17. TỪ TÍN NGƯỠNG ĐẾN THÀNH TÂM

Thời Pháp này ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ khai thị ngày 25 tháng 6 năm 1974 tức là ngày mùng 5 tháng 5 năm Giáp Dần nhằm ngày Chủ Nhật, buổi khai thị thường lệ.

Trong buổi lể đầy đủ Tứ Chúng tề tựu tại Trung Ương. Buổi lễ hôm nay tôi nhận thấy rất trang nghiêm vì được sự nhắc nhở của Ban Hộ Đạo nên các tín đồ hưởng ứng dâng lễ hương đăng cúng dường ngôi TAM BẢO thật là trang nghiêm khó diễn tả được. Trước giờ đăng đàn khai thị, một tiếng chuông reo, tất cả Tứ Chúng Thân, Tâm, Ý thảy đều thanh tịnh để mừng đón ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ giáng lâm khai thị. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ từ Tịnh thất bước ra an vị nơi Bửu Tòa xong đâu đấy cuộc lễ bắt đầu. Hành lễ xong Đức Tăng Chủ khai thị rằng:

– Này các ông cũng nên biết ĐẠO PHẬT lấy TÂM làm gốc, do lẽ ấy mà tất cả những bậc tu hành thảy đều dùng TÂM, Điều Ngự Tâm, Thành Thực Tâm, Tha Thiết Tâm cầu lấy Đạo Vô Thượng mà TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Nói đến Tâm để mà tìm Tâm thật ra khó chỉ được cái Tâm, do lẽ ấy bảy năm về trước tôi đã viết TƯỚNG TÂM trong bài Giáo Pháp tập 2, tôi chỉ thẳng câu: “TƯỚNG LÀ TÂM CỦA CÁC ÔNG”.

Các ông cũng nên biết nơi điểm chỉ của tôi thực thể chu đáo vô cùng, khi mà các ông muốn đem cái Tâm của các ông thì lấy cái gì bày biện để biết các ông đã có Tâm. Nó chỉ lấy chỗ Tín Ngưỡng và Thành Tâm để làm tiêu biểu cho Tâm, nên sự Tín Ngưỡng nó rất có giá trị đối với bậc tu, sự Thành Tâm nó là một nền tảng Đạo Hạnh để trưng bày cái Tâm của các ông, nó có một hiệu quả vô cùng quý báu để chứng tỏ các ông tu tập từ THÀNH-TÂM đoạt BẢN-THỂ-TÂM mà HOÀN GIÁC.

Các ông cũng nên biết, tôi kể thời quá khứ, trong một buổi Đại Lễ ĐỨC THẾ TÔN khai thị; Ngài khen ĐỨC VĂN THÙ Đại Giác, đồng thời Ngài dặn Tứ Chúng rằng: Các ông cũng nên biết, Trí Tuệ của ĐỨC VĂN THÙ thật là Siêu Đẳng, Ngài chính là Mẹ Đẻ của Chư Phật.

Lúc bấy giờ, ông A-NAN trịch vai thủ lễ chiêm ngưỡng thưa thỉnh như sau:

– Bạch ĐỨC THẾ TÔN! ĐỨC VĂN THÙ do nhân duyên gì mà ngày nay Trí Tuệ đoạt đến Đại Giác như thế, xin Ngài nhủ lòng thương cho chúng con đời này và đời sau được biết.

ĐỨC THẾ TÔN dạy: Này A-NAN! Ông cũng nên biết, từ đời quá khứ vô lượng kiếp, ĐỨC VĂN THÙ có sự Tín Ngưỡng Thành Tâm tô đắp tượng Phật, sùng tu ngôi Tam Bảo, qua đời sau lại gặp NHIÊN ĐĂNG PHẬT ra đời, Ngài vẫn tô điểm sơn phết các tượng Phật, dâng lễ, dâng đèn lưu ly, được thọ ký Chánh Báo ĐỨC và TRÍ lưỡng toàn, cho nên ngày hôm nay mới được như thế. Khi Đức Thế Tôn giảng xong, Tứ Chúng hướng về Chân Tôn chiêm ngưỡng lễ bái, tán thán đường Thành Tâm và Tín Ngưỡng kết quả khó nghĩ bàn.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ ngưng lại trong giây lát, Ngài dạy tiếp:

– Lại nữa, cũng giữa thời BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI-PHẬT khai thị nơi hội trường, có một vị Bồ Tát sở đắc ĐẠI-ĐỊA BỒ TÁT, theo kinh điển Đức Thế Tôn đã nói thì vị Bồ Tát này thường chiêm ngưỡng lễ bái Tăng Ni và cung kính nơi Bảo Pháp. Có một hôm vị Bồ Tát mới suy ngẫm: Ta tin Phật, Tin Pháp, Tin Tăng, Ta lấy sự Thành Kính Tín Tâm để làm cơ bản thì ta phải nên Nguyện làm những gì cho Thân này tiêu biểu sự Thành Tâm. Từ ấy vị Bồ Tát mới làm Công Đức đưa đò rước khách, lặt lượm những cành gai hay dọn đường cho các Tăng Ni đi khỏi vướng, trong một thời gian Hạnh Nguyện trọn Tín Ngưỡng Thành Tâm, Phẩm Công Đức sung mãn. Qua đời sau gặp ĐỨC PHẬT ra đời, vị Bồ Tát lo chăm sóc tứ sự, đắp chăn, trải y, lót chiếu cho Phật đi, được thọ ký, vì lẽ ấy nên ngày hôm nay mới sở đắc ĐẠI-ĐỊA BỒ TÁT.


Đến đời Tôi, Tôi đã có sẵn một tâm tình Tín Ngưỡng, có sẵn một Thành Tâm lễ bái, lại có sẵn một đức tin trọn vẹn. Nhờ thế nên Chư Hộ Pháp, Chư Long Thần, Chư Bồ Tát Ma-Ha-Tát mới giúp đỡ, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Hộ Trì tán thán. Tôi chủ quyết chỉ dạy cho Tứ Chúng ĐỨC TRÍ SONG TU mà thành tựu Tri Kiến Giải Thoát. Hai thời Hạnh Nguyện của hai Vị Đại Bồ Tát tôi đã nói trên để chứng minh Đạo Hạnh Tín Ngưỡng, Thành Tâm Cúng Dường Lễ Bái, nó chẳng phải là Mê Tín vô ích đâu, nó rất hữu ích cho Đức Trí Trang Nghiêm thành tựu trọn Giác.

– Này các ông, tôi thường khuyên các ông Tâm Chí nên hướng thượng. Bậc tu biết hướng thượng bãi bỏ những nhỏ nhen lề lối sống vặc mắc của Đời, đó chính là nương theo vết chân Bồ Tát. Các ông có Tín Ngưỡng mới có Thành Tâm, đã Thành Tâm liền tỏ rõ Tâm Thông thành tựu Giác Nguyên, đó chính là bậc biết tạo Đức, nương lời căn dặn Bảo Truyền của Chư Phật. Trong buổi lễ chí thành của các ông, tôi dạy các ông, đồng thời tôi khuyên nhủ Tứ Chúng nên Tín Ngưỡng để Tín Thành, nên Thành Tâm đoạt đặng Tâm Thành, biết tỏ rõ BẢN-THỂ-TÂM mà TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Tứ Chúng ai nấy vui mừng vì đã nhận được sự TÍN NGƯỠNG hữu ích, TÍN THÀNH có lợi, ĐỨC TRÍ SONG TU hoàn lai GIÁC NGỘ thật khó nghĩ bàn. Tất cả đồng đứng lên chiêm ngưỡng lể bái cung tiễn ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh: Pháp Tràng
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 05 tháng 5 năm Giáp Dần

16. NẾU BIẾT TUỒNG ĐỜI LÀ NHƯ THẾ…

"NẾU BIẾT TUỒNG ĐỜI LÀ NHƯ THẾ,
THỜI ĐƯỜNG TU TÂM THỂ AN BANG."

T.V.

Vào lúc 09 giờ, ngày 28 tháng 4 năm Giáp Dần, tôi về vấn an ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tại Trung Ương Hội Thượng. Lúc bấy giờ Ngài đang dùng trà buổi sáng, tôi vái lễ xong, Ngài bảo tôi dùng trà với Ngài, tôi cung kính đáp nhận chung trà của ĐỨC TĂNG CHỦ ban cho. Qua cử chỉ ngôn ngữ bình đẳng, thân mến cao dày của ĐỨC TĂNG CHỦ không thể diễn tả cho hết đặng, tôi nhìn Chánh Điện, hương thơm ngào ngạt nhẹ nhàng, tôi ngồi bên ĐỨC TĂNG CHỦ, trong vẻ mặt Ngài khoan khoái thắm tươi khó diễn tả. Sau giây phút tình cảm kính mến, Ngài bảo tôi ghi chép thời Giáo Ngôn sắp dạy. Tôi đem giấy bút xong Ngài nói:

– Này ông Pháp Thoàn! Đới với những bậc tu hành có một điểm rất quan hệ là oán trách, vì thế nên đứng trước những cảnh của Đời họ chưa đủ Ý-Trí Công-Năng nhận xét để bước qua, nên Tâm thường oán Đời, trách bạn, hờn chị ghét em, chỉ loanh quanh trong vòng trói buộc tạo thành hoàn cảnh, nó không đem lại sự ích lợi cho đường tu tập, nó chỉ vướng mắc trong thuận nghịch cảnh khó tu.

Bậc có Trí Tuệ, đã tìm đặng chơn tánh để tu, bậc ấy quán xuyến đời, quán xuyến Nghiệp Chủng tuồng đời, thì chính bậc ấy cũng phải lắc đầu. Vì sao? Vì không thể nào kể hết phần của mỗi một người có một Chủng Tánh riêng gọi là ý chí mỗi người, khi kết nạp lại nhiều lớp thì nó trở thành tấm tuồng phiên diễn, thuận chăng, thuận nó chỉ là Đời. Bậc mới buớc vào ngưỡng cửa nhà Phật để tu, chưa thấu được nên phải lọc lừa, xa lìa tánh nọ tánh kia, để lướt qua mọi hoàn cảnh thử thách mà biết được tỏ rõ trò đời, đến lúc có đầy đủ hiểu biết thời chừng ấy mới nhận thức được, mỗi bậc có một tánh cố định trở thành Giới Sinh, nhiều Giới Sinh đụng chạm riêng và chung nên có phiên diễn. Đó là lẽ dĩ nhiên nó phải như thế.

Nếu bậc Giác thì chẳng nói chi, bằng kẻ chưa Giác thì thường vấp phải, sanh ra than oán trách phiền, nên Phật dạy CỔI-GIẢI-TÂM, nương theo cổi giải để tu một thời gian Tâm khỏi ràng buộc, thì đương nhiên mức tu hành tiến bộ, có tiến bộ mới biết được đời nó như thế, chủng tánh của chúng sanh tánh nó như vậy, thì liền đặng Thanh-Tịnh-Tâm an nhiên tự tại.

Nói đến bậc trên đời chưa biết, bậc ấy tìm lẽ sống lăn lộn ở nơi đời, có trí biết nhận xét lối sống của mình cùng sự sống của kẻ khác để suy nghiệm, thời đương nhiên vẫn có cái khôn hơn người, những bậc làm như vậy cũng là hiếm có, vì đã hiểu đời.

Còn bậc tu Đại Thừa thượng thặng thường quán nơi thân tâm mình, để đem so sánh Đức Tánh người khác, Thiệc ác, tốt xấu của mỗi kẻ, cốt biết mỗi người mỗi kẻ thảy đều có một định hướng, nhưng kết chung thảy đều là một Chủng Tánh Chúng Sanh Giới.

Vì sao gọi là “Chủng Tánh Chúng Sanh Giới”?

– Vì nó chỉ suy nghĩ trong một giới hạn rộng hẹp lớn nhỏ để cố định, nên gọi nó là một Chủng Tánh Chúng Sanh Giới.

– Này ông Pháp Thoàn! Vì sao lại có những cảnh thuận nghịch gay cấn đụng chạm nhau để sinh ra thương ghét thù hận, phải vay trả trả vay?

Vì cá tánh tự ngã nơi mình, khi gặp nhau thì đồng đẳng vui thích, bằng bất bình nhau thì sanh ra nghịch. Bậc Trí biết rõ Chủng Tánh của Đời nó như thế nên không hờn oán, Tâm bình đẳng, thành thử Thân Tâm an lạc, từ trạng thái thọ chủng nơi Chúng Sanh Tánh trở thành Bồ Tát Tánh vậy.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ dạy đến đây, Ngài lặng thinh vài phút, nhìn về Chánh Điện bảo tôi đốt một cây hương. Ngài dạy tiếp:

– Ông thử suy ngẫm xem, từ thời quá khứ đến thời này, sử sách đã ghi chép bao nhiêu Thi Văn, Thánh Hiền, ca tụng chẳng biết bao nhiêu Anh Hùng, Liệt Nữ, đã làm vẻ vang cho đời, đã giúp cho đời rất nhiều rạng rỡ. Ông nhìn lại thời này đã có ai làm cho đời được như thời trước chăng? Lúc bấy giờ tôi chưa kịp thưa thỉnh thời Ngài đã nói:

– Theo tôi nghĩ chắc chắn cũng phải có những vị đã làm như thời trước, đang thi hành những gì mà thời trước đã làm, đến nay vẫn làm, có thể còn làm hơn thế nữa. Nhưng nào ai nói lên trong lúc những vị ấy đang theo đúng mục tiêu cải tiến hiện tại? Đời và nhân sinh vẫn biết thế, nhưng họ để lại ca tụng tán thán lúc mà những vị ấy mãn phần hóa vãng cũng như các vị tiền bối xưa nay vẫn đi một lối.

Cũng như thời Đức Bổn Sư, Ngài đang còn tại thế, Ngài vẫn truyền giáo các nơi, từ nơi này đến chốn nọ, Ngài còn sống chung với nhân sinh, hòa đồng với đời. Ngài phải chịu những gì mà đời đã nghi chấp lầm nhận, Ngài đã nói những gì mà tất cả Đồ Chúng đang dèm pha được thỏa mãn, ái kính.

Sau khi Ngài làm tròn, Ngài tự đến khu rừng TA-LA Nhập Niết Bàn nơi cây SONG THỌ, nào có nhập Niết Bàn trong ngôi chùa nguy nga rạng rỡ như ngày nay đang phụng thờ.

Tôi nói ra đây cốt để lại cho những bậc tu và người đời nhận định đặng khỏi vọng tưởng mong chờ rằng đời sẽ tôn sùng ta như tôn sùng ĐỨC CHÍ TÔN BỔN SƯ ngày trước, không bao giờ có như thế. Vì sao? Vì chủng Tánh tuồng đời là như thế. Miễn làm tròn Hạnh Nguyện, thực hành đứng đắn với Chân Tôn Chánh Giác. Đến giai đoạn hóa vãng nhập Niết Bàn, thời sau mới có như thế để hưởng đồng đẳng xưa nay.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài dạy thời pháp xong, tôi nhận định được tất cả những ảo tưởng hoài mong của chính tôi cùng nhiều bậc tu hành vướng phải nơi tuồng Đời, chớ nào ngờ đâu biết tỏ rõ Đức Tánh người mà tự biết được Tánh mình, đó chính là con đường: PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN GIÁC.

Chẳng khác nào tất cả loài cây trái, hoa quả thảy đều nương theo lòng đất mà thành tựu lấy. Nghĩ đến đây tôi mới nhớ lại lời của ĐỨC VĂN THÙ Ngài dạy:

– “Tất cả đều là PHẬT PHÁP, tất cả đều là hạt giống của NHƯ LAI, nếu biết được tất cả CHỦNG TÁNH, không lầm theo Chủng Tánh, đó mới là bậc biết dùng thuốc của NHƯ LAI”. Đối với thời pháp này thật là vi diệu.

Hôm nay tôi được nhân duyên phụng ghi thời pháp của ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, tôi rất sung sướng và thành kính hồi hướng tất cả Công Đức để xây dựng BẢO PHÁP cho đời này và đời sau nương theo tu tập.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Hồ Sĩ Đạt
Pháp Danh: Pháp Thoàn
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 28 tháng 4 năm Giáp Dần

15. Ý TRÍ và LÝ TRÍ

Lúc bấy giờ vào khoảng 8 giờ 30 ngày 24 tháng 4 nhuận, năm Giáp Dần (tức là ngày 14.6.1974). Tôi bước chân về tới Trung Ương Hội Thượng, thấy ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ đang nằm trên chiếc chõng vải trầm ngâm. Lễ bái Ngài xong, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ gọi tôi đến, ngồi sát lại một bên, Ngài xoa đầu tôi, nói những lời tâm tình như sau:

– Này ông Pháp Tràng, Tôi nhớ lời ĐỨC THẾ TÔN đã dạy nơi kinh Viên Giác rằng: Đời sau có những điểm khó tu là LÝ CHƯỚNG để đưa đến SỰ CHƯỚNG, họ chỉ biết nghe Pháp, rồi họ dùng tất cả Lý trí của họ để ngăn đón thành thử tu rất chậm tiến. Vì sao? Vì LÝ đã chướng ngại thì SỰ làm đâu có hoàn mỹ. Do đó mà chỉ sống trong lý thuyết giả tạo, mộng tưởng lầm nhận rằng mình Sở Đắc Lý Chân để Thọ Ngã, nên chi phát sinh ra nhiều ngông cuồng làm cho nền Phật Đạo bị ngăn cách, vì thế mà khó chỉ đạo đưa quần sinh đến Tri kiến Giải Thoát. Nói đến lý, một khi lý này chồng lên lý kia, lý kia đè trên lý nọ, nó có thể đem đến Nhân Loại phải suy đồi chỉ vì Lý Trí, nó có thể đưa nhân sinh đến chỗ Thuyết Giả Diệt Vong, nó chẳng khác nào như kẻ loạn nghĩ, cái loạn này đến cái loạn kia rồi sanh ra quá loạn. Lúc đã quá loạn thì họ bèn đứng lên đâm đầu chạy, sa chân xuống hố sâu, ao tù biển khổ.

– Này ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết nơi Lý Trí nó có thể dùng được trong một lúc nào đó thôi, chứ nó không thể dùng được trên bước đường dai dẳng của Chân Lý. Cũng như có thể bước đi, nhưng phải nhìn những gai chông, cong quẹo chứ không thể đâm đầu mà chạy theo Lý Trí cuồng quay, nguy cho giữa thời Mạt Pháp. Ông cũng nên biết: Nói về quá khứ của thời Hiền Thánh, Nhân sinh thường dùng Ý Trí để ghép mình nghe lời Huấn Từ. Sau khi thọ lãnh huấn từ thì Ý Trí kia nó đưa lần con người tiến bộ đoạt đến Thánh Ý. Khi đoạt đến Thánh Ý, lúc bấy giờ mới dùng Đại Trí, tổng quát Lý Trí, khai thông Tạng Thức. Đó chính là một con đường mà Chư Tổ đã lưu truyền. Tuy nhiên có chậm tiến nhưng nó có thể đưa con người đến chốn tồn sinh. Vì sao? Vì nó đã xây được nền Đạo Đức Cơ Bản, vì nó biết kính nhường trên dưới, do lẽ mà nó không mất cái nền văn minh tiến bộ.

– Ông Pháp Tràng, ông nghĩ xem sự hiện diện của văn minh thời này, nơi cải hoá tiến bộ của thời nay, họ cũng dùng Lý Trí để cải hóa, dùng Lý Trí đưa loài người tiến bộ, nhưng than ôi! Sự tiến bộ và cải hóa kia nó mất tất cả cái nền Trí Đức, nó mất tất cả căn bản thuần phong, vì vậy mà những cái thèm khát của nghìn xưa ngày hôm nay nó van xin kêu gọi thời xưa và thời nay tái hợp, thì có phải chẳng khác nào một đứa trẻ đâm đầu chạy mãi khi vấp ngã hang sâu, sa vào hố thẳm, ngồi nơi hang sâu, hố thẳm mà nhớ lúc ở mái chòi tranh xưa, đó chính là hiện tình của thời Mạt Pháp này vậy.

– Ông Pháp Tràng, Trong thời Hạ Pháp có tất cả những bậc tu đều ngưỡng vọng chiêm ngưỡng cầu mong ao ước những thời quá khứ trở lại. Có những bậc họ tự thán làm thế nào để đưa nhân sinh sống an nhàn trong thời truyền cổ. Đến nỗi các nước vẫn mong chờ đón nhận Ý Trí cao đẹp thời xưa, báo chí viết ra những bài ca tụng nhắc nhở thời xưa, thuần phong quý đẹp của thời trước, để cho con người làm một tấm gương tự soi lấy kim cổ toàn sanh, tự kiểm lấy mà gìn giữ một trạng thái tồn cư bất biến, cao cả vô cùng. Nhưng than ôi! Con người đang xô đẩy chạy theo guồng máy xoay chuyển, mà Lý Trí mong nó ngừng lại.

– Ông thử nghĩ Lý Trí suy ngẫm nó có đặng chi chăng?

Lúc bấy giờ tôi chấp tay bái và thưa thỉnh:

–Kính bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, rất khó đặng, vì Lý Trí đón chờ nhưng thực thi chẳng có.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ gật đầu, Ngài dạy tiếp:

– Trong thời dạy Đạo của Tôi, Tôi dùng tất cả phương tiện, diệu dụng, hành dụng, Tôi mới viết ra từng Giáo Ngôn, Giáo Lý, Huấn từ để thức tỉnh cho nhân sinh, đang kẹt nơi Lý Trí giữa thời Hạ Pháp. Nhưng thật thà mà nói, có một số chăm coi tu tập cốt phá Mê Chấp, còn đa số thời sống theo Lý Trí Tự Ngã nên phát sanh bừa bãi, thật đúng theo tinh thần Đức Chí Tôn đã dặn nơi Kinh Viên Giác.

Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết theo lời tôi nói trên, Lý-Trí là Lý-Trí, chứ chẳng phải Lý Trí là mục tiêu đưa đến hoàn mỹ, Bậc mà dùng Lý Trí thì đa số rất hiếm hoi Tâm Đạo. Bậc mà dùng Ý Trí có thể quán xuyến biết được mình và biết được người, biết được cái khổ của mình cùng biết được cái khổ của kẻ khác, nên Ý Trí có thể nó chu đáo cho nền Trí Đức của con người, nó là sự kiểm kê mình và tất cả. Vì vậy nên Ý Trí nó xét trước suy sau, ngẫm trên biết dưới. Khi nó thực hành được Ý Trí VIÊN DUNG, Ý Trí kia soi khắp nhân sinh và vạn vật, nó được gọi là THÁNH Ý. Lúc dùng được Thánh Ý thì đi trên TỰ LỢI và THA LỢI. Bậc đã dùng vào Thánh Ý thì luôn luôn họ biết mình và biết tất cả; biết Nghiệp Chủng, biết Nghiệp Lậu, Biết Nghiệp Chướng họ liền cổi giải để phá sự chướng đối, chấp mê vô minh pháp giới, vào đường Tri Kiến Phật. Khi đặng Tri Kiến Phật họ cẩn thận, dè dặt biết quý mình và quý mọi người, biết tôn trọng quả vị, biết quý nhân vị của kẻ khác. Những bậc như thế họ đang say sưa trên Hạnh Nguyện, giúp nhân loại được tồn sinh, lúc bấy giờ hoàn mỹ liền đoạt đến CHÁNH GIÁC.

Còn những kẻ dùng Lý Trí thì chỉ sống biệt lập, chê bai, khôn dại, họ tự biết lấy mình chứ không biết đến loài người, họ còn làm tác tệ nói ra không cùng trên muôn LÝ của họ.

Hôm nay Tôi đọc, Ông viết những lời Tâm Tình, may ra một hột cát này nó là THỂ HOÁ cứu cánh rộng rãi bao la, kêu gọi những bậc tu nên thức tỉnh, chớ nên dùng cái BIẾT LÝ TRÍ của mình để vấp phải VÔ-MINH PHÁP-GIỚI chính mình, nếu mình có cái biết cũng phải lìa cái biết TỰ-NGÃ, để trọn biết của bậc Chánh Giác.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ truyền Giáo Ngôn xong, tôi nhận thấy sự hữu ích vô cùng, thật có lợi không thể nghĩ bàn đối với bậc biết dùng Lý Trí, biết áp dụng Ý Trí sáng soi để tiến bước. Với thời Giáo Ngôn này ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ đã Huấn Thị cho bậc tu nẻo đường chông gai của Lý Trí, khai sáng bước đường thẳng tiến Ý Trí trở thành THÁNH TRÍ đoạt đến CHÂN LÝ.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ đã khêu sáng ngọn đuốc Trí Tuệ, ngôn từ tuy thế mà rất có giá trị muôn vàn để cho các bậc tu nhận định được LÝ-TRÍ và Ý-TRÍ, khỏi lầm lạc trong quẩn quanh, hẹp hòi của cái biết Lý-Trí Tự-Ngã, để mở lối khai thông trên đường đến TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Tôi cung kính nghiêng mình đảnh lễ Ngài, thọ nhận thời Giáo Ngôn, vâng hành phổ truyền lời Bảo Pháp cho đời này và đời sau làm yếu tố tu tập khỏi sai lạc TÔN-CHỈ NHẤT-THỪA.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Hoàng Ngọc Sơn
Pháp Danh: Pháp Tràng
Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 24 tháng 4 năm Giáp Dần

14. LẦM MÊ CHỊU PHÁP TRIỀN MIÊN…

"LẦM MÊ CHỊU PHÁP TRIỀN MIÊN
DÙ ĐỜI HAY CÕi ĐỘC QUYỀN CHIÊM BAO

–T.V.

Hai câu trên đây là lời thơ của ĐỨC TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN hoá thân ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ DI LẠC TÔN PHẬT.

Lúc bấy giờ vào khoảng 9 giờ 30 sáng, ngày 21 tháng 4 Nhuận âm lịch, năm Giáp Dần, khi ấy tôi đang ngồi tại nhà khâu lại mấy chiếc áo cũ, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ gọi về, lấy giấy bút để ghi chép Giáo Ngôn, trước tiên Ngài đọc hai câu thơ trên, Ngài đọc xong trầm ngâm giây lát Ngài dạy:

–Này ông Tạng Tích, khi mà kẻ đã trót lầm lẫn nơi Vạn Pháp, kẻ ấy đã bị sanh tử một cảnh giới luân chuyển quay cuồng cho đến trăm ngàn Cảnh Giới, không ngừng nơi sanh tử. Có một lúc nào đó, họ hồi tâm tu hành mong cầu xuất ly thoát khỏi trăm ngàn cảnh giới đến Tri Kiến Giải Thoát. Nhưng họ chưa biết tỏ rõ đường lối tu cầu pháp Hữu lậu, tu lấy kiến thành Sắc Pháp Định Tưởng thì chẳng bao giờ thoát khỏi lại thêm chìm đắm trong bể mê mà thôi.

Lại nữa, có bậc suy ngẫm biết tỏ rõ các Pháp che lấp lầm tưởng trở thành vô minh, bậc ấy tu cầu pháp Vô Lậu, hỷ xả Cổi Giải Tâm rỗng không tận diệt trở thành vô vi pháp, bởi chưa rõ nguồn gốc tận tường sự tu chứng nên lầm lạc chỗ chứng tu phải bị lâm vào triền miên Phi Tưởng.

Ông cũng nên biết: Tất cả cảnh giới, cho đến các Cõi thảy đều nằm nơi Kiến Thành Định Tưởng mà Chánh Báo hay không chấp nhận Chánh Báo, thảy thảy đều Sắc Pháp, Vô Sắc Pháp của Tam Thiên, đã ở nơi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, thảy đều là độc quyền chiêm bao mơ mộng thành. Vì lẽ ấy nên chi tu chưa rốt ráo, một khởi ngưỡng vọng, cho mình đã Giác Ngộ đương nhiên tạo thành một giấc chiêm bao thơ mộng hơn chớ chẳng ích chi.

Khi đã lầm vào chiêm bao thì giấc chiêm bao này chồng thêm giấc chiêm bao khác không thể nào thoát khỏi vòng chiêm bao mà toại nguyện Tri kiến Giải Thoát.

Ví dụ: Có kẻ đã lầm lẫn uống phải độc dược say sưa điên loạn, kẻ này ngồi suy nghĩ hoài mong Tiên Thần Cảnh giới bằng sự ảo tưởng của mình phác họa để cầu mong, thì sự phác họa kia nó vẫn đang nằm trong cơn mê Ngũ Độc, chớ nó nào có phải thoát khỏi vòng mê tưởng, khỏi độc đâu? Đối với lầm mê trong các Pháp cũng thế, bậc tu cốt giải mê lầm lẫn bao nhiêu thì sự mê man lầm lẫn nó đến bấy nhiêu. Càng mong Giải Thoát bao nhiêu, thì nó lại càng đi sâu trong vạn tưởng đảo điên bấy nhiêu. Vì sao? Vì còn độc dược mê man, nên suy nghĩ Tư Duy trong ảo tượng, đã ảo tượng nầy liền kế tiếp tư tưởng kia. Cũng như chiêm bao nầy hết, nó liền đưa giấc chiêm bao khác, đã chiêm bao thì sẽ đến với chiêm bao, khi hãy còn Tập Khí sanh tử làm thế nào nó cũng chạy vòng trong sanh tử. Lúc đã hết nguồn sanh tử, thì dù cho chạy trong sanh tử cũng không còn lấy mảy may sanh tử.

Do lẽ ấy, nên các bậc Giác Ngộ quyết tâm giải độc cho kẻ lầm độc, Chư Bồ Tát độ sinh qua từng lớp mê man, Chư Phật Diệu dụng đưa Chúng Sanh thức tỉnh làm cho tất cả thoát khỏi trần lao say đắm. Như Lai hành dụng đưa từng Thế giới tỉnh mê mà trọn hành trong ba thời Phật.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài nói xong, ngưng trong chốc lát, Ngài dạy tiếp:

–Này ông Tạng Tích, bậc tu rất cần bậc Thiện Trí Thức Giác Ngộ để khai thông năng sở chấp mê. Bậc Thiện Trí Thức lại ấn chứng làm cho bậc tu Giác Ngộ, thức tỉnh chiêm bao khỏi vòng sanh tử.

Ngài liền đặt câu hỏi để hỏi tôi như sau:

–Này ông Tạng Tích, nếu kẻ đang lầm trong chiêm bao, ở nơi chiêm bao mong cầu Pháp Hữu Lậu hoặc Vô lậu, nơi hai pháp ấy đứng vào một Pháp đặng tu thì Pháp nào có thể đưa kẻ ấy thoát khỏi chiêm bao?

Lúc bấy giờ tôi ngồi suy ngẫm rất lâu chưa trả lời đặng, may sao tôi nhớ đoạn trên Ngài đã khai thị, tôi bèn vái thưa: –Kính bạch Ngài, trong hai pháp, pháp nào cũng không thể thoát khỏi chiêm bao. Vì Hữu hay Vô thảy đều nằm nơi chiêm bao nên không thể thoát được.

Ngài gật đầu khen đúng. Ngài dạy tiếp:

–Ông cũng nên biết, có bậc tu hành nhất tâm kiên cố hằng ngày tạo lấy Đạo Đức Phước Điền, như xây cất Chùa Tháp cho Chư Tăng, Phẩm cúng dường chẳng thiếu sót nơi căn bản kiến thành, sau khi được Chánh Báo Nhân Thiên, an hưởng Công Đức kiến thành ấy.

Lại có bậc tu Hạnh Nhân Thiên, vẫn Công Đức như trên thêm vào đó củng cố kiến thành định tưởng trong Sắc Pháp, một thời gian vì Công Đức dày dặn thành tựu mà sở đắc Thần Thông nơi kiến thành. Bậc ấy có thể biến hóa núi sông, lên từng các cảnh giới, ra vào mặt nguyệt, đánh đổi mây gió, làm thế nào cũng đặng trong phạm vi sắc pháp kiến thành, chớ không thể nào đánh đổi chính Bản Năng của mình trở thành Thần Thông Bảo Pháp của Bậc Thánh.

Nếu có bậc tu từ Hữu Lậu quán kiến thành từng Pháp rõ ràng để cổi giải Tâm không vướng mắc các Pháp, lấy HỮU làm đà tiến, dùng Vô làm Hỷ Xả Chánh Báo Thọ Báo không nhàm chán, được tỏ rõ các Pháp Bình Đẳng. Trong giai đoạn này chưa có gặp Thiện Trí Thức ấn chứng thì Bậc tu ấy tu đến tận cùng cũng phải Định tưởng Sở Đắc Tri Kiến Phật chớ chưa hoàn toàn giải thoát.

Bằng có bậc tu cầu Vô Lậu Hỷ Xả rỗng rang, Tâm quán chúng như huyển không vướng mắc các Pháp, dù vô tình hoặc cố ý cũng phải vướng vào Không Pháp mà thành tựu Vô Vi Pháp Giới. Tu như thế cũng chưa hẳn đã vào với bậc Thánh, chỉ tận cùng Sở Đắc Vô Dư Định Tưởng.

Ông Tạng Tích, ông cũng nên biết, sự tu hành đến mục tiêu Giải Thoát thật khó khăn vô kể, nên Tôi đọc hai câu trên để nhắc nhở mọi người, họ tu thường phải bị:

"LẦM MÊ CHỊU PHÁP TRIỀN MIÊN
DÙ ĐỜI HAY CÕI ĐỘC QUYỀN CHIÊM BAO"

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài đọc, tôi chép xong, Ngài châm thuốc hít một hơi, trầm ngâm nhìn theo làn khói trắng, ngã lưng nơi chiếc chõng thật lâu, sau Ngài dạy tiếp:

–Ông ngẫm xem, lời tôi dạy trên để các ông nhìn thấy hai pháp Vô lậu cùng Hữu lậu đối với kẻ đang ở trong chiêm bao mộng tưởng, tu đến tận cùng cũng chẳng nên chi. Nếu không gặp đặng Bậc Thiện Trí Thức chỉ đường vạch lối đưa khỏi bến mê thì làm sao Giải Thoát? Theo bài này, Tôi khuyên các Chân Phật Tử hãy tu vào Pháp Môn Chủ Quán “ĐỜI LÀ CHIÊM BAO” làm cho các ông bớt gây nhiều tạo tác Tử Sanh, khỏi mắc miếu lỗi lầm Tự Ngã của Vô Minh.

Các ông khi đã trót lầm lẫn Vô Minh, bị nơi Chiêm Bao vô định, các ông hãy nương theo vết chân của Bồ Tát, nhận lãnh TIN-VÂNG-KÍNH lời Bảo Truyền của Chư Phật để lại mà Tu, bằng mất ba chữ ấy, phải vướng vào Tự Ngã lạc loài nơi sanh tử. Lời Tôi nói ra không phải lợi cho tôi mà chính ra lợi cho các ông từ nay đến hậu thế.

Các ông áp dụng thế nào đúng với tinh thần TIN-VÂNG-KÍNH?

● Nơi TIN, các ông Tin lời huấn từ chỉ dạy để sửa Tánh, giải Mê Lầm, Tin Pháp Môn dưới sự Chỉ Đạo đặng Tri-kiến Giải-Thoát. Như câu thơ Tạng Tâm viết:

"TA NÊN TỰ LỢI, LỢI THA
CÓ TU MỚI THẤU HIỂU QUA LỜI THẦY"

● VÂNG: Khi Tin nghe được hiểu được nhiều ít, phải thi hành tu tập, Phát Tâm HẠNH NGUYỆN thực thi lời chỉ giáo của Bậc Chỉ Đạo mới gọi là VÂNG.

● Bậc tu nếu Tin Vâng trọn, Trí Tuệ liền tăng trưởng, Tâm Thức mở mang, lúc bấy giờ càng tỏ rạng bao nhiêu thì sự TÔN KÍNH tăng trưởng bấy nhiêu. Các ông áp dụng như thế mới đúng với tinh thần của một Chân Phật-Tử PHÁP TẠNG.

●Bằng TIN bậc Thiện-Tri-Thức là PHẬT để Tôn-Sùng Kính-Lạy cầu xin những chuyện bá vơ trong Tư-Tưởng mong cầu của mình là hơn cả, ngoài ra chưa chịu Thọ-Lãnh Giáo-Ngôn, chẳng xem bài vở để sửa Tánh Tu-Thân thì chưa đến chốn TIN-VÂNG-KÍNH thực thể, thời khó đến Chân Tướng TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Tôi mong bài này các ông đọc kỹ, chép nhiều phổ truyền rộng rãi, nó chính là một trọng yếu Kim Chỉ Nam, làm cho Bậc Tu-Hành hết suy tư ảo ảnh đến TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT vậy.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn Mưu
Pháp Danh Tạng Tích
"Phụng ghi để phổ truyền"
Ngày 21 tháng 4 năm Giáp Dần.

13. THƯỜNG NHIỄM

THƯỜNG NHIỄM

Nhân sinh thường nhiễm, bệnh hay lây.
Vì thế cho nên NGHIỆP dẫy đầy.
Bậc Trí khéo phương, tìm lối giải.
Kẻ Khờ vụng tính, đắm cuồng say.
Dù tu vạn kiếp, trên thiên hạ.
Trót nhiễm trăm năm, uổng tháng ngày.
Nếu biết Nghiệp truyền, vương mắc bệnh.
NGÃ lìa Chánh Giác, Đại lương y.
–T.V.

QUÁN THƯỜNG NHIỄM

• TÁNH PHẬT:

Sáng suốt, vẹn vừa, chưa nhiễm bợn, chiếu trùm khắp bình đẳng, viên dung. Vì sao? Vì Tối Thượng Duy Nhất Bổn Lai Tánh không chỗ chỉ. Khi chỉ đến liền có điểm tựa chỉ cấp Tối Thượng là: PHẬT. Từ thị danh chấp nhận, Bổn Lai Tánh không chỗ chỉ trở thành có điểm tựa, vì vậy nên Kinh Kim Cang nói: THỊ DANH PHẬT CHỚ CHẲNG CHI PHẬT. Bởi lệch lạc lầm lẫn Chánh Giác Tối Thượng như thế, thành thử có viễn tuợng, tự theo viễn tượng vọng thành Phật Tánh.

• PHẬT TÁNH:

Phật Tánh không khác mấy với Tánh Phật, vẫn chiếu trùm khắp muôn phương, suốt trong vẹn vừa, chỉ vướng nơi viễn tượng mà vọng khởi vô minh, khi có vô minh thời Thường Nhiễm.

Chẳng khác nào: Trưởng giả kia đang bình tĩnh sang giàu, Trí Tuệ sáng suốt. Bỗng nhiên khởi nghĩ mơ hồ viễn vong, đi tìm kho tàng bất tận, liền theo viễn vong để thi hành mà sai lạc thực tại Chân mỹ Tánh Phật, đối với Phật Tánh và Tánh Phật cũng thế.

● CHÚNG SANH GIỚI:

Khi Phật Tánh khởi sanh tạo vô minh, Vô minh đặc tánh Thường nhiễm thì liền có giới hạn do đó nên Nghe, Thấy, Biết hạn hẹp, mỗi lẽ sống đến tư tưởng tử sanh thảy đều có hạn lượng, chung nhau thích thú, hoặc sống với nhau một cảnh gọi là ĐỒNG NGHIỆP. Bằng rời nhau không thể chung nhau một cảnh thì là BIỆT NGHIỆP, có chỗ thích nhau bằng lý trí, có nơi bất đồng tư tưởng trở nên chướng đối sanh Nghiệp để chướng nhau, sát hại nhau mà có nơi Thọ Báo, Chánh Báo không đồng gọi là: CHÚNG SANH GIỚI.

Chúng Sanh Giới thường nhiễm tập nhiễm chẳng đồng, chia ra nhiều loại, nhiều kẻ nhiều bậc thọ chủng khác nhau, do bởi nặng nhẹ nhiều ít vọng khởi mà chấp nhận vô minh tạo thành, nhưng sự thường nhiễm thời giống nhau khi mà Chúng Sanh gần gủi, chung đụng nhau, ai cũng sẵn có Nghiệp, ai cũng đương có tập nhiễm của mỗi người, mỗi kẻ và mỗi bậc chung sống lẫn nhau, thế rồi buông nhả cùng nhau trở thành vô minh Pháp Giới cùng nhau bị nhiễm. Lúc Phật Tánh bị nhiễm nhiều ít thì tuổi thọ của Chúng Sanh theo đó mà hưởng thọ. Thời Thượng kiếp tuổi thọ mỗi vị hưởng 80 ngàn tuổi, đến thời Hạ Kiếp tuổi thọ chỉ có 60 lẽ hai tuổi thôi.

Bậc Giác Ngộ thấy biết Chúng Sanh Giới thường nhiễm lại thường lây bệnh nhiễm với nhau mà hứng chịu Nghiệp, nên mới tùy thuận tránh né phương tiện giúp đỡ từng căn bệnh, lại thành lập các Pháp Môn tu tập như: Thiền tọa đặng khỏi nhiễm, Cổi Giải Tâm, Phát Bồ Đề Tâm đặng tránh nhiễm. Phá nghi chấp để viên thông không trụ Nhiễm, làm cho bệnh nhiễm vướng mắc tiêu lần, vô minh tan dẹp, Phật Tánh trổ ra mà Tri Kiến Phật Tánh, đến hoàn toàn Giải Thoát. Đó chính là Môn Pháp cần ghi Quán Thường Nhiễm đến không nhiễm mà Giác Ngộ vậy.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Đặng Kim Sơn
Pháp Danh: Tạng Bửu
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 25 tháng 2 năm Giáp Dần

12. VỀ VẤN ĐỀ NGỒI THIỀN TỰ CHỦ

Hôm nay ngày l4 tháng 4 năm Giáp Dần lúc 9 giờ sáng, cũng là ngày trong mùa Phật Đản 2518 đã đến với nhân sinh trong vũ trụ.

Trước Chánh Điện Trung Ương Hội Thượng có mặt ông Pháp Chân ngồi bên phải, ông Pháp Tỏ, ông Tạng Hậu ngồi trước mặt ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ. Bên trái có ông Tạng Tích, bà Tạng Sinh ngồi hầu Ngài. Cũng nhờ duyên lành đưa đến, một Chân tử học ở Đại Học Duyên Hải về hầu Ngài và xin Ngài cho biết rõ về THIỀN và cầu xin khi Thiền.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ nhắc nhở sự lưu ý của Chân Phật Tử ngồi chung quanh. Ngài hướng về phía bà Tạng Sinh và nhắc lại:

–Bà nghe cho kỹ, hôm nay Tôi khai thị thời Pháp “Cầu mà được, Cầu mà chẳng được”.

Trước hết tôi nói về Thiền, mục đích chính của Thiền là để cho Tâm được Tịch Tịnh, rỗng rang. Tâm Tịch Tịnh trí tuệ mới phát huy và để thân tâm được hòa đồng với vũ trụ. Buổi thiền ấy mình làm chủ, không để sự cầu xin nào xen lẫn trong buổi Thiền của mình làm giảm giá trị buổi Thiền.

Ví dụ: Lúc các ông ngồi Thiền mà cầu xin Phật gia-hộ giúp đỡ cho buổi Thiền được Định, hoặc giả cầu xin việc này việc nọ, thì chính ra buổi Thiền ấy của TU CẦU chứ chẳng phải của chính mình. Mình chỉ biết trong buổi Thiền đó chỉ có một mình mình trong vũ trụ này mà thôi. Khi Thiền gặp niềm vui chẳng mừng, gặp việc dữ chẳng sợ, thì Buổi Thiền được kết quả. Từ buổi Thiền này qua buổi Thiền khác, ngày tháng cứ thế tiếp nối đi qua, nếu giữ được quân bình như thế thì Thiền mới cao được. Còn Thiền lơ là, thì Tâm thần uể oải vì chính nó đòi nợ mình. Nếu các ông tu hành lấy SỬA TÁNH làm cứu cánh, THIỀN ĐỊNH làm phương tiện thì chớ nên bữa Thiền bữa bỏ, làm cho thân thể dễ bị mệt mỏi, tâm không sảng khoái thì thân thể bị bạc nhược, các ông bà nên lưu ý.

Vừa lúc ấy, ngoài đường một chiếc xe cam nhông chạy qua, tiếng động cơ quá lớn, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ ngừng nói, Ngài ngã mình trên chiếc ghế nệm nghỉ ngơi một lúc. Nét mặt những tín chúng ngồi chung quanh Ngài hiện rõ sự hớn hở vui tươi. Một phút trôi qua ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ ngồi dậy và dạy tiếp:

Các ông bà lưu ý, tôi nói rõ về sự “Cầu mà được, Cầu mà chẳng được”. Các ông bà nên biết sự gia hộ của Chư Phật đối với chúng sanh, khi chúng sanh cầu có ứng nghiệm thì chúng sanh phải biết TỪ, BI, HỶ, XẢ, đem tình thương bình đẳng đến khắp Nhân Loại, mà chúng sanh làm được như vậy thì sự cầu xin mới linh ứng.

Muốn được sự gia hộ của chư Bồ Tát thì Tâm ta phải được Tự-Tại Vô-Ngại, không hờn oán trách ai, gánh chịu những uẩn khúc của đồng loại, hứng chịu những điều đau khổ của chúng sanh, không nói suông, đến khi việc tới mà chẳng làm.

Muốn cầu được sự giúp đỡ của Chư Thánh Thần thì cần phải Quang Minh Chính Trực, Đức Độ hơn người, Ăn nói ngay thẳng, không dua nịnh kẻ trên, kẻ có thế lực, có tiền bạc, không hà hiếp người dưới nghèo hèn, hoặc nói láo, Quang Minh Chánh Trực ở đây là nói thẳng, nhưng các ông nên nhớ “TRUNG NGÔN THÌ NGHỊCH NHĨ” nói thẳng hay mất lòng, nên lựa lúc thuận tiện mà nói để xây dựng lẫn nhau, để giữ hòa khí với mọi người.

Muốn được người giúp đỡ, kính nể, trọng vọng thì trước tiên phải làm được NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN. Nhân từ Đức hậu với mọi người, đừng cô lập kẻ sa cơ để thõa mãn tà ý của mình, giúp đỡ kẻ khốn cùng, đùm bọc kẻ thế cô. Trung Can Nghĩa Khí: Biết ơn người nâng đỡ mình về mọi mặt “Ăn trái cam phải tưới nước gốc cây cam” không vô hậu. Một người đầy tớ phải biết ơn chủ khi có chén cơm ăn, một kẻ Sĩ phải biết ơn Thầy, khi còn học đánh vần ê a và phải đền ơn trong muôn một. Lễ độ cung kính người trên, nhã nhặn kẻ dưới, Trí: Tinh tấn về mọi mặt, không si mê “u-mê”. Suy tính và giải quyết mọi việc đến với mình trong cương vị lãnh vực Đạo Đức, không mưu sĩ tư lợi.

TÍN: Lời hứa của mình được kiểm nhận với lòng mình, không vọng ngữ, uy tính của mình có, khi nào hứa một việc gì thì đừng quên việc đó, mặc dù lỡ đã hứa, mà tài lợi mình bị suy giảm đôi chút. Tục ngữ có câu: “Một lời nói ra bằng ba dặm ngựa”.
Lúc bấy giờ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài gom thời pháp trên Ngài nói: –Tôi nhắc lại các ông nên ghi nhớ.

Muốn được người viếng nhà, bè bạn kính trọng, bà con tán thán thì phải có NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN.

● Muốn được Thánh Thần gia hộ thì phải có Đức Tính QUANG-MINH CHÍNH-TRỰC.

● Muốn được Bồ Tát giúp đỡ Hộ Trì thì phải HỶ-XẢ, thi hành LỤC BA-LA MẬT-ĐA, gánh chịu những oan ức của Chúng Sanh Tâm không oán trách.

Muốn Phật Chứng Minh thì phải vào con đường BÁT-NHÃ-TRÍ, Tâm Bình Đẳng, thương tất cả Nhân Sinh, từ Thế Gian cho đến Xuất-Thế-Gian, không hai TƯỚNG.

Trong khi các ông ngồi Thiền mà cầu xin thì nên nhớ: Muốn cầu nơi nào thì hằng ngày phải tập làm những Đức Tánh giống cõi ấy thì mới có sự tương ứng “Đồng thanh mới tương ứng”. –Tôi thí dụ cụ thể cho các ông thấy. Lúc ấy ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ vươn vai ngó về phía cửa lớn trước Chánh Điện, tất cả Tứ Chúng ngó theo. Chúng tôi chỉ thấy vài ánh sáng mặt trời rọi thẳng vào Chánh Điện qua khung cửa.

Ngài TĂNG CHỦ dạy:

Mặt trời có quyền chiếu ánh sáng vào nhà các ông, mà các ông không chịu mở cửa, cứ đòi ánh sáng vào nhà thì làm sao được. Cũng như muốn làm một người thợ máy giỏi mà khi người ta đem xe hư đến thì sợ bẩn tay, dơ quần áo. Vậy mà cứ đòi làm thợ máy giỏi. Muốn thành ông Luật Sư tài ba mà bảo đến trường chẳng chịu đến thời làm sao thành được. Muốn người đến viếng nhà mà sợ tốn kém lẩn tránh mà cứ đòi sao không ai đến nhà mình chơi. Ôi ở đời kỳ lắm. Có mấy ai muốn cầu mà chẳng được đâu, vì họ không làm được những việc mà họ mong cầu, có lắm kẻ muốn hưởng Phước vinh sang mà có bao giờ nghĩ đến điều Thiện đâu, có người muốn làm giàu, nhưng chưa hề Bố Thí.

Tôi nhắc các ông nghe cho rõ: “ba phút nghĩ...” điều Thiện làm Thiện thì được ba năm phú quý vinh sang. Nhưng thử hỏi mấy ai một ngày nghĩ và làm được ba phút Thiện đâu? Màn Vô Minh sẽ che kín khi ý nghĩ Thiện của các Ông vừa ló dạng. Một mặt MA-BA-TUẦN sẽ dẫn các Ông trong khi tranh giành chén cơm manh áo, cấu xé nhau vì miếng đỉnh-chung mà các Ông quên nghĩ đến làm Thiện.

Các ông bà nhìn bằng NHỤC-NHÃN khi thấy con người lúc trầm, lúc bổng như nhịp điệu âm-diễn của cung đàn mà lầm chấp, lấy Chúng-Sanh-Tánh hờn trách lẫn nhau, người này tốt, kẻ kia xấu, các ông có biết đâu họ phải Thọ-Chủng nhiều kiếp rồi. Gieo Nhân tốt gặt Quả-Vị tốt, gieo Nhân xấu gặt Quả Hàn-Vi.

Tại sao Tôi không hờn trách một ai, vì tôi biết rõ. Các ông cứ lẩn quẩn hờn trách, giận dỗi lẫn nhau vì các ông không biết. Phật hơn Chúng Sanh ở chỗ là Phật Biết và Thấy rất rõ ràng.

Tôi thí dụ: Hai người đàn ông như nhau, một người mặt mày mồm miệng thường lúc lắc hay làm trò cười cho kẻ khác, chân tay múa may, mặc dù họ ở chốn trang nghiêm, người đó Thọ Chủng con khỉ tiền kiếp. Một người hay uốn mình là hiện thân con rắn.

Tôi nhắc lại sự Phúc Đức hay có được của con người không phải ai cho mà được, chính mình làm mình hưởng, mình giàu sang kiếp này không phải nhờ hồng ân của ông bà cha mẹ để lại mà chính của mình để lại. Kiếp trước mình Bố Thí kẻ khốn cùng, hay che chở kẻ sa cơ, nay mình gặt được quả vị tốt. Nếu nói Phước Đức nhờ Ông Bà thì Tôi kể lại một câu chuyện sau đây cho các ông bà nghe:

Có một gia đình nọ, ông bà cha mẹ rất hiền hòa, sanh ra một trưởng nam và một thiếu nữ. Lớn lên, người con trai theo du côn, du đãng, phá làng phá xóm. Còn cô con gái thì bán dâm. Có người lại nói “cha mẹ sanh con. Trời sanh tánh”. không thể đổ lỗi cho Trời được, thử hỏi sự lầm mê của Chúng Sanh biết bao nhiêu. Chân lý của nhà Phật là ở chỗ đó. Các ông bà nên suy ngẫm mà làm cho đúng thì hưởng được thực tại.

Lúc đó đã 10 giờ 30, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trở về Tịnh Thất. Tôi nhận thấy rõ trên nét mặt mọi người đều hớn hở như nuối tiếc một cái gì trong Tâm Thức.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử: Nguyễn Mưu
Pháp Danh Tạng Tích
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 14 tháng 4 năm Giáp Dần

11. TỰ HOAN HỶ TÁN THÁN

Hôm nay ngày rằm tháng tư năm Giáp Dần, lúc 9 giờ 30, tôi về đảnh lễ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ tại trước Chánh Điện. Sự hiện diện có ông Pháp Bang và ông Phan Thông đang ngồi một bên. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ ngồi uống trà nơi chõng vải, Ngài gọi tôi lấy giấy bút để chép Giáo Ngôn về vấn đề Tự Hoan Hỷ và Tán Thán Công Đức. Ngài dạy:

–Này ông Tạng Nguyên, bậc tu hành không có gì sung sướng nhất bằng Tự Hoan Hỷ và Tán Thán công Đức là sung sướng nhất, bậc ấy đã được phá mê chấp đương nhiên lãnh lấy Pháp của Như Lai để tự giác mà Tán Thán công Đức, bậc ấy dùng trí tuệ soi khắp nghiệp căn mê chấp, khi phá được mê chấp hoan hỷ tán thán Công Đức thì ông cũng nên biết bậc ấy đã từng gặp Phật, Bậc ấy đã từng lập Hạnh Nguyện: Như Lai Vô Biên thề Nguyện Sự nên mới có thể phá vô minh.

Lúc bấy giờ Ngài nói xong, Ngài trầm ngâm suy ngẫm, tất cả bên ngoài đều im lặng có một vẻ kỳ diệu vô kể. Ngài dạy:

–Ông cũng nên biết, những bậc tu muốn thành công theo sở nguyện, tôi không còn mơ ước gì hơn là bậc ấy nắm hai yếu tố quyết định sẽ đi đến Tri kiến giải thoát?

Thế nào là hai yếu tố quyết định đi đến Tri kiến Giải Thoát?

Yếu tố thứ nhất là kiểm điểm để sửa tánh, sửa các đố tật xấu xa cốt yếu gây dựng cơ bản Đạo Đức, đó chính là một yếu tố thành tựu Công Đức trùm khắp. Còn Trí Tuệ thì hãy phá mê chấp để được liên hoàn Đức Trí đồng song, Tướng Tánh duy nhất.

Tôi còn nhớ một thuở có một vị Bồ Tát bạch với ĐỨC THẾ TÔN: Con rất sung sướng trong thời nầy con gặp được ĐỨC THẾ TÔN là Bậc VÔ THƯỢNG TOÀN GIÁC, là Bậc CHÂN TÔN TỐI THƯỢNG. Nói xong vị Bồ Tát đảnh lễ tán thán ngồi lại một bên. ĐỨC THẾ TÔN mới dạy rằng:

–Nếu hiện tại ông biết TA là bậc TỐI THƯỢNG, thì đương nhiên ông phải biết quá khứ trên 3 đời Phật, Vị Lai ông phải đoạt đến mức Tối Thượng. Vị Bồ Tát thưa thỉnh:

Bạch ĐỨC THẾ TÔN: Chính con không biết quá khứ, không biết Ba đời Phật, con chỉ biết hiện tại ĐỨC THẾ TÔN dạy con gạt trừ đố tật để tạo Đức, phá mê chấp, tu tập trong hai môn Đức Trí đồng song đưa đến vị lai hoàn mỹ, đương nhiên con nhìn thấy đường dây VÔ THƯỢNG, thành thử con tự hoan hỷ xưng tán Ngài. ĐỨC THẾ TÔN ngài nói: Đúng nó như vậy, đúng nó như vậy! ông cũng nên biết ba đời Phật cùng hiện tại TA đây, nó có bốn tướng để xưng tán kể từ phàm phu đến Vô Thượng, tùy cấp bậc sở chứng mà xưng tán, tùy hiểu biết thọ lãnh Giáo Pháp mà xưng tán, từ nhìn vào con đường Hạnh Nguyện của kẻ dưới mà xưng tán bậc trên, vì đã bước qua nhịp cầu tỏ giác.

Ông cũng nên biết bốn tướng xưng tán:

• Một là xưng tán của phàm phu nhân thế: nếu phàm phu nhân thế hiếu thuận, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đầy đủ thì được phàm phu xưng tán.

Bằng quảng đại quang minh giúp người rộng rãi, tánh tình không nóng giận thì Chư Thiên xưng tán, khi đã được Chư Thiên xưng tán thì bậc ấy, ông cũng nên biết qua khỏi mười nạn đâm chém, nhai nuốt, đói khát... được tiêu trừ. Đối với TA cũng nhìn nhận bậc ấy Đức độ kha khá.

Nếu bậc thi hành được Lục Ba La Mật, Hạnh Nguyện thù thắng, làm những điều khó làm mà làm được, khó nghe mà nghe được, khó biết mà biết được, Tâm rỗng rang mong làm lợi cho người hơn là lợi cho mình, bậc như vậy được Bồ Tát tán thán.

Bằng bậc xây Đức Trí tương song, Tâm không quái ngại và 10 danh hiệu của chư Phật để làm Công Đức Hạnh Nguyện thì ông cũng nên biết bậc nầy đã thành lập PHỔ HIỀN HẠNH, thì được Chư Phật tán thán.

Hôm nay đối với ông Trí Tuệ phá mê chấp, Đức Trí tương song để tỏ biết, để thọ lãnh Pháp Tối Thượng, đó chính là một yếu tố của bậc tu biết cúng dường Tam Thế, biết quý lãnh Chân Tôn Bảo Pháp, TA khá khen.

Lúc bấy giờ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài hỏi:

–Nếu như bậc có Đức mà không có Trí thì thế nào?

Tôi quỳ xuống thưa thỉnh:

Bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ: Có Đức mà không có Trí thường tạo vô minh, được Phước Báo Nhân Thiên. Ngài gật đầu, Ngài hỏi:

–Nếu bậc có Trí mà không có Đức thì ông nghĩ thế nào?

Tôi liền thưa:

–Bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ: Có Trí mà không Đức thì bị sa vào tà kiến. Từ tà kiến lại tạo vô minh, vô minh thường có duyên khởi ngỡ rằng mình đã Vô Thượng.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ gật đầu trầm ngâm, Ngài dạy tiếp:

Giữa thời Hạ Pháp, Tôi muốn đặt viên gạch, viên gạch chắc chắn để xây dựng Chánh Pháp. Vì do sự lầm lẫn thất truyền thành thử tất cả bậc Tín Tâm phải lâm vào con đường nặng nhẹ, do sự nặng nhẹ chênh lệch mà lại thường bị sa vào con đường Tăng Thượng Mạn, Ngoại Giáo. Vì vậy nên Tôi phải chỉ sự quyết định để cho tất cả tu tập dung thông ĐỨC TRÍ vẹn toàn mà được thọ lãnh Chân lý Tri Kiến Giải Thoát.

Ông cũng nên biết, việc nhỏ mà làm không được chu đáo thì chuyện lớn đâu có xong. Chẳng khác nào như ánh trăng tròn trên mặt nước thì đương nhiên giữa Hư Không trăng kia đã tròn. Bằng mặt nước trăng khuyết thì lẽ dĩ nhiên mặt trăng Hư Không phải khuyết, đó là lẽ đương nhiên như vậy. Kẻ thường lâm vào Tà Kiến hay đả phá Đạo Đức chẳng khác nào người mơ ngủ trên cầu tưởng mình được phong quan lãnh chức thì ông cũng nên biết kẻ ấy có được phong quan lãnh chức hay không?

Tôi liền chắp tay thưa thỉnh:

–Bạch Đức Ngài: Có phong quan lãnh chức, nhưng lãnh chức nơi tư tưởng trên cầu, chớ không lãnh chức thực thể.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ gật đầu. Ngài dạy tiếp: Nó phải như thế. Đức là mối giềng của Chánh Báo Quốc Độ, còn Trí là đuốc Trí Tuệ để tạo nên Bát Nhã mà thành tựu. Không có Bát Nhã Trí thì thường bị thọ chấp Tiên Thần mà chẳng có Đức, có Trí, đương nhiên Tà Kiến. Bấy nhiêu lời ông chép ghi để thời nầy và thời sau làm tài liệu tu tập.

Đến đây tôi cùng tất cả anh em Tứ Chúng hiện diện đồng vui mừng đảnh lễ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, để thọ nhận lời Bảo Pháp Chân Truyền của Đức Ngài. Nguyện cùng nhau nhất tâm tu tập song toàn Đức Trí để báo ân Ngài đồng báo ân Tam thế.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn Hữu Lịnh
Pháp Danh: Tạng Nguyên
"Phụng Ghi Để Phổ Truyền"

Ngày 15 tháng 4 năm Giáp Dần

10. SỰ MÊ CHẤP, LẦM LẪN DO BẢO THỦ CÁ TÁNH

KHAI THỊ TẠI PHÁP BẢO TỈNH THỊ HỘI QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG

Tôi được nghe và thấy, trong thời gian giáng lâm Đà Nẵng ngày mùng 2 tháng 3 năm Giáp Dần lúc 9 giờ tối, Tứ Chúng tại Tỉnh Thị Hội và Quận Hội quận 3 An Hải đồng tề tựu, giữa sự hiện diện có quan khách ước lượng trên 300 vị.

Lúc bấy giờ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ giáng lâm và an tọa, Tứ Chúng đảnh lễ, sắp theo thứ tự ngồi lại một bên. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài trầm ngâm, vẻ mặt trang nghiêm và thuần hậu, tất cả Tứ Chúng đều im lặng, hương trầm phảng phất, thật là một quang cảnh không bút mực nào tả nổi, giữa sự trang nghiêm ấy Ngài dạy:

–Này Tứ Chúng, trên con đường Phật đạo chỉ có mê chấp, từ mê chấp đương nhiên có lầm lẫn, nơi lầm lẫn ấy liền phát ra bảo thủ chuyện lầm lẫn, Phật đạo gọi là Thọ Ngã, thế gian gọi là cá tánh của mỗi người. Tứ Chúng hãy nghe câu chuyện sau đây để tỏ biết sự lầm lẫn của cá tánh tạo thành ba đường ác. Nơi Thọ Ngã, cá tánh riêng mình không thể nào mình thấy được rộng rãi trùm khắp vị tha Đồng Chủng để tạo thành quang minh quảng đại. Do bảo thủ cá tánh, tự ý độc tôn mà trở thành sanh tử luân hồi. Ngài dạy xong, ngưng một lát Ngài tiếp:

–Thế nào gọi là mê chấp lầm lẫn?

Từ nghìn xưa có một cảnh giới đầy đủ Ngũ Bộ Châu, vì sao gọi là Ngũ Bộ Châu? –Bộ thứ nhất gọi là Đông Bộ Châu, Bộ thứ hai gọi là Tây Bộ Châu, Bộ thứ ba gọi là Nam Bộ Châu, Bộ thứ tư gọi là Bắc Bộ Châu và Trung Ương Bộ Châu ở vào Trung Tâm chính giữa.

Nhà Vua của Trung-Ương Bộ Châu cực kỳ nóng nảy, háo thắng, nhưng không bao giờ Nhà Vua biết được cái nóng nảy háo thắng của mình, do đó sinh ra lòng tham vô tận phải sa vào lầm lẫn mê chấp.

Một hôm, Nhà Vua mới nghĩ rằng ta là Trung-Ương Bộ-Châu, địa thế đầy đủ thuận lợi lại thêm binh hùng tướng mạnh, tội gì phải để cho Tứ-Bộ bao quanh, vậy thì ta đem toàn lực để khắc phục bốn Tiểu-Vương kia thâu gồm tất cả về Nhất-Bộ do ta bỉnh trị. Nghĩ như vậy Nhà Vua thực hành, cử binh đi bắt các vị Tiểu Vương kia về để hành hạ. Nhà vua ra lệnh bắt:

–Tiểu Vương của Đông Bộ-Châu phải nhịn đói.

–Tiểu Vương của Tây Bộ-Châu phải nhịn khát.

–Tiểu Vương của Nam Bộ-Châu phải phơi nắng.

–Tiểu Vương của Bắc Bộ-Châu treo cẳng ngược trên cành...

Khi ấy có một vị Thần hiện đến nói với Nhà Vua Trung-Ương Bộ-Châu:

–Sao Nhà vua làm điều tàn ác thế?

Vốn bảo thủ nơi cá tánh, và cũng vì sự lầm mê, Nhà Vua chẳng nhận ra việc của mình làm là việc ác, nên mới tỏ vẻ không vừa lòng liền nói:

–Tôi nào có làm điều gì tàn ác đâu?

Để trả lời, vị Thần mới dùng cây Phướng phất lên đầu Nhà Vua một cái, Nhà Vua mê man thiếp đi.

Trong cơn mê man đó, Nhà Vua thấy mình biến thành vị Tiểu-Vương thứ nhất tức là Tiểu Vương Đông Bộ-Châu. Nhà Vua thọ chủng cảm thấy đói bụng vô kể, cơn đói kéo đến một cách khủng khiếp, khổ không cách nào chịu đựng nổi, Nhà Vua van xin với viên Giám Ngục: cho tôi xin một miếng cơm rồi tôi dẫu chết cũng cam. Càng kêu la van nài lại càng thấy khổ cực hơn, cơn đói bụng dâng lên cực điểm; tức thì viên Giám Ngục dùng cây đập lên đầu Nhà Vua một cái nhà Vua giật mình biến thành vị Tiểu Vương thứ hai.

Lúc bấy giờ Nhà Vua biến thành vị Tiểu Vương của Tây Bộ Châu, thọ chủng cảm nhận chịu hình phạt nhịn khát, cơn khát như giếng cạn từ lâu, khô khan dày vò, chưa bao giờ có cái khổ nào hơn, cơn khát hành hạ Nhà Vua thật tàn nhẫn. Nhà Vua kêu khóc van nài, cầu xin được một giọt rồi chết cũng được Viên Giám Ngục vảy mấy giọt nước lên mặt. Nhà Vua há hốc mồm, thè lưỡi ra mong liếm láp được một chút nào, nhưng chẳng có một giọt nước nào rơi vào miệng. Nhà Vua càng kêu la càng than khóc, cơn khát càng thêm hành hạ mà lại làm cho viên Giám Ngục thêm tức giận bèn dùng chân đá vào đầu một cái thật mạnh, Nhà Vua giật mình biến thành vị Tiểu Vương thứ ba.

Khi Nhà Vua biến thành Tiểu Vương của Nam Bộ Châu, Nhà Vua thọ chủng chịu hình phạt cởi trần phơi nắng trên bãi cát nóng. Cát nóng như đốt tận thấu xương, da thịt như nấu chín, tái tê, đau đớn khổ sở vô vàn. Nhà Vua kêu van than khóc cầu xin được lăn vào bóng mát tàn cây bên cạnh một chút rồi thác cũng cam lòng chịu. Nhưng cũng không được. Lửa nóng kéo dài... khổ sở đến cùng tận. Nhà Vua kêu van thống thiết cũng chẳng bớt giảm cực hình mà còn làm cho Viên Giám Ngục tức giận, dùng chỉa ba đâm vào mặt nhà Vua, Nhà Vua giật mình biến thành vị Tiểu Vương thứ tư.

Sau khi Nhà Vua giật mình biến thành vị Tiểu Vương của Bắc Bộ Châu, Nhà Vua thọ chủng chịu hình phạt treo cẳng ngược trên cành đầu chúc xuống đất, đau đớn khổ sở vô cùng... Thật không còn cái khổ nào hơn, thật không còn đau đớn nào bằng. Nhà Vua chỉ mong được chết còn sướng hơn là mang chịu đọa đày này. Hết kêu la đến than thở van nài... cũng không làm sao thoát khỏi cực hình, cơn đau đớn tuyệt vọng dâng lên cực điểm , Nhà Vua lịm ngất thì Viên Giám Ngục đưa lưởi đao lên chém đứt sợi dây treo, Nhà Vua bị rơi từ trên cao dộng đầu thẳng xuống đất, Nhà Vua choàng tỉnh...

Nhà Vua vừa tỉnh cơn ác mộng, cũng là tỉnh giấc mê lầm, nhà Vua còn nhớ rõ ràng sự việc từ khởi thủy đến kết chung... Do một thoáng nghĩ lầm lẫn cộng với Cá Tánh bảo thủ chấp nhận ý nghĩ mình là đúng trở thành Mê Chấp. Vì bảo thủ nên vị Vua Trung Ương Bộ Châu kia không thấy việc mình làm là việc ác, không thấy ý nghĩ mình là lầm lẫn. Nhà Vua rất hối hận, bèn sai hầu cận trả tự do cho bốn vị Tiểu Vương, lòng ăn năn thúc hối khiến Nhà Vua cố công tu tập điều thiện, và hết lòng khuyến dụ toàn dân tu tập, lập Thiện Căn làm cơ bản, không nên làm điều gì gieo đau khổ đến cho mọi người, vì họ cũng biết đau khổ như mình, phổ cập rộng rãi Đạo Đức cùng khắp Tứ Châu, từ đó dân cư an hưởng thanh bình và hết lòng biết ơn Nhà Vua đã thức tỉnh Mê Lầm mà còn dạy dỗ khuyên răn dân chúng tu tập, để mãi mãi hưởng thanh bình trong cùng khắp Ngũ Châu thiên hạ...

Kể đến đây xong ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ ngừng lại đôi phút:

–So với câu chuyện trên, sự mê lầm của các ông cũng vậy, các ông không thể thấy việc của các ông làm là sai, mà cứ ngỡ là đúng. Do Cá Tánh Bảo Thủ che kín, sự ngăn che kia là Vô Minh, sự Bảo Thủ kia là Mê Chấp.

Đạo Phật ra đời cốt làm sao phá được Mê Chấp của các ông, còn Mê Chấp lầm lẫn Tham Sân Si dẫy đầy; phá Mê hết lầm thì Tham Sân Si chẳng còn.

Toàn thể Tứ Chúng cùng Quan Khách hiện diện hôm ấy, nghe được lời Minh-Huấn Khai-Thị của ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ xong, lòng vui mừng khôn xiết như vừa được tắm gội rửa sạch Cá Tánh dẫy đầy những bụi nhơ Tham-Sân-Si, Thân Tâm nhẹ nhàng, an vui chan hòa trong ánh sáng Đạo Tràng, và đồng đứng lên đảnh lễ Ngài xong cùng trở về vị trí.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

ngày 04 tháng 5 năm 1974
(ngày 02 Tháng 3 Năm Giáp Dần)

9. TỈ DỤ: VỀ CÂU CHUYỆN THẰNG CHĂN TRÂU

Buổi sáng tinh sương ngày mùng 7 tháng 4 năm Giáp Dần, tôi về vấn an ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ trong thời Ngài đang dưỡng bệnh, trước sự hiện diện của ông Tôn Giả Pháp Khả. Ngài kêu tôi lại gần kể cho nghe câu chuyện “Thằng Chăn Trâu” để phương tiện chỉ vào con đường của bậc tu và kẻ chưa tu nó hơn nhau thế nào?

● Khi bậc tu chưa nhận định được, chưa biết được giá trị của mình.

● Lúc bậc tu đã nhận định được, thì mới biết được mình và kẻ chưa tu, cái giá trị nó hơn nhau gấp vạn lần như thế.

Lúc kể xong, Ngài bảo tôi cầm bút phụng ghi thời Giáo Ngôn Ngài đã dạy. Ngài nói:

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết những bậc tu lắm khi tự mình nghi lấy mình không tiến bộ. Có lắm lúc tự nhận lấy mình không kết quả, nó làm cho bậc tu phân vân không lãnh được Bảo Pháp. Nó mơ màng hoang mang không biết được công năng tu tập của mình. Vì sao? Vì mình đang còn nghi chấp dẫy đầy, hoang mang đủ cách, mơ màng đủ điều. Do sự nghi ngờ mơ màng ấy mà nó làm cho bậc tu không tìm được lối thoát ngay chính bản thân mình thì thử hỏi làm sao mà độ thoát Tam Thiên cho đặng.

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết có bậc tu từ 5 đến 10 năm khi ra đường dạo cảnh gặp một người bạn đồng hương nói qua một câu chuyện hay ho, làm cho bậc tu phải suy nghĩ rằng mình tu từ 5 năm hay 10 năm cũng đồng giai cấp với người bạn. Có khi bậc tu, tu hằng hai, ba chục năm cũng đều gặp hoàn cảnh tương tự như thế. Do tại sao? Do tại chưa đầy đủ Giác Nguyên trùm khắp nên mới có tình trạng trên. Nếu bậc tu biết suy nhận trong một khắc đồng hồ thôi thì mới biết rằng người bạn ấy chỉ biết có một mà ta đã biết một trăm vạn lần hơn. Đó là những yếu tố ấn định cho tất cả bậc tu được biết mình và biết người. Ngài liền kể câu chuyện “Thằng chăn Trâu” dưới đây. Tôi trầm ngâm để thọ lãnh và phụng ghi.

Ngài dạy:

–Ông Pháp Tràng, ông cũng nên biết có một bậc ở trong một làng xa xôi hẻo lánh quyết chí du hành để tìm Chân Lý. Bậc ấy sắm sửa hành trang ra đi, lúc qua khỏi cổng làng đến ngã tư gặp một Thằng chăn trâu hỏi: Ông đi đâu? Bậc ấy nói: Ta đi du hành cho biết đó đây. Thằng chăn trâu mỉm cười. Bậc du hành vẫn đi thong thả cùng khắp đó đây để học khôn dại hiểu biết. Khi đã tỏ biết rành mạch, đã đi trên vạn đường muôn lối. Lúc về làng đến chốn cũ vẫn gặp lại thằng chăn trâu, thằng chăn trâu mỉm cười như trước, thì thử hỏi bậc tu ra đi lúc trở về có khác hơn thằng chăn trâu ở những điểm gì hay không?

Tôi bèn chắp tay thưa thỉnh:

–Kính bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, đối với quãng đường trước thì nó không khác nhưng đối với bậc đã ra đi hưởng thụ biết bao nhiêu cái khác của sự hiểu biết đó đây. Lúc bấy giờ ĐỨC TĂNG CHỦ gật đầu khen đúng.

Ngài dạy: –Ông Pháp Tràng, ông nên biết có người họ nói rằng Đạo Phật không ngoài làm THIỆN chứ chưa biết làm TOÀN THIỆN. Có bậc họ nói ĐỨC chứ chưa có TỪ, BI, HỶ, XẢ trùm khắp để tạo cái ĐỨC hoàn mỹ. Lại có người họ nói có tu cũng chết mà không tu cũng chết, chỉ dùng trong cái sống để hưởng trong cái sống hiện tại. Tuy họ nói thế, nhưng chính họ cũng chưa tìm được cái sống của hiện tại và cũng chưa biết cái chết của ngày mai.

Đối với bậc tu có một lối sống thoải mái bất diệt, có một lối đi, về NHẬP-DIỆT của tương lai. Tôi nói ra đây để các ông biết có làm mới có đặng, có tu mới có đến, chứ không làm mà lấy cái Ý Chí thẩm xét thì nó sai muôn trùng vạn cách. Cũng như thằng chăn trâu kia nó chỉ biết có một ngã tư của nó đứng, chứ nó có ngờ đâu trong vạn lối để đi không lạc nẻo. Bằng đem thằng chăn trâu mà thả vào lối của kẻ đã đi thì chắc chắn thằng chăn trâu nó lạc hướng muôn điều.

Đối với sự tu hành từ phàm phu đến chư Thánh chỉ có hơn ở chổ Giác và Mê. Khi mà kẻ chưa giác đang còn mê thì nói chuyện với kẻ mê cũng đồng hóa ra mê theo kẻ mê ấy. Lúc đã thật Giác có một cơ bản hoàn mỹ thì dù có nghe cái mê của kẻ đang mê nói hay ho chăng thì nó vẫn là một ngã tư của triệu ngã tư khác. Nên chi người tu cần phải cho rốt ráo thật biết khỏi lầm với mê thì quyết định biết cái mê kia nó đang cố thủ của một chỗ đứng. Có như thế nên Phật thường dạy chư Bồ Tát “trụ mà không trụ là hạnh nguyện của Bồ Tát” để Bồ Tát năng sở chứng tri của một cái mê đặng thoát mê của một lối nói. Khi mà Bồ Tát đã đạt đến một khuôn cảnh Mê Chấp, Bồ Tát không dính mắc đặng hoàn chân.

Lại nữa, Bồ Tát đi qua ngàn vạn Pháp Giới diễn cảnh, trụ mà không trụ để thâm nhập Pháp Giới đặng biết rõ chứng tu mà hoàn chân Tu Chứng. Vì lẽ ấy, thành thử Bồ Tát nguyện mới hăng say để tạo Công Đức Chánh Giác vậy. Ngài dứt lời.

Lúc bấy giờ ông Tôn Giả Pháp Khả cùng tôi đồng thấy như được Ngài trao thêm cho những cái chìa khóa và chỉ dẫn cho những cái chốt đóng mở của tòa lâu đài Bảo Pháp. Chúng tôi đồng cung kính tán thán, nghiêng mình đảnh lễ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ.

BAN HỘ ĐẠO LONG HOA HỘI THƯỢNG
"Phụng Ghi Để Phổ Truyền"
Ngày 7 tháng 4 năm Giáp Dần

8. SỰ LẦM LẪN DO QUAN NIỆM SAI

Hồi 9 giờ ngày mùng 3 tháng 4 năm Giáp Dần, với sự hiện diện của các Chân Phật Tử: ông Pháp Quyên, ông Pháp Hậu, lúc bấy giờ ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ thân hãy còn đang bệnh, từ Tịnh Thất bước ra Chánh Điện ngồi tịnh dưỡng trên chiếc chõng vải, chúng tôi đồng đến lễ bái, xong ngồi một bên. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ liền bảo tôi lấy giấy bút ghi lại bài Giáo Ngôn với tựa đề:

● SỰ LẦM LẪN DO QUAN NIỆM SAI

Ngài dạy rằng: –Các ông cũng nên biết, do ý chí tư tưởng quan niệm sai thành thử tu không đúng với tinh thần Đạo Phật. Vì lẽ ấy nên tu mãi không tìm được lối thoát mà còn vướng vào căn bệnh Chứng Tu. Thế nào là quan niệm sai? Ngài dạy tiếp:

–Có một Vị thường nghe viên ngọc Bích Thủy, vị ấy mới ngồi suy tư để tìm ra căn nguyên sự cấu tạo của viên ngọc, bèn suy đoán chắc có lẽ ở vũ trụ này do khối nước đồng hợp Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ âm-dương tương cấu lâu ngày kết nạp thành viên ngọc Bích Thủy, nghĩ như thế xong vị nọ mới ra khu rừng lấy một bát nước đặt trên đỉnh đồi rồi ngồi cách chỗ bát nước độ 50 thước mắt đăm đăm nhìn vào bát nước để định thần suốt cả ban ngày lẫn ban đêm, khi ban ngày thời yên trí rằng mặt trời chiếu vào khí dương làm căn, đến lúc ban đêm thời lấy mặt trăng và ngôi sao lập bổn để luyện thành viên ngọc Bích Thủy.

Bát nước lâu ngày khi vừa mới múc, ngày tháng khô dần vì bởi thời gian, vị ấy mới nghĩ rằng đó là cố tinh của thủy để thành Ngọc. Sau một thời gian, bát nước cạn lần đến một ngày nào đó trở lại không còn nước nữa, thì vị kia sanh tâm chán nản vì sự tu luyện của mình không được kết quả, chẳng đoạt đến chí nguyện.

Các ông cũng nên biết, do sự lầm lẫn suy tưởng của vị Đạo Sĩ kia chỉ dùng ảo tưởng để cố tạo thực tưởng, đương nhiên ảo tưởng là của ảo tưởng, chớ không bao giờ ảo tưởng trở thành thực tưởng. Do lẽ ấy mà không thành tựu được, đối với con đường tu Phật chính nó là thực thể Chân Thật tướng, lý sự chung hoàn mới tận hưởng được nó, bằng dùng tư tưởng sai lạc lầm tưởng thì không bao giờ đến kết quả, thế nào gọi là tư tưởng Thật Tướng? Bậc tu tạo nhân cách cho huy hoàng, dụng đạo hạnh cho đúng đắn, từ nhân cách và đạo hạnh hoàn mỹ, đương nhiên Đời và Đạo sẽ suy tôn lên bậc Thiên Nhơn Sư, đó gọi là cấu tạo Đạo Đức.

Còn về phần Trí Tuệ là phá mê chấp, mỗi ngày kiểm điểm lại nghiệp của mình, mỗi lúc lại so mình cùng chúng bạn có những điểm gì tốt xấu cần phải chỉnh trang bổ túc, lìa Tự Ngã Bảo Thủ để được Dung Thông, dẹp gay cấn ganh tị liền được thoải mái, giải sân hận liền được viên dung mà sở đắc THA TÂM THÔNG, LẬU TẬN THÔNG, THẦN TÚC THÔNG, TÚC MẠNG THÔNG làm ĐẠO HẠNH, như vậy được sự ích lợi vô kể.

Đối với các ông phải nghe theo lời Tôi để mỗi vị xây dựng một nền Chánh Pháp trong tâm khảm bất diệt. Trong thời này là thời Hạ Pháp, các ông sống vào nhân cách phàm phu, trí tuệ kém cỏi, sự lầm lẫn dẫy đầy. Tôi không giận các ông lại càng đem tình thương tràn ngập để giúp các ông trên con đường Tri Kiến, theo tôi tự nghĩ: Bậc Chư Thiên còn lầm lẫn huống chi các ông là kẻ phàm phu nhân cách, làm sao không lầm lẫn cho được. Các ông hãy nghe câu chuyện dưới đây mới biết các Chư Thiên hãy còn lầm lạc mà tu hàng 800 năm vẫn chưa thấy Chân lý nổi, huống chi các ông.

Lúc bấy giờ, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ suy tư, hớp một chung trà, hương thơm bốc lên ngào ngạt, Ngài dạy tiếp:

– Tôi còn nhớ, một thuở khi tôi Giáng Lâm tại Tỉnh Thị Hội Bình Định Qui Nhơn khoảng trung tuần tháng 8 năm 1973, Tôi đến tại Quận Hội An Nhơn an trú vào gia đình của ông Pháp Hạnh, Tứ Chúng An Nhơn cung thỉnh đủ nghi lễ, từ y áo ẩm thực không thiếu sót, đêm đến Tôi nhập vào Chánh Định có một Chư Thiên uy nghi giáp vàng hực hỡ đến nghiêng mình đảnh lễ xong đứng lại một bên Tôi, nhìn qua dung nhan hình thù trẻ đẹp trang nghiêm, đôi mắt hiền lành và đầy tin tưởng, vị Chư Thiên thưa thỉnh: Kính bạch ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, Ngài Giáng Lâm Bình Lâm Bình Định có khỏe khoắn chăng? Ngài vui vẻ và an nhàn chăng? Tôi gật đầu và hỏi: Chư Thiên từ đâu đến?

Chư Thiên đáp: Con từ hướng Đông đến, phận sự con lo cai quản việc gió, mưa, sấm, sét, con gìn giữ sự an lành cho nhân sinh trong vũ trụ, đem thuận hòa khắp mười phương, và lấy đó làm con đường tu tập, con mãi tu kể ra trên 800 năm nhưng chưa đoạt đến cơ bản, thì làm thế nào được đi vào con đường Chân Lý để Giải Thoát?

Kính nhờ Ngài chỉ bày cho con tu tập để con được lãnh hội lấy đó làm chứng từ của Đạo Phật. Tôi mỉm cười, nhìn vị Chư Thiên và nói: –Ông chớ lầm tưởng mà sai lạc với chỗ tu của ông, hôm nay tôi nói thiệt để cho ông được biết trong 800 năm qua của ông, chưa lấy được một phút tu.

Vì sao? Vì ông đang chữa bệnh thương, ghét, tốt, xấu, được, mất, thử hỏi bậc đang chữa bệnh thì có một phút nào tu chăng? Khi mà đã bước vào tu thì liền đến cũng như lúc đã lành bệnh thì mới có thể trang trải được đường tu, còn lúc đang có bệnh thì lo âu chữa bệnh nào có phải tu đâu mà ông lầm lẫn như thế. Vừa nghe Tôi nói, vị Chư Thiên mừng rở, tán thán và thưa thỉnh: –Kính Bạch Đức Ngài thật con lầm lẫn quá kể, con tự hào mình là bậc tu, ngày hôm nay nhờ Đức Ngài khai thị con mới biết con là kẻ đang chữa bệnh, khi nào hết bệnh mới gọi là Tu, Chư Thiên đảnh lễ và lui gót.

Câu chuyện trên như thế, các ông cũng nên biết giữa thời Hạ Pháp, Tôi là Đại Lương Y chế thuốc chữa bệnh cho mọi người, họ lại không lo tròn bổn phận và trách nhiệm để khai trừ quật khởi nghiệp căn, cứ dùng tư tưởng cá tánh sự lầm lẫn của cá tánh điên loạn ganh tị, kình cãi đạp lên nhân cách lẫn nhau để cho loài Ma Ba Tuần tàn phá Chánh Pháp.

Ngài trầm ngâm hít một hơi thuốc rồi dạy:

–Thật ra có nhiều khi Tôi đắng miệng, lắm lúc Tôi nhàm chê những kẻ bước vào con đường tu Phật không lo Tự Giác, Giác Tha mà chỉ lo ham quyền tước vị, cũng có đôi kẻ đòi hỏi Tôi truy phong làm quan, lấy quyền Phật Đạo để mà vụ lợi, nhưng kẻ ấy bất tài kém đức, vọng đảo tham lam, bệnh hãy còn dẫy đầy thì dù Tôi có truy phong cho họ làm quan chăng nữa, họ chỉ nhận được cái quan đàng Địa Ngục, chỉ lãnh lấy cái ảo tưởng viễn vông không bao giờ đến Tri kiến Giải Thoát được. Tôi nói ra đây để đánh thức Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới hãy cùng các vị tu cầu trên con đường Tri Kiến Giải Thoát nên Tự Giác, Giác Tha, Tự Lợi, Lợi Tha làm sao cho tất cả mọi người có lợi để chính mình được lợi, cho nên Tôi có câu giáng từ Trung Ương đến các Tỉnh Thị Hội rằng:

KẺ XUẨN DÙNG BẢN NGÃ ĐỂ NÂNG MÌNH ĐẾN MÀ CHẲNG ĐẾN
BẬC TRÍ DÙNG ĐẠO ĐỨC ĐỂ NÂNG MÌNH CHẲNG ĐẾN MÀ ĐẾN

Sau khi nghe qua lời khai thị vàng ngọc của ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ, tôi sực tỉnh nhận thấy được sự lầm mê, vọng cầu điên đảo nơi bản thân mình, cùng tất cả mọi người, tôi nhận chân giá trị vô kể của thời Giáo Ngôn trên, liền phụng ghi để phổ truyền cho nhân sinh trong đời này đồng với đời sau làm phương tiện tu tập đến Tri kiến Giải Thoát.

LONG HOA HỘI THƯỢNG

Chân Phật Tử Nguyễn Văn Dây
Pháp Danh: Tôn Giả Pháp Bang
“Phụng ghi để phổ truyền”
Ngày 3 tháng 4 năm Giáp Dần