7. SỰ TU HÀNH

Sự Tu Hành Không Đem Đến Hiểu Biết Để Phá Mê Chấp Thì
Đương Nhiên Tu Ngàn Năm Cũng Không Lấy Được Một Ngày Tu.

–T.V.

Tôi được nghe vào ngày 18 tháng 3 âm lịch năm Giáp Dần, lúc bấy giờ có sự hiện diện của đạo chúng cùng ông Tôn giả Pháp Thuần, Pháp Hậu đang quay quần bên ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ. Tôi bước vào lễ bái, xong ngồi lại một bên. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ bảo tôi lấy viết ghi chép lại thời Giáo Ngôn với tựa đề:

“SỰ TU HÀNH KHÔNG ĐEM ĐẾN HIỂU BIẾT ĐỂ PHÁ MÊ CHẤP THÌ ĐƯƠNG NHIÊN TU NGÀN NĂM CŨNG KHÔNG LẤY ĐƯỢC MỘT NGÀY TU”

Đức Ngài dạy: Thuở quá khứ, thời hiện pháp của ĐỨC THẾ TÔN, lúc bấy giờ có một Giáo Môn Thượng Sĩ đến đảnh lễ xong thưa gởi:

– Hôm nay con đến để diện kiến Đức Ngài con cũng xin thưa gởi một vài điều, kính nhờ Đức Ngài minh định cho con.

ĐỨC THẾ TÔN gật đầu. Vị Thượng Sĩ Giáo môn thưa:

– Con đã từng nghe dư âm rằng ĐỨC THẾ TÔN đã chê bai, nguyền rủa Giáo Môn của con là tạo lấy nghiệp chướng, tạo lấy vô minh nhưng con chưa tỏ rõ có phải Đức Ngài đã nói xấu, đã nguyền rủa chúng con chăng? Nay con xin diện kiến Đức Ngài để được Đức Ngài truyền rõ cho con, có phải những lời con vừa nói là một bằng chứng xác thật hay không xác thật? Đối với Đức Ngài đã thương con hay không thương con đặng lòng con khỏi vướng mắc sân hận, nghi ngờ.

Thưa gởi xong Thượng Sĩ Giáo môn ngồi lại một bên.

ĐỨC THẾ TÔN dạy rằng:

– Ông cũng nên biết, TA nhìn thấy những bậc tu hành theo Giáo Môn của ông là phơi nắng, đánh đập hành xác để cầu quả Vô Thượng, thì thử hỏi đương nhiên lại tạo cái phơi nắng, tạo cái đánh đập để lấy đó làm đề mục mà đi đến nơi Địa Ngục, nơi này cũng bị ép xác, bị nghiền xác rải rác khắp nơi. TA thấy hành động như vậy không ích lợi, TA nói như thế thì thử hỏi TA thương hay TA nguyền rủa?

Lúc bấy giờ Thượng Sĩ Giáo Môn thưa:

– Thật Đức Ngài đã thương chúng con mà nói chứ không phải nguyền rủa, phỉ báng chúng con.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài lại dạy tiếp:

– Ông cũng nên biết, có kẻ tu nhìn mặt trời, trần truồng dầm mình dưới nước, lấy đá lăn vào đầu, lăn vào thân thể để cầu đạo Vô Thượng, thì thử hỏi mặt trời kia đã thuyết diễn cho kẻ ấy được những gì? Đá đập vào đầu, vào thân thể nó đem lại sự hiểu biết chi chăng? Ta nhận thấy tu tập mà hành động như vậy, nó sẽ không đem lại sự hữu ích nào, trái lại nó còn tạo thêm sự mê lầm. Những kẻ tự hành xác như trên đương nhiên tự tạo sự lầm lẫn phải chịu báo nơi Hỏa Ngục, rồi bị thiêu đốt từ đầu đến chân hoặc những kẻ kia phải chịu báo nơi Địa Ngục luân chuyển xoay chiều của Thủy Hồng Ngục, những kẻ kia cũng lại tự tạo lấy nơi rừng rú âm u, mây dồn gió cuốn thì thử hỏi TA thương hay TA nguyền rủa Giáo Môn của các Ông?

Đối với sự tu, sự hành có đặc điểm ích lợi vô kể một khi bậc tu làm đúng với nó, bằng đối với sự tu hành theo vọng cầu ý muốn nhưng không hiểu vọng cầu đó là cái gì, ý muốn nó sẽ đưa ta về đâu khi mà ta đã bị vô minh che lấp thì ta hãy tu sửa hành giác mới có thể đem ta đến ích lợi, bằng tu sửa mà đánh đập thân mạng, lăn lóc trên ba đường khổ để đi đến chỗ hành xác diệt vong thì còn thua cả con cừu, con lợn người ta thiêu đốt mà còn có thể dùng được.

Bậc tu lại chạy theo sự mê lầm để thiêu đốt thân mạng thì không thể dùng được mà lại còn bị diệt vong nữa là khác.

Vị Thượng Sĩ Giáo Môn nghe qua mừng rỡ tán thán, đồng thưa lên ĐỨC THẾ TÔN những lời nói hết lời tôn kính “Đức Ngài chính là một bậc Quân minh soi sáng vạch rõ muôn điều để từ đời này đến đời sau chúng sanh biết rõ con đường tu mà sửa sai lầm lẫn. Hành là Hành Thâm Pháp Giới để thật Giác”.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài nói đến đây, thư thả dạy tiếp với Tứ Chúng:

Các Ông cũng nên biết, tu không phải là tạo lấy đói khát khổ sở mà thành, chẳng phải tạo lấy lâu đài, sung nhũ mà đặng, cũng không phải hành hạ đến khô xương mà đến, cũng chẳng phải dung dưỡng Thân Tâm mà được, Vạn Pháp nó không khứ, không lai, không trụ, không đến, duy chỉ có tình DUY NHẤT TỐI THẮNG DIỆU ÂM, TIN VÂNG KÍNH là trọn.

Tôi cùng Tứ Chúng cung kính đảnh lễ và Cung Tiễn ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Võ Văn Khoa
Pháp Danh: Tôn Giả Pháp Khả
“Phụng ghi để phổ truyền”

Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần

6. VỀ VẤN ĐỀ TỶ DỤ

Kẻ ăn biết ngon thì đương nhiên kẻ ấy lành mạnh không bệnh hoạn sẽ lớn lên.
Bậc nghe Pháp cần nhất sự lãnh hội đặng Bảo Pháp thì tương lai sẽ đạt đến mục đích TRI KIẾN GIẢI THOÁT theo sở nguyện của mình.

–T.V.

Lúc bấy giờ, vào khoảng 17 giờ chiều ngày 17 tháng 3 năm Giáp Dần. Tôi lên Tịnh Thất của ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, Ngài đang nằm trên chiếc chõng vải trầm ngâm suy tư. Tôi đến nơi thi lễ xong, Ngài bảo tôi ngồi một bên, Ngài dạy:

-Ông Tôn giả Pháp Tràng, ông cũng nên biết, sự tu hành rất khó khăn là biết thọ lãnh Pháp. Khi đã nhận định được thì con đường tu mỗi ngày một hào hứng thích thú vô kể. Bậc biết lãnh Pháp cũng như kẻ biết giá trị của Ngọc, thì mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút cái cuộc sống đầy cả tươi sáng vì đang lượm Ngọc. Bằng không biết giá trị thì sự tu kia in như tuồng bị bắt buộc thường sinh sự chán nản, uể oải làm cho bê trể.

Chính tôi không trách các nghiệp chướng của mọi người vì mọi người chưa nhận chân được nó. Tôi chỉ mong sao cho họ nhận chân được giá trị của Phật Đạo thì chừng đó họ tìm được lẽ sống huy hoàng. Họ đứng ở phương nào cũng thấy an vui tự tại.

Lúc họ chưa nhận được, dù họ có thân cận bên tôi thảy đều có một sự ràng buộc lấy cho họ.

Ông cũng nên biết, những lời tôi nói trên thảy đều nằm trong Nghiệp Thức Vọng Đảo, do đó mà họ mải mê tìm lấy một lối nào cho họ được thoải mái trên con đường tu Tri Kiến của họ. Càng tìm bao nhiêu lại càng mờ mịt bấy nhiêu.

Vì sao? Vì họ không nhận được Chân, cũng như kẻ ngồi trên đống vàng mà không biết vàng lại đi tìm vàng. Đối với Chân Lý nói cũng thế.

Lại nữa, nếu như bậc tu mà biết hiện tại họ ẩm thực miệng không thôi, nếm được hương vị thích thú thì người ấy sẽ khoẻ mạnh. Trái lại, khi họ bỏ các món cao lương mỹ vị vào miệng thơm tho ngọt ngào, thì họ chỉ cầu sao những vật-thực đó không chạy xuống bao tử của họ để họ nhai mãi. Con đường tu tập nghe Giáo Lý của tôi chỉ dạy cũng thế. Tôi nói một Pháp Môn, tôi phá một Mê Chấp, khi bậc tu nghe nhận thích thú mừng rỡ tán thán xong đâu đấy họ lại mãi ưng sao thời pháp cứ đứng yên để cho họ an trụ, thích thú mãi mãi. Chẳng khác nào kẻ nhai vật-thực ưng sao vật-thực ở trong miệng chớ chẳng ưng vật-thực xuống khỏi cổ họ.

Nếu bậc nghe được Thời Pháp tôi vừa nói thì ông cũng nên biết rằng bậc ấy đã khá dẹp lòng tham để mà sắp bước vào con đường NHẤT TÔN PHÁP TẠNG.

Nếu có kẻ biết hiện tại mình đang thích thú Thọ Lãnh thì kẻ ấy đến vị lai được hoàn mỹ.

Bằng hiện tại chưa biết thích thú, cứ đòi mãi những thích thú riêng tư của cá tánh thì kẻ kia ruột vẫn còn chứa đầy tham vọng, khó mà thành tựu, khó mà Tri Kiến.

Ông nên nghe và nhận lãnh kỹ càng, lời nói của tôi đây chính là lời căn dặn trước ngày tôi bước vào bệnh viện.

Tôi vừa nghe ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ dạy như cơn mơ được sực tỉnh, nhận định được cái tham vọng đòi hỏi nơi bản thân, cùng đa số những bậc lầm lẫn như tôi, làm cho tấm lòng tôi thích thú vô kể. Tôi bèn đảnh lễ, rót một chung nước trà dâng lên Ngài, Ngài chắp môi mỉm cười. Tôi lễ bái Ngài xong liền rời Tịnh Thất và phụng ghi lại Giáo Môn của ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh Pháp Tràng “Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 17 tháng 3 năm Giáp Dần (1974)

5. VỀ VẤN ĐỀ THAM SÂN SI

Thường ngày, tại Trung ương Hội Thượng có một số Tín Chúng quây quần được gần ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ để tu tập.

Hôm ấy, lúc 10 giờ ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần, trước sự hiện diện đông đảo các vị Tôn Giả: Bà Tôn giả Pháp Tùng, Tôn giả Pháp Khả, Tôn giả Pháp Tràng, Tôn giả Tạng Nguyên, Tôn giả Tạng Trình và Tín chúng Pháp Quyên đang ngồi quanh ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tại Tịnh Thất.

Tôn giả Pháp Quyên đứng lên đảnh lễ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, qùy sang một bên và kính cẩn thưa gởi:

– Kính Bạch Ngài, xin Ngài giảng nói cho con về vấn đề THAM - SÂN - SI.

Trong giây lát yên lặng, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, Ngài bắt đầu khai thị bằng một câu chuyện chúng tôi được nghe như vầy:

Có một thuở cách đây vào lối năm năm về trước, có một vị Sư đến viếng an và thưa gởi với tôi như vầy:

– Thưa ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, làm thế nào diệt hết tham? Làm thế nào diệt hết Sân? Làm thế nào diệt hết Si mới đắc quả? Con rất thắc mắc điều ấy, Kính Bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ giảng giải cho con được tường tận.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ nói:

– Vấn đề Tham Sân Si có 3 cách:

● Một là: Hàng Tiểu Thừa sợ Tham khởi vọng nên tận diệt Tham.

● Hai là: Hàng Đại Thừa phá mê chấp để sạch lý Tham.

● Ba là: Hàng Nhất Thừa nương vào Khởi Vọng, Nghi Chấp, Phá Chấp để tận giác tỏ tham.

Đó là ba đường lối của Tam Thừa để tu tập.

Sư cũng nên biết rằng:

Thật Giác mới diệt được Tham. Khi nào còn nghi ngờ, còn vọng đảo thì chính vẫn còn tham vọng chưa tận gốc Tham. Tham không phải diệt nó, nó mới hết Tham, chỉ Tận Giác thì nó không còn một cái Tham. Khi Tận Giác được thì muôn ngàn Vạn Pháp thảy đều không có một cái Tham.

Lúc bấy giờ nhà Sư ngớ ngẩn, phân vân vì chưa nhận được, tôi bèn giảng tiếp.

– Sư hãy nghe câu chuyện trên đây để chỉ ngọn ngành của Tham Sân Si.

Nhà Sư kính cẩn nghiêng mình thi lễ, tôi Chỉ Dụ:

Ông nghĩ xem: Có một Trưởng Giả kia có một cây cam, trái sum sê tươi đẹp ngay trước cổng. Một Đạo Sư nhìn thấy cây cam tươi đẹp, thích thú đến thưa với Trưởng Giả để xin cây cam ấy về trồng trước sân Chùa.

Vị Trưởng Giả trầm ngâm nói với Đạo Sư. Tôi không thể cho Đạo Sư một cây cam mà Đạo Sư cũng không thể bứng lấy cây cam này đem về trồng trước sân Chùa mà nó sống đặng, Nếu như Đạo Sư muốn có cam thì tôi tặng cho một quả để Đạo Sư gieo trồng sẽ đặng 20 cây cam.

Lúc bấy giờ Đạo Sư không hiểu sanh Tâm sân hận, đó cũng gọi là Sân, rồi oán trách Trưởng Giả nhỏ nhen không cho mình một cây cam mà cho mình một trái cam, đó cũng gọi là Si. Từ chỗ Si Mê mà có Tâm Sân Hận, bởi chỗ lầm mà vướng chịu Tham Lam.

Sư cũng nên biết rằng: Nếu Đạo Sĩ mà biết được một quả cam có thể ương trồng thành 20 cây cam thì Đạo Sĩ kia có xử dụng 20 lần tham nhưng cách Thật-Biết thì không có một cái Tham. Khi đã không có Tham thì nào có Sân Hận, lúc đã không có Sân Hận thì nào có Si Mê oán trách. Gốc THAM SÂN SI do Vọng Đảo lầm lẫn chưa biết, khi không vọng thì liền chẳng tham, mà lúc có Tham thì có sanh vọng. Cho nên Phật thường nói các ông Tham Vọng, Điên Đảo, Si Mê chướng đối trở thành vạn Pháp muôn trùng, hóa thành Vô Minh Pháp Giới. Ta thật biết tỷ mỉ mà còn biết hơn thế nữa. TA trơn liền chẳng có Tập Khí, khi không có tập khí thì nào có khởi sanh, khởi diệt. Đã không khởi sanh, khởi diệt thì Tâm Bình Đẳng dung Thông. Gốc của Tham Sân Si bởi do vọng đảo mà thành gọi là Tham vọng.

Lúc bấy giờ vị Sư mừng rỡ tán thán, nghiêng mình khen tặng Phật vi diệu khó nghĩ bàn. Đến đây ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ dứt lời.

Pháp Quyên cùng Tứ Chúng đồng đứng lên đảnh lễ vì đã được ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ khai thị về THAM SÂN SI nguồn gốc chưa trọn Giác.

LONG HOA HỘI THƯỢNG
ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần

4. ĐẠO PHẬT

Lúc bấy giờ vào lối 17 giờ chiều ngày 11 tháng 3 năm Giáp Dần, tại Trung Ương Hội Thượng, giữa sự hiện diện Tứ Chúng gồm có Thị giả Tôn giả Tạng Nguyên, Hộ Pháp Tôn giả Pháp Tràng, Tôn giả Hộ Pháp Pháp Tưởng cùng một số Tín Chúng đang ngồi đàm đạo về TÍN-HẠNH-NGUYỆN.

Vừa khi ấy ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, sau 5 ngày Ngài Giáng Lâm Tỉnh Thị Hội Quảng Nam Đà Nẳng về. Sức khỏe của Ngài đã thanh bình, dung nhan tươi tốt. Tất cả đồng đứng lên chiêm ngưỡng lễ bái, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ an tọa. Tứ Chúng ngồi lại một bên. Trong giây lát Đức Ngài dạy:

– Này Tứ Chúng. Hôm nay Tôi nói một Thời Pháp rất hệ trọng về con đường tu tập để cho Tứ Chúng giữa đời này đồng với đời sau nhận định cho đúng đắn, khỏi lầm lạc. Ngài bắt đầu dạy:

ĐẠO PHẬT

ĐẠO PHẬT chính là một Môn trọng yếu đối với bậc biết tu, biết sử dụng, được TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT hiện tại.

– Vì sao ĐẠO PHẬT chia làm BA THỪA?

– Vì sao ĐẠO PHẬT có ĐỐN, có TIỆM?

Đạo Phật chia làm Ba Thừa do tùy căn Thọ Chấp, sự nhận lãnh không đồng trở thành ba thừa:

TIỂU THỪA - ĐẠI THỪA - NHẤT THỪA

ĐẠO PHẬT CÓ TIỆM GIÁO để cho tất cả Tín Chúng tu tập tạo lấy một căn bản vững chắc khỏi sụp đổ, khỏi nặng nhẹ, Đức và Trí tương song. Vì vậy nên có Tiệm Giáo để nuôi dưỡng tinh thần vững chãi trên cơ bản Đạo Đức. Sự tu tập có Tiệm Giáo mới thu nhặt được Công Năng của bậc tu, mới có Định để phát sinh Trí Đức lưỡng toàn.

Khi bậc đã tu tập có công năng, liền được Bậc Chỉ Đạo thi hành pháp Nghịch, hoặc giả khai thông Tạng Thức để bước qua vị trí thông đạt tiến bộ.

TU ĐỐN GIÁO chính là một môn thử thách của Công Năng, khi bậc tu có Tâm Thù Thắng cầu TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT thì liền có nhiều thử thách để tiến bộ. Từ Thử Thách tiến bộ ấy, bậc tu vẫn kiên trì xây dựng Đạo Đức, chẳng tổn thương Đạo Đức.

– Tiệm Giáo chính là Cơ Bản Đạo Đức.

– Đốn Giáo tức là một môn để phát sanh Trí Tuệ.

Vì vậy nên Phật thường nói: Bậc tu gìn giữ Định mãi, tự tạo căn bản Đạo Đức cố định, cố thủ thì đương nhiên bậc ấy tạo Vô Minh chớ chẳng ích chi với con đường TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT, chỉ được Phước Báo Nhân Thiên.

Bằng Phá Mê Chấp nương theo Đốn Giáo mãi thì vô tình hay cố ý vẫn có Trí Tuệ nhưng phải sai lạc vào Tà Kiến, chịu thọ chủng ba đường ác.

Do lẽ trên, nên Bậc Tu cần lấy Trí Đức. Định Tuệ. Tướng Tánh Đồng Song mới Chánh Báo Chân Lý.

– Đối với Đạo Phật là một Pháp Môn Tối Diệu Cứu Cánh Giải Thoát hiện tại.

– Đối với Đạo Phật cũng là một con đường mà bậc đã lỡ chân trái bước lầm lẫn phải sa vào Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Địa Ngục, đi vào Tà Kiến không ngừng.

Cũng như biết dùng thuốc thì chữa được bệnh Mê Lầm. Bằng chưa biết dùng mà dùng bừa bãi thì lại càng Tu càng Bệnh, càng làm càng đến những chỗ sa đọa vô kể.

Vì như thế, nên Chư Tổ mới kìm hãm, củng cố Đạo Tràng để cho bậc tu lần bước nhiều kiếp mà Sở Đắc Chân Lý.

Do như thế, nên các Pháp Môn Niệm Phật, Tu Tịnh Tâm, tạo Phước Điền cẩn thận để chờ bậc THIỆN TRI THỨC chỉ dẫn đúng với tinh thần, đúng với Pháp Môn, đúng với sự cầu báo Chánh Báo.Vị ấy tùy năng sở sắp theo thứ lớp cho Tứ Chúng được Chánh Báo Phước Điền, được Chánh Báo Nhân Thiên, được Chánh Báo Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, mà thành tựu Chánh Giác vậy.

Bậc như thế phải là BẬC CHỈ ĐẠO thông đạt, Tận Biết tỉ mỉ Nghiệp Chủng của Chúng Sanh Giới, thật biết năng Sở Cầu từng bệnh tật của Bậc Chứng Tu để lần lượt xếp thành sự Tu Chứng trường cữu bất diệt. Đến đây Ngài dứt lời.

Tứ Chúng đồng đảnh lễ và cung tiễn ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh Pháp Tràng “Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 11-3 năm Giáp Dần

3. ĐẮP XÂY TƯỢNG ĐÔNG ĐỘ

Tôi còn nhớ một thuở quá khứ, có một vị Đạo Sĩ ở tại làng Khe Khẻ, quận Chiêu An, Tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Vào thời ấy kể đến nay cũng trên 700 năm.

Lúc bấy giờ, Đạo Sĩ có một số Đạo Chúng không nhiều lắm, nhưng cũng trên 10 vị. Một hôm vị Đạo Sĩ kêu tất cả Đạo Chúng đến tỏ bày ý kiến đắp xây pho tượng Đông Độ. Ngài mới nói: Tượng Đông Độ này, hãy đến lấy đất tại Đông Thành Quận, thứ đất ấy rất hiếm hoi, phải là thứ đất thật mịn, thật đẹp, vậy các ông hãy đi đến Đông Thành Quận để kiếm mỗi vị một ít mang về cho Tôi nhận đúng thứ đất ấy dùng được thì sẽ lấy nhiều. Bây giờ tất cả Đạo Chúng đều một lòng tín tâm phát nguyện làm sao tìm được mẫu đất cho đúng với tinh thần và thể chất đắp tượng Đông Độ, thế rồi tất cả Tứ Chúng đồng ra đi mỗi người một ngã.

Qua một thời gian 3 tháng, mỗi vị đều mang về một kiểu đất làm mẫu. Được sự lựa chọn của Đạo Sĩ, ông Tín Toàn là người tìm được mẫu đất y như sở nguyện. Ngài Đạo Sĩ liền cho mang những mẫu đất của ông Tín Toàn về tập trung tại Pháp Bảo, lúc bấy giờ ông Tín Toàn mừng rỡ thích thú, yên chí là mình tìm được pho tượng Đông Độ, khi ấy Đạo Sĩ mới dạy rằng: Đất này chưa phải là Pho Tượng, tôi muốn lựa chọn một vị biết xay nhỏ và lọc những đất này để đắp tượng, thì các vị hãy lấy riêng ra một ít xay nhuyễn để tôi xem vị nào biết xay và biết lọc, tôi sẽ giao phó cho công việc này.

Khi ấy ông Tín Nghĩa xay và lọc đúng với với tinh thần của Đạo Sĩ, vị Đạo Sĩ bảo ông Tín Toàn hãy giao đất lại cho ông Tín Nghĩa để xay và lọc. Bấy giờ ông Tín Toàn sanh tâm buồn khổ, khóc kể gào thét, vì ông ta có công tìm đất, đến ngày hôm nay lại không còn gì ráo. Vị Đạo Sĩ biết như vậy, lại còn biết hơn thế nữa, mới kêu ông Tín Toàn dạy rằng: Công Đức của ông đã tìm đất để xây pho tượng chớ chẳng phải là Pho Tượng. Hôm nay ông giao lại cho ông Tín Nghĩa để cho ông ấy xay, lọc và đắp Tượng, thời ông nên học cách xay, lọc của ông Tín Nghĩa, nào có mất gì của ông đâu mà sợ. Ông được đất, mà còn biết được lối xay, lọc thì thử hỏi có lợi cho ông chăng?

Khi nghe lời chỉ dạy ấy ông Tín Toàn sực tỉnh, mừng rỡ, tâm phiền não, tâm uể oải, tâm oán hận thảy đều tiêu tán, trọn xét được Thù Thắng Tâm.

Sau khi Đạo Sĩ nhìn thấy nở một nụ cười, gọi ông Tín Nghĩa giao lãnh phận sự làm đất, lúc ấy tất cả anh em đều phụ lực giúp đỡ cho ông Tín Nghĩa đoạt đến căn bản tinh tấn. Thường tinh tấn nên đất đó được đẹp và nhuyễn. Xong đến đây Đạo Sĩ mới gọi tất cả Đạo Chúng Ngài hỏi:

-Vị nào là vị biết nhồi đất, biết đem giấy bổi cán nhồi cho thật nhuyễn thì Tôi sẽ trao nhiệm vụ để mà làm Công Đức?

Lúc bấy giờ có một vị khổng lồ, tên vị ấy là Tín An, bước ra xin lãnh phần Công Đức ấy, thì ông Tín Nghĩa lại sanh tâm phiền toái, kể lể công cán ngày hôm nay chẳng còn gì cả. Đạo Sĩ thật biết tâm địa ưu ái, bản ngã cố thủ của ông Tín Nghĩa. Ngài Đạo Sĩ lại giải bày tất cả, cũng như đã giải bày cho ông Tín Toàn lúc trước. Sau khi ông Tín Nghĩa lãnh hội được liền khuyến khích tất cả đồng giúp đỡ cho ông Tín An thành tựu.

Sau khi được sự giúp đỡ của tất cả anh em Đạo Hữu thì khối đất ấy trở nên mịn, nhuyễn, cấu kết đẹp đẽ.

Đến giai đoạn này, vị Đạo Sĩ gọi tất cả Tín Chúng đến phổ truyền:

-Có vị nào biết đắp Tượng, thì Ta đem mẫu Pho Tượng ra mà đắp? Nói xong, Ngài liền thò tay vào tay áo lấy ra bức tranh, đặt bức tranh trên bàn hương án trước Chánh Điện để cho Tín Chúng được xem.

- Khi ấy có một vị gọi là Tín Hảo bước ra xin lãnh Công Đức đắp Tượng, vị này ốm yếu nhưng có đôi mắt hiền từ và thông thái, tiếng nói thanh nhã, quỳ xuống thưa thỉnh để cho lãnh Công Đức trên.

Lúc bấy giờ, vị Tín An ngơ ngẩn, nhưng mà mau hiểu hơn hai vị Tín Toàn và Tín Nghĩa, do lẽ ấy anh em Tín Chúng đồng hợp chuyền nhau đưa từng mảnh đất lên trên Bảo Đài để cho vị Tín Hảo có đủ tinh thần xây tượng. Khi Pho Tượng khô ráo, tất cả Tín Chúng đều tô điểm trở thành pho tượng Đông Độ. Ngày hôm nay, mọi người trong Tín Chúng, mỗi người thảy đều biết rõ:

CÁCH TÌM ĐẤT, CÁCH XAY LỌC ĐẤT, CÁCH NHỒI ĐẤT, CÁCH ĐẮP PHO TƯỢNG, thảy đều vui mừng hớn hở chưa bao giờ có.

Đức LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài ngưng một lát trầm ngâm dạy tiếp:

-Hởi các Chân Tử “Tứ Chúng”, Tôi vẫn biết: Tứ Chúng giữa thời này còn có Tín Tâm tin Phật. Tin trên con đường Tri Kiến Giải Thoát, lại có ý chí xây dựng Chánh Pháp đương thời Hạ Pháp, Công Đức ấy vô lượng.

Nhưng Tôi rất tiếc, những sự lầm lẫn của Tứ Chúng đôi khi bị loài Ma dân giả của khối Ma Ba Tuần xâu xé tranh giành thứ vị dựng nên hai chữ: phũ phàng, làm cho con đường chỉ đạo của Tôi phải tốn chẳng biết bao công giảng giải, vì vậy nên thường bị cản trở cuộc hành trình xây dựng Chánh Pháp.

Tôi rất mong kể từ giờ phút này, Tứ Chúng hãy dùng bài Giáo Ngôn “Đắp Xây Pho Tượng Đông Độ” để làm bài tâm niệm, tránh khỏi loài Ma Phũ Phàng lừa dối Tâm Chí Công Đức của Tứ Chúng. Có như thế chính là Phẩm Bảo Trì Công Đức không nhỏ vậy. Sự mong nơi Tôi phải như thế.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn văn Dây,
Pháp Danh: Tôn Giả Pháp Bang “Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 26 tháng 2 năm Giáp Dần

2. MƯỜI DANH HIỆU PHẬT

ĐỨC TĂNG CHỦ GIÁNG LÂM KHAI THỊ TẠI PHÁP BẢO TỈNH THỊ HỘI QUI NHƠN, BÌNH ĐỊNH

Chuyến Giáng Lâm kỳ 8, ngày 26-1 Âm lịch, lúc 20 giờ 30 tại Pháp Bảo Tỉnh Thị Hội Qui Nhơn Bình Định. Lúc bấy giờ tôi được sự chấp thuận đồng tháp tùng theo cuộc giáng lâm đến Tỉnh Thị Hội Qui Nhơn. Tôi được thấy như sau: Đúng giờ ấn định, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tiến ra Chánh Điện, theo sau Ngài có hai vị Thị Giả Pháp Khiêm và Pháp Chỉnh. Tứ chúng cung nghinh đảnh lễ xong, Ngài an tọa trên Bảo Tòa, Tứ chúng ngồi ngay ngắn thứ lớp trên một trăm vị.

Trong cử chỉ trang nghiêm của Ngài, trước Chánh Điện trầm hương nghi ngút. Nhưng tiếc thay, âm thanh hỗn loạn của xe cộ bên đường, cùng những vị tham dự nơi địa phương chưa được yên tĩnh nên chi hãy còn tiếng thì thầm rào rạt. Bấy giờ Ngài dạy:

– Này các ông, Sự nghe Pháp, sự lãnh Pháp rất khó. Sự nghe được Pháp rất có giá trị, cũng như nghe được, biết được giá trị sử dụng báu vật, khi đã nghe được đương nhiên lãnh được. Thời xưa ĐỨC-THẾ-TÔN trao bảo vật cho Bồ Tát, thì Bồ Tát có cung kính yên tĩnh để thọ lãnh hay chẳng cung kính yên tĩnh được thọ lãnh?

Tứ chúng đồng thưa:

“Bạch Ngài, cung kính yên tĩnh được thọ lãnh, bằng chưa cung kính, chưa yên tĩnh thời chưa bao giờ lãnh được”.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ khen:

“Đúng như vậy!”. Vi diệu thay! Từ giờ phút đó, tiếng thì thào đến âm thanh xe cộ đều ngưng bặt trở thành yên tĩnh, trang nghiêm.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài dạy:

– Này các ông, nói đến sự làm diệu dụng của Chư Phật thì ta không nên nói. Bằng nâng cao, tán thán vô lượng vô biên Công Đức sung mãn của Ngài thì ta cần phải nhắc nhở để các ông nương theo thành tựu. Các ông tự nghĩ: Các Đức Phật có tu trì chứng quả hay không tu trì mà đặng chứng quả?

Tất cả tứ chúng đồng thưa:

“Bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, có tu trì có chứng quả”.

Lúc bấy giờ Ngài gật đầu dạy tiếp:

– Trước kia khi vị Phật chưa thành Phật, Ngài cũng phải tu mới đắc quả, Ngài có công thành tựu sung mãn 10 danh hiệu, 10 danh hiệu ấy chính là 10 phẩm Công Đức ngày nay thường xưng tán. mười danh hiệu như: ỨNG CÚNG, CHÁNH BIẾN TRI, MINH HẠNH TÚC, THIỆN THỆ, THẾ GIAN GIẢI, VÔ THƯỢNG SĨ, ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU, THIÊN NHƠN SƯ, PHẬT, THẾ TÔN, NHƯ LAI.

Ngài dạy tiếp:

“Tôi sẽ giảng một vài danh hiệu để các ông được chứng tri việc tu trì tạo thành Công Đức của Chư Phật như: ỨNG CÚNG.”

• Về phẩm ỨNG CÚNG:

Khi mà bậc phàm phu tín tâm chiêm ngưỡng làm phẩm Công Đức Cúng Dường, thời thường mua sắm lễ vật hương đăng hoa quả lễ bái dâng hương cúng dường chiêm ngưỡng cầu Phước Báo Nhân Thiên. Cứ như thế trên 100 kiếp cúng dường chiêm ngưỡng. Đến giai đoạn sau thời bậc ấy mới phát tâm cúng dường như xây chùa lập tháp cho Chư Tăng tu tập, mình cũng tu hành, lễ bái trai đàn, cung kính lập Thiện Căn, làm phước thiện, cầu Tam Thế chứng minh Công Đức cúng dường, vẫn phải trên 100 kiếp. Đến giai đoạn thứ ba: Bậc ấy vẫn dùng phẩm Công Đức cúng dường Tam Thế, vẫn tu trì phẩm Công Đức Hữu Lậu, nhưng có khá hơn trước là biết nghe Giáo lý, hay tìm chơn tánh để tu cũng phải trên 100 kiếp mới bước qua giai đoạn thù thắng. Lúc bấy giờ, lập Bồ Tát Hạnh như: Bố Thí. Trì Giới. Tinh Tấn. Nhẫn Nhục. Trí Tuệ và Thiền Định, gọi là lục Ba La. Lại dùng BI-CHÍ-DŨNG, GIỚI-ĐỊNH-TUỆ để tu TÍN-HẠNH-NGUYỆN. Những lý sự tu hành nơi Bồ Tát Hạnh thảy đều nằm nơi Phẩm Công Đức Đạo Hạnh cúng dường Ba La Mật Đa. Đến giai đoạn Bồ Tát sở đắc CHÂN KHÔNG BỒ TÁT, thì chừng đó mới có Áo Giáp bền để tu vào con đường Hành Thâm Pháp Giới, cố thâm nhập mà đoạt đến BÁT NHÃ TRÍ. Khi đến Bát Nhã Trí, đương nhiên từ Công Đức hữu lậu trở thành Công Đức cúng dường Vô Lậu, cúng dường Như Lai tròn Bổn Nguyện thành tựu sung mãn. Thời phẩm cúng dường ỨNG CÚNG trở lại cho Bồ Tát thành tựu Quốc Độ gọi là ỨNG CÚNG.

• Về Phẩm CHÁNH BIẾN TRI:

Phẩm nầy nương nhờ bậc đã tìm đặng Chơn Tánh để tu, bậc nầy thường Công Dụng PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN cốt GIÁC. Từ một khởi điểm nhỏ hiểu ra nhận định được sự to lớn rộng rãi.

Tỷ dụ: Nhìn trong một quả mãng cầu có thể biết được nhiều múi mãng cầu kết lại trở thành một quả mãng cầu. Trên vũ trụ có nhiều Hành Tinh cấu kết với trái đất mới thành vũ trụ hay nhiều nhân sinh kết lại mới thành một Quốc Gia, nhiều Quốc Gia hợp lại mới trở thành Hoàn Cầu Thế Giới, đó gọi là Chánh biến tri .

Hoặc giả, một cái Biết nhỏ chưa đủ, có hằng vạn sự Biết nhỏ mới trở thành cái khôn lớn, hàng vạn nơi khôn lớn mới trở nên cái Đại Giác. Cũng như mỗi một chữ vẫn chưa đủ bài, phải sắp đúng trăm hay ngàn hoặc vạn chữ mới thành tựu một bài, đó gọi là Chánh Biến Tri.

Cũng như tìm nơi cái Giác thì không bao giờ tìm đặng, mà khi hành sự chung kết mới nhận được trên sự làm thảy đều có Giác. Như tìm Phật Tánh hay Bồ Tát đâu có ra, khi bậc tu phá mê chấp đặng bao nhiêu thì Phật Tánh sẽ hiện diện bấy nhiêu, muốn thành tựu Bồ Tát thì phải tu theo con đường Bồ Tát, đó cũng gọi là Chánh Biến Tri.

Bậc đã có trí tuệ Chánh Biến Tri, bậc nầy có thể nhận lấy mỗi một ngày liền biết đặng 3 vạn 6ooo ngày. Sống trong một kiếp có thể nhận biết được 3 vạn 6000 kiếp. Bậc này luôn luôn nhận hiện tại tu hành Giác Ngộ, vị lai đặng trọn hưởng Giác Ngộ, chẳng bao giờ nghĩ hiện tại chưa tu để kiếp sau sẽ tu.

Vì sao được hiểu biết như vậy? Vì có một Trí Tuệ Chánh Biến Tri nên thường lấy hiện tại làm căn bản mà thành đạt.

Dù có chưa đến trọn vẹn chăng khi đến một kiếp nào liền bước hẳn vào con đường Bồ Tát Hạnh phát Đại Nguyện Tâm cương lĩnh dùng Thù Thắng Tâm.

Lúc bấy giờ có đặng Trí Tuệ soi khắp nghiệp thức, chướng nghiệp các căn tánh chủng nghiệp, tâm cổi giải, Trí hằng kiểm kê dùng Bi Chí Dũng, Giới Định Tuệ vừa giải mê cho mình, vừa phá chấp cho kẻ khác, nung Đức Hạnh, tự chế mình làm cho tất cả Tin Phật, Tin Pháp, Tin Tăng khỏi đoạn duyên Phật.

Trên căn bản, Bồ Tát Hạnh tu trì Lục Ba La Mật Đa để bảo trì quả vị, Xây Đức Trí đặng tránh khỏi thọ chấp Bản Ngã, nương theo Vô Ngã Hành Thâm Pháp giới, nhờ Phẩm Hạnh Công Đức như thế nên Trí Tụê tăng trưởng, Bồ Tát Sở Chứng Chánh Biến, thật biết tỉ mỉ Năng sở tu chứng của các bậc tu, nên hoàn toàn Tri Kiến, lại viên dung thông đạt Lý sự thích hợp, hay chẳng thích hợp, từ phàm phu đến Thánh Tiên cùng Chư Thần mà chủng tánh thọ chấp của Năng Sở biến thành từng thế giới và Cảnh Giới cùng Các Cõi trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, suốt thông tỉ mỉ tận cùng nên toàn vẹn Thật Giác sở đắc Bát Nhã Trí, nương nhờ vô lậu thân tâm đồng nhất mà nhập vào Chánh Định Tam Muội, thành tựu Chánh Giác gọi là Chánh Biến Tri .

• Về Phẩm MINH HẠNH TÚC:

Minh Hạnh Túc chính là một phẩm rất quan hệ phù hợp Cảnh Giới, phù hợp Quốc Độ Chư Phật, vì vậy Chư Bồ Tát mới lập Đạo Hạnh.

Vì sao? Vì Bồ Tát thật biết tỏ rõ các Hạnh của Bồ Tát, của Phàm Phu, của Tiên Thần bằng nhiều lối nhiều tư cách như: Đi đứng ngửa nghiêng, nói năng bừa bãi ra sao thì phải chịu với cõi nào. Được tăng thọ mạng lên hay hạ thọ mạng xuống ra sao, Bồ Tát thật biết: Từ giọng nói chua chát, đắng cay, hoặc lời nói từ tốn khoan thai tao nhã, thì phước báo hoặc chịu báo ba đường ác. Phước báo được lên các cõi cùng cảnh giới Tiên Thần, đến trọn Chánh Báo thành Phật. Vì như thế, nên Bồ Tát thật biết Phẩm Hạnh, hiện tại làm đặng thì vị lai trọn hưởng, nhược bằng hiện tại chẳng làm đặng thời chính bản thân của mình không được hưởng nhưng lại làm cho nhiều kẻ khác khinh khi, đâm ra tu hành lại bất tín duyên Phật. Đó lỗi chẳng phải kẻ bê trễ mà lỗi do bậc tu thiếu Hạnh.

Vì lẽ ấy nên Bồ Tát thường quán hạnh Bồ Tát quá khứ để tu Đạo Hạnh, cốt cho nhiều kẻ cảm mến mà thi hành Phẩm Tứ Nhiếp, cốt cho nhiều kẻ ái kính để thu nhiếp Lục Đạo, thực thi Lục Hòa, cốt cho nhiều kẻ được ích lợi đặng thọ lãnh Bảo Pháp làm như thế Bồ Tát được lợi, đồng đem sự ích lợi cho rất nhiều kẻ khác. Bồ Tát vẹn toàn Đạo Hạnh, minh mẫn Phẩm hạnh đến sung mãn trang nghiêm Quốc Độ nên gọi là Minh Hạnh Túc.

Minh Hạnh Túc chính là thật biết tỏ rõ lý sự kết quả của Hạnh. Túc tức là cụ túc Chánh Báo. Đến đây Ngài ngưng một chốc rồi dạy tiếp:

– Này các ông, trong Mười danh hiệu mà Tôi kể mới có ba thôi, các ông đã nhận thấy Công Đức Vô lượng như thế. Nhược bằng Tôi nói hết Mười Danh Hiệu thời các ông nghĩ thế nào?

Tứ Chúng đồng thưa:

– Kính Bạch Ngài, thật khó nghĩ bàn.

Đức Tăng Chủ gật đầu, Ngài dạy tiếp:

– Các ông có thể dùng Thù Thắng Tâm và Thiết Tha Tâm tạo được. Vì sao? Vì các ông đã có sẵn Phật Tánh trí tuệ hiểu biết y như Phật, nhưng vì nghiệp thờ ơ bê trễ nên chưa chịu tạo thôi, các ông hãy tin lời Tôi nói thành thật để tu tập tự tạo lấy Công Đức sung mãn mà thành tựu.

Lúc bấy giờ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trầm ngâm một chốc, Ngài vừa hỏi vừa dạy như sau:

– Này các ông, các ông hãy nhìn lên Chánh Điện, Pho Tượng Đức Đông Độ, các ông thấy Đức Phật có tốt đẹp chăng?

Chúng tôi đồng thưa:

– Kính Bạch Đức Ngài: Tốt đẹp.

Ngài dạy:

– Phải, Đức Phật tốt đẹp như thế nên mới có 32 tướng tốt. Vậy 32 tướng tốt của Phật các ông có thể tu tạo được như vậy chăng?

Lúc ấy Tứ chúng đều im lặng. Đức Tăng Chủ liền phân tách để chỉ dạy cho Tứ Chúng nên Ngài dạy:

– Các ông nên biết, đối với Chư Phật, rất mong cho các ông nương theo vết chân của Ngài để tu tập phá mê lầm thành tựu như Ngài, Đức Phật thấy các ông chẳng có chổ tự tin các ông, các ông sợ sệt đủ cách theo nghi thức của các ông, nên chi các ông có một quan niệm tu không bao giờ thành Phật, vì vậy nên Đức Phật Ngài nói: TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC ÔNG LÀ PHẬT SẼ THÀNH, để các ông tự tin mình, cùng tin Pháp môn tu tập, các ông đã nhìn thấy Đức Phật 32 tướng tốt. Vậy các ông có thể nương theo tướng tốt ấy tu tập thực tế để thành tựu hiện tại, tại sao các ông thờ ơ?

Ngài dạy tiếp: Nói đến Đôi Mắt Phật tốt, cặp mắt các ông có thể tạo nên cặp mắt tốt như Phật vậy. Mắt Phật nhìn thấy Sanh - Tử - Bệnh - Lão - Khổ vì say chìm trong Dục vọng. Các ông cũng nương theo mắt Phật mà nhìn ngay hoàn cảnh hiện tại của các ông là nó chẳng thường, đặng các ông gia công tu tập, đó chính là các ông đã tạo nên cặp mắt đẹp. Tai các ông nghe danh lợi, nghe lẽ phải trong những điều các ông ưa muốn. Ngày nay các ông nghe Pháp, lãnh Pháp, tu hành, đó chính là đã tạo nên đôi tai tốt. Còn miệng các ông thường hơn thua từng lời nói, hay cười cợt bừa bãi, tà dâm bài bạc mưu mẹo, hôm nay các ông vẫn dùng miệng đó mà thuyết Pháp.

Cứ như thế trong một thời gian các ông tròn chí nguyện, trở thành 32 tướng tốt như Phật. Các ông thấy Tướng Tốt của Phật, các ông không chịu tu tập thành tựu, cứ ngồi ước ao ngưởng vọng chẳng bao gìơ đặng. Như thế gọi là vọng tưởng điên đảo. Thôi đến đây dứt lời.

Lúc bấy giờ Tứ Chúng đãnh lễ đồng cung tiễn Đức Long Hoa Tăng Chủ trở về Tịnh Thất. Tôi nhận thấy thời Pháp này thật quý vô kể, tôi thưa thỉnh Đức Tăng Chủ tuyên đọc, Tôi phụng ghi chép nguyên văn để cúng dường Tam Bảo.

ĐỨC TĂNG CHỦ NHẤT TÔN “Tuyên Đọc”

Chân Phật Tử Pháp Hoàn Phụng ghi để phổ truyền
Ngày 24 tháng 2 năm Giáp Dần

1. LÀM THẾ NÀO GIÁO MÔN KHỎI BỊ DIỆT VONG

Lúc bấy giờ, vào lối 9 giờ 30 ngày 12 tháng 02 năm Giáp Dần (1974), tại Trung Ương Hội Thượng giữa sự hiện diện Tứ Chúng gồm có: Tôn Giả Pháp Khả, Tôn Giả Pháp Tưởng, cùng quý Tín Chúng: Pháp Quyên, Pháp Hậu và một số trên mười vị đang ngồi đàm luận về tánh cách xây dựng Chánh Pháp.

Vừa khi ấy, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện, nơi mà Tứ Chúng đang quây quần thân mật. Tất cả đồng đứng lên chiêm ngưỡng lễ bái, xong ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ an tọa, Tứ Chúng ngồi lại một bên. Trong giây lát, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài mới nói:

-Này Tứ Chúng, hôm nay Tôi nói một thời Pháp tuy đơn giản nhưng rất hữu ích cho đời nầy đồng với đời sau gìn giữ mối Đạo không bao giờ bị diệt vong, đặng hữu ích vô cùng. Các ông là những bậc mong cầu chí nguyện hãy nghe tôi nói.

Thế rồi ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài bắt đầu dạy:

“Tôi còn nhớ, có một thuở ĐỨC THẾ TÔN Ngài đến một Giáo Môn, Giáo môn đó có một Trưởng Giả cầm đầu trên trăm vị tu hành về môn Chủ Quán, lấy hư không Chủ Định làm Tâm. Vị Trưởng Giả bao gồm tiền bạc, châu báu để cho tất cả tu tập không mất của hoặc công tí nào.

Trưởng Giả còn lo cơm nước, y áo cho 100 vị tu trì.

ĐỨC THẾ TÔN vừa đến nơi, Trưởng Giả và trên 100 vị ra mừng đón. Lúc ĐỨC THẾ TÔN an tọa xong, thì Trưởng Giả ngồi lại một bên, 100 vị thảy đều ngồi theo thứ lớp.

Trưởng Giả đứng lên thưa thỉnh:

-Bạch ĐỨC THẾ TÔN: Làm thế nào Giáo Môn khỏi bị diệt vong? -Như thế nào thường bị diệt vong?

-Hội Tề cách nào được tồn tại? -Như thế nào không tồn tại? -Kính nhờ ĐỨC THẾ TÔN chỉ giáo.

ĐỨC THẾ TÔN Ngài dạy:

-Trưởng Giả cũng nên biết, Giáo Môn tránh khỏi diệt vong, được sự tồn tại bất diệt, thời Giáo Môn ấy có pháp tu Tự Lợi mình, đem sự lợi ích đó giáo hóa cho kẻ khác nghe lãnh thi hành được lợi như mình, đó chính là Giáo Môn bất diệt, thường còn, không bị diệt vong. Bằng Giáo Môn mình chỉ có Tâm ý phát nguyện, theo lời nguyện chính mình bảo toàn tất cả nhân lực, tài lực như đem tiền của châu báu ngọc ngà giúp đỡ cho tất cả trong Môn Giáo, nhưng bậc ấy vô tình hay cố ý không bày vẽ cho Tín Chúng làm y theo Thù Thắng Tâm, Phát Nguyện Tâm, Công Đức Tâm như mình thì hậu lai mối Giáo Môn bị diệt vong. Đối với Ta, ta có BI, Ta phải dạy cho mọi người biết BI như Ta. Ta có TRÍ, Ta dạy cho mọi người biết TRÍ như Ta. Ta có DŨNG, Ta dạy cho mọi người biết DŨNG như Ta, do đó mà mối ĐẠO ta bất diệt.

-Trưởng Giả cũng nên biết, Hội Tề thế nào được Tồn Tại?

-Hội Tề biết Lục Hòa, làm cho mọi người được an vui thì chính mình được an vui, làm cho mọi người phấn khởi thì chính mình được phấn khởi, nói lời Pháp đứng đắn ích lợi cho mọi người tu tập, đó là Hội Tề tồn tại sung mãn.

Bằng Hội Tề phiếm luận, hí luận, ẩm thực luận, nghi chấp v.v... đương nhiên Hội Tề không được tồn tại, bị diệt vong.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ. Ngài dừng lại trong giây lát, Ngài nhìn chúng tôi và dạy tiếp:

-Này các ông cũng nên biết, đứng giữa thời Mạt Pháp, Tôi mong mõi cho con đường Chánh Pháp được vững vàng thì các ông được vững vàng. Các ông nên làm những gì được TỰ LỢI đồng THA LỢI. Khi các ông Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục, Trí Tuệ, Thiền Định thì các ông nên đem những môn của các ông hiểu biết đó để giúp cho kẻ khác được hiểu biết như các ông.

Các ông trọn lòng TIN-VÂNG-KÍNH Tôi, các ông được lợi bao nhiêu tùy khả năng các ông khuyến khích dạy dỗ cho những tín chúng được sự TIN-VÂNG-KÍNH để được lợi như các ông.

Các ông phá Nghi Chấp, qua các căn nghiệp, chủng nghiệp được an vui, được thú vị, được thoải mái thì các ông nên đem những Pháp đã hiểu biết của các ông để giúp cho Tín Chúng Tu Tập cũng được an vui, thú vị, thoải mái như các ông, đó chính là một con đường của các ông đã xây dựng Chánh Pháp giữa thời Hạ Pháp. Đó chính là vàng, bạc, châu ngọc của Tam Bảo các ông đem dâng cúng cho Tam Bảo vậy. Tôi chỉ mong bấy nhiêu thôi”.

Ngài dứt lời. Tứ chúng ai nấy đều vui mừng, cung kính, tán thán Công Đức, đảnh lễ và cung tiễn ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

LONG HOA HỘI THƯỢNG, ngày 12-2 Giáp Dần (1974)
Chân Phật Tử Hoàng Ngọc Sơn, Pháp danh: Pháp Tràng “Phụng ghi”

Ghi Chú: Thời kỳ Hóa Độ Đại Thừa của Đức Long Hoa Tăng Chủ Di Lạc Tôn Phật vào khoảng năm 1975, các Chân Tử ở Nha Trang có ghi pháp danh trong quyển Kinh Giáo Ngôn này đã bỏ đi quay về nhà tu Tiểu Thừa gồm có: Pháp Tràng, Pháp Hoàn, Pháp Thoàn, Tạng Tích, Pháp Sử, Tạng Nguyên.

 

Giáo Ngôn – Lời Dẫn Nhập

Giáo Ngôn: Những mẫu chuyện Đức Vô Thượng Di Lạc Tôn Phật kể, bậc tu buổi ban đầu bước vào ngưỡng cửa nhà Phật phát Bồ Đề Tâm thì trước tiên phải thi hành giải nghiệp. Nói đến Nghiệp, mỗi bậc tu đều có nghiệp, kẻ chưa tu vẫn có nghiệp. Nghiệp nó sai khác nhau tùy nơi tư tưởng Thần Thức chấp trụ, liền có Nghiệp Thức thọ chấp. Lớn nhỏ rộng hẹp của ý thức trở thành Nghiệp, Bậc muốn tu phải giải Nghiệp. Bậc mới tu Nghiệp thì thật vô số kể, nó có đủ khía cạnh mà thọ nghiệp. Do lẽ ấy nên bậc tu dùng đủ phương tiện, tiêu trừ Giải Nghiệp hay nhờ Bậc Thiện Trí Thức chỉ bày đủ phương pháp tự giải nghiệp. Bậc tu tùy theo trí tuệ lướt qua hoàn cảnh, tạo công năng giải nghiệp. Cứ giải bớt nghiệp bao nhiêu thì trí tuệ tăng trưởng thọ lãnh bảo pháp bấy nhiêu.

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.

21. CHÁNH BÁO

CHÁNH BÁO duy nhất chỉ có bậc Vô Thượng mới đoạt đến mà thôi, vì sao? Vì chính đó là Báo Thân, cho nên kỳ dư tất cả thảy đều thọ hưởng Phước Báo đến Phước Báo Nhân Thiên là cùng, do đó Chư Bồ Tát chẳng tham cầu Phước Báo Nhân Thiên mới phát Đại Nguyện tu vạn hạnh hành thâm Bát Nhã đặng sung mãn Công Năng Công Đức cúng dường Như Lai Phật thọ lãnh cõi Phật đạt Chánh Báo Vô Thượng.

Từ Tịnh Độ, Quốc Độ, đến các cõi, các Cảnh Giới Tiên Thần nơi Tam Giới, cùng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Rồng Trời Người thảy đều nằm nơi Phước Báo thọ hưởng.

Bậc Vô Thượng Chánh Báo Đại Bát Niết Bàn thật khó nghĩ bàn, khó dùng ngôn ngữ thuyết giải cho hết đặng. Vì sao? Vì Công Năng Công Đức vô lượng vô biên Ba Thân viên mãn hoàn giác Chánh Giác không thiếu sót, nên không lời nào, nơi nào để tán thán cho hết đặng.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài đoạt Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trọn Chánh Báo Đại Bát Niết Bàn. Đối với Ngài, ngài cũng không ngờ, ngài cũng không thể nào so tính đặng Chánh Báo vô tận, Ngài chỉ nói:Thật kỳ diệu! Ngài mới dùng KIM THÂN TƯỚNG PHẬT quan sát, từ vô thủy sơ khởi Công Đức đến thực hành công đức hôm nay, ngài biết tỏ rõ, biết tỉ mỉ tất cả Công Đức Công Năng sung mãn ngày nay mới đoạt đặng Chánh Báo. Ngài liền nói với Tứ Chúng rằng:

“Các Ông nên biết, TA kể từ Vô Thủy trong thời Thượng Kiếp, khi TA mới phát Bồ Đề Tâm tu hành, ta tạo nên một Công Đức, đến nay Ta đoạt Vô Thượng Chánh Báo thì công đức ấy liền Thể Hóa một vị Phật tính như thế đối với Ta có thể kể hết được Công Đức chăng?”

Tứ chúng đồng thưa: “Không thể nào kể nổi.”

Ngài nói: “Thật ra đối với Ta khó nói, khó bàn đồng khó tính đếm cho hết được. Thể Hóa chư Phật, do lẽ ấy nên ta nói: Hằng hà sa số Phật, Vô Lượng Công Đức Phật. Các Ông cũng nên tin lời ta nói chân thật cố gắng tạo Công Đức Cúng Dường Như Lai Phật để thành tựu Chánh Báo như ta vậy.”

So lời Đức Thế Tôn nói trên đủ biết, Chánh Báo Vô Thượng Ba Thân Viên Mãn, nhờ Công Đức Công Năng tu tập trong Hạnh Nguyện. Khi thành tựu Chánh Báo do Công Đức ấy Thể Hóa ra chư Phật hằng hà sa số vô lượng công Đức đều thành Phật, sung mãn mới xưng tán Đại Bát Niết Bàn thì thử hỏi làm sao kể hết.

Còn đối với bậc chưa tu hành, chưa huân tập Thiện Căn đang trong lẽ sống phàm phu tánh, thì chúng sanh tánh hãy còn lung lạc, vì lung lạc chẳng có qui định nên chi chúng sanh tánh mới đồng hóa các hoàn cảnh Thuận Nghịch, tùy theo Tâm Ý mà phiên diễn. Nếu là Thiện hoặc Phước Đức thời hưởng được Thiện cùng Phước Đức. Bằng độc ác tranh giành thời chúng sanh tánh đồng hóa diễn cảnh xấu xa nghèo đói. Đến lúc lâm chung cũng tùy theo Đức Tánh hoặc Ác Tánh mà đưa đi sanh tử nơi cảnh giới của chúng sanh đồng hóa tạo thành. Còn đối với bậc biết tu hành huân tập Thiện Căn đào tạo Công Năng Công Đức, phát Bồ Đề Tâm nguyện liền được Trí Tuệ lên hàng Bồ Tát, từ Sơ Trụ đến Bất Thối tùy theo nơi sở đắc mà Hóa Thể Bồ Tát để hộ trì giúp đỡ Bồ Tát Hành Nguyện rốt ráo. Nếu chưa đặng rốt ráo thời liền hóa thể Tịnh Độ Bồ Tát.

Phật thường nói Tự Tánh sung mãn Công Đức để thọ lãnh cõi Phật, Ngài nói:

“Các Ông cũng nên biết Chánh Báo Vô Thượng chẳng ai ban cho ta, còn Chịu Báo không ai bắt ta phải chịu lấy, duy chỉ có ta tạo thành Chánh Báo, ta tự gây lấy Chịu Báo. Đối với bậc tu cầu Chánh Báo phải là bậc cấu tạo TRÍ ĐỨC song đồng. Ta rất tường tận nghiệp thức mê lầm của chúng sanh đang lâm trong vòng Sanh Diệt, nơi chốn Sanh Diệt ấy nó chỉ phân vân CÒN MẤT CÓ KHÔNG của hai tướng mà trở thành bá thiên vạn tướng, do lẽ đó nên chúng sanh rất khó nghe, khó biết để nhận chân lời ta dạy dỗ, nên thường gây tạo cấu xé hơn là Tín Tâm tạo Phước Thiện. Khi Chúng Sanh tạo được Thiện Căn Phước Báo lần tu đạt đến Chánh Báo huy hoàng, chẳng phải chúng sanh không mong lãnh lấy Bảo Pháp của ta, chỉ tại trót củng cố ấn tượng quan niệm hai tướng Sanh Diệt Còn Mất, thật ra họ hãy đang còn ở nơi Sanh Diệt Còn Mất, do đó họ phải tu trong các phẩm hạnh Công Đức để giải mê lầm nghiệp thức, lúc nhờ công năng giải được phần nào thời liền tỏ ngộ phần ấy, đó chính là dĩ nhiên nó phải như thế.”

Thường lệ nhiều bậc tu hành hay năng chấp cùng sở chấp, chẳng do nơi đâu chỉ do chưa biết, do lòng tham động vọng hãy còn, vì vậy nên Phật Đạo thường nói pháp Vô Ngã để cho bậc tu lìa ngã, khi bậc lìa ngã quá trớn thời lại bị Phi Phi, còn có bậc có đôi chút Trí Tuệ tu theo Lý Trí của mình chẳng thi hành hạnh nguyện công đức, đảm phá Đức Hạnh Đạo Tràng để nung đúc tăng thượng, cho Đức Hạnh Đạo Tràng Hạnh Nguyện đều mê chấp nên thường dùng Lý Trí nơi mình làm thành bờ ngăn cho chính mình, để không Chấp mà vướng chấp Không.

Bậc tu hành có cơ bản, chịu khó học hỏi tu tập lìa sở ngã của lòng tham, lập tinh tiến trên con đường tu, dùng Đạo Hạnh làm cho kẻ quanh mình được kính mến, nương theo Lục Ba La Mật Đa cùng Tứ Nhiếp để thu Nhiếp tỏ thông, xem kinh điển hoặc nghe Giáo Lý phá mê chấp làm mức đo lường nơi Trí Tuệ. Bậc như vậy thường khen kẻ tạo Thiện Căn, lại ít chê bai kẻ làm điều Ác, thường gần kẻ Ác để giúp đỡ thiện căn, thường tỏ tâm thương hại kẻ lầm hơn là phiền trách họ.

Nhờ thế nên Tu Chứng VÔ SANH PHÁP NHẪN, thọ pháp Trực Giác Thực Tướng Vô Tướng, nên biết tỏ rõ phẩm Công Đức Bát Nhã cùng Công Năng Ba La Mật Đa không bao giờ mất mát hao mòn đâu cả, nhờ có các phẩm hạnh công đức trí tuệ nên trọn giác, Đức Trí song đồng Tướng Tánh duy nhất, vì thật biết như vậy nên chi chẳng vì Vô mà biếng trễ nhàm chán. Không vì Thực để tham cầu, duy chỉ Chánh Báo hoàn lai là đủ.

Nói đến Đạo Phật lưu lại của chư TỔ hay đối với Đức Phật trong thời hiện thế rất chăm chú đến Chúng Sanh chẳng khác nào mẹ thương con khờ dại, nên tìm đủ phương tiện giảng nói làm thế nào cho chúng sanh giác ngộ, đó chính là mục đích của Chư Phật và chư Tổ đồng một Bổn Nguyện. Nhưng trái lại đa số có nhiều mong cầu, nhiều tự nguyện hơn là tiêu giảm nghiệp, tự mãn kiêu căng, lười biếng hơn tinh tấn. Đức Thế Tôn ngài thừa biết, Ngài mới nói những TIỀN THÂN của Ngài trong thời hạnh nguyện tu hành, cốt yếu Ngài nói lên để chúng sanh phải tu cầu như thế, phải soi tấm gương của Ngài tu tập trọn Chánh Giác mà thọ lãnh Chánh Báo.

Có một đoạn Ngài đã nói: “Các Ông cũng nên biết: Thời quá khứ ta đã từng cầu đạo Vô Thượng, cùng các thời khác ta đã từng cúng dường Như Lai Phật mười phương, lại cũng đã từng thọ pháp truyền thuyết khắp cõi Ta Bà trên con đường Hạnh Nguyện chẳng thiếu sót. Các Ông lấy cây kim đặt nơi đâu cũng thảy đều có xương ta nơi đó. Ta chung gồm tu nơi vạn hạnh thu nhiếp, vạn pháp duy nhất thành tựu chỉ có ĐỨC TRÍ thôi. Theo nơi kinh DUY MA cũng có nói BỒ TÁT LÃNH LẤY CÕI PHẬT.”

Nói đến sự cầu đạo hiện nay rất nhiều bậc có chí nguyện cầu đạo, nhưng thường tu bị vấp, dù cho bậc tín tâm cách mấy chăng, như bậc y kinh để mà tu vẫn bị vấp, đến bậc soi biết tự tánh tỏ tánh đều bị vấp. Vì sao? Vì chưa biết vội cho mình biết nên thường bị vấp, đó gọi là chưa biết tu. Nếu biết tu thời càng bị vấp bao nhiêu, thì cái vấp để mà tỏ biết đó chính là bậc biết tu. Bậc ấy gọi là Động để Giác vậy.

Bậc tu Phật nương theo các pháp môn Phật dạy để tu cũng là khó. Nhưng khó thứ nhất là bậc đã hiểu biết trong một căn bản nào đó, đến lúc trí tuệ gặp phải pháp song đối như: CÓ và KHÔNG, THỰC hay VÔ thật đáng khó, trên bước đường nầy làm cho bậc tu phải phân vân vì chưa tỏ rõ nên chưa giải đặng sinh nghi ngờ. Nếu biết được khúc quanh của TAM THỪA vào pháp môn Không Hai thì thư thả cứ tu rồi tiến bộ giải quyết. Chớ nên vì CÓ để thọ chấp hoặc bởi VÔ mà an trụ thời chỉ đứng có một bên chẳng vào đặng Nhất Thừa hoàn giác.

Chẳng khác nào đứng trước ngã ba đường, nếu chọn lấy một trong ba đường thì chỉ đặng một mà phải mịt mờ trong hai đường khác. Thế nào gọi là ba đường? Một là CÓ, hai là KHÔNG, ba là Mình soi biết, đó gọi là ba đường.

Nơi ba đường trên bậc tu hành thật biết thế nào mà CÓ, thế nào lại KHÔNG, để Có Không hoàn giác Nhất Thừa. Cũng như thật biết Đức Hạnh giúp cho Chánh Báo, về Trí Tuệ giúp Chánh Giác, nên ĐỨC TRÍ phải đồng song thì Tánh Tướng trọn duy nhất. Nếu dùng Trí Tụệ chẳng dụng Đức Hạnh thời sở đắc Pháp Thân còn Ứng Thân chưa Đắc, khi trí tuệ đắc chân lý chỉ nói năng thuyết giải tỏ tường nhưng chẳng làm thế nào cho tất cả Tứ Chúng khâm mạng để nhiếp thâu Lý Sự song tu. Bằng Đạo Hạnh Đức Hạnh khiêm toàn lại đặng mọi bậc kính nể, nhưng thiếu khuyết đưa cho chúng sanh Tri Kiến Phật? Hai điểm trên rất cần đến tận hưởng Chân Lý Chánh Báo thành tựu Ba Thân Viên Mãn vậy./-

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

20. PHI NHÂN DUYÊN

PHI NHÂN DUYÊN là một pháp mà Chư Bồ Tát cùng bậc Chánh Giác đã thấu tỏ. Các bậc ấy từng thâm nhập PHI TỨC và TỨC PHI không lầm lấy một Pháp, nên vô ngại tự tại Thân Tâm Viên Tịch ra vào Viên Giác. Bởi vậy nên tất cả việc làm cùng với cử chỉ đều vì Hạnh Nguyện Độ Sanh.

Lúc vì Bổn Nguyện nên Chư Bồ Tát Chơn Giác vẫn đồng nương theo Nhân Duyên Pháp, lại thường nói pháp Nhân Duyên làm cho chúng sanh không nhàm chán Đạo Tràng mà rời bỏ trên con đường tu Phật. Trong một thời gian đầy sự hiểu biết, tánh tình bình dị, nói năng thuần túy, tâm rỗng rang, lại ý chí kiên dũng đầy đủ Đức Tin con đường Tri Kiến Giải Thoát, trong khi ấy các nghiệp đảo vọng lần lần tiêu giảm, chư Chánh Giác tùy thuận theo đó mà nói pháp Phi Nhân Duyên để chúng sanh tự tỏ phá chấp Nhân Duyên Pháp. Đó chính là một phương tiện làm cho chúng sanh chẳng chấp pháp mà rõ biết sự tu hành là một phương tiện cứu cánh giải thoát, chớ chẳng phải tu để mà mắc trong nghiệp tu.

Do đường lối chỉ bày khéo của bậc Tri Đạo và khéo Thuyết Đạo, nên từ mê lầm tu đến Không lầm, từ chấp pháp Nhân Duyên tu đến Phi Nhân Duyên cũng không, biết thấu Phi Tức liền lạc sự Tức Phi hoàn toàn không tập khởi mà vào Chơn Giác.

Sau đây Phẩm Phương Tiện vì tình thương Duy Nhất vì Hành Nguyện Độ Sanh của Chư Bồ Tát và Chư Phật, phơi bày tất cả sự Phi Tức cùng Tức Phi, Nhân Duyên hay Phi Nhân Duyên trong các pháp, vì sự lầm mê đảo loạn mà tùy thuận nương chìu để diễm nói làm cho chúng sanh tu hành đặng Chơn Giác, chớ thật ra Chư Bồ Tát cùng Chánh Giác chẳng có chi gọi là Pháp Phật. Vì chúng sanh mà có Phật Pháp vậy.

PHẨM PHƯƠNG TIỆN:

Vào thời quá khứ A Tăng Kỳ Kiếp nọ, có Trưởng Giả tên Kiên Đề Ni bị sanh trong một nước, nước ấy Dân Cư đông đảo, nhưng cực khổ vì mưa không thuận, gió chẳng hòa, thường bị Thiên Tai Thủy Ách. Dân cư thì đa số nghèo cực ít kẻ giàu sang, nhọc nhằn hơn là sung túc. Mỗi một ngày chưa hưởng vui trong một lúc. Mỗi một tháng chưa hưởng sướng trong một ngày. Mỗi một năm chưa đặng an vui trong một tháng. Phần nhiều yếu đau hơn lành mạnh, lo sợ hơn sống yên, phiền não hơn sướng vui. Vì lẽ ấy nên dân cư tranh giành bởi mong sao tấm thân nhàn hạ. Thù hận vì món ăn manh áo, chém giết vì Được Mất, Hơn thua, nhai nuốt vì Thèm Khát, Dâm Dục bởi ước mơ. Dân Cư không ngừng sự đòi hỏi mà tự gây tạo Trả Vay cùng Vay Trả vậy.

Trưởng Giả Kiên Đề Ni được một cái là giàu sang sung sướng hơn dân cư. Ý Chí và Tâm Tánh rộng rãi hơn dân cư. Biết thương đám dân cư vì bị nghèo, nên chi Trưởng Giả thường giúp đỡ bằng mọi cách nhưng với mức độ có hạn, không thể cứu giúp theo Chí Nguyện của Trưởng Giả.

Trưởng Giả thường quan sát hay suy nghĩ nhận xét thấy dân cư các khía cạnh như: lam lũ vì ý chí yếu hèn, thấp thỏi trong các nghề nghiệp của mưu sanh, Trưởng Giả càng ngày lại càng tỏ tình thương hại.

Một hôm Trưởng Giả nghĩ thầm và quyết định tự nói:

“TA không thể ngồi yên mà suy nghĩ khi dân cư: Sanh Tử Bệnh Khổ. Ta phải làm và phải tìm phương thức cứu nguy.” Chí nhất định xong bèn thu xếp hành trang tìm cho đặng ngọc LƯU LY HOÀN CHÂU đem về giải ách. Trưởng Giả bước ra khỏi cửa, bèn ngước mặt lên Hư Không tỏ bày sự cao cả chung cùng tròn khắp êm ấm bất tận với mọi người có những gì đem lại dân cư.

Trưởng Giả mỗi một mình nhắm hướng Đông đi mãi... Ngày... Tháng... lần qua theo gót chân Trưởng Giả... Khi qua khỏi rừng, lúc qua khỏi núi, cùng với chim hót gió đưa trong ba năm ròng rã, đến một con sông rộng choáng lối đi, chẳng còn cách gì đi đặng nữa, Trưởng Giả liền vào khu rừng bên cạnh lấy SÁU KHÚC CÂY đóng bè chắc chắn và một gậy Trúc làm sào lướt qua sông Cách...

Thân Tâm Trưởng Giả êm dịu đến bãi cát vàng xinh xắn, gió mát cảnh vui, muôn màu tươi sáng. Trên bãi có một ngọn Tháp óng ánh mái vàng Trưởng Giả từ từ đi đến, thấy có tấm biển đề hai chữ: BẢO CHÂU.

Trưởng Giả lòng mừng bước vào, có vị Sư đã đón sẵn. Hai bên chào hỏi đầy đủ nghi lễ và cùng nhau ngồi thứ lớp, Trưởng Giả đứng lên nghiêng mình xá vị Sư thưa gởi tất cả ý định của mình và mong tìm Lưu Ly Hoàn Châu về cứu giúp dân cư đang bị Sanh Tử Bệnh và Khổ đặng lành mạnh an vui giàu sang bất tận. Vị Sư bình dị lại thong thả nói:

“Nầy Trưởng Giả, ở đây chẳng thiếu chi châu báu, chẳng thiếu chi Ngọc Bích Trân Châu, chẳng thiếu chi Cành Vàng Hoa Ngọc, chớ chẳng thiếu gì Lưu Ly Hoàn Châu của Trưởng Giả vừa nói. Nhưng các Châu Báu ấy nó có thể làm cho vui thích một hồi rồi cũng chán. Nó có thể làm cho áo đẹp nhà sang, rồi cũng không ngừng lòng tham muốn. Nó có thể cung cấp cho các món ăn ngon ngọt rồi cũng nhàm, chớ không tồn tại vì viễn vông, chớ không giải khổ đau vì Sanh Tử. Nó chẳng tận cùng của tập khởi não sanh, nó chỉ độ một đoạn đường vì công đức. Vì sao? Vì nó còn Sắc Vọng Trưởng Giả nên qua khỏi Biển Cả Năm Màu không mắc míu đến Đông Độ Dược Sư mà thọ lãnh Hoàn Chân Bất Biến.” Nói xong vị Sư chu cấp tất cả các vật dụng đưa Trưởng Giả đến bờ biển Năm Màu Trưởng Giả lòng không nghi kỵ. Vị Sư lại lấy trong tay áo ra chiếc thuyền xinh xắn nhẹ nhàng đặt trên mặt biển.

Hai bên cáo biệt nhau và cầu chúc nhau xong chiếc thuyền nọ trở thành to lớn đầy đủ tiện nghi cho Trưởng Giả. Thuyền xuôi giòng trên mặt nước qua năm màu sắc lạ lùng như Nghi, Sợ Sệt, Nôn Nóng, Mong Muốn cùng Ngẩn Ngơ... Nhưng đối với Trưởng Giả vì tình Duy Nhất chẳng riêng tư không cầu cạnh, nhất tâm BI DŨNG Hạnh Nguyện độ dân nên không chán nản chẳng hoài nghi, lướt qua các ngọn sóng diễn từng màu thay đổi, Tâm không sờn, ý chẳng động vọng, trọn 49 ngày đêm qua bờ bên kia.

Khi Trưởng Giả vừa đặt chân lên bờ Trưởng Giả tự nói: “Lạ thay! Lạ thay! Không còn ngọn gió đảo điên, chẳng còn tối tăm mờ mịt. Không còn Thân Tâm động vọng. Chẳng còn tập khí viễn vông. Không còn nghi ngờ hai pháp. Chẳng còn phân đôi Thân Cảnh. Không còn để nói Duy Nhất có không. Đâu là Phi? Đâu là Tức? Đâu đâu trùm khắp viên dung, khó nói, khó bàn, khó biện minh ra đặng. Vì sao? Vì vượt tầm lý luận, vượt tầm hiểu biết nói năng, duy chỉ có Sở Đắc mà thôi.”

Trưởng Giả ngồi yên lặng quan sát dân cư trong nước bị Sanh trong cảnh bị Giới. Trưởng Giả thật biết BỔN LAI nguồn gốc không đảo vọng, không tranh giành phân biệt, không chia rẽ thù hèn, không chém giết nuốt nhai, không chê khen phải quấy, không ái nịch gần xa, không đắm say thiện ác, không đạo đức cũng không lìa bỏ đạo đức, tất cả thảy đều Viên Tịch Đẳng Minh Chánh Giác, vẫn khó bàn khó nói, vượt tầm biện luận, không hai, chẳng khác sai Vô Thượng.

Trưởng Giả lại chân biết: Dân Cư bị sanh trong nước, nước ấy hiện hành có bốn Con Quái, bốn con ở bốn nơi Đông, Tây, Nam, Bắc. Bốn con quái ấy ngày đêm thi nhau phun hơi độc làm cho dân cư biến tánh Chân Như trở thành nóng lạnh lộng hành. Bốn tánh ấy nó cũng là CÁI MUỐN và NGHĨ làm theo ý nghĩ trở nên tư riêng vị kỷ thành thử có muôn ngàn vạn pháp gọi là NGHIỆP. Chớ dân không có Nghiệp, do vậy Phật nói chúng sanh bị nhiễm độc mà mê lầm lại lầm nhận là mình. Bốn chất độc ấy nó cũng thành Sát Đạo Dâm, chớ dân cư bổn lai không có Sát Đạo Dâm, nhưng nhận là mình thành có Sát Đạo Dâm. Chất độc nó là một mối giềng đối đãi không ngừng, chớ dân không ngừng, chớ dân không có đối đãi, vì trót mê mà có đối đãi, vì tập khởi và chấp nhận nên bị nhiễm sanh tử luân hồi.

Bốn con quái ấy nó lại phun hơi độc lên Hư Không và Biển Cả, nên trên hư không có từng đám mây buông tỏa, có năm màu sắc chuyển xoay, có gió lộng không ngừng, có đốm sao cùng khắp biến thể mặt trời, mặt trăng tiêu biểu cho tối sáng đêm ngày. Dưới nước có sóng nghiệp diễn thao tượng trưng cho thế gian lặn lội các nghiệp không ngừng, khổ sướng tranh nhau và vẫn có năm màu không khác với hư không vậy.

Còn nơi đất liền nhà cửa dân cư vì điên loạn mê mờ trở thành Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, chung lại Ngũ Ấm Lục Trần hay còn hơn thế cũng vì đảo loạn thọ chấp nên hình quay cuồng tham muốn, Trưởng Giả lại biết tỏ rõ tận cùng nguồn gốc Tử Sanh thay phiên đổi lớp, diễn biến từng cảnh vì tập khởi mà thành, vì chấp vọng ái nịch trong nhân duyên mà bị diễn nên tấm tuồng vợ chồng con cái lớn nhỏ bà con nội ngoại quyến thuộc quay quần trong tình Đồng Nghiệp, Trưởng Giả chân biết tỉ mỉ cùng khắp tận từ không thiếu sót mảy may, bèn đứng dậy phủ áo đâu đấy xong xuôi lấy chiếc thuyền thâu nhỏ bỏ vào tay áo, bước một bước về đến nhà.

Lúc bấy giờ dân cư hay tin Trưởng Giả đã về và đã tìm đặng nhiều báu vật bố thí cho dân. Họ cùng nhau bàn tán nào là cả gánh, cả khiêng, cả bao, cả bọc, mỗi người được một viên thì giàu sang vô kể... họ mới sắp đặt từng lời nói, từng cử chỉ để biện minh gia cảnh mong được sự cứu giúp nhiều hơn.

Khi bàn định xong đâu vào đó, họ bàn cùng nhau đến nhà Trưởng Giả, kẻ nói chuyện nầy, người kể cảnh nọ, đua nhau mà bày tỏ đâu vào đó xong, Trưởng Giả bèn đem chuyện thật ra mà nói, dân cư thảy đều ngơ ngác nản chí nên chẳng hiểu đặng, nghe đặng mảy may nào, lại thêm buồn ngủ, kẻ ngáp dài, người thì ngứa ngáy bồn chồn, cùng nhau bỏ ra về chẳng còn thấy một người ở lại.

Trưởng Giả mới nghĩ: “Lạ thật! Lạ thật! Tại sao dân cư chẳng nghe được lời ta nói? Chẳng tin ta chân thật? Tại sao nói thật tướng không thọ lãnh đặng? Ta chỉ bày mối lợi vô kể mà không nhận lại đòi hỏi cái điên cuồng nhỏ nhen không bền chắc. Tại sao vậy? Vì sao vậy ???”

Trưởng Giả lại quan sát: Từ trên đến dưới, từ trong ra ngoài, từ sơ nhiễm đến tập nhiễm, từ sơ khởi đến tập khởi, từ khởi tín đến tin vâng, từ ưa muốn đến không muốn, từ không muốn đến đặng muốn, từ chưa nghe đến đặng nghe, từ chưa thấy đến đặng thấy, từ chưa biết đến đặng biết, từ một pháp đến vạn pháp lầm chấp, nhận lãnh mà điên loạn, theo sự điên loạn mà khởi muốn cũng điên loạn nên Bị Sanh Chịu Tử phải xuôi dòng trong di chuyển mà luân hồi sanh tử.

Trưởng Giả soi khắp các căn nghiệp điên loạn ưa muốn không đồng của dân cư vì tập nhiễm thanh thô nhiều ít, nên phát sanh khôn dại tốt xấu giàu nghèo mà tượng trưng cho Chánh Báo Y Báo cùng Phước Báo để trả vay, mỗi mỗi không sai chạy vì 4 con quái làm chủ ban cho nhiều ít, phun hơi độc hóa sanh, sanh hóa. Nó lại làm cho tất cả các vật dụng cây lá biến thành muôn hình vạn cách cho dân cư ăn thôi ngoài ra chẳng có chi là khác cả.

Trưởng Giả đã quan sát tất cả chu đáo, bèn giả làm điên loạn cho phù hợp thích nghi từng lớp dân cư, làm cho dân cư ưa thích dùng phương tiện ấy để dìu dắt dân cư đặng qua bờ Bến Giác thụ lãnh Hoàn Chân là mục đích chính của Trưởng Giả vậy.

Trưởng Giả mới hô hào: “TA đặng Hoàn Chân. TA đã thành Chánh Giác. Các Ông mê mờ vì vô minh che lấp sanh tử luân hồi. Muốn đặng như ta phải tin ta chỉ bày nhất tâm kiên dũng đặng thụ lãnh Hoàn Chân Thiện Mỹ, giải thoát Tử Sanh Thường Còn Bất Tận.”

Từ ấy Trưởng Giả chung cùng với đám dân cư tùy theo căn cơ mà diễm nói các pháp, lần lượt có kẻ nghe hơi được, có người được cũng chưa được, Trưởng Giả dùng Nhân Duyên làm một mối liên hệ cho đạo tràng. Lấy Nhân Duyên Sanh làm cho sự tăng trưởng trí tuệ. Lấy pháp Tứ Đại làm cho chẳng chìm đắm và thân điên loạn. Lấy 36 pháp bất tịnh giảng giải làm cho chung cùng bình đẳng. Lấy Vô Ngã làm pháp để né tránh chỉ chỗ điên loạn dân cư. Trừ giảm Ái Nịch mà nói pháp Vô Thường, Giải hận thù mà nói pháp Đại Bi. Mở tâm bủn sẻn nói pháp Bố Thí. Phá tánh buông lung mà nói pháp Tinh Tấn Nhẫn Nhục. Trên con đường chỉ dạy cho dân cư khi Thuận lúc Nghịch, khi Khen lúc Chê, tùy theo đễ diễm nói miễn cho dân cư Trí Tuệ tăng trưởng, tâm ý rỗng rang tánh bình đẳng, sáng soi Nghiệp Thức cùng vọng khởi của bốn con quái mà mình lại lầm nhận. Sau khi tỏ biết không còn lầm nó nữa gọi là tỏ tánh, cũng gọi là Giải Thoát của Chỉ Định Duy Nhất vậy.

Khi ấy đặng tự tại vô ngại vì rõ các pháp. Cũng như kẻ rõ biết mình có bệnh điên loạn vì bị nhiễm độc do bốn con Quái nên chữa đến Không còn bệnh. Chớ chẳng phải chính bản thân của mình không đâu. Chẳng khác không Ta trong thời điên loạn, có Ta Chánh Giác chung cùng trùm khắp bất nhị. Lắm bậc chấp Không vì chưa tỏ tánh nên bị sa vào Phi Phi Tưởng.

Lúc ấy Trưởng Giả biết tầm hiểu biết dân cư bèn nói pháp Phi Nhân Duyên và chỉ bày Hạnh Nguyện để rõ lối mê lầm của mình, đặng sạch Nghi qua bờ bến Giác vậy.

Bấy giờ nhà Vua nghe tin Trưởng Giả tìm đặng Châu Quí Báu Lạ, nhà Vua bèn nghị bàn với các quan. Qua ngày hôm sau cùng với Hoàng Hậu, Thái Tử, Cung Nga Mỹ Nữ và quan quân đem theo ngựa xe lọng phướng và voi lạc đà để chuyên chở hành trang. Lại tất cả Nam Nữ trong Cung và ngoài Thành đồng đi theo nhà Vua đến nơi Trưởng Giả để cầu hỏi.

Trưởng Giả đã biết nhà Vua đến, nên ngài bảo dân cư đâu đó ngồi im bất động, một khẻ không khua, duy chỉ có gió vẫy cành cây, mây luồng theo gió.

Nhà Vua cùng tất cả đến nơi, để ngựa xe voi lạc đà mà đi bộ. Nhà Vua vừa đi vừa nghĩ thầm TA chưa bao giờ đặng chốn im lặng như thế nầy, chưa bao giờ để cho cây cỏ sống tự nhiên, chưa bao giờ để cho cung nga yên giấc, chưa bao giờ để tiếng nhạc nghỉ ngơi, chỉ trừ khi ta êm giấc. Nhà Vua lại nhìn xét các quan hầu, các quân lính cùng khắp mọi người chìu chuộng nhà Vua, chăm sóc nhà Vua từng ly từng tý, chẳng khác nào nuôi nấng trẻ thơ sinh, gìn giữ bảo vệ nhà Vua chẳng hơn người bị canh gác trong một qui định của thiên nhiên bắt buộc. Nhà Vua nghĩ đến đó liền đưa tay khoát quân hầu cận dừng bước đi sau, để nhà Vua tự do đi trước. Khi đi nhà Vua thầm nghĩ nhận thấy khoan khoái lạ thường, thung dung vô kể. Nhà Vua lại tự cho là Báu Lạ giúp ta chăng, liền có một sự vui vẻ cực kỳ làm cho Thân Tâm kính mến.

Nhà Vua đến trước Trưởng Giả cung kính vái chào, Trưởng Giả nghiêng mình đáp lễ. Vua quan thứ lớp ngồi yên đâu vào đó, nhà Vua bèn đứng dậy thưa hỏi:

“Tất cả các châu báu mà Trưởng Giả tìm đặng có vật nào là quí hơn cả? Vật ấy có pháp lạ chi chăng? Trấn an thế nào? Bền bỉ đến đâu? Xin Trưởng Giả giải đáp.”

Trưởng Giả nói: “Kính thưa nhà Vua, các báu tôi tìm đặng rất nhiều không thiếu sót, vật nào nếu hợp việc dùng thời quí hơn cả. Cũng pháp lạ vô cùng, cũng trấn an trộm cướp, cũng bền bỉ bất tận. Nhưng có một cách lạ lùng, cho mà không lấy được, vì sao?

Vì tự hạ phàm phu
Tự tăng Thánh sống
Gìn giữ của mình
Cho Ta là phải

Đuổi bắt hư danh
Theo toàn Vọng Ước
Bất Tín hồ nghi
Cản ngăn sự lành.

Những cái ấy nó làm cho không Thấy đặng, không Nghe đặng, lại không Biết đặng của châu báu thời làm sao mà thọ lãnh?”

Nhà Vua thưa hỏi: Làm thế nào đặng Thấy? Làm thế nào đặng Nghe? Làm thế nào đặng Biết?

Trưởng Giả nói:

Muốn Thấy vật lạ
Phải làm sự lạ
Pháp lạ khó nghe
Nhà Vua phủ xả
Tất cả Thiện Ác

Tâm Ý rỗng rang
Để nghe tôi nói.

Nhà Vua bèn ngồi yên bất động. Trưởng Giả nói:

“Nầy nhà Vua:

Chủ quán Thân ta
Như chết chưa chôn
Buông xuôi Thương Ghét
Quan sát thế gian

Quá muốn thành tham
Điên loạn dọc ngang
Nên thành Thuận Nghịch
Luyến yêu ái nịch
Xoay chuyển mịt mù
Được mừng mất giận
Riêng ta không hận

Tâm Ý rỗng rang
Tánh Thấy quân bình
Báu hết rung rinh
Gọi là Nhãn Tịnh
Đó là Cái Thấy.

CÁI NGHE

Nghe pháp lạ không Nghi
Cũng không nhàm chán
Cầu tiến không ngừng
Ví người mài gươm báu
Miễn bén là hơn
Đặng cái Nghe bất nhị.

CÁI BIẾT

Biết nhỏ chẳng chê
Biết lớn không mừng
Biết nhiều chẳng phách
Biết lắm không thôi
Chừng nào Chánh Biết
Mà Đắc tận biết
Thọ lãnh Hoàn Chân Thiện Mỹ.”

Nhà Vua nghe xong mừng rỡ liền đảnh lễ Trưởng Giả và nói: “Chưa bao giờ được Nghe, nay đặng Nghe. Chưa bao giờ Thấy những cái khó làm nay quyết làm. Chưa bao giờ muốn Biết những cái khó biết, nay quyết Biết.”

Nói xong nhà Vua bèn hỏi các dân cư các pháp nào đã đặng? Các món nào đã đến? Dân Cư đồng thưa với nhà Vua:

“Cái đặng đều khó đem bày
Lần hồi được biết mới hay kia mà
Nào đem tỏ nói chỉ ra
Nhất Tâm Bi Trí rõ hòa Chân Như.”

Nhà Vua nghe xong lại hỏi tất cả Hoàng Hậu Thái Tử cùng các quan quân và cung nữ, ai muốn về triều thì tự ý về. Tất cả đều thưa: “Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ cho chúng tôi đồng ở lại, một là gần trưởng giả để học Nghe-Thấy-Biết bản chân. Hai nữa gần bệ hạ để hôm sớm cùng nhau cho trọn nghĩa quân thần.”

Nhà Vua nói: “Ta khá khen cho các Ông, biết chọn Bản Chân mà xa lìa Danh Lợi, cầu Giác hơn cầu giàu sang hư vọng, vậy các ông cùng ở lại.”

Từ đó ở lại tu tập Trưởng Giả chỉ bày không thiếu sót. Khi đặng Tin Vâng Kính trọn vẹn thuần túy, Trưởng Giả và tất cả ra đi, vẫn qua các khu rừng và các dãy núi như trước, vẫn lướt khỏi sông CÁCH... lên đến bãi cát Vàng, thời ngọn tháp Bảo Châu đương nhiên to lớn, mái tháp trổ ánh vàng rực rỡ, cây cảnh tươi vui êm dịu, tiếng nhạc du dương các loài chim như Khổng Tướt, Oanh Võ kêu vang mừng rỡ, muôn màu sắc đều có hào quang soi sáng, dân cư cùng tất cả nhẹ nhàng khoan khoái khó mà kể đặng.

Khi ấy có một số dân cư quá ư mừng rỡ mến tiếc phân vân, liền đến van xin Trưởng Giả cho được ở lại nơi đó mà tu. Trưởng Giả vừa đồng ý ưng chịu, tức thời cũng trong lúc đó trên ngọn Tháp bổng tiếng chuông ngân vang dậy, mùi hương bay tỏa khắp nơi, bãi cát vàng trở thành muôn châu vạn ngọc.

Nhà Vua cùng dân cư thưa hỏi:

“Kính thưa Trưởng Giả, vì nhân duyên gì mà nơi đây lại có các Châu hiện khắp, có hương và hào quang tô điểm muôn màu, khi Trưởng Giả ưng chịu cho một số xin ở lại.”

Trưởng Giả nói:

“Các Ông cũng nên biết rằng: Số xin ở lại là vì Sắc Vọng chưa liền, Tập Khởi chưa liền, Tập Khởi chưa hết, Mong Muốn chẳng sạch, mến thương luyến tiếc, xin ở lại để mà tu. Khi các bậc ấy tu xong sẽ Thấy, sẽ Biết, sẽ gặp vị Đại Giác đưa qua bờ bên kia vậy.”

Trưởng Giả nói xong bèn với tất cả mọi dân cư, nhà Vua đều ra đến Biển Năm Màu, lúc ấy tất cả thảy đều không còn lấy một Nghi Ngại nào cản ngăn hay xâm chiếm đặng. Vì nhờ như vậy nên rỗng rang bình dị. Trưởng Giả bèn lấy trong tay áo một chiếc thuyền, lại nhẹ nhàng đặt trên mặt nước. Thuyền bỗng trở thành to lớn đầy đủ tiện nghi chẳng thiếu sót. Tất cả vừa bước lên thuyền đâu đấy xong xuôi bỗng trên hư không có tiếng nhạc trời các hoa Đàm trải khắp mặt biển. Lại có tiếng tán thán không ngừng, các hạt châu rơi sáng cả biển.

Nhà Vua cùng dân cư đồng thưa hỏi, Trưởng Giả mới nói:

“Các Ông cũng nên biết rằng: Tiếng nhạc châu rơi cùng những lời tán thán ấy là do bốn vị Hộ Pháp khi còn ở nơi đây mà nói thế. Đến lúc vào bờ bên kia bốn vị ấy chính là NHƯ LAI TẠNG, cũng gọi là PHÁP TẠNG trợ duyên cho các Ông. Khi còn mê mờ bốn vị ấy giả đò làm bốn con Quái, đó chính là một Bổn Nguyện thôi, các Ông chớ nghi, chớ nghĩ bàn. Vì sao? Vì việc làm của Như Lai khó nói.” Các bậc đều đảnh lễ ngồi im lặng.

Khi vừa đến bờ bên kia, đồng bước chân lên bờ, đồng nhau thảy đều nở một nụ cười bất tận...

So vào Phẩm Phương Tiện trên đây đủ nhận thức mà rõ biết pháp Phi Nhân Duyên đối với chư Bồ Tát cùng với bậc Đại Giác mà thôi. Còn ngoài ra phải nương theo Nhân Duyên Pháp tu hành, nếu trong sự Phi Tức (Có Không) chưa đặng tỏ rõ tận cùng, chớ nên vì lối nhận lờ mờ phá chấp, tự sinh Tăng Thượng để phán phê tất cả việc làm của Bồ Tát, đồng xem Kinh chỉ vào việc làm của Phật hay lời nói của Phật vội cho mình đã biết mà bị lầm.

Đối với chư Bồ Tát trong Độ Sanh vì chúng sanh dùng tất cả phương tiện cùng nương theo Nhân Duyên mà chỉ bày dạy dỗ chúng sanh, khi làm Thuận lúc làm Nghịch Hành, hoặc giả có muôn ngàn sở chấp chăng cũng không có một chấp. Vì sao? Vì Hạnh Nguyện mà in tuồng như vậy, Chư Bồ Tát trơn liền không mắc miếu Tức Phi nên chẳng có Phi Tức. Vì vậy cho nên chư Bồ Tát càng ngày càng Phước Điền Tăng Trưởng chớ không có tội, chỉ vì Bổn Nguyện mà thôi.

Tất cả các bậc tu hành nên nương theo Nhân Duyên mà tỏ biết PHI TỨC cùng TỨC PHI đặng vào CHÁNH GIÁC vậy./-

NAM MÔ ĐÔNG ĐỘ HIỆN GIÁC
DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI