Khí buồn lạnh, đó là cuộc thoát sanh hoàn mỹ, nếu còn Âm Khí u buồn thì vẫn còn vong linh Tiềm Thức lai vãng, phải chú nguyện đặng thoát sanh.

Các ông cũng nên biết Tiềm Thức thanh chất nó có đặc tánh di chuyển đến nơi Chánh Báo hoặc Chịu Báo để kết nạp với Tiểu Ngã, nơi Cõi hoặc Cảnh Giới đó, còn Hồn Thư Vía Dại nó nằm yên với Tiểu Ngã đã để lại kết nạp an trụ đứng yên. Cũng như con người đang ở Cõi Nhân đặng lên Cõi Trời thì Tiềm Thức lần lượt di chuyển lên Cõi Trời được sanh lên Cõi Trời, còn Hồn Thư Vía Dại, nó ở lại Cõi Nhân kết nạp với Tiểu Ngã Nhân Pháp mà an trú. Chờ chừng nào bậc kia đoạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, gọi là ĐẠI NGÃ BÁT ĐẠI thì chung gồm bá thiên vạn ức Tiểu Ngã thảy đặng trở về kết chung với Bát Đại, gọi là hoàn mỹ, hoặc Chân Thiện Mỹ Hoàn Lai cũng thế.

Đối với con người tốt hiền lành, đạo đức đồng với Quảng Đại Quang Minh của mỗi người, dù cho di chuyển bằng cách nào đi nữa, đến bốn chín (49) ngày vẫn được thoát sanh, trừ trường hợp ái nịch quá trớn vong linh lai vãng quá nhiều thì bị sanh lộn kiếp ở trong gia đình, như bà Nội thương cháu nhiều không nỡ thoát sanh, lưu trú vãng lai thời nó lại đầu thai làm em của cháu Nội hay làm con của con mình trường hợp nầy rất nhiều, do ái nịch bị sanh lộn kiếp.

Đứng về các bậc tín ngưỡng hoặc cuồng tín hay bậc tu hành về Tôn Giáo không phân biệt, miễn sao con người tự tín nơi Tôn Giáo mình, tự tín ngưỡng vào Thần Quyền mình, tự cuồng tín nơi tâm khảm mình, biết làm lành, biết xây dựng tánh kiên nhẫn, ăn ở thiện căn đều đặng PHƯỚC BÁO NHÂN THIÊN khỏi sa vào Ba Đường Ác như NGẠ QUỶ GIỚI, SÚC SANH GIỚI, ĐỊA NGỤC MÔN. Nhưng căn bản ít sát sanh, vì sát sanh thường hay bị Loài Ma đòi mạng chúng.

Bằng con người cúng tế, sát hại Trâu, Bò, Gà, Vịt, Dê Cừu cầu lấy phước báo khó đặng kết quả thoát sanh, lại thêm vào một đường dây nghiệt quả, đây là lời nói thật, vì sao?

Vì ta đã từng nhập vào Chánh Định, đã từng gặp các chư Thần ở Cõi Trời hay cứu giúp Nhân Gian, từ Thần Hoàng đến Thần Miếu qua Thần Thánh lại Thánh Quân cùng Thánh Mẫu thảy đều phàn nàn, phiền trách với Ta rằng:

“Kính thưa Thiền Sư, chúng tôi toàn Chánh Trực Quang Minh Thần, chúng tôi không thiếu chi món ẨM THỰC hương vị ngạt ngào cao quý, thanh thoát thơm tho. Chúng tôi thấy dương gian gây tạo ác nghiệp, nên có ác căn tai nạn xảy đến cho họ liên miên. Họ lại có lòng Thờ Phụng cung kính van cầu chúng tôi, chúng tôi động lòng ra tay cứu độ cho họ thoát khỏi tai ách.

Mỗi lần chúng tôi giáng trần, đến nơi Đình Miễu thì hỡi ơi! Trước mặt chúng tôi họ đặt rất nhiều xác chết, thiêu đốt, luộc quay. Chúng tôi làm sao nói đặng? Đứng nơi lòng thành hòa lẫn ác nghiệp, buộc tình chúng tôi cứu nạn với lòng thành. Con người họ vì tục lệ, họ vì ưa thích nên họ tưởng chúng tôi ưa thích gà, vịt, heo quay, bò tái, rượu nếp, canh xôi, thật ra chẳng biết nói sao hơn, việc đó chưa phải Tín Chủ mà bọn Tế Lễ tham ăn dục lợi thu góp, khiến con người phải làm như thế. Chúng tôi mong Thiền Sư đương thời hạ lai nầy, nói lên lời nói giúp chúng tôi khỏi phải mang tiếng tế thần bằng lối sát sanh như vậy."

Thưa gởi xong liền chầu trời (Đêm 30 tháng 9 Âm Lịch 1965).

Các ông cũng nên biết: Khi bậc đã có phước điền, có một đức tin làm lành thời có nơi chốn chứng minh, có vị Thánh đỡ đầu. Lúc lâm chung, TIỀM THỨC bay bỗng lên hư không, miệng liền niệm danh hiệu Tôn Giáo đức tin của mình như: Kính lạy Chúa, hay Kính Mong Thần hoặc Kính gặp Thánh tùy tùy mỗi con người tin mà phát hiện, liền khi đó có tia sáng HỒNG QUANG về cõi Thần, có tia sáng THANH QUANG về cõi Trời làm dân, có tia sáng BẠCH QUANG về cõi Trời làm Quan, có tia sáng HUỲNH QUANG về Tịnh Độ. Có lúc con người thật tốt nhưng chưa đặng đức tin vững, vừa lên đến hư không, vui mừng đi dạo khắp Vũ Trụ, nhưng không bao giờ thấy đặng các cõi, các cảnh giới, đến sau tâm thần bớt khoan khoái lờ đờ, khi tỉnh lúc mơ, nhớ đâu gặp đó, liền đến Thần Hoàng Miếu Võ mà ở liền trở thành Thần Núi Nhân Gian, hoặc gặp phải tia sáng đủ màu liền được về nhân thế mà thai sanh con nhà giàu có để tu hành. Trái lại, có bậc thật tốt nhưng quá chơi bời, đình trà tửu điếm. Lúc sanh tiền bạn bè thân hữu nhiều nơi, thường vui chung cùng chúng bạn. Đến giai đoạn trên dạo chơi khắp nơi, liền đến chốn ca xướng ăn chơi nhảy múa, liền nhập bọn ở nơi đó say mê lâu ngày vẫn bị tấm màn bao phủ thụ thai sanh vào Súc Sanh Giới, nếu lối chơi thanh bai quý phái Công Đức cao dày thanh thoát thì đặng thụ thai vào cõi Trời Lục Dục Thiên an hưởng.

Nói đến Chánh Báo, các bậc tu hành Hạnh Nguyện từ nơi Chứng Tri Đắc Pháp CHÂN KHÔNG chưa tỏ rõ về nơi Sanh Tử, một là cứ thọ chấp Chân Không chạy theo KIẾN DỤC, Tăng Thượng tự xưng Thánh Phật thì sau khi lâm chung bị tội VÔ GIÁN ĐỊA NGỤC, vì sao? Vì Chân Không nó có rất nhiều thứ lớp theo nhận định, tùy Công Năng sở chứng của mỗi bậc, từ hàng Phàm Phu đến Thánh Tăng lớp lớp khó giải hết. Bậc thật tu, thật chứng mới tỏ rõ Công Năng đối với các bậc tu rất đáng kể. Bậc sở đắc Chân Không biết giá trị nơi Chân Không là quét dọn GIẢ TƯỞNG về với chính mình là TIỂU NGÃ sáng soi ngàn phương để giác ngộ, đó gọi là: BỒ TÁT SOI KHẮP NGÀN PHƯƠNG.

Kẻ Ngoại Giáo, người tham vọng khi xem những bộ kinh của Thiền Sư như: KINH LIỄU NGỘ ĐỐN MÔN, học thuộc hiểu mới sơ qua vội chấp KHÔNG, cho tất cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới đều KHÔNG, cho vạn pháp di chuyển Chánh Báo Thọ Báo thảy đều KHÔNG, cho tất cả chư Phật cùng Bồ Tát Nguyện, Bồ Tát Hạnh đều KHÔNG, cho tất cả sự tu hành, diễn tiến Phật Quốc Tịnh Độ đến Bát Đại Niết Bàn đều KHÔNG, do nơi không trụ không mà theo Kiến Dục, ngôn ngữ TÀ KIẾN, tự xưng Như Lai, tự xưng Phật làm cho một số con người phải lầm lạc, làm cho một số con người Ngạo Mạn, làm cho một số con người Ngoại Giáo sa vào Vô Gián.

Nào họ có biết con người đối với Vũ Trụ, con người phải hiểu biết Vũ Trụ từng ly, từng tí, từng lớp, từng lang, từng nơi Tu Chứng của các vị Bồ Tát, từng sự lầm lạc của Nhân Sanh. Tiên Đạo, Thần Đạo Sanh cùng với Tánh Chất Hóa Sanh nơi Vũ Trụ, nơi Như Lai Tạng và Tánh Chất Hóa Chất của hàng Tiên Thần đến Nhân Loại, tất cả con người phải có đầy đủ Khả Năng kiến tạo, Công Năng vượt qua các trở ngại, vượt qua những gì chưa hiểu biết đặng biết, những gì chưa Ngộ đặng Ngộ, những gì chưa Nhập đặng Nhập, đó chính lẽ dĩ nhiên nó phải như thế. Từ khi con người Hiểu thì nó Hiểu chớ chưa phải Biết, đến lúc Biết thì Biết chớ chưa phải Thật Biết, từ lời Khai Thị để Hiểu đặng Biết chớ chưa phải Ngộ Nhập.

Thứ nhất giữa thời Hạ Lai lạc pháp nầy, bọn chúng làm cho Đạo Phật bị đánh giá do bởi chúng đem Đạo Phật theo nơi hiểu biết quá tầm thường của chúng làm cho con người ngỡ Đạo Phật TIÊU CỰC, ngỡ Đạo Phật MÊ TÍN, ngỡ Đạo Phật CHÁNH TRỊ, có phải chúng hiểu biết thấp kém, lòng tham nơi chúng đầy GIẢ TƯỞNG nên mới tranh giành nhỏ nhen hư vọng phải sa vào nơi Chánh Trị chăng? Đến ngày lâm chung hậu quả của Thể Chất Tánh Chất nơi nó như thế nào nó phải Bị Sanh vào nơi chúng tạo mà sa đọa vào ĐỊA NGỤC VÔ GIÁN.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

10. XUẤT ĐỊNH NHẬP CẢNH TÙY THUẬN THEO TIỂU NGÃ

Các ông cũng nên biết, Xuất Định hay nhập vào cảnh giới nào bất luận phải tùy thuận đồng hợp mà nhập vào cảnh giới của Tiểu Ngã.

Bậc Thiền Sư luôn luôn đứng tư thế nơi Tiểu Ngã để quan sát các Giả Tưởng, xem Tiểu Ngã nào có hiệp với cử chỉ chi, nó ăn nói như thế nào, nó công dụng hạnh kiểm ra sao, nó ưa thích những gì ưa thích với nó. Ví như: Tiểu Ngã Thiên thời bậc Thiền Sư Tâm rộng rãi, ăn nói từ tốn, giúp người ít khi kể lể ơn nghĩa, đi đứng chớ nên bừa bãi gọi là pháp môn Thiên đến chừng vào định, lúc xuất định, mặt đương nhiên nóng báo hiệu lên cõi Trời, khi đến cõi Trời ngang qua biên giới giữa cõi Trời với Thế Gian thì Tiểu Ngã của Thế Nhân về Thế Nhân, nhận lãnh Tiểu Ngã Thiên Giới dạo chơi khắp cõi lúc trở về Tiểu Ngã Thiên về lại Thiên, Tiểu Ngã Nhân tiếp nhận lại Nhân.

Phần nhiều mỗi một cảnh giới hoặc mỗi cõi các vị Thiền Sư rất hiếm bậc đã từng vào ra Cảnh Giới hoặc các Cõi tự tại, vì chưa rõ thông Tiểu Ngã của mỗi một Cảnh Giới hoặc mỗi Cõi. Do tại sao mới hóa sanh Cảnh Giới như thế, do những gì kết nạp thành ra Cõi? Đa số chỉ dùng ĐỊNH TỌA lúc nó đến đâu tùy nơi Thiền diễn tiến mà thụ chấp.

Các ông cũng nên biết: Rất hiếm bậc vừa tu Thiền Tọa vừa tu Hiển Giáo gọi là VIÊN GIÁO. Bậc Viên Giáo rất có tin tưởng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, bậc nầy tu với đích chính thoát ngoài Vũ Trụ, về với Linh Hồn Chánh Giác, khi đã Chánh Giác xong mới biết được LINH HỒN TỐI THƯỢNG. Biết đặng TIỂU NGÃ tận rõ GIẢ TƯỞNG mà diễn giải, chớ bậc đang tu, đang nằm nơi TIỂU NGÃ ngỡ mình Chánh Giác thành Phật không thể nào triệt thấu đặng mà nói.

Bậc tu Xuất Định buổi ban đầu hơi khó, nhưng khi đã xuất định đặng đương nhiên bị bặt đi, không xuất đặng là vì bậc nầy mơ ước mừng rỡ hoài mong tự nhiên sa vào nơi Giả Tưởng. Nên xả vọng tưởng cố công phu liền đặng nối tiếp.

Tu Thiền chớ nên gò ép quá trớn, ép quá trớn hay bị long đầu làm cho con người lảo đảo, nhiều lúc bất bình tĩnh, nên tập thể dục hay tìm thú vui để giải hóa, giữ sao cho thân tâm quân bình, tu Thiền tựa như người cầm lái xe hơi, chính mình phải tự chủ lái Thiền Pháp. Tọa Thiền chớ nên quan niệm lầm tưởng gò ép để xuất hồn, tư tưởng như thế thật sai, vì sao? Vì Tiểu Ngã là linh hồn đã có sẵn khắp nơi, khi Xuất Định đến nơi nó liền giao tiếp, chớ cho xuất hồn như trên, đó chính là một quan niệm Ngoại Giáo giả tưởng lầm sai không thực thể. Khi bậc tu Thiền đến căn bản tùy công năng, tùy trí tuệ đến mức tận cùng đương nhiên xuất định, miễn làm thế nào, lần theo giả tưởng thật tỏ thì mức Thiền càng cao, lần biết thì mức Thiền tiến bộ. Chính tu Thiền là một môn Quán Xuyến NHÃN TẠNG, nhờ Nhãn Tạng minh xác những điều mê lầm nơi Giả Tưởng, tự nơi mình đặng Chánh Giác, mới hay rằng nơi mình có đủ Phẩm Chất, có sẵn linh cảm, có sẵn nhận định quân vương, lại có sẵn tánh thấy không bị sanh diệt, nên nhìn thấy vạn dặm, do mình chưa biết sử dụng, nếu biết sử dụng thì nơi thấy kia là một bộ máy linh động tinh nhuệ nhất, tốc độ thâu nhận nơi mình nhanh nhẹ gấp ngàn lần máy tinh xảo nhất thế giới của nhân tạo đã làm sẵn nơi các nước siêu cường. Nếu có bậc chỉ dạy hoặc Khai Thị để mình biết nhận, chính mình chưa chịu nhận, cứ mãi theo Giả Tưởng, nghĩ cũng lạ thật.

Có vị Thiền Sư tự khởi: Sau tìm đặng giải đáp câu thoại đầu của Thiền Sư khởi như sau:

Lúc bấy giờ Thiền Sư hái một chiếc lá, cầm chiếc lá tự hỏi? Màu xanh của nhà người từ dưới rễ dẫn lên hay từ bên ngoài đáp xuống? Thiền Sư dùng Nhãn Tạng xem xét, chốc lát đặng biết : Tất cả cây cảnh và Quả Đất thảy điều động có sức hút vào nhả ra. Trên hư không hòa lẫn khí hậu có đủ màu sắc, có đủ gió lửa không thiếu sót, tùy thuận màu nào hóa hợp liền đáp ứng bồi dưỡng thành hình, như lá xanh, hoa vàng hoặc đỏ, cùng tím thảy đều đáp ứng tô điểm để nuôi chiếc lá đến Bông Hoa đặng hoàn mỹ. Đến chừng Cọng thiếu sức tiếp liệu hút màu thì hoa kia hoặc lá nọ trả về màu cũ gọi là lá vàng hoặc hoa héo. Dưới mắt con người nhìn chiếc lá xanh, nhìn hoa vàng hay tím cùng đỏ cho rằng cây trổ hoa lá có màu sắc, chớ nào thật biết cây trổ hoa, cành có lá, phải hút vào tiếp liệu màu sắc nhả ra rút chất nước dưới rễ nuôi thân cây.

Vị Thiền Sư nầy còn biết, nơi không khí có chất NGUYÊN TINH, chất nguyên tinh nầy nó thung dung linh động vô kể, nó có thể xuyên qua bất cứ một nơi nào trong Vũ Trụ. Chất nầy nó làm cho tất cả đều hóa sanh, nó tiếp nuôi con người sống lâu, nếu con người biết sử dụng, nó hòa đồng với hư không, bằng chẳng có nó thì hư không cùng khí hậu không hòa đặng nhau nó hiệp hai khối hóa sanh ra đồng hợp, nó biến chế ra không khí nuôi dưỡng con người, con người quan niệm khí hậu tốt nuôi con người khỏe mạnh, nếu khí hậu tốt mà không có chất NGUYÊN TINH là một Chất Sống kia khí hậu cũng vô dụng. Chất Nguyên Tinh nó tinh vi linh động mạnh mẽ vô cùng, nó viên thông xuyên qua thân thể con người, làm cho các bộ phận con người có chất sống, chất nầy qua đến đâu vào bộ phận nào cũng làm cho bộ phận di chuyển sống động, nhờ chất Nguyên Tinh các tế bào mạch máu mới có chất sống để mà sống, Chất Sống Nguyên Tinh chẳng phải riêng cho con người, nó chung cả Vũ Trụ, có nó mới sống, gọi là một chất đặc biệt CHẤT SỐNG VŨ TRỤ VÀ NHÂN LOẠI.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

9. TIỂU NGÃ CỦA CÁC ÔNG TRẢI KHẮP VŨ TRỤ

Tiểu Ngã nó có Tự Thể, gọi là THỂ TIỂU NGÃ. Con người có hiện diện trên quả Địa Cầu trên một ngàn năm trăm triệu, mỗi người vốn sẵn bá thiên vạn ức Tiểu Ngã đang ứng trực trong Vũ Trụ, chia ra từng Cõi, Cảnh Giới như một chiếc ghế chờ sẵn các nơi. Chừng nào con người ở nơi quả Địa Cầu nầy, mãn phần thoát sanh tùy theo bản năng trình độ về nơi chiếc ghế ấy mà an trụ. Chiếc ghế nơi an trụ nó phải tương song với năng lượng, tương đồng với Bản Năng mà Chánh Báo hay Chịu Báo cũng tùy thuộc nơi con người đang hành sự tại thế giới Địa Cầu nầy.

Đối với con người, nhìn con người mới nhận thấy mỗi người có một lý tưởng, có một định hướng, có mỗi đức tính khác nhau, ít khi giống nhau, dù sao nó cũng không ngoài TIỂU NGÃ của mỗi người. Có người đứng về Tiểu Ngã Tiên, có bậc Tiểu Ngã Thần, có người về Tiểu Ngã Thánh, có kẻ Tiểu Ngã Nhân, đến Tiểu Ngã Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, mỗi nơi chốn đều là Tiểu Ngã Đại Diện cho Vũ Trụ cùng khắp Vũ Trụ có bao nhiêu Tiểu Ngã Thế Giới thì ở Thế Gian có bao nhiêu đại diện. Con người Đại Trí mong đoạt đến Vũ Trụ hoặc giao cảm với Vũ Trụ hay Xuất Định về các Cảnh Giới Tiên, Thần thì trước tiên phải làm thế nào chinh phục những con người làm cho tất cả đều Kính Ái, có ái kính mới có hàng phục Cảnh Giới, có thiện cảm mới có nhập Cảnh Giới cùng các Cõi. Lời nầy là lời chính xác, lời Tâm Ấn thực thể nên lưu ý. Bằng tu Tọa Thiền, dùng đủ phương thức để Xuất Định nhập cảnh chăng nữa thì những phương thức ấy đều nằm nơi Định Tưởng Giả Định, khi giả định giả tưởng cái thấy cảnh giới, hoặc vào cảnh giới thảy đều thấy nơi Phim Ảnh Vũ Trụ chớ chưa phải vào thật cảnh giới Tiểu Ngã, đó chính lời minh xác rất đúng.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

8. THỂ CHẤT CÙNG TIỂU NGÃ GIẢ TƯỞNG ĐỒNG NHẤT

"Vũ Trụ với con người, tuy hai văn tự, hai thế hệ lớn nhỏ khác nhau, nhưng chính nó là Một, vì sao? Vì con người Thể Hiện Ứng Thân tiếp nối với Vũ Trụ, thừa hành tất cả những gì vũ trụ đã có sẵn chưa mang ra đặng thì con người tìm được mang ra, con người lại lầm tưởng nơi mình sáng tạo.

Đối với con người đã có sẵn đường dây tiếp nối với Vũ Trụ, đường dây ấy là TIỂU NGÃ, bá thiên vạn ức Tiểu Ngã trùm khắp Vũ Trụ, mỗi Cõi, mỗi Cảnh Giới đều đã có sẵn Tiểu Ngã. Nên chi con người tu Phật có Tiểu Ngã Phật, tu Thánh có Tiểu Ngã Thánh, tu Tiên có Tiểu Ngã Tiên, đến tận cùng Địa Ngục vẫn có sẵn Tiểu Ngã của mình ở Địa Ngục. Nếu con người không có sẵn thì không bao giờ tu thành Vị Thứ hay Quả Vị, không bao giờ có Địa Ngục để mà sa vào.

Nói đến sự hiện diện con người ở Thế Nhân có Tiểu Ngã Nhân Thế. Nếu có một con người nào có lập trường về với Tiểu Ngã chính mình tại Thế Gian, liền tường tận được tất cả trên đời họ sống nhau bằng GIẢ TƯỞNG chính mình trở lại với Tiểu Ngã, thì các ông cũng nên biết: Bậc như thế gọi là SIÊU NHÂN hay THÁNH NHÂN, Tiểu Ngã nghe giảng, nghe nói ngỡ rằng dễ biết, dễ hiểu nhưng thật ra khó biết đặng Tiểu Ngã chính mình? Vì tư tưởng mãi suy nghĩ, mãi tìm tòi theo Giả Tưởng sống nơi Giả Tưởng nhiều hơn mình biết mình đặng. Cho nên con người biết việc thiên hạ, biết những người chung quanh lầm lỗi nhiều hơn chính mình tự soi để biết lấy mình. Khi bậc Siêu Nhân tự soi mình đặng biết người, tự lấy Giả Tưởng của mọi người chừa bỏ Giả Tưởng nơi mình vương mang. Đạo Phật thật biết con người xa lìa TIỂU NGÃ chạy theo GIẢ TƯỞNG cầu lấy hư vị, cầu lấy hư danh, ưa thích khen tặng, đeo đuổi Tham Muốn, nên mới dạy TÌM CHƠN TÁNH ĐỂ TU, hay dụng Thể Tánh tự soi vọng đảo, gọi là con đường Tự Tánh Tỏ Tánh, đến lúc Minh Tâm Kiến Tánh, khi bấy giờ nhìn thấy Tâm mình vọng đảo, tánh mình an nhiên, được gọi là THỂ TÁNH cũng là TIỂU NGÃ vậy.

Sự tham vọng Giả Tưởng nơi con người nói nó không cùng, nó có tham vọng như thế nó mới phát triển tất cả các Đồ Dùng, nó có hoài vọng mới tìm ra CƠ GIỚI, nhờ nơi tham vọng không ngừng nên chi ở thế gian con người chạy theo cạnh tranh phát triển đua theo hơn thua được mất mà vươn mình sáng tạo đủ thứ hiện vật, đủ tất cả khả năng con người phơi bày trên trái đất nầy, ngoài ra còn chẳng biết bao nhiêu Cảnh Giới, chẳng biết bao nhiêu Cõi thảy đều nằm nơi Giả Tưởng phát triển. Như trên đã từng nói vạn loài hóa chất phát triển, vạn chất Vũ Trụ hóa sanh để cung cấp cho con người cùng các Cõi, nó nhịp nhàng chẳng khác nào CON THOI dệt cửi, do đó mới gọi Thể Chất cùng Tiểu Ngã Giả Tưởng đồng nhất.

Còn đứng về phương diện mà nói: THỂ cùng TIỂU NGÃ nó có liên hệ mật thiết với nhau vô cùng, nó chính là sự tiếp nhận thành tựu nơi con người với Vũ Trụ từng lớp, cũng được gọi là: CHẾT SẼ VỀ ĐÂU, hay Chánh Báo cùng Chịu Báo trong Vũ Trụ cũng là con đường Luân Hồi Sanh Tử, thay hình đổi kiếp vậy, các ông hãy nghe cùng nhận định kỹ càng, trên bước đường Vũ Trụ với con người.”

Lúc bấy giờ chúng tôi yên lặng chăm chỉ nghe, bất chợt Thiền Sư hỏi: “Các ông nhận thức như thế nào?" Chúng tôi đồng đáp:

Theo nơi nhận định của chúng tôi, thì mỗi con người có đến bá thiên vạn ức Tiểu Ngã, bá thiên vạn ức Tiểu Ngã ấy trải khắp Vũ Trụ, tùy thuận các Cõi, các Cảnh Giới Tiểu Ngã an trú không thiếu sót Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

Thiền Sư gật đầu khen phải, liền hỏi tiếp:

“Mỗi Tiểu Ngã có bao nhiêu Giả Tưởng?”

Chúng tôi đồng đáp:

“Mỗi Tiểu Ngã có bá thiên vạn ức Giả Tưởng.”

Thiền Sư nói:

“Về vấn đề TIỂU NGÃ nói ra thật khó nghe, khó hiểu cùng khó biết đặng, vì sao? Vì các ông đa số đang nằm nơi Giả Tưởng, nên nói đến Tiểu Ngã duy chỉ có bậc Thánh mới nhận được mà thôi, còn ngoài ra khó phân định đặng nó. Nhưng Tôi vì đời sau trong kiếp nầy nói lên lời chân thật may ra có bậc nhận được chính là một phương pháp môn cứu thế.”

Thiền Sư giải tiếp:

“Đối với các ông vốn sẵn NGHE, THẤY, BIẾT đó chính là Tự Thể nơi Tiểu Ngã, khi các ông dùng Nghe, Thấy, Biết quân minh, không có CÁ TÁNH thích hợp mới Nghe. Không vì NHÂN TÁNH (cá nhân) riêng tư mà Thấy, thời nơi Biết kia mới thật là Tự Thể Tiểu Ngã. Các ông cũng nên biết, TIỂU NGÃ nó có Tự Thể của nó nên nó mới sáng soi, còn về GIẢ TƯỞNG không có Tự Thể nên chi nó mãi chạy chẳng khác nào con Thỏ vậy.

Các bậc TU THIỀN TỌA căn bản là nhìn đặng các Giả Tưởng, bậc càng tu cao bao nhiêu thì mau nhìn thấy Giả Tưởng bấy nhiêu, có nhìn thấy như thế mới khỏi lầm lẫn mà Tỏ Tánh, có tỏ tánh mới biết được Tự Thể của TIỂU NGÃ, Tự Thể Tiểu Ngã chính là THỂ CHÂN hay CHÂN NHƯ cũng thế.”

Thiền Sư muốn gom lại nghĩa trên nên Thiền Sư nói:

"Các ông nên hiểu biết tường tận, lãnh hội đầy đủ ý chí sau nầy khỏi sai lạc như thế gọi là Tu Chủ Quán. Đối với LINH HỒN Tối Thượng hay NHƯ LAI hoặc CHÁNH GIÁC, kể cả Vũ Trụ đến Thế Nhân thảy đều có một khuôn khổ y nhau nó không sai khác, nhờ thế nên chi con người quá biết Thế Gian Giả Tưởng mà đặng trở thành SIÊU NHÂN hay bậc THÁNH NHÂN, đó chính lời nói chân thật."

Linh Hồn Chánh Giác, THỂ cùng CHẤT nơi Vũ Trụ, đối với con người VÔ THƯỢNG ĐẲNG ĐẲNG, đến bộ phận TIỂU NGÃ qua diễn hành nơi GIẢ TƯỞNG. Không khác nào: Một Lãnh Tụ trong một nước hay một chánh đảng trong một vùng hoặc một nhà Vua bĩnh trị trong một nước. Trên thời Lãnh Tụ tối cao được gọi là Linh Hồn Tối Thượng. Dưới thời các hàng Tỉnh, các hàng Quận, các hàng Xã, được gọi là TIỂU NGÃ, đến hàng dân giả bá thiên vạn ức gọi là GIẢ TƯỞNG. Từ nơi Giả Tưởng dân giả cung cấp xây đắp TIỂU NGÃ, do lẽ ấy nên chi từ nơi Tiểu Ngã là mức hiểu biết của dân giả có thể dùng lời nói hay văn tự diễn giải đặng, đồng thời dân giả nghe đặng bằng dùng lời nói Tối Thượng làm sao diễn giải đặng, làm gì nghe đặng, lời nói Tối Thượng duy chỉ có TIỂU NGÃ lãnh hội được phần nào, nhưng đem ra phổ truyền công bố thì Tiểu Ngã nói chưa ra lẽ, nơi ba từng lớp Tôi nói ra đây chính là một CHÌA KHÓA mở màn Vũ Trụ giao cảm với con người, các ông hãy nghe đồng thời nhận lãnh.

Giờ đây nói rõ đồng thời chỉ điểm để cho con người ít nhất phải biết được giá trị nơi mình có thể thi hành thực nghiệm được chính mình khám phá Vũ Trụ bằng Bản Năng Khả Năng của mình đoạt lấy Giải Thoát, theo đường hướng Đạo Phật đã vạch sẵn, Đạo Phật đã tự Bản Năng Khả Năng làm dụng cụ kết quả mục đích rất hữu hiệu, nên Đạo Phật chỉ thẳng cho con người biết, con người có đủ đồng chất thành Phật, Ngài nói: “TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH.” Câu nói trên quyết định trong sự hướng dẫn của Đạo Phật, các ông sẽ thành Phật, các ông phải theo sự hướng đạo của lời chỉ dẫn nơi Đạo Phật.

Nếu các ông chưa tin con đường nơi Đạo Phật, hoặc các ông quan niệm Đạo Phật là một Tôn Giáo nhỏ bé dưới lệ thuộc chưa thực hành đúng với tinh thần thì biết bao giờ các ông thành Phật? Bằng các ông tin Phật trên hình thức nào đó, hay chưa biết giá trị nơi các ông, chưa biết Thể Chất có Bản Chất đồng ứng đồng hợp với Vũ Trụ thì làm sao thành Phật?”

Thiền Sư vừa nói đến đây lặng thinh chốc lát nói tiếp:...

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN